Thế nhưng, vấn đề văn hoá nhà trường và tìm kiếm các biện pháp quản lý sựhình thành và phát triển văn hoá nhà trường hiện nay vẫn còn chưa được quan tâmđúng mức, mặc dù muốn hay không mu
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo nhàtrường, Khoa Đào tạo sau đại học Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợicho chúng tôi được học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu đòi hỏingày càng cao của nhiệm vụ mới
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Ngọc Hợi đã tận tìnhhướng dẫn giúp đỡ tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyênngành Quản lý giáo dục
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè đồng nghiệp, các thầy cô giáo và họcsinh – sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điềukiện, cộng tác và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn Những nội dung học tập được ở trường thông qua tài liệu do các nhà giáo lênlớp hướng dẫn nghiên cứu cùng với sự giúp đỡ của các đồng nghiệp đã giúp tôinâng cao nhận thức để hoàn thiện đề tài: “Một số giải pháp quản lý công tác xâydựng văn hóa nhà trường ở trường Cao đẳng Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh ’’
Do thời gian nghiên cứu có hạn, kết quả nghiên cứu có thể còn nhiều hạn chế
và thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của qúy thầy cô để đề tài nghiên cứuđược hoàn thiện hơn
Tác giả
Trần Nguyên Thục
Trang 2PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VHNT
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ TP.HCM
Trang 32.2 Thực trạng môi trường văn hóa ở trường CĐ Kinh tế TP.HCM 522.2.1 Mức độ biểu hiện các hành vi của sinh viên vi phạm chuẩn mực và
nội quy nhà trường
52
2.2.2 Đánh giá về mức độ mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà
trường
56
2.2.3 Nhận thức của đội ngũ CBQL, giảng viên, nhân viên và sinh viên
về vai trò của xây dựng VHNT
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC
XÂY DỰNG VHNT Ở TRƯỜNG CĐ KINH TẾ TP.HCM
3.3 Một số giải pháp quản lý công tác xây dựng VHNT ở trường CĐ
Kinh tế TP.HCM
73
3.3.2 Xây dựng bổ sung các văn bản cần thiết quy định các tiêu chí, tiêu
chuẩn văn hóa trong nhà trường
77
3.3.3 Xây dựng môi trường cảnh quan sư phạm văn hóa, kết hợp đầu tư
tăng cường xây dựng cơ sở vật chất nhà trường
79
3.3.5 Tăng cường vai trò của các tổ chức đoàn thể trong các hoạt động
tuyên truyền, tổ chức thực hiện xây dựng VHNT
83
3.3.6 Phối hợp giữa gia đình, nhà trường, chính quyền địa phương và xã
hội trong việc giáo dục VHNT cho sinh viên
85
3.3.7 Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá và thông tin tuyên truyền
trong công tác xây dựng VHNT
873.4 Thăm dò sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 88
Trang 43.4.2 Tính khả thi 903.4.3 Tổng hợp đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 93
Trang 5GD là một quá trình hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ của mỗi quốc gia,
đó không đơn thuần là một quá trình chuyển tải, tiếp nhận kiến thức khoa họcchuyên ngành mà thực chất sâu xa là sự thẩm thấu các giá trị văn hoá của nhân loại,của dân tộc; trên cơ sở đó mà nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi cho phù hợp vớiyêu cầu thời đại Tuy nhiên, thật đáng tiếc là trong thực tế GD ở nước ta hiện tại,vấn đề GD các giá trị văn hoá truyền thống cho thế hệ trẻ dường như đang bị coinhẹ; do vậy ngày càng xuất hiện nhiều hiện tượng “phi văn hoá” trong giao tiếp,ứng xử xã hội Những mối quan hệ mà người xưa gọi là “cương thường đạo lý”đang có nhiều đảo lộn Ở một số nơi, với một số người, GD và văn hoá dường như
đã không còn gắn kết, phát triển theo tỷ lệ thuận với nhau (học vấn càng cao, vănhoá càng đẹp) mà có khi, thậm chí còn ngược lại Cả xã hội đang rất quan tâm đếnđạo đức của HSSV, nhiều khi cả của các nhà giáo nữa, coi đây là trọng điểm củachất lượng GDĐT Trước thực tế như vậy, những ai quan tâm tới sự nghiệp GD nóichung và GD thế hệ trẻ nói riêng đều không khỏi đau lòng, băn khoăn, lo lắng; songlàm thế nào để khắc phục tình trạng đó thì không hề đơn giản, rất cần phải nghiêncứu khoa học theo nhiều góc độ: đạo đức học, GD học, tâm lý học, xã hội học, vănhoá học
Chính vì vậy, Trong “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng” có chỉ đạo hết sức
Trang 6cụ thể về nhiệm vụ của ngành GDĐT trong thời gian tới: “Thực hiện đồng bộ cácgiải pháp phát triển và nâng cao chất lượng GD, đào tạo Đổi mới chương trình, nộidung, phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng GD toàndiện, đặc biệt coi trọng GD lý tưởng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năngthực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội Xây dựng đội ngũ GV
đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng Đề cao trách nhiệm của gia đình và
xã hội phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong GD thế hệ trẻ” [2]
Văn hoá luôn đi liền với GD, GD đi liền với văn hoá Cả hai đều là sản phẩmđặc thù của loài người, chỉ có loài người mới có Đã đến lúc xây dựng văn hoá họcđường phải là mối quan tâm của tất cả mọi nhà trường Bộ GDĐT đã phát độngphong trào “Xây dựng nhà trường thân thiện” Nội dung của phong trào này gắnliền với văn hoá học đường Xây dựng văn hoá học đường là một yếu tố bảo đảm vànâng cao chất lượng GDĐT Văn hoá học đường góp phần quan trọng chấn hưngcải cách nền GD nước nhà
Như vậy, rõ ràng một trong những biện pháp quan trọng, hiệu quả để thựchiện tốt nhiệm vụ chính trị trọng tâm của ngành dưới sự chỉ đạo của Đảng về GDcho HSSV lý tưởng, đạo đức, lối sống, ý thức trách nhiệm xã hội…Với xã hội,chúng ta phải xây dựng “Đời sống văn hoá”, mỗi trường học đều rất cần thiết phảixây dựng được “Trường học thân thiện – Học sinh tích cực”, xây dựng “Văn hoánhà trường” lành mạnh, trong sáng
VHNT là một khái niệm mới xuất hiện trong những năm gần đây, nhưng nộihàm của nó thì đã được đề cập đến từ lâu rồi, trong nhiều tình huống của GDĐT,nhất là ở thời kỳ đổi mới VHNT đã được các nhà nghiên cứu GD coi là một yếu tốrất cơ bản của cơ chế phát triển đối với từng nhà trường cũng như của toàn hệ thốngcác trường học nói chung, nó làm nền tảng và định hướng cho sự phát triển tiến bộcủa nhà trường, và là một động lực quan trọng để thực hiện đổi mới quản lý GD ởtừng nhà trường
Với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá các mặt của đời sống nhân loại, đang
mở ra không ít những triển vọng phát triển GD cho các quốc gia trong hệ thống GD
Trang 7quốc dân nói chung, GD ĐH nói riêng và cụ thể là các trường ĐH, CĐ Đồng thời,cũng đặt ra những thách thức to lớn đối với việc giữ gìn, phát triển văn hoá nóichung và VHNT nói riêng.
VHNT thể hiện ở mọi góc độ nhà trường, bao gồm từ phong cách ngôn ngữcủa GV và HSSV, cảnh quan môi trường sư phạm cũng như thái độ quan tâm của
họ đối với những nội dung chương trình và phương pháp GD, đến những địnhhướng giá trị nhân cách của HSSV trước những thay đổi của cuộc sống xã hội hiệnđại Thế nhưng, vấn đề văn hoá nhà trường và tìm kiếm các biện pháp quản lý sựhình thành và phát triển văn hoá nhà trường hiện nay vẫn còn chưa được quan tâmđúng mức, mặc dù muốn hay không muốn, những yếu tố tiêu cực từ môi trườngVHNT tự phát đang ngày càng có tác động sâu sắc đến quá trình GDĐT trong cácnhà trường, đến HSSV - thế hệ tương lai của đất nước Vậy các nhà QLGD cầnphải làm gì để xây dựng và phát triển một môi trường VH lành mạnh, tích cực ?
Trường CĐ Kinh tế TP.HCM trực thuộc Sở GDĐT TP.HCM, được thànhlập từ năm 2005 trên cơ sở trường Trung học Kinh tế TP.HCM Trường CĐ Kinh tếTP.HCM được giao nhiệm vụ đào tạo nhân lực có trình độ CĐ và Trung cấp chuyênnghiệp về lĩnh vực kinh tế phục vụ cho tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóacho TP.HCM nói riêng và cho cả nước nói chung trong xu thế hội nhập kinh tế toàncầu Là một cơ sở đào tạo có uy tín của ngành GD thành phố và các tỉnh, thành phốlân cận, là địa chỉ đáng tin cậy của các doanh nghiệp, là nơi gửi trọn niềm tin củaphụ huynh học sinh và các thí sinh Nhiều năm qua nhà trường luôn ý thức và phấnđấu không ngừng cho một mục tiêu chất lượng đào tạo, nhằm đáp ứng nguồn nhânlực có đủ phẩm chất chính trị, có chuyên môn vững vàng, có khả năng hội nhậpnhanh vào thị trường lao động công nghiệp đòi hỏi ngày càng cao Tuy nhiên, trướctình hình mới, trước yêu cầu đổi mới GD trong thời kỳ mới, Trường CĐ Kinh tế TP.HCM đang từng bước phấn đấu xây dựng, phát triển và khẳng định Một trongnhững nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng một môi trường văn hoá lành mạnh, tạothương hiệu nhà trường, đó chính là VHNT Chính vì thế, tôi chọn đề tài: “Một số
Trang 8giải pháp quản lý công tác xây dựng văn hoá nhà trường ở trường CĐ Kinh tế TP.HCM”.
Công tác xây dựng văn hoá nhà trường ở các trường ĐH, CĐ
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Một số giải pháp quản lý công tác xây dựng văn hoá nhà trường ở trường CĐ
Kinh tế TP.HCM
4 Giả thuyết khoa học.
Nếu các giải pháp quản lý xây dựng VHNT được thực hiện sẽ góp phần xâydựng một môi trường VH tích cực cho CBGV, nhân viên và HSSV, góp phần thựchiện tốt mục tiêu đào tạo của trường CĐ Kinh tế TP.HCM trong giai đoạn phát triểnhiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu.
5.1 Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đề tài
5.2 Nghiên cứu thực trạng môi trường VH và thực trạng công tác xây dựng văn hoánhà trường ở trường CĐ Kinh tế TP.HCM
5.3 Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý công tác xây dựng văn hoá nhàtrường ở trường CĐ Kinh tế TP.HCM
6 Phương pháp nghiên cứu.
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận:
Nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản chỉ đạo của ngành
GD, các tài liệu, các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài Tiếp
Trang 9cận hệ thống những chủ trương chính sách phát triển văn hoá GD của Đảng, Chínhphủ, của ngành GD, của thành phố Hồ Chí Minh.
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
6.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Nhằm mục đích thu thập thông tin về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đếnvấn đề nghiên cứu cũng như kiểm chứng tính khả thi, cấp thiết của các biện pháp đềxuất trong đề tài
6.2.2 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm GD:
Trên cơ sở các báo cáo tổng kết của ngành GD, của các cở sở GDĐT, vậndụng để giải quyết vấn đề cần nghiên cứu
6.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia:
Gặp gỡ với lãnh đạo nhà trường nhằm trao đổi, xin ý kiến đóng góp về cơ sở
lý luận của đề tài và kiểm chứng mức độ khả thi, cấp thiết và phương hướng thựchiện các giải pháp được đề xuất trong đề tài Tham khảo một số phát biểu, bài báokhoa học có liên quan của các chuyên gia
6.3 Phương pháp thống kê toán học:
Sử dụng các công thức toán thống kê để xử lý và phân tích các số liệu, kếtquả điều tra, nhằm rút ra kết luận khoa học của đề tài
7 Đóng góp của luận văn :
7.1 Về mặt lý luận:
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến vấn đề xây dựngVHNT Nhận diện và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về công tác quản lý xây dựngVHNT ở các trường ĐH, CĐ
Trang 108 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội dungcủa luận văn gồm có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
- Chương 2: Thực trạng công tác xây dựng VHNT ở trường CĐ Kinh tế
TP.HCM
- Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác xây dựng VHNT ở trường
CĐ Kinh tế TP.HCM
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Nếu GD được coi là một nền tảng quan trọng của sự phát triển đất nướcthì VH lại là nền tảng tồn tại của một dân tộc Do đó, việc xây dựng nét VHtrong bất kỳ một lĩnh vực, một tổ chức nào đều có thể xem là thiết yếu để đạtđược sự phát triển vững mạnh VH là những giá trị vật chất và tinh thần do conngười sáng tạo ra Trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội đều có nhữnggiá trị VH của nó Chẳng hạn như: VH công sở, VH giao tiếp, VH giao thông,
VH ẩm thực…, trong đó có VH học đường Tất cả những điều này mỗi conngười đều phải học để trở thành một con người có VH Mỗi người sống có VHmới tạo ra một xã hội có VH Xã hội sống có VH mới phát triển và hạnh phúcđược
VH bao giờ cũng gắn với GD và GD luôn đi liền với VH Đây là nhữnghiện tượng đặc trưng của xã hội loài người, chỉ có loài người mới có, là điềukiện cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân, cộng đồng và xã hội Xã hội loàingười muốn tồn tại và phát triển thì phải duy trì, bảo tồn và phát triển GD và VH
Thuật ngữ “VH tổ chức” (organization culture) xuất hiện lần đầu tiên trênbáo chí Mỹ vào khoảng thập niên 1960 Thuật ngữ tương đương “VH công ty”
Trang 11(corporate culture) xuất hiện muộn hơn, khoảng thập niên 1970 và trở nên hếtsức phổ biến sau khi tác phẩm văn hóa công ty của Terrence Deal và AtlanKennedy được xuất bản tại Mỹ năm 1982 VH học đường, VHNT (Schoolculture) là thuật ngữ được xuất hiện vào đầu những năm 90 của thế kỉ trước ởcác nước phát triển như Anh, Mĩ, Úc , sau đó lan ra nhiều nước khác trên thếgiới Như vậy có thể nói, VHNT là một khái niệm mới xuất hiện trong nhữngnăm gần đây, nhưng nội hàm của nó thì đã được đề cập từ lâu rồi, trong nhiềutình huống GD và đào tạo, nhất là ở thời kỳ đổi mới VHNT đã được các nhànghiên cứu GD coi là một yếu tố rất cơ bản của cơ chế phát triển đối với từngnhà trường cũng như của toàn hệ thống các trường học nói chung, nó làm nềntảng và định hướng cho sự phát triển tiến bộ của nhà trường và là một động lựcquan trọng để thực hiện đổi mới quản lý GD ở từng nhà trường.
Hiện nay còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm và nội dung
VH học đường Nhưng có thể hiểu: VH học đường là hệ các chuẩn mực và giátrị giúp cho cán bộ quản lí nhà trường, các thầy cô giáo, các bậc cha mẹ, các emHSSV có suy nghĩ, tình cảm và hành động tốt đẹp
Ở mỗi nước khác nhau, nội dung GD VH học đường cũng khác nhau thểhiện qua các giá trị hướng tới của nó Ví dụ, Singapore chọn các giá trị như:chính trực, vì con người, học tập đam mê vì tương lai và chất lượng…Hàn Quốchướng tới các giá trị trách nhiệm với bản thân, cộng đồng và quốc gia, lao độngchăm chỉ, học tập nghiêm túc, lạc quan hướng tới tương lai… Không chỉ có sựkhác nhau giữa các quốc gia mà ngay cả các cấp học khác nhau, ngành học khácnhau cũng có những sự khác nhau trong GD VH học đường cho HSSV [3]
VH học đường đang là một vấn đề thời sự nổi cộm không chỉ trong cácnhà trường mà trong cả toàn xã hội chúng ta hiện nay Hiện tượng SV, học sinh
có những hành vi lố lăng, kệch cỡm, đánh mất vẻ đẹp VH ở trường lớp, ở nơicông cộng là khá phổ biến Thực trạng này có thể có nhiều nguyên nhân khácnhau, nhưng chắc chắn có một nguyên nhân do “VH học đường chưa được đưa
Trang 12vào phạm vi quản lí của nhà trường chúng ta, chưa có tiêu chí, chưa ai khảo sát,đánh giá…” [3]
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài.
1.2.1 Văn hóa.
1.2.1.1 Khái niệm văn hóa.
“Văn hóa ” là một từ cổ trong tiếng Pháp, xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷXIII có nguồn gốc từ tiếng Latinh (cultura) Từ VH được khai sinh trong tiếngPháp, rồi truyền bá sang tiếng Anh (culture), tiếng Đức dưới hình thức vaymượn ngôn ngữ Nghĩa gốc của nó là “vun trồng, chăm sóc” sau đó còn có thêm
ý nghĩa ẩn dụ là “hình thành, GD tinh thần”
Theo tiếng Hán: Văn có nghĩa là vẻ đẹp, có giá trị; Hóa có nghĩa là giáo hóa.Nghĩa gốc của VH là cái đẹp, làm sao cho mọi cái trở nên đẹp, hướng con ngườivào cái đẹp, biết làm theo cái đẹp, yêu cái đẹp bằng con đường cảm hóa thôngqua GD Theo cách nhìn phương đông, hình thức đẹp đẽ biểu hiện trước hếttrong lễ, nhạc, cách lãnh đạo, quản lý … đặc biệt trong ngôn ngữ, cách ứng xửlịch sự Nó biểu hiện thành các chuẩn mực, giá trị ứng xử được mọi người chấpnhận và xem là đẹp đẽ [7]
Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về VH, nhưng người ta chưa thống nhấtnội hàm khái niệm này, người hiểu theo nghĩa hẹp, người hiểu theo nghĩa rộng.Hiện nay số lượng về định nghĩa VH khó mà biết được chính xác là bao nhiêu
Trang 13học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày vềmặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh
đó tức là văn hóa VH là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng vớibiểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh nhằm thích ứng những nhu cầu đờisống và đòi hỏi của sự sinh tồn”
Như thế, VH chứa đựng trong nó không chỉ những giá trị vật chất mà cả giátrị tinh thần, gắn bó mật thiết, sâu sắc, máu thịt với con người
Trong ý nghĩa rộng nhất, tuyên bố về những chính sách văn hóa– Hội nghịquốc tế do UNESCO chủ trì từ 26/7 đến 06/9/1982 tại Mêxicô định nghĩa: “Vănhóa hôm nay, có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trítuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội, của một nhóm người trong
xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, nhữngquyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tínngưỡng” [21]
Với định nghĩa của UNESCO thì VH không phải là một lĩnh vực riêng biệt, VH
là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
ra Định nghĩa được xem như là tiêu chí để phân biệt cộng đồng này với cộngđồng khác bằng căn cứ vào bản sắc của cộng đồng thể hiện qua đời sống vậtchất, tinh thần Tuy nhiên định nghĩa này cũng chưa đề cập hết được đặc trưng
cơ bản của VH
VH là một khái niệm hết sức phong phú, phức tạp, nhiều đặc trưng song cơ bảnvẫn nổi lên bốn đặc trưng sau: tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệ thống và tínhlịch sử Dựa vào bốn đặc trưng cơ bản trên có thể định nghĩa VH như sau: “Vănhóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vậtthể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạtđộng thực tiễn trong sự tương tác với môi trường tự nhiên – xã hội của mình”[21] Có thể nói đây là khái niệm khá hoàn chỉnh
1.2.1.2 Môi trường văn hóa
Trang 14Môi trường VH chính là sự vận động của các quan hệ của con người trongcác quá trình sáng tạo, tái tạo, đánh giá, lưu giữ và hưởng thụ các sản phẩm vậtchất và tinh thần của mình, là tổng hòa các giá trị VH vật chất và VH tinh thầntác động đến con người và cộng đồng trong một không gian và thời gian xácđịnh.
Môi trường VH bao gồm nhiều yếu tố hợp thành các hệ thống nhất định Đó là
hệ thống những giá trị VH (các giá trị), hệ thống những quan hệ VH (cái manggiá trị), hệ thống những hình thái hoạt động VH (cái thực hiện giá trị) và hệthống những thiết chế VH (các định hướng giá trị) Mỗi hệ thống đều ở trongquá trình phát triển không ngừng chứ không phải cố định, bất biến [15]
Vì vậy, xây dựng môi trường VH thực chất là xây dựng và phát huy tác dụngcủa từng hệ thống trong cấu trúc tổng thể của nó
- Thành tố thứ nhất là: hệ thống những giá trị VH
- Thành tố thứ hai là hệ thống những quan hệ VH
- Thành tố thứ ba là hệ thống những hình thái hoạt động VH và cảnh quan VH
- Thành tố thứ tư là hệ thống những thiết chế VH
Với ý nghĩa là tổng hòa các thành tố trên đây, môi trường VH có vai trò cực
kỳ quan trọng đối với đời sống cộng đồng và quá trình xây dựng con người Bởi
vì, VH “trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, kế thừatruyền thống cách mạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực,
tự cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [15]
1.2.2 Văn hóa tổ chức (Organization culture)
1.2.2.1 Khái niệm văn hóa tổ chức.
Có thể quan niệm VH tổ chức là một sự pha trộn riêng biệt của các giá trị,niềm tin, trông đợi và chuẩn mực được phát triển và duy trì trong tổ chức, phùhợp với chuẩn mực chung, tạo nên một dấu ấn riêng biệt, giúp phân biệt tổ chứcnày với tổ chức khác [7]
Như vậy, tổ chức nào cũng có VH riêng của nó Vấn đề đặt ra là VH đó cótích cực hay tiêu cực, VH đó mạnh hay yếu, phục vụ tốt cho việc đạt được mục
Trang 15tiêu hay là trở lực đối với quá trình đó Các loại tổ chức khác nhau tạo nên cácloại hình VH khác nhau.
Edgar Schein, nhà nghiên cứu nổi tiếng về VH tổ chức đã đưa ra định nghĩa:
“Một dạng của những giả định cơ bản - được sáng tạo, được khám phá hoặcđược phát triển bởi các nhóm khi họ học về cách thức giải quyết những vấn đềcủa thích ứng với môi trường bên ngoài và hội nhập bên trong - những giả định
cơ bản này đã vận hành tốt và được quan tâm là có giá trị và vì vậy được dạycho những thành viên mới như những cách thức đúng để nhận thức, suy nghĩ vàcảm giác trong quan hệ với các vấn đề” [19]
Khái niệm văn hoá của một tổ chức được Greert Hofstede định nghĩa nhưsau: đó là một tập hợp các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin và hành vi ứng xửcủa một tổ chức tạo nên sự khác biệt của các thành viên của tổ chức này với cácthành viên của tổ chức khác (Greert Hofstede, Cultures & Organisations, 1991)
VH tổ chức là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối
ổn định trong tổ chức; thể hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộclẫn nhau trong tổ chức và có xu hướng tự lưu truyền trong thời gian dài; Phẩmchất riêng biệt của tổ chức được nhận thức phân biệt nó với các tổ chức kháctrong lĩnh vực [15]
Văn hóa tổ chức là toàn bộ các giá trị, niềm tin, truyền thống và thói quen cókhả năng quy định hành vi của mỗi thành viên trong tổ chức, mang lại cho tổchức một bản sắc riêng, ngày càng phong phú thêm và có thể thay đổi theo thờigian.[18]
Qua những định nghĩa trên, chúng ta thấy rằng dù phát biểu theo những cáchkhác nhau về VH tổ chức nhưng nói chung các tác giả đều nhấn mạnh nhữngchuẩn mực và giá trị chung được biểu hiện thành những nguyên tắc sống, nhữngnguyên tắc ứng xử có tác dụng chỉ dẫn hành vi của cá nhân trong tổ chức Trongthực tế, những giá trị và chuẩn mực này thường không được truyền đạt chínhthức cho những người mới tới với tư cách là một thành viên mới của tổ chức, tuynhiên những người này cũng cố gắng và muốn học về VH của tổ chức mà họ
Trang 16mới gia nhập (nhập gia tùy tục) Nói cách khác,VH tổ chức gắn liền với nhữnggiá trị tư duy của con người, thể hiện trình độ ứng xử của con người trong cáchoạt động quản lý [19]
1.2.2.2 Các đặc điểm của văn hóa tổ chức.
Theo các nhà nghiên cứu, VH tổ chức có những đặc điểm sau:
- Các yếu tố cấu thành của nó thường ảnh hưởng một cách tự nhiên và vô thứctới cách ứng xử của các thành viên ở các cấp độ và các lĩnh vực khác nhau trong
tổ chức, trong phong cách giao tiếp, cách mà các thành viên trong tổ chức nói vềnhau; chất lượng đón tiếp; cách trình bày một vấn đề; thái độ đối với thay đổi
- VH tổ chức mang lại cho tổ chức một bản sắc riêng
- Cũng như truyền thống gia đình, địa phương, vùng miền được truyền từ đờinày sang đời khác, VH tổ chức cũng được lưu truyền, tồn tại Tuy nhiên VH tổchức không phải là bất biến, nó luôn được phát triển và thích ứng với hoàn cảnh
và môi trường xã hội
- VH tổ chức không nhất thiết mang tính đơn nhất, nhất là đối với các tổ chức
có quy mô lớn Nó bao gồm nhiều nền VH nhỏ tương ứng với các nhóm nhỏ,các đơn vị công tác trong cơ quan
- Một nền VH sẽ mạnh hơn khi nó bao gồm và được chấp nhận bởi nhiều thànhviên, khi các giá trị, lòng tin, truyền thống và thói quen cấu thành nền VH đó trởthành một tổng thể gắn bó và tương đối ổn định
- Văn hoá tổ chức là nhận thức chung của các thành viên trong tổ chức, tuynhiên do mức độ chia sẻ của các thành viên không giống nhau tạo nên văn hoáchính thống và VH nhóm trong tổ chức.VH chính thống là những giá trị cốt lõiđược chia sẻ bởi đa số thành viên trong tổ chức, có tác dụng chỉ dẫn hành vihàng ngày của các thành viên.VH nhóm trong tổ chức là những giá trị được chia
sẻ bởi thiểu số thành viên trong tổ chức, nhìn chung được hình thành nhằm giúpcác thành viên của nhóm giải quyết những vấn đề cụ thể hàng ngày Tuy nhiên
VH nhóm có thể làm suy yếu, xói mòn VH tổ chức nếu nó mâu thuẫn với VHchính thống và với các mục tiêu tổng thể của tổ chức.[19]
Trang 171.2.3 Văn hóa nhà trường (School culture).
1.2.3.1 Khái niệm văn hóa nhà trường.
Xét về bản chất, mỗi nhà trường là một tổ chức hành chính – sư phạm Đó làmột thế giới thu nhỏ với những cơ cấu, chuẩn mực, quy tắc hoạt động, những giátrị, điểm mạnh và điểm yếu riêng do những con người cụ thể thuộc mọi thế hệtạo lập Với tư cách là một tổ chức, mỗi nhà trường đều tồn tại, dù ít hay nhiều,một nền văn hoá nhất định.[12]
Như bất kỳ một cơ quan, công sở hoặc doanh nghiệp nào, mỗi khi bước vàomột nhà trường, người ta thường cảm nhận được bầu không khí đặc trưng củanhà trường đó qua hàng loạt các dấu hiệu: hoặc hiển hiện dễ thấy, hoặc ngầmđịnh khó thấy Mỗi nhà trường đều tự mình biểu lộ ra bên ngoài một hình ảnh tốtđẹp hoặc tầm thường nào đó Hình ảnh này được tạo nên bởi người dạy, ngườihọc, người quản lý trong nhà trường, được chuyển tải và phản ánh bởi đồngnghiệp trong địa phương và phụ huynh cũng như cộng đồng xã hội xung quanh,bởi cơ quan quản lý và người sử dụng sản phẩm GD – những đối tượng phảnảnh chất lượng sản phẩm GD của nhà trường một cách rõ nét và khách quan.[12]
Có nhiều cách tiếp cận nội hàm VHNT, do đó xuất hiện nhiều định nghĩakhác nhau, tùy theo mỗi người nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác.Tuy nhiên, tư tưởng xuyên suốt trong mọi định nghĩa VHNT chính là VH củamột tổ chức, văn hoá của một tổ chức hành chính – sư phạm
Văn hoá tổ chức của một nhà trường là hệ thống niềm tin, giá trị, chuẩn mực,thói quen và truyền thống hình thành trong quá trình phát triển của nhà trường,được các thành viên trong nhà trường thừa nhận, làm theo và được thể hiệntrong các hình thái vật chất và tinh thần, từ đó tạo nên bản sắc riêng cho mỗi tổchức sư phạm [12]
Văn hoá nhà trường là một tập hợp các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin
và hành vi ứng xử… đặc trưng của một trường học, tạo nên sự khác biệt với các
tổ chức khác
Trang 18Văn hoá nhà trường liên quan đến toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần củamột nhà trường Nó biểu hiện trước hết trong tầm nhìn, sứ mạng, triết lý, mụctiêu, các giá trị, phong cách lãnh đạo, quản lý… bầu không khí tâm lý Thể hiệnthành hệ thống các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin, quy tắc ứng xử… được xem
là tốt đẹp và được mỗi người trong nhà trường chấp nhận [7]
VHNT là toàn bộ sự pha trộn riêng biệt của các giá trị, niềm tin, trông đợi vàcác chuẩn mực xử sự được hình thành và duy trì trong quá trình dạy và học,xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của nhà trường phù hợp với cácchuẩn mực chung và tạo nên dấu ấn giúp phân biệt nhà trường này với nhàtrường khác [15]
Mục tiêu hoạt động của nhà trường là dạy chữ, dạy người, dạy nghề: Truyền
bá hay chia sẻ kiến thức, kiến thức thành tư duy và hành động Từ “văn” thành
“hóa” – cái hay, cái tốt, cái đẹp – chân, thiện, mỹ Văn hóa, văn minh là nộidung của GDĐT và cũng là mục tiêu của GDĐT Để đạt được các mục tiêu đó,môi trường nhà trường phải như thế nào? Nói cách khác, môi trường, cách thức,con đường của GDĐT phải gắn với một kiểu VH nhất định GD, trước hết vàsuy cho cùng “là nhằm phát triển con người, hình thành ở mỗi người nhân cách
VH , vì thế, đòi hỏi một môi trường GD tương ứng mà bây giờ gọi là VH họcđường” [17]
1.2.3.2 Quan hệ giữa văn hóa nhà trường và văn hóa học đường.
Thuật ngữ VHNT và VH học đường tuy cùng nói về một vấn đề nhưng lạixuất phát từ hai góc độ khác nhau Thuật ngữ VHNT tiếp cận VH của một tổchức, có khuôn khổ, có chủ thể, khách thể và có mục tiêu cần được theo đuổi
Từ cách tiếp cận này, trách nhiệm của chủ thể là các nhà quản lý nhà trường, cáccán bộ, GV ở trường được nhấn mạnh nhiều hơn Do vậy, VHNT là VH ở cấp
độ tổ chức của một dạng tổ chức
VH học đường có thể được hiểu là “hệ các chuẩn mực, giá trị giúp cácCBQL nhà trường, các thầy cô giáo, các bậc phụ huynh và các em HSSV có cáccách thức suy nghĩ tình cảm, hành động tốt đẹp” Như vậy, khi nói tới VH học
Trang 19đường, có hai điều quan trọng cần nhấn mạnh Thứ nhất, mặc dù hiện nay thuậtngữ này chủ yếu dùng để nhấn mạnh tính cấp thiết của thực tế ở các trường phổthông nhưng bản thân thuật ngữ này có thể áp dụng để chỉ mọi bối cảnh GD, đàotạo, kể cả các trường cao đẳng, ĐH hay cấp sau ĐH Hai là, với tư cách là mộtdạng cụ thể của VH tổ chức, VH học đường được hình thành, duy trì, nuôidưỡng và phát huy nhờ các bên có liên quan, không chỉ là thầy – trò, giữa cácthầy – cô với nhau, mà còn là giữa thầy – trò – các bậc phụ huynh học sinh…Nhận thức này là hết sức quan trọng Nó giúp tránh được một thái độ sai lầmkhá phổ biến trong thực tiễn hiện nay là cứ nói về VH học đường là người ta chỉtính đến hai vai thầy – trò, mà quên đi trách nhiệm của gia đình, cộng đồng vàcủa xã hội.
Như vậy, VH học đường cũng nói về VHNT nhưng nhìn từ góc độ đa diệnhơn, tương tác hơn với xã hội cao hơn, tức là ranh giới giữa nhà trường và cộngđồng, xã hội mờ hơn Trong thuật ngữ VH học đường, trách nhiệm, sự tham gia
và trông đợi của mọi đối tượng liên quan như thầy – trò, nhà trường, xã hội …đều hiện diện đầy đủ và có tầm quan trọng tương đương nhau Do vậy, VH họcđường là dạng VH của một nhóm, cộng đồng … dù liên quan đến nhà trườngnhưng phạm vi của nó rộng hơn một tổ chức như nhà trường [17]
Như quan điểm của GS Phạm Minh Hạc cho rằng : “VH học đường là VHtrong các trường học, nó là một bộ phận cấu thành của hệ thống GD quốc dân vàmang bản sắc chung của nền VH dân tộc Cụ thể hơn, VH học đường là hệ thốngcác chuẩn mực, giá trị giúp các CBQL nhà trường, các thầy giáo, cô giáo, cácbậc phụ huynh và các em HSSV có cách thức suy nghĩ, tình cảm và hành độngtốt đẹp” [11]
1.2.3.3 Những biểu hiện của văn hóa nhà trường.
- Nuôi dưỡng bầu không khí cởi mở, dân chủ, hợp tác, tin cậy và tôn trọng lẫnnhau;
Trang 20- Mỗi cán bộ, GV đều biết rõ công việc mình phải làm, hiểu rõ trách nhiệm, luôn
có ý thức chia sẻ trách nhiệm, tích cực tham gia vào việc ra các quyết định dạy
và học;
- Coi trọng con người, cổ vũ sự nỗ lực hoàn thành công việc và công nhận sựthành công của mỗi người;
- Nhà trường có những chuẩn mực để luôn luôn cải tiến, vươn tới;
- Sáng tạo và đổi mới;
- Khuyến khích GV cải tiến phương pháp nâng cao chất lượng dạy và học; GVđược khuyến khích tham gia đóng góp ý kiến trong mọi hoạt động của nhàtrường
- Khuyến khích đối thoại và hợp tác, làm việc nhóm;
- Chia sẻ quyền lực, trao quyền, khuyến khích tính tự chịu trách nhiệm;
- Chia sẻ tầm nhìn;
- Nhà trường thể hiện sự quan tâm, có mối quan hệ hợp tác chặt chẽ, lôi kéocộng đồng cùng tham gia giải quyết những vấn đề của GD
1.2.4 Quản lý và quản lý giáo dục.
1.2.4.1 Khái niệm về quản lý
Quản lý là hoạt động xuất hiện từ khi xã hội loài người xuất hiện, khi conngười phải và biết hợp tác cùng nhau vì một mục đích chung Ở đâu con ngườitập hợp thành nhóm xã hội, ở đó có quản lý Quản lý là một việc làm bao trùmlên mọi mặt đời sống xã hội và đã được mọi người quan tâm khá lâu trong lịch
sử, nhưng cho đến mãi thế kỷ 20, lý luận quản lý một cách khoa học mới thực sự
ra đời và hiện nay vấn đề này ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện
- Quan niệm của các nhà nghiên cứu nước ngoài về quản lý
Theo F.W Taylor cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật, biết rõ ràng, chính xác cái
gì cần làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất” Theo Harold Koontz, Cril Odonnell và Heinz Weihrich cho rằng: “Quản lý làhoạt động bảo đảm sự phối hợp giữa nỗ lực các cá nhân nhằm bảo đảm mục tiêu
Trang 21quản lý trong điều kiện chi phí thời gian, công sức, tài lực, vật lực ít nhất đạt kếtquả cao nhất”
Theo F.F Aunpu: “Quản lý là một khoa học và nghệ thuật tác động vào một hệthống nhằm mục tiêu biến đổi hệ thống đó.” [1]
P Baranger khẳng định: “Quản lý là sự cai trị một tổ chức bằng cách đặt ranhững mục tiêu và hoàn chỉnh các mục tiêu cần phải đạt, là lựa chọn, sử dụngcác phương tiện nhằm đạt được mục tiêu đã định”
Paul Hersey, Ken Blane Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” (NXBChính trị quốc gia, 1995): “Quản lý là quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lývới các cá nhân, các nhóm để hướng vào việc thực hiện mục tiêu quản lý”
- Quan niệm của các nhà nghiên cứu trong nước về quản lý
Theo Vũ Ngọc Hải: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích củachủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”
Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởngcủa chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được một mục tiêu chung”.[4]
Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là hoạt động cóđịnh hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổchức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”
Theo Trần Quốc Thành: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản
lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội của nhà quản lý, phùhợp với quy luật của khách quan”
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạchcủa chủ thể quản lý đến tập thể của những người lao động nói chung là kháchthể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu đã dự kiến”
Từ các khái niệm về quản lý nêu trên của các tác giả trong và ngoài nước, chúng
ta có thể thấy được nội dung cơ bản của khái niệm quản lý như sau:
- Quản lý là một hoạt động được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch
- Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội
Trang 22- Quản lý luôn đặt ra trong mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể quản lý
và khách thể quản lý
- Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Quản lý là một khoa học sử dụngtri thức tổng hợp của khoa học tư nhiên, khoa học xã hội và nhân văn Quản lýđồng thời cũng là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn ngoan và tinh tế để đạt đượcmục đích
1.2.4.2 Chức năng của quản lý.
Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt, thông qua đóchủ thể tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định.Nhiều nhà khoa học và quản lý thực tiễn đã đưa ra những quan điểm khác nhau
về phân loại chức năng quản lý:
+ Theo truyền thống, Pha-on đưa ra 5 chức năng quản lý đó là: Kế hoạch, tổchức, chỉ huy, phối hợp, kiểm tra
+ Theo Cruc: Có 5 chức năng quản lý: Kế hoạch, tổ chức, phối hợp, chỉ đạo,kiểm kê và kiểm tra
+ Theo quan điểm của UNESCO hệ thống chức năng quản lý bao gồm 8 vấn
đề sau: Xác định nhu cầu, thẩm định và phân tích dữ liệu, xác định mục tiêu, kếhoạch hóa, triển khai công việc, điều chỉnh, đánh giá, sử dụng liên hệ ngược vàtái xác định các vấn đề cho quá trình quản lý tiếp theo
+ Theo quan điểm quản lý hiện đại: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
Như vậy, tuy có nhiều cách phân loại chức năng quản lý khác nhau, song vềthực chất các hoạt động có những bước đi giống nhau để đạt tới các mục tiêu, đólà: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
Trang 23+ Xác định, hình thành các mục tiêu phát triển của tổ chức, của hoạt động và cácmục tiêu của quản lý tương thích.
+ Xác định chương trình hành động, các biện pháp cần thiết để đạt được cácmục tiêu của quản lý và các mục tiêu phát triển của tổ chức
+ Xác định và phân phối các nguồn lực, các điều kiện cần thiết
- Chức năng tổ chức:
Là quá trình hình thành các quan hệ và cấu trúc các quan hệ giữa các thànhviên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm tạo cơ chế đảm bảo sự phối hợp,điều phối tốt các nguồn lực, các điều kiện cho việc thực hiện thành công kếhoạch, chương trình hành động và nhờ đó mà đạt được mục tiêu tổng thể của tổchức
Chức năng tổ chức bao gồm các nội dung sau:
+ Xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy
+ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho từng bộ phận và cá nhân
+ Lựa chọn, phân loại cán bộ
+ Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy
+ Xác lập cơ chế phối hợp trong tổ chức
+ Khai thác tiềm năng, tiềm lực của tập thể và cá nhân
- Chức năng chỉ đạo:
Chỉ đạo là những hành động xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của ngườilãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, là huy động mọi lực lượng vào thựchiện kế hoạch và điều hành công việc nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động của đơn
vị GD diễn ra có kỷ cương và trật tự
Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:
+ Nắm quyền chỉ huy điều hành công việc
Trang 24- Chức năng kiểm tra:
Là chức năng nhằm đánh giá, phát hiện và điều chỉnh kịp thời giúp cho hệquản lý vận hành tối ưu, đạt mục tiêu đề ra Kiểm tra là nhằm xác định kết quảthực tế so với yêu cầu tiến độ và chất lượng vạch ra trong kế hoạch, phát hiệnnhững sai lệch, đề ra những biện pháp uốn nắn điều chỉnh kịp thời Kiểm trakhông chỉ là giai đoạn cuối cùng của chu trình quản lý, mà luôn cần thiết trongsuốt từ đầu đến cuối quá trình thực thi kế hoạch
Trong hoạt động QLGD, kiểm tra là một chức năng quan trọng và không thểthiếu được Kiểm tra giữ vai trò liên hệ ngược, giúp CBQL điều khiển tối ưu hệquản lý của mình đồng thời điều chỉnh quá trình quản lý Quản lý mà khôngkiểm tra coi như không quản lý
Nội dung của chức năng kiểm tra gồm có các công việc sau:
+ Đánh giá trạng thái kết thúc của hệ quản lý
+ Phát hiện những lệch lạc, sai sót và tìm nguyên nhân của nó
+ Tổng kết tạo thông tin cho chu trình quản lý tiếp theo
Mỗi chức năng quản lý có vai trò khác nhau nhưng giữa chúng có mối liên hệchặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, thậm chí đan xen vào nhau, thực hiện tốtchức năng này là tạo cơ sở, điều kiện cho việc thực hiện chức năng tiếp theo.Ngoài 4 chức năng cơ bản, truyền thống nói trên, nghiên cứu quá trình quản
lý trong điều kiện xã hội thông tin, gần đây nhiều công trình đã đưa thông tinquản lý như là một chức năng không thể thiếu
Quá trình quản lý thường diễn ra theo một chu kỳ gọi là chu trình quản lý, chutrình quản lý được biểu hiện bằng sơ đồ sau:
Trang 25Sơ đồ 1.1 Chu trình quản lý
1.2.4.3 Quản lý GD.
GD là một hoạt động cơ bản của xã hội, vì vậy QLGD là quản lý một quá trình
xã hội QLGD là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống quản lý xã hội
GD chính là quá trình đào tạo con người một cách có ý thức, có mục đích nhằmchuẩn bị cho con người tham gia lao động xã hội bằng cách tổ chức việc truyềnthụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người Tham gia quátrình GD có người dạy, người học và những yếu tố khác có liên quan đến việcdạy và học, tạo thành hệ thống GD Hệ thống GD là một bộ phận của hệ thống
xã hội, quản lý GD chính là quản lý bộ phận này của xã hội
- Quản lý GD nằm trong lĩnh vực quản lý VH - tinh thần Quản lý hệ thống GD
có thể xác định là tác động quản lý có kế hoạch, có ý thức và hướng đích củachủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộđến Trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻtrên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như cácquy luật của quá trình GD, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em
- Quản lý GD là một bộ phận của quản lý xã hội, là sự tác động có ý thức củachủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống
GD đạt tới kết quả mong muốn
Kế hoạch
quản lý
Chỉ đạo
Trang 26- Quản lý GD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quyluật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển và quản lý hoạt động GD củanhững người làm công tác GD.
- Quản lý GD trên cơ sở quản lý nhà trường là một phương hướng cải tiến quản
lý GD nhằm mục đích tăng cường phân cấp quản lý bên trong nhà trường vớinhững trách nhiệm và quyền hạn rộng rãi hơn để thực hiện nguyên tắc giải quyếtvấn đề tại chỗ
Quản lý GD cũng có các chức năng cơ bản: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểmtra
Như vậy quản lý GD là quá trình quản lý quá trình sư phạm, quá trình GD,quá trình dạy học diễn ra ở tất cả các cấp học, bậc học và cơ sở GD, làm cho quátrình đó vận dụng đúng đường lối, quan điểm GD của Đảng
1.2.5 Giải pháp.
Theo “Từ Điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên thì: “Giải pháp là cáchlàm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể.” Nói đến giải pháp là nói đến nhữngcách thức tác động nhằm thay đổi chuyển biến một quá trình, một trạng tháihoặc hệ thống…nhằm đạt được mục đích Giải pháp thích hợp sẽ giúp cho vấn
đề được giải quyết nhanh hơn, mang lại hiệu quả cao hơn
Theo “Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng ” của tác giả NguyễnVăn Đạm: “Giải pháp là cách làm, cách hành động đối phó để đi đến một mụcđích nhất định ” [47] (Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng)
Như vậy, nghĩa chung nhất của giải pháp là cách làm, thực hiện một côngviệc nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra
1.2.6 Giải pháp quản lý.
Là phương pháp quản lý một loại đối tượng hay một lĩnh vực nào đó Giảipháp quản lý là cách thức chủ thể quản lý sử dụng các công cụ quản lý tác độngvào thực hiện từng khâu của chức năng quản lý trong mỗi quá trình quản lýnhằm tạo thêm sức mạnh, tạo ra năng lực thực hiện mục tiêu quản lý
1.2.7 Giải pháp quản lý công tác xây dựng VHNT
Trang 27Giải pháp quản lý công tác xây dựng VHNT là những cách thức tác động hướngvào việc tạo ra những thay đổi về chất lượng công tác xây dựng môi trường VHcủa tổ chức nhà trường nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của nhà trường.
1.3 Một số vấn đề về xây dựng VHNT
1.3.1 Sự cần thiết phải xây dựng VHNT
Tại sao phải nuôi dưỡng, vun trồng VHNT? Đây là một câu hỏi đặt ra chonhững người làm công tác GD nói chung và các nhà quản lý GD nói riêng Nhưchúng ta đã biết trong bối cảnh hiện nay, xu thế toàn cầu hóa, cạnh tranh quốc tếđang diễn ra trên tất cả các lĩnh vực và ngày càng trở nên gay gắt, đòi hỏi mọiloại hình thiết chế tổ chức xã hội phải tái cấu trúc lại chính mình để thích nghi
và phát triển, dựa trên cơ sở phát huy nguồn lực nội sinh và tìm kiếm, dung nạpcác nguồn lực ngoại sinh Lý luận và thực tiễn cho thấy, VH là một nguồn lựcnội sinh có thể tạo nên sự phát triển đột phá và bền vững cho một tổ chức, khi tổchức đó biết khai thác, vận dụng các yếu tố VH vào hoạt động của mình Vớinhững lý do như vậy, các loại hình tổ chức ngày càng nhận thức được vai tròquan trọng của xây dựng VH tổ chức phù hợp để nâng cao sức cạnh tranh và tạo
ra khả năng phát triển bền vững Vì vậy, nhà trường là một tổ chức cũng cầnphải xây dựng VH cho riêng mình, đó là VHNT
1.3.1.1 Văn hoá nhà trường là một tài sản cần thiết không thể thiếu.
Có không ít người đã khẳng định VH quyết định trường tồn của một tổ chức
VH tổ chức là một lợi thế cạnh tranh không thể mua, không thể mượn, không thểlắp đặt được Nó phải do tổ chức xây dựng nên và trải qua một quá trình nuôidưỡng lâu dài, cho đến lúc nó thực sự trở thành nguyên tắc chi phối mọi hànhđộng và cách xử sự của mỗi người trong công việc, thì nó sẽ tạo nên một thứnăng lực nội tại của từng người và tạo ra sự hợp tác với nhau một cách hiệu quả
Đó là ý nghĩa và tầm quan trọng lớn nhất của văn hoá Nó càng có ý nghĩa vàtầm quan trọng đặc biệt đối với nhà trường, bởi lẽ, tính văn hoá là một tính chấtđặc thù của nhà trường, hơn bất kỳ một tổ chức nào Điều này được xác địnhdựa trên những căn cứ sau:
Trang 28- Nhà trường là nơi bảo tồn vào lưu truyền các giá trị văn hoá nhân loại.
- Nhà trường là nơi đào luyện những lớp người mới, chủ nhân gìn giữ và sángtạo văn hoá cho tương lai
- Nhà trường là nơi con người với con người (người dạy với người học) cùnghoạt động để chiếm lĩnh các mục tiêu văn hoá, theo những cách thức văn hoá,dựa trên những phương tiện văn hoá, trong môi trường văn hoá đại diện cho mỗivùng, miền, địa phương
1.3.1.2 Văn hoá nhà trường tác động đến hoạt động sư phạm, tạo động lực làm việc.
Động lực sư phạm được tạo nên bởi nhiều yếu tố, trong đó văn hoá là mộtđộng lực vô hình nhưng có sức mạnh kích thích hơn cả các biện pháp kinh tế
- Văn hoá nhà trường tích cực giúp cho người dạy, người học và mỗi ngườitrong lực lượng xã hội xung quanh có cảm giác tự hào, hãnh diện vì được làthành viên của tổ chức nhà trường, được làm việc vì những mục tiêu cao cả củanhà trường
Muốn tạo động lực cần khơi dậy nhu cầu và đáp ứng nhu cầu chính đáng củamọi người Khi khả năng đáp ứng nhu cầu thấp, động lực với người lao động sưphạm là đồng lương, thu nhập và những giá trị vật chất Khi thu nhập đạt đếnmột mức nào đó, nhu cầu vật chất thoả mãn một mức độ nào đó, người lao độngnói chung, nhà sư phạm nói riêng sẵn sàng đánh đổi, chọn mức thu nhập thấp
Trang 29hơn để được làm việc ở một môi trường hoà đồng, thân thiện, thoải mái, đượccống hiến, sáng tạo và được thừa nhận và tôn trọng.
1.3.1.3 Văn hoá nhà trường hỗ trợ điều phối và kiểm soát.
VHNT hỗ trợ điều phối và kiểm soát hành vi của các cá nhân bằng cácchuẩn mực, thủ tục, quy trình, quy tắc và bằng dư luận do những thế hệ conngười trong tổ chức nhà trường xây dựng lên
Khi nhà trường phải đối mặt với một vấn đề phức tạp, chính VH tổ chức làđiểm tựa tinh thần, giúp các nhà quản lý trường học và đội ngũ GV hợp tác, pháthuy trí lực để có những quyết định và sự lựa chọn đúng đắn
1.3.1.4 VHNT hạn chế tiêu cực và xung đột.
VHNT giúp các thành viên tổ chức thống nhất về cách nhận thức vấn đề,cách đánh giá, lựa chọn, định hướng và hành động Nó tựa như chất keo gắn kếtcác thành viên lại thành một khối, tạo ra những dư luận tích cực hạn chế nhữngbiểu hiện tiêu cực trái với quy tắc, chuẩn mực thông thường của tổ chức Nó hạnchế những nguy cơ mâu thuẫn và xung đột; và khi xung đột là không thể tránhkhỏi thì VHNT tạo ra hành lang pháp lý, đạo lý phù hợp để góp phần khắcphục, giải quyết xung đột trên nguyên tắc không để phá vỡ tính chỉnh thể của tổchức nhà trường
1.3.1.5 Nâng cao chất lượng các hoạt động của nhà trường:
Tổng hợp tất cả các yếu tố trên, từ sự gắn kết, tạo động lực, điều phối kiểmsoát và hạn chế những nguy cơ làm giảm sức mạnh của tổ chức, rõ ràng là, VH
tổ chức đã làm tăng hiệu quả các hoạt động trong nhà trường, trên cơ sở đó màdần dần tạo nên những phẩm chất đặc trưng khác biệt cho tổ chức trường học
Đó là cơ sở nâng cao uy tín, “thương hiệu” của nhà trường, tạo đà cho các bướcphát triển tốt hơn
1.3.2 Yêu cầu, nội dung và phương pháp xây dựng VHNT.
1.3.2.1 Yêu cầu xây dựng VHNT
Mỗi nhà trường dù có ý thức hay không cũng tạo ra VHNT của mình trongquá trình tổ chức dạy và học Tuy nhiên, xây dựng VHNT một cách chủ động,
Trang 30với tư cách một nội dung công tác quản lý nhà trường, để thực sự có tác động
GD tích cực đến các thành viên trong nhà trường, tác động đến chất lượng dạy
và học… phải coi là trách nhiệm của các nhà quản lý, trước hết là người hiệutrưởng
Xây dựng VHNT cần phải dựa trên cách tiếp cận xây dựng văn hoá tổ chức vàcác yếu tố ảnh hưởng VHNT Từ đó, xác định một số căn cứ quan trọngđể xâydựng VHNT, xuất phát từ:
- Mục tiêu đào tạo và các nhiệm vụ chính trị của nhà trường Đó chính là hìnhảnh con người cụ thể, với các phẩm chất và năng lực mà nhà trường trang bị vàđào luyện Bởi thế, ở mỗi nhà trường sẽ có các màu sắc riêng giữa hàng loạt đặcđiểm của người học mà nhà trường của chúng ta cần giáo dục, đào tạo
- Các mục tiêu, điều lệ và các chương trình công tác của các tổ chức đoàn thể(công đoàn, đoàn thanh niên, hội sinh viên…)
- Đặc thù của quá trình đào tạo nghề nghiệp của nhà trường và các quy chế,chính sách chuyên môn đối với giảng viên và HSSV
- Lịch sử phát triển và truyền thống của nhà trường
- Các chuẩn mực cần có trong các quan hệ: thầy với thầy, trò với trò, thầy vớitrò, giữa người quản lý với GV và người học
- Các chuẩn mực đạo đức và các giá trị VH thẩm mỹ
- Các nhu cầu, mong đợi và ước muốn của các nhóm thành viên
- Các điều kiện cơ sở vật chất…
1.3.2.2 Nội dung cơ bản của xây dựng VHNT
Dựa trên cơ sở của các yếu tố cấu thành VHNT và các yếu tố ảnh hưởng VHNT,
có thể xác định các nội dung cơ bản của xây dựng VHNT
Các mục tiêu và chính sách, các chuẩn mực và nội quy
Các giá trị và truyền thống của nhà trường
Thái độ, niềm tin, cảm xúc và ước muốn của các thành viên trong tổ chứcnhà trường
Các mối quan hệ giữa các nhóm và các thành viên
Trang 31 Các hành vi, nghi thức…
Việc xây dựng VHNT trong bất kỳ trường học nào cũng dựa trên các yếu tố đó,song cần đặt trọng tâm ở các nội dung cốt lõi của VHNT, đó là các giá trị và cácchuẩn mực VH ứng xử:
- Trước hết, xây dựng một niềm tin và thái độ đúng đắn cho tất cả đội ngũCBGV trong trường theo triết lý GD chung và riêng của mình Mỗi trường cóđịnh hướng GD nhân cách HS theo quan điểm GD: GD HS độc lập, mạnh dạn,
tự tin, hay GD HS ngoan ngoãn nề nếp theo một khuôn mẫu, hoặc GD HS tựchủ trong cuộc sống và cởi mở trong một cộng đồng hoà hợp, điều này sẽ chiphối đến những yếu tố tiếp sau Xây dựng thái độ và niềm tin của các thành viêntrong nhà trường tạo ra một động lực phấn đấu và đồng thời cũng là cơ sở củaviệc đánh giá chất lượng GD VHNT
- Xây dựng hệ thống chuẩn mực VH chung và riêng của nhà trường là một việclàm cần thiết, bởi nó là cơ sở cho việc thiết kế mục tiêu GD mang tính bảo tồn
VH dân tộc cũng như nội dung GD VH trong nhà trường Đồng thời nó đảm bảocho việc tạo dựng một môi trường GD có VH mà ở đó “trường ra trường, lớp ralớp, thầy ra thầy và trò ra trò” và các hoạt động GD có tính định hướng VH Mọi
sự vật hiện tượng đi vào đúng bản chất của nó
- Xây dựng các chuẩn mực VH giao tiếp ứng xử trong các mối quan hệ trongnhà trường Trước hết là xây dựng mối quan hệ giữa người với người, tiếp sau làmối quan hệ ứng xử của con người đối với thế giới xung quanh một cách có VH.Giáo dục VHNT cho HSSV cần được đặt trong một môi trường giáo dục VH vớicác hoạt động GD có ý nghĩa, mang tính định hướng Xây dựng hệ thống chuẩnmực VHNT đóng một vai trò quan trọng và cần thiết được đặt ra trong tương laisao cho sự du nhập VH ngoại ở thế hệ trẻ nhưng vẫn luôn giữ được bản sắc dântộc của mình Ở đây cũng cần xây dựng và GD phương pháp tiếp nhận VH là cóchọn lọc cho các thế hệ mai sau Cụ thể:
+ GD đạo đức
+ GD truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo
Trang 32+ GD kỹ năng giao tiếp và VH ứng xử.
Mặt khác, xây dựng VHNT cần hướng vào người học Đó là:
- Đáp ứng những yêu cầu về quyền của người học cần được xem như yêu cầusống còn của VHNT (giá trị an toàn về thể chất và tinh thần, được tôn trọng vàđược khuyến khích tham gia);
- Tăng cường phát huy sự chủ động, sáng tạo của người học;
- Thúc đẩy sự phát triển tiềm năng của mỗi cá nhân (đáp ứng nhu cầu phát triểncủa cá nhân)
Ba định hướng có tính nguyên tắc này cần được quán triệt trên tất cả các khíacạnh của VHNT, cả ở những giá trị vật chất và giá trị tinh thần để VHNT trở nênthân thiết gần gũi và gắn bó với người học.[15]
1.3.2.3 Phương pháp xây dựng VHNT
Như trên đã nói, VH tổ chức của nhà trường không phải nhất thành bất biến màhình thành qua một quá trình lâu dài, với những điều chỉnh do tác động của cảbên ngoài lẫn bên trong
Xét về mặt biểu hiện, thì VH tổ chức của nhà trường có thể thấy được quanhiều lớp: lớp bề mặt là cấu trúc của tổ chức, là cơ chế hoạt động, là quy trình,thủ tục giải quyết công việc, ví dụ như cách sắp xếp các bộ phận chức năngnhằm phân chia trách nhiệm và thẩm quyền; hay những quy định về tuyển dụng,
đề bạt và sa thải nhân sự, những chính sách khen thưởng và kỷ luật, vân vân.Lớp sâu hơn là chiến lược phát triển, là những mục tiêu và sứ mạng, tầm nhìncủa nhà trường Sâu hơn nữa là những giá trị và niềm tin, là nhận thức và cảmxúc của những con người là thành viên của nhà trường Những điều này có thểđược trình bày rõ rằng bằng lời và cũng có thể chỉ là những “nhân tố vô hình”nhưng nó có thật, và khi được chia sẻ rộng rãi trong tập thể nhà trường thì nó trởthành nguyên tắc xử sự không tự giác, trở thành chuẩn mực cho hành động củacác thành viên
VH tổ chức của nhà trường được xây dựng như thế nào và vai trò của ngườilãnh đạo, nhà quản lý trong việc hình thành VH tổ chức của nhà trường là gì?
Trang 33Nhiều người cho rằng VH tổ chức có thể xây dựng theo lối tiếp cận “từ trênxuống”: khởi đầu từ ý tưởng của người lãnh đạo, rồi đến quá trình chia sẻ tầmnhìn và kế hoạch hành động, khi những chính sách hay hành động này đượcchứng minh là “đúng” hoặc có hiệu quả, thì những giá trị hay chuẩn mực tiềm
ẩn trong những chính sách ấy sẽ được khẳng định và trở thành chuẩn mựcchung Cách tiếp cận này đề cao và tán thành vai trò vô cùng quan trọng củangười lãnh đạo, nhưng cách tiếp cận “từ trên xuống” này sẽ khó đạt được thànhcông nếu không được bổ sung thêm cách tiếp cận “từ dưới lên” Những chínhsách hay quy định có thể buộc người ta hành động theo một cách nào đó, nhưngkhông thể buộc người ta phải chia sẻ một niềm tin nào đó, suy nghĩ và cảm xúctheo một cách nào đó VH tổ chức thực sự không thể hình thành nếu thiếu niềmtin bên trong của các thành viên Không có niềm tin ấy, người ta có thể hànhđộng theo cách mà tổ chức đòi hỏi, nhưng có thể sẵn sàng làm trái với những đòihỏi ấy nếu như điều đó có lợi cho cá nhân họ và có thể che đậy được
Cách tiếp cận “từ dưới lên” đòi hỏi sự tham gia của từng cá nhân trong tổchức Người lãnh đạo có vai trò định hướng và gắn kết những cá nhân ấy lạibằng một cấu trúc nhất định Nhà trường, như mọi tổ chức khác, không phải làmột dấu cộng giữa các cá nhân, mà là một dấu nhân: chính cấu trúc và VH của
tổ chức gắn kết các cá nhân ấy lại theo một cách có thể làm tăng (hoặc giảm)năng lực của từng người và tạo ra một sức mạnh mới nhờ sự phối hợp và bổsung (hoặc triệt tiêu) lẫn nhau giữa các cá nhân Nhưng từng cá nhân sẽ khôngthể tạo ra và tham gia tích cực vào cái phép nhân này, nếu như họ không cảmthấy mình thực sự thuộc về tổ chức ấy, nếu như những giá trị và niềm tin cốt lõicủa họ không nhất quán với giá trị và niềm tin của tổ chức Chính cái ý thức làthành viên của một tổ chức đã củng cố tinh thần trách nhiệm của mỗi ngườitrong việc bảo vệ những giá trị chuẩn mực của tổ chức và dắt dẫn hành động củatừng cá nhân trong cách xử lý công việc hay quan hệ
Schein cho rằng VH của tổ chức hình thành từ ba nguồn chính: từ những giátrị và niềm tin của người sáng lập tổ chức, từ kinh nghiệm tích lũy được qua thời
Trang 34gian của các thành viên, và từ những niềm tin mới, những giá trị mới, nhữngđiều được cho là đúng mà những thành viên mới của tổ chức mang lại Ôngcũng cho rằng tác động của lãnh đạo là quan trọng bậc nhất, và VH của một tổchức không thể tồn tại nếu những con người chủ chốt, hay một số đông thànhviên ra đi Tổ chức ấy có thể sẽ vẫn tồn tại, nhưng VH tổ chức ấy đã khác trước.[14]
Từ một góc nhìn khác, cho thấy rằng VH của nhà trường hình thành chủ yếu
từ các chính sách hoạt động và sự nhất quán trong việc thực hiện những chínhsách ấy, cũng như từ cách xử sự và xử lý công việc của các thành viên trong nhàtrường, mà quan trọng nhất là của các cấp lãnh đạo Điều gì xảy ra khi ngườilãnh đạo nói một đằng, làm một nẻo? Thông thường, người ta nhìn vào việc làm
và hành động của những người lãnh đạo chứ không chỉ nghe những lời nóisuông Lời nói tốt đẹp không che giấu được những mục tiêu không đẹp, nhất làtrong môi trường trí thức, nơi có khả năng phán xét đặc biệt mạnh mẽ Hành vicủa từng thành viên đều có tác động củng cố hay phá hoại VH của tổ chức,nhưng hành vi của người lãnh đạo thì có một tác động đặc biệt lớn Chính vìvậy, Schein cho rằng mọi tập thể, mọi tổ chức hay đơn vị đều xây dựng nên cácchuẩn mực hành xử của mình chung quanh sự phân bố ảnh hưởng, thẩm quyền
và quyền lực [14]
Lý thuyết cấu trúc có thể giúp giải thích rõ con người đã định hình nên VH
tổ chức của mình như thế nào, đồng thời, VH tổ chức đã kềm chế hành động củacác thành viên ra sao Thuật ngữ “cấu trúc hóa” để chỉ mối tương quan giữa các
bộ phận trong một tổng thể có tổ chức, hàm ý chúng ta chịu sự chi phối, đè néncủa cơ chế nhưng cũng đồng thời tham dự vào quá trình không ngừng duy trì,bảo vệ và điều chỉnh cơ chế ấy
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xây dựng VHNT Xây dựng
và thay đổi VHnhà trường
Toàn cầu hóa
và hội nhập
Mục tiêu phát triển
con người
Sự thay đổi Kinh tế - xã hội
Thực trạng VH học đường
Trang 35Hình 4: Các yếu tố ảnh hưởng đến VHNT
VHNT hình thành và phát triển trong bối cảnh cụ thể Tuy nhiên, nhà trường vàVHNT lại tồn tại trong một bối cảnh lớn hơn, gồm nhiều yếu tố chính sau:
1.3.3.1 Có sự thay đổi lớn về kinh tế - xã hội.
Đất nước ta đang diễn ra những thay đổi quan trọng về kinh tế - xã hội Đây
là một thách thức đối với nền VH cố hữu Cho dù bản thân VH mang tính ì,chậm chuyển hóa nhưng khi môi trường xã hội xuất hiện sự thay đổi thì nền VH
sẽ phải thay đổi để đáp ứng những yêu cầu mới của xã hội Trong giai đoạn hiệnnay, thay đổi VH không chỉ là có thể mà còn là hết sức cần thiết, đặc biệt trongcác thiết chế VH như nhà trường
Chúng ta vẫn đang trong quá trình chuyển đổi và hoàn thiện nền kinh tế thịtrường, mà mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng đã có những tác động tiêucực rất lớn đến các lĩnh vực trong đời sống VH, kinh tế - xã hội Các trường ĐH,
CĐ cũng không nằm ngoài vòng ảnh hưởng của quá trình này
Bản chất của kinh tế thị trường là cạnh tranh Mà muốn cạnh tranh thì khôngthể chỉ tính đến nội lực, đến những gì sẵn có mà còn tính đến việc huy động
Trang 36ngoại lực Tuy nhiên, ngoại lực vốn được coi là bấp bênh, không đảm bảo nênnội lực luôn là yếu tố then chốt, mang tính quyết định Trong khi đó, nội lực cóthể có được nhờ VH, như trên đã phân tích.
Kinh tế thị trường với một số giá trị như quyền lựa chọn của khách hàng.Quyền "tối thượng" của khác hàng có thể kích thích tính sáng tạo, năng động vànhiệt huyết của nhiều nhà cung cấp Nó cũng đồng thời tạo ra những xung độtcủa các giá trị trong đó có các giá trị đạo đức (truyền thống) và giá trị pháp luật(đang tiếp tục thay đổi) với sức mạnh "mềm" của đồng tiền và cơ chế thị trường.Nghiên cứu sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong xã hội Việt Namtrong mối liên hệ với nhu cầu nâng cao phẩm chất đạo đức của cán bộ, các tácgiả Nguyễn Chí Mỳ và Nguyễn Thế Kiệt (1998) cung cấp kết quả từ điều tra xãhội học cho thấy một số biểu hiện chung của sự biến động giá trị đạo đức trong
xã hội hiện nay là:
– Từ chỗ coi trọng các giá trị chính trị - xã hội chuyển sang cực các giá trị kinh
tế, vật chất; từ chỗ lấy con người xã hội tập thể làm mẫu mực chuyển sang chỗquá nặng nề về con người cá nhân, thậm chí cá nhân chủ nghĩa
– Từ chỗ quan hệ nhân cách bao gồm cả đức và tài là gốc chuyển sang coi nhẹđạo đức
– Từ chỗ sống vì lí tưởng đến chỗ quá thực dụng, sùng bái đồng tiền, sống xahoa, lãng phí
– Nhiều giá trị truyền thống bị coi thường, một số thuần phong, mỹ tục bị xâmphạm
Như vậy, có sự xung đột giá trị về đạo đức do tác động của kinh tế thị trường,theo đó, các mối quan hệ cũ như ranh giới người thầy - trò được đánh giá bằng
cả những hệ quy chiếu khác bên cạnh cách hiểu truyền thống Tuy nhiên, ápdụng cứng nhắc quy luật thị trường trong kinh tế vào GD với phương châm
"khách hàng là thượng đế" có thể là một sai lầm chết người vì sản phẩm của GD
là trí tuệ và lương tâm của nhiều thế hệ và của cả dân tộc Mặt khác, nếu khăngkhăng níu giữ mọi giá trị quan hệ trong GD như trước thời "mở cửa" thì cũng có
Trang 37thể dẫn đến thái độ ức chế, dẫn đến "vơ đũa cả nắm" và phủ nhận một cách vôtội vạ nhiều tiêu chuẩn trước đây mà vẫn còn là giá trị trong ngày hôm nay [17]
1.3.3.2 Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập.
Toàn cầu hóa là một quá trình gồm nhiều yếu tố mang tính xung đột Giớinghiên cứu thậm chí còn đang bàn tới sự khủng hoảng toàn cầu về mô hình pháttriển trước những tác động của quá trình này Nguy cơ áp đặt, can thiệp, đồnghóa, nhất thể hóa lối sống nhân loại, thậm chí đế quốc chủ nghĩa VH và xoánhòa bản sắc, lệ thuộc, mất phương hướng, đã hiện diện ở những mức độ nhấtđịnh trên thực tế Chính vì vậy, các nhà trường cần tiếp tục duy trì các địnhhướng giá trị về tính nhân bản, cạnh tranh vì phát triển bền vững
Việt Nam tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ mặt bằng khá thấp vềcông nghệ Cách tiếp cận hợp lí, do vậy, cần mang tính tổng thể, hài hòa, từngbước - tức là bằng VH Rõ ràng, dưới những tác động đa chiều, trong đó đặcbiệt là các tác động không mong muốn của kinh tế thị trường, của Internet, vàcác phát triển khoa học công nghệ, việc tạo dựng lề lối, nề nếp trong nhàtrường là một điều không hề đơn giản Nó là thách thức đối với việc lưu giữ,phát huy các giá trị được coi là tốt đẹp, đồng thời đối với khả năng linh hoạt, cởi
mở, học hỏi và thích ứng để tiếp thu những cái mới, hiện đại và tích cực Trongbối cảnh đó, "dạy người ", "dạy chữ" và "dạy nghề" phải luôn phát triển đồng bộvới nhau Trong đó, dạy người là khâu then chốt
1.3.3.3 Kinh tế tri thức và nhu cầu phát triển tổ chức học hỏi.
Không thể phủ nhận một điều là tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt là côngnghệ thông tin và truyền thông giúp kết nối, tốc độ, kết nối và làm nhòa đi nhiềubiên giới hữu hình, tăng cường dân chủ và sự tham gia Tuy nhiên, các mối quanngại về sự đốt cháy giai đoạn, sự mất kiểm soát, sự mất an toàn, sự vi phạm cácgiới hạn riêng tư, đều có lý do thực tế Do vậy, công nghệ thông tin và truyềnthông đang làm cho con người và các tổ chức trở nên dễ bị tổn thương hơn.Tri thức chính là lí do cốt yếu của sự tồn tại của các nhà trường và các hìnhthức học tập Tri thức càng trở nên quan trọng hơn trong nền kinh tế tri thức
Trang 38Trong bối cảnh kinh tế tri thức, các nhà quản lí nhà trường cần biết sử dụng trithức như là một trụ cột then chốt để xây dựng VHNT và VH quản lý, biết dẫndắt, duy trì sự tin cậy, lòng trung thành và sự tôn trọng trong tập thể nhà trường.[17]
Trong bối cảnh đó, triết lí "học suốt đời" (life-long learning) cần được sửdụng như là nền móng cho đào tạo, bồi dưỡng, tự học và phát triển con người.Gắn với triết lí đó là các nỗ lực cần thiết để xây dựng nhà trường thành tổ chức
có tính học hỏi (learning organisation)
1.3.3.4.Văn hóa dân tộc và Văn hóa học tập của dân tộc.
Quá trình hình thành và phát triển VHNT chịu ảnh hưởng của một số yếu tốnhư VH dân tộc, VH vùng, hay VH ngành nghề
Về truyền thống học tập, dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học vàtrọng người thầy Hiếu học được đề cao như một đạo lí, một truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc Tuy nhiên, hiện tượng "sính" bằng cấp, thích học hàm, học vị, trongmột bộ phận không nhỏ lại đang là một thói tật cần bị lên án Nó làm méo mócác quá trình học tập, xúc phạm đến những người thầy và làm mờ đi các mụctiêu chân chính của học hành, của "chữ nghĩa"
Lối sống - VHNT hiện nay ở nước ta đang chịu ảnh hưởng sâu sắc của VHdân tộc - VH của một nền nông nghiệp lúa nước, hay còn gọi là "văn hóa làng"(Nguyễn Văn Thâm, 2003; Trần Thị Thanh Hà, 2001) Nhà trường chúng tađược hưởng một loạt khía cạnh tích cực của "văn hoá làng" như thái độ chútrọng sự cân bằng, sự tế nhị, kín đáo và tinh thần đùm bọc, Chính kiểu VH tếnhị, kín đáo là một phần cơ sở cho một số kĩ thuật hành chính như bỏ phiếu kíntín nhiệm Tuy nhiên, cái mà các nhà quản lí nhà trường cần quan tâm và cảnhgiác là ở những khía cạnh tiêu cực có thể có của "VH làng" đối với việc hìnhthành và phát triển VHNT Có thể kể ra một vài ví dụ như:
- Một là, sự thiên về xúc cảm hơn là lí trí, hay sự mềm dẻo, linh hoạt trong ứng
xử hàng ngày có thể dẫn đến cách hành động tùy tiện, thiếu nguyên tắc; đồng
Trang 39thời, cách giao tiếp thân mật của đời thường cũng dẫn đến cách xưng hô kiểuchú - mày, chú - anh; ông - tôi khi làm việc.
- Hai là, việc coi trọng tình nghĩa quá mức có thể dẫn đến sự thiếu dứt khoát và
vi phạm nguyên tắc trong xử lí công việc
- Ba là, thái độ tế nhị, kín đáo và sự chú trọng giữ thể diện cho người mình tiếpxúc có thể là lí do của sự phổ biến của các tin đồn và bình luận không chínhthức Nói chung, những yếu tố này làm cho quá trình chuẩn mực hóa hành vitrong giao tiếp nơi làm việc trở nên khó khăn hơn rất nhiều Trong bối cảnh đó,nói như Nguyễn Văn Thâm (2003) thì các thủ tục, phương pháp quản lí đúng bàibản không được đánh giá cao
1.3.3.5.Mục tiêu phát triển con người và đặc thù của người học thời hiện đại.
Con người Việt Nam của thể kỉ 21 cần hội tụ đủ cả Trí lực, Tâm lực và Thểlực Đó chính là các định hướng giá trị cho quá trình dạy và học của nhà trường.Người học và quá trình học tập thời hiện đại có những đặc thù riêng:
- Về người học: Ai cũng là người học: Thầy và trò cùng là người học, theo nghĩađen, là khi học cũng tham gia những khóa học nào đó mà nhà trường tổ chứchoặc do bên ngoài tổ chức; theo nghĩa bóng, tất cả đều cần học hỏi, khôngngừng nghỉ, theo nhiều cách khác nhau do kiến thức nhiều vô tận và dễ trở nênlỗi thời trong kỉ nguyên thông tin này Người học ra trường cần phải là nhữngngười có Tầm - Tâm - Trí – Tình
- Về cách học: Linh hoạt, mở rộng hơn Từ trên lớp đến tự học, từ trong nhàtrường đến ngoài xã hội, từ ngồi nghe đến làm việc theo nhóm, từ thư viện đếnonline… Do vậy, người giảng, hay người thầy không còn được coi hay đượctrông đợi là "biết tất cả" nữa
- Về thước đo, thang đánh giá kiến thức: "Chuẩn" kết quả trở nên linh hoạt, đadạng hơn Có những môn học có câu trả lời "chính xác" hoặc "không chính xác"
có những môn học chỉ có câu trả lời hợp lí Chính vì vậy, cách thức đánh giá đốivới một số môn học không phải câu hỏi - trả lời với một hệ thống câu hỏi và đáp
Trang 40án mà là vấn đề - cách tiếp cận với các vấn đề Thậm chí, vấn đề để bàn luận cóthể do người học tự xác định, miễn là liên quan đến khuôn khổ vấn đề của mônhọc, ngành học và có cách tiếp cận, lí giải hợp lí Đây chính là sự chuyển đổicần thiết để đáp ứng yêu cầu tạo ra kiểu người lao động hiện đại, đáp ứng yêucầu của xã hội và tương lai.
1.3.3.6 Thực trạng văn hóa học đường.
VH học đường đang có những dấu hiệu tích cực, hợp với sự phát triển củathời đại như khả năng hướng ngoại, hòa nhập, tiếp cận cái mới nhanh, cởi mở và
tự tin
Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận rằng VH học đường "đang là một vấn đềthời sự nổi cộm" (Phạm Minh Hạc, 2009) với nhiều điều đang bị công luận lên
án như: hiện tượng “phi VH ” trong giao tiếp, ứng xử xã hội, bạo lực học đường,
sự thờ ơ vô cảm “cương thường đạo lý” đang có nhiều đảo lộn
Những vấn đề trên đang tạo nên những quan ngại sâu sắc về sự thay đổi củamôi trường GD - một kiểu môi trường vốn được coi như là cái nôi nuôi dưỡng
và thành trì bảo vệ đạo đức xã hội
1.3.3.7 Đặc thù của nhà trường và những thách thức đối với nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
Một trong những thách thức lớn nhất đối với các trường CĐ hiện nay là cạnhtranh đầu vào với các trường ĐH và đảm bảo đầu ra của mình có thể đáp ứngđược yêu cầu của xã hội, cụ thể là các doanh nghiệp Một bộ phận không nhỏsinh viên CĐ ra trường cảm thấy không tự tin với tấm bằng và trình độ hiện cócủa mình, còn nặng tâm trạng “nửa thầy, nửa thợ” do định kiến của xã hội vànhà tuyển dụng nhìn nhận
Trong điều kiện thực tế hiện nay, nhìn chung các trường Cao đẳng, Đại họcđều gặp khó khăn lớn về vấn đề tài chính để mở rộng, cải tạo, xây dựng cơ sởvật chất và vần đề phát triển đội ngũ Cán bộ, GV đáp ứng yêu cầu ngày càng caocủa ngành và của xã hội