Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn: Lãnh đạo Huyện ủy, Ủy ban nhân dân và các phòng ban chuyên môn của huyện Củ Chi; Ban chỉ đạo phổ cập giáo dục của huyện Củ Chi và các xã, thị t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN HIẾU
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn đối với Ban giám hiệu, quý thầy cô Trường Đại học Vinh và Trường Đại học Sài Gòn; Quý thầy giáo, cô giáo đã trực tiếpgiảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập lớp Cao học Quản lý Giáo dục khóa 17 tại Đại học Sài Gòn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đối với TS Phan Quốc Lâm - Người thầy, Người hướng dẫn khoa học - đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn này
Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn: Lãnh đạo Huyện ủy, Ủy ban nhân dân và các phòng ban chuyên môn của huyện Củ Chi; Ban chỉ đạo phổ cập giáo dục của huyện Củ Chi và các xã, thị trấn; các Ông (Bà) Hiệu trưởng, cán bộ quản lý, giáo viên, công nhân viên ở các trường trên địa bàn huyện CủChi, thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ban cán sự lớp Cao học Quản lý Giáo dục khóa 17 và bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập,nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Dù bản thân tôi đã hết sức cố gắng, nhưng chắc chắn luận văn tốt nghiệp cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót, do đó rất mong nhận được nhiều ýkiến góp ý, chỉ dẫn và giúp đỡ của thầy cô và các bạn đồng nghiệp
Tác giả
Nguyễn Văn Hiếu
MỤC LỤC
Trang 3Trang phụ bìa Trang Lời cảm ơn
Mục lục
PHẦN MỞ ĐÀU 1
Chương 1: 5
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.2 Các khái niện cơ bản của đề tài 10
1.3 Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài 14
Kết luận chương 1 25
Chương 2: 27
CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Đặc điểm tình hình của thành phố Hồ Chí Minh 27
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, giáo dục và đào tạo của thành phố Hồ Chí Minh 27
2.1.2 Những thuận lợi – khó khăn cơ bản của công tác phổ cập giáo dục thành phố Hồ Chí Minh 34
2.2 Thực trạng công tác phổ cập bậc trung học tại thành phố Hồ Chí Minh 36
2.2.1 Thực trạng chung công tác phổ cập giáo dục tại thành phố Hồ Chí Minh 36
2.2.2 Thực trạng công tác phổ cập bậc trung học tại thành phố Hồ Chí Minh 40
2.3 Thực trạng công tác phổ cập bậc trung học tại huyện Củ Chi 41
2.3.1 Đặc điểm tình hình chung của huyện Củ Chi 41
2.3.2 Quy mô ngành giáo dục và đào tạo huyện Củ Chi 43
2.3.3 Thực trạng công tác phổ cập bậc trung học tại huyện Củ Chi 46
Trang 42.3.4 Khái quát nghiên cứu thực trạng công tác phổ cập bậc trung học
tại huyện Củ Chi 48
Kết luận chương 2 55
Chương 3: 56
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG PHỔ CẬP BẬC TRUNG HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 3.1 Các nguyên tắc của việc đề xuất một số giải pháp 56
3.2 Một số giải pháp 57
3.2.1 Giải pháp nâng cao nhận thức xã hội về công tác phổ cập bậc trung học 57
3.2.2 Giải pháp về giáo dục đào tạo 60
3.2.3 Giải pháp văn hóa - xã hội 74
3.2.4 Giải pháp kinh tế 75
3.3 Kết quả thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất 77
3.3.1 Khái quát về thăm dò 77
3.3.2 Kết quả thăm dò và phân tích mức độ cần thiết và khả thi của các giải pháp 78
Kết luận chương 3 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
Tài liệu tham khảo 85
Phụ lục 86
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 51 Lý do chọn đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo kiểm tracông nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2002 Vớiđiều kiện kinh tế - xã hội phát triển tương đối nhanh so với khu vực và cảnước, nhu cầu phổ cập bậc trung học nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dântrí, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao và cũng nhằm nâng cao chấtlượng cuộc sống cho người dân Thành phố trở nên cấp thiết Vì thế, cùng vớiviệc duy trì, củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổcập giáo dục trung học cơ sở, Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lầnthứ VIII (năm 2006) đã đề ra Nghị quyết về thực hiện phổ cập bậc trung họctại Tp Hồ Chí Minh, với mục tiêu toàn Thành phố đạt chuẩn phổ cập bậctrung học vào năm 2008
Phổ cập bậc trung học là mục tiêu quan trọng mà Đảng bộ và Chínhquyền Thành phố quyết tâm thực hiện sau khi hoàn thành mục tiêu phổ cậpgiáo dục trung học cơ sở, nhằm tạo tiền đề cơ bản để phát triển nguồn nhânlực có tri thức, đủ trình độ tiếp thu công nghệ mới trong lao động sản xuất,làm tăng năng suất và hàm lượng chất xám trong sản phẫm lao động Trên cơ
sở củng cố, duy trì, phát huy những thành quả đạt được, tiếp tục thực hiệnChỉ thị 61/CT-TW ngày 28/12/2000 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trungương Đảng và Nghị định số 88/2001/NĐ-CP ngày 22/11/2001 của Chính phủ
về thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tiến tới phổ cập bậc trung học,góp phần phát triển và nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡngnhân tài, đáp ứng yêu cầu cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, Ủyban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Chỉ thị số 17/2003/CT-UBngày 21/7/2003 về thực hiện phổ cập bậc trung học với mục tiêu: Nâng caohọc vấn cho người lao động thành phố từ 18 tuổi đến 21 tuổi đạt trình độ bậctrung học trước 2010; kết hợp phân luồng sau trung học, tạo cơ sở cho việc
Trang 6tiếp tục đổi mới cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêucầu phát triển kinh tế - xã hội trong những năm đầu thế kỷ XXI; phát huy cao
độ tính độc lập, năng động, sáng tạo, chuẩn mực nhân cách, đạo đức và bảnlĩnh chính trị của thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ViệtNam xã hội chủ nghĩa
Hiện nay, tuy thành phố Hồ Chí Minh đã đạt chuẩn phổ cập bậc trunghọc (theo chuẩn của Thành phố) nhưng chất lượng đạt chuẩn phổ cập bậctrung học tại các quận, huyện chưa đồng đều, tỷ lệ đạt chuẩn còn thấp, một sốđịa phương có lượng dân nhập cư hàng năm lớn có nguy cơ không duy trì đạtphổ cập bậc trung học trong những năm sắp tới Trước tình hình đó, việc tìmcác giải pháp có cơ sở khoa học, phù hợp với thực tiễn giáo dục của Thànhphố và có tính khả thi để quản lý và nâng cao chất lượng phổ cập bậc trunghọc của Thành phố là vấn đề cấp thiết Đó là lý do để chúng tôi chọn đề tài
“Một số giải pháp quản lý chất lượng phổ cập bậc trung học ở thành phố HồChí Minh”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp quản lý có cơ sở khoa học, có tính khả thinhằm nâng cao chất lượng công tác phổ cập bậc trung học ở thành phố HồChí Minh
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Vấn đề quản lý chất lượng phổ cập bậc
trung học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh;
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp quản lý nâng cao chất
lượng phổ cập bậc trung học ở thành phố Hồ Chí Minh
4 Giả thuyết khoa học
Trang 7Nếu đề xuất và thực hiện được một số giải pháp có cơ sở khoa học và
có tính khả thi thì có thể nâng cao được chất lượng phổ cập bậc trung học,góp phần nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực của thành phố Hồ ChíMinh
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài, xây dựng cơ sở lý luận của đề tài:
5.1.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài:
Khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng phổ cập bậc trung học tại cácquận huyện có khó khăn và thăm dò tính hiệu quả và tính khả thi của một số giảipháp quản lý chất lượng phổ cập bậc trung học ở thành phố Hồ Chí Minh
5.2 Phạm vi của đề tài: Đề tài nghiên cứu vấn đề trong phạm vi
huyện Củ Chi là một huyện vùng sâu, địa bàn dân cư rộng, có nhiều xã, thịtrấn nhất Thành phố (21 xã, thị trấn)
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu liên quan để xây dựng cơ
sở lý luận của đề tài
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Thực hiện các phiếu điều tra, khảo sát cán bộ quản lý, giáo viên, họcsinh, cha mẹ học sinh để tìm hiểu thực trạng công tác phổ cập giáo dục vàthực trạng của các giải pháp quản lý chất lượng phổ cập giáo dục hiện nay
- Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất.
6.3 Phương pháp sử dụng toán thống kê:
Để xử lý các số liệu thu được về định lượng
7 Các đóng góp mới của đề tài
Trang 88 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo,luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 3: Một số giải pháp
CHƯƠNG 1:
Trang 9CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu ở ngoài nước:
Trong các nước có nền giáo dục phát triển ở Châu Á thì Trung Quốc cónhiều điểm tương đồng với Việt Nam trong quan điểm thực hiện phổ cập giáodục; ở Việt Nam chúng ta thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo
dục trung học cơ sở thì ở Trung Quốc là “Giáo dục bắt buộc 9 năm”, “Trung
Quốc đã triển khai nhiều biện pháp chính trị để thực hiện gần như toàn diện chương trình đưa trẻ đến trường và đạt được tỷ lệ phổ cập giáo dục rất cao,
áp dụng một chương trình cho phép trẻ em ở các khu vực từ thành thị đến nông thôn được tiếp cận với giáo dục bắt buộc miễn phí trong vòng 9 năm đầu" ( trích phát biểu của ông Abhimanyu Singh, Giám đốc UNESCO tại
Trung Quốc) Vừa qua, Bộ Giáo dục Trung Quốc đã đưa ra “Đề cương Quyhoạch cải cách và phát triển giáo dục trung và dài hạn quốc gia năm 2010-2020”, kêu gọi hàng triệu người dân tham gia đóng góp ý kiến Theo đó, nướcnày phổ cập giáo dục nghĩa vụ một cách toàn diện, tỷ lệ phổ cập giáo dụctrung học đạt 90%, tỷ lệ hưởng chế độ giáo dục đại học và cao đẳng đạt 40%,
sẽ có 200 triệu người đạt trình độ văn hóa đại học
Các giải pháp chủ yếu của Chính phủ Trung Quốc để đạt được mục tiêunâng cao dân trí, hoàn thành phổ cập giáo dục 9 năm:
- Thực hiện chủ trương “Bình đẳng giới”:
Bình đẳng giới vốn rất xa lạ với người dân Trung Quốc từ ngàn xưa, tưtưởng trọng nam khinh nữ rất phổ biến trong các tầng lớp nhân dân ở TrungQuốc Nguyên nhân sâu xa của tình trạng bất bình đẳng giới này là do sự phânbiệt đối xử của cha mẹ đối với trẻ em gái, đặc biệt là ở các vùng nông thôncủa nước này Nhiều học sinh nữ không được đi học đến bậc trung học, đặc
Trang 10biệt, một số phụ huynh có con bị khuyết tật cũng không cho các em hoànthành cấp độ giáo dục bắt buộc
Chính phủ Trung Quốc cũng cho biết: Các mục tiêu cơ bản của bản Dựthảo trước đây đối với sự phát triển của phụ nữ Trung Quốc (2001 - 2010) đãđạt được, mặc dù sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ vẫn còn tồn tại trong
xã hội trong các lĩnh vực như: việc làm, tham gia chính trị hay các lĩnh vựcvăn hóa - nghệ thuật Khái niệm về bình đẳng giới đã được tuyên truyền rộngrãi và được chấp nhận bởi nhiều người hơn trong 10 năm qua Nhưng sốlượng phụ nữ tham gia trong việc quản lý và những vị trí có tính quyết định,còn tương đối thấp so với nam giới
Sự nghiệp giáo dục hiện đại của Trung Quốc đã được bắt đầu từ trướckhi xoá bỏ chế độ khoa cử phong kiến vào năm 1905, nhưng sự phát triểntoàn diện và quy mô mang tính toàn dân của nền giáo dục Trung Quốc chỉđược bắt đầu khi đất nước Trung Quốc mới được thành lập vào năm 1949.Trong hơn 50 năm qua, Chính phủ Trung Quốc vẫn tiếp tục phát huy truyềnthống chú trọng phát triển giáo dục từ ngàn xưa Đặc biệt, giáo dục TrungQuốc đã sớm có chủ trương huy động tối đa đối tượng là trẻ em gái ra lớphọc Được biết, năm 2005, Trung Quốc đã thông qua Luật Bảo vệ quyền vàlợi ích của phụ nữ, pháp luật cũng tập trung vào phúc lợi của phụ nữ
Theo Đề án phát triển nữ giới Trung Quốc từ năm 2011 đến năm 2020
do Hội đồng Nhà nước Trung Quốc đề ra, Chính phủ nước này cam kết sẽ nỗlực hết mình để phổ cập giáo dục tới 95% học sinh nữ trong 10 năm tới.Chính phủ sẽ miễn học phí cho tất cả trẻ em, đặc biệt là cho trẻ em gái - đốitượng có nhiều khả năng phải bỏ học
Bản Dự thảo kế hoạch của Chính phủ đã đặt ra mục tiêu để thúc đẩy tỷ
lệ nhập học của học sinh nữ đến 90% đối với trường trung học và 40% đối với
Trang 11các trường đại học vào năm 2020 Theo đó, tỉ lệ mù chữ của trẻ em nữ sẽgiảm xuống dưới 2%
- Chăm lo học sinh ở vùng sâu và các địa phương có nhiều khó khăn làm giảm khoảng cách giữa các vùng miền:
Chế độ Phổ cập giáo dục bắt buộc 9 năm, gồm 6 năm bậc tiểu học và 3năm bậc trung học cơ sở, phủ rộng tại 368/410 tỉnh và chương trình này bắtđầu vào năm 2004 Ở Trung Quốc, hầu hết các tỉnh khu vực núi cao, hẻo lánhvới những nhóm dân tộc khác nhau họ chỉ tiếp nhận giáo dục trung bình chỉ
có 6 -7 năm Để giúp trẻ em có cơ hội đến trường, chương trình tập trung
giảm bớt chi phí học tập, cung cấp các chi phí trong cuộc sống cho trẻ em
nghèo khổ, có chế độ ưu đãi để tuyển dụng nhiều giáo viên là sinh viên mới
tốt nghiệp và xây dựng trường có nhà ở dành cho học sinh xa nhà
- Có chế độ thu hút giáo viên công tác ở vùng sâu, miền núi:
Kể từ năm 2006, Chính phủ Trung Quốc tạo ra một quỹ đặc biệt nhằmkhuyến khích sinh viên tốt nghiệp đến dạy ở vùng sâu, vùng xa với thu nhậpđầu người là 15.000 nhân dân tệ Trong vòng 2 năm trở lại đây, có 33.000sinh viên tốt nghiệp đến giảng dạy tại các vùng chưa phát triển ở các tỉnh phíaTây
- Đầu tư ngân sách cho vùng khó khăn:
Từ năm 2004 - 2007, chính quyền trung ương đã cấp 10 tỷ nhân dân tệ(1,3 tỷ USD) để xây dựng 7.600 trường học có khu nhà ở cho 4 triệu học sinh
ở 953 tỉnh ở khu vực phía Tây Trong suốt quá trình thực hiện kế hoạch này,chính quyền trung ương và địa phương cấp 11 tỷ nhân dân tệ để xây dựngmạng lưới giảng dạy tại các vùng nông thôn Đến cuối năm 2010, hơn 100triệu học sinh tiểu học và trung học cơ sở ở vùng nông thôn sẽ nhận được tàinguyên giáo dục tương tự như học sinh ở các thành phố lớn Mỗi năm, ngân
Trang 12sách tài chính được cấp cho ngành giáo dục chiếm đến gần 14% tổng chi tàichính nhà nước, tương đương gần 3% GDP.
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước:
Hiện nay cả 63/63 tỉnh, thành phố trên cả nước đều đã được Bộ Giáodục và Đào tạo kiểm tra công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ
sở, các Thành phố trực thuộc trung ương có điều kiện kinh tế - xã hội pháttriển đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở đang triển khai thựchiện phổ cập bậc trung học, đề tài có nghiên cứu về quan điểm lý luận chungcủa công tác phổ cập giáo dục tại một số tỉnh, Thành phố trong nước, đặc biệt
là các Thành phố trực thuộc Trung ương như Hải Phòng, Đà Nẵng là cácThành phố thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục trong thời gian qua Kếtquả công tác phổ cập giáo dục trên cả nước nhìn chung là khả quan, có tácđộng tích cực đến phát triển kinh tế, xã hội ở các tỉnh, Thành phố, tuy nhiên,chất lượng chưa đồng đều giữa các tỉnh, Thành phố và giữa các quận, huyệntrong cùng tỉnh, Thành phố; tại hội nghị sơ kết công tác phổ cập giáo dục,Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển cho rằng, còn khoảng12% số huyện chưa đạt kết quả vững chắc, tỷ lệ đạt chuẩn ở mức không cao
Do sức ép về tiến độ (cả nước hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sởvào năm 2010) và số lượng, một số địa phương cố gắng thực hiện kế hoạchtrong điều kiện chưa thật đầy đủ, chưa quan tâm đến chất lượng phổ cập giáodục, kết quả đạt chưa cao, chưa bền vững, có thể dẫn đến nguy cơ mất chuẩn.Thực tế, cách làm thiên về tăng tỉ lệ huy động trẻ trong độ tuổi đi học bằngbiện pháp vận động học sinh tái hòa nhập học bổ túc văn hoá, trong khi điềukiện đảm bảo chất lượng còn rất hạn chế đã làm phát sinh nhiều khó khăn.Một số tỉnh có khó khăn trong quá trình thực hiện phổ cập giáo dục như KonTum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lai Châu, Sóc Trăng, Đắk Nông, Đồng Tháp
Trang 13Trong các tỉnh nêu trên thì tỉnh Đồng Tháp đã có nhiều nỗ lực trongviệc thực hiện công tác phổ cập giáo dục cho người dân vùng ngập lũ Sauđây là một số giải pháp mà tỉnh Đồng Tháp đã thực hiện:
- Giải pháp tuyên truyền, chính trị:
1 Thông tin, tuyên truyền, xác định rõ lợi ích của việc học tập kếthợp với biện pháp kinh tế, văn hóa - xã hội và giáo dục;
2 Cần có quy định xem việc hoàn thành chỉ tiêu phổ cập giáo dục là
một trong những tiêu chuẩn xem xét chi bộ, đảng bộ trong sạch vững mạnhcủa các địa phương
3 Trưởng ban chỉ đạo phổ cập giáo dục cấp huyện phải là Bí thư
huyện ủy, ở phường, xã, thị trấn cũng phải cơ cấu như thế để chỉ đạo tốt nhấtcông tác phổ cập giáo dục ở địa phương
4 Đề nghị chỉnh sửa một điểm trong Luật Nghĩa vụ quân sự (quy
định trình độ thanh niên phải tốt nghiệp trung học cơ sở mới đủ điều kiệnnhập ngũ)
- Giải pháp trong Giáo dục và Đào tạo:
1 Tiếp tục củng kết quả phổ cập giáo dục các cấp học bậc học
2 Duy trì sĩ số học sinh, giảm lưu ban, bỏ học nhằm nâng cao hiệuquả đào tạo
3 Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng và chuẩn về chấtlượng
4 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra
5 Xây dựng mạng lưới trường lớp vùng ngập lũ tỉnh Đồng Tháp
6 Điều chỉnh thời gian học tập của học sinh vùng ngập lũ
- Giải pháp kinh tế:
1 Thực hiện triệt để chính sách miễn giảm học phí ở cấp học trunghọc cơ sở
Trang 142 Quy định cụ thể các hình thức hỗ trợ các gia đình hiếu học và cácbiện pháp chế tài đối với các gia đình có học sinh bỏ học.
3 Cần có chế độ chính sách đúng và đủ cho ban chỉ đạo và cán bộchuyên trách phổ cập giáo dục, cho giáo viên dạy các lớp phổ cập giáo dục
4 Ưu tiên cho vay vốn, cho thuê đất đối với các cơ sở sản xuất,thương mại dịch vụ không tuyển lao động chưa tốt nghiệp trung học cơ sở
5 Nâng cao điều kiện sống và kinh tế cho người dân
6 Có kinh phí dự trữ để sửa chữa trường lớp ngay sau mỗi mùa lũ,đầu tư xây dựng lớp học nhà sàn, bè nổi để học sinh học trong mùa lũ và hỗtrợ con em nhân dân đi học
- Giải pháp văn hóa - xã hội:
1 Quan tâm đến công tác xã hội hóa giáo dục
2 Xây dựng đời sống văn hóa ở địa phương
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm “Phổ cập giáo dục”:
Phổ cập giáo dục là tổ chức việc dạy học nhằm nâng cao trình độ họcvấn cho toàn thể hay một tỉ lệ cao thành viên trong xã hội ở một độ tuổi nhấtđịnh, đều có một trình độ học vấn nhất định Khi pháp luật đã quy định đốitượng, độ tuổi và trình độ phổ cập giáo dục, trách nhiệm và nghĩa vụ của xãhội và cá nhân thì phổ cập giáo dục trở thành chế độ bắt buộc; theo Luật Giáodục 2009, tại khoản 2 và 3 của Điều 11 quy định “Mọi công dân trong độ tuổiquy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập” và “Gia đình
có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổiquy định được học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập”
1.2.2 Khái niệm “Phổ cập giáo dục trung học cơ sở” và “Phổ cập
bậc trung học”:
1.2.2.1 Phổ cập giáo dục trung học cơ sở:
Trang 15Phổ cập giáo dục trung học cơ sở là tổ chức việc dạy học nhằm đảmbảo cho hầu hết thanh thiếu niên đạt trình độ trung học cơ sở trước khi hếttuổi 18; một đơn vị cơ sở (phường, xã, thị trấn) được công nhận đạt chuẩnphổ cập giáo dục trung học cơ sở nếu đảm bảo tỷ lệ thanh thiếu niên trong độtuổi từ 15 đến 18 có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở từ 80% trở lên, tỷ lệ nàyđược gọi là tỷ lệ đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở (bên cạnh đó cònphải đảm bảo đạt các tiêu chuẩn khác về cơ sở vật chất, đội ngũ và tỷ lệ huyđộng vào lớp đầu cấp).
1.2.2.2 Phổ cập bậc trung học:
Phổ cập bậc trung học là tổ chức việc dạy học theo chương trình phổthông hoặc dạy nghề nhằm đảm bảo cho hầu hết thanh niên đạt trình độ trunghọc phổ thông, bổ túc trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp hoặc tốtnghiệp đào tạo nghề 3 năm trở lên trước khi hết tuổi 21 (như vậy yêu cầu mỗi
cá nhân được công nhận đạt chuẩn phổ cập bậc trung học không chỉ đạt trình
độ giáo dục phổ thông mà còn có thể đạt trình độ đào tạo nghề hoặc trung cấpchuyên nghiệp và vì thế trong các văn bản chỉ đạo từ Trung ương đều dùng
cụm từ “Phổ cập bậc trung học” mà không dùng “Phổ cập giáo dục bậc trung
học”); một đơn vị cơ sở được công nhận đạt chuẩn phổ cập bậc trung họccũng được quy định tương tự như công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục trunghọc cơ sở đã nêu trên
1.2.3 Khái niệm về quản lý:
Theo quan niệm của một số nhà khoa học Việt Nam thì quản lý là quátrình định hướng, quá trình tác động có mục tiêu đến hệ thống, những mụctiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mongmuốn Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý Dưới đây là một
số quan niệm chủ yếu:
Trang 16- Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêucủa từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội.
- Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổchức và phối hợp hoạt động của họ
- Đặc trưng cơ bản của quản lý là: tính lựa chọn, tính tác động có chủđịnh và khả năng làm giảm sự bất định, làm tăng tính tổ chức, tính ổn địnhcủa hệ thống
- Chức năng quản lý: là các dạng hoạt động được chuyên môn hóa, nhờ
đó mà chủ thể quản lý tác động lên đối tượng để thực hiện mục tiêu Các chứcnăng quản lý có tính chất độc lập tương đối, nếu tách riêng và sắp xếp theomột trình tự hợp lý sẽ tạo ra chu trình quản lý “Tổ hợp các chức năng quản lý,
sẽ tạo nên nội dung của quá trình quản lý nội dung lao động của đội ngũ cán
bộ quản lý là cơ sở cho sự phân công lao động quản lý giữa những người cán
bộ quản lý và là nền tảng để hình thành và hoàn thiện cấu trúc tổ chức sựquản lý
Theo quan niệm phổ biến hiện nay, quản lý là hệ thống gồm bốn chứcnăng:
- Kế hoạch hoá: là khâu đầu tiên của chu trình quản lý Nội dung chủyếu là xác định và hình thành mục tiêu đối với tổ chức; xác định và đảm bảochắc chắn về nguồn lực; lựa chọn phương án và biện pháp tối ưu để đạt mụctiêu
- Tổ chức: là chức năng được tiến hành sau khi lập xong kế hoạchnhằm chuyển hóa những ý tưởng được đưa ra trong kế hoạch thành hiện thực.Nhờ đó mà quan hệ giữa các bộ phận trong các tổ chức liên kết thành một cấutrúc chặt chẽ và nhà tổ chức có thể điều phối nguồn lực tốt hơn
- Chỉ đạo: là chức năng được thể hiện rõ trong nội hàm của khái niệmquản lý Sau khi lập kế hoạch và cơ cấu bộ máy, khâu vận hành, điều khiển hệ
Trang 17thống là cốt lõi của chức năng chỉ đạo Nội dung của chức năng này là liên kếtcác thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên họ nỗ lực, phấn đấu hoànthành nhiệm vụ được giao để đạt mục tiêu của tổ chức Nó kết nối, thẩm thấu
và đan xen vào hai chức năng trên
- Kiểm tra: là chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý Theo lýthuyết thông tin, kiểm tra nhằm thiết lập mối quan hệ ngược và là khâu khôngthể thiếu trong quản lý Kiểm tra để quản lý, muốn quản lý tốt thì phải kiểmtra Thông qua việc kiểm tra chủ thể quản lý đánh giá được thành tựu hoạtđộng của tổ chức, uốn nắn, điều chỉnh hoặc tự uốn nắn, tự điều chỉnh hoạtđộng cho đúng hướng
- Trong một chu trình cả bốn chức năng trên được thực hiện liên tiếp,đan xen vào nhau, phối hợp bổ sung cho nhau, tạo sự kết nối từ chu trình nàysang chu trình sau theo hướng phát triển Trong đó, yếu tố thông tin luôn giữvai trò xuyên suốt, không thể thiếu trong việc thực hiện chức năng và là cơ sởcho việc ra quyết định
1.2.4 Giải pháp, giải pháp quản lý chất lượng phổ cập bậc trung học
Khái niệm giải pháp:
Giải pháp là một biện pháp, một cách thức giải quyết một vấn đề trong một khoản thời gian nào đó nhằm đạt được mục tiêu nhất định.
Từ những vấn đề trình bày trên có thể đưa ra định nghĩa giải pháp quản
lý chất lượng phổ cập bậc trung học như sau:
“Giải pháp quản lý chất lượng phổ cập bậc trung học là hệ thống những cách thức cụ thể của nhà trường, của ngành giáo dục và của chính quyền địa phương tiến hành một cách đồng bộ tác động lên các đối tượng có liên quan nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục và nâng cao hiệu suất đào tạo tại các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông”.
Trang 181.3 Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài:
1.3.1 Đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về công tác phổ cập giáo dục:
Phổ cập giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược nângcao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài của Đảng và Nhà nước tatrong giai đoạn hiện nay; ngành giáo dục nước ta đã bắt đầu thực thi nhiệm vụchiến lược quan trọng này từ rất sớm, ngay sau khi nước nhà giành được độclập, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3.9.1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết, trong đó nhiệm vụchống nạn mù chữ được xếp thứ hai sau nhiệm vụ chống giặc đói
Ngày 8.9.1945, Chính phủ ban hành sắc lệnh thành lập Nha Bình dânhọc vụ quyết định thành lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bìnhdân buổi tối Việc học chữ quốc ngữ bắt buộc và không mất tiền cho tất cảmọi người Hạn trong một năm, toàn thể dân chúng Việt nam trên 8 tuổi phảibiết đọc, biết viết chữ quốc ngữ Toàn quốc kháng chiến bùng nổ ngày19.12.1946 Tại chiến khu Việt Bắc, Bác nói: “Diệt giặc dốt như diệt giặcPháp, dốt nát cũng là tên địch Địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm” (BáoCông Dân-LKIII-1948)
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta vẫn tiếp tục thực hiệnnhiệm vụ chiến lược đó một cách quyết liệt thể hiện qua nhiều chủ trương,đường lối để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân ta nhưChương trình " Xóa đói giảm nghèo", Chương trình 135, Chương trình "Bagiảm"…Các phong trào " Đền ơn đáp nghĩa", " Xây dựng nhà tình thương".Nhưng để thực hiện có hiệu quả và bền vững các chủ trương này không cógiải pháp nào khác là trang bị cho người lao động khả năng thích ứng với sựthay đổi, khả năng tự tìm việc làm, nghĩa là phải trang bị cho người lao động
Trang 19một tri thức văn hóa một trình độ nghề nghiệp nhất định để họ tự đi trên đôichân của mình.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hứa Đức Nhị chorằng: "Muốn phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo thành công chođồng bào dân tộc tiểu số, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, miền núi và hải đảotrước hết phải tiếp tục thực hiện và phát huy hiệu quả các chính sách hỗ trợgiảm nghèo Chính phủ và các địa phương cần tiếp tục ưu tiên đầu tư cơ sở hạtầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh; hỗ trợ về sinh kế cho hộnghèo thông qua trợ giúp các điều kiện và dịch vụ sản xuất, đào tạo nghề để
tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo Nhưng quan trọng hơn cả là
phải nâng cao trình độ dân trí, coi đây là điều kiện để xóa đói giảm nghèo bền vững Ngoài việc chú trọng trang bị kiến thức văn hóa cho đồng bào, các
địa phương cần xã hội hóa việc tổ chức dạy nghề, tăng đầu tư cơ sở vật chất,trang thiết bị cho cơ sở đào tạo nghề, thu hút giáo viên và xây dựng cơ cấunghề trên nền quy hoạch vùng sản xuất để sau khi học xong, người học tìmđược việc làm ngay Ngoài ra, cần chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ địaphương; duy trì việc luân chuyển, điều động cán bộ, cử cán bộ có trình độ vềcông tác tại địa bàn gắn với đẩy mạnh tuyên truyền để mỗi người dân có ýthức vươn lên thoát nghèo và làm giàu chính đáng"
Trong văn bản chỉ đạo thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở số7036/THPT ngày 10/10/1994 Bộ giáo dục và Đào tạo đã xác định: “Sự nângcao trình độ dân trí lên trung học cơ sở là điều kiện quan trọng để xây dựng xãhội có văn hóa, có kỷ cương, đảm bảo công bằng xã hội và hạnh phúc củanhân dân Đây cũng là điều kiện quan trọng để nước ta phát triển một cáchtoàn diện về kinh tế - xã hội, tiến kịp và hòa nhập các nước trong khu vực vàtoàn thế giới” Đặc biệt, Chỉ thị 61/CT-TW ngày 28/12/2000 của Bộ Chính trịBan chấp hành Trung ương Đảng về thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ
Trang 20sở đã khẳng định: “Bước vào thế kỷ XXI, chất lượng nguồn nhân lực giữ vai
trò quyết định trong việc phát huy nội lực, phát triển đất nước, hợp tác và cạnh tranh, hội nhập khu vực và quốc tế Điều đó đòi hỏi phải tiếp tục nâng cao học vấn người lao động Vì vậy, việc thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở giai đọan 2001-2010 có ý nghĩa chiến lược quan trọng nhằm góp phần phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Mục tiêu của phổ cập giáo dục trung học cơ sở là nâng cao mặt bằng dân trí một cách toàn diện, làm cho hầu hết công dân đến 18 tuổi đều tốt nghiệp trung học cơ sở, kết hợp phân luồng sau cấp học này, tạo cơ sở cho việc tiếp tục đổi mới cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…”
1.3.2 Sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Thành phố đối với chủ trương thực hiện phổ cập giáo dục:
Thực hiện Nghị quyết TW 2 - Khóa VIII về nâng cao dân trí, đào tạonhân lực, bồi dưỡng nhân tài và Chỉ thị 61-CT/TW ngày 28/12/2000 của BộChính trị về phổ cập giáo dục trung học cơ sở và phổ cập bậc trung học;Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh với Chương trình hành động 05/CTr-TU,
Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành Chỉ thị số
17/2003/CT-UB đã chỉ đạo thực hiện thành công phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi
và phổ cập trung học cơ sở hiệu quả, vững chắc vào năm 2002, góp phần nângcao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cuộc sống trong xã hội Trên cơ sở
ấy, Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ VIII đã đề ra nhiệm vụ phổ cập bậctrung học
Năm 1995, Thành phố được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận hoànthành chuẩn quốc gia về Chống mù chữ và Phổ cập giáo dục Tiểu học Pháthuy thành quả đạt được, một số địa phương bắt đầu triển khai thực hiện phổcập ở cấp học cao hơn, từ đó đòi hỏi có các điều kiện ban đầu cho nhiệm vụ
Trang 21phổ cập giáo dục trung học cơ sở, trước đó để định hướng và xác định chỉ tiêucông tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở, Ủy ban Nhân dân thành phố HồChí Minh đã ban hành Chỉ thị 40/CT-UB-NCVX ngày 03/10/1994 về thựchiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở trên địa bàn Thành phố.
Hướng dẫn 7036/THPT ngày 10/10/1994 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã được các cấp ủy Đảng và Chính quyền quán triệt, từ đó ban hành các kếhoạch thực hiện phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội của địa phương mình
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tp Hồ Chí Minh lần thứ VII xác định chỉtiêu hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở toàn thành vào năm 2002,cấp ủy Đảng và Chính quyền các cấp đã tăng cường chỉ đạo và đầu tư tậptrung hơn cho công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở Các quận, huyện,các trường học đều tích cực thực hiện phong trào chống lưu ban, hạn chế bỏhọc, huy động tối đa trẻ bỏ học ra lớp phổ cập Ngày khai giảng các lớp phổcập có sự động viên của cấp ủy, chính quyền địa phương, các ban ngành đoànthể Sự quan tâm này có tác dụng rõ rệt và đóng góp quyết định cho kết quảphổ cập giáo dục trung học cơ sở
Khi Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương ban hành Chỉ thị
61/CT-TW ngày 28/12/2000 về thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tiến tớiphổ cập bậc trung học và sau đó Chính phủ ban hành Nghị định 88/2001/NĐ-
CP về việc phổ cập giáo dục trung học cơ sở, Bộ Giáo dục và Đào tạo raQuyết định 26/2001/QĐ-BGDĐT về hướng dẫn thực hiện công tác phổ cậpgiáo dục trung học cơ sở và sau đó là Hướng dẫn 3420/THPT ngày 23/4/2003
về việc thực hiện phổ cập bậc trung học, các địa phương tại Tp Hồ Chí Minhcàng đẩy mạnh công tác phổ cập, xem đây như một chỉ tiêu công nhận Đảng
bộ trong sạch vững mạnh
Trang 221.3.3 Hệ thống các văn bản của Đảng và Nhà nước ta về công tác phổ cập giáo dục:
1.3.3.1 Các văn bản của trung ương:
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000;
- Nghị quyết số 41/2000/QH10 của Quốc hội về việc thực hiện phổ cậpgiáo dục trung học cơ sở
- Chỉ thị 61- CT/TW ngày 28/12/2000 của Bộ Chính trị về thực hiệnphổ cập giáo dục trung học cơ sở
- Hướng dẫn số 02/HD/KGTW của Ban Khoa giáo Trung ương hướngdẫn thực hiện Chỉ thị 61- CT/TW ngày 28/12/2000 của Bộ Chính trị về thựchiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở
- Nghị định số 88/2001/NĐ-CP ngày 22/11/2001 của Chính phủ vềthực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở
- Quyết định 26/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 5/7/2001 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo về ban hành qui định tiêu chuẩn, kiểm tra đánh giá công nhận phổcập giáo dục trung học cơ sở
- Văn bản số 3420/THPT ngày 23/4/2003 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
về việc thực hiện phổ cập bậc trung học
- Văn bản số 10819/GDTrH ngày 07/12/2004 của Bộ Giáo dục và Đàotạo về điều chỉnh tiêu chuẩn phổ cập bậc trung học
1.3.3.2 Các văn bản của thành phố Hồ Chí Minh ban hành:
- Chỉ thị số 17/2003/CT-UB ngày 21/7/2003 của Ủy ban nhân dânthành phố Hồ Chí Minh về việc thực hiện phổ cập bậc trung học
- Quyết định 301/2003/QĐ-UB ngày 22/12/2003 của Ủy ban nhân dânthành phố Hồ Chí Minh về quy định tạm thời chuẩn phổ cập bậc trung học
Trang 23- Quyết định 40/2006/QĐ-UBND ngày 14/3/2006 của Ủy ban nhân dânthành phố Hồ Chí Minh về quy định tạm thời chuẩn phổ cập bậc trung họccủa Thành phố giai đoạn 2006 - 2010.
- Quyết định 5164/QĐ-UBND ngày 27/10/2011 của Ủy ban nhân dânthành phố Hồ Chí Minh về quy định tạm thời chuẩn phổ cập bậc trung họctrên địa bàn Tp Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 - 2015
- Công văn số 753/GD-ĐT ngày 9/6/2003 và Văn bản 755/GD-ĐTngày 10/6/2003 của Sở Giáo dục - Đào tạo về XMC và PC TiH
- Văn bản số 300/GD-ĐT ngày 26/3/2003 và kế hoạch số 273/GD-ĐTngày 13/32003 của Sở Giáo dục và Đào tạo về việc thực hiện phổ cập bậctrung học
- Thông báo số 111/GD-ĐT ngày 10/2/2004 của Sở Giáo dục và Đàotạo về công tác phổ cập bậc trung học
- Công văn 1577/GĐ-ĐT ngày 17/11/2004 của Sở Giáo dục-Đào tạo vềviệc kiểm tra CMC và bổ túc tiểu học năm 2004
- Văn bản số 1548/GD – ĐT, ngày 11/10/2006 về Hướng dẫn kiểm tra
và thực hiện báo cáo tổng kết công tác phổ cập giáo dục năm 2006
- Công văn số 1548/GDĐT-TrH ngày 11/10/2006 của Sở Giáo dục vàĐào tạo về hướng dẫn kiểm tra và báo cáo kết quả phổ cập giáo dục năm2006;
- Công văn số 2246/GDĐT-TrH ngày 24/9/2007 của Sở Giáo dục vàĐào tạo về hướng dẫn kiểm tra và thực hiện báo cáo kết quả phổ cập giáo dụcnăm 2007;
- Công văn số 1822/GDĐT-TrH ngày 29/8/2008 của Sở Giáo dục vàĐào tạo về hướng dẫn kiểm tra và thực hiện báo cáo kết quả phổ cập giáo dụcnăm 2008;
Trang 24- Công văn số 2054/GDĐT-TrH ngày 23/9/2009 của Sở Giáo dục vàĐào tạo về hướng dẫn kiểm tra và thực hiện báo cáo kết quả phổ cập giáo dụcnăm 2009;
- Công văn số 1648/GDĐT-TrH, ngày 22/10/2010 của Sở Giáo dục vàĐào tạo về Hướng dẫn kiểm tra và thực hiện báo cáo tổng kết công tác phổcập giáo dục năm 2010
- Văn bản số 2748/GDĐT-TrH, ngày 01/11/2011 của Sở Giáo dục vàĐào tạo về Hướng dẫn kiểm tra và thực hiện báo cáo tổng kết công tác phổcập giáo dục năm 2011
1.3.3.3 Các văn bản về chế độ chính sách phổ cập bậc trung học:
- Thông tư 17/TT-LB ngày 27/7/1995 Liên Bộ LĐ TB và
XH-TC-GDĐT về chế độ trả lương dạy thêm giờ
- Văn bản số 12528/KH-TC ngày 13/11/2001 của Bộ GD-ĐT hướng
dẫn nội dung và mức chi phổ cập giáo dục trung học cơ sở
- Văn bản số 12354 TC/TCSN ngày 14/11/2002 của Bộ Tài chính vềnội dung và mức chi thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở
- Thông tư số 81/2003/TTLB/BTC-BGD&ĐT hướng dẫn nội dung,mức chi và quản lý kinh phí thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giáodục và đào tạo đến năm 2005
- Văn bản số 65/2003/TT/BTC ngày 2/7/2003 của Bộ Tài chính hướngdẫn quản lý kinh phí điều tra thống kê
- Văn bản số 2752/UB-VX ngày 13/8/2001 của Ủy ban nhân dân Tp
Hồ Chí Minh về định mức chi công tác phổ cập giáo dục và xoá mù chữ
1.3.4 Chính quyền địa phương triển khai thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phổ cập giáo dục:
Thực hiện Chỉ thị 61-CT/TW ngày 28/12/2000 của Bộ Chính trị về phổcập giáo dục trung học cơ sở và phổ cập bậc trung học; Thành ủy thành phố
Trang 25Hồ Chí Minh với Chương trình hành động 05/CTr-TU, Chỉ thị số17/2003/CT-UB ngày 21/7/2003 của Ủy ban nhân dân Thành phố về thựchiện phổ cập bậc trung học trên địa bàn Thành phố Ban chỉ đạo phổ cập giáodục Thành phố đã chỉ đạo thực hiện thành công phổ cập giáo dục tiểu họcđúng độ tuổi (hoàn thành năm 1998) và phổ cập trung học cơ sở hiệu quả,vững chắc vào năm 2002, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chấtlượng cuộc sống trong xã hội Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ VIII năm
2006 đã đề ra nhiệm vụ phổ cập bậc trung học, chỉ tiêu đến năm 2010 thànhphố đạt chuẩn phổ cập bậc trung học trên địa bàn toàn Thành phố
Các cấp chính quyền từ Thành phố đến quận, huyện, phường xã luônđưa việc quản lý chất lượng công tác phổ cập giáo dục vào chương trình côngtác hằng tháng, quý, năm; với nhận thức đúng đắn và có sự chỉ đạo chặt chẽcủa các cấp ủy đảng công tác phổ cập giáo dục ở các địa phương được thựchiện một cách đồng bộ có hiệu quả
Cơ cấu nhân sự trong ban chỉ đạo phổ cập giáo dục tại các địa phương
từ quận, huyện đến phường xã, thị trấn đều đồng bộ và thực hiện nhiệm vụmột cách có hiệu quả; trưởng ban chỉ đạo thông thường là một đồng chí trongcấp ủy và là phó chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp, có nơi khó khăn thì đảng
bộ phân công chính đồng chí bí thư nắm vai trò trưởng ban chỉ đạo Các thànhviên còn lại là phòng giáo dục và đào tạo giữ vai trò thường trực, các phòngtài chính kế hoạch, lao động thương binh và xã hội, quân đội, công an, hộicựu chiến binh, cựu giáo chức và các đoàn thể cùng tham gia ban chỉ đạo
Chế độ giao ban hàng tuần được thực hiện nghiêm túc, kế hoạch côngtác phổ cập giáo dục được bàn bạc công khai dân chủ và được triển khai cụthể, chi tiết thời gian tiến độ Đặc biệt, nhiều phường xã đã bố trí 2 hoặc 3 cán
bộ, giáo viên làm nhiệm vụ chuyên trách công tác phổ cập giáo dục, phối hợptốt với ban quản lý điều hành các ấp, khu phố nắm chắc tình hình dân cư trên
Trang 26địa bàn, ngăn chặn kịp thời các trường hợp học sinh bỏ học góp phần nângcao hiệu quả công tác phổ cập giáo dục trên địa bàn.
Các ban ngành đoàn thể là thành viên ban chỉ đạo phổ cập giáo dụccủa địa phương phối hợp tốt với ngành giáo dục và đào tạo địa phương trongcông tác phổ cập giáo dục Vai trò các tổ chức đoàn thể trong công tác phổcập giáo dục là rất quan trọng, trong quá trình vận động trẻ ra lớp thì hội phụ
nữ, hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên ở nhiều phường, xã đã phát huy đượcvai trò tổ chức của hội, từ vận động tuyên truyền đến hổ trợ học bổng (Hộiphụ nữ có học bổng Nguyễn Thị Minh Khai, Đoàn thanh niên có học bổngNguyễn Thái Bình, học bổng Nguyễn Đức Cảnh của Công đoàn giáo dục cácquận huyện và Công đoàn Giáo dục Thành phố…)
1.3.5 Nhận thức và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông trong việc thực hiện nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục:
Thành phố Hồ Chí Minh có 250 trường trung học cơ sở (công lập), 94trường trung học phổ thông (công lập) và 89 trường trung học cơ sở - trunghọc phổ thông (tư thục) tất cả các trường đều có ý thức trách nhiệm thực hiện
kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công từ việc vận độnghọc sinh ra lớp, tổ chức tiếp nhận học sinh cho đến việc duy trì sĩ số và khôngngừng nâng cao chất lượng dạy học nhằm đạt kết quả cao nhất trong các kỳthi cuối cấp
Trong những năm qua, tỷ lệ huy động trẻ hoàn thành chương trình tiểuhọc vào lớp 6 luôn đạt trên 98%, nhiều quận huyện có tỷ lệ huy động đạt100%, hiệu suất đào tạo bình quân toàn Thành phố đạt 94%; theo kết quả tổngkiểm tra hồ sơ kỹ thuật công tác phổ cập giáo dục ngày 06/01/2011 thì tỷ lệđạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010 đạt 93.92%; ở cấptrung học phổ thông tuy tỷ lệ huy động và hiệu suất đào tạo có thấp hơn so
Trang 27với cấp trung học cơ sở nhưng chất lượng phổ cập bậc trung học trên địa bànThành phố vẫn duy trì đạt chuẩn trong 2 năm qua, các quận nội thành tỷ lệhuy động học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học bậc trung học (trunghọc phổ thông, bổ túc trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp hoặctrung cấp nghề) luôn đạt trên 95% các huyện ngoại thành đạt trên 85%; dân sốtrong độ tuổi từ 18 đến 21 tuổi có bằng tốt nghiệp bậc trung học đạt 83.78%(phụ lục kết quả kiểm tra năm 2010) Có được kết quả phổ cập giáo dục trunghọc cơ sở khả quan như hiện nay một phần là do tình hình kinh tế - xã hội củaThành phố phát triển nhanh, đời sống người dân được nâng lên, nhu cầu họctập của trẻ em tăng cao, điều kiện dành cho trẻ đến trường ngày càng tốthơn… nhưng phần lớn là do chất lượng đồng đều của hệ thống trường lớp tạithành phố Hồ Chí Minh, các trường không ngừng đổi mới toàn diện từ trangthiết bị dạy học đầy đủ, hiện đại, công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý,giáo viên được chú trọng, từng giáo viên có kế hoạch tự bồi dưỡng, tìm tòihọc hỏi để nâng cao tay nghề cho đến việc huy động các nguồn lực cho sựphát triển bền vững của nhà trường tất cả được thực hiện một cách đồng bộtạo ra kết quả giáo dục của Thành phố luôn ổn định ở tầm cao.
1.3.6 Vai trò của gia đình mỗi học sinh:
Gia đình có tầm rất quan trọng trong quá trình học tập của trẻ, nhậnthức của cha mẹ học sinh có quyết định đến nhận thức của học sinh, thực tếcho thấy hầu hết các em học sinh nghỉ bỏ học giữa chừng hoặc học tập kếtquả yếu kém dẫn đến chán nản bỏ học đều là con em của những gia đìnhkhông có truyền thống hiếu học, một bộ phận cha mẹ học sinh cho rằng chỉcần học hết cấp trung học cơ sở là được rồi học thêm chỉ tốn kém mà cũngchẳng đi đến đâu, đặc biệt là ở các quận vùng ven và ngoại thành thì tư tưởngnày khá phổ biến khi con em họ chỉ cần học hết lớp 9 là có thể xin việc làm ởcác khu chế xuất, khu công nghiệp và đúng là khi học hết lớp 12 hoặc nghỉ
Trang 28học giữa chừng cấp trung học phổ thông thì khi đi làm cũng không có gì khác
so với các bạn chỉ học đến lớp 9 Do vậy, với những gia đình có nhận thứckiểu “mì ăn liền” là một trong những khó khăn cho cán bộ chuyên trách phổcập giáo dục các địa phương khi phải vận động các em đã đi làm ra lớp phổcập ban đêm
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong các tỉnh, thành phố phát triểnnhất nước, chính quyền Thành phố năng động, có nhiều sáng tạo trong quátrình xây dựng và phát triển, đặc biệt là đã đi đầu trong các phong trào xã hội:Đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nhà tình thương… cho đếncác chương trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất cho từng quận huyện khuyếnkhích người dân sáng tạo làm giàu cho gia đình và giúp đỡ người nghèo vươnlên thoát nghèo; theo tiêu chí của cả nước (thu nhập đầu người từ 4triệu/người/năm) thì thành phố Hồ Chí Minh không còn hộ nghèo, số hộnghèo theo tiêu chí mới của Thành phố (12 triệu/người/năm) là còn gần96.000 hộ, tỷ lệ hộ nghèo gần 5.3% Chính nhờ cuộc sống gia đình ổn định,cha mẹ có việc làm nên số trẻ nghỉ bỏ học hằng năm giảm đáng kể
Trang 29KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về công tác phổ cậpgiáo dục rất nhất quán, xác định rõ mục tiêu cần đạt được trong từng giai đoạnphát triển của đất nước; với hệ thống văn bản chỉ đạo xuyên suốt từ Trungương đến tỉnh, thành phố như hiện nay thì việc hoàn thành nhiệm vụ nâng caodân trí, đạt chuẩn phổ cập bậc trung học ở các thành phố trực thuộc Trungương là hoàn toàn khả thi Tại thành phố Hồ Chí Minh, với vai trò là mộttrung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục và khoa học kỹ thuật lớn của cả nước thìviệc tiếp nhận và triển khai thực hiện chủ trương của Trung ương về phổ cậpbậc trung học còn thuận lợi hơn Với truyền thống năng động, sáng tạo và đổimới mạnh mẽ, Đảng bộ và Chính quyền Thành phố đã ban hành nhiều nghịquyết, chỉ thị, chương trình hành động và các quyết định… đã cụ thể hóađược quyết tâm đạt được mục tiêu phổ cập bậc trung học toàn Thành phố vàonăm 2008 của Đảng bộ và Chính quyền Thành phố Để đạt được mục tiêunày, lãnh đạo Thành phố đã có nhiều giải pháp phát huy được sức mạnh tổnghợp từ các lực lượng xã hội và huy động tối đa các nguồn lực từ quần chúngnhân dân để chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Thành phố Với
sự quan tâm đầu tư của Đảng bộ và Chính quyền Thành phố cùng với tinhthần hiếu học của người dân, ngành Giáo dục và Đào tạo Thành phố cũng đã
có nhiều giải pháp hiệu quả trong chỉ đạo thực hiện công tác phổ cập giáo dụccác cấp học trong thời gian qua
Tóm lại, có chủ trương đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước vềcông tác phổ cập giáo dục, có sự chỉ đạo quyết liệt từ Thành ủy và Ủy banNhân dân thành phố Hồ Chí Minh, sự đồng thuận của các ban ngành đoàn thể
và tinh thần chịu thương, chịu khó, hiếu học của nhân dân Thành phố thìngành Giáo dục và Đào tạo Thành phố có đủ điều kiện để hoàn thành nhiệm
vụ được lãnh đạo và nhân dân Thành phố giao phó, đó là: Hoàn thành phổ cập
Trang 30bậc trung học trên địa bàn toàn Thành phố; nâng cao trình độ văn hóa củangười dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triểncủa Thành phố và cung ứng nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước.
Trang 31Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằngsông Cửu Long, địa hình Thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tâysang Đông Vùng cao nằm ở phía Bắc - Đông Bắc và một phần Tây Bắc,trung bình 10 đến 25 mét Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 métnhư đồi Long Bình ở quận 9 Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía Nam - TâyNam và Ðông Nam Thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi thấpnhất 0,5 mét Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2,toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình, khoảng 5 tới 10mét.
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, thành phố Hồ ChíMình có nhiệt độ cao đều trong năm và hai mùa mưa – khô rõ rệt Mùa mưađược bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11, còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4
Trang 32năm sau Trung bình, thành phố Hồ Chí Minh có 160 tới 270 giờ nắng mộttháng, nhiệt đó trung bình 27 °C, cao nhất lên tới 40 °C, thấp nhất xuống13,8 °C Hàng năm, Thành phố có 330 ngày nhiệt độ trung bình 25 tới 28 °C.Lượng mưa trung bình của Thành phố đạt 1.949 mm/năm, trong đó năm 1908đạt cao nhất 2.718 mm, thấp nhất xuống 1.392 mm vào năm 1958 Một năm,
ở Thành phố có trung bình 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các tháng
từ 5 tới 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9 Trên phạm vi khônggian Thành phố, lượng mưa phân bố không đều, khuynh hướng tăng theo trụcTây Nam – Ðông Bắc Các quận nội thành và các huyện phía Bắc có lượngmưa cao hơn khu vực còn lại
Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là giómùa Tây – Tây Nam và Bắc – Ðông Bắc Gió Tây – Tây Nam từ Ấn ĐộDương, tốc độ trung bình 3,6 m/s, vào mùa mưa Gió Gió Bắc – Ðông Bắc từbiển Đông, tốc độ trung bình 2,4 m/s, vào mùa khô Ngoài ra còn có gió tínphong theo hướng Nam – Đông Nam vào khoảng tháng 3 tới tháng 5, trungbình 3,7 m/s Có thể nói thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gióbão Cũng như lượng mưa, độ ẩm không khí ở Thành phố lên cao vào mùamưa, 80%, và xuống thấp vào mùa khô, 74,5% Trung bình, độ ẩm không khíđạt bình quân/năm 79,5%
2.1.1.2 Về tình hình kinh tế - xã hội
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ,thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích2.095,01 km² Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm 0 giờngày 1 tháng 4 năm 2009 thì dân số Thành phố là 7.162.864 người (chiếm8,34% dân số Việt Nam, trong đó khu vực nội thành chiếm 3 triệu người; khuvực nội thành mới phát triển - gồm cả một số quận mới được thành lập -khoảng 2,5 - 2,8 triệu người; và khoảng 1,4 - 1,7 triệu người sống ở khu vực
Trang 33ngoại vi Thành phố Dân cư hầu hết là dân tộc Kinh; một số ít dân tộc Hoa,Chăm, Khơme, Nùng,… trong đó, dân tộc Hoa đông nhất, có trên nửa triệungười, sống tập trung ở các quận 5, 6, 8, 10, 11 và Tân Bình), mật độ trungbình 3.419 người/km² Đến ngày 1/4/2010 theo số liệu của Tổng cục Thống
kê, dân dố Thành phố tăng lên 7.382.287 người Tuy nhiên nếu tính nhữngngười cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của Thành phố vượt trên 8 triệungười Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân Thành phố, năm 2011, mặc dù tìnhhình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, kinh tế trong nước gặp nhiều khókhăn, thách thức, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất kinh doanh và đời sốngcủa người dân Tuy nhiên, Thành phố đã nỗ lực thực hiện các mục tiêu, nhiệm
vụ và chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội của năm đạt nhiều kết quảkhá tốt Tăng trưởng GDP cả năm ước đạt 10,3%, cao hơn 1,7 lần so với cảnước; trong đó khu vực dịch vụ tăng 10,8%, chiếm 53% GDP; công nghiệp vàxây dựng tăng 9,9%, chiếm 46% GDP; nông nghiệp tăng 5%, chiếm 1%GDP Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 458.677 tỷđồng, tăng 23,25% so với cùng kỳ; xuất khẩu đạt trên 27 tỷ đô la Mỹ, tăng19,7% so với cùng kỳ; lượng khách quốc tế đến Thành phố đạt khoảng 3,6triệu lượt, tăng 16%
Cũng trong năm 2011, Thành phố đã giải quyết việc làm cho trên265.000 lao động; tiếp tục giảm tỉ lệ hộ nghèo xuống còn 5,3% tổng số hộ dânThành phố, với 96.744 hộ có thu nhập bình quân dưới 12 triệuđồng/người/năm Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, Tp HồChí Minh chiếm 20,2 % tổng sản phẩm và 27,9 % giá trị sản xuất công nghiệpcủa cả quốc gia, Tốc độ tăng GDP năm 2010 trên địa bàn Thành phố ước đạt289.550 tỷ đồng (giá thực tế), tăng gần 11% (năm 2008 tăng 12,2%; năm
2009 tăng 12,6%) GDP bình quân hàng năm là hơn 10%, kim ngạch xuấtkhẩu hàng hóa hàng năm tăng hơn 15% Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi,
Trang 34thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng củaViệt Nam và Đông Nam Á, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thủy vàđường không
2.1.1.3 Về giáo dục và đào tạo
thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình hànhđộng theo Chỉ thị số 03/CT-TU của Thành ủy về chấn chỉnh và nâng cao chấtlượng, hiệu quả công tác giáo dục đào tạo Thành phố và chương trình xâydựng xã hội học tập giai đoạn 2006 - 2010 và những năm tiếp theo; Lãnh đạo
Tp Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm tới lãnh vực giáo dục và đào tạo, nhậnthức phát triển giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là đòn bẩy để pháttriển kinh tế, xã hội; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Ngành Giáodục Tp Hồ Chí Minh ngày càng khẳng định vai trò trung tâm của mình, côngtác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực đã phát triển theo chiều hướng ngàycàng gia tăng, số lượng đào tạo thường năm sau cao hơn năm trước; loại hìnhđào tạo cũng đa dạng, cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư; số lượng trườnghọc các cấp trên địa bàn tăng nhanh theo đà phát triển kinh tế
Từ năm 1995, Thành phố đã đạt tiêu chuẩn xoá mù chữ và phổ cập tiểuhọc, đến năm 2002 được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận hoàn thành phổcập giáo dục trung học cơ sở và năm 2008, được công nhận đạt chuẩn phổ cậpbậc trung học (theo chuẩn của Thành phố) và trở thành địa phương đầu tiêntrong cả nước đạt được chuẩn này
Trang 35Quy mô của ngành giáo dục và đào tạo thành phố
* Số liệu về trường học các ngành học, bậc học trong 5 năm:
(tính đến thời điểm 31/12/2009)
Năm học 2005-2006
Năm học 2006- 2007
Năm học 2007- 2008
Năm học 2008- 2009
Năm học 2009- 2010
Trang 36* Số liệu về học sinh các ngành học, bậc học trong 5 năm:
(tính đến 31/12/2009)
Năm học 2005- 2006
Năm học 2006- 2007
Năm học 2007- 2008
Năm học 2008- 2009
Năm học 2009- 2010
A.Mầm non 188.019 204.696 229.655 241.966 346.8691.Nhà trẻ 28.300 32.267 35.891 37.219 48.595Ngoài công lập (51.3%)14.511 (57.6%)18.597 (55.4%)19.869 (58.0%)21.912 (28.8%)13.9832.Mẫu giáo 159.719 172.429 193.764 204.747 298.274Ngoài công lập (40.4%)64.508 (43.4%)74.896 (42.0%)81.419 (45.0%)93.279 109.913(36.9)B.Phổ thông 890.279 909.494 906.921 944.367 968.3361.Tiểu học 410.049 418.833 418.257 434.569 472.012Ngoài công lập 14.397(3.5%) 17.368(4.1%) 20.948(5.0%) 19.818(4.0%) 15.1342.THCS 315.451 322.600 321.702 327.927 312.581Ngoài công lập (15.6%)49.089 (12.9%)41.660 31.218(9.7%) 32.348(9.0%) 11.4753.THPT 164.779 168.061 166.962 181.871 183.743Ngoài công lập (46.5%)76.598 (44.3%)74.390 (41.1%)68.682 (35.0%)64.130 30.823CỘNG (A+B) 1.078.298 1.114.190 1.136.576 1.186.333 1.315.205Trong đó: tổng
số HS diện nhập
cư (KT3+KT4)
170.716(15.8%)
179.487(16.1%)
173.868(15.3%)
142.562(12.02%)
149.935(11.4%)
Trang 37* Cơ cấu giáo viên:
T
T Giáo viên
Công lập công lập Ngoài Giáo viên nữ Đảng viên
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượn g
Trang 382.1.2 Những thuận lợi - khó khăn cơ bản của công tác phổ cập giáo dục Thành phố
2.1.2.1 Thuận lợi:
Công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở được sự quan tâm sâu sát,chỉ đạo chặt chẻ từ Trung ương đến địa phương, thể hiện qua hệ thống cácvăn bản như Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã đề ra mục tiêu cả nướchoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010; tiếp đó là Chỉ thị
số 61-CT/TW ngày 28/12/2000 của Bộ Chính trị về thực hiện phổ cập giáodục trung học cơ sở; Tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa X đã ra Nghị quyết41/2000/QH10 về thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở; Nghị định88/2001/NĐ-CP ngày 22/11/2001 của Chính phủ về thực hiện phổ cập giáodục trung học cơ sở
Tại thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự chỉ đạo của Thành ủy và Ủy banNhân dân, các điều kiện về kinh tế xã hội phát triển rất nhanh, cơ sở hạ tầng
kỹ thuật cũng được đầu tư nâng cấp, đặc biệt là từ năm 1999 “năm giáo dục”mỗi năm Thành phố dành kinh phí xây mới hơn 1.000 phòng học (ngân sáchđầu tư xây dựng trường lớp chiếm 20% tổng ngân sách xây dựng cơ bản củaThành phố), tạo điều kiện huy động hầu hết trẻ em trong độ tuổi phổ cập đếntrường, không phân biệt trẻ có hộ khẩu tại Thành phố hay không có, tất cả các
em đều được đến trường Trên nền tảng vững chắc của phổ cập giáo dục tiểuhọc đúng độ tuổi Thành phố đã triển khai thực hiện công tác phổ cập giáo dụctrung học cơ sở từ những năm cuối thập niên 90 và đã được Bộ Giáo dục vàĐào tạo kiểm tra công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở vàotháng 12/2002
Công tác phổ cập được xem là một chỉ tiêu quan trọng trong nghị quyếtđại hội Đảng các cấp, mỗi quận huyện đề có nghị quyết chuyên đề về công tác
Trang 39phổ cập giáo dục, từ đó cả hệ thống chính trị các cấp đều tham gia tích cựcvào công tác phổ cập giáo dục tại địa phương mình Một số quận, huyệnTrưởng ban chỉ đạo phổ cập giáo dục phường, xã, thị trấn do Bí thư đảng ủylàm trưởng ban (thường Trưởng ban là Phó chủ tịch Uỷ ban Nhân dânphường, xã, thị trấn).
2.1.2.2 Khó khăn:
Dân số tăng cơ học nhanh làm cho một số quận huyện găp khó khăntrong việc nâng cao chất lượng giáo dục, giảm sĩ số học sinh/lớp theo yêu cầuphát triển của ngành giáo dục Thành phố; tăng dân số cơ học còn gây khókhăn cho công tác điều tra cập nhật dân số trong độ tuổi phổ cập, các khucông nghiệp và khu chế xuất có lượng công nhân từ các tỉnh về làm việc khálớn, hầu hết các lao động ở đây đều đăng ký tạm trú ngắn hạn, thu nhập thấpnên ít quan tâm việc học của con em họ Một số quận mới do giải tỏa, tái định
cư phục vụ xây dựng khu đô thị mới cũng làm biến động dân cư khá lớn, ảnhhưởng đến công tác điều tra, cập nhật dân số trong độ tuổi đi học hàng nămcủa cán bộ chuyên trách phổ cập giáo dục của các địa phương này
Chế độ chính sách cho giáo viên làm công tác phổ cập không khuyếnkhích được đội ngũ này gắn bó lâu dài với công việc, một vài quận huyệnphải thường xuyên bổ sung thay thế cán bộ chuyên trách phổ cập
Sự phối hợp các lực lượng xã hội trong công tác phổ cập giáo dục ởmột vài địa phương chưa thật sự tốt, đa số ban chỉ đạo phổ cập các cấp phảikiêm nhiệm nhiều chức danh khác nên thời gian dành cho công tác phổ cậpchưa thỏa đáng, chưa mang lại hiệu quả mong muốn
Trang 402.2 Thực trạng công tác phổ cập bậc trung học tại thành phố Hồ Chí Minh.
2.2.1 Thực trạng chung công tác phổ cập giáo dục tại thành phố Hồ Chí Minh:
Kể từ ngày giải phóng Miền nam thống nhất đất nước, cán bộ và nhândân Thành phố đã kiên trì thực hiện chống mù chữ và phổ cập giáo dục Chỉtính trong 3 năm 1975 – 1978 Thành phố đã xóa mù chữ cho 93.000 ngườitrong độ tuổi 15 – 45 và đã huy động hàng năm hơn 400.000 trẻ trong độ tuổi
6 – 14 đi học ở các trường lớp chính quy hoặc các lớp phổ cập Khó khăn nhấttrong công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở là đa số đối tượng là lao độngphụ giúp kinh tế trong gia đình, khi các em đã bỏ học thì rất khó huy động các
em ra lớp trở lại, việc duy trì sĩ số ở các lớp phổ cập càng khó khăn hơn
Theo số liệu điều tra, dân số Thành phố đã tăng từ 5.100.000 ngườinăm 1998 lên 7.123.340 người vào tháng 4 năm 2009 Đối tượng phổ cậpgiáo dục trung học cơ sở tuổi từ 11 đến 18 tuổi khoảng 542.898 người và243.941 người trong độ tuổi phổ cập bậc trung học, độ tuổi từ 18 đến 21 (chỉtính trẻ trong độ tuổi phổ cập trung học cơ sở và phổ cập bậc trung học có hộkhẩu tại Thành phố hoặc KT3) Dân cư Thành phố, ngoài người Kinh chiếm
tỷ lệ đa số, còn có một số dân tộc như Hoa, Chăm, Khơme, Nùng… trong đó,dân tộc Hoa có trên 500.000 người, sinh sống tập trung ở các quận 5, 6, 8, 11
- Về quy mô trường lớp, học sinh:
+ Quy mô trường lớp: trên địa bàn Thành phố hiện có: 476 trường tiểu
học, 264 trường trung học cơ sở, 150 trường trung học phổ thông và 30 trungtâm giáo dục thường xuyên;
+ Quy mô học sinh: cấp tiểu học hiện có 472.012 học sinh; cấp trung
học cơ sở hiện có 312.581 học sinh (so với 10 năm trước tăng hơn 40%), nămhọc 2009 - 2010 huy động được 98% học sinh tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6 ở