1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lý chất lượng dạy học môn giáo dục thể chất cho sinh viên hệ không chuyên trường đại học quảng nam

112 1,3K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp quản lý chất lượng dạy học môn giáo dục thể chất cho sinh viên hệ không chuyên trường đại học quảng nam
Tác giả Hồ Viết Ánh
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hợi
Trường học Trường Đại Học Quảng Nam
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 17/04/93 Liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục TDTT đã raThông tư Liên Bộ số 04/04/GDĐT-TDTT về việc đẩy mạnh và nâng cao chấtlượng GDTC trong sinh viên, đưa hoạt động ngoại khóa TD

Trang 1

Trang phụ bìa BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HỒ VIẾT ÁNH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN HỆ KHÔNG CHUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục

Mã số: 60.14.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Ngọc Hợi

Vinh, năm 2010

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau hơn 2 năm nghiên cứu nghiêm túc, khẩn trương, dưới sự giúp đỡtận tình của PGS.TS Nguyễn Ngọc Hợi (Trường Đại học Vinh) luận văn cơbản được hoàn thành

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Ngọc Hợi đã trực tiếphướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn các Giáo

sư, Tiến sĩ, các thầy phản biện, cảm ơn tập thể các thầy giáo, cô giáo khoa sauđại học Trường Đại học Vinh đã giảng dạy, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôitrong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám Hiệu, các Thầy, Côgiáo, cán bộ - công nhân viên và tập thể cán bộ giáo viên Tổ GDTC- QPTrường Đại học Quảng Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiệncác nhiệm vụ nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn tập thể học viên lớp K16 - Quản lý giáo dục,khóa học 2008 – 2010 đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi có được kết quảnày

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân đã ủng hộ tôi vềmọi mặt trong quá trình học tập và thực hiện thành công luận văn này

Nghệ An, ngày 25 tháng 10 năm 2010

TÁC GIẢ

Hồ Viết Ánh

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa 1

Lời cảm ơn 2

Mục lục 3

Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn 4

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 7

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 7

4 Giả thuyết khoa học 7

5 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 8

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Những đóng góp mới của đề tài 9

8 Cấu trúc của luận văn 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 10

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 10

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 22

1.3 Một số vấn đề lý luận có liên quan đến công tác GDTC 33

Kết luận chương 1 42

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC 44

2.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của Trường 44

2.2 Thực trạng chất lượng dạy học môn GDTC 47

Kết luận chương 2 71

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ .73

3.1 Những nguyên tắc của việc đề xuất các giải pháp 73

3.2 Một số giải pháp quản lý chất lượng dạy học môn GDTC 75

3.3 Thăm dò tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp 86

Kết luận chương 3 90

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91

1 Kết luận 91

2 Kiến nghị 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC 99

Trang 5

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng và Nhànước ta luôn coi trọng vị trí của công tác TDTT đối với thế hệ trẻ xem đó làđộng lực quan trọng, khẳng định cần có chính sách GD - ĐT cho thế hệ trẻViệt Nam phát triển hài hoà về các mặt thể chất, tinh thần, trí tuệ và đạo đức

Ngày 17/04/93 Liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục TDTT đã raThông tư Liên Bộ số 04/04/GDĐT-TDTT về việc đẩy mạnh và nâng cao chấtlượng GDTC trong sinh viên, đưa hoạt động ngoại khóa TDTT vào trườnghọc để phát động phong trào luyện tập rộng khắp trong nhà trường các cấpvới mục tiêu: “Mỗi sinh viên, học sinh biết chơi một môn thể thao”.[ 30]

Ngày 24/03/1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra chỉ thị

36/CT-TW về công tác TDTT trong giai đoạn mới hiện nay, với một trong các chỉtiêu cần phải phấn đấu là: “…Thực hiện GDTC trong tất cả các trường học.Làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết họcsinh, sinh viên…”[2]

Thật vậy, công tác giáo dục thể chất (GDTC) và hoạt động TDTT trongcác trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp là một mặt giáodục quan trọng không thể thiếu được trong sự nghiệp GD - ĐT góp phần thựchiện mục tiêu: Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài cho đấtnước để đáp ứng nhu cầu đổi mới sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội

Nhà trường là cơ sở quan trọng để giáo dục và phát triển con người.Mục đích của GDTC cho HS - SV là góp phần đào tạo những chuyên gia cótrình độ cao, có tri thức khoa học, những công nhân có tay nghề, có kỹ thuật

và có sức khỏe dồi dào đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của lao động xã hội,xứng đáng với vai trò là người chủ xã hội trong tương lai Xây dựng xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh và nhà nước pháp quyền định hướng XHCN

Chỉ thị 112 CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng yêu cầu các cấp, cácngành thực hiện tốt nhiệm vụ và biện pháp sau: “ Đối với HS - SV trước hết

Trang 6

nhà trường phải thực hiện nghiêm túc giảng dạy và học môn thể dục theochương trình đã quy định, có biện pháp tổ chức hướng dẫn các hình thức tậpluyện và hoạt động thể thao ngoài giờ học”[15].

Mặc dù GDTC từ lâu đã trở thành môn học chính bắt buộc trongchương trình của các cấp học, các ngành học nhưng cho đến nay ở một số nơicông tác này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của tuổi trẻ học đường về một

số mặt như: CSVC còn nhiều thiếu thốn, chất lượng chưa đảm bảo, đội ngũcán bộ giáo viên còn nhiều hạn chế về trình độ chuyên môn, năng lực quản lýcòn nhiều yếu kém… Thấy rõ được thực trạng này Đảng và nhà nước ta đã đề

ra một số giải pháp cho công tác GDTC ở tất cả các trường các cấp, điều đóđược thể hiện trong Chỉ thị 36 của Ban chấp hành Trung ương Đảng: “ Hiệuquả GDTC trong các nhà trường còn thấp, hai ngành GD - ĐT và Thể chất thểthao phối hợp chỉ đạo cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyệnthân thể, đào tạo giáo viên TDTT cho trường học các cấp, tạo điều kiện cầnthiết về CSVC để thực hiện chế độ GDTC ở tất cả các trường học”.[2]

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý việc dạy và họcGDTC nhiều trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp khôngchỉ thực hiện đầy đủ những quy định của bộ GD - ĐT về nội dung chươngtrình GDTC mà còn vận dụng sáng tạo trên cơ sở cải tiến các nội dung họctập mới phù hợp với điều kiện của từng trường, điều đó cũng góp phần khôngnhỏ vào việc nâng cao chất lượng GDTC

Trường Đại học Quảng Nam là trường đại học công lập đầu tiên ở tỉnhQuảng Nam, được nâng cấp từ trường Cao đẳng sư phạm Quảng Nam năm

2007, Trường trực thuộc Ủy ban nhân nhân tỉnh và chịu sự quản lý nhà nướccủa Bộ GD - ĐT, là một trong những trường đào tạo đa cấp, đa ngành, vì vậyviệc tăng cường, rèn luyện sức khoẻ cho HS-SV là một yếu tố hết sức cầnthiết và quan trọng Qua tham khảo một số tài liệu chuyên môn, một số đề tài

Trang 7

khoa học và thực trạng của công tác dạy học GDTC của trường Đại họcQuảng Nam, cùng với sự giúp đỡ của cán bộ hướng dẫn đề tài chúng tôi muốngóp một phần kiến thức của mình nhằm nâng cao chất lượng môn GDTC tạitrường Đại học Quảng Nam, vì vậy chúng tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài:

“ Một số giải pháp quản lý chất lượng dạy học môn Giáo dục thể chất cho sinh viên hệ không chuyên trường Đại học Quảng Nam”.

Đây là vấn đề hoàn toàn mới đối với trường Đại học Quảng nam và là

sự cần thiết đối với công việc đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục hiện naytại Trường Đó chính là lí do chúng tôi chọn đề tài này làm luận văn tốtnghiệp chuyên ngành quản lý giáo dục

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất một biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy họcmôn GDTC cho sinh viên hệ không chuyên trường Đại học Quảng Nam

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn GDTC cho sinh

viên hệ không chuyên trường Đại học Quảng Nam

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp quản lý dạy học môn GDTC

cho sinh viên hệ không chuyên trường Đại học Quảng Nam

3.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài: Chúng tôi tiến hành điều tra,

đưa ra một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học mônGDTC cho sinh viên không chuyên hệ đại học trường Đại học QuảngNam

4 Giả thuyết khoa học

Trang 8

Nếu đề xuất được một số giải pháp quản lý chất lượng GDTC có tínhkhả thi thì chất lượng dạy học môn GDTC cho sinh viên hệ không chuyêntrường Đại học Quảng Nam sẽ được nâng cao

5 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

5.1 Nghiên cứu lý luận.

Nghiên cứu lí luận thông qua việc tổng hợp các công trình nghiên cứuliên quan đã có, nghiên cứu các khái niệm: Quản lý, quản lý hoạt động dạyhọc và quản lý chất lượng dạy học môn GDTC, tìm hiểu một số vấn đề trong

lí luận dạy học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu…

5.2 Nghiên cứu thực tiễn

- Nghiên cứu thực trạng của việc quản lý chất lượng dạy học mônGDTC cho hệ không chuyên ở Trường Đại học Quảng Nam

- Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng việc quản lý chất lượng dạy họcmôn GDTC cho hệ không chuyên ở Trường Đại học Quảng Nam

- Đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng dạy học môn GDTC cho

hệ không chuyên ở Trường Đại học Quảng Nam

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình tổ chức, triển khai thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứucủa đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau

6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Dùng phương pháp nghiên cứu lý luận nhằm mục đích tổng hợp, phântích hệ thống các thông tin, tài liệu thu thập được và những kiến thức có liênquan đến đề tài như: cơ sở lý luận, xác định và giải quyết các nhiệm vụnghiên cứu, các tài liệu tham khảo

6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Chúng tôi tiến hành điều tra sư phạm (bằng phiếu) trên 3 đối tượng

- Các nhà quản lý

Trang 9

- Giảng viên TDTT.

- Sinh viên đang học tập môn GDTC

6.3 Phương pháp toán thống kê

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để xử lý các số liệu điều tra, thấyđược mức độ tin cậy của các kết quả thu được

7 Những đóng góp mới của đề tài

Xây dựng một số giải pháp quản lý chất lượng dạy học vận dụng vào

việc giảng dạy GDTC cho sinh viên hệ không chuyên trường Đại họcQuảng Nam

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được phânthành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

Chương 3: Một số giải pháp quản lý chất lượng dạy học môn GDTCcho hệ không chuyên trường Đại học Quảng Nam

CHƯƠNG 1

Trang 10

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Nước ngoài

Trên thế giới, đã có nhiều nhà khoa học đặt vấn đề nghiên cứu về giáodục, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở các vấn đề về quản lý giáo dục mang tínhchất vĩ mô Trong đó, đặc biệt là nghiên cứu về vấn đề quản lý giáo dục ở

từng khu vực Theo tác giả Ray mond F Lyons trong bài:”Quản lý giáo dục

trong khu vực Châu Á “ của Văn phòng Giáo dục khu vực UNESCO tại Châu

Á trích trong Tạp chí “ Administrative support for educational reform” chỉ đềcập đến các vấn đề như phát triển về qui mô, phát triển hành chính, phát triểngiáo dục, các hướng mới trong phát triển giáo dục, vấn đề quản lý liên quanđến cải cách giáo dục, tập trung và phân quyền, giám sát Các tác giả đã kếtluận và đưa ra nhận xét theo 3 hướng chính: Về nhận thức quản lý giáo dụctheo đặc điểm vùng miền, về vai trò nhà quản lý và về yêu cầu của việc pháttriển chuyên môn quản lý Theo họ cần phải nhận thức rằng: Hiện nay, quản

lý giáo dục đã thay đổi về qui mô và nó đòi hỏi các cán bộ quản lý phải đượcchọn lọc và huấn luyện chuyên môn cho nhiệm vụ quản lý Nhà quản lý làmột đại diện phát triển, là người tháo vát, tài trí để lãnh đạo, có đầu óc mởmang để đáp ứng nhu cầu mới, nhạy cảm để xây dựng và giải phóng nhữngchuỗi sáng tạo ở người khác và có trách nhiệm với giá trị con người Theo họ

để phát triển cán bộ quản lý giáo dục, vấn đề đào tạo và phát triển chuyênmôn là thiết yếu và quan trọng

Từ những vấn đề đã nghiên cứu, chúng tôi chưa thấy có tác giả nào đisâu vào nghiên cứu các giải pháp để quản lý trong lĩnh vực TDTT, đặc biệt làchưa đưa ra được các giải pháp quản lý nâng cao chất dạy học môn GDTCcho hệ không chuyên ở các trường ĐH Quảng Nam

1.1.2 Trong nước

Trang 11

Trong xu thế khoa học và kĩ thuật tiên tiến như hiện nay, thì đòi hỏi conngười phải có sức khỏe dồi dào mới đáp ứng được nhu cầu công việc và gắn

bó hết sức chặt chẽ với công việc của mình một cách tốt nhất Vì vậy, việc tậpluyện TDTT một cách khoa học và thường xuyên sẽ mang lại sức khỏe, thểlực cho con người và giúp con người chống lại bệnh tật một cách hiệu quả, íttốn kém nhất Với vai trò và ý nghĩa to lớn của TDTT đối với sức khỏe con

người và sự phát triển của xã hội, như Bác Hồ đã khẳng định: " mỗi người

dân khỏe mạnh tức là góp phần cho cả nưới khỏe mạnh" [36].

Ở nước ta các nhà nghiên cứu về lĩnh vực TDTT cũng đã dành nhiềucông trình để viết về GDTC trong trường CĐ - ĐH, nhưng hầu hết các côngtrình luận văn thạc sĩ, tiến sĩ… tập trung nghiên cứu trong phạm vi đơn vịmình đang công tác như:

Luận văn thạc sĩ do Nguyễn Thanh Dũng, Trường ĐH Hồng Đức Thanh Hóa nghiên cứu " Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng GDTCcho sinh viên trường ĐH Hồng Đức - Thanh Hóa"

Luận văn thạc sĩ do Nguyễn Văn Hậu, Trường ĐH Đồng Tháp nghiêncứu " Tổ chức dạy học môn GDTC theo hình thức tự chọn môn học cho sinhviên hệ khong chuyên trường ĐH Đồng Tháp"

Luận văn thạc sĩ, Trường CĐ Kỹ Thuật Mỏ - Đông Triều - Quảng Ninhnghiên cứu " Nâng cao chất lượng GDTC cho sinh viên trường CĐ Kỹ Thuật

Mỏ - Đông Triều - Quảng Ninh"…

1.1.3 Một số chủ trương của Đảng, nhà nước và cơ sở pháp lý về công tác GDTC trong trường Đại học.

1.1.3.1 Những chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục

TDTT trong nhà trường các cấp:

Bảo vệ và tăng cường sức khỏe của nhân dân là một việc rất quan trọng

và cần thiết gắn liền với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ CNXH, với hạnh phúc

Trang 12

của nhân dân Đó là một trong những mối quan tâm hàng đầu của chế độ ta, làtrách nhiệm cao quý của Đảng và Nhà nước mà trực tiếp là ngành TDTT vàngành Y tế.

Tinh thần đó được xuyên suốt trong cả quá trình lãnh đạo cách mạngcủa Đảng và Chính phủ Cứ mỗi bước ngoặt của Cách mạng, Đảng và Nhànước đều có chỉ thị, nghị quyết cần thiết hướng dẫn tổ chức các hoạt động thểdục thể thao cho phù hợp

Ngày 27/03/1946: Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn dân tập thểdục, Người khẳng định vị trí sức khỏe với chế độ mới “Giữ gìn dân chủ xâydựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thànhcông Mỗi một người dân yếu ớt, tức là làm cho cả nước yếu ớt, mỗi mộtngười dân khỏe mạnh tức là cả nước mạnh khỏe” Và vì thế “luyện tập thểdục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước” [23]

Mặc dù lời lẽ rất ngắn gọn, dễ hiểu nhưng khái quát cả quan điểm, chủtrương, đường lối, phương châm đã đặt nền tảng cho lý luận và thực tiễntrong công tác TDTT của nước nhà, thích hợp với mọi hoàn cảnh, mọi đốitượng Khi tiếp xúc với nhân dân hoặc qua thư gởi đồng bào các giới, lúc nàoBác Hồ cũng nhắc nhở đến việc tập thể dục, phải rèn luyện sức khỏe, vì đóvừa là bổn phận, vừa là trách nhiệm của mỗi người dân yêu nước

Sự quan tâm đến thể dục thực chất là sự quan tâm đến con người, vìcon người là vốn quí nhất của xã hội, là tài sản vô giá của quốc gia, thể dục làbiện pháp mầu nhiệm đem lại sức khỏe cho mọi người nên Đảng và Nhà nước

đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết quan trọng để lãnh đạo và chỉ đạo

Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, cách mạng Việt Nam đã chuyểnsang giai đoạn mới, Ban bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 227/CT-TWngày 18/11/75 [3]

Trang 13

Trong phần đầu, chỉ thị nhận định: “Trong những năm qua, nhất là từkhi có Chỉ thị số 180/CT-TW ngày 28/08/1970 của Ban Bí Thư Trung ươngĐảng, công tác TDTT đã phát triển đúng hướng, góp phần tích cực phục vụsản xuất, chiến đấu, đời sống và xây dựng con người mới” Trong tình hìnhmới Chỉ thị yêu cầu ngành TDTT: “Phấn đấu vươn lên đưa phong trào quầnchúng rèn luyện thân thể vào nề nếp, phát triển công tác TDTT có chất lượng,

có tác dụng thiết thực nhằm mục tiêu: khôi phục và tăng cường sức khỏe củanhân dân, góp phần xây dựng con người mới phát triển toàn diện”.[4]

Để thực hiện mục tiêu, cần nắm vững 4 phương châm đã nêu trong chỉthị:

- Kết hợp thể dục với thể thao, lấy thể dục làm cơ sở; kết hợp thể dụcthể thao với vệ sinh phòng bệnh; kết hợp những thành tựu hiện đại của thếgiới với kinh nghiệm truyền thống của dân tộc; tập trung sức phục vụ chophong trào cơ sở

- Tập luyện TDTT phải phù hợp với từng lứa tuổi, giới tính, ngànhnghề, sức khỏe của từng người và phù hợp với điều kiện kinh tế, hoàn cảnhđịa lý tự nhiên và truyền thống của từng vùng Thực hiện kiểm tra y học vàbảo đảm an toàn trong tập luyện và thi đấu

- Kết hợp việc phát triển phong trào quần chúng với việc xây dựng lựclượng nòng cốt, bao gồm cán bộ, huấn luyện viên, trọng tài, giáo viên, hướngdẫn viên và vận động viên TDTT

- Triệt để sử dụng những điều kiện thiên nhiên, CSVC sẵn có dựa vàolực lượng của nhân dân là chính để xây dựng CSVC, đồng thời có sự giúp đỡthích đáng của Nhà nước

Trải qua gần 2 thập kỷ thực hiện chỉ thị: 227/CT-TW Ban Bí ThưTrung ương Đảng đã nêu lên nhận định quan trọng tại Chỉ thị 36/CT-TWngày 24/03/1994 như sau: “Những năm gần đây, công tác TDTT đã có tiến

Trang 14

bộ: phong trào TDTT từng bước được mở rộng với nhiều hình thức , nhiềumôn thể thao dân tộc được khôi phục và phát triển, một số môn thể thao ởmột số địa phương và ngành đã được chú ý đầu tư nâng cấp, xây dựng mới…Tuy nhiên, TDTT của nước ta còn ở trình độ thấp Số người thường xuyên tậpluyện TDTT còn rất ít Đặc biệt là thanh niên chưa tích cực tham gia tậpluyện Hiệu quả GDTC trong trường học và trong các lực lượng vũ trang cònthấp…” Để khắc phục yếu kém trên, Chỉ thị 36/ CT-TW nhấn mạnh: trướctình hình mới, sự nghiệp TDTT cần được phát triển đúng hướng theo quanđiểm sau đây:[2]

- Phát triển TDTT là một bộ phận quan trọng trong chính sách pháttriển kinh tế-xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân

tố con người, công tác TDTT phải góp phần tích cực nâng cao sức khỏe, thểlực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh: làm phong phú đờisống văn hóa, tinh thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động xã hội vàsức chiến đấu của lực lượng vũ trang Xây dựng nền TDTT có tính dân tộc,khoa học và nhân dân Giữ gìn và phát huy bản sắc và truyền thống dân tộc,đồng thời nhanh chóng tiếp thu có chọn lọc những thành tựu hiện đại Pháttriển rộng rãi phong trào TDTT quần chúng với khẩu hiệu: “Khỏe để xâydựng và bảo vệ Tổ quốc” Từng bước xây dựng lực lượng thể thao chuyênnghiệp đỉnh cao.[2]

- Thực hiện GDTC trong tất cả các trường học, làm cho việc học tậpTDTT trở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết sinh viên, thanh niên, chiến

sĩ các lực lượng vũ trang, cán bộ công nhân viên chức và một bộ phận nhândân

- Hình thành hệ thống đào tạo tài năng thể thao quốc gia Đào tạo đượcmột lực lượng vận động viên trẻ có khả năng nhanh chóng tiếp cận các thànhtựu thể thao tiên tiến của thế giới Tham gia và đạt kết quả ngày càng cao

Trang 15

trong các hoạt động thể thao khu vực, châu Á và thế giới, trước hết ở các môn

mà ta có nhiều khả năng.[25]

- Kiện toàn hệ thống đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ khoa học, huấnluyện viên, giáo viên TDTT Kiện toàn tổ chức ngành TDTT các cấp Nângcấp, xây dựng mới và hiện đại hóa một số CSVC, kỹ thuật TDTT, hình thànhcác cơ sở nghiên cứu, ứng dụng khoa học, y học vào trong thể thao; tạo điều kiệncho sự phát triển mạnh mẽ nền thể thao Việt Nam và đầu thế kỷ 21 [2]

1.1.3.2 Cơ sở pháp lý để thực hiện những chủ trương của Đảng và

Nhà nước về công tác giáo dục TDTT trong nhà trường các cấp.

Các văn bản, Quyết định, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nướcban hành đã tạo ra hành lang pháp lý cho tất cả mọi người, tổ chức, cá nhân,các thành phần kinh tế có điều kiện tham gia, phát triển cũng như sự đóng góp

về tài lực và nguồn lực cho sự phát triển và quản lý phong trào TDTT trongtrường học

Tháng 1/1946 thành lập Nha thể dục Trung ương thuộc Bộ thanh niên(Sắc lệnh số 14, ngày 30/1/1946 của Chủ Tịch Chính phủ lâm thời nước ViệtNam Dân Chủ Cộng Hòa), có nhiệm vụ phối hợp với Bộ Y tế và Bộ Giáo dụcchỉ đạo công tác GDTC và phát triển thể thao trong mọi tầng lớp nhân dân.Sau đó, tháng 3/1946 thành lập Nha Thanh niên và thể dục trong Bộ Quốc giaGiáo dục

Năm 1965, Hội đồng Chính phủ quyết định thành lập Bộ Đại học vàTrung học chuyên nghiệp để giúp Bộ chỉ đạo công tác TDTT và quân sựtrong các trường đại học, nên đã có Vụ Thể dục quân sự

Để nâng cao dần hiệu quả công tác GDTC trong các trường Bộ Đạihọc và THCN và các trường đã tổ chức nghiên cứu và cho ban hành chươngtrình TDTT trong các trường đại học, THCN theo tinh thần Chỉ thị 62/TDQS

và 63/TDQS ngày 14 và 15/9/1966 Đây là chương trình chính thức đầu tiên

Trang 16

trong các trường đại học và Trung học chuyên nghiệp, quy định giờ nội khóabắt buộc trong kế hoạch giảng dạy và học tập trong nhà trường.

Năm 1971 thành lập Vụ thể dục đời sống thuộc Bộ Đại học, có nhiệm

vụ giúp Bộ chỉ đạo công tác TDTT, Y tế và đời sống của sinh viên cáctrường

Năm 1975, lần đầu tiên tổ chức biên soạn và xuất bản ba tập tài liệugiáo khoa về lý thuyết và thực hành TDTT sử dụng trong các trường đại học

và trung học chuyên nghiệp

Ngày 9/2/1982 sau khi giải thể Vụ Thể dục và đời sống Bộ Đại học vàTHCN đã quyết định thành lập Phòng TDTT trực thuộc Bộ, có chức nănggiúp Bộ chỉ đạo về nội dung, phương pháp GDTC và phát triển thể thao trongsinh viên và sinh viên các trường đại học và trung học chuyên nghiệp

Để đảm bảo cho hoạt động TDTT đi đúng hướng và có hiệu quả thiếtthực, Chỉ thị số 227/CT – TW ngày 18/11/1975 cũng đề cập đến những biệnpháp chính yêu cầu các cấp ủy Đảng “các cấp chính quyền và cán bộ quản lýTDTT ở các cấp, các ngành cần nắm vững và làm cho mọi người hiểu mụcđích của TDTT cách mạng…”[3]

Quyết định số 230/BT ngày 6/11/1982 của Hội đồng Bộ trưởng (nay làChính phủ) thành lập Hội Thể thao Việt Nam Một tổ chức thể thao quầnchúng tình nguyện đầu tiên ở nước ta và ngay từ khi nó ra đời nó đã được ủng

hộ tích cực của đông đảo cán bộ, sinh viên các trường, của các cơ quan quản

lý nhà nước và của các tổ chức quần chúng khác, đồng thời được nhiều tổchức thể thao các nước quan tâm giúp đỡ Hội Thể thao Việt Nam đã trởthành thành viên chính thức của Liên đoàn Thể thao đại học Quốc tế (FISU)

từ năm 1981 (khi còn trong thời kỳ hoạt động trù bị để thành lập Hội)

Năm 1986 theo Quyết định của Hội đồng Nhà nước thành lập Bộ Đạihọc trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, trên cơ sở sát nhập Tổng cục dạy

Trang 17

nghề vào Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp cũ Cũng trong năm này

Bộ đã ban hành chương trình GDTC đầu tiên trong các trường dạy nghề và

sư phạm kỹ thuật (quy định 09/DN-ĐT ngày 16/1/1986) Chương trình gồm 60tiết nội khóa và một số giờ hoạt động ngoại khóa, tùy theo thời hạn khóa học

Liên Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Tổng cục TDTT cũng đã ra thông tư

số 04/93/GD-ĐT/TDTT ngày 17/4/1993, về việc đẩy mạnh và nâng cao chấtlượng GDTC học sinh, sinh viên, khẳng định đầu tư cho việc nâng cao sứckhỏe con người là vấn đề trọng tâm của mọi học thuyết tiên tiến, là cốt lõi chomọi mô hình phát triển của quốc gia, các chế độ chính trị và xã hội Xây dựngchiến lược phát triển con người Việt Nam là quốc sách hàng đầu để tiến hànhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Muốn thế thì phải đào tạo thế hệ trẻViệt Nam: “Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú vềtinh thần, trong sáng về đạo đức” Đó là mục tiêu của toàn Đảng, toàn dân vàcũng là điều mà Bác Hồ hằng mong ước

Trong thời kỳ đất nước đổi mới hiện nay, Đảng ta tiếp tục phát triểnhơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề sức khỏe con người Đại hội Đảnglần thứ VIII (1996) đã chỉ thị rằng: “Sự cường tráng về thể chất là nhu cầucủa bản thân con người, đồng thời là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ và vậtchất cho xã hội” [36]

Pháp lệnh TDTT được ủy ban thường vụ Quốc hội khóa X thông quangày 25 tháng 9 năm 2000, tại điều 14 chương III quy định “TDTT trườnghọc bao gồm GDTC và hoạt động ngoại khóa cho người học GDTC trongtrường học là chế độ GDTC bắt buộc, nhằm nâng cao sức khỏe, phát triển thểchất, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng nhu cầu giáo dụctoàn diện cho người học Nhà nước khuyến khích TDTT ngoại khóa trong nhàtrường”[40]

Trang 18

Liên Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Ủy ban TDTT đã ra Thông tư liêntịch số 34/2005/TTLT-BGD&ĐT-UBTDTT ngày 29 tháng 12 năm 2005 vềviệc phối hợp quản lý và chỉ đạo công tác TDTT trường học giai đoạn 2006 -

2010 đã chỉ rõ:[29]

Thể dục thể thao trường học là bộ phận đặc biệt quan trọng trong việcnâng cao sức khỏe và thể lực, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý chí, giáo dụcnhân cách cho học sinh, sinh viên góp phần đáp ứng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước TDTT trường học là môi trường thuận lợi và giàu tiềm năng

để phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao cho đất nước

Phát triển giáo dục TDTT trường học phải theo hướng đổi mới và nângcao chất lượng giờ học thể dục nội khóa, đa dạng hóa các hình thức hoạt độngngoại khóa, đồng thời tổ chức chặt chẽ việc kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thânthể đối với người học

Tăng cường sự phối hợp liên ngành Giáo dục và TDTT, đồng thời đẩymạnh xã hội hóa và chuyên nghiệp hóa, tranh thủ từ các nguồn lực xã hội đểxây dựng và phát triển TDTT trường học

Tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế về TDTT trường học, góp phầnnâng cao vị thế của Thể thao Việt Nam trong khu vực và thế giới

Tóm lại, từ khi có xã hội loài người đến nay và mãi mãi về sau, thì vấn

đề sức khỏe, nâng cao trí tuệ là vấn đề ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng

và bảo vệ đất nước và cũng là vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâmhàng đầu để phấn đấu có một Tổ quốc “Dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh” ngang tầm với các nước tiên tiến trên thế giới trongmọi thời đại

Nhà trường có trách nhiệm: thực hiện chương trình GDTC cho ngườihọc Tổ chức các hoạt động TDTT ngoại khóa Xây dựng CSVC cần thiết đápứng việc giảng dạy và hoạt động TDTT trong nhà trường

Trang 19

1.1.3.3 Vai trò của nhà trường và các tổ chức đoàn thể trong trường

Nhà trường là một hệ thống xã hội thu nhỏ, bao gồm có Đảng, Chínhquyền, Đoàn, Công đoàn, phòng, ban, khoa, trung tâm… Mục tiêu là quản lýđều do mục tiêu giáo dục chi phối Mục tiêu TDTT của nhà trường có haimặt: mục tiêu giáo dục và mục tiêu quản lý Mục tiêu giáo dục là cụ thể hóaphương châm giáo dục, đào tạo, bao gồm tri thức TDTT, phát triển thể chất,bồi dưỡng kỹ năng vận động, giáo dục phẩm chất cho sinh viên Mục tiêuquản lý được con người nhận thức trước và tạo nên

* Với vai trò của giáo dục TDTT thì sự phát triển của phong trào TDTTnhằm góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội đồng thời cầnchủ động tận dụng tổng hợp những nhân tố ưu việt về chế độ chính trị, vềkinh tế - xã hội hiện tại mang lại hiệu quả phát triển cho phong trào TDTT

Phong trào TDTT phát triển có quan hệ với các mặt hoạt động văn hóakhác, giáo dục khác vì TDTT thuộc phạm trù văn hóa Giáo dục TDTT là mộtmặt không thể thiếu được trong việc đào tạo con người phát triển toàn diện(đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục và lao động) Trong lĩnh vực về phươngpháp đào tạo con người C.Mác viết : “Giáo dục trong tương lai sẽ thống nhấtlao động sản xuất với giảng dạy và thể dục, sự thống nhất đó không chỉ làphương pháp nâng cao sản xuất xã hội, mà còn là phương pháp độc nhất đểđào tạo những con người phát triển toàn diện”

Phạm Văn Đồng nguyên là Thủ tướng nước Cộng Hòa Xã Hội ChủNghĩa Việt Nam đã nói : “Các đồng chí ở ngành giáo dục thường nói phảigiáo dục con em chúng ta về đức dục, trí dục, mỹ dục, thể dục… Muốn đàotạo con người mới, con người toàn diện, ngoài các mục tiêu phấn đấu trên,không còn mục tiêu nào khác Đức dục là tư tưởng, trí dục là sự hiểu biết vềvăn hóa, khoa học, kỹ thuật Mỹ dục là sự hiểu biết về những cái hay, cái đẹp

Trang 20

Cuối cùng là thể dục, một mục tiêu không thể thiếu được theo quan điểm giáodục của chúng ta, là cơ sở tiếp thu tốt đức dục, trí dục, mỹ dục…”

Sự phát triển phong trào TDTT không chỉ giúp sinh viên tăng cườngsức khỏe để học tập lâu dài mà cùng với phong trào văn hóa, văn nghệ, tạo ra

cơ hội vui chơi, giải trí, thư giãn lành mạnh sau những giờ học căng thẳng.Việc tham gia rèn luyện TDTT để không bị cuốn hút bởi các tệ nạn xã hội(tiêm chích, cờ bạc) nhằm góp phần gia tăng kết quả học tập của sinh viên.Như chúng ta đã biết, một tinh thần minh mẫn luôn ở trong một thân thể khỏemạnh

* Vai trò của nhà trường là đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạođức tốt có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình

độ đào tạo, có sức khỏe, có năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tựtạo việc làm cho mình và cho những người khác, có khả năng hợp tác bìnhđẳng trong quan hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong những người học và trong độingũ cán bộ GV của trường

Tổ chức cho GV, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạtđộng xã hội phù hợp với ngành nghề tào đạo và nhu cầu của xã hội

Trên đây là một số nhiệm vụ của trường đại học cần thực hiện trongquá trình hoạt động giáo dục của nhà trường, đồng thời còn có trách nhiệmhuy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục,hợp tác, liên kết với các tổ chức kinh tế, giáo dục văn hóa, TDTT, y tế, nghiêncứu khoa học trong nước và nước ngoài nhằm nâng cao chất lượng giáo dục,gắn đào tạo với việc làm, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội

Ngoài ra, nhà trường còn có mối quan hệ và phối hợp với các cơ sở vănhóa, nghệ thuật, TDTT, cơ quan thông tin đại chúng để tạo môi trường giáodục lành mạnh, phát hiện và bồi dưỡng những người học có năng khiếu về

Trang 21

hoạt động TDTT tạo điều kiện về CSVC, tài chính phục vụ hoạt động TDTTcho người học.

* Hoạt động thể thao được coi như một điều kiện chuyên biệt để xúctiến sự phát triển của nhân cách XHCN và các chức năng của việc huấn luyện

và thi đấu cũng như các hình thức hoạt động thể thao khác phục vụ cho pháttriển con người Do đó, cần phát triển TDTT để nó trở thành một điều kiệncủa quá trình phát triển con người toàn diện và các hoạt động thể thao phải làmột yếu tố để cũng có lối sống ngay từ xuất phát điểm của phong trào

Phong trào TDTT là phong trào có tính chất xã hội được tạo bởi hệthống các cơ quan, trường học, các tổ chức tình nguyện của quần chúng, là sựhoạt động của xã hội tổng hợp về vật chất lẫn tinh thần nhằm tận dụng cácchức năng đa dạng của TDTT theo hướng phát triển toàn dân

* Đối với người tập luyện thể thao là những người tình nguyện thamgia tập luyện một cách tự giác hứng thú và có tình cảm đối với bộ môn mìnhham thích ở các đội, nhóm, có người huấn luyện hoặc hướng dẫn theo kếhoạch, có ngày giờ tập luyện được ấn định một cách cụ thể, có nội dung,phương pháp và mục đích nhằm để tăng cường sức khỏe Người tập chỉ có thểhoạt động tự giác một khi họ có nhu cầu, nhờ vào trình độ nhận thức về cáclĩnh vực khoa học có liên quan đến GDTC và huấn luyện TDTT

* Hoạt động TDTT trong trường học là một bộ phận quan trọng củatoàn bộ công tác giáo dục, là cơ sở thể thao để phát triển tài năng đóng gópnhân tài cho quốc gia, các nước có nền kinh tế, văn hóa phát triển đều coiTDTT là sự “Đầu tư cho con người” nhằm cải thiện tố chất sức lao động

Vì vậy, việc GDTC trong các trường đại học là góp phần thực hiện mụctiêu đào tào đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội, có thể chất cườngtráng đáp ứng yêu cầu chuyên môn và nghề nghiệp trong đời sống thực tiễn

Trang 22

Nói chung phong trào TDTT quần chúng là cơ sở để phát triển tài năng,phong trào càng rộng lớn thì càng có nhiều người tham gia, quan tâm, ủng hộ,tạo thêm nguồn tuyển chọn và bồi dưỡng tài năng thể thao, đại diện cho nhàtrường tham gia thi đấu hoặc cung cấp vận động viên có trình độ cao về kỹnăng và kỹ xảo để đại diện cho đất nước tham gia giao lưu và thi đấu quốc tế.Mặt khác, hoạt động thể thao đỉnh cao với sức thu hút mạnh mẽ dư luận xãhội là một hình thức sinh hoạt văn hóa lành mạnh, là nguồn kích thích cóhiệu quả đối với TDTT quần chúng đồng thời không thể xem nhẹ vai trò quản

lý của cán bộ phong trào vì nó đã đóng góp một phần rất lớn trong công tác tổchức, điều khiển quá trình giáo dục và tập luyện TDTT

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Quản lý

1.2.1.1 Khái niệm

Quản lý là một yếu tố hết sức quan trọng không thể thiếu được trongđời sống xã hội Xã hội càng phát triển cao thì vai trò của quản lý càng lớn vànội dung quản lý càng phức tạp

Người ta có thể tiếp cận khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau,theo nhiều góc độ khác nhau Theo góc độ tổ chức đó là: cai quản, chỉ huy,lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra Theo góc độ điều khiển từ quản lý là: lái, điềukhiển, điều chỉnh Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động củachủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay là đối tượng quản lý) nhằm tổchức, phối hợp hoạt động của con người trong các quá trình sản xuất - xã hội

Trang 23

Theo C.Mác: Quản lý được coi là chức năng đặc biệt được sinh ra từtính chất xã hội hoá lao động Từ đó ông cho rằng: “quản lý là loại lao động

sẽ điều khiển mọi quá trình lao động phát triển xã hội Nhu cầu quản lý có ởtất cả các lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” [27]

Theo Henry Fayol (1841-1925) đã nghiên cứu kĩ bản chất và tính chấtcông việc của người quản lý và đi đến kết luận rằng “Quản lý đó là dự tính(dự toán và lập kế hoạch), tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra”

Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó đảm bảophối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mụctiêu của người quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó conngười có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất

và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [14]

Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn: “Quản lý là sự tác động có hướng đíchcủa chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống các giải phápnhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận mụctiêu cuối cùng, phục vụ lợi ích của con người” [32]

Thành công của người quản lý không phải nhờ những phẩm chất cánhân mà nhờ phương pháp người quản lý đã áp dụng và nhờ các nguyên tắcchỉ đạo hành động của người quản lý

Quản lý bao gồm các thành phần: Chủ thể quản lý với các tác động quản lý,mục tiêu quản lý và đối tượng quản lý

Chúng ta cũng có thể xem xét quản lý dưới 2 góc độ khác:

- Góc độ tổng hợp mang tính chất chính trị xã hội: Quản lý là sự kếthợp giữa tri thức với lao động Sự phát triển xã hội loài người từ thời nguyênthuỷ đến thời kì hiện đại bao giờ cũng có 3 yếu tố: tri thức, sức lao động, quản

lý Trong đó quản lý là sự kết hợp giữa tri thức và lao động, xã hội phát triểnnhư thế nào phụ thuộc vào sự kết hợp này

Trang 24

Để vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù hợp Quản

lý được xem là tổ hợp các cách thức, phương pháp tác động vào đối tượng đểphát huy khả năng của đối tượng nhằm thúc đẩy sự phát triển xã hội

- Góc độ hành động, góc độ qui trình công nghệ của tác động: Quản lý

là quá trình điều khiển Chủ thể quản lý điều khiển đối tượng quản lý để đạttới mục tiêu đã đặt ra

Từ rất nhiều định nghĩa dưới các góc độ khác nhau, chúng ta có thểhiểu một cách khái quát là: “Quản lý một đơn vị (cơ sở sản xuất, cơ quan,trường học, địa phương…) với tư cách là một hệ thống xã hội là khoa học vànghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành tố của hệ thống bằngphương pháp tích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra” [14]

Hay nói khác hơn: “Quản lý là một quá trình tác động có chủ đích củachủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thỏa mãn nhu cầu chung và đạtđược các mục tiêu đã xác định”

Như vậy, khái niệm quản lý bao hàm những khía cạnh sau:

Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xãhội Đối tượng tác động của quản lý là một hệ thống xã hội hoàn chỉnh gồmnhiều yếu tố liên kết hữu cơ theo một qui luật nhất định tồn tại trong thờigian, không gian cụ thể

Hệ thống quản lý gồm có hai phân hệ chủ thể quản lý và khách thểquản lý Hoạt động quản lý là những tác động có hướng đích

Tác động quản lý thường mang tính tổng hợp bao gồm nhiều giải phápkhác nhau, phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu tổ chức

Quản lý là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo bằng những quyết địnhđúng qui luật và có hiệu quả quản lý nhưng cũng phải tuân theo nhữngnguyên tắc nhất định hướng đến mục tiêu

Trang 25

Mục tiêu cuối cùng của quản lý là chất lượng, sản phẩm và lợi ích phục

vụ con người Người quản lý, tựu trung lại là nghiên cứu khoa học, nghệ thuậtgiải quyết các mối quan hệ giữa con người với nhau vô cùng phức tạp, khôngchỉ giữa chủ thể và khách thể trong hệ thống mà còn có mối quan hệ tương tácvới các hệ thống khác

Từ các quan điểm trên có thể hiểu: “Quản lý là một quá trình tác động

có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể

có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằmgiữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tớimục đích đã định” [21]

1.2.1.2 Đối tượng của quản lý

Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay

là đối tượng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trongcác quá trình sản xuất - xã hội để đạt được mục đích đã định Đối tượng quản

lý trong sinh học đó là thiên nhiên, môi trường, vật nuôi, cây trồng và cácđiều kiện tự nhiên khác Đối tượng quản lý trong kĩ thuật là điều khiển cácphương tiện kĩ thuật, bảo quản chúng để chúng phục vụ tối đa các nhu cầu củacon người Đối với quản lý xã hội thì con người xã hội là đối tượng chủ yếucủa quản lý, vì con người sử dụng các tài nguyên, các trang thiết bị kĩ thuật,đồng thời là chủ thể của xã hội loài người

1.2.1.3 Các đặc điểm của hoạt động quản lý

- Hoạt động quản lý là loại hoạt động mang tính trí tuệ và ý chí cao.Ngày nay, hoạt động quản lý là một loại lao động đặc biệt của con người.Quản lý vừa là một khoa học, nghệ thuật vừa là một nghề

Trang 26

- Hoạt động quản lý tất yếu nảy sinh khi có hoạt động của con ngườitheo nhóm, tập thể và tồn tại ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (sản xuất,kinh doanh, giáo dục, xã hội ) với mỗi lĩnh vực có hoạt động quản lý tươngứng

- Hoạt động quản lý được tiến hành bởi chủ thể, chủ thể của hoạt độngquản lý là con người (một người, hoặc một nhóm người) còn được gọi là “nhàquản lý”, “người quản lý” hay “ban quản lý”

- Hoạt động quản lý được diễn ra trong môi trường kinh tế, chính trị,pháp lí và tâm lí - xã hội, trong điều kiện xã hội - lịch sử xác định Đó lànhững môi trường quản lý Môi trường quản lý và sự biến động của nó là yếu

tố khách quan qui định hành vi của chủ thể quản lý

- Hoạt động quản lý có tính chất phân cấp rõ ràng, là một hệ thốngnhững chức năng và nhiệm vụ của các chủ thể có quan hệ chặt chẽ và tácđộng qua lại với nhau Hoạt động của các chủ thể trong hệ thống quản lý vừa

có tính phụ thuộc lẫn nhau, vừa có tính độc lập tương đối

- Hoạt động quản lý có bản chất tâm lí là sự tác động có mục đích, có

kế hoạch, có tổ chức, có định hướng, có hệ thống thông tin tới đối tượngnhằm điều chỉnh, điều khiển tâm lí tình cảm, thái độ, hành vi của con ngườiphát huy mọi tiềm năng, phối hợp các nỗ lực thực hiện tốt mục tiêu quản lý

1.2.1.4 Các yếu tố liên quan đến quản lý

Hoạt động quản lý diễn ra trong xã hội Vì vậy, có nhiều yếu tố liênquan đến quản lý đó là:

- Xã hội – môi trường: Môi trường tự nhiên ảnh hưởng rất lớn đến các

cơ chế và hình thức quản lý Môi trường xã hội quan trọng nhất là con người

và các hoạt động của con người, các mối quan hệ của con người

Trang 27

- Chế độ chính trị: qui định ra các cơ chế quản lý, các nguyên tắc và

phương pháp quản lý tương ứng, đồng thời còn bị chi phối phong cách làmviệc của cán bộ trong các bộ máy quản lý

- Khoa học tổ chức: đó là khoa học về sự thiết lập các mối quan hệ giữa

con người với con người, giữa các bộ phận trong bộ máy quản lý, qui địnhchức năng nhiệm vụ của bộ máy và các bộ phận có liên quan Tổ chức tốt thìquản lý tốt và ngược lại quản lý tốt thì tổ chức tốt

- Quyền uy: đó là quyền lực và uy tín của nhà quản lý Quyền lực là

công cụ của nhà quản lý, tạo ra sức mạnh cho sự điều khiển của nhà quản lýđối với đối tượng quản lý Uy tín là sức mạnh về tinh thần của nhà quản lý đốivới đối tượng quản lý, tạo ra sự tin tưởng và tín nhiệm của các đối tượng vớichủ thể quản lý

- Thông tin: là tin tức và sự chuyển giao tin tức trong bộ máy giúp nhà

quản lý điều hành bộ máy Thiếu tin tức nhà quản lý như bị mù, mất phươnghướng Thông tin là nguyên liệu của nhà quản lý để đề ra các quyết định quảnlý

- Mô hình quản lý tổng quát: đó là hình thức, khuôn mẫu về cấu trúc bộ

máy, hình thức và phương pháp quản lý mà một quốc gia, một ngành, mộtphòng, một khoa chuyên môn … sử dụng để quản lý quốc gia một ngành, mộtphòng, một khoa chuyên môn mình

1.2.2 Quản lý chất lượng dạy học.

Thực chất chất lượng dạy học là hoạt động dạy của giáo viên tác độngvào người học là sinh viên có hiệu quả nhất định Từ những cơ sở lí luận đãphân tích, chúng ta có thể định nghĩa: “Quản lý chất lượng dạy học là quản lýhoạt động truyền thụ kiến thức, kĩ năng cho người học của người thầy thôngqua hoạt động dạy” Hay nói khác hơn đó là “Quản lý quá trình tổ chức, điềukhiển, lãnh đạo hoạt động của thầy trong giảng dạy đối với sinh viên, đảm

Trang 28

bảo cho sinh viên thực hiện đầy đủ và có chất lượng cao những yêu cầu đãđược qui định phù hợp với mục đích dạy học ở ĐH”.

Trong trường CĐ, ĐH vấn đề quản lý hoạt động giảng dạy luôn luôn điđôi và gắn liền với quản lý hoạt động học tập của sinh viên và trong mối quan

hệ thống nhất biện chứng với nhau

1.2.2.1 Đặc điểm của quản lý chất lượng dạy học.

- Trong quá trình dạy học ở trường CĐ, ĐH người thầy giáo và tập thểcán bộ giảng dạy là chủ thể của hoạt động giảng dạy, giữ vai trò chủ đạo trongquá trình dạy học Thầy giáo với hoạt động dạy có chức năng tổ chức, điềukhiển, lãnh đạo hoạt động của sinh viên, đảm bảo cho sinh viên thực hiện đầy

đủ và có chất lượng cao những yêu cầu đã qui định phù hợp với mục đích dạyhọc ở CĐ, ĐH Bên cạnh đó, người sinh viên và tập thể sinh viên một mặt làđối tượng của hoạt động dạy, mặt khác lại là chủ thể của hoạt động nhận thức

có tính chất nghiên cứu

- Nói cách khác, quá trình dạy học ở CĐ, ĐH người sinh viên vừa làkhách thể của hoạt động dạy, vừa là chủ thể hoạt động tích cực, độc lập, sángtạo nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo có liên quan đến nghề nghiệptương lai của mình Trong hệ thống dạy học ở trường CĐ, ĐH, nhân tố thầygiáo và hoạt động giảng dạy, sinh viên và hoạt động học tập là các nhân tốtrung tâm đặc trưng cơ bản nhất của quá trình dạy học

Trong quản lý chất lượng dạy học có tính đặc thù riêng và có nhữngđặc điểm khác so với các loại quản lý xã hội khác Sự khác nhau đó thể hiệnqua các yếu tố sau:

+ Trước hết quản lý chất lượng dạy học đó là quản lý mang tính chất quản lý hành chính sư phạm:

Tính hành chính đó là quản lý theo pháp luật và những nội qui, qui chế,qui trình có tính chất bắt buộc trong quá trình dạy học

Trang 29

Tính sư phạm đó là sự qui định các qui luật của quá trình dạy học, diễn

ra trong môi trường sư phạm, lấy hoạt động dạy học làm đối tượng quản lý

+ Đặc điểm thứ hai đó là quản lý mang tính chất đặc trưng của khoa học quản lý, nó thể hiện ở chỗ:

Quản lý chất lượng dạy học theo chu trình quản lý và thực hiện cácchức năng quản lý

Quản lý chất lượng dạy học trên cơ sở vận dụng sáng tạo các nguyêntắc và phương pháp quản lý

Quản lý chất lượng dạy học mang tính chất xã hội hoá cao vì quản lýhoạt động dạy học chịu sự chi phối trực tiếp các điều kiện kinh tế xã hội, mặtkhác tác động tích cực đến mọi mặt trong đời sống xã hội

+ Đặc điểm thứ ba đó là hiệu quả của quản lý chất lượng dạy học được tích hợp trong kết quả đào tạo thông qua các chỉ số: số lượng sinh viên

tốt nghiệp, sự phát huy tác dụng kết quả dạy học đối với xã hội

1.2.2.2 Các qui luật và nguyên tắc quản lý chất lượng dạy học

Quản lý chịu sự tác động của hàng loạt qui luật có mối quan hệ hữu cơvới nhau Có thể khái quát một số loại qui luật sau:

+ Các qui luật tự nhiên - kĩ thuật : Việc nắm vững các qui luật tự nhiên

giúp nhà quản lý khai thác hợp lí các nguồn lực tự nhiên, bảo vệ tự nhiên,nâng cao năng suất lao động, nâng cao đời sống nhân dân

+ Các qui luật kinh tế xã hội: Việc nắm vững qui luật kinh tế - xã hội

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quản lý, bởi vì mọi hoạt động của conngười đều lấy kinh tế làm nền tảng, làm động lực

+ Các qui luật tâm lí: quản lý là sự tác động vào tâm lí của con người

để tạo động lực cho họ hành động nhằm mục tiêu chung của tổ chức Vì vậy,trong quản lý đòi hỏi phải hiểu và vận dụng các qui luật tâm lí để nâng caotrình độ và hiệu quả quản lý

Trang 30

+ Các qui luật tổ chức-quản lý: muốn quản lý được trước hết phải tổ

chức, tạo nên những hệ thống quản lý và bị quản lý phù hợp, ổn định và cóhiệu quả Công tác tổ chức đòi hỏi vận dụng các kiến thức về quan hệ giữacấp quản lý và khâu quản lý, giữa tập trung và phân cấp về quyền hạn và tráchnhiệm trong tổ chức một cách cụ thể sáng tạo

Đối tượng quản lý là hoạt động thực tiễn luôn vận động và phát triển,

do đó, khi vận dụng các qui luật quản lý phải có quan điểm động và theo xuhướng phát triển

Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường chịu sự tác động các quiluật của những hoạt động này Nhận thức tốt và vận dụng linh hoạt các quiluật trong quản lý sẽ giúp cho công tác quản lý mang lại hiệu quả cao và cótác dụng trong công tác quản lý

Quản lý chất lượng dạy học trong nhà trường phải dựa và tuân thủ cácnguyên tắc quản lý Trên cơ sở nhận thức qui luật khách quan và qui luật củađối tượng quản lý, khoa học quản lý xây dựng nên hệ thống các nguyên tắcquản lý trong công tác quản lý

Nguyên tắc quản lý là các yêu cầu cơ bản những qui định có tính chất chỉ đạo mà những người quản lý phải tuân thủ trong quá trình quản lý.

Các nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở những qui luật của khoahọc quản lý, khoa học giáo dục Người quản lý vận dụng đảm bảo các nguyêntắc này, nhà quản lý sẽ đạt hiệu quả cao trong chính hoạt động quản lý củamình

1.2.3 Chất lượng dạy học:

Để hiểu chất lượng dạy học trước hết chúng ta tìm hiểu về khái niệmchất lượng, qua tham khảo nhiều tài liệu chúng tôi thấy cách định nghĩa củacác tác giả trong cuốn “Từ điển tiếng Việt năm 2005” của Viện ngôn ngữ học

Trang 31

là đầy đủ nhất “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một conngười, một sự vật, sự việc” Từ điển tiếng việt năm 2005, NXB Đà Nẵng,tr144).[ 39]

Trong các hội thảo khoa học, các nhà nghiên cứu đã khẳng định: Chấtlượng giáo dục là trình độ hiện thực hoá mục tiêu giáo dục, thể hiện sự đổimới và hiện đại hoá giáo dục theo định hướng xã hội chủ nghĩa đối với nhữngbiến đổi nhanh chóng của thực tế

Chất lượng dạy học là mức độ đạt được về kiến thức, kỹ năng và thái độ của người học so với mục tiêu dạy học.

Những yêu cầu về chất lượng dạy học trong trường:

- Hình thành ở người học một hệ thống tri thức cơ bản, hiện đại để theokịp trình độ tiên tiến của các nước trên thế giới, đồng thời kế thừa, phát huynhững truyền thống tốt đẹp của dân tộc

- Hình thành kỹ năng lao động theo hướng kỹ thuật tổng hợp và những

kỹ năng thích ứng nghề nghiệp trong xã hội hiện đại

- Hình thành động cơ học tập vì ngày mai lập thân, lập nghiệp, có sức khỏecường tráng góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh, xãhội công bằng, dân chủ và văn minh

1.2.4 Một số khái niệm thường dùng trong công tác GDTC

1.2.4.1 Thể dục thể thao

“Thể dục thể dục là một bộ phận của nền văn hóa chung, là sự tổng hợpnhững thành tựu xã hội trong sự nghiệp sáng tạo và sử dụng hợp lý những

Trang 32

phương tiện, phương pháp, biện pháp chuyên môn để nâng cao sức khỏe, bồidưỡng thể lực cho nhân dân, góp phần giáo dục và phát triển con người toàndiện”.[38]

1.2.4.2 Giáo dục TDTT

“Giáo dục TDTT là một quá trình giáo dục nhằm hoàn thiện về mặt thểchất của cơ thể con người, nhằm hình thành và củng cố những kỹ năng, kỹxảo vận động cơ bản quan trọng trong đời sống, cùng những hiểu biết có liênquan đến kỹ năng, kỹ xảo đó.”[38]

Đặc điểm riêng biệt của giáo dục TDTT ở chỗ nó là một phương tiệnphục vụ xã hội, chủ yếu nhằm nâng cao thể chất, đồng thời nó tác động mạnh

mẽ đến sự phát triển tinh thần cho con người Trong thực tế đời sống xã hội,không có giáo dục TDTT chung chung, tồn tại ngoài những điều kiện lịch sử

cụ thể Trong mỗi chế độ kinh tế xã hội nhất định đều có từng loại giáo dụcTDTT tương ứng

1.2.4.3 Giáo dục thể chất

“Giáo dục thể chất là quá trình giáo dục mà đặc trưng của nó thể hiện ởviệc giảng dạy các động tác, rèn luyện các tố chất thể lực, điều khiển quá trìnhphát triển thể chất của con người.”[38]

1.2.4.4 Hệ thống giáo dục TDTT

Hệ thống giáo dục TDTT là một thể thống nhất những cơ sở tư tưởng,phương pháp khoa học trong giáo dục TDTT, đồng thời đó cũng là sự thốngnhất giữa những tổ chức và cơ quan có trách nhiệm thực hiện, kiểm tra đônđốc việc giáo dục TDTT đối với mọi công dân

1.2.4.5 Phong trào TDTT

Phong trào là hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội lôi cuốn được đôngđảo quần chúng tham gia Phong trào cách mạng, phong trào thể dục.[19]

Trang 33

Phong trào TDTT là cuộc vận động và tổ chức để ngày càng có nhiềungười tham gia tập luyện hoặc đóng góp vào sự phát triển của hoạt độngTDTT trong trường học nhằm tăng cường sức khỏe, thỏa mãn nhu cầu của cánhân và trong giao tiếp.[12]

1.2.4.6 Quản lý TDTT

Quản lý TDTT là việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, giám sát và điều

tiết đối với công tác TDTT để thu được hiệu quả xã hội tốt hơn (Trong mục

TDTT của Bách khoa toàn thư Trung Quốc xuất bản năm 1983).

1.2.4.7 Quản lý phong trào TDTT

Quản lý phong trào TDTT là sự tác động tổng hợp về vật chất và tinhthần mang tính chất xã hội của hệ thống các cơ quan, các tổ chức quần chúngđược tiến hành có kế hoạch và phù hợp với quy luật khách quan, tạo nênnhững tập thể người tập thể dục TDTT theo hướng phát triển toàn dân để xâydựng CNXH và bảo vệ tổ quốc.[12]

1.3 Một số vấn đề lý luận có liên quan đến công tác GDTC.

1.3.1 Lý luận về GDTC.

Đất nước ta đang ở giai đoạn “Tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh Công nghiệphóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ văn minh, vững bước đi lên CNXH”, thì giáo dục và đào tạo phải thực sựtrở thành quốc sách hàng đầu, trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài Giáo dục TDTT nói chung và GDTC nhà trường nóiriêng, phải là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế xãhội của Đảng và Nhà nước, nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con ngườiđược phát triển toàn diện.[26]

Trong công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước hôm nay,trên mọi lĩnh vực, mọi phương diện đời sống văn hóa xã hội, GDTC phải góp

Trang 34

phần hình thành và phát triển các tố chất thể lực, kỹ năng, kỹ xảo vận động và

hệ thống tri thức chuyên môn của người lao động

Giáo dục thể chất là một phạm trù biện chứng của triết học Đông Tây.Đây là một quá trình góp phần giải quyết những nhiệm vụ giáo dục, giáodưỡng trong những điều kiện của đời sống xã hội GDTC là một quá trình rènluyện kỹ năng, hình thành các kỹ xảo vận động và phát triển các tố chất vậnđộng của con người, nó được sắp xếp theo trình tự khoa học, có lôgic, từ đơngiản đến phức tạp, từ dễ đến khó, từ cái chưa biết đến biết, càng đi sâu càngthấy được tầm quan trọng và vị trí của nó Trong cuộc sống hàng ngày, tronglao động, các cử chỉ, thao tác, để làm việc đó cũng chính là những động tác kỹnăng, kỹ xảo trong hoạt động TDTT [19]

Giáo dục thể chất trong các trường đại học là một bộ phận hữu cơ củamục tiêu giáo dục đào tạo, đồng thời là một nội dung của giáo dục toàn diệncho thế hệ trẻ, nhằm tạo nguồn tri thức mới có năng lực thể chất, có sức khỏethích ứng với điều kiện phức tạp và cường độ lao động cao Đó là lớp ngườiphát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần,trong sáng về đạo đức Mục tiêu chiến lược này thể hiện rõ những yêu cầumới về sức khỏe và của lớp người lao động mới trong nền kinh tế tri thức,nhằm phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước hiện nay

Chiến lược Giáo dục và Đào tạo là một bộ phận rất quan trọng trongchiến lược con người, con người có tri thức là nguồn lực quan trọng nhất củanền sản xuất hiện đại, đặc biệt là trong nền kinh tế tri thức Ngày nay sự bùng

nổ của cách mạng khoa học công nghệ đang trở thành nguồn động lực chínhcủa sự tăng tốc phát triển, là nhân tố quyết định sự thành bại của một quốcgia Chính vì vậy cuộc cách mạng khoa học công nghệ có những yêu cầu mớingày càng cao đối với trình độ tay nghề của người lao động trong nền sảnxuất hiện đại Ngày nay, muốn có năng suất lao động cao thì không chỉ đòi

Trang 35

hỏi ở người lao động sự chuẩn bị cả về yếu tố thể lực chuyên môn Nhữngyêu cầu trên chỉ có thể đạt được khi tiến hành một quá trình GDTC chung vàchuyên biệt, đặc biệt trong các trường đại học là trung tâm có vị trí quan trọngtrong việc đào tạo nguồn lực cho nền kinh tế tri thức.

Mục tiêu và các giải pháp chiến lược Giáo dục và Đào tạo Việt Namđến năm 2015, sẽ đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực có trình độ cao, nâng caochất lượng người lao động, tạo cho họ có năng lực sáng tạo thích ứng với sựthay đổi của hoạt động nghề nghiệp và môi trường Để góp phần nâng caochất lượng đào tạo thì phải có sự kết hợp đúng đắn giữa quá trình giáo dụcnghề nghiệp với GDTC và hoạt động TDTT Đặc biệt cần phải chú ý đến việcGDTC kết hợp với việc phát triển thể lực, chuyên môn phù hợp với đặc điểmnghề nghiệp Điều đó được thực hiện trước hết là đáp ứng yêu cầu nghềnghiệp chuyên môn liên quan đến trình độ lao động trong nền sản xuất hiệnđại, đồng thời cũng là nhiệm vụ bồi dưỡng lao động nặng, tố chất thể lực vànăng lực cần thiết để đảm đương công việc học tập và nghiên cứu lao động sảnxuất trong điều kiện khoa học công nghệ ngày càng phát triển ở trình độ cao

Giáo dục thể chất là một quá trình sư phạm nhằm đào tạo thế hệ trẻthành những người phát triển và hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nângcao khả năng làm việc, tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ của con người,thích nghi với những biến đổi của môi trường sống [31]

Ở trường CĐ - ĐH môn GDTC giúp sinh viên phát huy hết khả năngcủa mình Mỗi một nội dung môn GDTC đều có những tác động cụ thể đếnviệc rèn luyện cơ thể Con người cần hoạt động thể chất mới có đủ sức khỏe

và sẽ hoàn thành nhiệm vụ Con người tồn tại và phát triển nhờ vào quá trìnhhoạt động và thích nghi với môi trường, hoàn cảnh sống

Đối với sinh viên các trường đại học, cao đẳng phát triển kỹ năng vậnđộng, linh hoạt trong các hoạt động vận động khác nhau, nâng cao tính độc

Trang 36

lập trong việc giải quyết các nhiệm vụ vận động Cho nên, qua những điềukiện hoạt động thực tế, chúng ta có thể phát hiện, hướng nghiệp TDTT chonhững sinh viên có năng khiếu, từ đó đào tạo nhân tài cho đất nước Giáo dụctoàn diện có vị trí rất quan trọng trong quá trình giáo dục, GDTC góp phần tíchcực vào việc hình thành thói quen đạo đức, phát triển trí tuệ, thẩm mỹ chothanh niên trong cuộc sống và trong lao động Thông qua môn GDTC sẽ tạocho sinh viên có được tinh thần trách nhiệm, kỷ luật cao trong các giờ hoạtđộng tập thể cũng như trong học tập, rèn luyện Từ đó tạo cho sinh viên có ýthức trong công việc, hình thành tính tự giác, tích cực và sáng tạo để đạt đượcmục đích trong quá trình học tập, qua đó sinh viên sẽ biết được, hiểu được tầmquan trọng của các môn học, sinh viên có hướng vừa học vừa rèn luyện thểchất, nâng cao sức khỏe nhằm thúc đẩy việc học tập đạt kết quả tốt hơn.

Trong hoạt động GDTC, các hoạt động tập thể sẽ lôi cuốn mọi ngườitham gia, tập thể là khâu trung gian của mối quan hệ giữa cá nhân và cá nhân,

cá nhân với xã hội, qua hoạt động tập thể con người sẽ thể hiện tài năng để tựkhẳng định mình, hứng thú tham gia, thể hiện tính sáng tạo và linh hoạt trongcác thao tác, hành vi, cử chỉ

Tóm lại, GDTC là quá trình giáo dục và đặc trưng của nó thể hiện ởviệc giảng dạy các động tác, rèn luyện các tố chất thể lực, điều khiển quá trìnhphát triển thể chất của con người

Phát triển thể chất con người là quá trình làm thay đổi và phát triển vềhình thái, chức năng sinh vật học của cơ thể con người Ở mỗi con người pháttriển thể chất phụ thuộc vào các đặc điểm sinh học, điều kiện sống và giáodục Quá trình GDTC sẽ từng bước hình thành và phát triển các kỹ năng, kỹxảo vận động và có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thiện năng lựcvận động của con người

Trang 37

Giáo dục thể chất mang ý nghĩa rất to lớn, trong quá trình lao độngsáng tạo của con người, các hình thức rèn luyện thân thể cũng được nảy sinh,hình thành và phát triển đa dạng, phong phú nhằm đáp ứng nhu cầu tăngcường sức khỏe, nâng cao năng lực vận động, góp phần phát triển sản xuất,cải thiện đời sống và phát triển xã hội.

Thực hiện chương trình GDTC hiện nay trong các trường đại học, caođẳng là vấn đề quan trọng, nó góp phần nâng cao sức khỏe cho sinh viên, rènluyện đạo đức, phẩm chất ý chí, tác phong và tạo điều kiện học tập tốt, giúpsinh viên nâng cao thể chất và phát triển toàn diện

Để thực hiện nhiệm vụ trên các nhà giáo dục, kể cả người làm công tácgiáo dục TDTT (trong đó có GDTC) phải nhận thức đầy đủ chỉ đạo trên để đưa

nó thực thi trong cuộc sống Trong quá trình hình thành kinh nghiệm vận động

và phát triển các năng lực thể chất cho người tập, người làm công tác TDTTđồng thời phải giáo dục để họ có lý tưởng, mở ra cho họ về tương lai cuộcsống, tham gia tích cực trong lao động sản xuất, giúp họ lựa chọn con đườngsống tốt đẹp hơn và thực hiện nghĩa vụ của người công dân đối với Tổ quốc

Muốn giáo dục cho sinh viên tinh thần cần cù lao động, ý chí, tính sángtạo, thì bản thân người thầy giáo phải thể hiện trong việc làm của mình là cầnphải yêu lao động như thế nào, cần khắc phục khó khăn, gian khổ ra sao đểđạt được mục đích đề ra

Muốn giáo dục cho sinh viên có tính trung thực, kỷ luật và khiêm tốnthì nhà sư phạm phải thật gương mẫu, thật sự là tấm gương sáng cho sinh viênnoi theo

Muốn phát triển thị hiếu thẩm mỹ trong sinh viên thì bản thân nhà sưphạm phải có hiểu biết về kỹ thuật, phải biết cách giáo dục tình cảm, thị hiếu,quan điểm, tư tưởng thẩm mỹ trong phạm vi TDTT, biết giáo dục khát vọnghướng tới cái đẹp, tới sự giản dị và sức lôi cuốn của động tác, thì bản thân

Trang 38

phải là người khỏe mạnh, biết cách tập luyện để giữ gìn cơ thể mình được cânđối và hài hòa.

Nghệ thuật sư phạm cũng như bản thân của quá trình TDTT là rất đadạng và phong phú Nó đòi hỏi người làm công tác giáo dục TDTT phải biếtgiảng dạy và hoàn thiện năng lực thể chất của người tập, phải biết phát triểnlòng ham thích, hiểu biết và khả năng độc lập tư duy trong hoạt động vậnđộng, biết nhìn nhận một cách tinh tế những đặc điểm cá nhân, những động

cơ hành vi của người tập và khéo léo hướng dẫn ý thích, đòi hỏi, nhu cầu vànguyện vọng của họ

C.Mác nói: “Nhà giáo dục phải là người được giáo dục” Thật vậy, đểthực hiện mục đích, nhiệm vụ và nguyên tắc TDTT nêu trên, đòi hỏi ngườilàm công tác giáo dục phải được giáo dục và đào tạo với trình độ chuyên môncao để có khả năng tạo cho sinh viên những điều kiện tương ứng với nó nhằmphát triển và củng cố đầy đủ tất cả những năng lực trí tuệ và phát triển thể lựccần thiết cho người tập Đó chính là lý tưởng của người làm công tác giáo dụcnói chung và thể dục nói riêng

Người làm công tác giáo dục TDTT cần phải yêu mến công việc củamình, phải là người được rèn luyện thể chất, có sức khỏe cường tráng và cótrình độ chuyên môn nghiệp vụ điêu luyện về TDTT Trình độ chuyên môncao, tri thức trong lĩnh vực TDTT càng rộng, thì nhà giáo dục càng có nhiềukhả năng giải quyết tốt các nhiệm vụ giáo dục

Hoạt động GDTC trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của ngườihọc được tổ chức theo nhiều hình thức nhằm phù hợp với sự ham thích, giớitính, lứa tuổi và sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyềnvui chơi, giải trí, phát triển thể chất và năng khiếu thể thao

Do đặc thù của đối tượng tham gia thể thao là nhằm cố gắng hoàn thiệnthể chất cho bản thân, nên phong thái bề ngoài của giáo viên trong quá trình

Trang 39

giáo dục cũng có ý nghĩa rất đặc biệt, cần phải có cơ thể phát triển cân đối, cóphong cách và phẩm chất của người làm công tác GDTC.

Phẩm chất của nhà giáo dục có ảnh hưởng sâu sắc đối với việc hìnhthành nhân cách và đạo đức của sinh viên như: tính cần cù lao động, tính tìnhcởi mở, thẳng thắn, thật thà, trung thực và kỷ luật Những lầm lỗi nhỏ thuộc

về thói quen của người thầy cũng có thể để lại những ấn tượng không haytrong sinh viên, vì các em thường để ý đến hành vi, tư cách của giáo viên hơn

là chú ý đến lời nói của giáo viên

Vì vậy, để giải quyết tốt nhiệm vụ giáo dục, người giáo viên thể dục thểthao trước hết phải tự rèn luyện mình về đạo đức, phong cách, về năng lựcchuyên môn và nghiệp vụ để thật sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo

1.3.2 Lý luận về công tác quản lý GDTC

Nhiệm vụ GDTC trong nhà trường bao gồm: [19]

Phát triển toàn diện về hình thể và chức năng cơ thể nhằm hoàn thiệnkhả năng vận động, củng cố và nâng cao sức khỏe, kéo dài tuổi thọ

Giáo dục tinh thần tập thể, đoàn kết, đạo đức, ý chí, tính kỷ luật và khảnăng thẩm mỹ của con người, giáo dục những kỹ năng cần thiết trong đờisống, ngoài ra còn có chức năng như: vui chơi giải trí, thư giãn tinh thần…

Sinh viên được rèn luyện TDTT thường xuyên, bảo đảm đúng phươngpháp khoa học có ảnh hưởng tốt đến các chức năng như: khả năng trao đổichất được tăng cường, nâng cao sức đề kháng, phòng chống được một số bệnhtật thông thường, phát triển các tố chất và vui tươi, yêu đời, hăng say trongcông việc, học tập, lao động lâu mệt mỏi

Đối với hệ thần kinh, tập luyện TDTT nâng cao được khả năng thăngbằng, tính linh hoạt, tăng khả năng phân tích, tổng hợp, thích ứng với sự thayđổi đột ngột của hoàn cảnh, khí hậu, thời tiết

Trang 40

Thể dục thể thao nói chung là môn phát triển sức khỏe Thể dục nóiriêng là một trong những phương tiện cơ bản của GDTC được đưa vào cáctrường đại học, cao đẳng giảng dạy nhằm phục vụ mục đích duy nhất là pháttriển sức khỏe cho sinh viên, làm nền móng vững chắc để phát huy tính sángtạo trong các môn học khác Đồng thời thể dục là hệ thống các bài tập mangtính khoa học được chọn lọc, là những phương pháp rèn luyện nhằm hoànthiện khả năng vận động cũng như phát triển cơ thể toàn diện, củng cố vànâng cao thể chất cho con người nói chung và cho sinh viên nói riêng.

Giờ học GDTC là thời gian để các sinh viên gạt bỏ được những căngthẳng sau những giờ học trên lớp, mang lại những giây phút thoải mái, vuitươi Tập luyện thể thao thường xuyên sẽ đem lại sức khỏe, phục vụ cho cuộcsống, học tập, lao động, nghiên cứu, phòng chống một số bệnh thông thường,chữa trị một số dị tật phát sinh trong quá trình sinh hoạt, phát triển cơ thể hàihòa cân đối, tạo vẻ đẹp thể hình, cường tráng “Một tinh thần minh mẫn trongmột cơ thể cường tráng”

Pháp lệnh TDTT 28/2000/PL – UBTVQH10 quy định các hoạt độngTDTT trong đó có hoạt động GDTC

TDTT trường học bao gồm GDTC và hoạt động TDTT ngoại khóa chongười học GDTC trong trường học là chế độ giáo dục bắt buộc nhằm tăngcường sức khỏe, phát triển thể chất, góp phần hình thành nhân cách, đáp ứngyêu cầu giáo dục toàn diện cho người học Nhà nước khuyến khích hoạt độngngoại khóa trong nhà trường

Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Ủy ban TDTT trong việc thựchiện các nhiệm vụ: xây dựng, chỉ đạo tổ chức thực hiện chương trình giáodục thể chất, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và đánh giá kết quả rènluyện thân thể của người học, đào tạo, bồi dưỡng và bảo đảm đủ giáo viên,

GV TDTT; Quy định hệ thống thi đấu TDTT trường học

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 : Bảng phân bố chương trình giai đoạn 1 - Một số giải pháp quản lý chất lượng dạy học môn giáo dục thể chất cho sinh viên hệ không chuyên trường đại học quảng nam
Bảng 2.1 Bảng phân bố chương trình giai đoạn 1 (Trang 52)
Bảng 2.2 : Bảng phân bố chương trình tự chọn giai đoạn 2. - Một số giải pháp quản lý chất lượng dạy học môn giáo dục thể chất cho sinh viên hệ không chuyên trường đại học quảng nam
Bảng 2.2 Bảng phân bố chương trình tự chọn giai đoạn 2 (Trang 55)
Bảng 2.3: Kết quả phỏng vấn cán bộ quản lý, giảng viên giảng dạy TDTT về - Một số giải pháp quản lý chất lượng dạy học môn giáo dục thể chất cho sinh viên hệ không chuyên trường đại học quảng nam
Bảng 2.3 Kết quả phỏng vấn cán bộ quản lý, giảng viên giảng dạy TDTT về (Trang 62)
Bảng 2.4: Kết quả học tập lý thuyết và thực hành GDTC của 440 sinh viên - Một số giải pháp quản lý chất lượng dạy học môn giáo dục thể chất cho sinh viên hệ không chuyên trường đại học quảng nam
Bảng 2.4 Kết quả học tập lý thuyết và thực hành GDTC của 440 sinh viên (Trang 65)
Bảng 2.6: Thực trạng trang thiết bị, dụng cụ phục vụ giảng dạy - Một số giải pháp quản lý chất lượng dạy học môn giáo dục thể chất cho sinh viên hệ không chuyên trường đại học quảng nam
Bảng 2.6 Thực trạng trang thiết bị, dụng cụ phục vụ giảng dạy (Trang 69)
Bảng 3.1. Đánh giá sự cần  thiết của các giải pháp - Một số giải pháp quản lý chất lượng dạy học môn giáo dục thể chất cho sinh viên hệ không chuyên trường đại học quảng nam
Bảng 3.1. Đánh giá sự cần thiết của các giải pháp (Trang 86)
Bảng 2.1: Khảo sát về độ tuổi GV giảng dạy GDTC. - Một số giải pháp quản lý chất lượng dạy học môn giáo dục thể chất cho sinh viên hệ không chuyên trường đại học quảng nam
Bảng 2.1 Khảo sát về độ tuổi GV giảng dạy GDTC (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w