Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóaVIII đã chỉ rõ một trong những biện pháp để thực hiện giải pháp đổi mới côngtác quản lý Giáo dục – Đào tạo là: “tăng cường
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Vấn đề con người và chiến lược con người đã được đề cập nhiều trong cácvăn kiện của Đảng và Nhà nước Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ IX của Đảng đã xác định rõ mục tiêu của chiến lược phát triển KT–
XH đến năm 2010 là: “đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nângcao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lựckinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế thị trường XHCNđược hình thành về cơ bản; vị thế nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”.[6]
Để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững thì phải cónguồn lực tương xứng Do đó, công tác giáo dục và đào tạo được coi là mộtđộng lực quan trọng thúc đẩy quá trình CNH, HĐH đất nước
Chiến lược giáo dục chỉ có thể thành hiện thực, có tính khả thi cao vàđược cụ thể hoá bằng kế hoạch nếu như chiến lược đó được xây dựng trên cơ sở
dự báo có tính khoa học và khả thi Dự báo giúp chúng ta thấy được những xuhướng phát triển, từ đó có thể nhận thức và chủ động đón nhận tương lai
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóaVIII đã chỉ rõ một trong những biện pháp để thực hiện giải pháp đổi mới côngtác quản lý Giáo dục – Đào tạo là: “tăng cường công tác dự báo và kế hoạch hoágiáo dục, gắn GD và Đào tạo vào quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của cảnước và từng địa phương, có chính sách điều tiết quy mô và cơ cấu đào tạo chophù hợp với nhu cầu phát triển KT-XH, khắc phục tình trạng mất cân đối hiệnnay, gắn đào tạo với sử dụng” [5]
Dự báo phát triển GD-ĐT bao gồm nhiều nội dung, nhưng vấn đề có tínhchất quyết định cho sự phát triển GD-ĐT là vấn đề đội ngũ giáo viên Đảng ta
Trang 2cũng đã khẳng định “Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển GD-ĐT
là phải chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, tiêu chuẩn hoá đội ngũ giáo viên cũng nhưcán bộ quản lý giáo dục cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và năng lực chưyênmôn, nghiệp vụ” Giáo viên là nhân tố có vai trò quan trọng và quyết định sựnghiệp giáo dục trong thời kỳ CNH, HĐH Vì vậy vấn đề dự báo nhu cầu giáoviên đáp ứng quy mô phát triển GD-ĐT là yêu cầu cấp thiết
Sự phát triển nhanh về quy mô, cơ cấu và mạng lưới trường, lớp củahuyện An Biên tỉnh Kiên Giang những năm qua đòi hỏi cấp thiết có một quyhoạch tổng thể phát triển GD - ĐT dài hạn dựa trên những dự báo khoa học Tuynhiên, vấn đề dự báo đội ngũ giáo viên trung học phổ thông huyện An Biên tỉnhKiên Giang chưa có ai nghiên cứu sâu sắc, đội ngũ giáo viên THPT An Biênhiện nay vẫn còn nhiều bất cập, tình trạng cơ cấu đội ngũ giáo viên theo từng bộmôn chưa hợp lý; chất lượng đào tạo và bồi dưỡng chưa đáp ứng được yêu cầugiáo dục của địa phương
Do đó, vấn đề dự báo nhu cầu giáo viên THPT làm căn cứ cho việc xâydựng kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên THPT đến năm 2015 làhết sức cần thiết, trong khi đó, ở An Biên chưa có công trình nào nghiên cứu vềvấn đề này
Với cơ sở lý luận và thực tiễn đã nêu trên, tôi chọn đề tài: “Dự báo nhu cầuđội ngũ giáo viên THPT huyện An Biên tỉnh Kiên Giang từ năm 2010 đến năm2015”
2 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở hệ thống hoá các vấn đề lý luận về công tác dự báo, quy hoạch, kếhoạch phát triển giáo dục và thực trạng của quy mô học sinh, đội ngũ giáo viênTHPT của huyện An Biên tỉnh Kiên Giang, dự báo nhu cầu giáo viên THPThuyện An Biên tỉnh Kiên Giang từ nay đến năm 2015; đồng thời đề xuất các giảipháp đáp ứng nhu cầu giáo viên THPT đến năm 2015
3 Giả thuyết khoa học:
Trang 3Đội ngũ giáo viên trung học phổ thông huyện An Biên tỉnh Kiên Giang sẽphát triển cân đối, đồng bộ, đáp ứng đầy đủ số lượng và có cơ cấu hơp lý đápứng nhu cầu sự nghiệp phát triển giáo dục trung học phổ thông, giáo dục của địaphương, nếu xây dựng được dự báo nhu cầu giáo viên THPT huyện An Biên cócăn cứ khoa học và khả thi trong thực tiễn.
4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Luận văn này thực hiện các nhiệm vụ:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về dự báo phát triển giáo dục phổ thông nóichung và dự báo nhu cầu giáo viên THPT nói riêng
- Phân tích đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên THPT của huyện An Biêntỉnh Kiên Giang
- Dự báo quy mô phát triển học sinh THPT của huyện An Biên tỉnh KiênGiang đến năm 2015
- Dự báo nhu cầu (nhu cầu chung và nhu cầu bổ sung) đội ngũ giáo viênTHPT của huyện An Biên tỉnh Kiên Giang (cả về số lượng và cơ cấu) đến năm2015
- Đề xuất một số giải pháp đáp ứng nhu cầu giáo viên THPT đến năm 2015
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
5.1.Khách thể:
Đội ngũ giáo viên THPT của huyện An Biên tỉnh Kiên Giang
5.2.Đối tượng nghiên cứu
Dự báo nhu cầu đội ngũ giáo viên THPT của huyện An Biên tỉnh Kiên Giangđến năm 2015
6 Phạm vi nghiên cứu:
Cấp THPT của huyện An Biên tỉnh Kiên Giang Cấp học này đặt trọng tâmvào dự báo nhu cầu giáo viên THPT chủ yếu về số lượng và cơ cấu đến năm2015
7 Các phương pháp nghiên cứu:
Trang 4Đề tài này sử dụng 3 nhóm phương pháp chủ yếu sau:
7.1 Nhóm các phưong pháp nghiên cứu lý luận:
Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp…Nghiên cứu các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, tỉnh, huyệnngành và các sách báo, tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Khảo sát điều tra, phân tích, đánh giá tình hình thực tiễn về đội ngũ giáoviên THPT và thu thập các số liệu, tài liệu có liên quan, trao đổi với chuyêngia…
7.3 Nhóm các phương pháp nghiên cứu khác:
Phương pháp toán thống kê, phương pháp định mức, một số phương phápkhảo nghiệm…
8 Cấu trúc luận văn:
Ngoài mở đầu và kết luận, kiến nghị; luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của dự báo giáo dục và dự báo nhu cầu đội ngũ giáo
viên
Chương 2: Thực trạng giáo dục THPT và đội ngũ giáo viên THPT huyện An
Biên tỉnh Kiên Giang
Chương 3: Dự báo nhu cầu giáo viên THPT huyện An Biên tỉnh Kiên Giang
đến năm 2015
Cuối luận văn có danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục
Trang 5CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ BÁO GIÁO DỤC VÀ DỰ BÁO
NHU CẦU ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
1.1 Sơ lược về lịch sử của vấn đề nghiên cứu:
Trong lịch sử giáo dục học, những yếu tố dự báo sư phạm được tìm thấytrong hệ thống sư phạm của các nhà giáo dục học xuất sắc Các nhà triết học –Văn hóa trong thời đại Phục Hưng (Rabelais, Campanella, Thomas More,Montaigne…) Các nhà sư phạm trong thời kỳ mới (Komensky, Pestalozzi,Disterveg, Usinski…) Các nhà xã hội học không tưởng (Saint Simon, Charles,Fourrier, Robert Owen…) đều đã đưa ra những ý kiến về nền giáo dục và nhàtrường tương lai gắn với những mong ước tốt đẹp về một xã hội hợp lý và nhữngcon người toàn thiện, toàn mỹ
Với lý luận và phương pháp khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, khoa họcgiáo dục đã tiến hành các nghiên cứu dự báo về nền giáo dục và nhà trườngtương lai Đến giữa thập kỷ 70 của thế kỷ trước, các công trình nghiên cứu về sựphát triển của nhà trường và xu hướng phát triển giáo dục được đẩy mạnh với sựphối hợp của nhiều quốc gia và thu được nhiều kết quả
Dự báo giáo dục đã được các nhà giáo dục trong và ngoài nước hết sứcquan tâm Dự báo xu thế phát triển giáo dục và nhà trường bao gồm: dự báo về
vị trí, vai trò và mục tiêu của GD-ĐT, nội dung, phương pháp giáo dục; phươngpháp học tập trong nhà trường hiện đại, các loại hình nhà trường, cơ sở vật chấttrong nhà trường… Trong đó dự báo quy mô phát triển GD-ĐT là một trongnhững nội dung được khai thác ở nhiều cấp độ, phạm vi khác nhau và được ứngdụng trong thực tiễn, làm cơ sở cho việc xây dựng các chiến lược và các kếhoạch GD-ĐT cũng như các chiến lược và kế hoạch khác có liên quan
Ở các nước tư bản Âu Mỹ cũng xuất hiện khá sớm những công trìnhnghiên cứu đề cập đến những dự báo giáo dục Tổ chức giáo dục, khoa học, văn
Trang 6hoá Liên hiệp Quốc (UNESCO) cũng tổ chức nhiều cuộc hội thảo, công bốnhiều công trình nghiên cứu dự báo giáo dục với quy mô toàn cầu hoặc từngvùng lãnh thổ Có thể kể đến một số cuộc hội thảo như: Hội thảo về “tương laicủa Giáo dục và Giáo dục của tương lai” do Viện quốc tế kế hoạch hoá giáo dụcthuộc UNESCO tổ chức năm 1978; công trình nghiên cứu “Suy nghĩ về sự pháttriển tương lai của giáo dục” – UNESCO – Paris 1984.
Ở Việt Nam những công trình nghiên cứu và những phát biểu có tính chất
dự báo về nền giáo dục tương lai của đất nước thường được đề xuất trong cácquá trình chuẩn bị cải cách giáo dục và xây dựng chiến lược quốc gia theo từnggiai đoạn: 5 năm, 10 năm, 20 năm và tập trung chủ yếu vào các vấn đề phát triểnquy mô giáo dục và mục tiêu đào tạo “Việc dự báo giáo dục với tư cách là mộthướng hoạt động nghiên cứu chuyên biệt mới được bắt đầu ở Viện khoa họcGiáo dục từ những năm 1985-1986 do đòi hỏi của nhiệm vụ phát triển chiếnlược giáo dục”
Mặc dù dự báo giáo dục là một ngành còn mới mẽ ở nước ta, song kết quả
dự báo của các công trình nghiên cứu dự báo của các nhà khoa học, các cán bộquản lý giáo dục, đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng các chiến lược,chính sách, kế hoạch phát triển giáo dục nước ta trong thời gian qua Tuy nhiên,hầu hết các công trình nghiên cứu tập trung dự báo những vấn đề giáo dục ở tầm
vĩ mô, tầm khái quát Rất hiếm công trình nghiên cứu dự báo ở tầm vi mô đểphục vụ cho việc xây dựng các chiến lược, kế hoạch giáo dục của từng địaphương (tỉnh, huyện, xã…) hoặc cơ sở giáo dục nhỏ (trường, trung tâm…), vàchưa có công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến dự báo đội ngũ giáo viênTHPT của tỉnh Kiên Giang Vì thế tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Dự báo nhu cầugiáo viên THPT tỉnh Kiên Giang đến năm 2015”
Kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ đóng góp một phần cơ sở khoa họccho những định hướng phát triển GD-ĐT của tỉnh Kiên Giang trong thời kỳCNH, HĐH đất nước những năm đầu thế kỷ XXI
Trang 71.2 Những khái niệm chủ yếu liên quan đến vấn đề nghiên cứu:
1.2.1 Khái niệm dự báo:
Dự báo là yếu tố vốn có của hoạt động con người Con người ngay từthuở mới xuất hiện trên trái đất đã phải dự báo để có thể sinh tồn và phát triển
Từ thời thượng cổ, ở Á Đông, các sách vở đạo lý đã ghi: “Suy xưa, ngẫm nay thìkhông mắc sai lầm, muốn biết tương lai trước hết phải xét dĩ vãng”, ông cha tacũng từng nhắc nhở: Ôn cố, tri tân… đó chính là chân lý của dự báo
Dự báo được hiểu là những kiến giải hoặc những thông tin có căn cứ khoahọc về các trạng thái khả dĩ của đối tượng dự báo trong tương lai, về các conđường khác nhau, thời hạn khác nhau để đạt các trạng thái khác nhau đó Từđiển tiếng Việt định nghĩa: “Dự báo là báo trước về tình hình có nhiều khả năng
sẽ xảy ra dựa trên cơ sở số liệu đã có” Xét về mặt phản ánh luận, dự báo là sựphản ánh trước hiện thực Dự báo dựa trên cơ sở nhận thức những quy luật vậnđộng, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Dự báo là một khâu quan trọngnối liền giữa lý luận và thực tiễn Dự báo gắn liền với một khái niệm rộng hơn,
đó là sự tiên đoán Nhìn trước được tương lai là cốt để hành động đúng đắn
trong ngày hôm nay, dù chỉ nhìn trước được tương lai trên những nét phát thảovới những quan niệm và xu thế, những tính qui luật thì điều này cũng rất cầnthiết cho những quyết định đối với hiện tại về những mục tiêu trước mắt, vềchuẩn bị tiềm năng cho giai đoạn phát triển tới, về thái độ đối xử với những đổimới và tiến bộ, về việc giữ vững niềm tin vào sự nghiệp trong những hoàn cảnhkhó khăn, phức tạp [12]
* Giả thuyết: là sự tiên đoán khoa học ở cấp lý luận chung, cơ sở để xây
dựng các giả thuyêt là lý luận về một lĩnh vực nào đó gắn với bản chất và tínhquy luật của đối tượng nghiên cứu Giả thuyết là những sáng kiến, là hệ thốngnhững tri thức mới được đề xuất mà không có nó thì không thể giải quyết đượcvấn đề nghiên cứu Giả thuyết mang tính chất định tính, giả định
Trang 8* Dự báo: So với giả thuyết, dự báo có tính xác định cao hơn Dự báo
không chỉ mang tính chất định tính, mà còn có tính định lượng Dự báo là sựtiên đoán ở cấp độ ứng dụng cụ thể Như vậy, dự báo khác với giả thuyết ở tính
cụ thể và khả năng ứng dụng Mặt khác, dự báo không xác lập những liên hệchặt chẽ, đơn trị như giả thuyết và có tính xác xuất cao hơn
* Kế hoạch: là sự tiên đoán những sự kiện cụ thể của tương lai bằng việc
xác định các mục tiệu cụ thể, chính xác Đó chính là hệ thống nhiệm vụ cần thựchiện để đạt được những mục đích nhất định Kế hoạch còn chỉ rõ con đường vàphương tiện, phương pháp phát triển phù hợp với những nhiệm vụ đề ra Kếhoạch có đặc trưng xác định và đơn trị
Dự báo là một tài liệu tiền kế hoạch bao gồm nhiều phương án, trong đókết quả dự báo không mang tính pháp lệnh mà chỉ mang tính chất của khuyếncáo
1.2.2 Nhu cầu giáo viên:
Nhu cầu giáo viên của một thời kỳ nào đó là số lượng giáo viên cần thiếtnhằm đáp ứng sự phát triển giáo dục của cả ngành, của địa phương, của trườnghọc trong thời kỳ đó cả về mặt số lượng, chất lượng và cơ cấu trình độ của độingũ
Hoặc nhu cầu giáo viên được hiểu là những đặc trưng về số lượng, về chấtlượng và cơ cấu đội ngũ giáo viên xuất phát từ yêu cầu của ngành giáo dục, củatừng địa phương và các đơn vị trường học
1.2.3 Khái niệm dự báo giáo dục, dự báo nhu cầu giáo viên:
Trên quan điểm hệ thống chúng ta biết rằng GD-ĐT là một hệ thống controng hệ thống lớn kinh tế xã hội Hệ thống GD-ĐT được xem xét dưới góc độkhác nhau như theo số lượng, chất lượng bậc học, mạng lưới phân phối, sở hữu,ngành nghề đào tạo… Do đó dự báo nhu cầu giáo viên không thể tách rời dự báoquy mô GD-ĐT nói riêng và dự báo GD-ĐT nói chung
Trang 9Dự báo giáo dục có ý nghĩa định hướng, làm cơ sở khoa học cho việc xácđịnh các phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu của GD-ĐT.
1.3 GIÁO DỤC THPT TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN: 1.3.1 Vị trí vai trò của giáo dục THPT trong hệ thống GD quốc dân:
Từ sau đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đảng và Nhà nước tatiến hành cuộc cải cách giáo dục theo đường lối mới của Đảng và được thựchiện trong hệ thống giáo dục và đào tạo Hệ thống giáo dục phổ thông vớichương trình học 12 năm đã được thống nhất và phát triển rộng khắp cả nước
Trong bối cảnh của thời đại mới với những xu thế ngự trị nổi bật ở nhữngnăm đầu thế kỷ XXI là: “Toàn cầu hóa kinh tế tri thức, công nghệ thông tin, vănminh trí tuệ”, Đảng ta tiếp tục khẳng định phát triển đường lối đổi mới trên mọimặt đời sống KT-XH, GD-ĐT được coi là nhân tố cơ bản và vững bền để hìnhthành và phát triển nhân cách, phát huy yếu tố con người trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước Chính từ những quan điểm, định hướng đổi mới đã đặt giáo dục
ở trung tâm của sự phát triển, vừa của con người, vừa của cộng đồng, từ đó đòihỏi phải thiết lập vị trí, vai trò của giáo dục phổ thông trong hệ thống GDQD
Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam bao gồm: giáo dục mầm non, giáodục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục đại học và giáo dục thườngxuyên Giáo dục phổ thông giữ vị trí bản lề chuẩn bị tri thức phổ thông, hìnhthành nhân cách để sau khi tốt nghiệp HS có thể tiếp tục học lên hoặc trực tiếptham gia lao động sản xuất, có khả năng góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốcXHCN trong thời kỳ CNH, HĐH
Trường THPT trong hệ thống GDQD được thành lập theo quy hoạch, kếhoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và được tổ chức theocác loại hình: công lập, dân lập và tư thục
Trang 10Trường THPT có nhiệm vụ tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt độnggiáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục do Nhà nước ban hình.Trường THPT phải đảm bảo đủ đạt chuẩn trở lên và được quy hoạch xây dựngCSVC trường học, trang thiết bị dạy và học, cung cấp nguồn tài chính…theoquy mô phát triển của trường.
Với vị trí, vai trò mới của giáo dục nói chung, của giáo dục THPT nóiriêng trong giai đoạn mới đòi hỏi phải có những quan điểm, định hướng mới xâydựng, quy hoach phát triển, xác định mục tiêu, đổi mới nội dung, phương pháp,
kế hoạch dạy học, cách kiểm tra, đánh giá, tăng cường CSVC trường…theo quyhoạch phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương, từng vùng và cả nước
1.3.2 Mục tiêu, nội dung, phương pháp và kế hoạch của giáo dục THPT
1.3.2.1 Mục tiêu của giáo dục phổ thông
“Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện vềđạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhâncách con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệmcông dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động,tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [2]
“Mục tiêu giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triểnnhững kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông vànhững hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đạihọc, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống laođộng” [2]
Như vậy, mục tiêu giáo dục là thể hiện tập trung nhất của yêu cầu xâydựng những con người mới và thế hệ mới phù hợp với cơ chế mới, năng động,
Trang 11thích ứng với sự phát triển và tiến bộ xã hội, biết tiếp thu giá trị, tạo ra giá trịmới cho xã hội.
Xác định đúng đắn mục tiêu giáo dục có vai trò, ý nghĩa quan trọng trongviệc hoàn thành các mục tiêu xã hội và thúc đẩy quá trình phát triển KT–XH.Mục tiêu giáo dục như là một phần của định hướng : “Chỉ đường cho các khuônmẫu phát triển các xu hướng giá trị làm nền tảng cho sự vận động của tình hìnhhiện tại đi đến tương lai và phần khác trong việc dự báo các tương lai đó tronghành động hiện thực của nó” [2]
Đảm bảo phần lớn thanh, thiếu niên trong độ tuổi ở thành thị và nông thônđồng bằng học hết THPT, trung học chuyên nghiệp hoặc đào tạo nghề; tạo điềukiện cho mỗi người, ở mỗi lứa tuổi được học thường xuyên, học tập suốt đời
1.3.2.2 Nội dung giáo dục THPT
Khoản 1, điều 28 luật giáo dục năm 2005 quy định: “Nội dung của giáo dụcTHPT là: Giáo dục THPT phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ởtrung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông Ngoài nội dung nhằmđảm bảo kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho học sinhcòn có nội dung nâng cao ở một số một học để phát triển năng lực đáp ứngnguyện vọng của học sinh” [2]
Nội dung chương trình THPT mới được thiết kế theo hướng: Giảm lýthuyết hàn lâm, tăng tính thực tiễn, thực hành, đảm bảo vừa sức, khả thi, giảm sốtiết học trên lớp, tăng thời gian tự học và ngoại khóa Học xong THPT, học sinh
có được năng lực thích ứng, năng lực hành động trên cơ sở kiến thức, biết sốngcùng gia đình, tập thể, năng lực tự học “suốt đời”
Trong giai đoạn phát triển mới của đát nước, việc đổi mới nội dung giáodục nhằm “loại bỏ nhũng nội dung không thiết thực, bổ sung những nội dungtheo hướng đảm bảo kiến thức cơ bản, cập nhật mới tiến bộ khoa học – công
Trang 12nghệ, tăng nội dung khoa học, công nghệ ứng dụng, tăng cường giáo dục kỹthuật tổng hợp và năng lực thực hành ở bậc học phổ thông” [2]
Trong chiến lược phát triển giáo dục hiện nay, nâng cao chất lượng giáodục THPT là cơ sở để thực hiện thành công quá trình phổ cập giáo dục THPTcủa nước ta trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước
1.3.2.3 Phương pháp và kế hoạch giáo dục trung học phổ thông
Trong Luật Giáo dục khoản 2, điều 28 có ghi: “Phương pháp giáo dục phổthông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phùhợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học,khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thựctiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.[15]
Kế hoạch giáo dục là một văn bản có tính pháp lý của Nhà nước do Bộtrưởng Bộ GD-ĐT ban hành trong toàn quốc, mọi cán bộ quản lý, giáo viên phảithực hiện nghiêm túc
Kế hoach giáo dục phải phản ánh mục tiêu giáo dục toàn diện bao gồmnhững yêu cầu về giáo dục đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, lao động kỹthuật Kế hoạch giáo dục phản ánh tính hài hòa, cân đối giữa các mặt giáo dụcđảm bảo tính hệ thống, kế tiếp Xác định hệ thống môn học với thời lượng phùhợp Đảm bảo coi trọng nội dung giáo dục: khoa học tự nhiên, xã hội và nhânvăn, kỹ thuật và công nghệ
Mục tiêu, nội dung, phương pháp, kế hoạch giáo dục là những thành tốcủa quá trình giáo dục và chúng có quan hệ hữu cơ gắn bó và tác động qua lạilẫn nhau Đối với mục tiêu giáo dục không những phải đổi mới nội dung,phương pháp, kế hoạch giáo dục mà còn phải xây dựng các chỉ tiêu, điều kiện đủ
để thực hiện mục tiêu giáo dục, nhất là trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước
Trang 131.4 NHỮNG CÁCH TIẾP CẬN KHI LẬP DỰ BÁO
1.4.1 Cơ sở triết học của dự báo
Phương pháp luận của dự báo nghiên cứu tương lai của đối tượng dự báodưới các khía cạnh của bản thể luận, logic học và nhận thức luận
-Khía cạnh của bản thể luận cho biết tương lai của đối tượng sẽ phát sinh,hình thành như thế nào, mô tả bức tranh toàn cảnh tương lai của đối tượng dựbáo
-Khía cạnh logic học xem xét dự báo như những khái niệm khoa họcchung nhất nhằm giải thích nội dung khách quan của quá trình và kết quả lập dựbáo
-Khía cạnh nhận thức luận có nhiệm vụ làm sáng tỏ tương lai được phảnánh như thế nào trong nhận thức của con người, các hình thức phản ánh và tínhchính xác của phản ánh đó
Phép biện chứng duy vật với những quy luật phổ quát của mình là cơ sởphương pháp luận của mọi dự báo khoa học Trong hệ thống các quy luật đó, khitiến hành lập dự báo chúng ta đặc biệt lưu tâm đến những nguyên lý về mối liên
hệ nhân quả, một mặt là cơ sở khoa học của các tiên đoán, dự báo, mặt khác lànền tảng, chỗ dựa cho những hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện các mục tiêu
dự báo
Gắn liền với nguyên lý nhân quả là một nguyên lý quan trọng khác củaphép biện chứng duy vật, thuyết duy vật về tính quy định nhân quả của tất cả cáchiện tượng Tính chất quyết định luận duy vật biện chứng khẳng định rằng tươnglai được xác định không hoàn toàn bởi cái hiện hữu mà tồn tại một độ nhất địnhnào đó đối với các sự kiện, đối tượng được được dự báo Điều đó có nghĩa là ởmỗi thời điểm của sự phát triển, có những khả năng, nhiều con đường khác nhau
để đạt tới trạng thái tương lai Mặt khác nguyên lý quyết định luận duy vật cũng
Trang 14khẳng định rằng đặc trưng xác suất của trạng thái tương lai không ngăn cản việc
dự báo các trạng thái đó, mà ngược lại Cách tiếp cận xác suất để tiên định tươnglai lại là một tiền đề quan trọng của dự báo có tính khoa học hiện đại
1.4.2 Tiếp cận lịch sử.
Trong bất cứ hiện tượng xã hội nào, nếu xem xét trong quá trình phát triểncủa nó đều có mối liên hệ với quá khứ Như vậy, từ mối liên hệ giữa quá khứ,hiên tại và tương lai đòi hỏi phải xem xét tương lai của đối tượng như một khảnăng tồn tại tiếp diễn của cái hiện tại và quá khứ Điều đó có nghĩa là việc lập
dự báo phải gắn liền với việc dịch chuyển các quy luật , xu thế đã và đang tồntại vượt ra ngoài cái ngưỡng của hôm nay, trên cơ sở đó xác định mô hình củatương lai của đối tượng dự báo Sự dịch chuyển xu thế, quy luật hay tính quyluật này không phải là sự chuyển dịch cơ giới mà phải là sự chuyển dịch biệnchứng Vì vậy, phải xem xét các quy luật ấy, xu thế ấy trong sự biến đổi, pháttriển của nó
1.4.3 Tiếp cận phức hợp
Cách tiếp cận này dựa trên nguyên lý của phép biện chứng duy vật về mốiliên hệ phổ quát của các hiên tượng và sự vật Cách tiếp cận phức hợp xem xétcác hiện tượng sự vật trong mối liên hệ qua lại và tác động lẫn nhau bằng cách
sử dụng các thành tựu, các phương pháp của nhiều khoa học khác nhau cũngnghiên cứu hiện tượng, sự vật làm bộc lộ đầy đủ các khía cạnh của bản chất sựvật, hiên tượng được nghiên cứu Cách tiếp cận phức hợp thể hiện đặc biệt rõ rệttrong dự báo giáo dục Dự báo giáo dục đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngànhkhoa học và với các phương pháp nghiên cứu khác nhau Đó là: triết học, tâm lýhọc, giáo dục học, kinh tế học, dân số học, toán học…
1.4.4 Tiếp cận cấu trúc – hệ thống
Trang 15Phương pháp tiếp cận cấu trúc – hệ thống là xem xét, nghiên cứu đốitượng dự báo như một hệ thống toàn vẹn trong sự vận động, phát triển của nó.Đồng thời, các đối tượng nghiên cứu được xem xét dưới góc độ của mỗi thành
tố trong sự liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau Trên cơ sở đó, phát hiện các quyluật vận động, phát triển của mỗi thành tố của các quan hệ cũng như của toàn
bộ đối tượng với tư cách là một hệ thống trọn vẹn Trong dự báo giáo dục, tiếpcận cấu trúc – hệ thống đóng một vai trò quan trọng Cách tiếp cận này cho phéptiến hành nghiên cứu cục bộ cũng như toàn cục sự phát triển giáo dục, làm tiền
đề cho việc hoạch định các chính sách phát triển giáo dục của một địa phươnghay cả nước một cách khoa học
1.5.CÁC NGUYÊN TẮC DỰ BÁO
1.5.1 Nguyên tắc thống nhất chính trị, kinh tế
Khi lập dự báo cần xuất phát từ mục tiêu và lợi ích toàn cục của một quốcgia (cộng đồng, quốc tế) trên cơ sở tính toán khoa học sự phát triển kinh tế - xãhội và tiến bộ khoa học công nghệ Nguyên tắc này đặc biệt quan trọng trongquá trình soạn thảo các dự báo giáo dục, bởi vì giáo dục có liên quan chặt chẽđến định hướng phát triển của xã hội, đến thể chế chính trị, đến mục tiêu và yêucầu sự phát triền kinh tế, đến những khả năng và đòi hỏi của sự phát triên khoahọc công nghệ
1.5.2 Nguyên tắc tính hệ thống của dự báo
Các dự báo phải được xây dựng trên cơ sở một hệ thống hoàn chỉnh các
mô hình và phương pháp có mối liên hệ với nhau, làm nền tảng cho nhau Tính
hệ thống của dự báo đòi hỏi phải xây dựng một trật tự chặt chẽ việc hình thành
và xây dựng các mô hình dự báo cho một dự báo có tính phức tạp của đối tượng
1.5.3 Nguyên tắc tính khoa học của dự báo
Trang 16Các dự báo được xây dựng trên cơ sở những tính toán, luận chứng khoahọc, có tính đến những quy luật vận động, phát triển của đối tượng dự báo,những quan sát và dữ liệu đủ khách quan và tin cậy
1.5.4 Nguyên tắc tính thích hợp của dự báo
Đòi hỏi những dự báo được lập ra phải tương thích với quy luật, với xuthế phát triển khách quan của đối tượng dự báo Hơn nữa, các dự báo phải phùhợp với khả năng thể hiện thực tế chúng trong tương lai
1.5.5 Nguyên tắc đa phương án của dự báo
Dự báo phải gắn liền với khả năng phát triển của đối tượng theo nhữngquỹ đạo, những con đường khác nhau Tính đa phương án một mặt là thể hiệnsức mạnh của những tiên đoán có cơ sở khoa học, cho phép cơ quan quản lý(người sử dụng dự báo) có khả năng lựa chọn những phương án hợp lý tối ưunhằm điều khiển sự phát triển của đối tượng dự báo theo mục tiêu đã định
1.6 CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO
Phương pháp dự báo là cách thức, là những con đường dẫn tới mục tiêu
đã đề ra trong một nhiệm vụ dự báo cụ thể
1.6.1 Phương pháp chuyên gia:
Phương pháp chuyên gia là một trong những công cụ hữu hiệu để dự báonhững vấn đề có tầm bao quát phức tạp nhất định, có nhiều chỉ tiêu và yếu tốliên quan thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau
- Phương pháp này thường được sử dụng trong các trường hợp sau:+ Khi đối tượng dự báo còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố còn chưa có hoặccòn thiếu những cơ sở lý luận chắc chắn để xác định
+ Trong những điều kiện thiếu thông tin, thiếu thống kê đầy đủ và chưađáng tin cậy về đặc tính của đối tượng dự báo
Trang 17+ Trong điều kiện thiếu thời gian hoặc hoàn cảnh cấp bách của việc dựbáo.
1.6.2 Phương pháp ngoại suy xu thế.
Các phương pháp ngoại suy là những phương pháp thông dụng nhất trongcác dự báo định lượng.Các phương pháp ngoại suy dựa trên các luận điểm chorằng mọi biến cố trong tương lai đều bất đầu từ hôm nay Các phương phápngoại suy chấp nhận giả định cho rằng các xu hướng của đối tượng nghiên cứuphải phát triển theo các quy luật và các quy luật này không thay đổi hoặc ít nhấtcũng tương đối ổn định trong thời gian dự báo Các quy luật này phản ánh cácquan hệ khách quan và chịu tác động của các nhân tố đó
1.6.3 Phương pháp ngoại suy theo dãy thời gian:
Là phương pháp ngoại suy thông dụng nhất Nội dung của phương phápnhư sau: Thiết lập mối quan hệ giữa sự phát triển của đối tượng dự báo theo thờigian Các kết quả quan sát đối tượng được sắp xếp trình tự theo các thời giantương ứng Để phản ánh đúng xu thế khách quan đòi hỏi thời gian phải là đạilượng đồng ứng (ví dụ hàng năm hoặc năm năm…) chọn mô hình tính toántương thích với các quy luật phát ra theo dãy thời gian
Phương pháp ngoại suy thường dùng là phương pháp ngoại suy theo quan
hệ tỷ lệ (còn gọi là phương pháp quan hệ tỷ lệ) là một phương pháp ngoại suytheo dãy thời gian Đây là phương pháp khá phổ biến trong dự báo giáo dục nóichung và dự báo nhu cầu phát triển nhu cầu giáo viên nói riêng Phương phápnày dựa trên mối quan hệ tỷ lệ giữa hai đối tượng dự báo trong một khoảng thờigian nhất định đã biết, để xác lập giá trị hệ số dự báo trong tương lai và đưa racông thức tính giá trị của đối tượng dự báo
Nội dung của phương pháp này như sau:
Trang 18Gọi đối tượng dự báo là Y, gọi nhân tố tác động đến đối tượng dự báo là
X Người ta thiết lập quan hệ tỷ lệ như sau:
i trong đó i là số lần quan sát với i = 1,…,n
Dựa vào công thức trên ta xác định các Ki trong quá khứ và xem xét quyluật phát triển của nó theo thời gian
1.6.4 Phương pháp tỷ lệ học sinh đến trường:
Phương pháp tỷ lệ học sinh đến trường là một trường hợp cụ thể của phươngpháp quan hệ tỷ lệ nói trên Để dự báo tỷ lệ học sinh đến trường, người ta
thường sử dụng phương pháp này Theo công thức:
Trong đó: Yi là số lượng học sinh đến trường theo từng cấp học, bậc học
Xi số lượng dân trong độ tuổi đi học theo cấp, bậc học
Ki là tỷ lệ học sinh đến trường
Ta có Yi = Ki.Xi
Để áp dụng phương pháp trên, cần có các số liệu sau:
-Dự báo số người trong độ tuổi đi học
-Tỷ lệ học sinh của từng cấp theo dự báo theo từng năm Như vậy, để cóđược số liệu thứ nhất (dân số trong độ tuổi đến trường) cần phải dự báo số dântrong cả nước và từng địa phương Để có được số liệu tỷ lệ đi học, người tathường sử dụng phương pháp ngoại suy theo dãy thời gian
1.6.5 Phương pháp tương quan:
Trang 19Phương pháp tương quan là phương pháp giúp ta xác định xu hướng biếnđổi của hiện tượng nghiên cứu trong mối quan hệ với một hoặc một vài nhân tốkhác trên cơ sở các quan sát thống kê trong quá khứ từ dó suy cho tương lai.
Hai nhân tố X và Y được gọi là có quan hệ tương quan với nhau nếu ứngvới một giá trị nào đó của X thì Y nhận được một trong các giá trị có thể có của
nó một cách ngẫu nhiên
Hàm số tương quan giữa X và Y được biểu diễn một cách tổng quát là Y
= f(X)
Tương tự, nếu Y được xem xét trong mối quan hệ với nhân tố X1, X2,
….,Xn, ta sẽ có mối quan hệ tương quan đa nhân tố được biểu diễn tổng quátnhư sau: Y = f(X1, X2,….,Xn)
Trong đó Y là đối tượng cần dự báo, f là hàm số , X1, X2,….,Xn là các yếu
tố tác động đến đối tượng dự báo
1.6.6 Phương pháp định mức:
Phương pháp định mức thường được sử dụng trong dự báo nhu cầu giáoviên Đây là phương pháp dựa trên định mức giáo viên/lớp, hoặc định mức sốgiờ/lớp của giáo viên Ta có phương pháp định mức sau:
1.6.6.1 Phương pháp định mức giáo viên / lớp:
Nhu cầu giáo viên được tính theo công thức: K = G.D, trong đó:
K là nhu cầu giáo viên cần dự báo
G là số lớp của mỗi thời kỳ
D là định mức giáo viên/lớp
Định mức D tùy thuộc vào từng cấp học và sẽ được tăng lên theo sự pháttriển của chất lượng giáo dục Đối với THPT thì D = 2.25 (theo thông tư mới số
Trang 2035/2006/TTLB – BGD&ĐT –BNV ngày 23/8/2008 của liên bộ GD&ĐT và bộNội Vụ dành cho giáo viên THPT).
1.6.6.2 Phương pháp định mức học sinh / giáo viên
Nhu cầu giáo viên được tính theo công thức:
D
Y
K , trong đó:
K là nhu cầu giáo viên cần dự báo
Y là số lượng học sinh đến trường trong từng học kỳ
D là định mức học sinh / giáo viên
c Phương pháp định mức tải trọng
Nhu cầu giáo được tính theo công thức: K Q P, trong đó:
K là nhu cầu giáo viên cần dự báo
Q là khối lượng công tác hàng tuần
P là định mức số giờ dạy của một giáo viên / tuần
Theo thông tư mới số 35/2006/ TTLB – BGD&ĐT – BNV thì P = 17 tiết.Trong phạm vi nghiên cứu nhu cầu giáo viên THPT huyện An Biên tỉnhKiên Giang đến năm 2015, chúng ta sử dụng 4 phương pháp: Phương phápngoại suy, phương pháp sơ dồ luồng, phương pháp chuyên gia và phương phápđịnh mức
1.7 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ BÁO GIÁO DỤC VÀ LỰA CHỌN CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐƯA RA BÀI TOÁN DỰ BÁO NHU CẦU GIÁO VIÊN
1.7.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến dự báo giáo dục
Hệ thống GD–ĐT nói chung cũng như giáo dục phổ thông nói riêng trongquá trình phát triển chịu sự tác động của các yếu tố sau:
Trang 211.7.1.1 Yếu tố kinh tế:
Trong hệ thống KT–XH của quốc gia, GD–ĐT là một bộ phận quan trọng.Đảm bảo được mối quan hệ hữu cơ giữa giáo dục và KT–XH trong quá trìnhphát triển là góp phần tạo ra sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xãhội.Trong chiến lược phát triển tổng thể của đất nước, phát triển giáo dục là một
bộ phận cấu thành không thể thiếu nhằm chuẩn bị trước nguồn nhân lực đón đầucác nhu cầu phát triển KT-XH Vì vậy, quy mô phát triển giáo dục chịu sự ảnhhưởng lớn của các yếu tố KT-XH bao gồm: tổng sản phẩm xã hội, mối quan hệquốc tế về kinh tế chính trị, các nguồn đầu tư có thể huy động cho phát triểnGD-ĐT
Trong các yếu tố nói trên, đáng chú ý là yếu tố dân số Dân số tác độngtrực tiếp và mạnh mẽ nhất đến quy mô phát triển GD-ĐT Mức tăng dân sốchung, sự di cư dân số, cơ cấu nam nữ, thành phần dân tộc của dân số và sựphân bố dân số ở thành thị, nông thôn cũng ảnh hương đến dự báo Trong điềukiện đất đai hạn hẹp kinh tế kém phát triển thì dân số đông và tốc độ tăng dân
số cao là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng số lượng họcsinh, đồng thời kéo theo sự gia tăng quy mô, mạng lưới trường lớp, cơ sở vậtchất, số lượng giáo viên…
1.7.1.2 Các yếu tố bên trong hệ thống GD-ĐT
Các yếu tố bên trong hệ thống ĐT chính là nội lực của ngành
GD-ĐT Nội lực này thể hiện ở cấu trúc mạng lưới trường lớp, các loại hình đào tạo,nội dung chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên…Nếu các lọai hình trường lớpphát triển đa dạng và cân đối, cấu trúc mạng lưới rộng khắp, nội dung chươngtrình đào tạo phù hợp, đội ngũ giáo viên đảm bảo về số lượng và chất lượng…sẽ
là điều kiện tốt để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về quy mô phát triển ĐT
Trang 22GD-1.7.1.3 Yếu tố văn hóa, khoa học – công nghệ
Giáo dục là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của tất cả các lĩnh vực xãhội như kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ Do đó, các yếu tố văn hóa, khoahọc công nghệ có thể làm thay đổi nội dung đào tạo, quy mô cũng như cơ cấuđào tạo Với sự phát triển của khoa học công nghệ như hiện nay, một số ngànhhọc có thể bị thu hẹp, thậm chí mất đi, nhưng sẽ xuất hiện những ngành họcmới Chính vì vậy, quy mô phát triển của GD-ĐT cũng phải thay đổi theo để đápứng yêu cầu đổi mới
1.7.1.4 Các yếu tố về quan điểm, đường lối, sự chỉ đạo, lãnh đạo.
Nhà nước nào cũng sử dụng giáo dục như một công cụ đặc biệt phục vụcho các mục tiêu chính trị và quyền lợi của xã hội mình đại diện Sự phát triểncủa GD-ĐT vừa là kết quả của những yêu cầu khách quan, vừa là kết quả củanhững hoạt động chủ quan của con người, mà trước hết là những định hướngcủa nhà nước cũng như hoạt động của chính hệ thống giáo dục- đào tạo Chínhđường lối đổi mới của Đảng đã tạo đà cho giáo dục nước ta ngày càng phát triển
cả về số lượng, chất lượng và xây dựng một xã hội học tập, người người học tập,nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước
1.7.1.5 Các yếu tố quốc tế về giáo dục-đào tạo
Sự phát triển của giáo dục đào tạo trên thế giới và khu vực có tác động rõnét đến giáo dục nước ta ở nhiều khía cạnh, trước hết ở hệ thống các quan điểm,cách nhìn nhận và cách đánh giá giáo dục-đào tạo trong mối quan hệ với pháttriển Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền giáo dục nước ta từ sau Cách mạng tháng
8 luôn luôn hướng tới yêu cầu hiện đại trên cơ sở giữ gìn bản sắc dân tộc Điềunày càng trở nên đặc biệt quan trọng khi nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa và thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập với các
Trang 23trào lưu phát triển, tiến bộ của nhân loại Trong xu hướng hội nhập chung, giáodục không thể đứng ngoài cuộc, nhưng phải phát triển nền giáo dục của đất nướcdựa trên nền tảng những giá trị văn hóa dân tộc và giữ vững mục tiêu, bản sắccủa mình
1.7.2 Lựa chọn các yếu tố ảnh hưởng đưa vào bài toán dự báo nhu cầu
giáo viên
Để giải bài toán dự báo nhu cầu giáo viên ta không thể đưa ra tất cả cácyếu tố đã nêu mà thường chỉ dựa vào một, hoặc một vài yếu tố quan trọng nhất.Thông thường người ta lựa chọn những yếu tố có quan hệ chặc chẽ với đốitượng dự báo Những yếu tố ảnh hưởng đến dự báo phát triển giáo dục-đào tạocũng là những yếu tố tác động đến nhu cầu giáo viên Dự báo nhu cầu giáo viên
là một trong những nội dung cụ thể của dự báo quy mô phát triển giáo dục nóiriêng, dự báo giáo dục đào tạo nói chung
Dự báo qui mô phát triển giáo dục chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tốdân số, dân số trong độ tuổi đến trường Một khi dân số học đường gia tăng thìsức ép về trường lớp và đội ngũ giáo viên càng lớn
Bên cạnh yếu tố dân số, một khi đời sống kinh tế của người dân ổn định
và phát triển, xã hội có sự tăng trưởng GDP và GDP/người Nhu cầu học tậpngày càng tăng thì nhu cầu giáo viên lại càng lớn
Nhu cầu giáo viên còn chịu ảnh hưởng của yếu tố bên trong của hệ thốnggiáo dục- đào tạo Nếu quy mô học sinh ở ngành học, bậc học càng lớn thì nhucầu giáo viên ở ngành học, bậc học ngày càng tăng
Nhu cầu giáo viên của ngành học, bậc học của từng địa phương trong mỗithời kỳ phải phù hợp với kế hoạch hóa số lượng, cấu trúc mạng lưới trường học,
cơ cấu, loại hình giáo viên, định mức lao động
Trang 24Nhu cầu giáo viên cũng chịu ảnh hưởng của yếu tố tổng hợp KT-XH giáodục đặc thù của những vùng lãnh thổ.
1.8 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THPT TRONG PHÁT TRIỂN GD-ĐT
1.8.1 Vị trí, vai trò của nhà giáo:
‘Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường,
cơ sở giáo dục khác…Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dụcphổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên Nhà giáo phải có phẩm chất,đạo đức, tư tưởng tốt Đạt trình độ chuẩn đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ Đủsức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp Lý lịch bản thân rõ ràng’
Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hộitôn vinh Tinh thần này chỉ được thể hiện đầy đủ trong quan niệm mới về nhiệm
vụ của giáo viên Từ đó, yêu cầu đội ngũ giáo viên phải được nâng cao mình lênngang tầm với yêu cầu đổi mới giáo dục, phục vụ CNH-HĐH đất nước
1.8.2 Vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của giáo viên THPT:
Người giáo viên THPT có nhiệm vụ: giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu,nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và có chất lượng chương trình giáo dụcTHPT; Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật vàđiều lệ nhà trường; Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo, tôn trọngnhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợiích chính đáng của người học; Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng caophẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phươngpháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học
*Về chức trách: Giáo viên bộ môn THPT có nhiệm vụ giảng dạy và giáodục theo đúng chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học, soạn bài, chuẩn bị thínghiệm, kiểm tra, đánh giá theo quy định, vào sổ điểm, ghi học bạ đầy đủ, lên
Trang 25lớp đúng giờ, không tùy tiên bỏ giờ, bỏ buổi dạy, quản lý học sinh trong cáchoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức, tham gia các hoạt động của tổ chuyênmôn.
Giữ gìn phẩm chất, danh dự uy tính của nhà giáo; gương mẫu trước họcsinh, thương yêu, tôn trọng học sinh; đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ cácquyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ các bạn đồngnghiệp
*Về hiểu biết: Giáo viên THPT phải nắm được mục tiêu cấp học, nắmbắt kịp thời các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhànước quy định của ngành về công tác giáo dục đào tạo, nắm được kiến thức cơbản lí luận dạy học, phương pháp giảng dạy bộ môn mà giáo viên trực tiếp giảngdạy, nắm được tâm lí lứa tuổi, tình hình học tập bộ môn và hoạt động giáo dụccủa học sinh mà giáo viên phụ trách; hiểu biết và tiến hành được một số hoạtđộng giáo dục
Như vậy, giáo viên THPT có nhiệm vụ thực hiện nghiêm túc kế hoạch,nội dung chương trình giáo dục THPT của Bộ GD-ĐT nhằm hoàn thiện học vấnphổ thông cho học sinh, đồng thời cung cấp những hiểu biết cơ bản về kỹ thuật
và hướng nghiệp để học sinh tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyênnghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
1.8.3 Quyền lợi của giáo viên THPT
Giáo viên THPT có các quyền lợi: Được giảng dạy theo chuyên ngànhđào tạo; được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ;được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại trường, cơ sở giáo dục vàcác cơ sở nghiên cứu khoa học với điều kiện đảm bảo thực hiện đầy đủ nhiệm
vụ nơi mình công tác Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự; được nghỉ hè, nghỉ Tết
Trang 26âm lịch, nghỉ học kỳ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo vàocác ngày nghỉ khác theo quy định của Bộ Luật lao động.
Kết luận chương 1
Tại chương 1, một số khái niệm chủ yếu liên quan đến đề tài đã được đềcập đó là: Khái niệm dự báo, giáo viên, nhu cầu giáo viên, dự báo nhu cầu giáoviên, khái niệm giả thuyết, kế hoạch Các khái niệm này được diễn đạt chính xác
về nội hàm và ngoại diên của chúng dựa trên các tài liệu chính thống như: Từđiển tiếng Việt, Luật giáo dục
Về mặt lý luận gắn với đề tài gồm có:
- Lý thuyết về dự báo gồm có các nguyên tắc dự báo và các phương pháp dựbáo, những cơ sở tiếp cận khi lập dự báo
- Những yếu tố ảnh hưởng đến dự báo giáo dục và dự báo nhu cầu giáo viên
- Một số vấn đề chủ yếu của giáo dục THPT và đội ngũ giáo viên THPT
- Những vấn đề lý luận trên đã được phân tích, lý giải rõ ràng, cô đọng và đãđược hệ thống hoá ngắn gọn, súc tích dưa trên các tài liệu tham khảo chuyênbiệt của các nhà khoa học có uy tín của ngành GD-ĐT Việt Nam
Trang 27CHƯƠNG II THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÀ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THPT HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG
2.1 KHÁI QUÁT VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, DÂN CƯ VÀ TÌNH HÌNH KT-XH HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG
2.1.1 Địa lý – Dân số huyện An biên
2.1.1.1 Địa lý:
An Biên là một trong các huyện thuộc vùng U Minh Thượng, là vùngsông nước kên rạch chằng chịt Có diện tích tự nhiên 40.028 ha Được chiathành: 08 xã và 01 thị trấn với 74 ấp-khu vực và 609 tổ nhân dân tự quản
2.1.1.2 Dân số
Dân số toàn huyện chiếm 112.068 người (nữ chiễm9,50%), hơ 80% dân
cư tập trung ở nông thôn và đời sống phân tán do định quán tập trung gần nơicanh tác Dân tộc Kinh chiếm 88,57%, Khmer chiếm 10,98% (13.408 người),Hoa chiếm 0,57% (352 người) và số ích dâ tộc chăm0,04% (56 người) Có 5 tôngiáo chính là: phật giáo, công giáo, cao đài, phật giáo hoà hảo và tứ ân hiếunghĩa Kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, trình độ dân trí còn thấp, hộnghèo còn chiếm 92,24%
2.1.2 Thực trạng kinh tế xã hội huyện An Biên
2.1.2.1 Một số đặc trưng chung
Kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, trong giai đoạn 2005-2010 tốc
độ tăng trưởng kinh tế của huyện còn chậm, tình hình thời tiết, dịch bệnh diễnbiến bất thường, giá cả chưa ổn định nên nông dân không dám đầu tư mạnh Tuynhiên huyện uỷ, UBND huyện đã làm tốt công tác chỉ đạo, thực hiện tốt các quytrình theo kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông
Trang 28thôn mới Trong giai đoạn 2005-2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế của huy6ẹn đạtbình quân 22,94% mỗi năm.
2.1.2.2 Nhân lực
Thực trạng trình độ dân trí thấp, lực lượng lao động không đồng bộ về cơcấu, thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, còn nhiều người chưa qua đào tạo…thực trạng trên chủ yếu là những nguyên nhân sau:
*Tập quán của đồng bào Khmer ảnh hưởng đến nguồn nhân lực
An biên có 40.208 người, trong đó người dân tộc khmer chiếm gần 11%,
do tập quán khi đến tuổi lao động đàn ông người dân tộc khmer thường phải vào
tu ở chùa từ 3 đến 5 năm, việc học văn hóa khmer đều do các chùa đảm nhận,
số người được học hành cao hơn chưa nhiều
*Ảnh hưởng của vị trí địa lý và đời sống đến nguồn nhân lực
An Biên có vị trí địa lý không thuận lợi, nền kinh tế nông nghiệp là phổbiến, vùng đất nông nghiệp vào loại có nằng suất thấp, đa số người dân ở vùngnông thôn còn nhiều khó khăn về ăn, mặc nên không có điều kiện cho con emhọc lên cao
Viễn cảnh dân số-lao động-việc làm-GDP/người tới năm 2010 huyện An Biên
957.700468.000405.700374.00015.200
1.082.295559.000464.000370.10046.900
1.178.105608.700506.000349.70072.800
1.268.850658.400548.000329.10098.700
Trang 2947.000361
83.500486.0
122.000612.0
2.2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HUYỆN AN BIÊN
2.2.1 Đặc điểm chung
Do huyện An Biên là một huyện vùng sâu, đời sống người dân còn nhiềukhó khăn nên việc học của con em chưa được quan tâm đúng mức, trước đâyhuyện chỉ có một trường THPT, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông nên đa
số các em đều không được học hành đến nơi đến chốn, tỷ lệ bỏ học rất cao, quy
mô giáo dục ở tất cả các cấp học đều suy giảm
Từ năm 1990 đến năm 2006 huyện An Biên đã được chia thành 3 huyện,cùng với sự chuyển biến về kinh tế - xã hội và thực hiện các chủ trương về đổimới giáo dục- đào tạo, số lượng học sinh ở các bậc học tăng lên nhanh chóng.Giáo dục – đào tạo An Biên đặc biệt là giáo dục phổ thông trong các năm qua
đã có nhiều chuyển biến góp phần quan trọng vào nhiệm vụ phát triển và nângcao chất lượng nguồn nhân lực của huyện nói riêng và của tỉnh nói chung
Trong các năm qua, sự nghiệp giáo dục- đào tạo tiếp tục phát triển, tỷ lệhọc sinh trung học cơ sở trong độ tuổi đạt 87,52%, tỷ lệ học sinh Trung học phổthông đi học trong độ tuổi đạt 51,56% (năm học: 2005-2006) Chất lượng giáodục được nâng lên, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp đều trên 90% Cơ sở vậtchất, trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy và học tập ngày càng được đầu tưđầy đủ đảm bảo cho việc dạy và học
Tuy giáo dục có sự phát triển trong các năm vừa qua nhưng việc thực hiện
xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo còn chậm Giáo dục đạo đức cho học
Trang 30sinh chưa có chuyển biến tích cực Tỷ lệ học sinh bỏ học còn cao, công tác đàotạo, dạy nghề còn nhiều mặt hạn chế; xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia,chương trình kiên cố hóa trường lớp học tiến độ triển khai thực hiện chậm.
2.2.2 Sự phát triển quy mô, cơ cấu bậc học, cấp học của giáo dục phổ thông huyện An Biên
Quy mô phát triển học sinh phổ thông của huyện An Biên từ năm 1995đến nay tăng nhanh về số lượng Đặc biệt, trong những năm gần đây quy môphát triển học sinh các cấp học, bậc học tăng nhanh so với điều kiện kinh tế - xãhội của địa phương So sánh số lượng học sinh năm 1996-1997 với năm 2004-
2005 thì quy mô giáo dục tiểu học có chiều hướng giảm xuống (do thực hiện chủtrương của Nhà nước về sinh để có kế hoạch), quy mô giáo dục THCS và THPTtăng
Bảng 2.7: Quy mô giáo dục phổ thông huyện An Biên từ 2000 đến
2010
Bậc
học
2000-2002 2003-2004 2005-2006 2007-2008 2009-2010TS
HS
Tỷlệ
TSHS
Tỷlệ
TSHS
Tỷlệ
TSHS
Tỷlệ
TSHS
TỷlệTiểu
học
142.5
99
82.29
153.374
72.18
123.640
58.89
93.710
47.44
83.983
43.57THC
S
26.82
8
15.48
48.175
22.67
65.371
31.14
76.741
38.85
75.712
39.28THP
13.71
33.054
17.15Tổn
Trang 31(Nguồn: Phòng GD Trung học-Sở GD-ĐT Kiên Giang)
Công tác phát triển giáo dục đã có những bước phát triển rõ rệt Giáo dụcphổ thông đã hình thành hệ thống trường lớp đến tận xã, ấp vùng sâu, tạo điềukiện cho trẻ em được đi học theo hệ thống giáo dục phổ thông
Những số liệu trên cho thấy hơn mười năm (2000-2010), tổng số học sinh
đã tăng, đặc biệt là học sinh THCS và THPT có xu hướng tăng nhanh Từ năm
2008 số lượng học sinh tiểu học giảm dần tương ứng với tỷ lệ dân số giảm Điều
đó cho thấy sự trên lệch về số lượng giữa học sinh tiểu học và các bậc học caohơn đã giảm dần và trình độ học vấn của trẻ em ngày càng được nâng cao
An Biên đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học từ năm 2000, quy môbậc học tiểu học ổn định tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng giáo dục
Sự phát triển quy mô học sinh trong những năm qua đi đôi với sự mở rộngtrường, lớp, giáo viên và đa dạng hóa các loại hình đào tạo Hiên nay toàn huyện
có 4 trường THP, 11 trường THCS
2.2.3 Chất lượng, hiệu quả giáo dục – đào tạo
Trong những năm gần đây, giáo dục phổ thông huyện An Biên có nhữngtiến bộ đáng kể về phát triển chất lượng và hiệu quả giáo dục Chất lượng giáodục có bước phát triển đáng kể, tỷ lệ học sinh lên lớp và tốt nghiệp tăng đềuhàng năm
Bảng 2.9: Các chỉ số phát triển của giáo dục Phổ thông huyện An Biên từ 2005-2010
2005-2006 2007-2008 2008-2009 2009-2010
Tỷ lệ học sinh chuyển
Trang 3281.0422.323.48
90254.2
95.6378.6846.01
98.5792.1469.54
10098.1180.50Hiệu quả đào tạo
+Tiểu học
+THCS
+THPT
50.5643.6440.23
63.9055.4551.56
68.786159.59
9581.169.7
(Nguồn: Phòng GD Trung học-Sở GD-ĐT Kiên Giang)
2.2.4 Về xây dựng đội ngũ giáo viên:
Bảng 2.10: Số lượng giáo viên các cấp học, bậc học giáo dục phổ thông
Trang 33THPT 260 23 450 91 1219 144 1507 172Tổng
(Nguồn: Sở GD-ĐT Kiên Giang)
Qua bảng trên ta thấy số lượng giáo viên tăng từ năm 2005 đến 2010 là1,8 lần Riêng giáo viên người dân tộc Khmer từ năm 2005 đến 2010 tăng 1,56lần
Đó là nổ lực của toàn ngành giáo dục, đặc bệt là sự hỗ trợ tạo điều kiệncủa UBND tỉnh Từ năm học 1996-1997 ngành giáo dục đào tạo đã đề ra nhiềugiải pháp hữu hiệu để đào tạo giáo viên theo từng bậc học để đáp ứng tình trạngthiếu giáo viên như chính sách hỗ trợ thêm 70% lương cho giáo viên khi vềgiảng dạy ở vùng sâu, vùng xa, vùng có đồng bào dân tộc khmer, liên kết đàotạo các loại hình giáo viên năng khiếu, đào tạo giáo viên THCS và THPT để đápứng nhu cầu giáo viên vùng sâu, vùng xa
Số lượng giáo viên tiểu học, THCS và THPT của huyện tính bình quânhiện nay đáp ứng được yêu cầu giảng dạy đối với các môn khoa học cơ bản,riêng các môn năng khiếu: nhạc, mỹ thuật, thể dục thể thao, hướng nghiệp, giáodục quốc phòng vẫn còn thiếu so với yêu cầu
Tỷ lệ giáo viên/lớp của huyện trong năm học 2009-2010 là:
Trang 34THPT, đồng thời quan tâm đến việc đào tạo đồng bộ về cơ cấu bộ môn ở các bậchọc.
*Chất lượng đội ngũ:
Trường đại học tại chức và sư phạm II Kiên Giang (nay là trường caođẳng cộng đồng Kiên Giang) hoạt động từ tháng 7 năm 1988, đã liên kết với cáctrường Đại học, cao đẳng, trung học sư phạm trong và ngoài tỉnh vừa đào tạo dàihạn, vừa đào tạo ngắn hạn, vừa bồi dưỡng chuẩn hóa nhờ vậy chất lượng, sốlượng đội ngũ ngày càng nâng cao đáp ứng qui mô phát triển giáo dục chung củatỉnh
-Đạt chuẩn: 8072/10924 = 73.39%
-Trên chuẩn: 1544/10924=15%
+ Về cơ cấu bộ môn thì chưa phù hợp, đến năm học 2008-2009, giáo viênngoại ngữ, GDCD thừa, giáo viên kỹ thuật, tin học, công nghệ, hướng nghiệp,giáo dục quốc phòng, sinh học còn thiếu
*Những vấn đề khó khăn đối với đội ngũ giáo viên
-Nhìn chung năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ giáo viênhuyện An Biên chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng toàn diện, còn bấtcập trước yêu cầu ngày càng cao về đổi mới mục tiêu, nội dung, phương phápdạy học Đời sống giáo viên còn nhiều khó khăn, thiếu động lực trong lao độngnghề nghiệp
-Đội ngũ giáo viên giỏi, có trình độ cao còn quá ít Chính sách tiền lươngchưa đủ mạnh để thu hút số học sinh ưu tú, học sinh giỏi vào ngành sư phạm
- Một bộ phận giáo viên chất lượng thấp so với yêu cầu nhưng do điềukiện khó khăn nên chưa phấn đấu nâng cao trình độ, ảnh hưởng đến chất lượngdạy học
Trang 352.2.5 Về xây dựng cơ sở vật chất trường học:
*Số trường học huyện An Biên cho đến năm học 2010-2011 bao gồm:
Nhờ các chương trình mục tiêu mà đã có nhiều trường tiểu học và THCSđược xây dựng thêm và nâng cấp; nhờ vốn xây dựng cơ bản tập và vốn sựnghiệp mang tính chất xây cơ bản mà đa số các trương THPT và phòng giáo dụcđược xây dựng mới, được trang bị thên bàn ghế, đồ dùng dạy học, tạo được bộmặt mới cho giáo dục của huyện
*Những khía cạnh bất cập: về cơ bản, cơ sở vật chất của giáo dục- đào
tạo huyện vẫn còn thiếu thốn, việc quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai trườnghọc trong huyện chưa được quan tâm đúng mức
Quy mô giáo dục ngày càng gia tăng, số phòng học, số chỗ ngồi ngàycàng nhiều Đặc biệt là để chuẩn bị cho việc xây dựng trường đạt chuẩn quốc giađòi hỏi phải quy hoạch lại mạng lưới trường học, có quỹ đất dành cho xây dựngtrường học; việc áp dụng giải pháp tình thế là xây dựng trường học theo tiêuchuẩn nhà cấp 4 không nên tiếp tục mãi mà phải có biện pháp lâu dài, có đầu tưlớn trong nhiều nam mới giải quyết được vấn đề cơ sở vật chất trường học mộtcách cơ bản
Trang 362.2.6 Khái quát về mặt mạnh, mặt yếu, thuận lợi và khó khăn của giáo dục phổ thông huyện An Biên
2.2.6.1 Những mặt mạnh
-Mạng lưới trường phổ thông mở rộng đến các xã, ấp Quy mô giáo dụcđào tạo ở các cấp bậc học tăng Phong trào học tập trong cán bộ, nhân dân đangphát triển hướng đến nhu cầu nhân lực như phong trào học bổ túc văn hóa trongcán bộ, học nghề ngắn hạn, tin học, ngoại ngữ, đại học tại chức…
Chất lượng giáo dục toàn diện đã có nhiều chuyển biến, tỷ lệ học sinh lưuban, bỏ học giảm đáng kể từ 11,9 % năm học 2006- 2007đến cuối năm học2000-2010 chỉ còn 5.42% Số lượng học sinh thi đỗ vào các trường đại học, caođẳng, trung học chuyên nghiệp ngày càng nhiều, năm học 2005-2006 toàn huyệnchỉ có 48, đến năm 2009-2010 có gần 200 em được đi học lên đại học, cao đẳng,THCN sau khi tốt nghiệp THPT
Như vậy trong những năm gần đây, sự nghiệp giáo dục nói chung, giáodục phổ thông ở huyện An Biên nói riêng ở đã cố gắng tự đổi mới, đạt nhữngtiến bộ khả quan, đáp ứng nhu cầu phát triền kinh tế xã hội đang đổi mới và tạo
ra được những tiền đề cho sự phát triển những năm tiếp theo
2.2.6.2 Những mặt yếu
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để khắc phục khó khăn và đạt được nhữngtiến bộ nhất định trong điều kiện hết sức hạn chế Nhưng trước những đòi hỏicủa công cuộc đổi mới giáo dục-đào tạo huyện An Biên còn thấp trên các mặt:quy mô, chất lượng, và hiệu quả, năng lực của hệ thống trên các mặt đội ngũ cán
bộ quản lý và giáo viên, cơ sở vật chất, tài chính, tổ chức quản lý còn chưa đápứng được nhu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; chưa
có đủ điều kiện để phát triển nguồn nhân lực chuẩn bị cho CNH-HĐH
Trang 37Chưa đạt được những tiến bộ đáng kể trong đổi mới phương pháp vàphương tiện giáo dục.Trong mối tương quan chung, ngành giáo dục-đào tạohuyện có nguy cơ tụt hậu trước những yêu cầu đổi mới giáo dục.
Đội ngũ giáo viên nhiều môn còn thiếu ở bậc THPT, chưa đảm bảo yêucầu về chất lượng, chưa đáp ứng yêu cầu giáo dục trong giai đoạn mới Giáodục-đào tạo An Biên tuy có nhiều thành tựu, song có nhiều bất cập so với yêucầu phát triển KT-XH của tỉnh, nhất là yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục
vụ cho CNH-HĐH Cơ sở vật chất, đội ngũ phát triển chưa theo kịp sự tăng qui
mô các cấp học, chưa đáp ứng tốt nhu cầu của người đi học
2.2.6.3 Những thuận lợi cơ bản
-Nhân dân An Biên vốn có lòng yêu nước, hiếu học và truyền thống cáchmạng Tình đoàn kết gắn bó giữa đồng bào Kinh-Khmer-Hoa đã tạo nên sứcmạnh trong sự nghiệp chiến đấu bảo vệ tổ quốc và công cuộc đổi mới
-Cấp ủy Đảng chính quyền và nhân dân luôn xác định giáo dục đào tạo làđộng lực để phát triển KT-XH nên có sự đầu tư cho giáo dục ngày một nhiều vàđồng bộ hơn
-Công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng được đẩy mạnh thông qua việctuyên truyền, giáo dục sâu rộng hơn, thường xuyên hơn trong cán bộ, nhân dân Nhiều gương hiếu học của học sinh và gia đình hiếu học được tuyên dương điểnhình trong các buổi lễ tôn vinh hiếu học, khuyến tài hàng năm trong tỉnh Sựđóng góp của xã hội cho giáo dục ngày càng nhiều thông qua Hội Khuyến học.Trong năm 2005 nhân dân đã đóng góp cho công tác giáo dục trong tỉnh gần 500triệu đồng nhằm hỗ trợ cho giáo viên, học sinh nghèo, học sinh giỏi và sinh viênđang học ở các trường Đại học, Cao đẳng
Trang 38-Nhu cầu học tập để nâng cao mặt bằng dân trí, nhu cầu học để tìm việclàm tăng nguồn nhân lực rất lớn, tạo tiền đề cho phát triển giáo dục-đào tạo nóichung và giáo dục phổ thông nói riêng.
-Gần đây số lượng học sinh vào ngành sư phạm tăng lên Đội ngũ giáoviên tuy đời sống còn nhiều khó khăn nhưng yêu nghề, bám trường, bám lớp, có
ý thức xây dựng sự nghiệp giáo dục-đào tạo huyện nhà ngày càng phát triển
2.2.6.4 Những khó khăn
-Trong giao đoạn đầu đổi mới, kinh tế - xã hội huyện tuy có phát triểnnhưng vẫn còn nhiều khó khăn, tài nguyên thiên nhiên chưa có điều kiện để khaithác, vị trí địa lí không thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội, đời sống nhân dânchưa cao đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển giáo dục
-An Biên có gần 11% đồng bào dân tộc Khmer, mặt bằng dân trí, lao độngphần lớn chưa qua đào tạo nghề, tỷ lệ tăng dân số còn cao, số trẻ em học chưađến nơi đến chốn còn nhiều
-Đội ngũ cán bộ QLGD và giáo viên thiếu, yếu lại không đồng bộ
-Học sinh còn bỏ học nhiều ở các bậc học với nhiều lí do, nhưng phần lớn
là do kinh tế gia đình khó khăn (năm học 2003-2004 tỷ lệ học sinh THCS bỏ học
là 6.86%; học sinh THPT bỏ học chiếm tỷ lệ 11.23%; năm học 2004-2005, họcsinh THCS bỏ học chiếm tỷ lệ 5.62% và THPT bỏ học chiếm tỷ lệ 6.71%)
- Nhiều phụ huynh học sinh chưa quan tâm đến việc học tập của con em
họ và xem việc giáo dục là nhiệm vụ của nhà trường, của thầy cô giáo
2.3 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÀ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN AN BIÊN
2.3.1 Quy mô học sinh giai đoạn 2000-2005
Trang 39Năm học 1999-2000 toàn huyện có 2 trường THPT, 11 trường THCS.Đến giai đoạn từ 2005-2010 có 4 trường THPT trong đó có 1 trường cấp 2-3 Sốlượng học sinh tăng nhanh, trong năm học 1999-2000 số lượng học sinh THPT
là 1186 em thì đến năm 2009-2010 là 3857 em Tỷ lệ học sinh THPT so với dân
số trong độ tuổi tăng từ 6.69% lên 51.56 %
Bảng 2.11 Quy mô học sinh THPT trong một số năm
Năm
học
TS Học
sinh
Số HS trong trường THPT Số HS BTVH trong
Trung tâm GDTX huyện
Trang 40(Nguồn: Sở GD-ĐT Kiên Giang)
Phần lớn các trường thực hiện đúng chương trình, chất lượng giáo dụctừng bước được nâng lên Chất lượng QL trong các nhà trường tiến bộ, hiệu quảtăng nhanh, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT hàng năm đều đạt khá (xem bảng 2.14)
Bảng 2.14 Tỷ lệ tốt nghiệp THPT giai đoạn 2005-20010