- Phương pháp diễn dịch: xuất phát từ lý thuyết tình thái để soi đường cho vấn đề lý luận về một số phương tiện tình thái là đối tượng của luận văn; chúng tôi sẽ xuất phát từ những cơ sở
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM THỊ THU GIANG
VỀ MỘT LOẠI NGHĨA PHI MIÊU TẢ CẦN CÓ TRONG TỪ ĐIỂN GIẢI THÍCH TIẾNG VIỆT
(Trên cơ sở cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM THỊ THU GIANG
VỀ MỘT LOẠI NGHĨA PHI MIÊU TẢ CẦN CÓ TRONG TỪ ĐIỂN GIẢI THÍCH TIẾNG VIỆT
(Trên cơ sở cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên)
Chuyên ngành: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
Mã số: 60 22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN VĂN HIỆP
Hà Nội – 2009
Trang 3MỤC LỤC
Danh mục bảng biểu 3
Mở đầu 4
Chương 1 Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài 9
1.1 Khái niệm tình thái 9
1.2 Các kiểu ý nghĩa thuộc phạm trù tình thái 13
1.3 Các phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái 21
1.4 Các phương tiện từ vựng biểu thị ý nghĩa tình thái trong khuôn khổ đề tài luận văn 22
1.5 Một vài vấn đề từ điển học có liên quan đến đề tài 23
Chương 2 Khảo sát và phân tích ngữ nghĩa, cách giải thích các vị từ tình thái tính trong Từ điển tiếng Việt 26
2.1 Khái niệm vị từ tình thái tính 26
2.2 Phân loại vị từ tình thái tính 27
2.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của vị từ tình thái tính 29
2.4 Tiểu kết chương hai 36
Chương 3 Khảo sát và phân tích ngữ nghĩa, cách giải thích các phó từ chỉ thời, thể trong Từ điển tiếng Việt 40
3.1.Một số khái niệm liên quan 40
3.2.Phân tích ngữ nghĩa của các phó từ chỉ thời – thể – tình thái và so sánh với lời giải thích chúng trong TĐTV 43
3.3.Tiểu kết chương ba 50
Chương 4 Khảo sát và phân tích ngữ nghĩa các trợ từ tình thái trong sự so sánh với lời giải thích nghĩa của Từ điển tiếng Việt 54
4.1.Khái niệm trợ từ 54
4.2.Phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của các trợ từ tiếng Việt 56
Trang 4Chương 5 Khảo sát và phân tích ngữ nghĩa, cách giải thích các từ chêm xen
tình thái trong Từ điển tiếng Việt 66
5.1.Khái niệm từ chêm xen tình thái trong tiếng Việt 66
5.2.Phân tích đặc điểm ngữ nghĩa các từ chêm xen tình thái 68
5.3.Tiểu kết chương năm 74
Kết luận 77
Tài liệu tham khảo 83
Phụ lục 87
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
∞ ∞ - ∞ ∞
Trang Bảng 2.1 38
Bảng 2.2 39
Bảng 3.1 51
Bảng 4.1 58
Bảng 4.2 59
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Luận văn với đề tài “Về một loại nghĩa phi miêu tả cần có trong từ điển
giải thích tiếng Việt”(trên cơ sở cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên) có nhiệm vụ khảo sát và miêu tả một loại nghĩa phi miêu tả hay nghĩa
tình thái của một số phương tiện từ vựng tiếng Việt biểu thị nội dung ý nghĩa này Loại nghĩa gần như không được đề cập hay chỉ được đề cập rất ít trong các từ điển giải thích tiếng Việt Từ kết quả của luận văn, chúng tôi đề xuất những bổ sung cần thiết cho cách giải thích liên quan đến loại nghĩa này trong các mục từ của từ điển
Sở dĩ chúng tôi lựa chọn đề tài này là vì nhiều lý do:
1.1 Tính thời sự
Trong thời gian gần đây, ngôn ngữ học đã mở rộng đối tượng nghiên cứu của mình, không chỉ nghiên cứu ngôn ngữ trong cấu trúc tĩnh tại mà là ngôn ngữ trong hoạt động với tư cách là công cụ tương tác liên nhân Trong
đó, tình thái nổi lên như một trong những trọng tâm nghiên cứu Khái niệm ngữ nghĩa cũng vì thế mà thay đổi, không chỉ bó hẹp ở nghĩa miêu tả mà còn
cả nghĩa phi miêu tả (nghĩa tình thái, nghĩa đánh giá); không chỉ quan tâm đến hiển ngôn mà cố gắng làm sáng tỏ những cơ chế nảy sinh, tiêu chí phân loại
và đặc điểm của hàm ý (thông tin ngầm ẩn) với các kiểu hàm ý khác nhau;…
Trong các từ điển giải thích, nghĩa của từ đặc biệt là nghĩa phi miêu tả chưa được quan tâm đúng mức Loại nghĩa này gần như không được đề cập đến trong từ điển giải thích Vì thế việc bổ sung những nét nghĩa đánh giá vào lời giải thích của các mục từ thật sự cần thiết để phù hợp với sự phát triển không ngừng về đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ học cũng như việc làm sáng
tỏ các nét nghĩa khác nhau cùng tồn tại trong một đơn vị từ vựng
Trang 71.2 Tính lý luận
Với sự mở rộng đối tượng nghiên cứu như vậy, các xu hướng ngữ pháp hình thức bộc lộ nhiều hạn chế, nhất là trong việc giải thích bản chất nghĩa và chức năng của các sự kiện ngôn ngữ Ngữ pháp chức năng ra đời, một xu hướng nghiên cứu thiên về ngữ pháp – ngữ nghĩa đã khắc phục những hạn chế này Có điều, ngữ pháp chức năng không phải là một sự xuất hiện đột ngột mà
mà kết quả của một sự phát triển lâu dài Có thể thấy tinh thần của ngữ pháp chức năng trong nhiều nghiên cứu và đường hướng phản ánh vai trò của ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người qua các nghiên cứu về tình thái của Jespersen, von Wright, Bally, Dik,…Ở Việt Nam, những nghiên cứu của Hoàng Tuệ, Cao Xuân Hạo, Lê Đông, Phạm Hùng Việt, Nguyễn Văn Hiệp, đã cho chúng ta có một cách hiểu nhất định về khái niệm phức tạp này Tuy nhiên các công trình nghiên cứu mô tả, phân tích các phương tiện biểu thị tình thái cũng chưa thật sự có nhiều, đặc biệt trong những lĩnh vực có liên quan đến chiều kích nghĩa tình thái trong các mục từ của từ điển giải thích tiếng Việt
Xem xét các vấn đề nghiên cứu về từ điển học chúng tôi cũng thấy một
hiện trạng như vậy Cuốn Một số vấn đề từ điển học [43] tập hợp một số bài
viết của các tác giả khác nhau đã cho chúng ta cái nhìn tổng quát về nghiên cứu từ điển học cũng như một số vấn đề của cuốn Từ điển Tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên) Tuy nhiên, việc giải thích nghĩa phi miêu tả đang thiếu vắng ở khá nhiều mục từ thì cũng chưa được quan tâm đúng mức với tầm quan trọng của chúng
1.3 Tính thực tiễn
Ở bất kỳ ngôn ngữ nào việc biên soạn các từ điển giải thích từ cũng rất quan trọng Không chỉ thế việc thường xuyên phải chỉnh sửa chúng cho phù
Trang 8việc bổ sung và đi đến hoàn chỉnh sự giải thích nghĩa đánh giá ở nhiều mục từ trong từ điển giải thích là rất quan trọng
Những nghiên cứu của đề tài còn có ý nghĩa lớn đối với việc dịch thuật
và giảng dạy ngoại ngữ, nhất là vấn đề dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Luận văn sẽ là những cứ liệu đáng tin cậy phục vụ cho việc dạy tiếng, phát triển những kỹ năng tri nhận và từ đó có cách lựa chọn để sử dụng đúng đắn, phù hợp trong các hoàn cảnh giao tiếp thực tế Từ đây, những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần thiết thực đối việc biên soạn các giáo trình dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là một số phương tiện từ vựng chủ yếu và quan trọng, thể hiện nội dung ý nghĩa tình thái trong tiếng Việt như:
Trang 93 Mục tiêu của đề tài
Thực hiện đề tài này chúng tôi nhằm đạt được những mục tiêu cả về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn
Mục tiêu chính của đề tài là bổ sung và hoàn chỉnh cách hiểu về nghĩa của từ nhất là về nghĩa phi miêu tả
Về mặt lý thuyết, bằng việc áp dụng những lý thuyết ngữ nghĩa hiện đại
để xem xét nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ, trong đó có từ với tư cách đơn vị ngôn ngữ có nghĩa nhỏ nhất có thể hoạt động độc lập, luận văn hướng đến việc làm sáng tỏ những loại nghĩa khác nhau cùng tồn tại trong một đơn vị
Từ đó góp phần xây dựng một khung miêu tả ngữ nghĩa có hiệu lực trong việc miêu tả ngữ nghĩa của ngôn ngữ tự nhiên Khác với các công trình đi trước, luận văn này đi sâu vào nghĩa phi miêu tả cụ thể là nghĩa biểu lộ Loại nghĩa này còn gọi là nghĩa tình thái hay nghĩa đánh giá Theo quan sát của chúng tôi, loại nghĩa gần như không được đề cập hay chỉ được đề cập rất ít trong các
từ điển giải thích tiếng Việt
Trong luận văn này, chúng tôi cố gắng để có được một tổng quan lý thuyết về nghĩa, đặc biệt là nghĩa phi miêu tả của từ Từ đó, góp phần củng
cố, phát triển tính đúng đắn của ngữ pháp chức năng
Luận văn cũng hướng đến xác lập một nguồn tư liệu phong phú, sinh động về tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp thực tế ở nhiều môi trường khác nhau, có thể sử dụng trong nghiên cứu ngữ pháp của lời nói, ngôn ngữ học tâm lý, ngôn ngữ học xã hội
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp khoa học sau:
- Phương pháp thống kê: thu thập các đơn vị từ vựng là đối tượng nghiên cứu của luận văn
Trang 10- Phương pháp miêu tả: kết quả của các phương pháp quan sát thực nghiệm, thống kê sẽ được miêu tả cụ thể để từ đó rút ra các kết luận cụ thể
- Phương pháp diễn dịch: xuất phát từ lý thuyết tình thái để soi đường cho vấn đề lý luận về một số phương tiện tình thái là đối tượng của luận văn; chúng tôi sẽ xuất phát từ những cơ sở lý thuyết liên quan đến vị từ tình thái tính, phó từ chỉ thời – thể, trợ từ và từ chêm xen cũng như vai trò biểu thị nội dung nghĩa tình thái của chúng để chỉ ra các sắc thái nghĩa đánh giá cần được thể hiện trong từ điển
- Phương pháp quy nạp: từ những quan sát tư liệu mà đề xuất, lý giải vấn đề
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số thủ pháp của ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp ngữ nghĩa như: cải biến, thay thế, tỉnh lược, so sánh, phân tích ngữ cảnh,…
5 Bố cục luận văn
Luận văn gồm có 99 trang, trong đó phần chính văn là 82 trang Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần phụ lục, luận văn gồm năm chương:
Chương 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Khảo sát và phân tích ngữ nghĩa, cách giải thích các vị từ tình thái tính trong Từ điển tiếng Việt
Chương 3: Khảo sát và phân tích ngữ nghĩa, cách giải thích các phó từ chỉ thời, thể trong Từ điển tiếng Việt
Chương 4: Khảo sát và phân tích ngữ nghĩa các trợ từ tình thái trong sự
so sánh với lời giải thích nghĩa của Từ điển tiếng Việt
Chương 5: Khảo sát và phân tích ngữ nghĩa, cách giải thích các từ chêm xen tình thái trong Từ điển tiếng Việt
Trang 11Chương 1 Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
1.1 Khái niệm tình thái
Trong những năm gần đây, ngôn ngữ học mở rộng đối tượng nghiên cứu không chỉ quan tâm đến mô hình ngôn ngữ học tĩnh tại mà cả ngôn ngữ trong hoạt động với tư cách là công cụ giao tiếp liên nhân hay quan tâm đến
sự kiện lời nói Vì thế vai trò của chủ thể giao tiếp, tính chủ quan được chú trọng hơn, trong đó có vấn đề tình thái
Tình thái là khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học mà đặc trưng chung nhất là phản ánh những mối quan hệ khác nhau của nội dung thông tin miêu tả trong phát ngôn với thực tế và những quan điểm, thái độ đánh giá của người nói đối với nội dung miêu tả trong câu xét trong mối quan hệ với người nghe, hoàn cảnh giao tiếp Như thế, nói một cách giản dị, các đặc trưng của tình thái xoay quanh mối quan hệ giữa người nói, nội dung miêu tả trong phát ngôn và thực tế
Tình thái cũng là khái niệm phức tạp của ngôn ngữ học với rất nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau Do vậy, việc đi từ những đối lập cơ bản nhất
sẽ cho ta hiểu được bản chất của tình thái
1.1.1 Tình thái trong logic truyền thống (tình thái khách quan) đối lập với tình thái trong ngôn ngữ (tình thái chủ quan)
Tình thái trong logic học được gọi là tình thái khách quan vì nó quan tâm đến tính đúng/sai hay thực cách của mệnh đề được biểu thị trong câu nói Khi đưa tình thái vào câu nói, với tư cách là thành tố định tính cho mệnh đề, các nhà logic học phân loại phán đoán dựa trên các tiêu chí về tính khả năng, tính tất yếu và tính hiện thực Theo đó, cũng có ba loại phán đoán: phán đoán khả năng phản ánh xác suất có mặt hay vắng mặt của một đặc trưng nào đó ở
Trang 12hữu; phán đoán tất yếu phản ánh đặc trưng được gán cho đối tượng ở mọi điều kiện, tức đối tượng mang đặc trưng đó trong mọi thế giới khả hữu; phán đoán hiện thực xác nhận sự có mặt hay vắng mặt của đặc trưng được gán cho đối tượng
Như vậy, tình thái khách quan chỉ nhằm vào một số kiểu quan hệ chung nhất giữa phán đoán với hiện thực, mang tính khách quan bản thể, được coi như là một đặc trưng nội tại của cấu trúc chủ từ - vị từ logic và chỉ nhằm phục
vụ cho việc phân loại phán đoán Nó loại trừ vai trò của người nói với mọi nhân tố chủ quan như ý chí, sự đánh giá, mức độ cam kết, thái độ hay lập trường của người nói
Đối lập với tình thái khách quan trong logic là tình thái chủ quan trong ngôn ngữ, kiểu tình thái nhấn mạnh đến vai trò của người nói Về cơ bản đều dựa trên những phạm trù của tình thái khách quan là tính khả năng, tính tất yếu và tính hiện thực; nhưng ở đây người nói hoặc đưa ra những bằng chứng, suy luận làm cơ sở cho một cam kết nào đó đối với hiện thực được nói đến trong câu (khía cạnh nhận thức) hoặc thể hiện thái độ đối với hành động được
đề cập trong câu (khía cạnh đạo nghĩa) Người nói thể hiện những đánh giá và cam kết tình thái của mình theo một thang độ rất rộng Vì thế phổ nội dung tình thái chủ quan cũng rộng hơn rất nhiều so với phổ nội dung của tình thái khách quan
Ví dụ:
(1) Có lẽ nó sẽ đến
(2) Thế nào nó cũng đến
(3) Chắc gì nó đã đến
Nếu tình thái khách quan trong logic chỉ quan tâm đến tính chân trị
(đúng/sai), khả năng xảy ra của hiện thực được nói đến trong câu: Nó đến; thì
nội dung của tình thái chủ quan rộng hơn nhiều và có thể tạo lập hàng loạt câu
Trang 13tùy theo đánh giá của người nói Ở câu (1), người nói phán đoán không chắc
chắn về sự tình Nó đến; còn ở (2) là cam kết chắc chắn điều Nó đến sẽ xảy ra;
đến (3) cũng là sự phỏng đoán về sự việc nhưng thiên về ý sự việc đó sẽ
không xảy ra, khả năng Nó sẽ không đến nhiều hơn
1.1.2 Tình thái đối lập với ngôn liệu (nội dung mệnh đề)
Đây được coi là đối lập then chốt trong nghiên cứu tình thái và được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận rộng rãi Ngôn liệu thực chất là thông tin miêu tả ở dạng tiềm tàng, còn tình thái là phần định tính cho thông tin miêu tả
ấy Tình thái tham gia vào quá trình thực tại hóa, nhờ đó nội dung sự tình còn
ở dạng tiềm tàng có thể trở thành phát ngôn hiện thực Nó cho biết sự tình trong phát ngôn chỉ là khả năng hay đã là hiện thực, là khẳng định hay phủ định, cho biết mức độ cam kết hay thái độ đánh giá của người nói đối với
hành động nêu ra trong câu Ví dụ, với cùng nội dung Tuấn đỗ đại học – đồng nhất về ngôn liệu, người ta có thể thể hiện nhiều nội dung tình thái khác nhau:
Vậy tình thái là “quan điểm hoặc thái độ của người nói đối với mệnh đề
mà câu nói biểu thị hoặc cái tình huống mà mệnh đề miêu tả”
Trong ngôn ngữ học, người đầu tiên đề xuất ra sự phân biệt này là
Ch.Bally với hai thành phần cơ bản trong cấu trúc nghĩa là modus (tình thái)
và dictum (ngôn liệu) Trong đó, dictum là bộ phận biểu hiện nội dung sự tình
ở dạng tiềm năng Nó gắn với chức năng kinh nghiệm, chức năng miêu tả của
ngôn ngữ Còn modus thì gắn với bình diện chủ quan, thể hiện những nhân tố
Trang 14các chiều kích quan hệ với thực tế, quan hệ với người đối thoại và hoàn cảnh giao tiếp
Sự phân biệt này còn thấy ở nhiều tác giả khác như Fillmore, Bally,
Lyons, Palmer, Hare, Lewis…Trong đó, cách sử dụng thuật ngữ đối lập tình
thái và nội dung mệnh đề có lẽ là cách dùng phổ biến nhất hiện nay
Hiểu theo nghĩa hẹp, tình thái chỉ xoay quanh các tham số về tính tất yếu, tính khả năng và tính hiện thực, trên cơ sở nhận thức hay đạo nghĩa, và tất cả được hiểu theo góc độ khách quan (tình thái trong logic) hay chủ quan (tình thái trong ngôn ngữ) [23; tr.91]
Hiểu theo nghĩa rộng, khái niệm tình thái sẽ bao hàm nhiều ý nghĩa khác nhau Một số kiểu ý nghĩa cơ bản:
- Các ý nghĩa thể hiện mục đích phát ngôn của người nói, hay kiểu mục đích tại lời mà người nói thực hiện (hỏi, ra lệnh, yêu cầu, bác bỏ, khuyên, mời…) gắn trực tiếp với chiều tương tác liên nhân của giao tiếp, với kiểu tác động của người nói đến người đối thoại
- Các ý nghĩa khác nhau thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường hay cảm xúc của người nói đối với nội dung thông báo: người nói đánh giá nội dung thông báo về mức độ quan trọng, về độ tin cậy, xem nó là điều tích cực (mong muốn) hay tiêu cực (không mong muốn), bất ngờ, ngoài chờ đợi hay bình thường, về tính khả năng, tính hiện thực…
- Ý nghĩa thuộc đối lập giữa khẳng định và phủ định đối với sự tồn tại của sự tình
- Những đặc trưng liên quan đến sự diễn tiến của sự tình, liên quan đến khung vị từ và mối quan hệ giữa chủ thể được nói đến trong câu và vị từ (thời, thể hay các ý nghĩa được thể hiện bằng vị từ tình thái)
- Các ý nghĩa phản ánh các đặc trưng khác của phát ngôn và hành động phát ngôn với ngữ cảnh, theo quan điểm, đánh giá của người nói
Trang 15Cách hiểu tình thái theo nghĩa rộng nhất như vậy được Bybee diễn đạt
là “tất cả những gì mà người nói thực hiện cùng với toàn bộ nội dung mệnh đề” [dẫn theo 13; tr 22] Nói cách khác, phạm trù tình thái bao gồm tất cả những phương diện nội dung gắn với thực tại câu, biến các nội dung mệnh đề
ở thế tiềm năng trở thành các phát ngôn trong giao tiếp
Trong giới nghiên cứu Việt ngữ học, chủ trương quan niệm như thế có các tác giả Đỗ Hữu Châu, Hoàng Tuệ, Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp…; đặc biệt là Cao Xuân Hạo
1.2 Các kiểu ý nghĩa thuộc phạm trù tình thái
Với một khái niệm phức tạp như tình thái, việc phân loại các kiểu tính tình thái cũng không hề đơn giản Các nhà nghiên cứu từ trước đến nay đã cố gắng sắp xếp các kiểu tính tình thái vào một số phạm trù Nhưng phần lớn là phân loại trong khuôn khổ một nhóm ý nghĩa tình thái chứ không phải là bao quát toàn bộ các ý nghĩa tình thái hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó
Những năm gần đây cách phân chia ý nghĩa tình thái thành ba phạm trù: tình thái khách quan, tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa khá phổ biến, được nhiều tác giả đồng tình
- Tình thái khách quan trong logic quan tâm đến tính chân thực, tất yếu hay ngẫu nhiên của mệnh đề
- Tình thái nhận thức chỉ ra tình trạng hiểu biết của người nói, bao gồm cả sự xác nhận của người nói đối với điều được nói ra
- Tình thái đạo nghĩa liên quan đến tính hợp thức về đạo đức hay các chuẩn mực xã hội khác đối với hành động do một người nào đó hay chính người nói thực hiện
Tuy nhiên, cách phân chia này thực ra chỉ nhằm vào một số kiểu ý nghĩa tình thái mà thôi Một số đối lập chung, chủ yếu về tình thái trong ngôn
Trang 16nghĩa; đối lập giữa tình thái nhận thức và tình thái căn bản; đối lập giữa tình thái mục đích phát ngôn với tình thái lời phát ngôn
1.2.1 Đối lập giữa tình thái nhận thức (Epistemic Modality) và tình thái đạo nghĩa (Deontic Modality)
Tình thái nhận thức liên quan đến tính tất yếu, tính khả năng và mức độ cam kết của người nói đối với tính chân thực của điều được nói ra Trường hợp không đánh dấu về tình thái nhận thức là trường hợp người nói xác nhận hoàn toàn tính chân thật của điều được nói ra Ngược lại, trường hợp đánh dấu
về tình thái nhận thức là trường hợp người nói thể hiện những cam kết thấp hơn Ví dụ, trở lại xét những câu tiếng Việt sau:
và cơ sở suy luận mà người nói có được Chẳng hạn, theo Givón thì thang độ tin cậy của các loại bằng chứng như sau:
Về ngôi: người nói > người nghe > người thứ ba
Về giác quan: thị giác > thính giác > những giác quan khác > cảm giác
Về tính trực tiếp: giác quan > suy đoán
Về độ cận kề: gần > xa (Givón) ; [dẫn theo 23; tr.16]
Trang 17Như vậy, có thể kết luận rằng tình thái nhận thức thể hiện cái vị thế hiểu biết của cá nhân người nói đối với tính chân thực của điều được nói đến trong câu, dựa trên những bằng chứng hoặc cơ sở suy luận nào đó
- Tình thái đạo nghĩa là loại tình thái liên quan đến yếu tố ý chí của người nói, liên quan đến hợp thức về đạo đức hay các chuẩn mực xã hội khác đối với hành động do người nói hay chủ thể hành động thực hiện
Tuy nhiên hai loại tình thái này đều có hai đặc điểm chung đó là tính chủ quan và tính không thực hữu
Tính chủ quan: Nếu ở tình thái nhận thức thể hiện ở những bằng chứng cơ sở lý luận mang tính cá nhân của người nói để thể hiện sự cam kết
có tính chân thực của điều được nói ra thì ở tình thái đạo nghĩa thể hiện thái
độ, ý chí và mong muốn của người nói đối với hành động Theo đó, nó được chia làm 4 tiểu loại: bắt buộc, cấm đoán, được phép và miễn trừ
Tính không thực hữu: Ở tình thái nhận thức, tính không thực hữu thể hiện sự cam kết có mức độ của người nói đối với tính chân thực của điều được nói ra Tức người nói không đảm bảo hoàn toàn tính chân thực của nó Còn ở tình thái đạo nghĩa, nó thể hiện ở hành động tương lai mà người nói muốn người nghe thực hiện hay tự mình thực hiện
Ví dụ:
(11) Nó có thể làm việc vào ngày nghỉ
Vị từ tình thái “có thể” dẫn đến hai cách hiểu Theo tình thái nhận thức, phát ngôn này được khúc giải: Tôi cho rằng nó làm việc cả vào ngày nghỉ, dựa trên những bằng chứng và suy luận của cá nhân tôi (như: nó không đi chơi vào ngày nghỉ mà thường đến cơ quan) Còn theo tình thái đạo nghĩa là: Tôi đồng ý, cho phép nó được làm việc vào những ngày nghỉ, vì lý do yêu cầu của công việc hay thu nhập của nó chẳng hạn
Trang 18Vậy sự phân biệt tình thái nhận thức và đạo nghĩa trong phạm vi tình thái chủ quan về thực chất xoay quanh ba tham số về tính tất yếu, tính khả năng và tính hiện thực Chúng tôi đồng ý với cách phân biệt bao quát của tác giả Nguyễn Văn Hiệp khi đã sơ đồ hóa sự phân biệt này dựa trên ba tham số như trên, cụ thể là:
Tình thái
Nhận thức Đạo nghĩa Nhận thức Đạo nghĩa
Hiện thực Pht Hiện thực Pht Hiện thực Pht Hiện thực Pht
(Viết tắt: Pht – Phi hiện thực)
1.2.2 Đối lập giữa tình thái nhận thức (Epistemic Modality) và tình
thái căn bản (Root Modality)
Phạm trù tình thái còn cần bao quát loại ý nghĩa tình thái của sự tình
cần truyền đạt, thể hiện như những thuộc tính của sự tình khách quan Đó là
lý do một số nhà nghiên cứu nêu ra một đối lập khác: đối lập giữa tình thái căn bản (Root Modality) và tình thái nhận thức (Epistemic Modality)
Tình thái căn bản được định nghĩa như là tình thái của hành động được chia làm hai loại: tình thái đạo nghĩa và tình thái trạng huống
Trong khi tình thái đạo nghĩa thuộc phương diện đạo đức, thể hiện ý chí, mong muốn chủ quan của người nói đối với hành động thì tình thái trạng huống lại mang tính khách quan Nó liên quan đến các yếu tố cảnh huống có tính vật lý bên ngoài, không có sự can thiệp của nhân tố ý chí hay mong muốn của người nói
Trang 19Ví dụ:
(12) Nó phải dậy sớm còn chị có thể ngủ muộn hơn
Câu này thuộc loại tình thái đạo nghĩa bắt buộc và miễn trừ Người nói
thể hiện mong muốn đối với việc thực hiện hành động: yêu cầu Nó phải đi
ngủ sớm và cho rằng người nghe – chị được phép ngủ dậy muộn
(13) Trước nó ôn thi nên phải dậy sớm Giờ đã thi xong rồi nó không phải dậy sớm nữa
Theo tình thái trạng huống, việc nó phải dậy sớm không phải do ai quyết định, yêu cầu mà do hoàn cảnh Nó ôn thi và việc Nó không phải dậy
sớm cũng do trạng huống thi xong rồi quy định
Sự phân biệt giữa tình thái căn bản và tình thái nhận thức có nhiều ưu điểm hơn so với sự phân biệt tình thái đạo nghĩa và tình thái nhận thức Sở dĩ như vậy vì nó bao quát nhiều loại ý nghĩa tình thái khác nhau như loại tình thái liên quan đến năng lực của chủ thể, ước muốn của chủ thể, điều kiện bên ngoài cho phép chủ thể thực hiện hành động Hơn nữa, cho phép chúng ta lý giải một số vấn đề thuộc giao diện giữa cú pháp và ngữ nghĩa, cụ thể ở bình diện tạo sinh câu nói Đặc biệt quan trọng khi thực hiện việc dán nhãn cho các thành tố cấu trúc của câu tiếng Việt
Sự phân biệt này cho phép đặt ra giả thuyết về sự tiến hóa tình thái Đã
có những nghiên cứu gần đây cho thấy mối quan hệ lịch sử giữa hai loại tình thái này, đó là ý nghĩa thuộc tình thái nhận thức được phái sinh từ những ý nghĩa thuộc tình thái căn bản như những nghiên cứu của Bybee (1994), Stephany (1998) [dẫn theo 23; tr.116]
1.2.3 Đối lập giữa tình thái hướng tác thể và tình thái hướng người
nói
Tình thái hướng tác thể biểu thị những điều kiện bên trong và bên ngoài
Trang 20nghiên cứu của Bybee, loại tình thái này được xem xét theo những nội dung sau: sự bắt buộc, sự cần thiết, năng lực và mong muốn
- Tình thái hướng người nói được thấy trong những câu áp đặt, đề nghị một hành động hoặc một cách ứng xử nào đó, đặc biệt thường thấy trong những phát ngôn thuộc nhóm “khuyến lệnh” Những nội dung của tình thái hướng người nói (cầu khiến, cấm đoán, mong đợi,…) được xử lý trong tình thái của mục đích phát ngôn
1.2.4 Đối lập giữa tình thái của mục đích phát ngôn và tình thái của
Tình thái của câu thể hiện mức độ cam kết và thái độ của người nói đối với điều được nói ra Còn tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân thể hiện những dạng thức tồn tại của hành động, quá trình, trạng thái, tính chất, quan hệ, mà vị ngữ biểu đạt
Tác giả Cao Xuân Hạo là người đầu tiên chủ trương đưa ra sự phân biệt giữa tình thái của mục đích phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn theo tinh thần như thế Sau đó Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp (2003) cũng đi theo chủ trương đó nhưng có những đề xuất và điều chỉnh nhất định
1.2.5 Những đối lập mang tính lập trường, thuộc chủ quan của người
nói
Trang 21Ngoài những đối lập tình thái được nói đến ở trên, trong tình thái ngôn ngữ không thể thiếu những đánh giá chủ quan của người nói đối với điều được nói đến trong câu Tính chủ quan mà ngôn ngữ học quan tâm chính là tính chủ quan tạo lời (locutionary subjectivity), theo Lyons “…về tính chủ quan tạo lời, ta có thể nói rằng đó là sự thể hiện của chính bản thân tác thể tạo lời (người nói hoặc người viết, người phát ngôn) trong hành động phát ngôn Nói một cách giản dị, tính chủ quan tạo lời là sự tự thể hiện trong việc sử dụng ngôn ngữ” [27; tr.347]
Loại nghĩa đánh giá này rất quan trọng xét trên khía cạnh tương tác liên nhân hoặc siêu ngôn ngữ Thông qua những đánh giá chủ quan, người nói thể hiện vai trò chủ động của mình trong giao tiếp, chủ động tác động đến nhận thức của người nghe, từ đó chương trình hóa những phản ứng hồi đáp từ phía người nghe Những đánh giá chủ quan, thuộc lập trường của người nói rất đa dạng, có thể liệt kê ra những khía cạnh đánh giá với những đối lập cơ bản sau:
- Đánh giá tích cực/ tiêu cực:
Ví dụ:
(14) Cô ấy trông béo lên
(15) Đi biển một tuần nên cô ấy đen đi nhiều
- Đánh giá về tính mong muốn/ không mong muốn
Chẳng hạn như:
(16) Đi công tác về, nó được nghỉ vài ngày
(17) Trong tù nó bị ăn cơm nguội cả năm trời
- Đánh giá về lượng (ít/ nhiều)
Ví dụ:
(18) Con bé ăn mỗi một cái bánh (Khúc giải: Con bé ăn 1 cái bánh, tôi
cho rằng ăn như thế là ít)
Trang 22(19) Con bé ăn những năm cái bánh (Khúc giải: Con bé ăn năm cái
bánh, tôi cho rằng như thế là nhiều)
- Đánh giá về chủng loại (phong phú/ nghèo nàn)
Ví dụ:
(20) Giờ nhà anh ta chỉ còn một cái tivi, một cái giường, một cái tủ
(Khúc giải: Nhà anh ta có một cái tivi, một cái giường, một cái tủ; theo tôi như thế là ít đồ đạc quá)
(21) Giờ nhà anh ta có nào là tivi, nào là giường, nào là tủ (khúc giải:
Nhà anh ta có tivi, giường, tủ; tôi cho rằng như thế là nhiều đồ, có thể là hơn trước đây)
- Đánh giá về thời gian (sớm/muộn)
(24) Tôi nói không mà nó cứ làm
(25) Trong lúc mẹ ốm anh ta lại vào tù
Những nội dung đánh giá này có thể được thể hiện một cách trực tiếp, hiển ngôn hoặc một cách gián tiếp, hàm ngôn Hàm ngôn hay thông tin ngầm
ẩn gồm bốn loại : dẫn ý, tiền giả định, hàm ngôn quy ước và hàm ngôn hội thoại Chúng được phân biệt với nhau theo các tiêu chí : về tính hàm chân trị, tính có thể khử bỏ, sự phụ thuộc vào ngữ cảnh Theo đó :
- Dẫn ý : mang tính chân trị, không thể khử bỏ và không phụ thuộc vào ngữ cảnh
Trang 23- Tiền giả định : không mang tính chân trị, không thể khử bỏ và không phụ thuộc vào ngữ cảnh
- Hàm ngôn quy ước : không mang tính chân trị, có thể khử bỏ và không phụ thuộc vào ngữ cảnh
- Hàm ngôn hội thoại : không mang tính chân trị, có thể khử bỏ và phụ thuộc vào ngữ cảnh
Nghĩa tình thái mang tính “lập trường”, thuộc về chủ quan của người nói thực sự quan yếu khi chúng tôi – qua khảo sát cụ thể của luận văn này –
đề nghị về một kiểu nghĩa cần có trong từ điển giải thích tiếng Việt hiện nay
1.3 Các phương tiện biểu thị tình thái
Cũng phong phú như các kiểu ý nghĩa của tình thái, có nhiều phương tiện để biểu thị nội dung ý nghĩa của phạm trù này Những phương tiện chủ yếu thường được nhắc đến là:
- Phương tiện ngữ âm: dùng ngữ điệu, trọng âm để thể hiện thái độ, tình cảm hoặc để nhấn mạnh vào điểm mà người nói cho là cần chú ý
- Phương tiện ngữ pháp: đảo trật tự từ, thay đổi cấu trúc của câu để thể hiện ý định của người nói nhằm tập trung vào điểm nhấn trong phát ngôn Hoặc sử dụng một số kiểu câu thường là câu ghép, trong đó một thành phần biểu thị tình thái, còn thành phần kia biểu thị nội dung của câu, chẳng hạn như kiểu câu được gọi là câu có động từ thái độ mệnh đề
- Phương tiện từ vựng: Sử dụng các vị từ tình thái, vị từ tình thái tính, các quán ngữ, trợ từ, tiểu từ tình thái, phó từ…
Khác với các ngôn ngữ biến hình như tiếng Anh, Pháp, Nga chẳng hạn, phương tiện ngữ pháp biểu thị khá rõ ràng ý nghĩa tình thái và phân biệt rạch ròi với hai nhóm phương tiện từ vựng và ngữ âm Nhưng ở ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, ngoài ngữ điệu, phương tiện từ vựng đóng một vai trò quan
Trang 24trọng Một cách khái quát, tác giả Nguyễn Văn Hiệp [23; tr.140] đã phân chia các phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt thành những lớp chính sau:
a) Các phó từ làm thành phần phụ của ngữ vị từ: đã, đang, sẽ, vừa,… b) Các vị từ tình thái: nên, cần, phải, tất,…
c) Các vị từ tình thái tính làm chính tố trong ngữ đoạn vị từ: toan,
định, cố, muốn, đành, được, bị, bỏ,…
d) Các vị từ chỉ thái độ mệnh đề trong cấu trúc chỉ thái độ mệnh đề: tôi
e rằng, tôi sợ rằng, tôi nghĩ rằng,…
e) Các quán ngữ tình thái: ai bảo, nói gì thì nói, tội gì,…
f) Các vị từ ngôn hành trong kiểu câu ngôn hành (với những điều kiện
về ngôi, về chỉ tố thời,…) như: ra lệnh, van, xin,…
g) Các thán từ: ôi, eo ôi, chao ôi, ồ,…
h) Các tiểu từ tình thái cuối câu và tổ hợp đặc ngữ (idiom) tương
đương: à, ư, nhỉ, nhé, thôi, chứ, đi, mất,…
i) Các vị từ đánh giá và tổ hợp có tính đánh giá: may (là), may một cái
(là), đáng buồn (là), đáng mừng (là),…
j) Các trợ từ: đến, những, mỗi, nào, ngay cả, chính, đích thị,…
k) Các từ ngữ chem xen biểu thị tình thái: nó biết cóc gì, mua cha nó
cho rồi,…
1.4 Các phương tiện từ vựng biểu thị tình thái trong khuôn khổ đề tài luận văn
Trong khuôn khổ đề tài luận văn “Về một loại nghĩa phi miêu tả cần có
trong từ điển giải thích tiếng Việt (trên cơ sở cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên)”, chúng tôi lựa chọn xem xét và có những đề xuất liên
quan đến những lớp phương tiện từ vựng biểu thị tình thái sau:
- Các vị từ tình thái tính làm chính tố trong ngữ đoạn vị từ: toan, suýt,
cố, nỡ, dám,…
Trang 25- Các phó từ chỉ thời, thể: lại, đã,…
- Các trợ từ: đến, những, mỗi, nào, ngay cả, chính, đích thị,…
- Các từ ngữ chem xen biểu thị tình thái: nó biết cóc gì, mua cha nó
cho rồi, hỏi cái đếch gì,…
1.5 Một vài vấn đề từ điển học có liên quan đến đề tài
1.5.1 Vấn đề giải thích nghĩa trong từ điển giải thích tiếng Việt
Hiện nay, có nhiều loại từ điển được xuất bản song từ điển học (môn khoa học nghiên cứu về từ điển) vẫn là bộ môn còn mới mẻ trong nghiên cứu Việt ngữ học Đã có một số bài viết trình bày các vấn đề lý thuyết từ điển học (Hoàng Phê 1969 [32], Hoàng Phê và Nguyễn Ngọc Trâm 1997 [43]; Đỗ Hữu Châu 1969 [5], Nguyễn Văn Tu 1969 [44]); hay một vấn đề cụ thể nào đó của
từ điển học (Chu Bích Thu 1997 [43], Đào Thản 1997 [43],…); hoặc thông qua việc giới thiệu, nhận xét các quyển từ điển để phát biểu về quan niệm và phương pháp biên soạn từ điển (Vương Lộc 1969 [26], Bùi Khắc Việt 1969 [45],…)
Từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên) là cuốn từ điển tường giải
tiếng Việt đầu tiên của nước ta được biên soạn dựa trên phiếu tư liệu tương đối đầy đủ Các soạn giả đã cố gắng giải quyết một số vấn đề cụ thể cho phù hợp với đặc điểm và sự phát triển của tiếng Việt và chữ Việt Tuy nhiên định hướng xây dựng quyển từ điển này là “đảm bảo tính khoa học, tính tư tưởng (Mác - Lênin) và tính tiện dùng” [32; tr.8] và khi giải thích nghĩa “chú ý đến những quan hệ ngữ nghĩa có tính hệ thống trong từ vựng, cố gắng giải thích nghĩa theo cùng một kiểu, một mẫu thống nhất những từ ngữ thuộc cùng một lớp từ vựng và những trường hợp nghĩa của từ có cùng cấu trúc giống nhau”
[32; tr.17] Chu Bích Thu khi xem xét cấu trúc vi mô trong Từ điển tiếng Việt
đã nêu ra “Yếu tố mang thông tin ngữ nghĩa gồm toàn bộ lời giải thích Thông
Trang 26tin về ngữ nghĩa không chỉ vạch ra nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu vật của đầu mục mà còn có các yếu tố chỉ dẫn khả năng tổ hợp ngữ nghĩa” [43; tr.85]
Như vậy, những tiềm năng nghĩa của từ liên quan đến bình diện tương tác liên nhân trong giao tiếp và liên quan đến đánh giá tình thái, chủ quan chưa thực sự được xem xét thỏa đáng khi giải thích nghĩa trong quá trình biên soạn từ điển giải thích tiếng Việt, cụ thể là Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên)
1.5.2 Thông tin ngữ nghĩa nằm ngay trong bản thân một từ vị
Trong bài viết “Thông tin ngữ dụng đối với từ điển giải thích” [2] của Ju.D.Apresjan (người dịch: Nguyễn Đức Tồn), tác giả đã đưa ra nguyên tắc thực hành quan trọng “Khi xây dựng mục từ điển của một từ vị nhất định, nhà ngôn ngữ cần phải làm việc trong toàn bộ các không gian các qui tắc ngữ pháp và ghi rõ ràng cho từ vị tất cả các thuộc tính mà việc sử dụng các thuộc tính đó có thể đòi hỏi phải có qui tắc (sự điều chỉnh từ vựng vào ngữ pháp) (…) các qui tắc có thể đòi hỏi phải sử dụng đến các thuộc tính ngôn điệu, từ
pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng (chúng tôi nhấn mạnh-PTTG), giao tiếp và cú
tĩnh mà là hiện tượng động, tác giả cho rằng bất kì một thành phần ngôn ngữ
nào có nghĩa trong câu cũng có một năng lực giao tiếp nhất định, khái niệm
này biểu thị lượng thông tin được truyền đạt Như vậy, sự phân đoạn thực tại câu được định nghĩa như là “sự phân bố khác nhau của năng lực giao tiếp của các thành phần trong câu Phân bố này chịu ảnh hưởng của cấu trúc cú pháp, cấu trúc ngữ nghĩa và đặc biệt là của ngôn cảnh” [23; tr.250]
Trang 27Đặc biệt trong một bài nghiên cứu vừa mới công bố gần đây, “Bàn thêm về một vài khía cạnh dụng pháp của tính từ tiếng Việt” [15] tác giả Đinh Văn Đức cho rằng cũng giống như với động từ, tính từ cũng mang trong mình những khía cạnh nghĩa tình thái và chính các phụ từ chỉ thời thể của tính từ
(đã, đang, từng, còn, chưa, ) đã tham gia biểu đạt các khía cạnh nghĩa tình
thái đó Cách xử lí vấn đề của tác giả quả thật là một sự khích lệ cho đường hướng của chúng tôi trong luận văn này
Đến đây, chúng tôi có thể khẳng định bản thân mỗi đơn vị từ đều hàm chứa trong nó đầy đủ các thông tin ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Do đó, khi biên soạn mục từ điển của mỗi từ vị trong từ điển giải thích, cần phải xác lập đầy đủ mọi thông tin này Trong các chương tiếp theo, chúng tôi sẽ khảo sát nghĩa đánh giá tình thái, một loại nghĩa phi miêu tả được lưu trữ tiềm tàng trong một số đơn vị từ vựng của tiếng Việt Đây là loại nghĩa mà chúng tôi cho rằng cần được trình bày rõ ràng hơn trong từ điển giải thích tiếng Việt
Trang 282 Chương 2 Khảo sát và phân tích ngữ nghĩa, cách giải thích
3 các vị từ tình thái tính trong Từ điển tiếng Việt
2.1 Khái niệm vị từ tình thái tính
Trong những phương tiện ngôn ngữ đánh dấu tình thái thì các vị từ tình thái tính (VTTTT) chiếm một vị trí rất quan trọng Nó là phương tiện biểu đạt tình thái được biết đến nhiều nhất Tuy nhiên trong thực tế, như Nguyễn Văn Hiệp (2008) đã nhận xét, tiếng Việt đã sử dụng thuật ngữ vị từ tình thái dịch hai khái niệm có nội hàm khác nhau trong ngôn ngữ học thế giới thể hiện qua hai thuật ngữ được dùng khác nhau trong tiếng Anh là “modal verb” và
“modality verb”
Nếu như vị từ tình thái (modal verb) có một số lượng rất hạn chế, một
tập hợp đóng (nên, cần, tất,…) thì VTTTT (modality verb) lập thành một
danh sách lớn hơn rất nhiều, có thể xem là tập hợp mở “Givón đã xác lập một định nghĩa rõ ràng về nghĩa học và kết học cho lớp từ này như sau:
- Về mặt nghĩa học:
a) Là vị từ chính, biểu thị sự bắt đầu, sự kết thúc, sự kéo dài, sự thành công, sự thất bại, sự cố gắng, ý định, nghĩa vụ bắt buộc hoặc khả năng đối với sự tình được miêu tả ở bổ ngữ
b) Chủ thể ngữ pháp của cú chính bắt buộc cũng là chủ thể ngữ pháp của cú phụ
- Về mặt kết học: Sơ đồ hình cây sau đây thể hiện vị thế của VTTTT trong quan hệ đối đãi với các thành tố khác trong câu:
Trang 29S Subj VP
“Chính xác hơn đây là những vị từ tình thái làm trung tâm ngữ pháp và ngữ nghĩa cho toàn ngữ đoạn vị từ Nó có đặc trưng, bổ ngữ trực tiếp của nó
là một ngữ vị từ cùng chủ thể với nó.” [17; tr.481]
2.2 Phân loại vị từ tình thái tính
Trong danh sách mở với rất nhiều những VTTTT, chúng tôi lựa chọn
mô tả những VTTTT thể hiện “lập trường”, thái độ đánh giá chủ quan của người nói mà thiếu vắng khi được giải thích nghĩa ở Từ điển tiếng Việt
(TĐTV)
2.2.1 Tiêu chí phân loại
Dựa vào tham số về tính hiện thực có thể phân loại chúng thành ba nhóm sau: vị từ hàm thực, vị từ hàm hư và vị từ vô hàm
- Nhóm vị từ hàm thực: nhóm này bao hàm ý nói rằng hành động, tính chất, quá trình, trạng thái…mà vị từ bổ ngữ của chúng biểu thị đã tồn tại thực Nghĩa trực tiếp của bản thân nó ngoài những sắc thái cảm xúc và đánh giá ra chỉ là một khả năng, một xu thế nếu không phải là kết quả của một cái nhìn vào bên trong sự diễn biến của quá trình (không phải là biểu hiện bản
Trang 30Tính hàm thực của các VTTTT nói trên loại trừ khả năng kết hợp một câu khẳng định với một VTTTT như thế với một câu phủ định tính hiện thực của cái hành động do vị từ bổ ngữ của vị từ đó biểu hiện Vì ở đây chúng ta tri giác nhận định này như là một khả năng, một sự kiện
Ví dụ: Đây là những câu không chấp nhận được trong tiếng Việt (kí hiệu: dấu *)
(26) * Nó đánh liều nhảy xuống sông nhưng sợ quá nên không nhảy (27) * Lúc ấy nó dám ăn cắp nhưng rồi lại thôi
(28) * Tôi mải đọc truyện thế mà không đọc được chữ nào
Bị chú:
Có một số VTTTT hàm thực trở thành hàm hư trong câu phủ định như:
dám, đành, nỡ,…Tuy nhiên trong khuôn khổ Luận văn này chúng tôi chỉ quan
tâm đến nghĩa tình thái tự thân của mỗi từ mà không xem xét đến tầm tác động phủ định trong câu Vì vậy, chúng tôi vẫn xếp chúng vào nhóm VTTTT hàm thực
- Nhóm vị từ hàm hư: Nhóm này giả định hành động, quá trình, trạng thái,…mà vị từ bổ ngữ của chúng biểu thị là không diễn ra trong hiện thực, không tồn tại
Ví dụ:
(29) Nó suýt ngã xuống ao
VTTTT “suýt” có nghĩa là “chỉ thiếu chút nữa thì xảy ra P (nhưng P đã không xảy ra)”, trong đó P ký hiệu chỉ hành động, trạng thái, quá trình,…do
vị từ làm bổ ngữ của “suýt” biểu thị Vị từ này giả định rằng Nó không ngã
Do đó, ta không thể nói:
(29’) * Nó suýt ngã xuống ao Thế là nó bị chết đuối
- Vị từ vô hàm: Nhóm từ này không giả định hành động, quá trình, tính chất,…mà vị từ bổ ngữ của chúng biểu thị là tồn tại hay không tồn tại
Trang 31Ví dụ:
(30) Tôi định bụng nói sự thật với cô ấy
Vị từ “định bụng” giả định là việc tôi nói với cô ấy có xảy ra hay
không Vì vậy, chúng ta có thể nói:
(30’) Tôi định bụng nói sự thật với cô ấy và hôm qua tôi đã nói
(30’’) Tôi định bụng nói sự thật với cô ấy nhưng nghĩ lại, tôi lại thôi
Kết hợp tiêu chí về tính hiện thực với tiêu chí ý nghĩa tình thái khái quát mà Lyon (1977), Palmer (1986), Nguyễn Văn Hiệp (2008) đã gợi ý được thể hiện qua sơ đồ hình cây (trang 16 Luận văn này), chúng tôi phân loại VTTTT tiếng Việt thành các lớp, tiểu lớp và căn cứ vào nét nghĩa chung để tập hợp thành những nhóm nhỏ
2.2.2 Tổng quát sự phân loại các lớp, tiểu lớp, nhóm của VTTTT
2.2.2.1 Lớp VTTTT hàm thực
a Tiểu lớp VTTTT hàm thực – nhận thức:
- Thái độ có chủ ý của chủ thể: cố tình, cố ý, giả, giả vờ, giả bộ, giả
cách
- Thái độ không chủ ý của chủ thể: trót, lỡ, nhỡ
- Nỗ lực của chủ thể: đánh bạo, đánh liều
- Thái độ chấp nhận: đành, cũng
- Sự tiếp thụ, tiếp nhận: được, bị
b Tiểu lớp VTTTT hàm thực – đạo nghĩa: nỡ, dám, đang tâm,
Trang 32kiểu thông tin hàm ẩn (hàm ý), nét nghĩa tình thái chính và nội dung đánh giá chủ quan của người nói hay chủ thể hành động
2.3.1 Lớp VTTTT hàm thực
Như đã nói ở phần trên, VTTTT hàm thực giả định hành động diễn ra
là có thật Theo đó, đặc điểm ngữ nghĩa chung của tiểu lớp VTTTT hàm thực – nhận thức là sự thể hiện của chúng về những cam kết, đánh giá của người nói (dựa trên những bằng chứng, suy luận, sự hiểu biết, ) về sự tình được nói tới trong câu mà ở đây sự tình đã hoặc đang xảy ra Còn tiểu lớp VTTTT hàm thực – đạo nghĩa chỉ sự đánh giá theo đạo đức và chuẩn mực xã hội, chủ yếu
là sự đánh giá hành động đã xảy ra là trái với chuẩn mực
từ bổ ngữ) Vì trên thực tế, chủ thể hành động không bao giờ tự coi mình đã
cố ý hay giả vờ thực hiện một hành vi nào đó
Trong nhóm này chúng tôi chia làm hai nhóm nhỏ dựa trên khác biệt về nét nghĩa sắc thái:
Trang 33- Tiểu nhóm 1: gồm cố ý, cố tình chỉ “thái độ cố ý của chủ thể hành
động”; “ý thức được tính khách quan của sự tình nhưng chủ tâm hành động theo ý mình vì một mục đích nào đó có lợi cho chủ thể”
Ví dụ:
(31) Chúng cố tình xuyên tạc sự thật
(32) Hắn cố ý nói sang chuyện khác
Chúng tôi coi đây là hai từ đồng nghĩa nhưng trong Từ điển tiếng Việt cho là hai từ khác nhau và bỏ qua nét nghĩa đánh giá của người nói đối với hành động của chủ thể
- Tiểu nhóm 2: giả, giả cách, giả vờ, giả bộ chỉ “thái độ cố ý của chủ
thể hành động”; “ đánh giá về hành động trái với sự thật khi chủ thể làm như thế nào đó để người khác coi sự thật là như vậy” Sự đánh giá tiêu cực về hành động được bộc lộ rõ hơn các VTTTT trong tiểu nhóm 1
(36) Con xin lỗi vì đã trót làm vỡ cái bát mà mẹ thích
(37) Tôi nhỡ tay làm bẩn cái áo đẹp của anh
(38) Tôi đã lỡ mua chiếc váy mà cô ấy không thích
Nhóm VTTTT này thường tham gia vào câu có sự tình xảy ra rồi, người nói (thường trùng với chủ thể hành động) đánh giá lại sự việc diễn ra và cho rằng đó là điều không hay, không nên Ở đây chủ thể hành động không cố
Trang 34giá của chủ thể trùng với sự đánh giá của người nói và của toàn xã hội Nhưng cũng có trường hợp chỉ là đánh giá của người nói:
(39) Em trót mua cái xe này rồi, chứ anh thấy nó không đẹp
Ở đây, người nói cho rằng chủ thể hành động – em, đã mua một chiếc
xe mà theo anh – người nói cho là không nên Nhưng chủ thể không nghĩ như
thế, vì cô ấy thích và đã mua nó
c Nhóm VTTTT hàm thực – nhận thức về nỗ lực của chủ thể
Nét nghĩa tình thái của từ “đánh bạo” là đánh giá sự nỗ lực vượt qua những trở ngại tâm lý để làm việc gì đó
Ví dụ:
(40) Nó bước vào đánh bạo hỏi người quản lý
Còn ở “đánh liều”, người nói đánh giá sự nỗ lực vượt qua nguy hiểm, khó khăn để hành động của chủ thể cho dù anh ta đã tiên đoán được hậu quả hoặc điều không hay có thể sẽ xảy ra
(41) Khi công an truy đuổi gần đến nơi, kẻ tình nghi đánh liều nhảy
xuống vực
d Nhóm VTTTT hàm thực – nhận thức biểu thị thái độ miễn
cưỡng chấp nhận của chủ thể: cũng, đành1
Trong Từ điển tiếng Việt, các từ này được giải thích:
- “cũng”: “Từ biểu thị ý khẳng định về sự giống nhau của hiện tượng, trạng thái, hoạt động, tính chất”
- “đành1”: “Miễn cưỡng bằng lòng vì suy tính không thể khác được” Trên thực tế giao tiếp, chúng ta gặp nhiều trường hợp khác, ví dụ:
(42) Anh ấy nói phim không hay nhưng chúng tôi cũng đi
(43) Cũng được
(44) Cũng tốt
(45) Xe hỏng đành đi bộ
Trang 35(49) Được khen thưởng
Ở các câu trên bổ ngữ của các động từ làm trung tâm là danh từ (danh ngữ) hoặc là động từ không đồng chủ thể với nó nên chúng là các động từ thường
(50) Tôi bị phân tâm khi cô ấy nói thế
(51) Cô bé bị lạc khi ra ngoài chơi một mình
(52) Sau chuyến công tác, Nam được nghỉ vài ngày
(53) Được tin vui
Còn bổ ngữ của vị từ trong những câu này là đồng chủ thể với nó nên chúng là những VTTTT Nét nghĩa tình thái đánh giá thuộc về người nói “chủ thể tiếp thụ cái xấu, bất lợi, trái mong muốn hay cái tốt, có lợi, đúng mong muốn”
Về nhóm từ này trong TĐTV đã giải thích rất tốt nghĩa từ vựng nhưng cũng không quan tâm đến nét nghĩa tình thái khi người nói thể hiện sự đánh giá chủ quan của mình
Trang 36Theo định nghĩa của Palmer (1986), Lyons (1977) có thể nhận thức tình thái đạo nghĩa liên quan đến tính hợp thức về đạo đức hay các chuẩn mực xã hội khác đối với hành động do một người nào đó hay chính người nói thực hiện Theo đó, tình thái đạo nghĩa gồm các nội dung ý nghĩa bắt buộc, cấm đoán, được phép và miễn trừ
Tiểu lớp VTTTT hàm thực – đạo nghĩa mà luận văn xét là kiểu ý nghĩa cấm đoán Chúng chỉ sự đánh giá của người nói đối với hành vi (đã hoặc đang diễn ra) vi phạm những chuẩn mực đạo đức xã hội Vì thế trong những phát ngôn này người nói và chủ thể của hành động không trùng nhau
Ví dụ:
(54) Nó còn bé mà anh nỡ đánh nó
(55) Chị ta làm mẹ mà đang tâm bán con qua biên giới
(56) Vợ đang mang thai mà anh ấy đành bỏ đi
(57) Con dám cãi lại bố mẹ
Trong Từ điển tiếng Việt, các từ “nỡ”, “đang tâm” và “đành3” được coi
là những từ gần nghĩa “bằng lòng làm việc biết rằng người có tình cảm không
thể làm” (như: Không nỡ từ chối; Đang tâm lừa dối bạn bè; Thấy người bị
nạn mà bỏ đi sao đành) và “dám” có nghĩa là “có đủ tự tin để làm việc gì, dù
biết là khó khăn nguy hiểm” (Không dám nói sự thật) Tuy nhiên “nếu những
câu này ở trong văn bản tự sự thì cắt nghĩa như thế chưa đủ vì người đọc tri giác nhận định này như một khả năng chứ không phải như một sự kiện” [17; tr.524]
Nét nghĩa tình thái của các VTTTT trong câu (54) đến câu (57) có thể
được khúc giải [Tôi cho rằng hành động mà chủ thể đã làm là không nên] Ở
đây, người nói thể hiện thái độ không đồng tình của mình đối với chủ thể hành động, đối với hành động đã được đề cập đến Đánh giá của người nói dựa trên những chuẩn mực ứng xử xã hội hay lẽ thường Chúng là những quy
Trang 37ước bất thành văn, tồn tại trong cộng đồng như một nét văn hóa, một tập tục khó vượt qua, là biển báo cấm trên khía cạnh tinh thần
2.3.2 Lớp VTTTT hàm hư
Nhóm từ này gồm các từ: suýt, hòng, chực, toan Chẳng hạn như:
(58) Đường trơn nên tôi suýt ngã
(59) Chị ta làm thế hòng che đậy sự thật
(60) Hắn chực lao tới đánh vợ
(61) Nó toan cưới cô ấy
Đây là những vị từ hàm hư, tức chúng giả định hành động, trạng thái,…
mà vị từ bổ ngữ biểu thị là không có thật, không xảy ra, không tồn tại Hàm ý của chúng là những dẫn ý, tức phụ thuộc vào chân trị của câu chứa chúng Như câu “Nó toan cưới cô ấy” là đúng thì dẫn ý là “Nó không cưới cô ấy” tất nhiên đúng Ngược lại, nếu câu “Nó toan cưới cô ấy” là sai (vì nó đã cưới cô
ấy rồi) thì câu “Nó không cưới cô ấy” cũng sai Ở đây hàm ý (hay thông tin ngầm ẩn) không thể khử bỏ, chẳng hạn ta không thể khử bỏ dẫn ý của câu này bằng cách nói “Nó toan cưới cô ấy * Nhưng nó cưới cô ấy rồi”
Nhóm từ này có nhiều nét nghĩa giống nhau nhưng phần nghĩa tường minh có một chút khác biệt:
- Suýt: Thiếu chút nữa xảy ra P
- Hòng: Thực hiện một điều P được coi là khó
- Chực: thế sẵn sàng thực hiện P
- Toan: có ý định thực hiện ngay P
Phần nghĩa này đã được (Từ điển tiếng Việt) TĐTV giải thích rất rõ ràng Tuy nhiên từ điển đã không đề cập đến nét nghĩa đánh giá của chủ thể/ người nói đối với điều được nói đến trong câu:
Trang 38“Suýt” mang hàm ý [-chủ ý], người nói đánh giá hành động, quá trình P
nếu xảy ra là điều không hay, bất lợi, không mong muốn (suýt ngã, suýt chạm
mặt địch, suýt chết, suýt bị công an bắt,…)
“Hòng” có hàm ý [+chủ ý], mang nét nghĩa “P phù hợp với mong muốn của chủ thể” nhưng “không đúng với mong muốn của người nói”:
Ví dụ:
(62) Hắn giết anh ấy hòng bịt đầu mối
(63) Đế quốc, thực dân hòng chia cắt nước ta
“Chia cắt nước ta”, “bịt đầu mối”, “che giấu sự thật” là những hành
động mà người nói phê phán hay đánh giá là không tốt và không mong muốn xảy ra
Vị từ “toan” mang hàm ý [+chủ ý] còn “chực” thì tùy vào ngữ cảnh có thể là [+chủ ý] hoặc [-chủ ý] đối với chủ thể hành động là người; không có hàm ý này với chủ thể là vật:
(64) Hắn chực lao tới đánh tôi [+chủ ý]
2.4 Tiểu kết chương hai
Trong chương này, sau khi khảo sát, so sánh với tư liệu (những lời giải thích các mục từ trong TĐTV) và chọn lọc những VTTTT, chúng tôi đã xem xét các vấn đề sau:
- Xác định kiểu nghĩa tình thái, đánh giá
- Miêu tả các VTTTT về mặt ngữ nghĩa
Trang 39- Xác định kiểu hàm ý
Qua đây rút ra một số kết luận sau:
1) Các VTTTT tương đối thuần nhất trong tổ chức một tiểu nhóm nghĩa Chúng đều có hai phần: (1) nghĩa hàm ẩn có thể là tiền giả định hay dẫn ý; (2) nghĩa tường minh: nét nghĩa tình thái chính, nét nghĩa đánh giá, nét nghĩa sắc thái, nét nghĩa biểu vật
2) Có hai loại nét nghĩa hàm ẩn (hàm ý) khác nhau:
- Tiền giả định: có trong hàm ý của nhóm VTTTT hàm thực
Tiền giả định không phụ thuộc vào chân trị của câu chứa chúng
Ví dụ, câu “Chị ta đang tâm bán con” và câu phủ định tương ứng “Chị ta
không đang tâm bán con” đều có tiền giả định là “Chị ta có con”
Hàm ý không thể khử bỏ Tức là ta không thể khử bỏ tiền giả
định của câu nói trên bằng cách nói “Chị ta đang tâm bán con * Nhưng chị ta
Không phụ thuộc vào ngữ cảnh
3) Phần nét nghĩa tường minh chúng tôi đặc biệt chú ý đến nghĩa đánh giá, thể hiện “lập trường”, tính chủ quan của người nói/ chủ thể hành động
- Về người đánh giá: nét nghĩa đánh giá biểu thị sự đánh giá của người nói và của chủ thể hành động Cụ thể ở từng nhóm VTTTT như sau:
Trang 40T Thuộc về
người nói Thuộc về chủ thể
Bảng 2.1 Bảng thể hiện nội dung người đánh giá ở các VTTTT
- Về cấp độ đánh giá: Sự đánh giá có mặt ở tất cả các VTTTT theo ba cấp độ khác nhau:
Sự đánh giá là nội dung khái quát lên cả nhóm từ Chẳng hạn,
đánh giá thái độ có chủ ý của chủ thể (giả, giả vờ, cố tình,…); đánh giá nỗ lực của chủ thể (đánh bạo, đánh liều) Nét nghĩa đánh giá này không có ở từng từ
cụ thể mà mỗi vị từ lại có nét nghĩa chuẩn cụ thể riêng Giả có nét nghĩa chuẩn “P trái với sự thật”; đánh bạo “vượt qua trở ngại tâm lý”;…
Sự đánh giá là nội dung chính của từ, trở thành nét nghĩa tường
minh của từ Vì thế có thể gọi chúng là những VTTTT đánh giá Ví dụ: trót có nghĩa là “cảm thấy đáng tiếc vì đã xảy ta P, điều không đáng có, đáng làm”;
bị “cảm thấy P là xấu, bất lợi, không đúng mong muốn”;…
Sự đánh giá đi kèm với hàm ý và nét nghĩa tình thái chính Ví dụ,
cũng có ba nét nghĩa: - (tiền giả định) “P đã hoặc đang diễn ra”, - (nét nghĩa
tình thái chính) “tiếp tục thực hiện P” và - (nét nghĩa đánh giá) “thái độ bất
thường, sốt ruột của người nói với sự tiếp diễn của sự tình”; suýt có các nét
nghĩa: - (dẫn ý) “P không tồn tại, không xảy ra”, - (nét nghĩa tình thái) “thiếu