Germer… đã có những nghiên cứu liên quan đến cơ sở khoahọc sư phạm về tổ chức hoạt động dạy học lao động nghề nghiệp cho HS,trong đó quan tâm đến công tác phối hợp chặt chẽ giữa trung tâ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN NAM CƯỜNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH NÔNG THÔN TỈNH ĐỒNG THÁP QUA PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -o0o -
NGUYỄN NAM CƯỜNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH NÔNG THÔN TỈNH ĐỒNG THÁP QUA PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.05Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hợi
NGHỆ AN - 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ tận tìnhcủa nhiều tổ chức và các cá nhân, tác giả xin chân thành cảm ơn:
- Phó Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hợi đã hướng dẫn, góp ý hết sức
cụ thể, chi tiết để giúp hoàn thành luận văn này
- Các thầy, cô giáo khoa sau đại học, chuyên ngành quản lý giáo dục,thư viện trường Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thànhchương trình đào tạo và hoàn thành luận văn này
- Ban Giám đốc, Lãnh đạo phòng thời sự, đã hết sức tạo mọi điều kiệnsắp xếp lịch công tác hợp lý; cùng sự hỗ trợ tài liệu và tinh thần chia sẻ côngviệc của các anh (chị) phóng viên đồng nghiệp ở Đài Phát thanh - Truyền hìnhĐồng Tháp để giúp tôi được hoàn thành tốt luận văn này
- Ban Giám đốc Trung tâm Giới thiệc Việc làm tỉnh Đồng Tháp đã hỗtrợ cho tôi về thời gian học tập trong lúc tôi còn đang làm việc tại trung tâm
- Lãnh đạo Sở GD - ĐT, Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnhĐồng Tháp đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp thông tin quan trọng
- Các bạn sinh viên, học sinh, các doanh nghiệp, các tổ chức đoàn thể,hội cha mẹ học sinh đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
- Tất cả người thân trong gia đình, nhất là hai đấng sanh thành cùng bạn
bè đã động viên khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ để tôi cóđược kết quả hoàn thành luận văn này
Vì kinh nghiệm còn ít, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Vàđây cũng chỉ là bước khởi đầu của quá trình nghiên cứu khoa học Kính mong
sự chỉ dẫn, góp ý của Thầy giáo, Cô giáo và ý kiến của độc giả để nghiên cứuđược hoàn thiện hơn
Tác giả Nguyễn Nam Cường
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Những đóng góp của luận văn 4
9 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Lược sử vấn đề nghiên cứu 5
1.2 Các khái niệm có liên quan 10
1.3 Một số vấn đề về quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh nông thôn qua phương tiện truyền thông 35
Kết luận chương 1 49
Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 50
2.1 Khái quát tỉnh Đồng Tháp 50
2.2 Thực trạng quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh nông thôn tỉnh Đồng Tháp 58
Trang 52.3 Thực trạng quản lý công tác hướng nghiệp qua phương tiện truyền thông
ở Đồng Tháp 73
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh nông thôn qua phương tiện truyền thông 81
2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT nông thôn qua phương tiện truyền thông 83
Kết luận chương 2: 86
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH NÔNG THÔN TỈNH ĐỒNG THÁP QUA PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG 87
3.1 Các nguyên tắc xây dựng giải pháp 87
3.2 Các giải pháp quản lý nhằm nâng cao hoạt động giáo dục hướng nghiệp qua phương tiện truyền thông 88
3.3 Khảo sát tính khả thi và cấp thiết của các giải pháp 101
Kết luận chương 3 104
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 6BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Sơ đồ 1.1 Quá trình hướng nghiệp 14
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa các nội dung giáo dục hướng nghiệp 21
Sơ đồ 1.3 Mô hình quản lý 22
Sơ đồ 1.4 Chu trình quản lý giáo dục 24
Sơ đồ 1.5 Mô hình quản lý giáo dục 25
Sơ đồ 1.6 Hiệu quả tác động của truyền hình 40
Sơ đồ 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Tháp 51
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ mô tả miền chọn nghề tối ưu 68
Bảng 2.1 Tổng hợp tình hình phát triển giáo dục Trung học phổ thông từ năm học 2000 - 2001 đến năm học 2005 - 2006 51
Bảng 2.2 Mạng lưới trường, lớp, học sinh và chất lượng học sinh Trung học phổ thông 55
Bảng 2.3 Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông 55
Bảng 2.4 Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các trường Trung học phổ thông tỉnh Đồng Tháp 57
Bảng 2.5 Nhận thức của học sinh về giáo dục hướng nghiệp 59
Bảng 2.6 Nhận thức về tầm quan trọng về công tác giáo dục hướng nghiệp của giáo viên 62
Bảng 2.7 Nhận thức tầm quan trọng về công tác giáo dục hướng nghiệp của cán bộ quản lý 63
Trang 8Bảng 2.8 Các nội dung cơ bản của công tác giáo dục hướng nghiệp trong nhà
trường phổ thông 68
Bảng 2.9 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giáo dục hướng nghiệp 71
Bảng 2.10 Nội dung thông tin tuyên truyền của báo Đồng Tháp 76
Sơ đồ 3.1 Các tìm miền nghề phù hợp 90
Biểu đồ 3.1: Đồ thị biểu diễn tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 104
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát về tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 102
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra khá mạnh mẽ và có nhiềutác động sâu sắc đến sự phát triển kinh tế - xã hội của cả thế giới Những tácđộng này không chỉ đem lại nhiều thời cơ mới mà còn tạo ra vô vàn thách thứcmới cho mỗi quốc gia dân tộc Để tận dụng được hết cơ hội, đồng thời phát huytất cả nội lực sẵn có để đương đầu giải quyết các thử thách, Đảng và Nhà nước
ta trong những năm qua đã có nhiều chính sách và sự đầu tư cho việc đào tạonguồn nhân lực, trong đó công tác HN cho HS nông thôn đặc biệt chú trọng Bởi
vì, đẩy mạnh công tác HN nhằm giúp HS có khả năng chọn nghề phù hợp vớihứng thú, năng lực của bản thân, đồng thời phù hợp với nhu cầu nhân lực và sựphát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương Mặt khác, công tác HN còn làbiện pháp hữu hiệu, góp phần tích cực và hiệu quả vào việc phân luồng HS,chuẩn bị cho HS chọn hướng học, hướng nghề một cách đúng đắn theo năng lực,
sở trường của bản thân
Tuy nhiên, theo báo cáo mới nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì trongnăm học 2009 - 2010 tỉ lệ học sinh đậu vào ĐH, CĐ là 44% (các nước tiêntiến chiếm khoảng 35%) và trên 30% vào THCN, học nghề Còn lại hơn 30%
số HS tốt nghiệp THCS, THPT chưa biết đi về đâu và chọn ngành nghề gì chophù hợp Bên cạnh đó, tỉ lệ HS theo học các chương trình liên quan đến ngànhnông, lâm, thủy sản tương đối thấp, chỉ khoảng 4% Trong khi đó tỉ lệ laođộng có việc làm trong lĩnh vực này chiếm đến 50,2% và tỉ lệ dân số vùngnông thôn là 72,56% Điều đó minh chứng cho việc chọn ngành nghề của HSchưa được định hướng gắn với đặc điểm kinh tế - xã hội và thị trường laođộng của địa phương
Với 83% dân số sống ở vùng nông thôn, dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế(GDP) trong 5 năm tới (2011 - 2015) của tỉnh Đồng Tháp sẽ đạt 13,0%/ năm Trong
đó, khu vực nông - lâm - thủy sản tăng 6%/ năm, khu vực công nghiệp - xâydựng tăng 19,5%/ năm, khu vực thương mại - dịch vụ tăng 15%/ năm GDP
Trang 10bình quân đầu người đạt 32,66 triệu đồng, tương đương 1.547 USD Và dự kiếngiai đoạn 2016 - 2020: Tăng trưởng kinh tế bình quân 12,4%/ năm Cùng vớiviệc đầu tư, mở rộng và phát triển các đô thị trung tâm tỉnh lỵ, huyện lỵ, trungtâm xã; kết hợp với việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao độngtheo hướng CNH - HĐH, phấn đấu đến năm 2020 có 50% xã đạt tiêu chuẩnnông thôn mới Cơ cấu lao động nông thôn trong độ tuổi lao động làm nôngnghiệp được dự báo đến năm 2020 có xu hướng giảm nhanh, cụ thể: đến 2015giảm xuống còn 45%, đến năm 2020 giảm còn 40%; tương ứng tỷ lệ lao độngnông thôn làm trong các lĩnh vực thương mại - dịch vụ khoảng 37% và tham gialàm việc trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng trong và ngoài tỉnh khoảng 18%vào năm 2015, tương ứng 39,5% và 20,5% vào năm 2020 Như vậy trong giaiđoạn 2011 - 2020 có khoảng 200.000 lao động nông thôn sẽ chuyển sang làmcác ngành nghề phi nông nghiệp và công nghiệp - xây dựng ở các khu côngnghiệp, khu chế xuất trong và ngoài tỉnh; đến năm 2020 còn khoảng 390.000 laođộng làm nông nghiệp Để biến những con số được dự báo này thành những con
số thật, đòi hỏi công tác HN của các cấp ngành ở địa phương phải có những chủtrương và hành động thiết thực, hữu hiệu hơn
Trên thực tế, để hỗ trợ việc GD định hướng cùng với nhà trường, trongnhững năm qua các cơ quan truyền thông ở địa phương như Báo Đồng Tháp vàĐài Phát thanh - Truyền hình Đồng Tháp… đã có nhiều chuyên trang, chuyênmục tuyên truyền định hướng nghề nghiệp cho HS Thế nhưng, thường các hoạtđộng này chỉ mang tính chất thời vụ, nhất là thời điểm các em chuẩn bị thi tốtnghiệp cuối cấp và chuẩn bị cho kỳ thi vào các trường CĐ, ĐH trên toàn quốchằng năm
Từ những thực trạng đó, để hoàn thành các chỉ tiêu chính trị, kinh tế - xã hộitheo tinh thần nghị quyết Tỉnh Đảng bộ Đồng Tháp lần thứ IX đã đề ra đến năm
2020, đã đến lúc cần nhìn nhận nghiêm túc vấn đề “ Một số giải pháp quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh nông thôn tỉnh Đồng Tháp qua phương tiện truyền thông” Đó cũng là đề tài mà bản thân lựa chọn để nghiên cứu.
Trang 112 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp QL công tác
HN cho HS nông thôn tỉnh Đồng Tháp qua phương tiện truyền thông, từ đó gópphần nâng cao công tác QL HN cho HS nông thôn tỉnh Đồng Tháp trong thời giantới
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: QL công tác HN cho HS nông thôn qua
phương tiện truyền thông
3.2 Đối tượng nghiên cứu: một số giải pháp QL công tác HN cho HS
nông thôn tỉnh Đồng Tháp qua phương tiện truyền thông
4 Giả thuyết khoa học
Nếu có những giải pháp QL đúng đắn và khả thi thì có thể nâng cao chấtlượng và hiệu quả công tác HN cho HS nông thôn tỉnh Đồng Tháp thông quaphương tiện truyền thông trong thời gian tới
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về QL công tác HN cho HS nông thôn quaphương tiện truyền thông
- Đánh giá thực trạng về công tác HN cho HS nông thôn và thực trạng QL
HN qua phương tiện truyền thông
- Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác HN cho HS nông thôn tỉnhĐồng Tháp qua phương tiện truyền thông
6 Phạm vi nghiên cứu
Học sinh nông thôn trong luận văn được nghiên cứu giới hạn là học sinhđang theo học tại tại các trường trung học phổ thông ở các khối lớp 10, lớp 11,lớp 12
Nghiên cứu các hoạt động hướng nghiệp của các trường trung học phổthông nông thôn và các cơ quan truyền thông tỉnh Đồng Tháp trong thời gia gầnđây
Trang 127 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận: phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóanhững vấn đề lý luận trong các văn bản, tài liệu, sách báo, thông tin trên mạng
có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu thực tiễn: khảo sát các chương trình tuyên truyền địnhhướng HN của báo chí (các bản tin, chương trình thời sự của đài Phát thanh -Truyền hình, tin bài trên báo Đồng Tháp, báo điện tử, cổng thông tin điện tửĐồng Tháp)
- Các phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác: phương pháp so sánh, phươngpháp thống kê và một số phương pháp khác
8 Những đóng góp của luận văn
8.1 Về mặt lý luận
Đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về xây quản lý công tác HNcho HS nói chung và quản lý công tác HN cho HS nông thôn qua phương tiệntruyền thông nói riêng
8.2 Về mặt thực tiễn
Đề tài đã khảo sát tương đối toàn diện thực trạng quản lý công tác HN cho
HS THPT ở Đồng Tháp nói chung; thực trạng quản lý công tác HN cho HSnông thôn qua phương tiện truyền thông nói riêng; từ đó đề xuất các giải phápquản lý công tác HN cho HS nông thôn qua phương tiện truyền thông trong thờigian tới
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục nghiên cứu Luậnvăn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác HN cho HS nông thôn tỉnhĐồng Tháp qua phương tiện truyền thông
Trang 13Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Lược sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới, công tác GDHN được các nước quan tâm và đầu tư rất nhiều.Đến nay, GDHN đã có lịch sử ra đời và phát triển hơn 100 năm Các nước côngnghiệp Châu Âu là nơi khởi đầu cho những nghiên cứu GDHN Hệ thống HN họcđường và nghề nghiệp đã có những bước phát triển rất cao ở các nước như Pháp,Đức, Úc, Liên Xô v.v
Chương trình cải cách GD ở Cộng hòa Pháp đặc biệt khắc phục khuynhhướng quan niệm coi GD lao động là một hoạt động đứng sau các môn học vănhóa Họ xem đào tạo “tiền nghề nghiệp” là cơ sở quan trọng cho việc học tập liêntục về sau, góp phần chuẩn bị cho thanh niên bước vào cuộc sống lao động vàphát triển nhân cách toàn diện Năm 1848, ở Pháp đã xuất hiện quyển sách “HNchọn nghề” đề cập tới xu thế phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triểncủa công nghiệp tạo nên Cuốn sách cũng đã khẳng định tính cấp thiết phải giúp
đỡ thanh thiếu niên đi vào thế giới nghề nghiệp nhằm sử dụng có hiệu quả lựclượng lao động trẻ [58]
Về phương thức tổ chức cho HS PT thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, các
cơ sở kinh doanh, dịch vụ thì có các tác giả Rolf Oberliesen, Helmut Keim,Michael Schumann, Gehart Duismamn… của Cộng hòa liên bang Đức [39] ỞĐức, hệ thống trường PT luôn tiến hành phân loại HS bằng cách dựa vào khảnăng học tập của từng em, từ đó định hướng theo nguyên tắc HN bị đi vào trườngđào tạo nghề Quan điểm phân loại HS của họ luôn dựa trên tinh thần giúp HS trởthành công nhân lành nghề song song với việc học hết lớp 12 và tiếp tục phân loại
HS khá giỏi để học lên lớp 13 thi tú tài toàn phần và thi vào ĐH…Vì thế, HS cóthể học nghề ngay khi còn đang học PT HS luôn được cung cấp một cách hệthống và kiến thức khoa học gắn với hướng đào tạo nghề linh hoạt, giảm bớt tínhhàn lâm ở bậc trung học Bên cạnh đó, sự cần thiết phải tổ chức cho HS thực tậpthực tế tại các trung tâm hoặc các đơn vị sản xuất; tổ chức hoạt động lao động
Trang 14nghề nghiệp cho HS PT, các nhà khoa học sư phạm Đức Heinz Frankiewiez,Bernd Rothe, B Germer… đã có những nghiên cứu liên quan đến cơ sở khoahọc sư phạm về tổ chức hoạt động dạy học lao động nghề nghiệp cho HS,trong đó quan tâm đến công tác phối hợp chặt chẽ giữa trung tâm GD Kỹthuật tổng hợp và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho
HS phổ thông
Còn những nghiên cứu về GDHN và lập nghiệp (GDHNLN - CareerEducation) ở các trường Úc thì tập trung vào 4 nhiệm vụ, có quan hệ mậtthiết với nhau
- Học về bản thân trong mối quan hệ lao động
- Học về thế giới nghề nghiệp
- Học về lập kế hoạch và ra quyết định HN, lập nghiệp
- Phát triển khả năng triển khai các quyết định về HN và tiến hành thayđổi công việc
Việc GD này giúp HS có thể nhận biết, quyết định về lựa chọn có tính
HN, lập nghiệp trong và sau khi học ở trường; đồng thời có thể tham gia hiệuquả vào đời sống lao động
Các nhà khoa học như: N.K.Krupxkaia, A.V.Lunasatsky, M.I.Kalinin,N.O.Blonxkii, M.Z.Akmaliv, P.R.Atutov… ; [4]; [8]; [17]; [22]; [23]; [54]; [64]
đã có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực GD lao động Kỹ thuật tổng hợptrong những năm 70 của thế kỷ XX
Các nghiên cứu của các nhà khoa học này đi sâu vào ý tưởng có giá trị lớn
cả về mặt chính trị lẫn kinh tế - xã hội Đó là “học tập kết hợp với lao động sảnxuất” nhằm hình thành nhân cách toàn diện cho HS Các nhà GD Xô Viết cũng đãxem bộ phận quan trọng nhất của GD Cộng sản chủ nghĩa là GD kỹ thuật tổnghợp trong nhà trường nước Nga Phần GD quan trọng này có tác dụng giúp HStiếp nhận về mặt lý thuyết và thực tiễn liên quan đến những nguyên lý cơ bản củanền sản xuất hiện đại Đồng thời, góp phần hình thành kỹ năng, kỹ xảo lao động
và HN cho HS, tạo khả năng lựa chọn có ý thức con đường lao động, xây dựng cơ
Trang 15sở cho việc đào tạo nghề về sau Đặc biệt, N.K.Krupxkaia đã phát triển nguyên lý
GD Kỹ thuật tổng hợp của V.I.Lênin, nhấn mạnh yêu cầu phải quán triệt nguyên
lý này vào các môn học của nhà trường, giữa các môn học với nhau phải có sựquan hệ mật thiết, liên hệ với hoạt động thực tiễn và nhất là đối với học môn kỹ
thuật N.K.Krupxkaia trong cuốn sách “Hoàn thiện quá trình dạy học” đã chỉ ra
rằng: “Mối liên hệ giữa học tập và lao động cần phải thực hiện sao cho học tập lýthuyết soi sáng con đường thực hành vào lao động sản xuất, còn lao động làmgiàu kiến thức giúp nắm kiến thức một cách có ý thức”; “GV lao động cần trang
bị cho HS những kiến thức kỹ năng, Kỹ thuật tổng hợp đại cương cần thiết chongười lao động các nghề khác nhau để lao động sản xuất” [60] Chính vì vậy, quacác lần cải cách GD (1956 - 1966 và 1984 - 1986), GD Xô Viết luôn chú trọngtăng cường GD lao động với HN cho HS PT trên cơ sở gắn với lao động sản xuất
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về QL GDHN THPT dựa trên những nguyên lý chung về QL
GD và QL GD THPT Những vấn đề chung về QL GD và QL GD THPT được đềcập trong công trình nghiên cứu của các tác giả như: Nguyễn Quốc Chí, NguyễnThị Mỹ Lộc [20]; [17], Đặng Quốc Bảo [6], Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải [52],Bùi Văn Quân [68]…
Xác định vai trò GDHN cho HS là nền tảng và định hướng phát triểnnghề nghiệp tương lai, GDHN ở Việt Nam từ những năm 70 của thế kỷ XXđược quan tâm nghiên cứu một cách có hệ thống Bên cạnh đó, HN còn đượcthừa nhận là bước chuẩn bị tâm thế và năng lực nắm bắt thế giới nghề nghiệptrên cơ sở dựa vào sở thích, hiểu biết về bản thân và các yêu cầu của xã hội để
từ đó HS phấn đấu học tập và lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai Vì lẽ đó,những nghiên cứu về GD nghề nghiệp của giai đoạn này đã được triển khairất đa dạng
Ngày 19 tháng 3 năm 1981, Hội đồng Chính phủ đã ra quyết định số126/CP về công tác HN trong nhà trường PT và việc sử dụng HS các cấp PT saukhi ra trường Giai đoạn sau đó, tác giả Phạm Tất Dong [23]; [26]; [25]; [27];
Trang 16[28]; [29]; [30], Đặng Danh Ánh [1]; [2]; [3]; [4], Đoàn Chi [17], Đặng Quốc Bảo[7] nghiên cứu về hứng thú, khuynh hướng nghề nghiệp của HS và xây dựngchương trình HN chính khóa cho HS PT Tác giả Đặng Danh Ánh, Nguyễn Viết
Sự [74]; [75]; [76] đã nghiên cứu về mô tả nghề để làm cơ sở cho việc tư vấnnghề cho HS (giai đoạn từ 1982 đến 1986) Tác giả Nguyễn Văn Hộ với các côngtrình nghiên cứu như: “ Thiết lập và phát triển hệ thống HN cho HS Việt Nam(1988) [54], “Cơ sở sư phạm của công tác HN trong trường PT” [55] đã khái quátcác luận chứng lý luận và thực tiễn cho hệ thống HN PT trong điều kiện phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước thời kỳ hội nhập và đề xuất một số hình thức phốihợp giữa nhà trường PT với các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất trong việc HN,dạy nghề cho HS PT Những khía cạnh khác của GDHN cũng được đề cập trongmột số công trình nghiên cứu sau: “Một số vấn đề về GDHN cho nhà trường PT”của Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Truyền, Bùi Văn Quân [59] “Định hướng GDHNtrong trường PT Trung học” của Phạm Tất Dong [27]; “Mối quan hệ giữa hệthống GD nghề nghiệp với thị trường lao động”; “Về GD kỹ thuật và HN trong
GD PT ở nước ta trong thời gian tới” của Nguyễn Viết Sự [74]; [76] Quyết định
126 được coi là mốc quan trọng đối với công tác GDHN ở trong nhà trường PT;bởi lẽ, từ đây, HN chính thức được coi như một nội dung GD và là một đơn vịkiến thức trong các tiết dạy các môn văn hoá cơ bản
Cùng với việc nghiên cứu về GDHN, vấn đề về mối quan hệ giữa GD PT,
GD nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực cũng được các nhà khoa học GDquan tâm nghiên cứu Ở hướng nghiên cứu này, các tác giả tập trung nghiên cứutheo các chủ đề:
(1) Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH trong điều kiện
nền kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế: Nguyễn Minh Đường,Phan Văn Kha [43]; [44], Trần Khánh Đức [40], Nguyễn Hữu Dũng [31]; [32]
(2) Phát triển nguồn nhân lực, kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta:Nguyễn Như Ất [5]; Phạm Huy Thụ [88]; [89]…
Trang 17(3) Nghiên cứu mô hình GDHN THPT cho các đối tượng đặc thù (HS bổtúc văn hóa) của Huỳnh Thị Tam Thanh [80], mô hình tư vấn nghề trong trườngTHPT của Nguyễn Thị Thanh Huyền [56] và QL GDHN THPT theo định hướng
xã hội hóa của Bùi Việt Phú [66]
(4) Nghiên cứu các giải pháp QL GDHN THPT tại các khu vực và địaphương: Lê Thanh Bình [14]
Nguồn nhân lực vừa thiếu, vừa yếu, nguyên nhân chính là công tác GDHNchưa thật sự đáp ứng yêu cầu Để tồn tại và phát triển, nước ta phải tiến hànhCNH - HĐH định hướng xã hội chủ nghĩa Sự nghiệp CNH - HĐH đặt ra hàngloạt yêu cầu đối với GD - ĐT nói chung, HN cho HS PT nói riêng Vì thế, trướchết phải thấy rõ đặc thù của sự nghiệp CNH - HĐH ở nước ta, những đặc thù này
sẽ quy định phương hướng phát triển công tác HN Theo đó, HN sẽ góp phần pháttriển nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH - HĐH Nghiên cứu về vấn đề này, cócác nội dung nghiên cứu chủ yếu như: đổi mới mạnh mẽ GD nghề nghiệp và pháttriển nguồn nhân lực (Phạm Minh Hạc); thị trường lao động và định hướng nghềnghiệp cho thanh niên (Nguyễn Hữu Dũng); bối cảnh của việc xây dựng chiếnlược phát triển nguồn nhân lực và công tác HN (Phạm Tất Dong); GD kỹ thuật -
nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực (Trần Khánh Đức); GD PT và HN - nền
tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào CNH - HĐH đất nước (Chương trìnhKhoa học Công nghệ cấp Nhà nước KX-05, Đề tài KX-05-09); nghiên cứu cácgiải pháp QL GDHN THPT theo định hướng tạo nguồn nhân lực cho các tỉnhđồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020: Hồ Văn Thống [87] v.v
Như vậy, vấn đề GDHN và QL công tác GDHN đã được nghiên cứu, tiếpcận với nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau nhưng đều có mục tiêu chung nhằmnâng cao hiệu quả GD và HN, tạo nền tảng đào tạo nguồn nhân lực bền vững theoyêu cầu của việc phát triển kinh tế - xã hội Xu thế hiện tại của các nước trên thếgiới đều coi dạy nghề bao gồm cả giai đoạn “tiền nghề nghiệp” ở trường PT, trong
đó có sự thống nhất GD lao động gắn liền với GD công nghệ và HN Còn các tácgiả trong nước quan tâm hoạt động GDHN là hoạt động dạy học lao động chuẩn
Trang 18bị nghề nghiệp cho HS PT dưới những hình thức khác nhau như tìm hiểu một sốnghề, thảo luận nhóm nhưng chủ yếu tập trung nhiều nhất vào các khái niệm,nội dung, tính chất và hình thức, vào việc đổi mới nội dung, phương pháp sử dụngtối ưu CSVC kỹ thuật phục vụ HN
Đến nay, chưa nhiều tác giả nghiên cứu sâu và toàn diện về các giải pháp
QL GDHN cho HS nông thôn qua phương tiện truyền thông, đặc biệt chưa có tácgiả nào tìm hiểu vấn đề đó trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
1.2 Các khái niệm cơ bản có liên quan.
1.2.1 Hướng nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm.
Theo tự điển Bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa “HN là hệ thống cácbiện pháp giúp cho con người lựa chọn và xác định nghề nghiệp của bản thântrong cuộc sống tương lai trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhânvới nhu cầu xã hội”
Trong những tài liệu chuyên khảo khác, HN được hiểu là một tổng thể,chứa đựng nhiều khái niệm thành phần, biểu thị những hình thức riêng lẻ của HNnhư: thông tin nghề, tư vấn nghề, thích ứng nghề HN còn là những giải phápgóp phần giải quyết một cách khoa học nhất cho thế hệ trẻ chuẩn bị để lựa chọnđúng đắn nghề nghiệp và đi vào nghề nghiệp Như vậy, tùy theo cách tiếp cận mà
ta có nhiều cách hiểu khác nhau về HN:
Trên bình diện vĩ mô toàn xã hội, HN là vốn quý cho sự phát triển kinh tế
-xã hội qua việc phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, từ đómang lại phồn vinh cho đất nước Vì lẽ đó, HN mang ý nghĩa to lớn, khởi đầuquan trọng cho quá trình phát triển lực lượng sản xuất của mỗi quốc gia
Xét theo phương diện kinh tế học: HN được hiểu là hệ thống những giảipháp dẫn dắt tổ chức thanh, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp nhằm sửdụng hợp lý tiềm năng lao động trẻ tuổi của đất nước HN góp phần tích cực vàoquá trình phấn đấu nâng cao năng suất lao động xã hội
Trang 19Xét theo phương diện tâm lý học: HN được coi như một quá trình chuẩn
bị cho thế hệ trẻ sự sẵn sàng tâm lý đi vào lao động nghề nghiệp Sự sẵn sàngtâm lý đó chính là tâm thế lao động - một trạng thái tâm lý tích cực trước hoạtđộng lao động
Những nhà GD hiểu HN như một hệ thống giải pháp tác động của giađình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo giúp thế hệtrẻ có cơ sở khoa học trong việc chọn nghề, hệ thống điều chỉnh sự lựa chọnnghề của HS cho phù hợp với những yêu cầu của sự phân công lao động xã hội,
có tính đến hứng thú và năng lực của từng cá nhân
HN còn được hiểu là các hoạt động nhằm hỗ trợ mọi cá nhân chọn lựa vàphát triển chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của cá nhân,đồng thời thỏa mãn nhu cầu nhân lực cho tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp (thịtrường lao động) ở cấp độ địa phương và quốc gia
Trong đó lựa chọn nghề nghiệp chỉ là một giai đoạn đầu trong tiến trình
HN của mỗi người HN là một quá trình liên tục tác động từ khi người học cònngồi học ở bậc PT, qua quá trình trao dồi chuyên môn nghề nghiệp và tìm đượcnơi lao động phù hợp
Khi mỗi cá nhân đều có được chuyên môn nghề nghiệp vững vàng phùhợp, họ sẽ có nhiều cơ hội có một nghề nghiệp ổn định, nâng cao chất lượngcuộc sống cá nhân Ở một góc độ khác, HN có hiệu quả tạo ra một lực lượng lao
Trang 20động có định hướng rõ ràng, do vậy họ có năng lực nghề nghiệp tốt, làm tăngnăng suất lao động, góp phần cho sự phát triển về kinh tế - xã hội
HN cho HSPT là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình phát triểnnguồn nhân lực Trên bình diện cá nhân, HN giúp HS chọn nghề phù hợp vớinhu cầu của xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với nănglực, sở trường và điều kiện tâm lý, sinh lý cá nhân để họ có thể phát triển tớiđỉnh cao trong nghề nghiệp, cống hiến thật nhiều cho xã hội cũng như tạo lậpđược cuộc sống tốt đẹp cho bản thân Trên bình diện xã hội, HN nhằm gópphần phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn nhân lực, vốn quícủa đất nước để phục vụ cho sự phát triển kinh tế- xã hội, mang lại phồn vinhcho đất nước
Như vậy HN là quá trình chọn nghề, chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất xã hội có định hướng và hiệu quả hơn HN vừa là HĐ dạy của
thầy vừa là HĐ học của trò, có nghĩa là trong công tác HN, GV là người tổ chức,người hướng dẫn còn HS là người chủ động tham gia vào HĐ để tiếp cận với hệthống nghề nghiệp Kết quả cuối cùng của quá trình HN là sự tự quyết định của
HS trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai
Theo tài liệu GDHN trong trường học của Australia thì “GDHN liên quan đến sự phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ thông qua một chương trình hoạch định sẵn và sẽ giúp HS có quyết định về sự lựa chọn nghề trong trường học và sau khi tốt nghiệp, giúp HS làm việc có hiệu quả hơn”
Trang 21Trong nhà trường PT, GDHN là công việc của tập thể sư phạm GD HSlựa chọn một cách phù hợp giữa nguyện vọng nghề nghiệp của các cá nhân vớiyêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời có sự phù hợp giữa năng lực của
cá nhân với đòi hỏi của nghề
Từ những khái niệm trên có thể rút ra khái niệm chung nhất về GDHN làmột hệ thống các biện pháp GD của nhà trường, gia đình, xã hội nhằm chuẩn bịcho thế hệ trẻ tư tưởng, tâm lí, tri thức, kỹ năng… để họ có thể sẵn sàng đi vàongành nghề, vào lao động sản xuất, vào cuộc sống GDHN góp phần phát huynăng lực, sở trường của từng người, đồng thời cũng góp phần điều chỉnh nguyệnvọng của cá nhân sao cho phù hợp với nhu cầu phân công lao động trong xã hội
Có thể nói ngắn gọn rằng “GDHN là hướng dẫn cho HS ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường sớm có ý thức về một nghề lao động mà sau này họ sẽ chọn” [62,
tr 115]
1.2.2.2 Tính chất của GDHN: Qua nghiên cứu các tài liệu lý luận, chúng
tôi nhận thấy GDHN có những tính chất cơ bản sau:
a, Tính đồng bộ: để làm tốt GDHN trong trường THPT đòi hỏi phải có sự
kết hợp của gia đình - nhà trường - xã hội Ngoài ra, GDHN còn thể hiện tính haimặt của một vấn đề Một mặt, phản ánh qui luật của sự vận hành và phát triểnkinh tế - xã hội nhất định Mặt khác, phản ánh qui luật hoàn thiện con người vàcác qui tắc hành vi của mỗi cá nhân có chú ý đến những đặc điểm nhân cáchtừng người cụ thể
b, Tính hệ thống: GDHN là một quá trình GD liên tục từ những năm học ở
trường THCS, THPT đến quá trình học nghề, hành nghề của mỗi cá nhân trongtất cả các giai đoạn sau này của cuộc đời
Ta thấy tâm lý của con người luôn luôn thay đổi (nhất là đối với lứa tuổiHS), dưới sự GD của nhà trường và sự rèn luyện của bản thân Do vậy năng lực,nguyện vọng của cá nhân cũng thay đổi theo nên GDHN cho HS là quá trình liêntục, lâu dài: GD chính trị, tư tưởng, đạo đức, GD lao động, thông tin định hướng
Trang 22nghề nghiệp là quá trình theo dõi, phát hiện, bồi dưỡng tri thức, kỹ năng và thái
độ cần thiết, quá trình rèn luyện và củng cố sức khoẻ và các khả năng tâm sinh
lý để định hướng nghề cho các em
GDHN cho HS không chỉ dừng lại ở trường THPT mà nó còn được tiếnhành trong các trường ĐH, trường CĐ, trường TCCN Nhất là trong giai đoạnhiện nay với sự phát triển của nền kinh tế tri thức và công nghệ thông tin truyền
thông, giai đoạn mà “một nửa lực lượng lao động của thế giới đã phát triển làm việc ở bên ngoài của tổ chức Các tổ chức truyền thống nay chỉ sử dụng 55% lực lượng lao động ở mức toàn thời gian Số còn lại là lao động thời vụ, bán thời gian, hoặc theo hợp đồng” [15, tr 37] thì GDHN còn phải tiến hành trong cả
quá trình làm việc, lao động để người lao động có khả năng thích nghi và thayđổi việc làm với cơ chế lao động mới Trên bình diện xã hội, quá trình HN đượcthể hiện qua sơ đồ 1
Sơ đồ 1.1: Quá trình HN.
c, Tính lịch sử - xã hội: về mặt xã hội, HN có tác dụng điều chỉnh sự phân
công lao động xã hội, tạo ra cân bằng trong sự phân bố dân cư HN kết hợp chặtchẽ với lao động sản xuất và dạy nghề có tác dụng làm ổn định xã hội, góp phầngiúp xã hội sử dụng hết sản phẩm đào tạo của trường PT
Bồi dưỡng
Đào tạo lại
Thích ứng nghề Học nghề
Phù hợp nghề Hành nghề
Định
hướng
nghề
Trang 23d, Tính giáo dục: GDHN là bộ phận của GD XHCN Về phương diện này,
GDHN giúp điều chỉnh động cơ chọn nghề của HS, điều chỉnh hứng thú nghềnghiệp của các em theo xu thế phân công lao động xã hội HN cụ thể hoá mụctiêu đào tạo ở trường PT Quá trình HN trong nhà trường không dừng lại ở sự
GD ý thức lao động nghề nghiệp mà còn hướng HS đi vào nghề cụ thể
1.2.2.3 Nhiệm vụ của GDHN cho học sinh phổ thông.
Theo chỉ thị số 33/2003/CT-BGD&ĐT thì GDHN có nhiệm vụ:
- GD thái độ và ý thức đúng đắn với nghề nghiệp
- Tổ chức cho HS học tập làm quen với một số nghề phổ biến trong xã hội
và các nghề truyền thống của địa phương
- Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng HS đểkhuyến khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất
- Động viên hướng dẫn HS đi vào những nghề, những nơi đang cần laođộng trẻ tuổi có văn hoá
Ngoài ra, nhiệm vụ của GDHN là phải làm cho HS có thể thích ứng với sựdịch chuyển của cơ cấu ngành nghề và cơ cấu lao động trong xã hội và địaphương, nâng cao hiểu biết về an toàn lao động Song song với nó còn rèn luyện
kỹ năng nghề nghiệp, thao tác kỹ thuật, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng tính toán
và khả năng vận dụng kỹ thuật vào thực tiễn cho HS
1.2.2.4 Các con đường HN.
Để đạt được mục đích trên, GDHN cho HS PT được thực hiện qua bốncon đường:
a, HN thông qua việc dạy các môn văn hóa:
Các môn khoa học cơ bản như Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Địa lív.v có chức năng cung cấp một hệ thống những khái niệm làm nền tảng cho sựhình thành tư duy lí luận, thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạngcũng như tạo ra ở HS những kỹ năng thực hành, ứng dụng những tri thức vàocuộc sống sinh động hàng ngày GDHN qua các môn học là một nguyên tắc đặt
ra cho nhà giáo Điều này có nghĩa là, những kiến thức mới, những thông tin
Trang 24mới mà bài học mang lại cho HS đều phải có tác dụng GDHN Những khả năng
b, HN thông qua việc dạy môn công nghệ và dạy nghề PT:
HĐ dạy học môn công nghệ, dạy nghề PT có tác dụng to lớn trong GDHNcho HSPT, góp phần tích cực thực hiện 4 nhiệm vụ HN đã nêu trong quyết định126/CP của Chính phủ Cách thức thực hiện HN qua hoạt động dạy học môncông nghệ và nghề PT:
- Nghiên cứu kỹ để nắm vững, thực hiện nghiêm túc chương trình laođộng - HN
- Trong quá trình soạn bài, lên lớp, giới thiệu cho HS biết các trường lớpđào tạo, nhu cầu lao động của các ngành nghề liên quan đến tri thức và kỹ năngcủa môn công nghệ và nghề PT
- Bảo đảm thực hành, rèn luyện kỹ năng lao động tương ứng với kiến thứccông nghệ và nghề PT
- Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu kỹ thuật cho HS
c, HN thông qua sinh hoạt HN:
Sinh hoạt HN là hình thức GDHN qua việc giới thiệu cho HS biết cácngành nghề đang cần phát triển và những nơi HS có thể đến đó học nghề hoặclàm việc sau khi ra trường Sinh hoạt HN thể hiện rõ vai trò chủ đạo của nhàtrường đối với việc định hướng nghề nghiệp cho thanh thiếu niên Nội dungchương trình sinh hoạt HN có tính hệ thống chặt chẽ nhằm cung cấp cho HS
Trang 25những hiểu biết về: cách thức lựa chọn nghề nghiệp tương lai; tình hình vàyêu cầu phát triển kinh tế của địa phương, của đất nước; đặc điểm và yêu cầutâm sinh lí của hệ thống ngành nghề cơ bản trong xã hội; hệ thống trường lớpđào tạo nghề của Trung ương và địa phương; các hướng đi của HS sau khi ratrường.
d, HN thông qua HĐ ngoại khóa ở trong và ngoài nhà trường:
Những HĐ phong phú đa dạng của các tổ ngoại khoá và các hình thức đọcthêm sách báo, xem phim, nghe đài, tham gia các HĐ do đoàn đội, hội CMHS tổchức ở trong và ngoài nhà trường giúp HS mở rộng thông tin nghề nghiệp, nhucầu lao động và điều chỉnh động cơ chọn nghề một cách sinh động, tạo điều kiện
để các em bộc lộ và thể nghiệm tài năng, hứng thú của mình, sau đó tự giác điềuchỉnh nguyện vọng, chọn nghề cho phù hợp với yêu cầu xã hội HN qua các HĐngoại khóa ở trong và ngoài nhà trường được tiến hành như sau:
- Tổ chức cho HS đọc sách báo, nghe đài, xem phim, tận dụng các phươngtiện thông tin đại chúng, văn hoá nghệ thuật phục vụ GDHN, đồng thời chútrọng xây dựng các tổ ngoại khoá
- Tổ chức, động viên HS tích cực tham gia các HĐHN của các đoàn thể,các cơ sở sản xuất và cơ sở GD ở ngoài nhà trường
- Phát huy vai trò chủ đạo của nhà trường đối với tác động HN của gia đình
1.2.2.5 Ý nghĩa của GDHN cho học sinh phổ thông
a, Ý nghĩa GD: GDHN là bộ phận hữu cơ của GDPT Nó có khả năng
điều chỉnh động cơ chọn nghề và hứng thú nghề nghiệp của HS theo nhu cầu laođộng và sự phân công lao động của xã hội, của địa phương GDHN giúp cho thế
hệ trẻ chọn đúng nghề phù hợp với kỹ năng và năng lực của cá nhân, phù hợp xuthế phát triển của xã hội
GDHN góp phần cụ thể hoá mục tiêu đào tạo của trường THPT, nó khôngnhững chỉ đào tạo thế hệ trẻ thành người lao động có tri thức, có kỹ năng làmviệc, có óc sáng tạo mà còn sẵn sàng thay đổi nghề nghiệp khi cần thiết cũngnhư có thể tham gia lao động ở bất cứ nơi nào Như vậy GDHN trong trường
Trang 26THPT không dừng ở chỗ GD cho HS ý thức lao động chung chung mà phảihướng các em đi vào một nghề cụ thể hoặc biết tự tạo việc làm phù hợp với khảnăng và nhu cầu của xã hội, có thể thích ứng việc làm trong mọi điều kiện vàcũng có thể thay đổi việc làm khi cần thiết.
b, Ý nghĩa kinh tế: GDHN hướng vào sử dụng hợp lý tiềm năng lao động
trẻ để từ đó nâng cao năng suất lao động, giúp họ biết phát huy khả năng củamình, có lòng yêu nghề và tự tạo hứng thú trong nghề nghiệp Nhất là trong giaiđoạn chạy đua giữa các nước về khoa học kỹ thuật, về số lượng và chất lượngthông tin Trong cuộc chạy đua này phần thắng sẽ thuộc về quốc gia nào làm tốtviệc đào tạo đội ngũ lao động lành nghề có tri thức, đội ngũ cán bộ khoa học kỹthuật có trình độ cao Điều đó cũng có nghĩa là quốc gia nào làm tốt công tácGDHN Vì thế khi nói đến GDHN là nói đến tác dụng của nó đối với sự pháttriển kinh tế của đất nước
c, Ý nghĩa chính trị: Đại hội Đảng lần thứ X đã khẳng định GD phải “Tạo
ra một cơ cấu lao động mới trong đó lao động có trình độ cao, có kỹ năng, biết ngoại ngữ chiếm tỉ trọng ngày càng lớn” [ 38, tr 55]
Vì vậy, nếu GDHN một cách nghiêm túc sẽ góp phần không nhỏ vào việcphân luồng HS tạo tiền đề cho việc tạo ra cơ cấu lao động mới, không những cókiến thức khoa học, có óc sáng tạo mà còn có những kiến thức cơ bản về kỹthuật sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, những thói quen lao động, sẵn sàngbước vào cuộc sống lao động, để xây dựng sự nghiệp CNH - HĐH đất nước,thực hiện chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN, với mục tiêu làm chodân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
d, Ý nghĩa xã hội: GDHN ở trường PT nhằm mục đích đưa HS THPT đi
vào các ngành nghề mà xã hội và địa phương cần, giúp các em chọn được mộtnghề, để được làm việc, được cống hiến cho xã hội, để nuôi sống bản thân vàgiúp đỡ gia đình
Trang 27Vì vậy nếu làm tốt công việc GDHN sẽ có thể định hướng cho thế hệ trẻ
đi vào cuộc sống lao động một cách có chủ định, hợp khả năng, không lãng phí,
có hiệu quả kinh tế cao góp phần ổn định xã hội, tạo nên một nếp sống lao độngbình thường, lành mạnh, kinh tế bền vững
1.2.2.6 Nội dung của GDHN.
Xét trên bình diện xã hội về lâu dài muốn làm tốt nhiệm vụ HN thì nhàtrường PT phải làm tốt ba nội dung của GDHN:
a, Định hướng nghề nghiệp: nội dung chủ yếu của định hướng nghề
nghiệp là thông tin cho HS về tình hình phát triển thế giới nghề nghiệp, hoạtđộng của những ngành nghề cơ bản, những yêu cầu của nghề đối với người laođộng trong xã hội, đặc biệt là các ngành nghề địa phương đang có và nhu cầu sửdụng của doanh nghiệp Đối tượng được tác động chủ yếu là HS nhưng đôi khichúng ta cũng cần phải cung cấp những thông tin nói trên cho phụ huynh HS đểphối hợp HN Qua đó giúp HS đánh giá bản thân và lựa chọn nghề có chủ định
Do đó, thông tin nghề nghiệp cần đảm bảo các yêu cầu sau đây:
- Giúp cho trẻ định hướng vào những ngành nghề cần phát triển, đặc biệt
b, Tư vấn HN: là hệ thống những giải pháp tâm lý - GD để đánh giá toàn
bộ những phẩm chất, năng lực thể chất và tinh thần của thanh thiếu niên, đốichiếu những yêu cầu do nghề đặt ra đối với người lao động, có cân nhắc đếnnhu cầu nhân lực của các thành phần kinh tế nhằm xác định nhóm nghề phùhợp Trên cơ sở đó cho HS những lời khuyên chọn nghề có căn cứ khoa học,
Trang 28loại bỏ những trường hợp may rủi, thiếu chín chắn trong khi chọn nghề Có hailoại tư vấn:
b1, Tư vấn sơ bộ: GV chủ nhiệm hoặc GV bộ môn đóng vai trò “nhà tư
vấn”, từ những hiểu biết về yêu cầu của một số ngành nghề ở một số trườnghoặc địa phương, về nhu cầu nhân lực và về năng lực của HS từ đó cho HSnhững lời khuyên nên học gì? Ở đâu?
b2, Tư vấn chuyên sâu: Tiến hành trên cơ sở khoa học, đảm bảo độ chính
xác cao nhờ vào các máy móc hiện đại Điều kiện để có loại tư vấn chuyên sâuđòi hỏi phải có đội ngũ chuyên gia tư vấn được đào tạo có tay nghề cao như cácnhà tâm lý, các nhà GD học, các bác sĩ
c, Tuyển chọn nghề: là xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu của nghề để tuyển
người phù hợp vào học hay vào làm việc [82, tr 24]
Ba nội dung này có mối liên hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau Trongtrường THPT ta thường tiến hành định hướng nghề nghiệp và tư vấn HN, đồngthời góp phần cho việc tuyển chọn nghề Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, cáctrường trung cấp, CĐ, ĐH thường xuống trực tiếp trường PT để tuyên truyền,tuyển chọn nghề thì nội dung công tác tuyển chọn nghề cũng được coi là một nộidung mà trường PT cần phải làm Ba nội dung của GDHN được biểu diễn bằng
sơ đồ 1.2 sau:
Trang 29Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các nội dung GDHN
1.2.3 Quản lý
1.2.3.1 Khái niệm về QL
Tùy theo cách tiếp cận mà có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm
QL Dưới đây là một số khái niệm về QL mà tác giả chọn làm cơ sở khoa họccho những nghiên cứu của mình:
- QL là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể QL đến đốitượng bị QL trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định
- Hoạt động có sự tác động qua lại giữa hệ thống và môi trường, do đó:
QL được hiểu là việc bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biếnđổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển động của hệ thống đến trạngthái mới thích ứng với hoàn cảnh mới
- QL là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng
cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội
- QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kếthợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực)trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đíchcủa tổ chức với hiệu quả cao nhất
2 1
3
Tuyên truyền định hướng nghề nghiệp
Tình hình phân công lao động, cơ cấu lao động, nhu cầu nhân lực ở địa phương và
xã hội
Tuyển chọn nghề Đặc điểm về phẩm chất,
nhân cách, tâm sinh lý của từng học sinh
Trang 30- QL một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người - thànhviên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến.
- QL là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức vàphối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động [66]
Từ những quan điểm trên, có thể nói một cách tổng quát nhất: QL là mộtquá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạtđược mục tiêu chung [63]
Sơ đồ 1.3 Mô hình quản lí
1.2.3.2 Hệ thống chức năng quản lí
Chức năng của QL là dạng hoạt động QL thông qua đó chủ thể QL tácđộng vào khách thể QL nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định, nó gồm 4 chứcnăng: kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá
- Kế hoạch hoá:
Kế hoạch hoá là xác định rõ mục đích, mục tiêu đối với thành tựu tươnglai của tổ chức và những biện pháp, cách thức chủ yếu để đạt được mục đích,mục tiêu đó Nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá là: xác định và hìnhthành mục tiêu, xác định và bảo đảm các nguồn lực để đạt mục tiêu đã đề ra;quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được những mục tiêu
đó Sản phẩm quan trọng của chức năng kế hoạch hoá là kế hoạch Có ba loại kếhoạch: kế hoạch chiến lược; kế hoạch chiến thuật; kế hoạch tác nghiệp
Trang 31Chức năng tổ chức được tiến hành sau khi xây dựng kế hoạch nhằm thựchiện kế hoạch đã đề ra Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệgiữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm thực hiện thành công kế hoạch và đạtđược mục tiêu tổng thể của tổ chức Việc thực hiện chức năng tổ chức trong QLcòn phải chú ý đến phương thức hoạt động, đến quyền hạn của từng bộ phận, tạođiều kiện cho sự liên kết ngang, dọc và đặc biệt chú ý đến việc bố trí cán bộ -người vận hành các bộ phận của tổ chức.
-Chỉ đạo:
Đây là chức năng thể hiện năng lực của người QL Sau khi hoạch định kếhoạch và sắp xếp tổ chức, người CBQL phải điều khiển cho hệ thống hoạt độngnhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra Đây là quá trình sử dụng quyền lực QL để tácđộng đến các đối tượng bị QL (con người, các bộ phận) một cách có chủ đíchnhằm phát huy hết tiềm năng của họ hướng vào việc đạt mục tiêu chung của hệthống Người điều khiển hệ thống phải là người có tri thức và kỹ năng ra quyếtđịnh và tổ chức thực hiện quyết định
- Kiểm tra:
Đây là chức năng quan trọng và xuyên suốt quá trình hoạt động của nhà
QL Có thể nói không có kiểm tra là không có QL Hoạt động kiểm tra trong
QL là một nỗ lực có hệ thống nhằm thực hiện bốn chức năng: Kiểm soát pháthiện; động viên phê phán; đánh giá; điều chỉnh Nhờ có kiểm tra mà người QLđánh giá được thành tựu công việc và uốn nắn điều chỉnh hoạt động một cáchđúng hướng
Sơ đồ 1.4 Chu trình quản lí giáo dục
Kế hoạch Thông tin Chỉ đạo Kiểm tra Tổ chức
Trang 321.2.3.3 Quản lí giáo dục
QLGD là một bộ phận QL của xã hội Nói đến QLGD là nói đến QL mọihoạt động GD trong xã hội Các nhà nghiên cứu về GD và QLGD đã đưa ra một
số quan niệm về QLGD như sau:
* Đối với cấp độ vĩ mô:
- QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có
kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể QL đến tất cả các mắt xích của
hệ thống (từ cấp cao nhất đến cấp cơ sở GD là nhà trường) nhằm thực hiện cóchất lượng và hiệu quả các mục tiêu phát triển GD, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hộiđặt ra cho ngành GD
- QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QLlên hệ thống GD nhằm đào tạo ra tính trồi (emergence) của hệ thống; sử dụngmột cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đếnmục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trườngbên ngoài luôn luôn biến động
- Cũng có thể định nghĩa QLGD là hoạt động tự giác của chủ thể QLnhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát một cách có hiệu quảcác nguồn lực GD (nhân lực, vật lực, tài lực), phục vụ cho mục tiêu phát triển
GD, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
* Đối với cấp vi mô:
- QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mụcđích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật), của chủ thể QL đến tập thể GV,công nhân viên, tập thể HS, CMHS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhàtrường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD của nhà trường
- Cũng có thể định nghĩa QLGD thực chất là những tác động của chủ thể
QL vào quá trình GD (được tiến hành bởi tập thể GV và HS, với sự hỗ trợ đắc
Trang 33lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách
HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường [62, tr 36]
Như vậy, có thể hiểu bản chất của QLGD là quá trình tác động có ý thứcđược định hướng của chủ thể QL lên các thành tố của hoạt động GD nhằm thựchiện mục tiêu của GD một cách có hiệu quả
1.2.4.2 QL nội dung chương trình GDHN
Bản chất của công việc HN là một hệ thống điều khiển các động cơ chọnnghề của HS Hệ thống này bao gồm:
- Các chủ thể điều khiển: nhà trường, gia đình, các cơ quan nhà nước(trong đó có cả các cơ sở sản xuất, xí nghiệp…), các tổ chức xã hội,v.v…
- Các phương tiện và phương pháp điều khiển: công tác GDHN trong nhàtrường, sự GD của gia đình, sự thông tin định hướng về các nghề nghiệp của các
cơ quan chuyên môn của nhà nước, tác động của các phương tiện thông tin đạichúng, dư luận nhóm và dư luận của xã hội, hoạt động tư vấn nghề nghiệp củacác điểm tư vấn nghề nghiệp
Công cụ Chủ thể QLGD Đối tượng QLGD Mục tiêu
P Pháp
Trang 34- Đối tượng điều khiển: các động cơ và định hướng giá trị của HS.
- Kết quả điều khiển: sự sẵn sàng nghề nghiệp của HS; cụ thể là chuẩn bịcho HS có khả năng chọn nghề, trường nghề phù hợp với đòi hỏi của nghềnghiệp đúng với khả năng, nguyện vọng của mình và phù hợp với yêu cầu của
xã hội
Nội dung cơ bản của công tác giáo dục HN hiện nay trong chương trìnhTHPT gồm:
- Từng bước giới thiệu cho HS các ngành nghề của địa phương và trong
xã hội (thông tin nghề nghiệp); làm cho HS hiểu rõ ý nghĩa của việc lựa chọnnghề; trang bị cho HS những kiến thức sơ bộ, nhưng cần thiết về các nghề chủyếu đối tượng lao động, công cụ lao động, sản phẩm làm ra ; các yêu cầu củanghề đối với lao động, yêu cầu về thái độ, phẩm chất, sức khoẻ; triển vọng củatừng nghề; chú ý quan tâm đến những nghề của xã hội và địa phương có triểnvọng phát triển trong những năm sắp tới
- Tạo điều kiện tổ chức cho HS lao động, thực hành kỹ thuật, để HS đượctập dượt, thử sức, làm bộc lộ ở HS những đặc điểm về nhân cách, về tâm lí, sứckhoẻ, từ đó giúp HS định hướng tâm lý và lựa chọn ngành, nghề sau này
- Tổ chức hướng dẫn HS trong khâu chọn nghề dựa vào năng lực, sởtrường của HS đã được bộc lộ, có đối chiếu với sự phân công lao động xã hội,đồng thời điều chỉnh nguyện vọng khi cần thiết và giúp đỡ cho HS học tập, rènluyện theo ngành, nghề đã chọn qua các hoạt động GDHN trong nhà trường
- Tạo điều kiện và giúp đỡ, bố trí công việc cho HS phù hợp với ngành,nghề mà HS đã chọn và đã được rèn luyện trong nhà trường Để làm được điềunày, lãnh đạo nhà trường phải phối kết hợp chặt chẽ với các ngành, các cơ sở sảnxuất ngay từ khâu đầu tiên và trong cả quá trình HN cho HS Trường học sẽcung cấp cho các trường đào tạo, các cơ sở sản xuất về đặc điểm nhân cách củatừng HS và tạo điều kiện tuyển sinh vào các trường chuyên nghiệp, tuyển chọnngười lao động được thuận lợi, chính xác và phù hợp
Trang 35Nội dung chương trình GDHN hiện nay đảm bảo được các yếu tố sau:
Đảm bảo tính khoa học và tính hiện đại được thể hiện:
+ Thông tin về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội
+ Thông tin về các nhóm ngành, nhóm nghề và nghề cụ thể
+ Thông tin về thị trường lao động
+ Thông tin về đào tạo
+ Thông tin về hứng thú, năng lực, hoàn cảnh gia đình HS, về cơ sở khoahọc để giúp các em chọn nghề phù hợp
Tất cả những thông tin trên nhằm giúp các em lựa chọn nghề đúng Đảmbảo tính liên thông, kế thừa và đồng bộ các kiến thức trong chương trình:
Tính liên thông, kế thừa về nội dung được thể hiện từ thấp đến cao, liêntục, gắn bó với nhau trong một chỉnh thể thống nhất từ khái niệm về nghề, mô tảnghề (ở lớp 9), đến sự phù hợp nghề, các nhóm ngành nghề, nghề cụ thể (lớp 10,11), cuối cùng là tư vấn nghề (lớp 12)
Tính đồng bộ thể hiện ở chỗ vừa có các ngành nghề đại trà, phổ biến: cácnghề ở địa phương (lớp 9), nông- lâm- ngư nghiệp (lớp 10), giao thông vận tải,dịch vụ (lớp 11), vừa có ngành nghề mũi nhọn như: năng lượng, dầu khí, bưuchính viễn thông, công nghệ thông tin (lớp 11)
Các kiến thức về thế giới nghề nghiệp không trùng lặp mà được nâng cao:
Điều đó không chỉ biểu hiện ở những nghề mà chúng ta thường gặp (nông
- lâm - ngư nghiệp, y tế, sư phạm, công nghiệp ) mà còn biểu hiện ở nhữngnghề mới xuất hiện trong nền kinh tế thị trường và nền kinh tế tri thức như côngnghệ thông tin, kinh doanh, dịch vụ…
Như vậy, công tác QL nội dung GDHN trong nhà trường PT hiện nay, đòihỏi phải xuất phát từ những quan điểm xây dựng nội dung chương trình ở trên để
có sự chỉ đạo thực hiện đúng đắn nhằm đạt được mục tiêu của chương trìnhGDHN đã đề ra; đó là:
Về kiến thức:
+ Hiểu được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc lựa chọn nghề tương lai
Trang 36+ Biết được một số thông tin cơ bản về định hướng phát triển kinh tế - xãhội của địa phương, đất nước và khu vực; về thế giới nghề nghiệp, thị trường laođộng, hệ thống GD nghề nghiệp (TCCN và dạy nghề), CĐ, ĐH ở địa phương và
GD của GV Chẳng hạn khi dạy toán, hoá, vật lí, vẽ kỹ thuật, GV phải biết liên
hệ chúng với kỹ thuật công nghiệp và các nghề khác nhau mà chúng có liênquan; qua giảng dạy sinh học phải biết gắn bó với các nghề nông, lâm nghiệp,thuỷ sản và môi trường; qua giáo trình tiếng Việt và văn học phải chỉ rõ nó liênquan với nghề GV, nhân viên thư viện Điều này là rất khó, nên đòi hỏi ngườilãnh đạo thường xuyên đôn đốc, nhắc nhỡ GV bộ môn vừa trau dồi kiến thứcchuyên môn, vừa phải có kiến thức rộng về nghề nghiệp và phải có nghiệp vụ vềphương pháp GDHN
HN qua dạy lao động và dạy kỹ thuật tổng hợp, giáo viên phải cho HStiếp xúc với một số máy móc, thiết bị Dưới sự hướng dẫn ban đầu, hướng dẫnthường xuyên, hướng dẫn kết thúc của GV, HS được làm thử ra một số sảnphẩm có ích cho xã hội, từ đó hình thành được một số kỹ năng, kỹ xảo lao độngchung gắn với một số nghề, qua đó nảy sinh hứng thú và khuynh hướng nghề
Trang 37nghiệp Tổ chức các hoạt động ngoại khoá: sinh hoạt theo chủ đề như “Bạn sẽchọn nghề gì?”, “Tuổi trẻ và nghề nghiệp tương lai”, mời các chuyên gia giỏi,các nghệ nhân đến trường nói chuyện về nghề, tổ chức tham quan các cơ sở đàotạo, các cơ sở sản xuất, kinh doanh…
phương, về cơ sở sản xuất Tóm lại, thầy là người thiết kế, còn trò là người thi công - đó là phương pháp mới.
Một số quan điểm về đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động GDHN
- Chọn nghề là công việc hệ trọng của con người và của đời người
Với quan điểm này, đòi hỏi trong công tác GDHN, GV phải để HS nói lênđược nguyện vọng và hứng thú nghề nghiệp của mình, cùng HS tìm hiểu xu thếphát triển hệ thống nghề nghiệp của đất nước, những nhu cầu của hệ thống đó vềchất lượng và số lượng lao động, từ đó giúp HS điều chỉnh hành động chọnnghề
Trang 38- Xác định nguyên tắc “Tự học, tự hoàn thiện học vấn, tự hoàn thiện taynghề, tự tạo lấy việc làm” của HS trong GDHN.
Giáo viên dạy GDHN cần quán triệt nguyên tắc này bằng cách: Thông quaviệc giới thiệu cho HS những nghề cụ thể trong xu thế vận động, phát triển, đổimới liên tục về nội dung và phương pháp lao động Mặt khác, cũng cần GD cho
HS ý thức không trông chờ vào biên chế của Nhà nước, không dựa dẫm vào sựgiúp đỡ của người khác
- GDHN là một hoạt động chuẩn bị cho HS đi vào lao động nghề nghiệpThông qua các buổi hoạt động GDHN, HS thấy được những phẩm chấttâm lý - nghề nghiệp cần hình thành, từ đó các em có kế hoạch phấn đấu, tudưỡng để có được những phẩm chất nhân cách của người lao động trong nghề
mà mình yêu thích Mặt khác, các em cũng thấy được các chống chỉ định y học
để cân nhắc mình có theo đuổi nghề đó được hay không
- Sự phù hợp nghề trong một nhóm nghề
Trên thực tế có nhiều nghề gần giống nhau về nội dung và tính chất laođộng Vì vậy, thông qua GDHN, giáo viên cần chỉ ra cho HS được một người cóthể phù hợp với một nhóm nghề Do vậy, không chọn được nghề này thì chọnđược nghề khác cùng nhóm mà vẫn có thể thoả mãn những hứng thú mà vẫnphát huy được năng lực của mình
- Thông qua GDHN, mỗi HS sẽ thấy được xu thế phát triển được các nghềtrong xã hội để có định hướng chọn nghề không trái với xu thế đó
GDHN là một quá trình điều chỉnh liên tục và lựa chọn nghề của HS, giáodục HS về trách nhiệm và nghĩa vụ công dân trước yêu cầu phát triển sản xuất,phát triển kinh tế, xây dựng đất nước văn minh, giàu đẹp
1.2.4.4 Quản lý đội ngũ làm công tác hướng nghiệp
Đội ngũ tham gia công tác GDHN là chủ thể của quá trình hoạt động, baogồm nhiều lực lượng tham gia, trong đó giữ vai trò quan trọng hơn hết là đội ngũ
GV Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã
Trang 39khẳng định đội ngũ GV giữ vai trò quyết định chất lượng GD và được xã hội tônvinh Trong nền GD hiện đại, việc QL và đào tạo GV không những chỉ yêu cầudừng lại ở chỗ vững chuyên môn là đủ mà còn phải yêu cầu được đào tạo mộtlượng tri thức tương đối rộng, học sâu một số môn chuyên ngành, bên cạnh đóphải được trang bị thêm một số môn học khác để phục vụ việc GD toàn diện HS;được huấn luyện phương pháp và kỹ năng dạy học một cách chu đáo và thườngxuyên được trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp; thường xuyên được rèn luyệnnhân cách, đặc biệt là việc rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, phát triển tính cách,tăng cường ý thức của người GV, từ đó tạo sự ảnh hưởng của nhân cách GV đếnHS.
Để thực hiện tốt công tác GDHN, trong nhà trường PT hiện nay nhất thiếtphải xây dựng được lực lượng chuyên trách, hàng năm nhà trường cần có kếhoạch cử lực lượng này tham gia các chương trình tập huấn về chuyên mônnghiệp vụ do ngành tổ chức
Tham gia vào công tác GDHN còn có các tổ chức đoàn thể như: Đoànthanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam Đây là lực lượng có số lượngđông đảo và hùng hậu trong các trường PT, hoạt động của các tổ chức này phầnlớn gắn liền với các hoạt động phong trào, chính vì vậy nhà trường cần tạo điềukiện thuận lợi cho các tổ chức này hoạt động, tuy nhiên phải xây dựng được quichế phối hợp để đưa được các nội dung của công tác GDHN vào trong chươngtrình hoạt động của họ
Ngoài ra, do GDHN là một hệ thống các biện pháp GD của nhà trường, gia đình, xã hội Vì vậy, chủ thể tham gia công tác GDHN còn có nhiều lực
lượng khác như Hội CMHS, các tổ chức xã hội khác Nhà trường phải quan tâmđến việc xây dựng mối quan hệ phối hợp chặt chẽ với các tổ chức này để đem lạihiệu quả cao trong hiệu quả GD nói chung của nhà trường, trong đó có công tácGDHN
1.2.4.5 Quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động GDHN
Trang 40Các điều kiện phục vụ cho quá trình dạy học - GD nói chung gồm nhiềuloại, chung qui lại đó là CSVC - thiết bị dạy học và nguồn tài chính, trong đóCSVC và thiết bị dạy học là phương tiện lao động sư phạm của các nhà GD và
HS, nó là một trong những điều kiện thiết yếu để tiến hành quá trình dạy học
-GD trong nhà trường; thiếu điều kiện này thì quá trình đó không thể diễn rahoặc diễn ra ở dạng không hoàn thiện
Tuy nhiên, CSVC - thiết bị dạy học chỉ phát huy được tác dụng, nghĩa làlàm cho quá trình GD diễn ra có hiệu quả, nếu như nó thực sự trở thành mộtnhân tố của quá trình GD Là một nhân tố của quá trình GD thì CSVC - thiết bịdạy học phải phù hợp với các nhân tố khác như: mục đích, nội dung, phươngpháp và hình thức tổ chức GD Muốn hoạt động GDHN đạt hiệu quả cao nhàtrường vừa kết hợp việc tận dụng nguồn CSVC - thiết bị dạy học sẵn có với việclập kế hoạch trang bị mua sắm thêm cũng như các biện pháp bảo quản các thiết
bị đó để sử dụng có ý nghĩa và sử dụng lâu dài
1.2.4.6 Quản lí hoạt động học hướng nghiệp của HS
Thực chất là QL việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện của HStrong quá trình học tập thông qua việc kiểm tra đánh giá Kiểm tra, đánh giá làmột khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình GD
Nội dung chương trình GDHN đã được xây dựng thành những chủ đề cụthể trong từng tháng của mỗi năm học Mặc dù hiện nay việc kiểm tra đánh giákết quả HN đối với HS chưa được cụ thể hoá thành điểm số để tham gia vào việcđánh giá kết quả GD các mặt, nhưng để GDHN ngày càng có ý nghĩa thiết thựcthì cuối mỗi chủ đề sinh hoạt HN, GV cần đánh giá quá trình thu thập và xử líthông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS nhằm tạo cơ
sở cho các quyết định sư phạm của GV và nhà trường, cho bản thân HS để HShọc tập ngày càng tiến bộ hơn Đồng thời, qua đó nhà trường cũng đánh giá
được hiệu quả hoạt động GDHN diễn ra trong nhà trường như thế nào
1.2.5 Phương tiện truyền thông
1.2.5.1 Truyền thông (communication)