1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lí hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT huyện châu đức, tỉnh bà rịa vũng tàu

127 796 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp quản lý hoạt động đổi mới KTĐG KQHT ở các trường THPT huyện Châu Đức tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu
Tác giả Phan Đình Đông
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2.2 Nội dung đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 291.2.3 Quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá KQHT 301.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý hoạt động đổi mới

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

  

PHAN ĐÌNH ĐÔNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT

ĐỘNG ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT

QUẢ HỌC TẬP

Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN CHÂU

ĐỨC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.05

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Mục lục

Lời cảm ơn

Danh mục các chữ viết tắt bằng tiếng Việt

Một số thuật ngữ bằng tiếng Anh

Danh mục các sơ đồ, bảng

MỞ ĐẦU

1.1.3 Những chức năng và yêu cầu sư phạm trong việc kiểm tra,

đánh giá kết quả học tập

12

1.1.5 Hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 151.1.6 Các nguyên tắc, phương pháp và kĩ thuật đánh giá KQHT 181.1.7 Vai trò của KTĐG KQHT trong quá trình dạy học 191.2 Cơ sở lí luận của quản lý hoạt động đổi mới KTĐG KQHT 23

1.2.1 Bản chất của quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT 23

Trang 3

1.2.2 Nội dung đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 291.2.3 Quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá KQHT 301.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý hoạt động đổi

mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

34

Chương 2- THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỔI

MỚI KTĐG KQHT Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

2.2 Vài nét về thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

2.3 Thực trạng công tác quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá

KQHT ở các trường THPT trên địa bàn huyện Châu Đức

2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra,

đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT trên địa bàn huyệnChâu Đức

Chương 3- MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI

KTĐG KQHT CỦA HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

Trang 4

3.2.1 Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức về ý nghĩa, yêu cầu và định

hướng đổi mới kiểm tra đánh giá KQHT nhằm tạo động lực đổi mớicho giáo viên, hình thành thái độ tích cực trong học tập và kiểm trađánh giá ở học sinh, hạn chế tiêu cực trong thi cử

72

3.2.2 Giải pháp 2: Quy hoạch đội ngũ giáo viên đảm bảo về số

lượng, cơ cấu, chất lượng đáp ứng yêu cầu đổi mới kiểm tra, đánhgiá kết quả học tập

76

3.2.3 Giải pháp 3: Chỉ đạo dạy học và kiểm tra đánh giá theo chuẩn

kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông

78

3.2.4 Giải pháp 4: Bồi dưỡng kĩ năng đánh giá cho giáo viên và rèn

luyện kĩ năng tự đánh giá cho học sinh

81

3.2.5 Giải pháp 5: Xây dựng kế hoạch đánh giá kết quả học tập và

đổi mới qui trình đánh giá hạnh kiểm của học sinh

89

3.2.6 Giải pháp 6: Bảo đảm tính khách quan, chính xác, công bằng

của quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

98

3.2.7 Giải pháp 7: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ

đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới hệ thống thông tin quản lý vàcông tác thi đua khen thưởng

101

3.2.8 Giải pháp 8: Xây dựng môi trường văn hóa chất lượng giáo

dục trong nhà trường và phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dụctham gia hỗ trợ hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá

PHỤ LỤC

MỘT SỐ CHỮ VIẾT TẮT BẰNG TIẾNG VIỆT

Viết tắt Viết đầy đủ

Trang 5

MỘT SỐ THUẬT NGỮ BẰNG TIẾNG ANH

thi cho điểm, xếp loại/hạngcâu hỏi

đo lườngchuẩn đánh giá khách quankết quả học tập chủ quan kiểm tra/ trắc nghiệm

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS TS Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Ngọc Hợi Hiệu trưởng Trường Đại học Vinh - người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo,hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

-Trân trọng cảm ơn Thầy Phạm Quang Huân - Viện phó Viện nghiên cứu Sưphạm, Trường ĐHSP Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và đónggóp ý kiến quý báu để hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn PGS TS Hà Văn Hùng, Hội đồng bảo vệ cùng cácThầy phản biện đã có những ý kiến đóng góp quý báu giúp cho luận văn đượchoàn thiện hơn

Sau ba năm học tập và nghiên cứu, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâusắc đến:

- Khoa Sau đại học Trường Đại học Vinh, Phòng Quản lý Khoa học và SauĐại học trường Đại học Đồng Tháp và các Thầy, cô đã tham gia quản lý, giảngdạy, động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

- Lãnh đạo Sở Giáo dục & Đào tạo Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, các bạn bèđồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

- Đặc biệt, để hoàn thành luận văn này, có sự động viên và giúp đỡ của giađình tôi

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng luận văn không thể tránh khỏi sai sót.Kính mong sự góp ý của Hội đồng khoa học, Thầy cô và các bạn

Bà Rịa-Vũng Tàu, tháng 07 năm 2009

Tác giả Luận văn

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Trang 7

1.1 Quá trình đánh giá KQHT 9

1.3 Nội dung đánh giá kết quả học tập 15

1.6 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT 181.7 Mô hình tương tác giữa giảng dạy và đánh giá 191.8 Mối quan hệ giữa các thành tố trong quá trình dạy học 201.9 Mối quan hệ giữa mục tiêu, chương trình và KTĐG 211.10 Mối liên hệ thông tin trong quản lí 23

3.1 Các giải pháp QL hoạt động đổi mới KTĐG KQHT 72

3.3 Tiến trình lập kế hoạch đánh giá KQHT 903.4 Quy trình đánh giá KQHT của học sinh 933.5 Quan hệ trong tổ chức lập kế hoạch đánh giá KQHT 933.6 Chu trình “hoạch định - kiểm soát” cơ bản 95

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 So sánh kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo kiểu

truyền thống và theo định hướng đổi mới 323.1 Đánh giá mức độ HS tham gia thí nghiệm thực hành 823.2 Tương quan giữa trình độ nhận thức với tỷ lệ câu hỏi 833.3 Ma trận cho một đề kiểm tra viết 85

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bối cảnh mới và xu thế mới của giáo dục hiện đại, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội

của đất nước ta hiện nay đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với sự nghiệp giáodục Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướctrong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta phải đổi mới cănbản, toàn diện và mạnh mẽ Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng IX, Nghị quyết40/2000/QH10, Chỉ thị 14/2001/CT-TTg về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông,ngành giáo dục và đào tạo đã và đang tập trung đổi mới ở ba khâu cơ bản: đổi mới nội

Trang 9

dung giáo dục, sách giáo khoa; đổi mới phương pháp giáo dục và đổi mới đánh giá thi cử.Trong những nội dung đó, đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá kếtquả học tập của học sinh giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Theo GS Dương Thiệu Tống, trong vấn đề giảng dạy và học tập ở bất kì cấp học nàocũng đều có bốn vấn đề cần phải đặc biệt quan tâm, đó là: mục tiêu giảng dạy, cấu trúc củanội dung kiến thức, phương pháp giảng dạy và học tập, đánh giá giảng dạy và học tập [46].Giữa mục tiêu, nội dung, phưong pháp và kiểm tra đánh giá có mối quan hệ mật thiết vớinhau Đánh giá một cách chính xác và đáng tin cậy kết quả học tập mới có thể xác địnhmục tiêu đề ra có đạt được hay không và đạt đến mức độ nào, đồng thời xác định được tínhthích hợp của nội dung và hiệu quả của phương pháp giảng dạy, trên cơ sở đó mới tiếnhành đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục Vì vậy, trong đổimới giáo dục rất coi trọng đổi mới kiểm tra đánh giá, nếu không đổi mới kiểm tra đánh giáthì quá trình đổi mới giáo dục phổ thông và đổi mới phương pháp dạy học sẽ trở nên hìnhthức và không đạt hiệu quả Về tầm quan trọng của kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy

học, nhà giáo dục G.K Miller đã nói: “Thay đổi chương trình hoặc phương pháp giảng dạy mà không thay đổi hệ thống đánh giá thì chưa chắc đã thay đổi được chất lượng dạy học Nhưng khi thay đổi hệ thống đánh giá mà không thay đổi chương trình giảng dạy thì lại có thể tạo nên sự thay đổi theo chiều hướng tốt của chất lượng dạy học” [53, tr.113].

Thực tiễn dạy học và giáo dục hiện nay ở nước ta, việc kiểm tra đánh giá KQHT của họcsinh vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế, đó là: kiểm tra đánh giá chưa toàn diện, khôngđúng, không đủ mục tiêu môn học, chưa chú trọng đến sự cân đối hợp lí kiểm tra đánh giá

ba phương diện mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ; kiểm tra đánh giá chú trọng kiểm tratri thức tái hiện mà chưa coi trọng việc phát huy tính sáng tạo và năng lực thực hành củahọc sinh; kiểm tra đánh giá chưa khách quan, chính xác, không căn cứ theo chuẩn kiếnthức, kĩ năng Việc kiểm tra đánh giá phụ thuộc vào chủ quan của giáo viên nên khôngphản ánh đúng năng lực thực tế của học sinh; kiểm tra đánh giá chưa đa dạng về hình thức,kết quả kiểm tra đánh giá không góp phần điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạycủa giáo viên, kém tác dụng trong việc điều chỉnh động cơ, mục tiêu học tập nên chưakhắc phục được thói quen học tập thụ động của học sinh Vì vậy, để nâng cao chất lượngdạy và học hiện nay, ngoài việc đổi mới về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học,việc đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là một vấn đề hết sức cấp thiết

Trang 10

Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định: Tiếp tục nâng cao chấtlượng toàn diện, đổi mới phương pháp giáo dục; đổi mới đánh giá, thi cử, đồng thời với

đổi mới cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và công tác quản lý giáo dục, thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa giáo dục” [54, tr.114] Như vậy, đổi mới kiểm tra đánh giá

kết quả học tập của học sinh phải thực hiện đồng bộ với đổi mới công tác quản lý trườngTHPT Hay nói cách khác, hiệu quả của đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập phụthuộc rất lớn vào trình độ nghiệp vụ quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục mà chủyếu là người hiệu trưởng Tuy nhiên, theo thông báo kết luận số 242-TB/TW ngày15/4/2009 của Bộ chính trị, bên cạnh những thành tích mà ngành giáo dục và đào tạo đã

đạt được, còn tồn tại nhiều hạn chế, đó là: “ Công tác quản lí giáo dục còn nhiều yếu kém và là nguyên nhân chủ yếu của nhiều yếu kém khác Cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực của đất nước Đạo đức và năng lực của một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục còn thấp Công tác xây dựng đội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng yêu cầu Chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục còn bất cập, chưa đề ra được những giải pháp kịp thời, có hiệu quả để khắc phục hạn chế, yếu kém” [13, tr.2].

Với những lý do trên, việc chọn nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu” làm luận văn tốt nghiệp Cao học Quản lý giáo dục là cần

thiết nhằm đề xuất những giải pháp khả thi trong công tác quản lý hoạt động đổi mới kiểmtra đánh giá kết quả học tập của học sinh các trường THPT nói chung và các trường THPTtrên địa bàn huyện Châu Đức nói riêng, để việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập trở thànhđộng lực thúc đẩy đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng dạy học, góp phần

tích cực vào sự nghiệp đổi mới giáo dục của Tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất một số giải pháp quản lý của hiệu trưởng đối với hoạt động đổi mới kiểm trađánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở các

trường THPT trên địa bàn huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu đáp ứng yêu cầu đổi

mới giáo dục hiện nay

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về kiểm tra, đánh giá và quản lý hoạt động đổi mớikiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh THPT

Trang 11

3.2 Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết

quả học tập của học sinh ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nói chung

và các trường THPT trên địa bàn huyện Châu Đức nói riêng trong giai đoạn hiện nay.3.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học

tập ở các trường THPT trên địa bàn huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.

4 Khách thể nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý của Hiệu trưởng đối với hoạt động kiểm

tra đánh giá kết quả học tập của học sinh THPT

4.2 Đối tượng: Các giải pháp quản lý hiệu quả hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT trên địa bàn huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu 4.3 Phạm vi nghiên cứu:

- Nghiên cứu công tác quản lí của hiệu trưởng các trường THPT trên địa bàn huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu về hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong thời gian hai năm học 2007 - 2008 và 2008 - 2009.

- Trong khuôn khổ của luận văn, khái niệm đánh giá kết quả học tập mà đề tài thực

hiện chính là đánh giá kết quả học tập bộ môn, thể hiện ở đánh giá kết quả học lực của họcsinh, chủ yếu diễn ra trong quá trình dạy học

5 Giả thuyết khoa học

Việc áp dụng các giải pháp quản lý được đề xuất trong đề tài sẽ làm tăng hiệu quả hoạtđộng đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập học sinh của Hiệu trưởng các trường

THPT trên địa bàn huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, góp phần thúc đẩy đổi mới

phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục trong nhà trường

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nhằm xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, bao gồm các phương pháp: phân tích - tổng hợp - nghiên cứu các văn bản pháp quy,

các tài liệu khoa học và khái quát hóa hệ thống lý luận có liên quan đến đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn của vấn đề

nghiên cứu, bao gồm các phương pháp: Điều tra bằng phiếu hỏi; Quan sát; Tổng kết kinhnghiệm giáo dục; Phương pháp chuyên gia; Nghiên cứu các sản phẩm hoạt động

Cụ thể là: Phỏng vấn gián tiếp CBQL, GV, HS, PHHS bằng phiếu hỏi; Thảo luận,phỏng vấn trực tiếp các hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, các giáo viên cốt cán; Xin ý kiến cácchuyên gia giáo dục; Thu thập và phân tích kết quả các kì kiểm tra định kì

Trang 12

6.3 Phương pháp bổ trợ: Sử dụng thống kê toán học nhằm xử lý các kết quả điều tra

nghiên cứu để làm các cứ liệu, các chỉ số đánh giá

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm ba chương :

Chương 1 Cơ sở khoa học của quản lý đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập Chương 2 Thực trạng công tác quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.

Chương 3 Một số giải pháp quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THPT huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.

Cuối cùng là phần phụ lục và một số tài liệu tham khảo.

8 Những đóng góp của đề tài

8.1 Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập

và công tác quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập học sinh của Hiệutrưởng các trường THPT

8.2 Phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá KQHT ở các trường THPT trên địa bàn huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu và

nêu được nguyên nhân thành công cũng như những hạn chế cần khắc phục

8.3 Xây dựng một số giải pháp quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá kết quảhọc tập ở các trường THPT, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý của hiệu trưởngnhằm nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục trong nhà trường, đáp ứng yêu cầu đổi mớigiáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay

8.4 Sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý và giáo viên ở các trườngTHPT trong việc đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KQHT

1.1.1 Khái niệm cơ bản trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.

1.1.1.1 Kiểm tra và đánh giá:

- Đánh giá: Theo Từ điển Tiếng Việt, 1992 (Hoàng Phê chủ biên) đã đưa ra định

nghĩa: đánh giá là “nhận định giá trị”, có nghĩa là định giá trị cho một đối tượng nào đó

theo một tiêu chuẩn nhất định với một mức độ và phạm vi nhất định [40, tr 294]

Trang 13

Theo quan niệm của Jean Marie De Kefele (1989)“Đánh giá có nghĩa là thu thập một tập hợp thông tin đủ thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy; xem xét sự phù hợp giữa tập hợp thông tin này với một tập hợp tiêu chí phù hợp với các mục tiêu định ra ban đầu nhằm đưa

ra một quyết định” [56] GS Trần Bá Hoành đưa ra định nghĩa“Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc” [24, tr 6].

Định nghĩa chung về đánh giá đã nói trên cũng được áp dụng vào giáo dục Theo

GS.TS Hoàng Đức Nhuận: “Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập, xử lý kịp thời,

có hệ thống những thông tin về thực trạng, nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu giáo dục, nhằm làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hoạt động (quyết định) giáo dục tiếp theo” [37, tr 13]

Như vậy, quá trình đánh giá trong giáo dục có thể hiểu là quá trình thu thập thông tin,xác định mức độ đạt được các mục tiêu đưa ra ban đầu nhằm xem xét và đưa ra quyết địnhcho các hoạt động giáo dục tiếp theo Đó là những quyết định giáo dục có tính chiến lượcđược thể hiện thành những chủ trương và hoạt động cụ thể Tuy nhiên, quá trình đánh giá

này chỉ thực sự có hiệu quả khi quá trình thu thập thông tin có sự đa dạng (gồm cả định tính, định lượng) và được chia sẻ (bao gồm sự tự đánh giá của học sinh, sự đánh giá lẫn nhau giữa các học sinh và sự đánh giá của giáo viên).

Đánh giá trong giáo dục có nhiều dạng, tương ứng với những đối tượng và mục đíchđánh giá khác nhau có các dạng đánh giá khác nhau, như: đánh giá hệ thống giáo dục, đánhgiá một bậc học, đánh giá cơ sở giáo dục, đánh giá giáo viên, đánh giá học sinh, đánh giáhoạt động quản lý của hiệu trưởng, đánh giá giờ dạy của giáo viên, đánh giá kết quả họctập của học sinh Học sinh là đối tượng, là sản phẩm giáo dục, đồng thời là chủ thể củaquá trình giáo dục, do đó việc đánh giá kết quả học tập của học sinh giữ vị trí đặc biệttrong đánh giá giáo dục

- Kiểm tra: Theo Từ điển Giáo dục học: “Kiểm tra là bộ phận hợp thành của quá

trình hoạt động dạy-học nhằm nắm được thông tin về trạng thái và kết quả học tập của học sinh, về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm những biện pháp khắc phục những lổ hổng, đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy- học” [43, tr 224]

Trang 14

Theo Black & Wiliam (1998), kiểm tra là thuật ngữ chỉ cách thức hoặc hoạt động giáo

viên sử dụng để thu thập thông tin về biểu hiện kiến thức, kĩ năng và thái độ của học sinhtrong học tập nhằm cung cấp dữ liệu làm cơ sở cho việc đánh giá

- Mối quan hệ giữa kiểm tra và đánh giá:

+ Kiểm tra trong dạy học là rà soát để tìm kiếm thông tin phản hồi xem học sinh biết

gì, biết đến mức độ nào hoặc làm được gì theo mục tiêu học tập Đánh giá là đưa ra nhận

định tổng hợp về các dữ kiện đo lường được qua các hình thức kiểm tra trên cơ sở đốichiếu, so sánh với các tiêu chuẩn - mục tiêu Như vậy, kiểm tra và đánh giá là hai côngđoạn liên hệ mật thiết với nhau, không tách rời được Kiểm tra là công cụ, là phương tiện

và hình thức chủ yếu, quan trọng nhất của đánh giá Thông qua việc sử dụng bộ công cụ đođược xây dựng trên những mục tiêu và tiêu chí xác định, kiểm tra có vai trò cung cấpthông tin làm cơ sở dữ liệu cho việc đánh giá Nếu coi đánh giá là mục đích của một hoạtđộng thì kiểm tra là phương tiện quan trọng để thực hiện mục đích, nói cách khác, nếuđánh giá dựa trên các mục tiêu được xác định thì kiểm tra căn cứ trên các tiêu chí tươngứng với các mục tiêu, nếu đánh giá nhằm hướng tới một quyết định liên quan tới mục tiêuthì kiểm tra nhằm so sánh sự phù hợp của sản phẩm với các tiêu chí đã được định ra Vìkiểm tra là phương tiện và hình thức của đánh giá nên có loại hình đánh giá nào thì cũng

có loại hình kiểm tra đó

+ Theo Hoàng Đức Nhuận “Kiểm tra, đánh giá là một bộ phận hợp thành không thể thiếu của quá trình giáo dục Kiểm tra, đánh giá là khâu cuối cùng, đồng thời khởi đầu cho một chu trình kín tiếp theo với một chất lượng cao hơn của quá trình giáo dục” [37,

tr.13] Trong quá trình thực hiện các hoạt động giáo dục, có thể mô tả vị trí của đánh giá

với các khâu khác bằng một chu trình như sau: Kiểm tra → Đánh giá → Tìm nguyên nhân

→ Quyết định → Thực hiện → Kiểm tra → Như vậy, kiểm tra là khâu mở đầu củađánh giá, đánh giá là bước tiếp theo của kiểm tra, gắn liền với kiểm tra Sau khi đánh giáxong, kết quả đó là cơ sở để xác định nguyên nhân, quyết định biện pháp, tổ chức thựchiện Cứ tiếp tục như vậy, một chu trình mới như thế lại bắt đầu Do đó, kiểm tra phải luôngắn liền với đánh giá vì kiểm tra mà không đánh giá sẽ không không mang lại hiệu quả,ngược lại đánh giá không dựa trên những số liệu của kiểm tra thì rất dễ mang tính ngẫunhiên, chủ quan, do đó dễ dẫn tới những hậu quả không tốt về tâm lí, giáo dục

Trong nhà trường, việc đánh giá kết quả học tập của học sinh được thực hiện chủ yếuthông qua việc tổ chức kiểm tra và thi một cách có hệ thống, theo những quy định chặt

Trang 15

chẽ Vì thế, kiểm tra và đánh giá là hai việc thường đi liền với nhau tuy rằng không phảimọi việc kiểm tra đều hướng tới mục đích đánh giá.

1.1.1.2 Đánh giá kết quả học tập của học sinh:

- Kết quả học tập: Học tập là quá trình tiếp thu kiến thức và rèn luyện kĩ năng dưới sự

dạy bảo, hướng dẫn của giáo viên Học tập luôn đi đôi và gắn liền với hoạt động giảng dạy

của giáo viên và hợp thành hoạt động dạy - học trong lĩnh vực sư phạm Trong nhà trường,

mọi hoạt động học tập tất yếu dẫn đến kết quả học tập

Liên quan đến kết quả học tập có nhiều khái niệm khác nhau: kết quả học tập, thànhtích học tập, chất lượng học tập, hiệu quả học tập Tuy nhiên, với những cách gọi này, kếtquả học tập lại được xem xét trên những phương diện khác nhau Cụ thể là:

+ Khi nói kết quả học tập, có nghĩa là nói về thành tích học tập của học sinh nhưng ở

hiện trạng những gì đạt được trong mối quan hệ với mục tiêu đã xác định

+ Khi nói thành tích học tập lại thiên về mức độ đạt được những mục tiêu của học sinh

này với các học sinh cùng học khác sau một quá trình tham gia học tập so với những yêucầu của mục tiêu môn học

+ Khi nói đến chất lượng học tập lại thiên về đánh giá cả định tính và định lượng

những gì đạt được của học sinh trong quá trình hoàn thiện và phát triển về trí tuệ, nhâncách, thể chất so với những mục tiêu môn học đã đặt ra

+ Khi nói hiệu quả học tập lại thiên về đánh giá kết quả đạt được những mục tiêu môn

học trên cơ sở những đầu tư về nhân lực, vật lực, thời gian và công sức bỏ ra sau một giaiđoạn học tập

Theo James Madison Uniiversity (2003)“Kết quả học tập là bằng chứng sự thành công của học sinh về kiến thức, kĩ năng, năng lực, thái độ đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục” và “Kết quả học tập được thể hiện cụ thể ở các chỉ số học tập” [35, tr.115] Từ

đó có thể hiểu, kết quả học tập của học sinh là mức độ đạt được về kiến thức, kĩ năng, thái

độ so với những yêu cầu, mục tiêu dạy học - giáo dục

- Đánh giá KQHT: Theo Từ điển Giáo dục học, thuật ngữ đánh giá KQHT được định

nghĩa: “Xác định mức độ nắm được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh so với yêu cầu của chương trình đề ra Nội dung đánh giá là những kết quả học tập hằng ngày, cũng như những kết quả phản ánh trong các kì kiểm tra định kì và kiểm tra tổng kết các mặt kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của từng môn học Yêu cầu đánh giá là chú trọng xem xét mức độ thông hiểu và bền vững của kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo so với chuẩn của chương trình Kết

Trang 16

quả của việc đánh giá được thể hiện chủ yếu bằng số điểm cho theo thang điểm quy định của Bộ GD-ĐT hiện nay là 10 điểm, ngoài ra có thể được thể hiện bằng lời nhận xét của giáo viên’’ [43, tr.73-74] Theo Hoàng Đức Nhuận, đánh giá KQHT“là quá trình thu thập

và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh để họ học tập ngày một tiến bộ hơn” [37, Tr 13]

Từ đó có thể hiểu, đánh giá KQHT là thuật ngữ chỉ quá trình hình thành những nhậnđịnh, rút ra những kết luận hoặc phán đoán về trình độ, phẩm chất của học sinh, hoặc đưa

ra những quyết định về việc dạy học dựa trên cơ sở những thông tin đã thu thập được mộtcách hệ thống trong quá trình kiểm tra Là sự so sánh, đối chiếu kiến thức, kỹ năng, thái độthực tế đạt được của học sinh để tìm hiểu và chẩn đoán trước và trong quá trình dạy họchoặc sau một quá trình học tập với các kết quả mong đợi đã xác định trong mục tiêu dạyhọc Vì vậy, đánh giá KQHT của học sinh là đánh giá mức độ người học sinh đạt được về

kiến thức, kĩ năng, thái độ đối chiếu với các mục tiêu dạy học - giáo dục.

Về thực chất, đánh giá kết quả học tập của học sinh là hoạt động đánh giá chất lượnghọc tập sau những tác động có chủ đích, có quá trình của hoạt động dạy học tới học sinh

Do tính không ổn định của chất lượng học tập - sản phẩm đang trong quá trình hoàn thiện,

nên muốn đánh giá chính xác kết quả học tập của học sinh, người giáo viên phải đánh giátheo quá trình và phải dựa trên các tiêu chí đánh giá được xây dựng từ chuẩn

Đánh giá kết quả học tập của học sinh là đánh giá loại sản phẩm giáo dục quan trọngnhất, phản ánh tập trung nhất chất lượng giáo dục Việc đánh giá học sinh là trách nhiệm

và là nhiệm vụ chính của giáo viên Đánh giá học sinh trong quá trình giáo dục chính làđánh giá kết quả học tập, chủ yếu diễn ra trong quá trình dạy học Người ta cho rằng khókhăn nhất hiện nay khi đánh giá chất lượng giáo dục là đánh giá kết quả học tập của ngườihọc Người ta cũng ước tính rằng các hoạt động liên quan đến đánh giá chiếm khoảng mộtphần ba lượng thời gian lao động của một giáo viên và họ liên tục sử dụng đánh giá đểđịnh hướng cho việc ra các quyết định của mình

- Quá trình đánh giá kết quả học tập:

Quá trình đánh giá KQHT gồm 4 khâu:

Trang 17

Sơ đồ 1.1- Quá trình đánh giá kết quả học tập

(1) Lượng hóa (Đo lường): chỉ việc ghi nhận và mô tả kết quả làm bài kiểm tra của

mỗi học sinh bằng một số đo, dựa theo những quy tắc đã định Đo lường kết quả học tậpcủa học sinh là phương pháp tìm hiểu và xác định mức độ kiến thức, kỹ năng, thái độ mà

người học có được sau một quá trình học tập (không bao hàm việc mô tả về chất lượng) Trong dạy học, lượng hóa được thực hiện dựa trên các dữ liệu thu thập được từ trắc nghiệm hoặc đo lường để cho điểm, xếp loại (hoặc xếp hạng) người học

(2) Lượng giá: là đưa ra những thông tin ước lượng trình độ kiến thức, kĩ năng của

người học bằng cách dựa vào các số đo đã có Có hai hướng lượng giá:

 Lượng giá theo chuẩn: Đây là sự so sánh tương đối kết quả đo lường được vớichuẩn chung của một tập hợp học sinh

 Lượng giá theo tiêu chí: Đây là sự đối chiếu kết quả đo lường được với những tiêuchí đã đề ra

(3) Đánh giá: là việc nhận định sự xứng đáng của một đối tượng (chương trình, nhà trường, người học ) so với những tiêu chuẩn, yêu cầu hoặc mục tiêu định trước Đánh giá

có thể là định lượng (dựa vào các con số) hoặc định tính (dựa vào các ý kiến và giá trị) (4) Những thông tin thu thập được từ việc đánh giá sẽ làm căn cứ cho việc ra quyết

định, đó là khâu cuối cùng của quá trình đánh giá

1.1.1.3 Những khái niệm liên quan đến đánh giá kết quả học tập:

- Đề kiểm tra: là những câu hỏi hoặc bài tập được đưa ra, đòi hỏi học sinh phải trả lời,

giải quyết bằng hình thức trình bày miệng, viết hoặc thực hành, có quy định tương đối cụthể về thời gian thực hiện, qua đó nhằm xem xét kết quả học tập của học sinh trong quátrình học tập bộ môn

- Thi: là một hình thức kiểm tra nhưng có tầm quan trọng đặc biệt và thường được

dùng trong đánh giá tổng kết Kết quả điểm thi có thể coi như một căn cứ quan trọng để đonăng lực học tập của học sinh Kiểm tra và thi có điểm giống nhau: đều là phương tiện vàhình thức quan trọng của đánh giá, là nguồn cung cấp thông tin làm cơ sở cho việc đánhgiá KQHT của học sinh Nhưng kiểm tra khác thi về tính chất và thời điểm tiến hành, kiểm

tra là phương pháp đánh giá ở những thời điểm có tính chất “mở”, trên phạm vi hẹp, thi là phương pháp đánh giá ở những thời điểm có tính chất “đóng” và trên phạm vi rộng

- Câu hỏi: là một thành phần quan trọng của kiểm tra và thi Để cấu thành một đề kiểm

tra hay thi phải có các câu hỏi Đây là thành phần nhỏ nhất nhưng vô cùng quan trọng

Trang 18

trong một bài kiểm tra hay thi Có các loại câu hỏi sau: câu hỏi tự luận là loại câu hỏi cócâu trả lời dài; câu hỏi trắc nghiệm là loại có câu trả lời ngắn.

- Chấm bài (hiệu chỉnh): là một hoạt động rất quan trọng và là một trách nhiệm nặng

nề vì nó liên quan đến tính chính xác, độ tin cậy, sự khách quan và công bằng trong phân

loại và xếp hạng KQHT của học sinh Sự chấm bài được lượng hóa bằng điểm số (cho điểm) theo các cách đánh giá và thang điểm khác nhau Ngoài ra, trong khi chấm bài giáo

viên có thể đưa ra lời nhận xét mang tính khái quát về những thành công, hạn chế hay tiến

bộ của học sinh Viết nhận xét với các giáo viên là một công việc đòi hỏi tinh thần tráchnhiệm cao và lòng vị tha theo hướng khuyến khích được hứng thú học tập của học sinh

- Điểm số: là đơn vị được ghi bằng con số trong thang điểm giáo dục để đánh giá chất

lượng học tập văn hóa, rèn luyện thể lực, đạo đức của học sinh Ở Việt Nam hiện đang ápdụng 2 loại thang điểm: thang điểm theo thứ bậc để xếp loại học lực và hạnh kiểm; vàthang điểm theo tỉ lệ với các điểm số từ 1 đến 10, trong đó điểm số 5 là chỉ chất lượng đạtyêu cầu Điểm số chỉ có giá trị với những bài kiểm tra có tính tổng hợp, đánh giá học sinhtrên nhiều phương diện, có mối quan hệ mật thiết giữa kiến thức và kĩ năng và được xử lítheo quan điểm mới về đánh giá kết quả học tập Điều này phụ thuộc rất nhiều vào việc ra

đề kiểm tra và sử dụng điểm số vào hoạt động đánh giá của giáo viên và các nhà quản lýgiáo dục Cần hạn chế tác động tiêu cực của điểm số trong đánh giá như: tâm lí chạy theođiểm số của học sinh, trạng thái ban phát hoặc thưởng phạt học sinh bằng điểm của giáoviên Đối với các bậc phụ huynh, điểm số thường mang ý nghĩa thông báo về kết quả họctập của con em, kết quả giảng dạy của giáo viên

- Chuẩn đánh giá: Theo Từ điển Tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê (chủ biên) viết, chuẩn là “cái để làm căn cứ mà so sánh” “cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng” [39, tr 191] Theo định nghĩa của Anh và nhóm Đồng tâm đưa ra (1998):“Chuẩn chứa đựng các tiêu chí kĩ thuật để xử lý và đánh giá kết quả khi

so sánh chất lượng của một vật, một người hay một tổ chức với chuẩn và các tiêu chí thể hiện giá trị cần có của người, của vật hay của một tổ chức Chuẩn là cái người ta mong đợi đạt được” [35, tr.16] Theo Trần Kiều, chuẩn đánh giá là “biểu hiện cụ thể những yêu cầu cơ bản, tối thiểu của mục tiêu giáo dục mà người học phải đạt được” [31, tr.6]

Như vậy, chuẩn trong đánh giá là những yêu cầu cơ bản, tối thiểu cần đạt để dẫn tớimột sự đánh giá Một chuẩn bao giờ cũng gồm một số tiêu chí cụ thể, giúp lượng hóa đượcnhững gì cần đánh giá ở đối tượng Trong giáo dục, chuẩn đánh giá chính là mục tiêu đánh

Trang 19

giá, là căn cứ quan trọng để thực hiện đánh giá Để có thể đo lường được KQHT thì cácmục tiêu phải được lượng hóa thành các chuẩn có thể đo lường được Việc xác định chuẩnđánh giá sẽ là cơ sở để định ra cụ thể nội dung và hình thức kiểm tra trong môn học, cũng

là căn cứ để có thể đo một cách chính xác các mức độ nhận thức và vận dụng của học sinh

1.1.2 Mục đích đánh giá trong giáo dục.

Việc đánh giá trong giáo dục nhằm những mục đích chính sau đây:

- Đối với học sinh:

+ Chẩn đoán năng lực và trình độ của học sinh để phân loại, tuyển chọn và hướngnghiệp cho học sinh

+ Xác định KQHT của học sinh theo mục tiêu và chuẩn của chương trình môn học.+ Đánh giá sự phát triển nhân cách nói chung của học sinh theo mục tiêu giáo dục.+ Thúc đẩy, động viên học sinh cố gắng khắc phục thiếu sót, phát huy năng lực củamình để học tập đạt kết quả tốt hơn

- Đối với giáo viên:

+ Cung cấp thông tin về các đặc điểm tâm sinh lí và sự tiến bộ trong học tập của từnghọc sinh để động viên và giúp đỡ kịp thời

+ Cung cấp thông tin cụ thể về tình hình học tập của học sinh làm cơ sở cho việc cảitiến nội dung và phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục

- Đối với cơ quan quản lí và nghiên cứu giáo dục:

+ Cung cấp thông tin cơ bản về thực trạng dạy và học trong một đơn vị giáo dục, làm

cơ sở cho việc đánh giá của các cơ sở giáo dục cũng như để ra những quyết định chỉ đạokịp thời nhằm uốn nắn, động viên, khuyến khích giáo viên và học sinh thực hiện tốt mụctiêu giáo dục

+ Cung cấp thông tin làm cơ sở cho việc cải tiến mọi mặt hoạt động của giáo dục từphát triển chương trình, biên soạn sách giáo khoa đến đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, xâydựng cơ sở vật chất, quản lí nhà trường

1.1.3 Những chức năng và yêu cầu sư phạm trong việc kiểm tra đánh giá KQHT

1.1.3.1 Chức năng của đánh giá trong giáo dục:

Việc đánh giá trong giáo dục nhằm thực hiện những chức năng sau:

- Chức năng kiểm tra: Đây là chức năng cơ bản thể hiện ở chỗ phát hiện được thực

trạng năng lực học tập về kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh, để từ đó xác định mức

độ đạt được và khả năng tiếp tục học tập vươn lên của học sinh Đây cũng là phương tiện

Trang 20

hữu hiệu để kiểm tra hiệu quả hoạt động và năng lực dạy của giáo viên, của nhà trườngtheo mục tiêu giáo dục.

- Chức năng hiệu chỉnh: Thông qua việc tiến hành các hình thức kiểm tra kết quả học

tập của học sinh, giáo viên phát hiện kịp thời trình độ và năng lực của học sinh Từ đó giáoviên có nhận xét, đánh giá, xác định kết quả đã đạt được, khẳng định những hạn chế, sựyếu kém và tìm ra những nguyên nhân chủ quan, khách quan ảnh hưởng tới hoạt động học

tập của các em Mặt khác, giáo viên và các cấp quản lý căn cứ vào những “liên hệ ngược”

phản ánh từ kết quả kiểm tra, đánh giá để kịp thời có phương hướng khắc phục những yếukém, kịp thời điều chỉnh những sai sót, lệch lạc mà học sinh đã bộc lộ thông qua các hìnhthức kiểm tra nhằm hoàn thiện quá trình dạy học

- Chức năng giáo dục: Đánh giá là một trong những khâu quan trọng của quá trình dạy

học Nó giúp cho học sinh thấy được những ưu điểm và nhược điểm của mình trong họctập để tiếp tục vươn lên, nó cũng giúp cho giáo viên thấy được những ưu điểm và nhượcđiểm của mình trong giảng dạy để không ngừng cải tiến Đánh giá còn góp phần quantrọng trong việc rèn luyện cho học sinh những phẩm chất tốt đẹp như lòng hăng say họctập, tinh thần cố gắng, ý thức vươn lên, tính khiêm tốn, tự trọng, tính trung thực Giúphọc sinh có động cơ và thái độ học tập đúng đắn, khuyến khích học sinh tiếp tục học tốthơn Nó cũng góp phần đáng kể trong việc điều chỉnh thái độ của giáo viên đối với côngviệc của mình cũng như đối với học sinh, giúp giáo viên yêu nghề, có ý thức tự bồi dưỡngnâng cao tay nghề Như vậy, chức năng giáo dục của kiểm tra đánh giá kết quả học tập củahọc sinh đã thể hiện sự thống nhất giữa dạy học với giáo dục phẩm chất nhân cách cho họcsinh, thể hiện sự thống nhất giữa kiểm tra và tự kiểm tra, giữa sự đánh giá của thầy và tựđánh giá của trò, giữa dạy học và tự học

- Chức năng xã hội: Công khai hóa và thông báo kết quả học tập của học sinh với học

sinh, phụ huynh, giáo viên, các cấp quản lý và những người quan tâm

1.1.3.2 Những yêu cầu sư phạm trong việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập:

Thực tế cho thấy, với học sinh THPT, những biến đổi về tâm sinh lý của độ tuổi vịthành niên cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến kết quả học tập Bên cạnh đó,kết quả học tập còn chịu sự chi phối trực tiếp của hoạt động QLGD và các nhân tố từ môitrường giáo dục như điều kiện cơ sở vật chất, thái độ của xã hội, mong muốn của phụhuynh học sinh, những thay đổi về không gian học tập, giáo viên, phương tiện học tập Vìthế trong đánh giá kết quả học tập của học sinh cần chú trọng các yêu cầu sư phạm sau:

Trang 21

- Đảm bảo tính khách quan: Tính khách quan của việc kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ

năng, kỹ xảo là sự phản ánh trung thực kết quả lĩnh hội nội dung tài liệu học tập của họcsinh so với yêu cầu do chương trình qui định Để đảm bảo tính khách quan trong kiểm trađánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh, cần cải tiến, đổi mới các phương pháp,hình thức kiểm tra đánh giá từ khâu ra đề, tổ chức thi, kiểm tra tới khâu cho điểm

- Đảm bảo tính toàn diện: Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh phải bao

quát cả khối lượng và chất lượng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của tất cả các môn học; cả kếtquả phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy, độc lập sáng tạo; cả

về ý thức tinh thần, thái độ học tập tự giác, tích cực, tự lực…

- Đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống: Việc kiểm tra đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ

xảo của học sinh phải tiến hành thường xuyên, liên tục và có hệ thống Có như vậy, giáoviên mới thu được những thông tin ngược về kết quả học tập của học sinh để từ đó có cơ

sở thực tiễn kịp thời đánh giá và điều chỉnh hoạt động học tập của học sinh cũng như quátrình dạy học nói chung Mặt khác, việc kiểm tra đánh giá mang tính khoa học, có hệ thống

và thường xuyên sẽ cung cấp thông tin phản hồi giúp học sinh tự điều chỉnh việc học Họcsinh tự biết mình tiếp thu kiến thức đến mức nào, có những sai sót nào cần bổ khuyết Qua

đó, học sinh không ngừng vươn lên trong học tập

- Đảm bảo tính phát triển: Quá trình dạy học luôn vận động và phát triển Kiểm tra

đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo là một khâu của quá trình dạy học nên khi tiến hành quitrình kiểm tra đánh giá kết quả học tập cần được xem xét theo hướng phát triển trongtương lai của học sinh Điều đó có nghĩa là, khi kiểm tra đánh giá cần nhìn chung cả quátrình trên cơ sở xem xét, đánh giá từng giai đoạn, từng khâu của hoạt động học tập, rènluyện của học sinh Coi trọng việc động viên, khuyến khích sự tiến bộ của học sinh

1.1.4 Nội dung đánh giá kết quả học tập.

những gì liên quan đến sự định giá trị về thái độ của cá nhân; Lĩnh vực tâm thần - vận

động (phản xạ, tri giác, thích ứng, kĩ năng, kĩ xảo) bao gồm các hoạt động có ưu tiên về

Trang 22

thể chất Bloom tiếp tục phân hạng từng lĩnh vực thành các mức độ khác nhau, thể hiệnqua sơ đồ tháp phân loại của Bloom:

(Theo: SE FORMER POUR ENSEIGNER - TỰ ĐÀO TẠO ĐỂ DẠY HỌC

- P.PELPEL - DUNOD – PARIS,1993)

- Theo quan điểm của GS TS Nikko (Nhật Bản), việc đánh giá kết quả học tập củahọc sinh trong lĩnh vực nhận thức chỉ ở 4 mức độ: Nhận biết; Thông hiểu; Vận dụng ở mức

độ thấp (vận dụng ở mức đơn giản, giải quyết các tình huống tương tự hoặc gần gũi với những gì đã học); Vận dụng ở mức độ cao (là vận dụng tổng hợp, sáng tạo kiến thức, kĩ năng môn học để giải quyết các tình huống, nhiệm vụ khác với những gì đã học, hoặc tình huống trong thực tiễn) [50]

Trong đó, nhận biết và thông hiểu là 2 yêu cầu cơ bản đối với học sinh ở mọi trình độ

1.1.4.2 Nội dung kết quả học tập cần đánh giá ở học sinh THPT:

Trong giáo dục THPT ở Việt Nam hiện nay, đánh giá học sinh dựa trên hai mặt: học

lực và hạnh kiểm Vì vậy, đánh giá KQHT được hiểu là đánh giá học sinh về học lực vàhạnh kiểm thông qua quá trình học tập các môn học cũng như các hoạt động khác trongphạm vi nhà trường Mặt khác, nội dung đánh giá KQHT chú trọng 3 lĩnh vực của các hoạtđộng giáo dục là: lĩnh vực nhận thức, lĩnh vực hoạt động và lĩnh vực về cảm xúc, thái độ Theo sơ đồ 1.3, học lực bao

gồm ba thành tố: kiến thức, kĩ năng

và thái độ được học sinh thể hiện

qua việc học tập các môn học Với

ý nghĩa là những phẩm chất đạo

đức, hạnh kiểm có liên quan mật

LĨNH VỰC NHẬN THỨC

LĨNH VỰC TÂM LÍ - VẬN ĐỘNG

LĨNH VỰC TÌNH CẢM

Sơ đồ 1.2 - Tháp phân loại của Bloom

Đánh giá - xếp loại học sinh

Kĩ năng

Nhiệm vụ học sinh trong điều lệ nhà trường

Thái độ Kiến thức

Sơ đồ 1.3 - Nội dung đánh giá kết quả học tập

Trang 23

thiết đến thái độ, một trong ba thành tố của học lực Thái độ thể hiện trong quá trình họctập được bao hàm trong hạnh kiểm của người học sinh và tác động qua lại với hạnh kiểm.

Do vậy sự phân định hạnh kiểm với thái độ trong học lực của học sinh chỉ là tương đối Trong khuôn khổ của luận văn, khái niệm đánh giá kết quả học tập mà đề tài thực hiệnchính là đánh giá kết quả học tập bộ môn, thể hiện ở đánh giá kết quả học lực của học sinh,chủ yếu diễn ra trong quá trình dạy học

1.1.5 Hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.

1.1.5.1 Hình thức kiểm tra:

- Căn cứ vào thời điểm kiểm tra trong một năm học, có thể được chia kiểm tra thành hai loại:

+ Kiểm tra thường xuyên: là

tiến trình thu thập thông tin về

việc học tập của học sinh một

cách liên tục trong lớp học, được

tiến hành vào bất cứ thời điểm nào

trong giai đoạn học tập, không cần thông báo trước Bao gồm kiểm tra vấn đáp (kiểm tra miệng) và kiểm tra viết 15 phút Kiểm tra vấn đáp được sử dụng trước, trong và sau khi

học bài giúp giáo viên thu được những thông tin phản hồi nhanh chóng và có tác dụng kíchthích học sinh tích cực học tập một cách thường xuyên

+ Kiểm tra định kì: là phương thức xem xét kết quả học tập của học sinh theo thời

điểm, được tiến hành vào cuối mỗi giai đoạn học tập và gồm các hình thức: kiểm tra viết

và kiểm tra thực hành từ 1 tiết trở lên, kiểm tra học kì, thi (bao gồm thi tuyển sinh, thi tốt nghiệp, thi học sinh giỏi); có tác dụng kiểm tra kiến thức, kĩ năng của học sinh về một vấn

đề tương đối hoàn chỉnh trong phạm vi kiến thức đã học, giúp học sinh rèn luyện năng lựcphân tích, tổng hợp vấn đề, kĩ năng, kĩ xảo thực hành, ứng dụng thực tế

- Căn cứ vào mục đích sử dụng, kiểm tra có thể được chia thành hai loại:

+ Kiểm tra đột xuất/ chẩn đoán: là phương thức xem xét kết quả học tập không theo

những thời điểm được ấn định trước Những đánh giá dựa trên kết quả của những bài kiểmtra đột xuất trong phạm vi lớp học thường được dùng để chẩn đoán các mặt tồn tại của quátrình dạy học, từ đó đề ra phương hướng hay quyết định điều chỉnh việc dạy và học Trongtrường hợp này, kiểm tra đột xuất có thể xem là kiểm tra thường xuyên vì chúng thực hiệncùng một chức năng Mặt khác, kiểm tra đột xuất còn được dùng như một công cụ thanh

Sơ đồ 1.4 - Các hình thức kiểm tra

Các loại KIỂM TRA

KT Chẩn đoán Thường xuyênKT Định kìKT Tổng kếtKT

Trang 24

tra hoặc quản lý giáo dục nhằm xác định trình độ học sinh so với trình độ của nhóm chuẩnhay so với hệ thống tiêu chí về kĩ năng và kiến thức mà người học cần lĩnh hội.

+ Kiểm tra tổng kết: là phương thức xem xét kết quả học tập được thực hiện vào cuối

khoá học/ môn học và được xem là phương tiện để đo mức độ lĩnh hội của học sinh trongcác lĩnh vực học tập, được dùng để xếp loại học tập hoặc để xác định thành quả của ngườihọc đạt được so với những kết quả học tập tổng quát đã được xác định trong mục tiêu dạyhọc Do vậy, kiểm tra tổng kết còn được gọi là hình thức đánh giá thành tích học tập củahọc sinh và có ý nghĩa quan trọng về mặt quản lí

1.1.5.2 Hình thức đánh giá kết quả học tập:

- Có hai hình thức đánh giá phổ biến:

+ Đánh giá bằng nhận xét: là giáo viên đưa ra những phân tích hoặc những phán đoán

về học lực hoặc hạnh kiểm của người học bằng cách sử dụng các nhận xét được rút ra từviệc quan sát các hành vi hoặc sản phẩm học tập của học sinh theo những tiêu chí được

cho trước Tác dụng của nhận xét đối với học sinh là động viên học sinh phấn đấu học tập

thành công hơn và hướng dẫn học sinh điều chỉnh việc học tập

+ Đánh giá bằng điểm số: là sử dụng những mức điểm khác nhau trên một thang điểm

để chỉ ra mức độ về kiến thức và kĩ năng mà học sinh đã thể hiện được qua một hoạt độnghoặc sản phẩm học tập Một thang điểm đầy đủ bao gồm các mức điểm và phần miêu tả

những yêu cầu về kiến thức hay kĩ năng cho mỗi mức điểm (gọi là phần hướng dẫn chấm điểm hoặc đáp án) Nói khác đi, những tiêu chuẩn được miêu tả cho từng mức điểm là căn

cứ để giáo viên giải thích ý nghĩa của các điểm số, đồng thời để họ có thể cho những nhậnxét cụ thể về bài làm của học sinh

- Căn cứ vào mục đích đánh giá mà người ta phân thành 3 loại hình khác nhau:

+ Đánh giá chẩn đoán: được tiến hành trước một giai đoạn giáo dục nhất định nhằm

đưa ra các chứng cứ để có thể dự kiến kết quả học tập cho giai đoạn đó

+ Đánh giá quá trình: được tiến hành trong quá trình giáo dục nhằm cung cấp thông

tin về những gì học sinh đã học được, vạch ra hành động tiếp theo quá trình dạy học đó.Trong giáo dục phổ thông, đánh giá quá trình có vai trò đặc biệt quan trọng

+ Đánh giá tổng kết: được tiến hành tại cuối mỗi giai đoạn học tập, nhằm tổng kết

thành tích học tập của học sinh một cách có hệ thống Đánh giá tổng kết mặc dù không gópphần cải thiện kết quả học tập của chính giai đoạn học này, nhưng lại góp phần quan trọng

để cung cấp chứng cứ cho việc lập kế hoạch giáo dục trong giai đoạn tiếp theo

Trang 25

- Tự đánh giá: Theo Từ điển Giáo dục học, tự đánh giá “là hành động tự mình xác định mức độ rèn luyện phẩm chất đạo đức, mức độ lĩnh hội và nắm vững các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo so với các chuẩn mực, những yêu cầu của nhà trường trong từng giai đoạn giáo dục, đào tạo” Trên cơ sở đó, có thể nói: “Tự đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập, phân tích và lí giải thông tin về kết quả học tập của bản thân, đối chiếu với mục tiêu, nhiệm vụ của bài học, môn học, lớp, của nhà trường nhằm tạo cơ sở cho những quyết định của bản thân học sinh để họ học tập ngày một tiến bộ hơn” [34, tr 114]

Tự đánh giá không thể tách rời của quá trình tự học và tự giáo dục, vì nó đảm bảo chocác quá trình này tiến triển đúng hướng và vững chắc theo mục tiêu đã định Chính vì vậy,

tự đánh giá kết quả học tập có ý nghĩa rất quan trọng đối với học sinh về mặt bồi dưỡngnhận thức, giáo dục tư tưởng, tình cảm và phát triển kĩ năng

+ Về mặt nhận thức: tự đánh giá kết quả học tập giúp học sinh hiểu rõ việc học tập của

bản thân, phát hiện ra những thiếu sót trong kiến thức, kĩ năng để kịp thời sửa chữa Qua tựđánh giá, học sinh sẽ tự khẳng định được mình và biết đề ra những biện pháp thoả đáng đểkhắc phục hạn chế, thúc đẩy hoạt động học tập của bản thân đi lên

+ Về mặt phát triển kĩ năng: tự đánh giá góp phần hình thành thói quen, kĩ năng học

tập như: biết vận dụng các kiến thức đã học, phát hiện và giải quyết vấn đề, biết lựa chọn

và tìm kiếm cách giải quyết vấn đề tối ưu hơn

1.1.6 Các nguyên tắc, phương pháp và kĩ thuật đánh giá kết quả học tập.

1.1.6.1 Các nguyên tắc đánh giá:

Khi đánh giá kết quả học tập cần chú ý một số nguyên tắc sau:

(1) Đánh giá cần được thực hiện một cách liên tục, hệ thống, toàn diện và thống nhất

Các hình thức ĐÁNH GIÁ

ĐG Chẩn đoán Quá trìnhĐG Tổng kếtĐG KTĐGTự

Sơ đồ 1.5 - Các hình thức đánh giá

Trang 26

(2) Sử dụng nhiều thước đo, gồm cả các phương pháp định tính và định lượng, trọngtâm là đánh giá kết quả người học.

(3) Đánh giá cần đưa đến việc cải tiến và nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt làchất lượng học tập của học sinh

(4) Đánh giá không phải để phê phán hay đưa ra nhận xét về một cá nhân riêng lẻ.(5) Cần có sự hợp tác của các bộ phận, các thành viên trong và ngoài nhà trường khithực hiện các hoạt động đánh giá [35, tr.62]

1.1.6.2 Phương pháp và kĩ thuật đánh giá kết quả học tập:

Trong nhà trường phổ thông hiện nay thường sử dụng các phương pháp và kĩ thuậtsau:

- Phương pháp trắc nghiệm:

Trắc nghiệm là một công cụ hay kĩ

thuật dùng để đo lường kiến thức,

kĩ năng, thái độ và năng lực của

người học Trắc nghiệm có hai

hình thức cơ bản là: trắc nghiệm tự

luận (tự luận) và trắc nghiệm

khách quan (trắc nghiệm)

Qua nghiên cứu, có thể thấy

rằng cả hai phương pháp trắc nghiệm

khách quan và tự luận đều là những phương pháp hữu hiệu để đánh giá kết quả học tập Cần nắm vững bản chất từng phương pháp và công nghệ triển khai cụ thể để có thể sử dụng mỗi phương pháp đúng lúc, đúng chỗ Điều này được thể hiện cụ thể qua bảng so sánh sau:

Vấn đề Trắc nghiệm Ưu thế thuộc về phương pháp

2) Đánh giá được khả năng diễn đạt, đặc biệt là diễn

3) Đề thi phủ kín nội dung môn học X

4) Ít may rủi do trúng tủ, trật tủ X

7) Áp dụng được công nghệ mới trong việc nâng cao

chất lượng kì thi, hạn chế quay cóp khi thi, hạn

chế tiêu cực trong chấm thi và giúp phân tích kết

Tiểu luận

Tự diễn đạt Tóm tắt Đoạn văn

Đúng sai Điền khuyết Ghép đôi Nhiều lựa chọn

Sơ đồ 1.6 - Các phương pháp kiểm tra, đánh giá

Các phương pháp KT-ĐG

Trang 27

- Phương pháp quan sát: thông qua quan sát mà đánh giá các thao tác, động cơ, các

hành vi, kỹ năng thực hành và kỹ năng nhận thức Phương pháp này bao gồm:

+ Quan sát tự nhiên: đòi hỏi quan sát đối tượng trong môi trường tự nhiên của họ.

+ Quan sát tham gia: có liên quan đến các phương pháp phỏng vấn tự nhiên, quan sát

trực tiếp, sự tham dự vào cuộc sống của nhóm đối tượng nghiên cứu…

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: thực hiện đánh giá kết quả học tập của học sinh

thông qua việc phân tích kết quả các sản phẩm học tập như tập hợp các bài tập về nhà, bàiluận; sản phẩm của hoạt động nhóm khi thực hành, thí nghiệm…

- Phương pháp chuyên gia (phương pháp Delphi): thu thập thông tin của đối tượng

thông qua việc xin ý kiến của các chuyên gia giáo dục

1.1.7 Vai trò của kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong quá trình dạy học.

- Mối quan hệ giữa giữa giảng dạy và đánh giá:

Giảng dạy và đánh giá thường được xem là hai mặt không thể tách rời của hoạt độngdạy học và chúng có tác dụng tương hỗ lẫn nhau Theo tác giả Rowntree (1987), một trongnhững nhà nghiên cứu giáo dục lớn của Hoa Kỳ thì giữa giảng dạy và đánh giá có sự tươngtác theo sơ đồ sau:

Ghi chú:

T : giảng dạy

A: đánh giá quá trình

N: các tác động khác của hoạt động giảng dạy

E : đánh giá tính hiệu quả của hoạt động giảng dạy

D: tìm hiểu yêu cầu, ưu nhược điểm của học sinh

G: cho điểm, xếp loại (hạng)

Theo mô hình trên thì:

(1) Đánh giá kết quả học tập cần phải dựa trên nền tảng thông tin mà hoạt động giảngdạy cung cấp

N

D

E T G

N

D

E T

A

Sơ đồ 1.7 - Mô hình tương tác giữa giảng dạy và đánh giá

Trang 28

(2) Chất lượng của giảng dạy được phát triển liên tục trên cơ sở thường xuyên xử lý

thông tin từ đánh giá KQHT; từ sự tìm hiểu yêu cầu, ưu - nhược điểm của học sinh và từ

đánh giá hoạt động giảng dạy cùng các yếu tố tác động đến KQHT của học sinh

(3) Điểm/ xếp loại (hạng) chung cuộc cần phải dựa trên kết quả của chuỗi những

đánh giá quá trình

- Vai trò của đánh giá trong quá trình dạy học:

Một quá trình dạy học bao giờ cũng

là một chu trình khép kín với xuất phát

điểm là mục tiêu dạy học, đến nội dung,

phương pháp, phương tiện, hình thức tổ

chức dạy học và kết thúc là đánh giá kết

quả Đánh giá KQHT là khâu cuối của

quá trình dạy học này nhưng lại là điểm

xuất phát của quá trình dạy học tiếp theo

Nó vừa chịu tác động trực tiếp của các

thành tố trong quá trình dạy học lại vừa

có tác động trở lại để hiệu chỉnh các

thành tố quá trình dạy học

Sơ đồ 1.8 - Mối quan hệ giữa các thành tố trong

quá trình dạy học

Trang 29

Mục tiêu dạy học Yêu cầu xã hội

Chương trình giáo dục phổ thông

Kiểm tra đánh giá KQHT

Sơ đồ 1.9 - Mối quan hệ giữa mục tiêu, chương trình và kiểm tra đánh giá KQHT

+ Vai trò của mục tiêu dạy học đối với việc xác lập nội dung đánh giá: Trong thực

tiễn dạy học, mục tiêu dạy học được xem là một tổ hợp gồm ba loại KQHT: kiến thức, kĩnăng và thái độ, chúng có mối quan hệ tương tác với nhau Đánh giá KQHT chính là xácđịnh mức độ thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, cho nên mục tiêu học tập là căn cứ

để định ra các tiêu chí đánh giá Xây

dựng mục tiêu càng cụ thể, rõ ràng,

càng lượng hoá chính xác thì càng dễ

đánh giá Việc đánh giá không được

thực hiện trên cơ sở xác lập một cách

tường minh các mục tiêu dạy học sẽ

gây ra nhiều hậu quả cho giáo dục

Hai hậu quả cơ bản nhất là: không

thực sự đo lường được năng lực

người học; không có cơ sở kiểm soát,

điều chỉnh kịp thời và sát hợp quá

trình dạy và học, do vậy không bảo đảm được chất lượng dạy học Kết quả đánh giá giúp

GV xác định mức độ đạt được các mục tiêu đã đề ra của học sinh, đó là căn cứ để giáoviên quyết định có điều chỉnh mục tiêu học tập hay không Tác giả Nguyễn Hữu Châu cho

rằng: “Đánh giá KQHT của học sinh đối chiếu với mục đích hay mục tiêu chương trình cũng là một yếu tố giúp cho giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy” [14, tr 138]

+ Mối quan hệ giữa đánh giá kết quả học tập với nội dung dạy học: Trong đổi mới

chương trình giáo dục phổ thông, sự thay đổi về nội dung học tập đã dẫn đến thay đổitrong đánh giá KQHT các môn học của học sinh Theo đó, các nội dung đánh giá KQHTkhông dừng ở việc ghi nhớ và tái hiện kiến thức mà chú trọng năng lực thực hành vậndụng về kiến thức, kĩ năng, thái độ đã có của người học vào việc giải quyết những tìnhhuống cụ thể của thực tiễn cuộc sống Nhờ kiểm tra, nhà trường có thể đánh giá được mức

độ khó/dễ, mức độ phù hợp/ không phù hợp của nội dung dạy học đối với học sinh Vì vậy,các kết quả đánh giá được sử dụng để xem xét, điều chỉnh nội dung dạy học cho phù hợp

“Chất lượng của các quyết định về giảng dạy của giáo viên phụ thuộc một phần vào chất lượng của các đánh giá và thu thập bằng chứng có chủ đích trong lúc dạy” [28, tr.101] + Mối quan hệ giữa đánh giá KQHT và phương pháp dạy học, phương tiện và hình

thức tổ chức dạy học: Theo Từ điển, phương pháp dạy học “là cách thầy tiến hành việc

Trang 30

dạy nội dung đi đôi với việc dạy cách học cho học trò nhằm giúp trò trau dồi phương pháp

tự học để nắm vững nội dung đang học đồng thời để rèn luyện cách tự học suốt đời” [43,

tr 319] Đi đôi với phương pháp dạy học là sự vận dụng các phương tiện dạy học và các

hình thức tổ chức dạy học Chính vì thế, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học và cáchình thức tổ chức dạy học có sự chi phối mạnh mẽ tới kết quả học tập, đòi hỏi phải thayđổi cách đánh giá cho phù hợp Cách dạy và cách học ảnh hưởng trực tiếp đến đánh giá kếtquả học tập nhưng kết quả đánh giá cũng giúp điều chỉnh phương pháp, phương tiện vàhình thức tổ chức dạy học Mặt khác, kết quả đánh giá còn giúp người học tự đánh giáđược khả năng tiếp nhận nội dung học tập từ đó tìm ra những hạn chế trong cách học vàđiều chỉnh để nâng cao chất lượng học tập của mình

- Trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá KQHT của học sinh là một khâu quantrọng nhằm xác định thành tích học tập và mức độ chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, thái độ họctập của học sinh, nó vừa đóng vai trò bánh lái, vừa giữ vai trò động lực của dạy học, có tácdụng định hướng, thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động dạy học và hoạt động quản lý giáo dục:

+ Đối với học sinh: Kiểm tra đánh giá có tác dụng thúc đẩy quá trình học tập phát

triển không ngừng Qua kết quả kiểm tra, học sinh tự đánh giá mức độ chiếm lĩnh tri thức,

kỹ năng so với yêu cầu của môn học và tự mình ôn tập, củng cố bổ sung, hoàn thiện họcvấn bằng các phương pháp tự học với hệ thống các thao tác tư duy của chính mình Do đó,kiểm tra đánh giá chẳng những là biện pháp để hoàn thiện nội dung học tập mà còn là điềukiện để rèn luyện phương pháp và hình thành thái độ học tập tích cực cho học sinh

+ Đối với giáo viên: Kết quả kiểm tra đánh giá vừa phản ánh thành tích học tập của

học sinh vừa giúp giáo viên tự đánh giá vốn tri thức, trình độ chuyên môn, năng lực sưphạm, nhân cách và uy tín của mình trước học sinh Trên cơ sở đó không ngừng nâng cao

và hoàn thiện cả về trình độ học vấn, về nghệ thuật sư phạm và nhân cách người thầy giáo

+ Đối với các cấp quản lý: Kiểm tra đánh giá là biện pháp để đánh giá kết quả đào tạo

cả về định lượng và định tính, cung cấp những thông tin phản hồi về chất lượng giảng dạycủa giáo viên Từ đó người cán bộ quản lý có biện pháp để điều chỉnh hoạt động giảng dạynhằm nâng cao chất lượng dạy học Vì vậy, kết quả của kiểm tra đánh giá là cơ sở để cácnhà quản lý xây dựng chiến lược giáo dục về mục tiêu, về đội ngũ giáo viên, về vấn đề đổimới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động dạy học

+ Đối với phụ huynh: Kiểm tra đánh giá giúp PHHS biết được lực học của con em

mình để làm tốt công tác hướng nghiệp

Trang 31

Bởi vậy, thực hiện tốt công tác kiểm tra đánh giá có vai trò, ý nghĩa cực kì quan trọng.

Theo GS TSKH Thái Duy Tuyên (2007): “Kiểm tra, đánh giá là một trong những phương tiện quản lý quan trọng nhất mà các nhà quản lý thường sử dụng để điều chỉnh các quá trình thực tiễn Trong giáo dục, thay đổi cách đánh giá có thể làm xoay chuyển bản chất và quá trình hoạt động của nhà trường” [48, tr.183].

1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP

1.2.1 Bản chất quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá KQHT.

1.2.1.1 Một số khái niệm về quản lý:

- Quản lý: là một hoạt động lao động tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội loài

người, nó được bắt nguồn và gắn chặt với sự phân công và hợp tác lao động Sự cần thiếtcủa hoạt động quản lý được Mác khẳng định bằng ý tưởng độc đáo và đầy sức thuyết phục:

“Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” và ông đã định nghĩa quản lí như là “lao động để điều khiển lao động” Theo Từ điển Giáo dục học, quản lí là “hoạt động hay tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong một

tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức Các hình thức chức năng quản lý bao gồm chủ yếu: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo hoặc lãnh đạo và kiểm tra” [43, tr 326].

Theo Thái Duy Tuyên thì “Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra” [49, tr 574].

Theo điều khiển học: Quản lý là một quá trình điều khiển và điều chỉnh, bao gồm các mối liên hệ thông tin thuận và ngược.

Sơ đồ 1.10 - Sơ đồ mối liên hệ thông tin trong quản lí

+ Mối liên hệ thông tin thuận a (thông tin từ hệ quản lí đến hệ bị quản lí) chủ yếu là

truyền đạt thông tin về mục tiêu, kế hoạch, quyết định quản lí đến người thực hiện

HỆ QUẢN LÝ(Chủ thể) (Khách thể, đối tượng)HỆ BỊ QUẢN LÝ

a

Trang 32

+ Mối liên hệ thông tin bên ngoài b (thông tin từ hệ bị quản lí đến hệ quản lí), phản

ánh sự tiếp nhận và thực hiện nhiệm vụ, khó khăn, thuận lợi, tâm tư, nguyện vọng, đề đạtkiến nghị của những người thực hiện đến người quản lí

+ Mối liên hệ ngược bên trong b’ (thông tin từ hệ bị quản lí trở lại chính hệ bị quản lí)

phản ánh sự tiếp nhận và thực hiện nhiệm vụ, sự tự điều chỉnh để phát triển chính mình

Các mối liên hệ thông tin ngược (trong, ngoài) là nền tảng của sự điều chỉnh, gồm hai quá trình: điều chỉnh (của hệ quản lý) và tự điều chỉnh (của hệ bị quản lí), chúng có liên

quan mật thiết và thống nhất với nhau

- Quản lý giáo dục: Theo Từ điển Giáo dục học, quản lý giáo dục hiểu theo nghĩa

rộng là “thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục” và theo nghĩa hẹp “chủ yếu là quản lý giáo dục thế hệ trẻ, giáo dục nhà trường, giáo dục trong hệ thống quốc dân”.

Quản lí giáo dục gồm hai mặt lớn là quản lý nhà nước về giáo dục và quản lý nhà trường,các cơ sở giáo dục khác Quản lý giáo dục là việc thực hiện và giám sát những chính sáchgiáo dục, đào tạo trên cấp độ quốc gia, vùng, địa phương và cơ sở

Theo Thái Văn Thành“Quản lý hệ thống giáo dục là tác động của hệ thống có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em” [44].

Trần Kiểm thì cho rằng, đối với cấp quản lí vi mô (quản lí một nhà trường), thì:

“Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lí vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng

xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” [32, tr 38]

Theo ông, thuật ngữ quản lí giáo dục (thuộc tầm vi mô) có thể xem là đồng nghĩa với

“quản lí trường học/ nhà trường” và gồm bốn yếu tố: chủ thể quản lí, đối tượng bị quản lí (đối tượng quản lí), khách thể quản lí và mục tiêu quản lí Bốn yếu tố này tạo thành sơ đồ

Khách thể quản lý

Mục tiêu quản lí

Trang 33

- Quản lý hoạt động dạy học: Quá trình dạy học là một quá trình xã hội gắn liền với

hoạt động của con người Bản chất của quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng củahoạt động dạy và hoạt động học Sự tương tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác,trong đó dạy giữ vai trò chủ đạo Các hoạt động này có mục tiêu rõ ràng, có nội dung nhất

định, do các chủ thể thực hiện - đó là giáo viên và học sinh, với những phương pháp và

phương tiện nhất định Sau một chu trình vận động, các hoạt động dạy và học phải đạt tớinhững kết quả mong muốn Hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau, thể hiện ở mối quan hệ tương tác giữa các thành tố: mục tiêu, nội dung, phươngpháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá của hoạt động dạy vàhoạt động học Phân tích mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học, chúng ta có

thể đi đến kết luận: Hoạt động học, trong đó có hoạt động nhận thức của học sinh có vai trò quyết định kết quả dạy học Để hoạt động học có kết quả thì trước tiên chúng ta phải

coi trọng vai trò người giáo viên, đồng thời thông qua hoạt động kiểm tra, đánh giá bảo

đảm mối liên hệ ngược thường xuyên, bền vững

Nếu xét quá trình dạy học như là một hệ thống thì trong đó, quan hệ giữa hoạt độngdạy của giáo viên với hoạt động học của học sinh thực chất là mối quan hệ điều khiển Vớitác động sư phạm của mình, giáo viên tổ chức, điều khiển hoạt động của học sinh Từ đó,chúng ta có thể thấy hành động quản lý của hiệu trưởng nhằm điều khiển hoạt động dạyhọc, chủ yếu tập trung vào hoạt động dạy của giáo viên và trực tiếp đối với giáo viên,thông qua hoạt động dạy của giáo viên mà quản lý hoạt động học của học sinh

Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất với nhau là hoạt động trung tâm của nhàtrường Mọi hoạt động đa dạng và phức tạp khác của nhà trường đều hướng vào tiêu điểmnày Vì vậy, quản lý nhà trường về thực chất là quản lý quá trình sư phạm của giáo viên,

hoạt động học tập - tự giáo dục của học sinh, diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học Có thể nói, quản lý hoạt động dạy - học thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình dạy học, được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội, nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.

Theo Thái Duy Tuyên: Quản lý phương pháp dạy học của hiệu trưởng là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, của hiệu trưởng đến cách thức làm việc của thầy và trò nhằm đạt được mục đích dạy học [49, tr 574].

Trang 34

- Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT: Theo Từ điển Giáo dục học, quản lý

chất lượng giáo dục là “hoạt động quản lí giáo dục có nhiệm vụ bảo đảm kết quả của các hoạt động giáo dục đạt được mục tiêu giáo dục Quản lí chất lượng giáo dục được thực hiện thông qua các quá trình đánh giá kết quả giáo dục- đào tạo học sinh, sinh viên, đánh giá hoạt động của nhà trường và các cơ sở giáo dục Quản lí chất lượng giáo dục được tiến hành một cách có kế hoạch, có tổ chức, dựa trên các tiêu chí đánh giá khác nhau”

[43, tr 326] Theo định nghĩa này, quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tậpcủa học sinh là một bộ phận của quản lý chất lượng giáo dục, được giới hạn trong nội dung

quản lý quá trình đánh giá kết quả học tập Mặt khác, hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh là một khâu trong quá trình dạy - học, do đó, quản lý đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập cũng là một khâu trong quản lý hoạt động dạy - học.

Từ đó có thể hiểu: Quản lý đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh là hoạt động quản lí chất lượng giáo dục của hiệu trưởng, thực hiện thông qua các quá trình đánh giá kết quả giáo dục- đào tạo học sinh, được tiến hành một cách có kế hoạch, có tổ chức, dựa trên các tiêu chí đánh giá khác nhau theo định hướng đổi mới nhằm bảo đảm kết quả của các hoạt động giáo dục đạt được mục đích dạy học.

Vì đánh giá kết quả học tập là hoạt động nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với các

thành tố khác của quá trình dạy học như: Mục tiêu - Nội dung - Phương pháp - Phương tiện - Hình thức tổ chức dạy học Nó vừa chịu tác động trực tiếp của các thành tố lại vừa

có tác động trở lại để hiệu chỉnh các thành tố này Do đó, quản lý đổi mới đánh giá kết quảhọc tập cũng cần tiến hành đồng bộ với các thành tố đó Trong đó, đặc biệt chú ý tác độngvào đội ngũ giáo viên là nhân tố chính trong đánh giá kết quả học tập

Công tác quản lý hoạt động dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinhgiữ vị trí quan trọng trong công tác quản lý nhà trường, là nhiệm vụ trọng tâm của ngườihiệu trưởng Đòi hỏi người hiệu trưởng phải dành nhiều thời gian và công sức cho công tácquản lý hoạt động dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập, nhằm ngày càng nâng caochất lượng đào tạo của nhà trường, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội

1.2.1.2 Yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá KQHT trong giai đoạn hiện nay:

- Đặc điểm, yêu cầu và nhiệm vụ quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá KQHT:

Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập là một bộ phận trong hoạt động dạy học

và giáo dục toàn diện của trường phổ thông, do đó việc quản lý hoạt động kiểm tra, đánh

Trang 35

giá kết quả học tập vừa mang đặc điểm của quản lý dạy học và giáo dục nói chung, vừaphải mang tính đặc thù của hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.

Xuất phát từ yêu cầu trên, quản lý hoạt động KTĐG KQHT có những đặc điểm sau:

+ Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá KQHT mang tính chất quản lý hành chính sưphạm, đặc điểm này thể hiện ở chỗ: Quản lý theo pháp luật, theo những nội qui, qui chế,quyết định có tính bắt buộc trong hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập Đồng thờiviệc quản lý phải tuân thủ các qui luật của quá trình dạy học, giáo dục diễn ra trong môi

trường sư phạm, lấy hoạt động và quan hệ dạy - học của giáo viên và học sinh làm đối

tượng quản lý

+ Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập mang tính đặc trưng của khoahọc quản lý, bởi vì, nó phải vận dụng có hiệu quả chức năng quản lý trong việc điều khiểnquá trình dạy học

+ Quản lý hoạt động KTĐG KQHT có tính xã hội hóa cao do chịu sự chi phối trực tiếpcủa các điều kiện KT-XH và có mối quan hệ tương tác thường xuyên với đời sống xã hội

Yêu cầu quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập:

+ Đảm bảo đánh giá được kết quả học tập của học sinh căn cứ trên mục tiêu giáo dục

của cấp học, bậc học, lớp học thực hiện đúng mục tiêu, chuẩn kiến thức, kĩ năng trongchương trình giáo dục phổ thông

+ Phối hợp đánh giá thường xuyên và định kì, giữa đánh giá của giáo viên và tự đánhgiá của học sinh, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, cộng đồng Xâydựng công cụ đánh giá thích hợp nhằm đánh giá toàn diện, công bằng, trung thực, có khảnăng phân loại tích cực, giúp học sinh sửa chữa thiếu sót kịp thời

+ Bảo đảm đánh giá thực sự là động lực thúc đẩy quá trình học tập và rèn luyện củahọc sinh, từ đó không ngừng cải tiến và hoàn thiện các phương pháp dạy học, nâng caochất lượng dạy học

Nhiệm vụ quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập:

Hiệu quả và tác dụng của kiểm tra, đánh giá được thể hiện trên những phương diệnchủ yếu sau:

+ Đối với công tác quản lý: kết quả kiểm tra, đánh giá là căn cứ để cán bộ QLGD thực

hiện công tác chỉ đạo, điều hành, tổ chức toàn bộ quá trình dạy học Cụ thể là quản lý kếhoạch, chương trình, nội dung dạy học, quản lý chất lượng dạy và học

Trang 36

+ Đối với giáo viên: kết quả KTĐG là điều kiện cơ bản chi phối việc thực hiện kế

hoạch, chương trình và nội dung dạy học; đặc biệt là điều chỉnh, cải tiến phương pháp dạyhọc, nâng cao chất lượng giờ dạy theo đúng mục tiêu dạy học và nguyên lí giáo dục

+ Đối với học sinh: kết quả kiểm tra, đánh giá là cơ sở quan trọng để mỗi học sinh tự

nhận thức về khả năng học tập và trình độ kiến thức, trên cơ sở đó, có những điều chỉnhcần thiết về tinh thần thái độ học tập cũng như phương pháp học tập

- Đặc điểm lao động quản lý đổi mới kiểm tra đánh giá của người hiệu trưởng:

Lao động quản lí phải thông qua hệ thống tổ chức và tập thể lao động mới tác độngvào năng suất và kết quả Người quản lí làm chức năng vạch phương hướng, tổ chức điềuhoà, phối hợp, kiểm tra hoạt động của những người lao động Từ đó ảnh hưởng đến kếtquả lao động nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả của lao động trực tiếp Đồng thời, năngsuất và hiệu quả của bản thân lao động quản lí cũng ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất laođộng xã hội Bản chất rất đặc biệt của lao động quản lý thể hiện ở các thành tố của nó như:đối tượng, công cụ, qui trình công nghệ, kĩ thuật và sản phẩm

Đối tượng: Đối tượng của lao động quản lí là thông tin, chứ không phải yếu tố vật chất Người cán bộ quản lí phải tiếp nhận, xử lí, lưu trữ vận dụng các thông tin về hệ bị quản lí Người cán bộ quản lý phải có những tin tức cần và đủ về hiện trạng của hệ bị quản

lí ở từng thời điểm về từng mặt cũng như toàn cảnh Không nắm được thông tin về phân hệ

bị quản lí, người cán bộ quản lý không thể quản lí thành công được

Công cụ lao động và phương tiện quản lí:

+ Trước hết là tư duy và phong cách tư duy Cùng với tư duy và trình độ chuyên môn,

các phương pháp khoa học (tiếp cận lí thuyết hệ thống, lí thuyết điều khiển, lí thuyết thông tin…) có thể sử dụng được vào công tác quản lí Ngoài ra, hệ thống các phương tiện kĩ

thuật tin học và các phương tiện kĩ thuật khác giúp người quản lý thu thập, truyền đạt, xử

lí, lưu trữ, vận dụng thông tin, các phương tiện giao tiếp và truyền thông

+ Hiệu quả hoạt động quản lí đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinhphụ thuộc nhiều vào việc hiệu trưởng sử dụng các phương tiện quản lí, đó là: hiệu lực củachế định giáo dục và đào tạo, năng lực hoạt động của bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học,

giá trị và tác dụng của nguồn tài lực - vật lực dạy học, chất lượng của hệ thống thông tin và

môi trường dạy học

Sản phẩm của lao động quản lí: Lao động của người cán bộ quản lý phải dẫn tới một quyết định dưới dạng chủ trương, mệnh lệnh, chỉ thị nhằm bảo đảm sự vận hành bình

Trang 37

thường của hệ quản lí đi tới mục tiêu Quyết định chính là sản phẩm của lao động quản lý

+ Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ, giáo viên thực hiện đổimới kiểm tra đánh giá kết quả học tập Trong đó, quan trọng nhất là tạo động lực và kíchthích tinh thần lao động sáng tạo của đội ngũ giáo viên

+ Kết hợp phát huy cao độ tính chủ động sáng tạo của mỗi thành viên trong tập thể với

sự quản lý thống nhất của đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường

+ Xây dựng cơ chế và có chính sách phù hợp để phát huy tối đa nội lực đi đôi với sựtranh thủ tiềm lực của các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường

1.2.2 Nội dung đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.

1.2.2.1 Một số quan điểm cơ bản về đổi mới đánh giá kết quả học tập:

Muốn quản lý được việc đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh, hiệu trưởng

phải nắm được những kiến thức và nghiệp vụ sư phạm, nghĩa là phải nắm được một số

quan điểm cơ bản và nội dung đổi mới đánh giá kết quả học tập Cụ thể là:

- Về mục tiêu đổi mới đánh giá kết quả học tập:

+ Đánh giá đúng thực chất trình độ, năng lực của học sinh Kết quả kiểm tra, thi đủ độtin cậy để xét lên lớp, tốt nghiệp và làm căn cứ xét tuyển sinh

+ Tạo động lực đổi mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học + Giảm áp lực thi cử, tạo thuận lợi và bảo đảm tốt hơn lợi ích người học

- Các tiêu chí của đổi mới đánh giá kết quả học tập

+ Đảm bảo tính toàn diện: Đánh giá được các mặt kiến thức, kĩ năng, năng lực, thái

độ, hành vi của học sinh

+ Đảm bảo độ tin cậy: Tính chính xác, trung thực, minh bạch, khách quan, công bằng

trong đánh giá, phản ánh được chất lượng thực của học sinh, của các tổ chức giáo dục

Trang 38

+ Đảm bảo tính khả thi: Nội dung, hình thức, phương tiện tổ chức kiểm tra đánh giá

phải phù hợp với từng đối tượng học sinh, điều kiện thực tế của từng nhà trường, đặc biệt

là phù hợp mục tiêu theo từng môn học

+ Đảm bảo yêu cầu phân hóa: Phân loại được chính xác trình độ, năng lực học sinh,

cơ sở giáo dục Dải phân hóa càng rộng càng tốt

+ Đảm bảo hiệu quả cao: Đánh giá được tất cả các lĩnh vực cần đánh giá học sinh,

thực hiện đầy đủ các mục tiêu giáo dục đề ra, tác động tích cực vào quá trình đổi mớiphương pháp dạy học

1.2.2.2 Nội dung đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập:

- Đổi mới nội dung kiểm tra, đánh giá: được xem là sự đổi mới căn bản nhất, vì rằng

sự đổi mới này hướng đến cái đích đánh giá là kiểm tra năng lực độc lập sáng tạo của họcsinh chứ không đơn thuần chỉ là đánh giá mức độ tái hiện kiến thức

Về nội dung, các đề kiểm tra cần đạt được những yêu cầu cơ bản sau:

+ Đánh giá được một cách toàn diện các mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, nhất là kĩnăng học tập mà học sinh cần đạt sau khi học xong môn học

+ Đặt trọng tâm vào những nội dung liên quan đến việc ứng dụng kiến thức và kĩ năngvào thực tế, đánh giá cao khả năng sáng tạo của học sinh trong việc vận dụng kiến thức, kĩnăng môn học vào những tình huống của cuộc sống

- Đổi mới về hình thức kiểm tra, đánh giá:

+ Đa dạng hóa các hình thức kiểm tra, đánh giá Cần phối hợp một cách hợp lí giữakiểm tra lí thuyết với kiểm tra thực hành, kiểm tra vấn đáp với kiểm tra viết, kiểm tra củagiáo viên với tự kiểm tra của học sinh nhằm tạo điều kiện đánh giá một cách toàn diện và

hệ thống kết quả học tập của học sinh

+ Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chấm bài và xử lí kết quả kiểm tra sao cho vừanhanh, vừa chính xác, bảo đảm được tính khách quan và công bằng, hạn chế được tiêu cựctrong việc đánh giá kết quả học tập của học sinh

1.2.3 Quản lý hoạt động đổi mới đánh giá kết quả học tập.

1.2.3.1 Những định hướng quản lý đổi mới công tác đánh giá kết quả học tập góp phần thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học:

Vừa qua, việc đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo hướng chủ yếu tập trungvào việc khách quan hóa quá trình kiểm tra đánh giá Hướng đổi mới này bộc lộ hạn chế làquá coi trọng phương pháp trắc nghiệm khách quan, chưa làm chính xác hơn khâu đánh

Trang 39

giá mức độ đạt được nên kiểm tra đánh giá ít có ảnh hưởng tới đổi mới quá trình dạy học.Chính vì vậy, cần phải đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướngtạo ra những tác động tích cực tới chất lượng dạy học Nội dung của đổi mới kiểm tra đánhgiá góp phần thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học bao gồm một số điểm sau:

- Kiểm tra đánh giá phải bám sát mục tiêu: Để kiểm tra đánh giá đạt hiệu quả đòi

hỏi sự tương ứng giữa nội dung kiểm tra đánh giá với mức độ của mục tiêu được thể hiện ởyêu cầu của đề kiểm tra, khi mục tiêu đặt ra ở mức nào thì đề kiểm tra phải có những yêucầu ở mức ấy Để đánh giá theo mục tiêu, khi xây dựng đề kiểm tra cần căn cứ các mức độmục tiêu cụ thể mà xác định mức độ yêu cầu của câu hỏi hoặc bài tập

- Phải xác định, lựa chọn phương pháp kiểm tra đánh giá phù hợp: Bên cạnh những

ưu điểm, phương pháp trắc nghiệm khách quan cũng có hàng loạt những hạn chế so vớiphương pháp trắc nghiệm tự luận Do vậy, chỉ nên sử dụng phương pháp trắc nghiệmkhách quan với một tỉ lệ nhất định khi cần đo mức độ hiểu biết của người học trong mộtlĩnh vực nào đó Khi cần đo khả năng diễn đạt, khả năng lập luận, khả năng sáng tạo củangười học thì cần phải sử dụng phương pháp trắc nghiệm tự luận hoặc vấn đáp

- Tăng cường sử dụng các đề thi có tính sáng tạo: Với mục tiêu đào tạo con người

năng động và sáng tạo thì đề thi cũng phải có những yêu cầu người học thể hiện tư duysáng tạo Cũng cần thấy rằng đánh giá mức độ phát triển của tư duy của người học là mộttrong những khó khăn nhất của kiểm tra đánh giá Trong đề kiểm tra nên có cả loại câu

“đóng” và câu “mở” và nên giới hạn ở một phạm vi nhất định để thuận tiện cho việc xác định được “barem” và không gây khó cho học sinh

- Đổi mới kiểm tra đánh giá tiếp cận theo quan điểm công nghệ: nhằm đưa những

thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại vào quá trình đổi mới kiểm tra, đánh giá theomột quy trình khoa học, có thể điều khiển, kiểm soát và đo lường được

Qua thực tế cho thấy việc đổi mới KTĐG có tác động tích cực tới việc đổi mới phươngpháp dạy học khá rõ rệt Có thể nói rằng, kiểm tra đánh giá thay đổi sẽ tạo ra động lựckhiến cả thầy và trò phải điều chỉnh phương pháp dạy và học theo hướng tích cực hơn

1.2.3.2 Nội dung quản lí đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập:

- Trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá có vai trò rất quan trọng, nó vừa là một nhân tố cấu thành của quá trình dạy học, vừa là một biện pháp thu thông tin phản hồi, từ đó điều chỉnh cả quá trình dạy học cho phù hợp với mục tiêu, góp phần phát triển trí tuệ, rèn luyện, củng cố hệ thống tri thức và các phương pháp học tập, kích thích học sinh luôn vươn tới đạt kết quả cao trong học tập Có thể nói, kiểm tra đánh giá là một động lực thúc đẩy quá trình đào tạo và tự đào tạo Theo quan niệm hiện đại

Trang 40

về dạy học là dạy cách học, nghĩa là dạy phương pháp luận, phương pháp nhận thức, phương pháp tự học Do đó, việc kiểm tra, đánh giá không thể tiến hành như cũ Hiện nay, khi cách dạy đang chuyển

từ truyền đạt tri thức sang hướng dẫn cách học thì việc kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh cũng tất yếu phải thay đổi theo hướng này Có thể phân biệt cách kiểm tra đánh giá KQHT theo hướng đổi mới với kiểm tra đánh giá kiểu truyền thống ở những đặc điểm sau:

Tiêu chí theo kiểu truyền thống Kiểm tra đánh giá theo hướng đổi mới Kiểm tra đánh giá

1.Nội dung

KTĐG

- Đánh giá KQHT theo các tiêu chí:

(1) Kiến thức, (2) Kĩ năng, (3) Tháiđộ

- Chú trọng kiểm tra tri thức Nặng

- Vì vậy, quản lí hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh cầnđảm bảo một số nội dung cơ bản sau:

+ Thực hiện nghiêm túc quy chế kiểm tra đánh giá, xếp loại học sinh

+ Đổi mới nội dung kiểm tra

+ Đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá

+ Đổi mới khâu chấm, chữa bài, đánh giá kết quả học tập

1.2.3.3 Tăng cường chức năng quản lí đổi mới kiểm tra, đánh giá KQHT:

Trong hoạt động quản lý của người hiệu trưởng cần lưu ý năm vấn đề cơ bản về mặt

chức năng, đó là: kích thích động viên tạo động lực, kế hoạch hóa, tổ chức hoạt động, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá Trong đó, bốn chức năng sau mang tính công cụ, còn chức năng

kích thích động viên tạo động lực là chức năng cơ sở để thực hiện tốt bốn chức năng cònlại, nó có mặt trong mọi hoạt động của người quản lý Các chức năng nêu trên cùng vớiyếu tố thông tin tạo thành chu trình quản lí [32,Tr 80] Chủ thể quản lí khi triển khai hoạtđộng quản lí đều thực hiện theo chu trình này:

Bảng 1.1 - Bảng so sánh KTĐG theo kiểu truyền thống và theo hướng đổi mới

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng Tên bảng Trang - Một số giải pháp quản lí hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT huyện châu đức, tỉnh bà rịa   vũng tàu
ng Tên bảng Trang (Trang 7)
Sơ đồ 1.2 -  Tháp phân loại của Bloom - Một số giải pháp quản lí hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT huyện châu đức, tỉnh bà rịa   vũng tàu
Sơ đồ 1.2 Tháp phân loại của Bloom (Trang 22)
Hình thức cơ bản là: trắc nghiệm tự - Một số giải pháp quản lí hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT huyện châu đức, tỉnh bà rịa   vũng tàu
Hình th ức cơ bản là: trắc nghiệm tự (Trang 26)
Sơ đồ 1.6 - Các phương pháp kiểm tra, đánh giá - Một số giải pháp quản lí hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT huyện châu đức, tỉnh bà rịa   vũng tàu
Sơ đồ 1.6 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá (Trang 26)
Sơ đồ 1.7 - Mô hình tương tác giữa giảng dạy và đánh giá - Một số giải pháp quản lí hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT huyện châu đức, tỉnh bà rịa   vũng tàu
Sơ đồ 1.7 Mô hình tương tác giữa giảng dạy và đánh giá (Trang 27)
Sơ đồ 1.8 - Mối quan hệ giữa các thành tố trong - Một số giải pháp quản lí hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT huyện châu đức, tỉnh bà rịa   vũng tàu
Sơ đồ 1.8 Mối quan hệ giữa các thành tố trong (Trang 28)
Bảng 1.1 - Bảng so sánh KTĐG theo kiểu truyền thống và theo hướng đổi mới - Một số giải pháp quản lí hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT huyện châu đức, tỉnh bà rịa   vũng tàu
Bảng 1.1 Bảng so sánh KTĐG theo kiểu truyền thống và theo hướng đổi mới (Trang 40)
Sơ đồ 1.12 - Chu trình quản lí - Một số giải pháp quản lí hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT huyện châu đức, tỉnh bà rịa   vũng tàu
Sơ đồ 1.12 Chu trình quản lí (Trang 41)
Sơ đồ 1.13- Chu trình kiểm tra - Một số giải pháp quản lí hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT huyện châu đức, tỉnh bà rịa   vũng tàu
Sơ đồ 1.13 Chu trình kiểm tra (Trang 42)
Hình 2.1 - Bản đồ tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu - Một số giải pháp quản lí hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT huyện châu đức, tỉnh bà rịa   vũng tàu
Hình 2.1 Bản đồ tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu (Trang 46)
Bảng 2.11- Thống kê tình hình các trường THPT trên địa bàn huyện Châu Đức. - Một số giải pháp quản lí hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT huyện châu đức, tỉnh bà rịa   vũng tàu
Bảng 2.11 Thống kê tình hình các trường THPT trên địa bàn huyện Châu Đức (Trang 55)
Sơ đồ sau: - Một số giải pháp quản lí hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT huyện châu đức, tỉnh bà rịa   vũng tàu
Sơ đồ sau (Trang 81)
Bảng 3.2 - Tương quan giữa trình độ nhận thức với tỷ lệ câu hỏi trắc nghiệm và tự luận - Một số giải pháp quản lí hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT huyện châu đức, tỉnh bà rịa   vũng tàu
Bảng 3.2 Tương quan giữa trình độ nhận thức với tỷ lệ câu hỏi trắc nghiệm và tự luận (Trang 93)
Bảng 3.3 - Bảng ma trận cho một đề kiểm tra viết Bước 3- Thiết kế câu hỏi theo ma trận: Câu hỏi càng đa dạng, phong phú trên nhiều - Một số giải pháp quản lí hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT huyện châu đức, tỉnh bà rịa   vũng tàu
Bảng 3.3 Bảng ma trận cho một đề kiểm tra viết Bước 3- Thiết kế câu hỏi theo ma trận: Câu hỏi càng đa dạng, phong phú trên nhiều (Trang 94)
Sơ đồ 3.5 - Quan hệ trong tổ chức lập kế hoạch đánh giá - Một số giải pháp quản lí hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT huyện châu đức, tỉnh bà rịa   vũng tàu
Sơ đồ 3.5 Quan hệ trong tổ chức lập kế hoạch đánh giá (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w