của Huyện uỷ, UBND huyện các bậc học trong huyện có những bước tiếnvượt bậc so các huyện cùng miền núi cao có lịch sử phát triển nhiều năm.Đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học -
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN BÁ TUẤN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN QUAN SƠN TỈNH THANH HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Vinh - 2011LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Khoađào tạo Sau đại học - Trường Đại học Vinh, các Thầy giáo, Cô giáo đã tham
1
Trang 2gia quản lý, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khoá học
Tôi vô cùng cảm ơn PGS.TS.Nguyễn Văn Tứ, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ trong suốt quá trình nghiên cứu và làm luận văn
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các đồng chí: Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thanh Hoá; các đồng chí Lãnh đạo Huyện uỷ, UBND huyện, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Quan Sơn, Ban giám hiệu,
tổ trưởng, tổ phó chuyên môn và giáo viên bộ môn của các trường THPT huyện Quan Sơn; cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã cung cấp tài liệu, động viên, khích lệ và giúp đỡ về mọi mặt trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn
Do điều kiện thời gian và phạm vi nghiên cứu có hạn, chắc chắn luận văn tốt nghiệp của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý Thầy, Cô
và các bạn đồng nghiệp hết sức thông cảm, giúp đỡ và chỉ dẫn thêm cho tôi để luận văn trở nên hoàn thiện hơn
Thanh Hoá, tháng 12 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Bá Tuấn
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3
Trang 36 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Những đóng góp của đề tài 4
8 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 51.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 51.2 Một số khái niệm cơ bản 81.3 Vị trí, vai trò, đặc điểm và chức năng, yêu cầu quyền hạn của
người giáo viên THPT 121.4 Sự cần thiết phải phát triển đội ngũ giáo viên THPT 241.5 Cơ sở pháp lý của việc phát triển đội ngũ giáo viên THPT 32
Chương 2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG HUYỆN QUAN SƠN, TỈNH THANH HOÁ 342.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội huyện Quan Sơn 342.2 Những định hướng phát triển đội ngũ giáo viên THPT của tỉnh
Thanh Hoá và huyện Quan Sơn đến năm 2015 382.3 Thực trạng về giáo dục trung học phổ thông huyện Quan Sơn 402.4 Thực trạng về công tác phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ
thông huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá 442.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên trung
học phổ thông huyện Quan Sơn 59
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN QUAN SƠN, TỈNH THANH HOÁ 643.1 Các nguyên tắc lựa chọn các giải pháp 643.2 Một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông
huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá 663.2.1 Giải pháp nâng cao nhận thức cho các cấp quản lý và đội ngũ
giáo viên đối với việc phát triển đội ngũ giáo viên 66
3
Trang 43.2.2 Giải pháp đổi mới công tác lập quy hoạch nhân sự, tuyển dụng,
bố trí, sử dụng giáo viên 69
3.2.3 Giải pháp không ngừng nâng cao công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về mọi mặt 74
3.2.4 Giải pháp tăng cường công tác đảm bảo chế độ chính sách đối với đội ngũ giáo viên .78
3.2.5 Giải pháp thực hiện tốt công tác kiểm tra, thanh tra, đánh giá xếp loại, sàng lọc giáo viên 82
3.2.6 Giải pháp tăng cường trang bị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cho các trường học 90
3.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp 92
3.4 Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
A Kết luận 96
B Kiến nghị 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Về mặt lý luận
Chăm lo xây dựng phát triển đội ngũ nhà giáo ngày càng vững mạnh là việc làm thường xuyên liên tục và trở thành một nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục nói riêng và các cấp ủy đảng, chính quyền nói chung Nhất là trong giai đoạn hiện nay đất nước đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thời kỳ hội nhập quốc tế, với mục tiêu phấn đấu năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo phát triển toàn
Trang 5diện ngang tầm thời đại càng có ý nghĩa hết sức quan trọng, là yếu tố tiên quyếtđảm bảo cho sự thắng lợi.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đó khẳng định con đường đi lên CNXHcủa nước ta và nêu lên phương hướng, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trởthành một nước công nghiệp Quan điểm này được cụ thể hóa ở Nghị quyết Trungương 2 (Khóa VIII): “Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hoá thắng lợiphải phát triển mạnh sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo, phát huy nguồn lực conngười, yếu tố của sự phát triển nhanh và bền vững” [4]
Sự nghiệp GD-ĐT được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng Điều 35Hiến pháp 1992 đã quy định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, Nhà nước và xãhội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhântài” [9] Đây cũng là chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2010 màĐại hội Đảng lần thứ IX đó khẳng định Bởi vậy chúng ta phải luôn coi trọng côngtác xây dựng đội ngũ cán bộ “Vừa hồng, vừa chuyên”, đủ về số lượng, đồng bộ về
cơ cấu, mạnh về chất lượng và chuẩn hoá về trình độ đào tạo, có như vậy mới đápứng được mục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong giai đoạn hiệnnay nhằm thực hiện được mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh”
1.2 Về mặt thực tiễn
Thực hiện mục tiêu “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhântài” [1] cho đất nước trong những năm qua, giáo duục và đào tạo đã đạt đượcnhững thành tựu rất quan trọng về nhiều mặt Ngành giáo dục và đào tạo đã
“tập trung đổi mới nội dung, phương pháp, xây dựng và từng bước nâng caochất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”, tuy nhiên về thiếusót, khuyết điểm “Chất lượng hiệu quả còn thấp so với yêu cầu của sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ”, “Đội ngũ giáo viên thiếu, chấtlượng chưa đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục” [22]
Quan Sơn là huyện miền núi cao biên giới, thành lập đến nay được 15năm, ngành giáo dục và đào tạo của huyện đã có nhiều sự cố gắng phấn đấuvươn lên với mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhântài cho đất nước nói chung và huyện Quan Sơn nói riêng Được sự quan tâm
5
Trang 6của Huyện uỷ, UBND huyện các bậc học trong huyện có những bước tiếnvượt bậc so các huyện cùng miền núi cao có lịch sử phát triển nhiều năm.Đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ - kỹ thuật, trướcyêu cầu của công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, đội ngũ giáo viên THPThuyện Quan Sơn vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập như: Nhiều loại hình đào tạo,
số lượng vừa thiếu vừa thừa, cơ cấu đội ngũ mất cân đối giữa các bộ môn.Trình độ chuyên môn - nghiệp vụ tay nghề của một bộ phận giáo viên còn yếuchưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục toàn diện và yêu cầu đổi mới giáo dục,chưa gương mẫu trong đạo đức, lối sống Bên cạnh đó một bộ phận giáo viêntốt nghiệp hệ cử tuyển thực tế năng lực sư phạm yếu, nhiều người được đàotạo không đúng với năng lực thực có Tuy rằng, phát triển đội ngũ này là thựchiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về đào tạo nguồn cán bộ cho địaphương; chủ trương chính sách thì đúng, song trong quá trình thực hiện thìcòn nhiều thiếu sót
Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là chưa có sự dự báo, quyhoạch, xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên THPT Chưa có công trình khoahọc nào nghiên cứu đề xuất các giải pháp một cách có căn cứ khoa học làm cơ
sở cho việc phát triển đội ngũ giáo viên THPT một cách toàn diện nhằm đáp ứngyêu cầu mới giáo dục và đào tạo của huyện trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước
Là giáo viên bậc THPT, tôi nhận thức được tầm quan trọng của công tácphát triển đội ngũ giáo viên giảng dạy trong sự nghiệp đổi mới giáo dục hiệnnay Bằng tâm huyết và sự trăn trở về công tác phát triển đội ngũ giáo viêngiảng dạy ở các trường THPT trên toàn tỉnh nói chung và ở huyện Quan Sơn
nói riêng, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Một số giải pháp phát triển đội
ngũ giáo viên trung học phổ thông huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá” với
mong muốn đóng góp một số kiến thức, nhằm góp phần phát triển đội ngũgiáo viên THPT của huyện nhà, phù hợp với nhu cầu phát triển của sự nghiệpgiáo dục, thể hiện rõ vai trò của giáo dục - đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triểnkinh tế - xã hội
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 7Nghiên cứu đề tài nhằm xác định một số giải pháp phát triển đội ngũgiáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và đảm bảo về chất lượng ở cáctrường trung học phổ thông huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá, góp phần nângcao chất lượng, hiệu quả giáo dục - đào tạo của địa phương.
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông huyện QuanSơn, tỉnh Thanh Hóa
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên THPT huyện Quan Sơn,tỉnh Thanh Hoá
4 Giả thuyết khoa học
Nếu nghiên cứu và đề xuất được một số giải pháp có cơ sở khoa học, hợp lý,khả thi và áp dụng một cách sáng tạo, thì sẽ phát triển được đội ngũ giáo viênTHPT huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu vàđảm bảo về chất lượng
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên THPThuyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá
- Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên và thực trạng một số giảipháp phát triển đội ngũ giáo viên THPT huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên THPT huyện QuanSơn, tỉnh Thanh Hóa
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên của các trường THPT ởhuyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, khái
quát các văn kiện của Đảng các cấp, các chỉ thị của Chính phủ, của Bộ Giáodục và Đào tạo, các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
7
Trang 8- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát, điều tra, thu
thập số liệu của thực tiễn liên quan đến vấn đề nghiên cứu Phương phápchuyên gia, điều tra xã hội học
- Phương pháp thống kê : Để xử lý số liệu điều tra, thăm dò tính khả thi.
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn có nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về việc phát triển đội ngũ giáo viên trung
học phổ thông.
Chương 2: Thực trạng đội ngũ giáo viên trung học phổ thông huyện
Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên trung học
phổ thông huyện Quan Sơn tỉnh, Thanh Hoá
Trang 9Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Trong thời gian qua, nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến việc tìm racác giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên THPT Từ đó, họ đã đềxuất nhiều giải pháp có hiệu quả
Các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục Xô Viết trong những công trìnhnghiên cứu của mình đã cho rằng “Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trườngphụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạtđộng của đội ngũ giáo viên” [52; 40]
V.A Xukhômlinxki đã tổng kết những thành công cũng như thất bại của
26 năm kinh nghiệm thực tiễn làm công tác quản lý chuyên môn nghiệp vụcủa một hiệu trưởng, cùng với nhiều tác giả khác, ông đã nhấn mạnh đến sựphân công hợp lý, sự phối hợp chặt chẽ, sự thống nhất quản lý giữa hiệu trưởng
và phó hiệu trưởng để đạt được mục tiêu trong hoạt động chuyên môn nghiệp
vụ đề ra Vai trò lãnh đạo, quản lý một cách toàn diện của một hiệu trưởng đãđược các tác giả đánh giá cao Tuy nhiên, trong thực tế còn có vai trò quantrọng của các phó hiệu trưởng, các tổ trưởng chuyên môn, các tổ chức, đoàn thểtham gia quản lý các hoạt động chuyên môn của nhà trường Vậy, làm thế nào
để công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên đạt hiệu quả cao nhất, huyđộng được tối đa sức mạnh của mỗi giáo viên ? Đó là vấn đề mà các tác giả đặt
ra trong công trình nghiên cứu của mình Nói chung, các tác giả đều chú trọngđến việc phân công hợp lý và các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng [53; 40].Các nhà nghiên cứu cũng đã thống nhất cho rằng: Một trong những giảipháp hữu hiệu nhất để phát triển đội ngũ GV là phải bồi dưỡng đội ngũ giáoviên, phát huy được tính sáng tạo trong lao động của họ và tạo khả năng ngàycàng hoàn thiện tay nghề sư phạm, phải biết lựa chọn giáo viên bằng nhiềunguồn khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành những giáo viên tốt theo tiêuchuẩn nhất định, bằng những biện pháp khác nhau
9
Trang 10Một số giải pháp để nâng cao chất lượng mà tác giả quan tâm là tổ chứchội thảo chuyên môn, qua đó có điều kiện trao đổi những kinh nghiệm vềchuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ của mình Tuy nhiên nội dung hộithảo chuyên môn cần phải chuẩn bị kỹ, phù hợp và có tác dụng thiết thực đếndạy học Việc tổ chức hội thảo phải sinh động, thu hút được nhiều GV thamgia thảo luận, trao đổi thể hiện rõ quan điểm của mình Những vấn đề đưa rahội thảo phải mang tính thực tiễn cao, phải là những vẫn đề mà được nhiềugiáo viên quan tâm và có tác dụng thiết thực đối với nhiệm vụ dạy học của họ.V.A Xukhômlinxki và Xvecxlerơ còn nhấn mạnh đến biện pháp dự giờ,phân tích bài giảng, sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn.
Xvecxlerơ cho rằng, việc dự giờ và phân tích bài giảng là đòn bẩy quantrọng nhất trong công tác quản lý chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên Việcphân tích bài giảng mục đích là phân tích cho giáo viên thấy và khắc phục cácthiếu sót, đồng thời phát huy mặt mạnh nhằm nâng cao chất lượng bài giảng.Trong cuốn “Vấn đề quản lý và lãnh đạo nhà trường”, V.A Xukhômlinxki
đã nêu rất cụ thể cách tiến hành dự giờ và phân tích bài giảng giúp cho thựchiện tốt và có hiệu quả giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đã rất quan tâm đến vấn đề pháttriển đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo Hầu hếtcác tác giả đều khẳng định, chất lượng của đội ngũ giáo viên là điều kiệnquyết định chất lượng, hiệu quả giáo dục Theo tác giả Trần Bá Hoành: Đểnâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên phải thực hiện chính sách khuyếnkhích vật chất và tinh thần đối với giáo viên; phải tiếp tục đầu tư nâng cấp cáctrường sư phạm, xây dựng một số trường đại học sư phạm trọng điểm, phảiđổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáodục, phải sử dụng giáo viên đúng năng lực [34; 13] Theo tác giả Trần HồngQuân: Giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là củng cố, đổi mới
hệ thống các trường sư phạm Sự phát triển về số lượng và chất lượng của độingũ giáo viên một phần phụ thuộc vào quy mô và trình độ đào tạo của hệthống các trường sư phạm Ông cho rằng, cần phải ưu tiên hàng đầu cho các
Trang 11trường sư phạm, nhất là những trường sư phạm trọng điểm về cơ sở vật chất,thiết bị giáo dục, nhất là đội ngũ giáo viên đang trực tiếp giảng dạy …
Tại Trường Đại học Vinh, đã có các công trình nghiên cứu của các tácgiả như: Nguyễn Ngọc Hợi, Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành Khi nghiêncứu, các tác giả đã nêu lên nguyên tắc chung của việc nâng cao chất lượnggiáo viên như sau:
- Xác định đầy đủ nội dung hoạt động chuyên môn của giáo viên;
- Xây dựng hoàn thiện quy chế đánh giá, xếp loại chuyên môn của giáo viên;
- Tổ chức đánh giá xếp loại chuyên môn của giáo viên;
- Sắp xếp điều chuyển những giáo viên không đáp ứng yêu cầu vềchuyên môn
Từ các nguyên tắc chung, các tác giả đã nhấn mạnh vai trò của quản lýchuyên môn trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục Bởi do tính chất nghềnghiệp mà hoạt động chuyên môn của giáo viên có nội dung rất phong phú.Ngoài giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm lớp, hoạt động chuyên môn cònbao gồm cả các công việc như tự bồi dưỡng và bồi dưỡng, giáo dục học sinhngoài giờ lên lớp, sinh hoạt chuyên môn, nghiên cứu khoa học hay nói cáchkhác, quản lý chuyên môn của giáo viên thực chất là quản lý quá trình laođộng sư phạm của người thầy
Như vậy, vấn đề nâng cao chất lượng của giáo viên từ lâu đã được cácnhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Qua các công trình nghiên cứucủa họ, chúng ta thấy một điểm chung đó là: Khẳng định vai trò quan trọngcủa các giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên trong việc nângcao chất lượng dạy học ở các cấp học, bậc học Đây cũng là một trong những
tư tưởng chiến lược về phát triển giáo dục của Đảng ta
Đối với tỉnh Thanh Hóa nói chung và huyện Quan Sơn nói riêng ngoàinhững văn bản, chỉ thị, quyết định, đề án mang tính chủ trương, đường lối củaTỉnh uỷ, UBND tỉnh và Sở GD-ĐT về các giải pháp nâng cao chất lượng độingũ giáo viên thì chưa có tác giả nào nghiên cứu về vấn đề "Phát triển đội ngũgiáo viên" Vậy, làm thế nào để phát triển đội ngũ giáo viên THPT ở huyện
11
Trang 12Quan Sơn đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và đảm bảo về chất lượng ? Đâychính là vấn đề mà chúng tôi quan tâm nghiên cứu trong luận văn này.
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Giáo viên và giáo viên trung học phổ thông
1.2.1.1 Giáo viên
Dân tộc Việt Nam từ xưa đã có truyền thống “tôn sư trọng đạo”, nó đãtrở thành đạo lý của con người Việt Nam Trong xã hội, người thầy giáo luônđược kính trọng, vai trò của người thầy giáo đã được xã hội đúc kết “Nhất tự
vi sư, bán tự vi sư”, “không Thầy đố mày làm nên” Thủ tướng Phạm VănĐồng đã nói: “Nghề thầy giáo là nghề cao quý nhất trong những nghề caoquý”; lao động sư phạm của người giáo viên vừa mang tính khoa học, vừamang tính nghệ thuật nhân đạo cao Để xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội,đồng thời góp phần hoàn thành CNH-HĐH đất nước trong thời kỳ hội nhậpthì đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ giáo viên trong trường THPT phải
là lực lượng chủ yếu quan trọng nhất, quyết định chất lượng đào tạo, nhằm tạo
ra những sản phẩm đặc biệt: đó là những nhân cách phát triển toàn diện đạtđược mục tiêu giáo dục của nhà trường, sản phẩm đó không được quyền cóphế phẩm: “Những con người phát triển toàn diện về đức - trí - thể - mỹ”.Điều 70 Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi năm 2009) đã chỉ rõ: “Nhàgiáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáodục khác”; “Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổthông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên…”[10; 26]
Như vậy, giáo viên là những người làm công tác dạy học, giáo dục trongcác cơ sở giáo dục, người trực tiếp biến các chủ trương, các chương trình cảicách, đổi mới giáo dục thành hiện thực
1.2.1.2 Giáo viên THPT
Giáo viên THPT là những người làm công tác dạy học, giáo dục trong cácnhà trường THPT, các cơ sở giáo dục ở bậc THPT Theo quy định tại Điều 77 -Luật Giáo dục 2005 và sửa đổi năm 2009 thì trình độ chuẩn được đào tạo đối vớigiáo viên THPT là: Có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm, hoặc có bằng tốt nghiệpđại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm [10; 28]
Trang 131.2.2 Đội ngũ và đội ngũ giáo viên trung học phổ thông
1.1.2.1 Đội ngũ
Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về khái niệm đội ngũ
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì “đội ngũ” có nghĩa là:
(1) Tổ chức gồm nhiều người tập hợp lại thành một lực lượng
(2) Tập hợp số đông người cùng chức năng nghề nghiệp
Theo Từ điển Tiếng Việt – NXB Đà Nẵng, 1998: “Đội ngũ là tập hợpgồm số đông người cùng chức năng, nghề nghiệp, thành một lực lượng” [43].Ngày nay, khái niệm đội ngũ được dùng cho các tổ chức trong xã hộimột cách rộng rãi như “đội ngũ cán bộ, công chức”, “đội ngũ tri thức”, “độingũ y, bác sĩ”… Các khái niệm tuy khác nhau nhưng đều phản ánh một điều,
đó là một tập hợp người được tổ chức thành một lực lượng để thực hiện mộthay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghịêp hoặc không cùng nghề nghiệp,nhưng đều cùng có một mục đích nhất định
Như vậy, có thể nói đội ngũ là một tập thể số đông người, có cùng lý tưởng,cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch, gắn bó vớinhau
1.2.2.2 Đội ngũ giáo viên THPT
Đội ngũ giáo viên THPT là tập thể những người trực tiếp tham gia giảngdạy bậc THPT Là lực lượng chủ yếu để tổ chức quá trình giáo dục trong nhàtrường THPT Chất lượng đào tạo cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũgiáo viên Một đội ngũ giáo viên am hiểu công việc, tâm huyết với nghề nghiệp
có đủ phẩm chất và năng lực thì nó đóng vai trò tích cực vào thành tích chungcủa trường Vì vậy người Hiệu trưởng phải thấy rõ vai trò của đội ngũ giáo viên
để cũng cố và xây dựng lực lượng đó ngày càng vững mạnh
Đội ngũ giáo viên phát triển vững mạnh phải là đội ngũ nắm vững vàthực hiện tốt đường lối quan điểm giáo dục của Đảng, hết lòng vì học sinhthân yêu Luôn trung thành với chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ ChíMinh, nhận thức rõ mục tiêu giáo dục của Đảng
Đội ngũ giáo viên phát triển vững mạnh phải được đào tạo chuẩn, khôngngừng học tập để trau dồi năng lực phẩm chất, có ý thức tự học, tự bồi dưỡng
13
Trang 14để nâng cao phẩm chất và năng lực, tâm huyết với nghề nghiệp, luôn trau dồinăng lực sư phạm để thực sự là một tập thể giỏi về chuyên môn.
Đội ngũ có tổ chức chặt chẽ, có ý thức kỷ luật cao, chấp hành tốt các quychế chuyên môn, kỷ cương, kỷ luật của nhà trường Biết coi trọng kỷ luật,thấy kỷ luật là sức mạnh của tập thể
Đội ngũ giáo viên phát triển vững mạnh là mỗi cá nhân luôn luôn có ýthức tiến thủ, ý thức xây dựng tập thể, phấn đấu trong mọi lĩnh vực Mỗithành viên phải là tấm gương sáng cho học sinh noi theo
1.2.3 Phát triển, phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông
1.2.3.1 Phát triển
Phát triển có thể hiểu theo nhiều nghĩa:
- Theo từ điển Tiếng Việt thì “phát triển” là sự mở mang [43]
- Theo nghĩa triết học, phát triển là sự vận động, biến đổi của sự vật, hiệntượng theo chiều hướng đi lên, từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đếncao, từ đơn giản đến phức tạp Đó là một quá trình tích luỹ về lượng, dẫn đến
sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng
Như vậy, phát triển là sự biến đổi của sự vật, hiện tượng theo chiềuhướng tích cực cả về số lượng và chất lượng
1.2.3.2 Phát triển đội ngũ giáo viên THPT
Phát triển đội ngũ giáo viên có nghĩa là làm cho đội ngũ giáo viên ngày càng
đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và hợp lý về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu nângcao chất lượng giáo dục đào tạo Việc phát triển đội ngũ giáo viên đặt ra yêu cầuphải thực hiện các nội dung như: Kế hoạch hoá đội ngũ giáo viên, tuyển dụng, lựachọn giáo viên, định hướng, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp, đề bạt thuyênchuyển…sao cho đội ngũ đó ngày càng tiến bộ, phát huy được phẩm chất, nănglực của mình để giảng dạy, giáo dục đạt hiệu quả ngày càng cao
Tuy nhiên phát triển đội ngũ giáo viên là phát triển tập thể những con ngườinhưng là tập thể những con người có học vấn, có nhân cách phát triển ở trình độcao Vì thế trong phát triển đội ngũ giáo viên chúng ta cần chú ý một số yêu cầuchính sau đây:
Trang 15- Phát triển đội ngũ giáo viên trước hết phải giúp cho đội ngũ giáo viên pháthuy được vai trò chủ động, sáng tạo Khơi dậy và phát huy cao nhất năng lực vàtiềm năng của đội ngũ, để họ có thể cống hiến được nhiều nhất cho việc thực hiệncác mục tiêu giáo dục đã đề ra.
- Phát triển đội ngũ giáo viên phải nhằm hướng giáo viên đưa hoạt động củamình vào phục vụ những lợi ích của tổ chức, cộng đồng và xã hội, đồng thời phảiđảm bảo thoả đáng lợi ích vật chất và tinh thần cho giáo viên
- Phát triển đội ngũ giáo viên phải nhằm đáp ứng mục tiêu trước mắt và mụctiêu phát triển lâu dài của tổ chức, đồng thời phải được thực hiện theo một quychế, quy định thống nhất trên cơ sở Pháp luật của Nhà nước
- Phát triển đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn
và trên chuẩn đào tạo, chất lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng caochất lượng và hiệu quả GD, đáp ứng yêu cầu phát triển GD-ĐT của địa phương
1.2.4 Giải pháp và giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên
1.2.4.1 Giải pháp
Theo Từ điển Tiếng Việt, giải pháp là: “Phương pháp giải quyết một vấn
đề nào đó” [43] Như vậy, nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tácđộng nhằm thay đổi chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng tháinhất định , nhằm đạt được mục đích hoạt động Giải pháp càng thích hợp,càng tối ưu, càng giúp con người nhanh chóng giải quyết những vấn đề đặt ra.Tuy nhiên, để có được những giải pháp như vậy, cần phải dựa trên những cơ
sở lý luận và thực tiễn đáng tin cậy
1.2.4.2 Giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên
Giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên là nhằm phát triển đội ngũ đủ về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo,mạnh về chất lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chấtlượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng yêu cầu đặt ra của địa phương
- Nâng cao nhận thức cho các cấp quản lý và đội ngũ giáo viên đối vớiviệc phát triển đội ngũ giáo viên
- Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ, tuyển dụng, bốtrí, sử dụng và thuyên chuyển giáo viên
15
Trang 16- Thường xuyên bồi dưỡng giáo viên nhằm không ngừng nâng cao kiếnthức và kỹ năng sư phạm cho đội ngũ giáo viên.
- Xây dựng hoàn thiện chế độ, chính sách đối với đội ngũ giáo viên
- Thực hiện đánh giá xếp loại, sàng lọc đội ngũ giáo viên theo Chuẩnnghề nghiệp
- Tăng cường trang bị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cho các trường học
1.3 Vị trí, vai trò, chức năng và đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ, quyền hạn của người giáo viên trung học phổ thông
1.3.1 Vị trí, vai trò và chức năng của người giáo viên trung học phổ thông
1.3.1.1 Vị trí, vai trò của người giáo viên THPT
Bất cứ xã hội nào cũng tạo dựng cho được vị thế xứng đáng cho ngườithầy giáo của xã hội mình Các nhà tư tưởng tiến bộ của mọi thời đại đều cangợi ý nghĩa cao cả và tính ưu việt của nghề dạy học
Nhà giáo dục người Tiệp Cômenxki đã viết: Chức vụ mà xã hội trao chongười giáo viên là chức vụ quang vinh mà dưới ánh mặt trời này không có chức
vụ nào cao quí hơn, nhưng cũng đặt ra cho người giáo viên yêu cầu cao về lòngnhân ái "Anh không thể như một người cha thì cũng không thể là một người thầy".Nhà giáo dục Đixtevec nhấn mạnh: Vai trò của người giáo viên là vôcùng vì đối tượng chăm sóc của người giáo viên không phải là hòn đá mà làcon người", “Không có giáo viên thì thế giới sẽ trở về thời đại dã man"
Nhà giáo dục Usinxki đã đánh giá cao vai trò của người giáo viên: Sựnghiệp dạy học trông bề ngoài thì bình thường nhưng đó là sự nghiệp vĩ đạinhất của lịch sử loài người
Ở nước ta từ xưa người thầy giáo đã được nhân dân ta yêu mến, ca ngợi:
"Muốn sang thì bắc Cầu Kiều", "Không thầy đố mày làm nên" Trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng, nhà nước ta đã coi đội ngũ giáoviên là lực lượng cốt cán của sự nghiệp giáo dục, người giáo viên là chiến sĩcách mạng trên mặt trận tư tưởng - văn hoá
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: "Người thầy giáo tốt, thầy giáoxứng đáng là người vẻ vang nhất Dù tên tuổi không được đăng báo, không
Trang 17được thưởng huân chương, song những thầy giáo tốt là những anh hùng vôdanh" [39] Luật Giáo dục đã nêu rõ: Nhà giáo giữ vai trò quyết định trongviệc bảo đảm chất lượng giáo dục.
Ở nước ta từ xưa đến nay, chỉ có hai nghề được xã hội tôn vinh là: thầygiáo, thầy thuốc Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục, vị trí, vai trò của ngườigiáo viên phải được nâng lên một tầm cao mới
Thế kỷ XXI là thế kỷ của đỉnh cao trí tuệ, với những đặc điểm nổi bật về sựbùng nổ của tri thức khoa học và công nghệ; là một thế giới phụ thuộc lẫn nhau; làthế kỷ với những đối mặt của những vấn đề lớn có tính toàn cầu, vượt ra ngoàiphạm vi mỗi quốc gia, của từng khu vực, như dân số, môi trường,
Con người là trung tâm của sự phát triển, một xã hội phát triển dựa vàosức mạnh của tri thức, bắt nguồn từ khai thác tiềm năng của con người, lấyviệc phát huy nguồn lực con người làm nhân tố cơ bản của sự phát triển nhanhchóng và bền vững Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự pháttriển Việc đặt con người vào trung tâm của sự phát triển khiến cho giáo dụcphải rà soát lại nhận thức về mục tiêu: Từ chỗ “Học để biết” sang nhấn mạnh
“Học để làm”, rồi “học để cùng chung sống”, “Học để tự khẳng định mình”,
có nghĩa là “Khuyến khích sự phát triển đầy đủ nhất tiềm năng sáng tạo củamỗi con người” Vì lợi ích của bản thân và tương lai của dân tộc, giáo dụcphải là công cụ vừa cho cá nhân, vừa cho tập thể nhằm xây dựng nguồn lựccon người thành động lực cho sự phát triển bền vững
Xu thế đổi mới giáo dục của thế kỷ XXI đang đặt ra những yêu cầu mới
về phẩm chất, năng lực và làm thay đổi vai trò, chức năng của giáo viên
Ngày nay khoa học, kỹ thuật, công nghệ đem lại sự biến đổi nhanhchóng trong đời sống KT-XH thì giáo viên không chỉ đóng vai trò truyền đạtcác tri thức khoa học mà còn phát triển những cảm xúc, thái độ, hành vi đảmbảo cho người học làm chủ được và biết ứng dụng hợp lý những tri thức đó.Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển nhanh và nước ta đang trongthời kỳ tiến hành CNH-HĐH, người giáo viên phải được đào tạo ở trình độ họcvấn cao, không chỉ về khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ mà còn phải đượcđào tạo cả khoa học xã hội và nhân văn, khoa học giáo dục Người giáo viên phải
17
Trang 18có ý thức, nhu cầu khả năng không ngừng trong hoàn thiện, phát huy tính độc lập,chủ động, sáng tạo trong hoạt động sư phạm cũng như biết phối hợp nhịp nhàngvới tập thể sư phạm nhà trường trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục.
Ngày nay phương pháp dạy học đang chuyển từ kiểu dạy học tập trung vàovai trò giáo viên sang kiểu dạy học tập trung vào vai trò của học sinh, từ cách dạythông báo đồng loạt, học tập thụ động sang cách dạy phân hoá, học tập tích cực.Vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh được phát huy, nhưng vaitrò của giáo viên không hề giảm nhẹ mà trái lại: Kinh nghiệm nghề nghiệp củamỗi người trong chúng ta cho biết khi tiến hành một tiết dạy theo kiểu thuyếttrình, độc thoại thì bao giờ dễ hơn tiến hành một tiết dạy theo phương pháp tíchcực Bởi vậy giáo viên phải được đào tạo công phu, có trình độ cao về chuyênmôn nghiệp vụ mới có thể là người đóng vai trò cố vấn, người trọng tài luôn giữvai trò chủ đạo trong quá trình sư phạm, trong các hoạt động đa dạng của học sinh
1.3.1.2 Chức năng của người giáo viên
a) Chức năng của một nhà sư phạm:
Đây là chức năng cơ bản, thể hiện đầy đủ nhất tính nghề nghiệp củangười giáo viên Để thực hiện tốt chức năng này người giáo viên thiết kế, tổchức, hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá các loại hình hoạt động và giao lưu chohọc sinh, hình thành nhân cách cho các em theo đúng mục tiêu giáo dục
b) Chức năng của một nhà khoa học:
Dạy học không chỉ đơn thuần là truyền đạt kiến thức cho học sinh Đểnâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học đòi hỏi người giáo viên phải khôngngừng nâng cao trình độ chuyên môn của mình, có sự tìm tòi, sáng tạo
c) Chức năng của một nhà hoạt động xã hội:
Tóm lại, nghề dạy học là nghề giàu tính nhân văn, là nghề khai sáng tâm
hồ, trí tuệ con người Cho dù xã hội loài người phát triển đến mức độ nào thìcũng không gì có thể thay thế được vị trí của người giáo viên trong xã hội Vì
"Giáo dục được một người thầy được cả một xã hội"
1.3.2 Đặc điểm lao động sư phạm của người giáo viên trung học phổ thông
Trang 19Lao động của người giáo viên là một dạng lao động có tính chất đặc thù,
là một dạng lao động sáng tạo Điều này thể hiện rõ ở mục đích đối tượng,công cụ, sản phẩm, môi trường sư phạm
1.3.2.1 Về mục đích của lao động
Cũng như bất cứ loại hình lao động nào, lao động sư phạm cũng là hoạtđộng có mục đích Mục đích lao động sư phạm của giáo viên cũng có nét đặc thù:Giáo dục thế hệ trẻ, hình thành nhân cách cho họ theo yêu cầu của xã hội Haynói cách khác: Lao động sư phạm góp phần tạo ra con người, tái sản xuất sức laođộng cho xã hội, chuẩn bị lớp người lao động cho xã hội tương lai Đây là loại laođộng có hiệu quả nhất
1.3.2.2 Về đối tượng của lao động sư phạm
Bất kỳ một ngành nghề nào cũng có đối tượng quan hệ trực tiếp của mình.Một số ngành nghề có đối tượng quan hệ trực tiếp là con người như: bán hàng,thầy thuốc, nhân viên cảnh sát vv Đối tượng quan hệ trực tiếp của người giáoviên cũng là con người Nhưng đối tượng ở đây không hoàn toàn giống với conngười trong quan hệ với thầy thuốc, chị bán hàng, hay các lĩnh vực khác Đốitượng của lao động sư phạm là con người, thế hệ trẻ đang lớn lên Xã hội tương laimạnh hay suy, phát triển hay trì trệ tuỳ thuộc rất lớn vào những thực thể đang pháttriển này
Đối tượng của lao động sư phạm có những đặc điểm:
- Học sinh không chỉ chịu tác động sư phạm của giáo viên, của nhà trường
mà còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố khác: Gia đình, bạn bè, các lực lượng xãhội, các phương tiện thông tin, đại chúng Các nhân tố này có ảnh hưởng tích cựchoặc tiêu cực đến học sinh Vì vậy, chủ thể lao động cần có khả năng phối hợp,thống nhất các ảnh hưởng và tác động theo hướng tích cực, giúp cho học sinh cóđịnh hướng giá trị đúng đắn
- Đối tượng của lao động sư phạm vừa có những đặc điểm chung về lứa tuổi,nhưng lại có những nét tâm lý, tính cách, nhu cầu khác nhau, không phát triểntheo tỉ lệ thuận với những tác động sư phạm mà theo những qui luật của sự hìnhthành nhân cách, của tâm lý, nhận thức
19
Trang 20- Trong quá trình giáo dục, học sinh không chỉ là đối tượng tác động của giáoviên mà còn là chủ thể của các hoạt động sư phạm Vì vậy, kết quả của lao động
sư phạm không chỉ phụ thuộc vào trình độ, năng lực của giáo viên mà còn phụthuộc vào vai trò chủ thể tích cực của học sinh, vào mối quan hệ qua lại giữa GV -
HS, vào nhân cách của giáo viên Vì vậy, để lao động sư phạm đạt hiệu quả caogiáo viên cần phải có trình độ, năng lực sư phạm, phải hiểu rõ đối tượng của mình
1.3.2.3 Về công cụ lao động sư phạm
Công cụ lao động sư phạm có nét đặc thù Công cụ lao động của giáoviên không chỉ hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cần thiết để thực hiện chứcnăng của một nhà sư phạm, đó còn là chính đạo đức, nhân cách của ngườigiáo viên Người giáo viên thuyết phục, giáo dục học sinh không chỉ bằng trítuệ, mà còn bằng cả tâm hồn, tình cảm, đạo đức, nhân cách của mình "Dùngnhân cách để giáo dục nhân cách"
1.3.2.4 Về sản phẩm của lao động sư phạm
Sản phẩm lao động sư phạm cũng là con người, nhưng đó là những conngười được giáo dục, có những chuyển biến sâu sắc trong nhân cách Sự vinhquang của nghề dạy học thể hiện ở giá trị làm người của học sinh, ở nhân cáchhọc sinh Vì vậy, sản phẩm của lao động sư phạm là sản phẩm cao cấp
1.3.2.5 Về thời gian và không gian lao động sư phạm
Lao động sư phạm của giáo viên THPT mang tính đặc thù về đối tượng,phương tiện, thời gian và sản phẩm lao động Lao động sư phạm của ngườigiáo viên hết sức phức tạp, tinh tế, đầy khó khăn, và có một sứ mạng hết sứcnặng nề là đào tạo thế hệ tương lai cho đất nước Vì vậy đòi hỏi giáo viêntrung học phổ thông cần nhận thức rõ vị trí, vai trò của mình, có trình độ đàotạo đạt chuẩn và trên chuẩn, không ngừng học tập, bồi dưỡng và tự bồidưỡng để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ
1.3.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của người giáo viên trung học phổ thông
1.3.3.1 Nhiệm vụ của giáo viên THPT
- Giáo viên bộ môn, có những nhiệm vụ sau đây:
a) Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục; soạn bài;dạy thực hành thí nghiệm, kiểm tra, đánh giá theo quy định; vào sổ điểm, ghi
Trang 21học bạ đầy đủ, lên lớp đúng giờ, quản lý học sinh trong các hoạt động giáodục do nhà trường tổ chức, tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn;
b) Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương;
c) Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp
vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục;
d) Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng,chịu sự kiểm tra của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục;
đ) Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước họcsinh, thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ cácquyền và lợi ích chính đáng của học sinh, đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; e) Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình họcsinh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong
Hồ Chí Minh trong dạy học và giáo dục học sinh;
g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
- Giáo viên chủ nhiệm, ngoài các nhiệm vụ quy định tại khoản 1 của
Điều này, còn có những nhiệm vụ sau đây:
a) Tìm hiểu và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp
tổ chức giáo dục sát đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp;
b) Cộng tác chặt chẽ với gia đình học sinh, chủ động phối hợp với cácgiáo viên bộ môn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niênTiền phong Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt độnggiảng dạy và giáo dục học sinh của lớp mình chủ nhiệm;
c) Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm học, đềnghị khen thưởng và kỷ luật học sinh, đề nghị danh sách học sinh được lênlớp thẳng, phải kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ
hè, phải ở lại lớp, hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ học sinh;
d) Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng;
- Giáo viên thỉnh giảng, cũng phải thực hiện các nhiệm vụ quy định tại
khoản 1 Điều này
- Giáo viên làm công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, là
giáo viên THPT được bồi dưỡng về công tác Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ
21
Trang 22Chí Minh, có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động của Đoàn ở nhà trường và thamgia các hoạt động với địa phương.
1.3.3.2 Quyền của giáo viên THPT
Giáo viên có những quyền sau đây:
a) Được nhà trường tạo điều kiện để giảng dạy và giáo dục học sinh; b) Được hưởng mọi quyền lợi về vật chất, tinh thần và được chăm sóc,bảo vệ sức khoẻ theo các chế độ, chính sách quy định đối với nhà giáo;
c) Được trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức tham gia quản lý nhà trường; d) Được hưởng lương và phụ cấp (nếu có) khi được cử đi học để đào tạonâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định hiện hành;
đ) Được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường và
cơ sở giáo dục khác nếu được sự đồng ý của Hiệu trưởng và thực hiện đầy đủnhững nhiệm vụ quy định tại Điều 31 của Điều lệ này;
e) Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự;
g) Được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật
1.3.4 Yêu cầu về phẩm chất và năng lực của người giáo viên trung học phổ thông
Trên cơ sở đánh giá rất cao vai trò rất quan trọng của đội ngũ thầy côgiáo đối với sự nghiệp trồng người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra yêu cầucao đối với phẩm chất, năng lực của người thầy giáo Về phẩm chất của ngườithầy giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu:
- “Phải thật thà yêu nghề mình” Người căn dặn: “Thầy cũng như trò, cán bộcũng như nhân viên, phải thật thà yêu nghề mình Có gì vẻ vang hơn là nghề đàotạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng CNXH và CNCS! Ngườithầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất” [40, 331]
- “Phải có đạo đức cách mạng” Vì vậy, người giáo viên nói chung vàngười giáo viên THPT nói riêng cần phải có những phẩm chất và năng lực cầnthiết nhất định để đáp ứng cho sự nghiệp trồng người
1.3.4.1 Yêu cầu về phẩm chất đạo đức
Phẩm chất đầu tiên mà người giáo viên cần có là:
Trang 23- Phải có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, chấp hành luật pháp, chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện nghĩa vụ công dân đốivới nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giáo dục HS lòng yêu nước, yêuCNXH thông qua các hoạt động GD và DH, tham gia và hướng dẫn HS thamgia các hoạt động liên quan đến nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Phải có lòng yêu nghề, yêu trẻ: Đây là phẩm chất quan trọng nhất củangười thầy giáo Bởi lẽ, nghề thầy giáo là một nghề có đối tượng quan hệ trực tiếp
là con người Hơn nữa, đây lại là đối tượng con người đang lớn, đang trưởngthành, đang trong thời kỳ chuẩn bị khẳng định mình Mặt khác, công cụ chủ yếu
mà người thầy giáo sử dụng trong quá trình DH và GD là nhân cách của mình,như K.Đ.Usinxki đã từng khẳng định: “dùng nhân cách để giáo dục nhân cách”[44; 195] Nghề thầy giáo là nghề lao động nghiêm túc, không được phép tạo rathứ phẩm hay phế phẩm như một số ngành nghề khác Có người từng nói: làmhỏng một đồ vàng, ta có thể nấu lại, một viên ngọc quý ta có thể bỏ đi, làm hỏngmột con người là một tội lớn, một lỗi lầm không thể chuộc lại được Vàng, ngọc,kim cương đều quý nhưng không thể sánh chúng với tâm hồn, nhân cách của mộtcon người, đặc biệt, đây lại là đối tượng con người đang lớn, đang trưởng thành,đang chuẩn bị bước vào đời Vì lẽ đó, người giáo viên cần phải có lòng yêu nghềmến trẻ, và cũng chỉ có lòng yêu nghề, mến trẻ mới giúp cho người giáo viên cốgắng nỗ lực để tìm tòi, học hỏi, chắt chiu kiến thức, kỹ năng để chuyển tải, truyềnthụ, bồi đắp cho thế hệ trẻ những tri thức, những kỹ năng cần thiết để hình thành
và phát triển nhân cách của mình Chỉ có những người yêu nghề, mến trẻ mới cóthái độ thân thiện với học sinh, quan tâm đến tình hình chung của cả lớp học, đồngthời hiểu được đặc điểm, điều kiện, hoàn cảnh, năng lực học tập của từng em họcsinh để có những biện pháp tác động phù hợp; chăm lo đến sự phát triển toàn diệncủa các em về đạo đức, tình cảm, năng lực, sức khoẻ, hứng thú, sở thích, nguyệnvọng, ước muốn , để có những định hướng đúng đắn trong học tập, trong sinhhoạt, trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai Lòng yêu nghề mến trẻ còn giúpgiáo viên nhiệt tình giảng dạy, không ép buộc học sinh học thêm, tự giác giúp đỡcác học sinh nghèo, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh có biểu hiện chậmtiến, tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của học
23
Trang 24sinh; không xúc phạm nhân phẩm, danh dự, thân thể học sinh; thực hiện dân chủtrong quan hệ thầy trò, công bằng, không phân biệt đối xử với học sinh.
Người giáo viên phải thực sự yêu nghề, tận tuỵ với nghề, có tinh thần tráchnhiệm trong công tác, có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành tốt các chủ trương củangành, thực hiện tốt các kỷ cương, nền nếp của nhà trường; giữ gìn phẩm chất,danh dự của nhà giáo, uy tín của nhà trường; có tinh thần hợp tác, đoàn kết giúp
đỡ lẫn nhau với các đồng nghiệp, với phụ huynh học sinh, với cộng đồng trongcông tác giảng dạy, giáo dục Trong giai đoạn hiện nay, người giáo viên phải thựchiện tốt cuộc vận động “Hai không”, cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấmgương sáng về đạo đức, tự học và sáng tạo” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phátđộng, thực sự là người tiên phong đi đầu trong cuộc vận động “Học tập và làmtheo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Người giáo viên phải có tinh thần tự học, tham dự các chương trình, cáclớp tập huấn bồi dưỡng về tư tưởng chính trị, về chuyên môn nghiệp vụ đểnâng cao phẩm chất và năng lực nghề nghiệp; xác định nhu cầu, xây dựng vàthực hiện kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; có ý thức tìmhiểu những vấn đề đổi mới trong giáo dục để vận dụng vào công tác giáo dục
và dạy học; có ý thức rèn luyện thân thể để đảm bảo công tác tốt
1.3.4.2 Yêu cầu về năng lực
- Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực
hiện một hoạt động nào đó [43; 639].
Nghề dạy học là một nghề đặc biệt, đã từng được tôn vinh là “nghề caoquý” Đây là nghề trực tiếp tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, nghề đòihỏi tính khoa học, tính nghệ thuật và tính sáng tạo cao, đồng thời cũng là mộtnghề lao động trí óc chuyên nghiệp Vì vậy bên cạnh phẩm chất, người giáoviên nói chung và giáo viên THPT nói riêng cần phải có những năng lực cầnthiết, bao gồm: năng lực chuyên môn; năng lực giảng dạy; năng lực sư phạm;năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục, cụ thể:
- Năng lực chuẩn đoán nhu cầu và đặc điểm của đối tượng dạy học, giáo dục;
- Năng lực thiết kế dạy học, giáo dục;
- Năng lực giám sát, đánh giá kết quả các hoạt động dạy học, giáo dục;
Trang 25- Năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tế dạy học, giáo dục;
Để có những năng lực nói trên, người giáo viên THPT cần phải có kiếnthức và kỹ năng cần thiết, cụ thể:
a) Về tri thức khoa học:
Người giáo viên THPT cần có các kiến thức cơ bản sau đây:
- Kiến thức về các môn học mà mình phụ trách: Người giáo viên phải đạttrình độ đào tạo từ chuẩn trở lên đối với môn học mà mình trực tiếp giảng dạytheo quy định của Luật Giáo dục Cụ thể, đối với giáo viên THPT, phải đạt trình
độ đào tạo đại học sư phạm đúng chuyên ngành giảng dạy hoặc trình độ đại họcđúng chuyên ngành giảng dạy và có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm theo quy địnhcủa Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Kiến thức về đặc điểm tâm sinh lý đối tượng: giáo viên phải có kiếnthức cần thiết về tâm lý học sư phạm và tâm lý học lứa tuổi học sinh THPT đểvận dụng vào công tác giảng dạy, giáo dục
- Kiến thức về ngoại ngữ, tin học: giáo viên phải có trình độ tin học vàngoại ngữ để có thể sử dụng các công cụ, phương tiện dạy học hiện đại đểnâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy, giáo dục
- Kiến thức về xã hội:
+ Người GV phải hiểu biết về chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước,của ngành giáo dục, của địa phương và phương hướng, nhiệm vụ của nhà trường.+ Có kiến thức phổ thông về những vấn đề xã hội, môi trường, dân số, anninh quốc phòng, an toàn giao thông, về chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên,
- Kỹ năng dạy học: Kỹ năng dạy học liên quan đến việc tổ chức hoạt
động nhận thức của học sinh, các mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh
25
Trang 26trong giờ học Đây là là kỹ năng rất quan trọng của người giáo viên, có ảnhhưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả của bài dạy.
Để có bài dạy tốt, GV phải có khả năng thiết kế, chế biến tài liệu học tập.Đây là kỹ năng quan trọng, là năng lực gia công về mặt sư phạm của GV đốivới tài liệu học tập, đảm bảo tính lôgic, đặc điểm nhận thức của học sinh:+ Xác định rõ mục tiêu bài dạy
+ Thiết kế bài dạy thể hiện được các bước lên lớp, các nội dung cơ bảncủa bài dạy, các phương pháp, phương tiện dạy học
+ Trên cơ sở kiến thức SGK, giáo viên chế biến, bổ sung vào bài giảngcủa mình những tri thức từ các sách, báo khác và từ cuộc sống để bài giảngsinh động, hấp dẫn, có cấu trúc lôgic chặt chẽ
+ Xác định được các phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp với nộidung bài dạy:
Biết tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy tính tích cực nhậnthức của học sinh: bao quát được lớp học, biết sử dụng linh hoạt, sáng tạo cácphương pháp, phương tiện dạy học, trình bày bảng hợp lý, lời giảng rõ ràng,mạch lạc Tổ chức tốt các mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh, giữa họcsinh và tài liệu học tập, giữa học sinh với nhau trong giờ học
Biết tổ chức quá trình kiểm tra, đánh giá để xác định mức độ chiếm lĩnhtri thức, kỹ năng kỹ xảo hiện có ở học sinh
- Kỹ năng giáo dục học sinh: Cùng với kỹ năng dạy học, kỹ năng giáo
dục học sinh là một yếu tố không thể thiếu được trong tay nghề của ngườigiáo viên Kỹ năng giáo dục học sinh được đặc trưng bởi các hành động sau:+ Xây dựng nội dung, kế hoạch giáo dục học sinh (kế hoạch tuần, tháng,học kỳ, năm học, …)
+ Lựa chọn các con đường, biện pháp giáo dục phù hợp với đặc điểm lứatuổi học sinh và nội dung cần giáo dục
+ Tổ chức các hoạt động giáo dục phong phú, đa dạng nhằm hình thành
ở học sinh các phẩm chất nhân cách đáp ứng yêu cầu của xã hội
+ Biết cách giao tiếp, ứng xử với học sinh, cha mẹ HS, đồng nghiệp vàcộng đồng (lời nói, cử chỉ, ăn mặc phù hợp với môi trường giáo dục, khéo léo
Trang 27thuyết phục, động viên, uốn nắm những biểu hiện lệch lạc trong nhân cáchcủa HS, tiếp xúc với phụ huynh, với nhân dân đúng mực, lịch sự).
+ Đánh giá kết quả của quá trình giáo dục, căn cứ vào sự phát triển nhâncách của học sinh
- Kỹ năng vận động và phối hợp các lực lượng giáo dục gia đình, xã hội:Đây cũng là kỹ năng không kém phần quan trọng của người giáo viên Nhất là
trong điều kiện toàn xã hội và giáo dục như hiện nay Kỹ năng này được đặc
trưng bởi các hành động sau:
+ Giúp cho mọi người nhận thức được đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ củamình đối với sự nghiệp giáo dục
+ Cung cấp cho các bậc cha mẹ những hiểu biết cần thiết để giúp đỡ con,
em học tập ở nhà
+ Vận động các tổ chức, đoàn thể xã hội tích cực tham gia giáo dục họcsinh trên địa bàn dân cư
+ Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, có ảnh hưởng tích cực đến
sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, …
- Kỹ năng tự học, tự nâng cao trình độ: Bản thân lao động nghề nghiệp
đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng tự học, tự nâng cao trình độ Khẩuhiệu: “Sống là học, học tập là công việc suốt đời” có ý nghĩa rất thiết thực đốivới người giáo viên Kỹ năng này được đặc trưng bởi các hành động sau:+ Thường xuyên trang bị cho bản thân những kiến thức mới, nhữngthông tin mới;
+ Tiếp cận nhanh chóng với các phương pháp và xu thế dạy học mới,phát huy cao độ tính tích cực, độc lập của người học;
+ Mở rộng phạm vi hiểu biết các vấn đề xã hội, các vấn đề có ý nghĩaquốc gia, quốc tế (hoà bình, dân số, môi trường, AIDS, ma tuý, nghèo đói, )
- Kỹ năng nghiên cứu khoa học: Người giáo viên còn cần phải có kỹ
năng nghiên cứu khoa học, kỹ năng này giúp người giáo viên giải quyết tốtcác vấn đề thường xuyên nảy sinh trong thực tiễn công tác giảng dạy - giáodục của mình, biết vận dụng những kinh nghiệm thành công của đồng nghiệp
Kỹ năng này được đặc trưng bởi các hành động sau:
27
Trang 28+ Xác định đề tài nghiên cứu;
+ Lập kế hoạch nghiên cứu;
+ Thực hiện công trình nghiên cứu;
+ Bảo vệ công trình nghiên cứu, …
- Kỹ năng giao tiếp với học sinh, phụ huynh và đồng nghiệp: Thể hiệnkhả năng duy trì và phát triển mối quan hệ với đồng nghiệp, giữa giáo viên vàhọc sinh và giữa học sinh với nhau
1.4 Sự cần thiết phải phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông
1.4.1 Vai trò của giáo dục trong sự phát triển kinh tế - xã hội và vai trò của giáo viên trong giáo dục
1.4.1.1.Vai trò của giáo dục trong sự phát triển kinh tế - xã hội
Tăng trưởng kinh tế cùng với sự phát triển nhanh, liên tục của KH-CN đãlàm biến đổi nền GD một cách cơ bản, đồng thời có yêu cầu càng cao đối với giáodục Trong xã hội xuất hiện sự chuyển dịch lao động từ lĩnh vực công nghệ chếtạo sang lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao: như công nghệ thông tin, công nghệnăng lượng, công nghệ tự động hoá, công nghệ sinh học ; sản xuất tri thức, sảnxuất công nghệ trở thành loại hình sản xuất quan trọng nhất, tiêu biểu và luôn biếnđổi, chu kỳ sống của sản phẩm rút ngắn, tri thức có giá trị là tri thức mới Xu thếchuyển từ sản xuất theo quy mô lớn, sang sản xuất phân tán theo cấu trúc mạng vàlinh hoạt theo yêu cầu của khách hàng Đồng hành cùng với sự phát triển của xãhội, loài người cũng sớm nhận ra sự cần thiết của GD đối với sự phát tiển KT-XH.Giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vànhững kinh nghiệm nhằm chuẩn bị cho con người bước vào cuộc sống Trong xuthế toàn cầu hoá, lợi thế cạnh tranh ngày càng nghiêng về những quốc gia cónguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là đội ngũ nhân tài Với những biến đổi cực
kỳ nhanh chóng, sự phát triển mạnh mẽ về khoa học KT-CN, sự hình thành nềnkinh tế tri thức, toàn cầu hoá trở thành một xu thế tất yếu; các quốc gia muốn pháttriển phải đầu tư cho giáo dục, giáo dục phát triển tác động trở lại thúc đẩy cáchoạt động KT-XH phát triển Ngay từ khi mới thành lập Đảng ta đã quan tâm,chăm lo phát tiển sự nghiệp giáo dục và đào tạo; cùng với tiến trình phát triển củađất nước, đã xác định vị trí vai trò của giáo dục và đào tạo là “quốc sách hàng
Trang 29đầu”; “Giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng Chủnghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèonàn và lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”; “Phát triển sự nghiệp giáodục là nhằm phát huy yếu tố con người, là một trong những động lực quan trọngthúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá” [12; 12].
Trong khoảng từ những năm 80 của thế kỷ qua đến nay cuộc cách mạng
KH-CN đã có bước phát triển đặc biệt, tạo ra những biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc chưatừng có trong lịch sử nhân loại, với thành tựu của các ngành công nghệ cao như:công nghệ thông tin (Siêu xa lộ thông tin, internet, ) công nghệ sinh học (Gen, tếbào ) công nghệ vật liệu (Vật liệu siêu dẫn, công nghệ cao ), công nghệ nănglượng, đã đưa sự phát triển kinh tế sang một giai đoạn mới về chất, giai đoạnkinh tế tri thức Nền kinh tế tri thức với xu thế toàn cầu hoá và sự phát triển như
vũ bão của KH-KT thì vai trò, vị trí của giáo dục ngày càng được quan tâm đề caohơn Đảng ta coi việc "đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” là hướng đichính cho sự phát triển xã hội Việt Nam Trong nền kinh tế tri thức “các quốc giamuốn tăng trưởng và phát triển nhất thiết phải đầu tư cho GD-ĐT và KH-CN,nhằm thay đổi tận gốc lực lượng sản xuất” [30; 30] Sự phát triển KH-CN cũngtạo ra phương tiện mới giúp cải cách quá trình GD-ĐT có hiệu quả hơn Tronghợp tác, cạnh tranh kinh tế, thương mại và KH-CN thì giáo dục trở nên bí quyếtthành công của các quốc gia
GD và KT-XH có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; GD có chức năng gópphần tái sản xuất sức lao động kỹ thuật cho nền kinh tế, đồng thời góp phần thayđổi mối quan hệ xã hội, giảm sự mất bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư; giáo dụcvừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển KT-XH Sự phát triển KT-XH ảnhhưởng trực tiếp đến sự phát triển giáo dục; vai trò và động lực của giáo dục trongphát triển KT-XH thể hiện ở các mặt:
GD là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là bộ phận cấu thành của đời sống
xã hội và được coi là cơ sở phát triển của hạ tầng kinh tế - xã hội Các nhà xãhội học luôn coi GD như một quá trình xã hội hoá liên tục và có tính phổ quáttrong sự hiện diện của nó ở tất cả các chế độ, giai đoạn lịch sử nhân loại,không hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất, cơ cấu xã hội Trong đó nổi bật là
29
Trang 30sự chăm sóc giáo dục, bồi dưỡng con người thuộc thế hệ trẻ, xây dựng quan
hệ xã hội, quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh Điều đó là cơ sởgiúp các thế hệ nối tiếp nhau sáng tạo, nâng cao những gì mà nhân loại đã họcđược về bản thân và thiên nhiên về tất cả những gì cần thiết cho hiện tại vàtương lai Vì thế, giáo dục được coi là cầu nối từ chỗ không có gì đến chỗ cái
gì cũng có, là khai sáng, là vầng trán của cộng đồng
- GD-ĐT góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài làm nền tảngcho sự phát triển đất nước, Trình độ dân trí của một dân tộc càng cao đó làsức mạnh to lớn trong công cuộc phát triển KT-XH của mỗi đất nước, nếu dântrí thấp sẽ kéo theo sự nghèo nàn và lạc hậu
- GD-ĐT cung cấp nguồn nhân lực cho sự phát KT-XH, Giáo dục vàĐào tạo luôn gắn bó chặt chẽ với kinh tế; kinh tế có vai trò quyết định sự pháttriển GD, nhưng GD cũng là động lực để phát triển kinh tế; GD-ĐT có thựchiện được sứ mệnh của mình hay không còn phụ thuộc vào những điều kiệncủa hệ thống về nhân lực, cơ sở vật chất, thiết bị, và nguồn đầu tư
- Sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc rất lớn vào trình độ KH-KT; cộngđồng dân cư nào có trình độ khoa học KT-CN cao thì năng suất, chất lượng vàhiệu quả lao động cao hơn Giáo dục và Đào tạo là nhân tố nòng cốt trongphát triển KH-CN; không có một sự tiến bộ nào của nền kinh tế, sản xuất, đờisống xã hội lại không có yếu tố cấu thành của nền giáo dục
- GD giúp con người nhận thức đúng đắn các mối quan hệ xã hội, biết làmnhững việc cần làm, biết tránh những vấn đề phải tránh Giúp cho mỗi người vàcộng đồng tăng cường nâng cao trình độ dân trí, biết phân biệt đúng - sai; lợi -hại , biết loại trừ được cái bất lợi, xấu xa, hướng tới cái chân - thiện - mỹ GDgiúp cho mỗi người và cộng đồng nắm được ý nghĩa của sự phát triển dân số, mộtthành phần quan trọng tác động đến đường lối phát triển KT-XH, từ đó mà tự giácthực hiện tốt chính sách dân số - kế hoạch hoá gia đình
Ngược lại, KT-XH đảm bảo cho sự phát triển của giáo dục thông quaviệc đầu tư nguồn lực, định hướng cho sự phát triển, tạo môi trường thuận lợicho sự phát triển, trực tiếp hỗ trợ các điều kiện đảm bảo cho sự phát triển giáodục; sử dụng các sản phẩm của giáo dục – đào tạo
Trang 31GDP1
P3P2
Văn hoá
Chính trị
Xã hội
Giá o dục
Kin h tế
Môi trường
Chúng ta có thể thấy giáo dục có các chức năng đối với xã hội sau đây:P1: Chức năng phát triển xã hội (đầu tư phát triển giáo dục, nguồn lực).P2: Chức năng phúc lợi xã hội (bao cấp)
P3: Chức năng phục vụ xã hội (có hạch toán - tính toán chi phí - hiệu quả)
Sơ đồ 1: Mối liên hệ ba chức năng của giáo dục
Giáo dục phổ thông là cơ sở của hệ thống GD quốcdân, là nền tảng GD quốc gia, xây dựng nền tảng văn hoá tương lai cho dântộc, giữ vai trò quan trọng góp phần xây dựng nền văn hoá mới, con ngườimới, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài đáp ứng nhu cầu phát triển của đấtnước; "Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện
về đức, trí, thể, mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tínhnăng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủnghĩa, xây dựng tư cách và trách nhịêm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếptục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổquốc" [33, 20]
Vai trò của giáo dục đặt trong sự gắn kết giữa giáo dục, chính trị, kinh tế,văn hoá, xã hội thường được mô tả sơ đồ sau:
Sơ đồ 2: Mối quan hệ giữa kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.
31
Trang 321.4.1.2 Vai trò của giáo viên trong giáo dục
Mục tiêu và nhiệm vụ của GD nước ta hiện nay là nâng cao dân trí, đào tạonhân lực và bồi dưỡng nhân tài Phát triển GD tạo ra động lực trực tiếp cho sựphát triển KT-XH, làm thay đổi mọi mặt đời sống xã hội, tạo lập nguồn vốn conngười - nguồn lực quan trọng nhất của quá trình phát triển đất nước Nhưng GDmuốn phát triển cũng phải xuất phát từ nhân tố con người, mà trước hết là đội ngũgiáo viên và cán bộ QLGD Đây là “những người trực tiếp thực hiện và vì vậy giữvai trò quyết định trực tiếp đến chất lượng và sự phát triển của hệ thống giáo dụcquốc dân” [23] Tổ chức Văn hoá và giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO)cũng đã từng khuyến cáo: Mọi cuộc cải cách đều bắt đầu từ người giáo viên.Trong nhà trường nói chung, nhà trường THPT nói riêng, đội ngũ giáo viên
là người trực tiếp tổ chức quá trình dạy học trên lớp và quá trình giáo dục theo nộidung chương trình của Bộ Giáo và Đào tạo quy định, với phương pháp sư phạmnhằm đạt mục tiêu giáo dục của cấp học, của nhà trường Vì vậy, đội ngũ giáoviên THPT bao giờ cũng là lực lượng trực tiếp quyết định chất lượng giáo dục bậcTHPT Có thể nói, muốn có trò giỏi, chăm ngoan, trước hết phải có thầy giáo giỏi,
có đạo đức, có nhân cách tốt Cha ông ta cũng đã từng rất coi trọng nghề dạy học
và tôn vinh vị trí cao cả của người thầy: “Không thầy đố mày làm nên”, Bác Hồkính yêu đã từng nói: “Nhiệm vụ của giáo dục là rất vẻ vang, vì nếu không có thầygiáo thì không có giáo dục” Người cũng khẳng định “nhiệm vụ của các cô giáo,thầy giáo là rất quan trọng và rất vẻ vang”, đồng thời yêu cầu phải xây dựngnhững “người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo” “Thầy giáo phảithật sự yêu nghề mình, phải có chí khí cao thượng, khó khăn thì phải chịu trước,sung sướng thì hưởng sau thiên hạ Đây là đạo đức cách mạng của người thầy”[39; 184] Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng giáo dục, coi trọng độingũ giáo viên và cán bộ QLGD, lực lượng nòng cốt của sự nghiệp giáo dục Độingũ giáo viên được tôn vinh là những người kỹ sư tâm hồn, những người chiến sĩtrên mặt trận tư tưởng văn hoá Họ có trách nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lýtưởng và đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân, tinh hoa văn hoá của dân tộc
Trang 33và nhân loại; khơi dậy trong người học những phẩm chất cao quý và những nănglực sáng tạo để thực hiện thành công các chủ trương chính sách phát triển KT-XH,thực hiện CNH-HĐH, đảm bảo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ văn minh” Nghị quyết TW II khoá VIII của Đảng ta đã khẳng định: độingũ giáo viên là nhân vật trung tâm, đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, điềukhiển, lãnh đạo quá trình hình thành nhân cách con người; Luật giáo dục nước takhẳng định: giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục Trước yêu cầumới của sự nghiệp CNH-HĐH, với nhiều cơ hội phát triển và không ít nhữngthách thức, khó khăn, Đảng ta xác định khâu then chốt để thực hiện chiến lượcphát triển giáo dục là phải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hoá đội ngũgiáo viên và cán bộ QLGD cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và năng lực chuyênmôn, nghiệp vụ; cụ thể hoá chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.
Tóm lại, có thể nói giáo dục đóng vai trò vị trí rất quan trọng, có ý nghĩaquyết định đối với việc xây dựng và phát triển con người - động lực chủ yếu của
sự phát triển KT-XH đất nước Đội ngũ giáo viên là nhân tố quyết định chất lượngdạy học, giáo dục Hiện nay, sự nghiệp CNH-HĐH đất nước đã và đang đặt ra yêucầu ngày càng cao đối với ngành giáo dục – đào tạo, với đội ngũ thầy cô giáo vàcán bộ quản lý giáo dục các cấp
1.4.2 Tầm quan trọng của việc phát triển đội ngũ giáo viên
1.4.2.1 Phát triển đội ngũ giáo viên là thực hiện nghị quyết và chỉ thị của Đảng về giáo dục
Phát triển đội ngũ là thực hiện quan điểm về “Giáo dục là quốc sách” vàthực hiện Nghị quyết Trung ương IV khoá VIII: “Khâu then chốt đó thực hiệnchiến lược phát triển giáo dục là phải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng vàtiêu chuẩn hoá đội ngũ giáo viên cũng như cán bộ quản lý giáo dục và chínhtrị, tư tưởng, đạo đức và nâng cao năng lực chuyên môn”
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII đãnêu “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hộitôn vinh Giáo viên phải có đủ đức, đủ tài” [4] Nghị quyết Đại hội Đảng khoá
IX, X và khoá XI cũng đặc biệt quan tâm đến phát triển đội ngũ cán bộ qlgd
33
Trang 34và đội ngũ nhà giáo cần có đủ đức, đủ tài để chấn hưng nền GD nước nhà vàchú trọng việc nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất lối sống của nhà giáo.Đặc biệt ngày 15/6/2004 Ban bí thư TW Đảng đã ban hành chỉ thị số 40
về việc xây dựng, nâng cao đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD Chỉ thị nêu rõxây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD là một nhiệm vụ vừa đáp ứngyêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài nhằm đánh giá quá trìnhthực hiện chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 đồng thời thực hiệnthành công chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 và chấn hưng đất nước,chỉ thị đã nêu rõ mục tiêu là “Xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáodục, đảm bảo đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, cân đối về cơ cấu, đạtchuẩn đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới” [6] Ban bí thư đã yêu cầu các cấp uỷ, tổchức Đảng lãnh đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Củng cố nâng cao chất lượng hệ thống các trường sư phạm, các trườngcán bộ quản lý giáo dục
- Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, cán bộ QLGD để có kếhoạch đào tạo, bồi dưỡng đảm bảo đủ số lượng và cân đối về cơ cấu, nâng caotrình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ QLGD
- Đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giáo dụctheo hướng hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam
- Đổi mới nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà giáo và cán bộ QLGD
- Xây dựng và hoàn thiện một số chính sách, chế độ đối với đội ngũ nhàgiáo và cán bộ quản lý
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng và nâng caochất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý
Đây là Chỉ thị vô cùng quan trọng và hết sức cụ thể về việc xây dựng vànâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD và đặc biệt chỉ thị đã nhấnmạnh: “Phát triển GD-ĐT là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lựcquan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, là điều kiện để phát huynguồn lực con người Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhàgiáo và cán bộ QLGD là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng”
Trang 35Đại hội khóa XI của Đảng đã khẳng định “Phát triển giáo dục là quốcsách hàng đầu, đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướngchuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới
cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý làkhâu then chốt” [3]
1.4.2.2 Phát triển đội ngũ giáo viên là đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành giáo dục nói chung và nhu cầu phát triển của giáo dục trung học phổ thông nói riêng
Giáo dục trung học phổ thông là cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân.Đội ngũ giáo viên THPT là lực lượng quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục,đảm bảo mọi thành công của chủ trương đổi mới giáo dục, đồng thời là ngườitrực tiếp thực hiện mục tiêu của giáo dục THPT: “Giáo dục trung phổ thông nhằmgiúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở,hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật vàhướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng pháttriển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sốnglao động” (Mục 2 Điều 27 Luật Giáo dục 2005 và sửa đổi năm 2009) [10]
1.4.2.3 Phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu phát triển của từng trường trung học phổ thông
Đội ngũ GV là lực lượng trực tiếp thực hiện mục tiêu, kế hoạch dạy học,giáo dục của nhà trường, là người tạo nên uy tín, chất lượng hiệu quả của nhàtrường
- Mỗi trường THPT muốn phát triển, trước hết phải có một đội ngũ GVG
- Yêu cầu về chất lượng đội ngũ là một trong những tiêu chuẩn để nhàtrường được xét công nhận những danh hiệu thi đua của nhà trường
- Đội ngũ là nguồn lực quý báu và có vai trò quyết định chất lượng giáo dụctrong nhà trường
1.4.2.4 Phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu phát triển của mỗi
cá nhân giáo viên
- Đặc điểm lao động sư phạm đòi hỏi đội ngũ giáo viên phải thườngxuyên học tập, rèn luyện, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng
35
Trang 36- Nhu cầu phát triển là một trong những nhu cầu cơ bản của mỗi con người.
- Phấn đấu để được xét công nhận giáo viên giỏi các cấp là những nhucầu chính đáng của mỗi giáo viên mà các nhà quản lý cần khuyến khích và tạođiều kiện hỗ trợ họ
1.4.2.5 Phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng nhu cầu của học sinh
- Toàn xã hội, ngành GD, các bậc cha mẹ đều đặt niềm tin, niềm hy vọng
vào các thầy cô giáo trong việc giáo dục con em mình để hoàn thành học vấnphổ thông, hoàn thiện nhân cách để trở thành chủ nhân tương lai của đấtnước
- Học sinh luôn muốn được học tập những thầy cô giáo có tình thương
yêu với học trò, nhiệt tình và có năng lực chuyên môn nghiệp vụ cao
Tất cả những nội dung trên đều khẳng định tầm quan trọng của công tácphát triển đội ngũ giáo viên trong trường THPT
1.5 Cơ sở pháp lý của việc phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã vạch ra chiến lược phát triểnKT-XH giai đoạn 2001 - 2020, đồng thời đưa ra các giải pháp phát triển GD trong
đó “Củng cố và phát triển đội ngũ nhà giáo” là giải pháp trọng tâm “Phát triển độingũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, chuẩn về chất lượng đápứng nhu cầu vừa tăng về quy mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục”.Nghị quyết Đại hội huyện Đảng bộ Quan Sơn lần thứ IV (nhiệm kỳ 2010 -2015) khẳng định: "Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tích cực xây dựngđội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hóa về trình độ, đủ
về số lượng, đồng bộ về cơ cấu Mở rộng đa dạng hóa các hình thức giáo dục vànâng cao chất lượng giáo dục thường xuyên, các trung tâm học tập cộng đồng.Đấy mạnh việc thực hiện phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” gắn với việc thựchiện có hiệu quả cuộc vận động của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra, khắc phụcnhững tồn tại, hạn chế trong giáo dục, ngăn chặn các tệ nạn xâm nhập học được”[8; 23]
Điều 14 - Chương I - Luật Giáo dục quy định: “Nhà giáo giữ vai trò quyếtđịnh trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục Nhà giáo phải không ngừng học tập,
Trang 37rèn luyện nêu gương tốt cho người học” Nhiệm vụ và các tiêu chuẩn của nhà giáoquy định rõ ràng: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhàtrường hoặc cơ sở giáo dục khác”; nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:
- Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;
- Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp;
- Lý lịch bản thân rõ ràng.
(Điều 61 - Chương I - Luật Giáo dục) [10]
Như vậy, việc phát triển đội ngũ nhà giáo đã được Nghị quyết Đại hội Đảngtoàn quốc khoá IX, Nghị quyết Đại hội huyện Đảng bộ Quan Sơn lần thứ IV, LuậtGiáo dục xác định rõ Trực tiếp chỉ đạo là những nhà quản lú giáo dục Do đóngười cán bộ quản lý nhà trường phải coi đây là công việc đầu tiên, giữ vai tròquyết định đối với chất lượng giảng dạy và giáo dục của nhà trường
Trên đây là cơ sở lý luận của việc xác định các giải pháp phát triển độingũ giáo viên Những cơ sở lý luận nói trên là những tiền đề để khảo sát thựctrạng và xây dựng các giải pháp cụ thể về việc phát triển đội ngũ sẽ được trìnhbày ở các chương tiếp theo
37
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN QUAN SƠN, TỈNH THANH HÓA 2.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội huyện Quan Sơn
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, địa lý hành chính và dân cư
Huyện Quan Sơn có vị trí địa lý: 21006’15’’ - 20024’30’’ độ vĩ bắc; 104036’30’’
- 105008’25’’ độ kinh đông; là vùng đầu nguồn của hệ thống Sông Mã, nằm cáchThành phố Thanh Hóa 157 km về phía Tây theo Quốc lộ 47 và Quốc lộ 217 + Phía Bắc giáp huyện Quan Hóa
+ Phía Đông giáp huyện Bá Thước và huyện Lang Chánh
+ Phía Tây và Nam giáp Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 93.017,03 ha, với 13 đơn vị hành chínhgồm 12 xã và 01 thị trấn huyện lỵ; có 11 xã và 01 bản của xã Trung Hạ là xã đặc
Trang 39biệt khó khăn thuộc chương trình 135 giai đoạn II; có 6 xã gồm 16 bản giáp biêngiới nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, với tổng số đường biên giới là 68 km.Địa hình là vùng đồi núi cao khó khăn hiểm trở, diện tích bề mặt lãnh thổ bịchia cắt bởi sông Luồng và sông Lò, có nhiều dãy núi cao như Pù Mằn - Sơn Hàcao 1247m, Pa Panh - Sơn Điện và Sơn Lư độ cao từ 1146m đến 1346m, hướngnúi thấp dần từ Tây sang Đông, độ dốc trung bình từ 25 đến 30 độ và có trên 90%diện tích là đồi núi Do đó rất khó khăn về giao thông đi lại, nhất là đường đi vàocác chòm bản trong mùa mưa lũ
Chịu ảnh hưởng chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa và tiểu khí hậu do địahình tạo nên, ảnh hưởng trực tiếp của gió tây nam khô nóng từ tháng 4 đến tháng
7 Nhiệt độ trung bình hàng năm là 250C; nhiệt độ cao nhất là 300C đến 390C; thấpnhất từ 40C đến 100C, có thời điểm xuống đến 00C (tại các điểm vùng cao); độ ẩmtrung bình 86%
Tổng dân số toàn huyện là 36.172 người (7.710 hộ), trong đó nữ là 18.194người, nam là 17.978 người; Dân số nông nghiệp nông thôn là 32.916 người(6.986 hộ) Cư trú trên địa bàn huyện có 4 dân tộc anh em cùng chung sống đó làThái, Mường, Kinh và H.Mông
Trong đó: + Dân tộc Thái 31.007 người chiếm 85,72%;
+ Dân tộc Mường 2.814 người chiếm 7,78%;
+ Dân tộc Kinh 1.338 người chiếm 3,70%;
+ Dân tộc H.Mông 1.013 người chiếm 2,80%
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,3%
Tổng số lao động là 22.115 người; trong đó lao động trong độ tuổi là18.846 người, lao động nữ là 9.316 người, có 91% là lao động sản xuất Lâm -Nông nghiệp
Trong đó: + Lao động có việc làm thường xuyên là 14.826 người,
+ Lao động có việc làm không thường xuyên là 7.289 người, + Tỷ lệ lao động qua đào tạo là 14%, trong đó lao động có trình
độ cao đẳng trở lên là 7,5%, chủ yếu làm việc trong các cơ quan nhà nước
Phân bố dân cư trên đại bàn huyện rất thưa, mật độ dân số 38,88 người/km2
và phụ thuộc nhiều vào cơ sở hạ tầng, phong tục tập quán của địa phương Ngoài
39
Trang 404 điểm chính tập trung dân cư như: Tiểu khu km22 thuộc xã Trung Tiến, thị trấnQuan Sơn, tiểu khu km 61 thuộc xã Sơn Điện, cửa khẩu biên giới Na Mèo, chủyếu dân cư phân bố dọc theo các triền sông, suối, nơi có điều kiện làm nương rẫy,ruộng nước, trên địa bàn huyện có 93 chòm bản và 6 khu phố Hiện tượng sống ducanh, du cư của dân vẫn còn nhất là ở khu vực đồng bào H.Mông.
Huyện có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - anninh của khu vực miền núi và tỉnh Thanh Hóa: với cửa khẩu quốc tế Na Mèo -Nậm Xôi và cửa khẩu tiểu ngạch Tam Thanh - Sầm Tớ, thuận lợi cho phát triểnkinh tế vùng biên giới, phát triển giao thương với nước bạn Lào, xây dựng biêngiới hòa bình hợp tác và hữu nghị; có quốc lộ 217 nối các huyện đồng bằng vớicác trung tâm phát triển của tỉnh, với nước bạn Lào là yếu tố thuận lợi cho pháttriển du lịch, cho giao lưu hợp tác và liên kết phát triển đồng thời giữ vị trí rấtquan trọng về chính trị, an ninh, quốc phòng
Tóm lại: Với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và nguồnnhân lực của huyện, có nhiều tiềm năng thuận lợi cho phát triển KT-XH, quốcphòng - an ninh, nhất là trong các lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp, chăn nuôi, thủcông nghiệp, phát triển thủy điện nhỏ, thương mại và du lịch
2.1.2 Tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội
Tốc độ phát triển kinh tế bình quân là 7,77% Trong đó ngành nông, lâmnghiệp, thủy sản là 6,63%, công nghiệp - xây dựng 12,37%, dịch vụ là 7,98% Cơcấu kinh tế: - Ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 55,0%;
- Công nghiệp - Xây dựng chiếm 15,0%;