1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu lời tựa các thi văn tập của việt nam thời trung đại

100 560 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Lời Tựa Các Thi Văn Tập Của Việt Nam Thời Trung Đại
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền
Người hướng dẫn TS. Phạm Tuấn Vũ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 543 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có nhiều loại tư liệu để nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam.Bên cạnh loại tư liệu quan trọng nhất là tác phẩm văn chương, còn có nhữngvăn bản trực tiếp thể hiện quan niệm của người xư

Trang 1

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

TÌM HIỂU LỜI TỰA CÁC THI VĂN TẬP CỦA VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

VINH - 2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

=====*****=====

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

TÌM HIỂU LỜI TỰA CÁC THI VĂN TẬP CỦA VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 60.22.32

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS PHẠM TUẤN VŨ

Vinh - 2010

Trang 3

më ®Çu

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Có nhiều loại tư liệu để nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam.Bên cạnh loại tư liệu quan trọng nhất là tác phẩm văn chương, còn có nhữngvăn bản trực tiếp thể hiện quan niệm của người xưa về thuộc tính của văn

chương và của các phạm trù cơ bản của nó Tựa thuộc loại văn bản này.

1.2 Do nhiều nguyên nhân, người Việt Nam thời trung đại không

làm nên những công trình lí luận văn học quy mô kiểu Văn tâm điêu long (Lưu Hiệp), Tuỳ Viên thi thoại (Viên Mai) hay Thi học (Aristôt) Các bài

tựa đảm nhận một phần chức năng của các công trình lí luận và phê bìnhvăn chương Nghiên cứu các bài tựa góp phần hiểu quan niệm vănchương của các thời đại và của các văn nhân thi sĩ xưa, nhằm đóng gópcho hệ thống lí luận văn học trung đại Việt Nam là công việc cần thiết

1.3 Văn học trung đại Việt Nam chịu ảnh hưởng lâu dài, toàn diện

và sâu sắc của văn học cổ trung đại của Trung Quốc, tuy nhiên cũng cónhững thành tựu to lớn của mình Nghiên cứu các bài tựa góp phần nhậnthức sự ảnh hưởng đó và những giá trị mới của quan niệm văn học ViệtNam thời trung đại

1.4 Hiện nay, tựa Trích diễm thi tập đã được đưa vào giảng dạy

trong nhà trường Việc tìm hiểu nghiên cứu lời tựa có ý nghĩa thiết thực

về nghiệp vụ Nghiên cứu đề tài này góp phần vào việc hiểu rõ hơn vềvăn học trung đại Việt Nam, giúp cho việc giảng dạy văn học được tốthơn

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Trong văn học Việt Nam trung đại, cùng với những văn bảnvăn chương, có những văn bản ít nhiều có tính chất lí luận văn chương

Trang 4

Một trong số văn bản đó là tựa Nghiên cứu đề tài này góp phần nhậnthức loại văn bản này ở phương diện nội dung Tất nhiên bao giờ mộtvăn bản tựa cũng gắn với một văn bản văn chương nhất định Tuy nhiêncùng với tính chất cụ thể - cá biệt đó, các văn bản tựa nhất định cónhững phương diện nội dung phổ biến

2.2 Mỗi sự vật hiện tượng đều có mặt nội dung và mặt hình thức.Tương ứng với những đặc điểm nội dung của loại văn bản này, hình thứccủa chúng cũng có những đặc điểm phổ biến, bên cạnh đó có những đặcđiểm cá biệt Bước đầu khu biệt nội dung của loại văn bản tựa cũng làmột mục đích nghiên cứu của luận văn này

2.3 Nghiên cứu đề tài này góp phần dạy – học tốt hơn văn bản

Tựa Trích diễm thi tập trong chương trình ngữ văn 10

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đề tài nghiên cứu tựa các thi văn tập của Việt Nam thời trungđại để nhận thức đặc điểm của chúng và phân biệt với bạt, một thể văngần gũi

3.2 Trong luận văn này chúng tôi chỉ nghiên cứu các bài Tựa Việt

Nam thời trung đại được tập hợp trong sách 10 thế kỷ bàn luận văn

chương, tập I, NXB Giáo dục - 2007.

4 Phương pháp nghiên cứu

Chú trọng phương pháp lịch sử và các phương pháp văn bản học.Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn bản nghị luận vănchương trung đại như khảo sát, thống kê, phân tích, so sánh… trong đóchú trọng phương pháp phân tích, so sánh

5 Lịch sử vấn đề

Tình hình văn bản dịch thuật, sưu tầm:

Trang 5

Trong mục Văn tịch chí của Lịch triều hiến chương loại chí, Phan

Huy Chú đã chia thư tịch ra bốn loại: 1 loại Hiến chương; 2 loại Kinhsử; 3 loại Thi văn; 4 loại Truyện kí Ở mục này, ngoài việc giới thiệutác giả, tác phẩm, Phan Huy Chú đã chép lại bài tựa của một số tác

phẩm, và không đưa ra nhận xét nào về chúng Lịch triều Hiến chương

loại chí được xuất bản năm 1961.

Trần Văn Giáp trong công trình Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (2

tập) đã thu thập, giới thiệu được 429 tác phẩm thời Lý cho đến trướccách mạng tháng Tám năm 1945 Trong công trình thư tịch này, TrầnVăn Giáp chia thành 8 phần: 1 Lịch sử; 2 Địa lý; 3 Kỹ thuật; 4 Ngônngữ; 5 Văn học; 6 Tôn giáo; 7 Triết học; 8 Sách tổng hợp Mỗi phần,chia thành nhiều mục nhỏ Đối với mỗi tác phẩm, nhà nghiên cứu tiếnhành khảo sát, giới thiệu văn bản tác phẩm, tiểu truyện của các tác giả

Riêng các bài tựa, bạt của các tác phẩm, tác giả tiến hành các bước: Chép

chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa Tuy nhiên, có một số văn bản không làm

đủ các bước nói trên

Thiều Chửu trong Việt Nam thuyền học tùng thư đã dịch toàn văn

Khoá hư lục năm 1934 và đăng lại trên các số báo Đuốc Tuệ năm 1939,

trong đó có bốn bài tựa của các tác phẩm: 1 Thiền tông chỉ nam tự; 2.

Kim Cương tam muội kinh tự; 3 Bình đẳng lễ sám văn tự; 4 Lục thì sám hối khoa nghi tự.

Trong bộ Thơ văn Lý Trần (3 tập), những người biên soạn giới

thiệu tác giả, tác phẩm của giai đoạn văn học thế kỷ X-XIV Các bài tựađược chép chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa, khảo đính và chú thích Toàn

bộ các bài tựa, bạt in trong thơ văn Lý Trần có bảy bài.

Trong một số bản dịch các tác phẩm của giai đoạn văn học thế kỷ

X-XV có các bài tựa Lĩnh Nam chích quái xuất bản năm 1960 với hai

Trang 6

bài tựa do Nguyễn Ngọc San và Đinh Gia Khánh dịch, bản này được tái bản nhiều lần Lĩnh Nam chích quái xuất bản năm 1961 có bài tựa của Vũ

Quỳnh do Lê Hữu Mục dịch

Năm 1981, NXB Tác phẩm mới cho ra đời công trình Từ trong di

sản (Những ý kiến về văn học từ thế kỷ X đến thế kỷ XX ở nước ta) Các

nhà biên soạn đã dịch thêm một số bài tựa, bạt chưa được dịch ra quốc ngữ và in lại những bài tựa, bạt đã dịch trước đó Ngoài ra các nhà biên

soạn còn dẫn thêm thơ, lời bình,… nhưng không đánh giá về những ýkiến đó

Công trình Người xưa bàn về văn chương, tập 1 của Đỗ Văn Hỷ,

Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, đã chọn 17 bài tựa , 11bài bạt, 8 lời dẫn có thể coi là bước đầu giới thiệu các thể loại này vớiđộc giả ngày nay

Tình hình nghiên cứu đánh giá:

Tổng tập văn học Việt Nam, tập16 (phần II) dành riêng cho một loại

văn thể đặc biệt đó là những bài tựa, bài bạt thuộc loại văn học trung đại

Việt Nam Trước khi giới thiệu các bài tựa, bạt đã dịch, Đặng Đức Siêu tiến hành hiệu chỉnh, bổ sung Phần đầu, có Khải luận, trong đó cho rằng thông qua những bài tựa, bạt của các công trình sưu tầm công bố này,

chúng ta có thể hình dung được những nét lớn của tiến trình văn hoá Việt

Nam đặc biệt trong lĩnh vực di sản thành văn Những bài tựa, bạt tuy

ngắn gọn nhưng khá hàm súc sâu sắc giúp chúng ta có thể thấy đượctương đối rõ những điểm chủ yếu trong ý đồ, mục đích sáng tác hoặc

biên soạn của tác giả, soạn giả Thể loại tựa, bạt giúp chúng ta xác định

quan niệm có tính chất bao trùm về nhân sinh xã hội, về văn chương họcthuật… của tác giả, soạn giả Tác giả còn trình bày diễn biến thư tịchtrong mười thế kỷ văn học trung đại Việt Nam

Trang 7

Nguyễn Đăng Na trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại – Kí (Tập 2) đã chọn giới thiệu năm bài tựa đều thuộc giai đoạn thế kỷ X-XV Tác giả cho rằng: “tựa bạt cũng là một dạng thức của kí thời trung đại và

đồng hành với kí trong một thời gian khá dài” [30; 32] Như vậy, tác giả

đã đánh giá và xếp loại tựa, bạt trong sự phát triển của thể loại.

Trong một số công trình lịch sử văn học, tổng tập văn học, lí luận vănhọc trung đại Việt Nam, các công trình, bài nghiên cứu chuyên ngành

đều ít nhiều đề cập, đánh giá, nhận xét về thể tựa, bạt như: Lịch sử văn

học Việt Nam – tập 2 của Bùi Văn Nguyên, Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII của nhóm Đinh Gia Khánh, Góp phần xác lập

hệ thống quan niệm về văn học và về Quan niệm văn chương cổ Việt Nam

của Phương Lựu, Những vấn đề thi pháp văn học trung đại của Trần

Đình Sử, v.v Tuy nhiên cho tới nay vẫn chưa có một công trình chuyên

về thể văn này Những công trình quy mô giới thiệu các văn bản Tựa chứchưa phân loại đánh giá nội dung hình thức của lời tựa

Các tác giả Đỗ Văn Hỷ, Hồ Sỹ Hiệp, Văn Giang, trên Tạp chí Văn

học từ những năm bảy mươi đã công bố một số bài tựa Các bài chỉ ra

tầm quan trọng của tựa trong việc góp phần xác lập hệ thống quan niệmvăn học

Công trình 10 thể kỷ bàn luận về văn chương (Từ thế kỷ X đến nửa

đầu thế kỷ XIX), tập 1, NXBGD, H.2007, cũng đã tập hợp được hơn bảymươi bài tựa các thi văn tập để giới thiệu với bạn đọc Đó là một côngtrình thực sự lớn về cả quy mô và chất lượng Tuy nhiên công trình cũngmới chỉ dừng lại ở việc tuyển chọn các tác phẩm cùng với việc tuyểnchọn các bài bàn luận về văn chương của các tác giả trung đại và đưa ramột số lời bình có tính chất gợi mở chứ chưa đi sâu nghiên cứu văn bản

Trang 8

Có thể thấy việc nghiên cứu tựa các thi văn tập của Việt Nam thờitrung đại nói riêng và việc tìm hiểu thể tựa nói chung còn chưa tươngxứng Từ nhận thức đó chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài này nhằm đưa

ra một cái nhìn hệ thống và sâu hơn về các văn bản tựa thời trung đại

6 Đóng góp của luận văn

Dự kiến luận văn có một số đóng góp sau :

Nhìn nhận một cách có hệ thống văn bản tựa các thi văn tập củaViệt Nam thời trung đại, phân loại văn bản Phân tích và khái quát đượccác đặc điểm về nội dung và hình thức của các văn bản tựa Bước đầuchỉ ra được những điểm tương đồng và khác biệt giữa tựa và bạt, giữatựa các thi văn tập thời trung đại và các biến thể của tựa sau này

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Giới thuyết về thể tựa

Chương 2: Đặc điểm của bài tựa công trình sưu tập

Chương 3: Đặc điểm của bài tựa tác phẩm

Cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo

Trang 9

Chương 1 GIỚI THUYẾT VỀ THỂ TỰA

1.1 Nguồn gốc thể tựa

Thể loại là một trong những phạm trù cơ bản nhất của sáng tác vàtiếp nhận (bao hàm cả nghiên cứu, phê bình, giảng dạy) văn học Khôngmột sáng tác văn học nào lại không thuộc về một loại (loại thể) dướidạng một thể (thể loại, thể tài) nhất định nào đó Người sáng tác khiđứng trước một hiện tượng của đời sống, muốn chiếm lĩnh nó, tất yếuphải lựa chọn (tự giác hoặc không tự giác) một phương thức, một cáchthức với một dạng thức cấu trúc – tổ chức ngôn từ nhất định Đến lượtngười tiếp nhận (nhất là người làm công tác nghiên cứu, phê bình, giảngdạy văn học) cũng vậy, phải theo “đường dẫn” của thể loại tác phẩm đểkhám phá, lý giải nó Đặc trưng thể loại quy định cách kiến thiết, tổ chứctác phẩm (đối với người sáng tác), quy định hướng tiếp cận (đối vớingười tiếp nhận)

Khái niệm thể loại (hay thể, thể tài) chỉ dạng thức tồn tại chỉnh thểcủa tác phẩm văn học Đấy là dạng thức ngôn ngữ được tổ chức thànhnhững hình thức nghệ thuật riêng biệt, thể hiện cách cảm nhận và thái

độ, tình cảm của con người về các hiện tượng của đời sống Trong quátrình sáng tác, các nhà văn thường sử dụng các phương pháp chiếm lĩnhđời sống khác nhau, thể hiện những quan hệ thẩm mỹ khác nhau đối vớihiện thực, có những cách xây dựng hình tượng khác nhau Các phươngthức ấy ứng với những hình thức hoạt động nhận thức khác nhau của conngười – hoặc trầm tư, chiêm nghiệm, hoặc qua biến cố liên tục, hoặc quaxung đột tác phẩm làm cho tác phẩm văn học bao giờ cũng có sự thốngnhất quy định lẫn nhau về các loại đề tài, cảm hứng, hình thức nhân vật,

Trang 10

hình thức kết cấu và hình thức lời văn Đó là cơ sở khách quan của sựtồn tại thể loại văn học và cũng là điểm xuất phát để xây dựng nguyêntắc phân chia thể loại văn học.

Dựa theo tiến trình lịch sử phát triển thể loại văn học ở Việt Nam

có thể thấy các thể thơ văn hình thành dần dần, định hình rồi biến thể.Một số hình thức thơ có nguồn gốc từ văn học dân gian phát triển lên màhình thành Một số khác từ nước ngoài du nhập vào, rồi Việt hóa cho phùvới quy luật ngôn ngữ và tính cách, tâm hồn người Việt tuy nhiên, theogiáo sư Phương Lựu, “Tuy nguồn gốc có khác nhau, cần nhận biết khinghiên cứu, nhưng hình thức nào cũng là thành quả của những người đitrước trong quá trình lâu dài để tìm tòi, thể nghiệm và sáng tạo nghệthuật Ở những bài thành công, các hình thức đó đều chan chứa tâm hồn

và tính cách của người Việt Nam”[23, 22]

Cũng về nguồn gốc thể loại, Dương Quảng Hàm trong Việt Nam

văn học sử yếu đã phân biệt các thể văn riêng của Tàu và các thể văn

riêng của ta Những thể mượn của Tàu được chia làm hai loại: Vận văn(Văn có vần: thơ, phú, văn tế); biền văn (văn không có vần mà có đối:

câu đối tứ lục, kinh nghĩa) Các lối văn xuôi của Tàu: Tự, bạt, truyện, bi,

ký, luận Những thể riêng của ta: Lục bát, song thất lục bát và các biến

thể của hai lối ấy

Tiến sĩ Phạm Tuấn Vũ đồng ý kiến với tiến sĩ Nguyễn Đăng Na

khi xếp thể loại tựa, bạt cũng là một dạng thức của kí thời trung đại và

đồng hành với kí trong một thời gian khá dài Theo tiến sĩ Phạm Tuấn

Vũ tiến trình của ký Việt Nam thời trung đại có ba giai đoạn Giai đoạnthứ nhất từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV Đặc điểm của giai đoạn này là kýchưa tách khỏi văn học chức năng Thể ký này chủ yếu thực hiện cácchức năng tôn giáo và thế tục, thuộc tính của văn chương thẩm mỹ còn

Trang 11

mờ nhạt Số lượng tác phẩm này không lớn, phạm vi đề tài hạn hẹp, gồm

hai loại chính là văn khắc và tự (tựa), bạt.

Văn khắc là loại văn bản khắc trên các chất liệu rắn như cột đá, bia

đá, vách đá hoặc chuông, đỉnh đồng Bài ký khắc bia trên bia đá gọi là bi

ký Văn khắc thường có hai phần: phần văn xuôi (dài hơn) và sau đó làphần văn vần Đến nay đã ghi nhận được 16 văn khắc thời Lý, trong đó

có 15 văn bia (bi ký) và một trường hợp khắc trên chuông khánh

Nội dung chủ yếu là ghi công đức, chủ yếu mang tư tưởng Phật giáo.Tựa, bạt là văn bản đặt ở đầu hoặc cuối trước tác của bản thânhoặc của người khác nhằm làm rõ hơn nội dung của trước tác hay đánh

giá nó Trước đời Hán, tựa đặt cuối tác phẩm, về sau mới được đưa lên trước Bài viết đặt ở sau gọi là bạt tựa còn gọi là Dẫn Có đại tự và tiểu

tự Đại tự đặt trước cuốn sách, tiểu tự đặt trước một bài thơ hoặc truyện.

Về sau tựa là một thể độc lập.

Tự thời kỳ này không nhiều, trong đó có Thiền tông chỉ nam tự,

Kim cương tam muội kinh tự, Bình đẳng lễ sám văn tự, Lục thì sám hối khoa tự của Trần Thái Tông, Vạn Kiếp tông bí truyền thư tự của Trần

Khánh Dư, Việt điện u linh tập tự của Lý Tế Xuyên, Nam Việt thế chí tự của Hồ Tông Thốc, Thượng Sĩ ngữ lục bạt của Trần Khắc Chung…

Giai đoạn thứ hai của thể ký là thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII

Đây là thời kỳ có nhiều trước tác quy mô của người đương thời

hoặc sưu tập của cổ nhân Điều này làm cho tựa, bạt nhiều hơn, dung

lượng cũng lớn hơn Đây là thời kỳ trí thức dân tộc đông đảo, có nhiềungười thực tài Các vấn đề thuộc chính trị xã hội, hoặc thuật, văn

chương… đều được đề cập với nhận thức sâu sắc hơn Tựa Trích diễm

thi tập của Hoàng Đức Lương thực sự có ý nghĩa đặt nền móng cho phê

bình văn học của Việt Nam thời trung đại

Trang 12

Giai đoạn thứ ba của thể ký Việt Nam thời trung đại là thế kỷ XVIII– XIX Đây là giai đoạn thể ký gặt hái được nhiều thành tựu với các tác giảnhư Vũ Phương Đề, Trần Tiến, Lê Hữu Trác, Phạm Đình Hổ, Lý VănPhức, Phan Huy Chú,… Thể ký từ chỗ các văn bản chức năng chiếm ưu thếđến văn bản văn chương thẩm mỹ chiếm ưu thế Thể ký phát triển đồngnghĩa với việc các bài tựa, bạt cũng phát triển Và đây cũng là giai đoạn

tựa, bạt tách khỏi thể ký trở thành một thể độc lập: thể tựa, bạt.

Thể tựa, ra đời vào khoảng đời Hán (Trung Hoa), với bài tựa nổitiếng của sử gia Tư Mã Thiên (145-86 trước Công nguyên) trong tác

phẩm sử kí: Sử kí Thái sử công tự tự.

Ở Việt Nam tựa xuất hiện từ rất lâu đời, nó ra đời cùng với các tác

phẩm trước thuật Việt Nam: Thiền tông chỉ nam tự, Kim cương tam muội

kinh tự, Bình đẳng lễ sám văn tự, Lục thì sám hối khoa nghị tự của Trần

Thái Tông

Trần Thái Tông (1218 – 1277 ) tên thật là Trần Cảnh, miếu hiệu làThái Tông Năm lên 8 tuổi, ông được cử vào cung hầu Lý Chiêu Hoàng vàlên ngôi vua năm 1255 Ông mất năm 1277, làm vua 33 năm, thọ 59 tuổi

Khóa hư lục là tác phẩm triết học phật giáo do Trần Thái Tông soạn vào

thời gian sau khi Trần Thái Tông nhường ngôi, xuất gia, nghiên cứu đạophật Các bài tựa nói trên là những bài tựa bằng chữ Hán, được Trần

Thái Tông viết cho tác phẩm Khóa hư lục Năm 1988, các tác giả Đỗ Văn Hỷ, Huệ Chi, Nguyễn Đức Vân, Băng Thanh dịch in trong Thơ văn

Lý - Trần, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản.

Tiếp đến là bài tựa Vạn Kiếp tông bí truyền thư tự của Trần Khánh

Dư (đầu thế kỷ XIV) bài viết cho bộ sách Vạn Kiếp tông bí truyền thư do

Trần Quốc Tuấn (1226 – 1300 ) soạn Vũ Quỳnh (1452 - 1506) viết Tựa

lĩnh Nam chích quái liệt truyện ghi rõ ý đồ và nguyên tắc làm sách, nội

Trang 13

dung sách, và tình cảm của tác giả Ngô Sỹ Liên (thể kỷ XV) viết Đại

Việt sử ký toàn thư cũng có tự, trong đó ông trình bày nhu cầu làm sử cho

nước Việt, tình trạng sử thiếu chính xác, việc ông dựa vào bộ sách Đại

việt sử ký của Lê Văn Hưu và sách sử của Phan Phu Tiên, Hồ Tông Thốc

thêm phần ngoại kỷ, sửa chữa các chỗ sai sót mà thành Sau đó Lê Hy,

Nguyễn Quý Đức sửa sang lại bộ sách trên, đổi thành Đại Việt sử ký tục

biên, viết lại bài Tựa thuyết Rồi bài Tựa của Nguyễn Công Trứ và Hồ Sỹ

Dương, kể việc biên soạn để khắc in

Như vây, thể tựa có nguồn gốc ngoại nhập từ Trung Quốc nhưng đãsớm vào Việt Nam gần như cùng lúc với các tác phẩm văn học viết Việtnam Nó đã có mặt trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử văn họcViệt Nam thời trung đại Sang đến thời kỳ hiện đại, theo quy luật vậnhành và phát triển thể loại, một số thể loại của văn học trung đại khôngtồn tại Thể tựa cũng nằm trong số đó nhưng nó được biến thể thành hìnhthức của các lời nói đầu, lời dẫn, lời giới thiệu…, đặt trước các tác phẩmnghệ thuật hoặc các công trình nghiên cứu

1.2 Chức năng thể tựa

Khi nói đến chức năng thể loại văn học trung đại, tác giả Trần

Đình Sử trong cuốn Thi pháp văn học trung đại Việt Nam đã dẫn lời của

Đ.Likhachốp: “Thể loại văn học được xác định trong hành lễ tôn giáo,trong thực tiễn xét xử theo luật pháp, và trong bang giao, trong đời sốngcác vương công… do đó thể loại văn học trung đại ngoài chức năng vănhọc còn có chức năng ngoài văn học” [37; 94] Tác giả dẫn lời của nhà líluận đức H.R.Jaus: “Thể loại văn học trung đại bị quy định bởi vị trí của

nó trong đời sống và do đó mà có chức năng riêng” [37; 94] Trần Đình

Sử lí giải:

Trang 14

“Chức năng văn học và chức năng ngoài văn học phân biệt ở chỗcác thể loại văn học muốn viết lúc nào thì viết, có hứng thì mới viết cònthể loại mang chức năng ngoài văn học thì không có sự tự do đó… thểloại văn học viết là cho mọi người, không dành riêng cho ai, nhưng thểloại ngoài văn học thì phải viết theo địa chỉ nhất định… Thể loại văn họcviết nhân danh con người nói chung, còn thể loại ngoài văn học phảixuất phát từ con người cụ thể ” [37; 96].

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì thể tựa vừa có chứcnăng văn học lại vừa có chức năng ngoài văn học

Bài tựa là văn bản nằm ngoài chính văn của tác phẩm Nó đượcviết để nói về mục đích, lí do, tôn chỉ, cách viết, quá trình… sáng tác haybiên soạn tác phẩm Qua đó, tác giả, soạn giả còn trình bày những quanniệm về nhân sinh quan, thế giới quan về văn chương, học thuật…

Bài tựa có thể được viết cho tất cả các tác phẩm thuộc nhiều lĩnhvực khác nhau: văn học, lịch sử, địa lí, âm nhạc, hội hoạ… cả về sángtác, lí luận, phê bình

Thời kì đầu, bài tựa được đặt ở cuối tác phẩm, từ đời Đường trở đi,người ta đưa nó lên đầu tác phẩm Những văn bản khác nhau đặt ở đầu

tác phẩm có các tên như: tựa, dẫn, đề từ, ngày nay có lời giới thiệu, lời

nói đầu đều thuộc thể tựa Ngoài ra, ở một số tác phẩm còn có bài hậu tự

(bài tựa ở sau) đặt ở cuối tác phẩm Bài tựa và hậu tựa có thể do chínhtác giả, soạn giả hoặc do một người khác viết khi tác phẩm đã hoàn

thành Nếu bài tựa do chính tác giả viết thì có thể được gọi là tự tự, tự

sự, hay tự chí Nếu bài tựa do người khác viết thì người được đề nghị

viết bài tựa phải là người có tên tuổi, uy tín văn chương hoặc có mốiquan hệ thân tình với tác giả Bản thân người được mời viết cũng cảmthấy đây vừa là một vinh dự lại vừa là một trách nhiệm lớn Điều đó

Trang 15

chứng tỏ bài tựa có vị trí quan trọng đối với sự ra đời của tác phẩm hoặccông trình sưu tập.

Phần cuối của tựa và hậu tự được gọi là lạc khoản, ở đây thường

ghi niên hiệu, ngày tháng viết, chức tước, quê quán và tên (tự, hiệu) của

người viết Tuy nhiên, cũng có những bài tựa, hậu tự không có phần lạc

khoản này

Trong tác phẩm, ngoài bài tựa, hậu tự, có thể có thêm một bài nữa

gọi là bạt hoặc đề bạt Bài bạt thường do người đọc khi thưởng thức tácphẩm cảm thấy cần bày tỏ thêm hay có những điều bài tựa chưa nói hết,nên viết thêm Bài bạt luôn được đặt ở cuối tác phẩm Do tính chất củabài tựa và bạt giống nhau, nên giới nghiên cứu đã xếp thành một thể loại

văn học: loại tựa bạt Nội dung của loại này thường thiên về văn nghị

luận, tự sự, thậm chí còn mang sắc thái trữ tình Tuy ngắn gọn nhưng lời

văn trong loại tựa bạt thường sâu sắc và hàm súc

Tựa thuộc loại văn học chức năng Trong thời kỳ văn học trungđại Việt Nam, đặc biệt là ở các giai đoạn đầu thì văn học chức năngchiếm ưu thế Tuy nhiên, đến các giai đoạn khi văn học nghệ thuật đãchiếm ưu thế thì thể tựa vẫn rất phát triển bởi trước hết nó có vai tròquan trọng đối với các sáng tác, các công trình nghệ thuật nhằm giớithiệu tác phẩm về nhiều phương diện

Chúng tôi xin được trích dẫn bản dịch Việt văn bài tựa Việt điện u

linh của tác giả Lý Tế Xuyên và bài tựa Xuân văn thi tập của tác giả Cao

Xuân Dục Hai bài tựa của hai tác giả ở hai thời đại khác nhau, cách

nhau khoảng 400 năm Bài tựa Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên là bài

tựa viết cho tác phẩm sưu tầm, mang tính nghị luận và tự sự nhiều hơn

Còn bài tựa Xuân Văn thi tập của Cao Xuân Dục là đề tựa cho tác phẩm

sáng tác, mang tính tự sự và trữ tình nhiều hơn

Trang 16

Bài tựa Việt điện u linh – Lý Tế Xuyên viết:

“Thánh nhân xưa nói: Thông minh chính trực mới đáng gọi là thần,

không phải hạng dân thần, tà ma quỷ quái mà lạm gọi là thần được đâu.

Trong nước Hoàng Việt ta, các thần ở miếu đền xưa nay rất nhiềunhưng mà công tích to lớn rõ rệt, cứu giúp sinh linh thì có được mấyđâu? Tuy nhiên các thần vốn có phẩm loại không ngang nhau, có vị làtinh túy của núi sông, có vị là nhân vật kiệt linh, khí thế rừng rực lúcđương thời, anh linh tỏa rộng đến đời sau Nếu không ghi chép sự việclại thì phẩm loại trên dưới khó phân biệt Cho nên tôi dựa theo kiến vănnông cạn thấp kém của mình mà ghi chép về cõi u linh Nếu có bậc quân

tử bác nhã hiểu sự sửa cho thì thỏa lòng mong ước của tôi vậy

Hoàng triều khai Hựu năm đầu Chức Thủ đại tạng thư, hỏa chính chưởng, trung phẩm phụng ngự An Tiêm lộ chuyển vận sứ, kẻ bề tôi là Lý Tế Xuyên cúi đầu thắp hương kính cẩn viết bài tựa truyện này”.

Tựa Xuân văn thi tập - Cao Xuân Dục viết:

“Mùa thu năm Đinh Tị tôi vì ốm nên được ở nhà Nơi có thắngcảnh của núi sông, phía sau nhà bãi bờ xen lấn, một nhánh riêng củasông Lam chảy qua Nối tiếp chảy lại là Hoành Sơn, Hoàng Sơn, xanhbiếc um tùm hàng ngày ở ngay trước mắt, rẽ về bên trái là dãy núi ĐôngĐồn, cũng xa xa chầu lại Còn như đống gò thôn xóm thung lũng mênhmông như bức gấm, quay phải quay trái, mở cửa hiên là nhìn thấy Thờitiết thuộc ba thu, trăng thanh gió mát, hoặc một mình luyện thuốc, hoặckhách đến nâng li, hoặc ngâm nga nơi viện cúc song tùng, hoặc lữngthững nơi lối tiều ngành đá, gặp cảnh sinh tình, dần có hai trăm bài thơ,

Trang 17

tự ngâm, tự xướng, tạm gọi là như vậy, người xem xin chớ cười là cái ănthời xưa nhưng vẫn còn chưa háo?”.

Hai bài tựa của hai tác giả như lời giới thiệu đối với hai tácphẩm giúp người đọc biết lí do, mục đích, quá trình biên soạn của soạngiả hoặc tác giả Ngoài chức năng giới thiệu tác phẩm cũng có thể kể đếncác chức năng văn học của bài tựa như chức năng nhận thức, chức nănggiáo dục, chức năng thẩm mỹ Bên cạnh đó các bài tựa cũng chứng minhcho tính phát triển của thể loại văn học nói chung Thể loại không phải làphạm trù bất biến mà luôn có sự vận động

Trong các tác phẩm văn học giai đoạn thế kỷ X-XV chỉ một số tác phẩm

có bài tựa, chủ yếu là các bài tựa của các tác phẩm sưu tầm Giai đoạn từ

thế kỷ XVI-XIX số lượng các tác phẩm sáng tác có tựa, tăng lên đáng kể.Nhưng dù viết cho loại văn học nào thì thể tựa đều mang những đặcđiểm chung như:

Về nội dung: Chúng thể hiện những quan niệm về chức năng củavăn học và những quan niệm về chức năng của nghệ thuật và đều chịuảnh hưởng của các tư tưởng Nho, Phật, Đạo

Về nghệ thuật: Các bài tựa thường có cấu trúc hai phần: phần nộidung và phần lạc khoản (nhưng không bắt buộc phải đầy đủ hai phần mà

có thể không có phần lạc khoản) Kết cấu linh hoạt, không theo khuônmẫu nhưng rõ ràng, mạch lạc Hình thức tản văn, lời văn hàm súc, côđọng, lúc uyên bác, trang trọng, lúc phóng túng, sinh động

Tuy nhiên ở mỗi loại bài tựa cũng có những đặc điểm riêng

Qua tìm hiểu thể loại tựa, bạt trong các tác phẩm thời kỳ này,

chúng tôi thấy có hai loại chính:

Các bài tựa của các công trình sưu tập thường do chính các soạn giả viết như: Việt điện u linh tập tự của Lý Tế Xuyên, Tân san Việt âm

Trang 18

thi tập tự của Phan Phu Tiên và của Lý Tử Tấn, Lĩnh Nam chích quái liệt truyện tự của Vũ Quỳnh, Lĩnh Nam chích quái liệt truyện hậu tự của Kiều

Phú, v.v… Nội dung của chúng thường mang tính chất nghị luận, tự sự,nói lên ý đồ, cách thức, mục đích…biên soạn tác phẩm

Các bài tựa của các tác phẩm sáng tác thường do tác giả, hoặc một người khác viết như: Quỳnh uyển cửu ca tự của Lê Thánh Tông, Bạch

Vân am thi tập tự của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngôn chí thi tập tự của

Phùng Khắc Khoan, Tàng Chuyết thi tập tự của Nguyễn Kiều,v.v… Những bài tựa này chủ yếu mang tính chất tự sự, trữ tình, thể hiện quan

niệm nhân sinh quan về xã hội, nghệ thuật…

Trong văn học hiện đại, hình thức, tên gọi thể loại của tựa đã đượcthay đổi nhưng chức năng của nó không thay đổi, và đó là một phầnkhông thể thiếu trong các công trình văn học, cũng như nhiều công trìnhnghệ thuật ngôn từ khác

Như vậy thể tựa vừa có chức năng văn học lại vừa có chức năngngoài văn học Trong đó chức năng quan trọng nhất của bài tựa là chobiết rõ quan điểm, mục đích và việc làm sách Đó là những văn bản cógiá trị để tìm hiểu lịch sử trước thuật nước nhà

1.3 Phân loại thể tựa

Công trình 10 thể kỷ bàn luận về văn chương, tập 1, do Phan Trọng

Thưởng, Nguyễn Cừ, Vũ Thanh, Trần Nho Thìn biên soạn tuyển chọn 70bài tựa, 11 bài bạt thuộc thời kỳ văn học trung đại Tuy nhiên theo chúngtôi được biết, còn có nhiều bài tựa, bạt của văn học Việt Nam thời kỳ

này chưa được các tác giả tuyển chọn, ví dụ tựa Việt Nam thế chí của Hồ Tông Thốc, Bài tựa An Nam Chí lược của Lê Tắc, Tựa Cửu đài thi tập của Nguyễn Húc , tựa Bình đẳng lễ Sám văn tự của Trần Thái Tông… Ở

thời trung đại số lượng các bài tựa, bạt tương đối nhiều so với các thể

Trang 19

loại văn học chức năng khác Nó đã trở thành một phần không thể thiếucho thư tịch thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau: từ kinh sách phật giáo, lịch

sử, văn thơ… thuộc hai loại văn học là: văn học chức năng và văn họcnghệ thuật Căn cứ vào tính chất của văn bản được viết bài tựa, chúng tôichia các tác phẩm tựa trong thời kỳ văn học trung đại ra làm hai loại

1.3.1 Bài tựa công trình sưu tập

2 Bài Tựa sách Nam ông mộng

lục

3 Bài tựa Quần hiền phú tập Nguyễn Thiên Túng 1457

5 Đề tựa Tập thơ Việt âm mới

san định

6 Đề tựa Tập thơ Việt âm mới

san định

8 Bài Tựa Đại Việt sử kí toàn

Trang 20

TT Tên bài Tác giả Niên đại

13 Bài Tựa sau sách Lĩnh Nam

chích quái.

14 Bài tựa Trung Hưng thực lục Hồ Sĩ Dương

15 Bài tựa Chu dịch quốc âm

giải nghĩa

Nguyễn Kiều

16 Bài tựa Dịch kinh phu thuyết Lê Quý Đôn

17 Bài tựa Thư kinh diễn nghĩa Lê Quý Đôn

18 Bài tựa Quần thư khảo biện Lê Quý Đôn

Trang 21

1.3.2 Bài tựa tác phẩm

1. Bài tựa Thiền Tông chỉ nam Trần Thái Tông

3. Bài tựa đặt cuối tập thơ

Quỳnh uyển cửu ca

Đào Cử

4. Bài tựa Bạch Vân am thi tập Nguyễn Bỉnh Khiêm

6. Bài tựa Huấn đồng thi tập Phùng Khắc Khoan

7. Bài tựa Tập thơ tàng chuyết Lê Hữu Kiều

8. Bài tựa Nghệ An thi tập Lê Quý Đôn

9. Thay Ái Đào Chủ Nhân viết

bài tựa cho tập Hạnh Lâm lai

phục thi cảo

Ngô Thì Hoàng

10. Bài tựa Mỹ Đình thi tập Ngô Thì Sỹ

11. Bài tựa Anh Ngôn thi tập Ngô Thì Sỹ

12. Bài tựa Nam Trình liên vịnh

14. Bài tựa Hoàng Công thi tập Ngô Thì Nhậm

15. Bài tựa viết cho tập thơ của

mình

Ngô Thì Chí

16. Bài tựa Sứ hoa tùng vịnh Hồ Sĩ Đống

17. Bài tựa Tâm thanh tồn dụy

tập

Trịnh Sâm

Trang 22

TT Tên bài Tác giả Niên đại

18. Bài tựa Tập thơ về nỗi nhớ

thương đằng đẵng của

Nguyễn Kỳ Trai

Phạm Nguyễn Du

19. Bài tựa Phong Trúc tập Ngô Thế Lân

20. Bài tựa Phong Trúc tập Nguyễn Dưỡng Hào

22. Bài tựa thơ Chuyết Sơn Ninh Tốn

23. Bài tựa Dụ am ngâm lục Phan Huy Ích

24. Bài tựa đặt sau Tập thơ Thu

26. Bài tựa Tập thơ thất cảm Nguyễn Hành

27. Bài tựa Tập thơ thất cảm Minh Quyên

28. Bài tựa Quế đường thi tập Phan Huy Chú

30. Tựa tập tiểu nhạc Phủ vịnh

sử ghi lại những bài thơ đề ở

bình phong của Nhà vua

Nguyễn Miên Thẩm

31. Tựa tập thơ Cống thảo viên Nguyễn Miên Thẩm

32. Bài tựa Tập thơ Tĩnh phố Nguyễn Miên Trinh

33. Tựa tập thơ của bạn vong niên

là tú tài Trương Băng Hiên

Đặng Huy Trứ

34. Tựa Tập thơ và tranh vẽ 48

người con có hiếu

Đặng Huy Trứ

Trang 23

TT Tên bài Tác giả Niên đại

35. Tựa cuốn Đặng Hoàng

Trung thi sao

Đặng Huy Trứ

36. Bài tựa tập Tốn am thi sao Bùi Văn Dị

37. Tựa Liên đàn kê thi loại biên Cao Xuân Dục

40. Tựa Dương sơn bút phác Đỗ Hạ Xuyên

41. Tựa Đoạn trường tân thanh Phong Tuyết Chủ

Nhân Thập Thanh Thị

42. Tựa Đoạn trường tân thanh Tiên Phong Mộng

Liên Đường Chủ Nhân

43 Bài tựa Truyện hoa tiên Cao Bá Quát

44 Bài tựa Ô Châu cận lục Dương Văn An

47 Bài tựa Trúc Lâm đại chân

niên giác thanh

Phan Huy Ích

48 Bài tựa bộ sách của Ngô gia

văn phái

Phan Huy Ích

50 Tựa sách Vũ kinh trích chú Đặng Huy Trứ

Trang 24

1.4 Phân biệt tựa và bạt

1.4.1 Sự tương đồng

Tựa là văn bản nằm ngoài phần chính văn của tác phẩm Nó đượcviết để nói về mục đích, lý do, tôn chỉ, cách viết, quá trình,…sáng táchoặc biên soạn tác phẩm Qua đó, tác giả, soạn giả còn trình bày nhữngquan niệm về nhân sinh quan, thế giới quan về văn chương, họcthuật…

Bạt cũng là văn bản nằm ngoài phần chính văn của tác phẩm Bàibạt thường do người đọc khi thưởng thức tác phẩm cảm thấy có điều gì

đó cần bày tỏ thêm hay có điều gì mà bài tựa chưa nói hết, nên viết ra.Như vậy có thể thấy điểm giống nhau trước hết của tựa và bạt là cảhai thể này đều có nguồn gốc ngoại nhập (từ Trung Quốc), đều thuộcloại văn học chức năng, là những văn bản nằm ngoài phần chính văncủa tác phẩm

Xét về mặt tính chất, thể tựa và bạt cũng giống nhau, nội dung của

cả tựa và bạt đều thiên về văn nghị luận, tự sự, và còn mang sắc thái trữtình So sánh hai đoạn trích của hai bài viết thuộc hai thể tựa, bạt chúng

ta sẽ thấy rõ hơn về điều đó Trong bài tựa Tập thơ Tàng chuyết, Lê

Hữu Kiều viết:

“Thơ cốt để nói chí hướng của mình Sau khi Tam bách thiên rađời các nhà thơ đều ngâm vịnh tính tình cả, duy cổ nhân tính tìnhchân thật, khoáng đạt, cho nên điệu cười, tiếng nói cũng có thể thànhvăn chương, tình cảnh đều thấu đáo, thơ như thế thật là trác việtkhông thể theo kịp” [47; 70, 71]

Với luận điểm “Thơ cốt để nói chí hướng của mình”, Lê Hữu Kiều

đã trình bày cách hiểu phổ biến của nhà nho về mối liên hệ giữa nhân

Trang 25

cách tác giả và sáng tác thơ văn Thơ là để ngâm vịnh tính tình, tức làngâm vịnh cái phần tình cảm phù hợp với tính (bản chất) chứ khôngphải là cái tình cảm bản năng “Người làm thơ được hay như thế, tấtphải là người tài hoa và có tình cảm, tư tưởng vượt bậc, suy nghĩ rộng

và có học vấn đầy đủ, nghe, thấy được nhiều” Nhà thơ theo quan niệmnày không phải là người để cho sự kiện bên ngoài chi phối mà phải làngười chủ động lựa chọn những gì phù hợp với quan niệm chủ quan vềđạo đức và nhân cách “Trong mình sẵn điệu nhạc thiều, gặp đám đàn

ca liền tưng bừng tấu khúc, cũng như trong tay cầm hoa đẹp, đến đâucũng gieo rắc cảnh xuân” Bên trong nhà thơ phải sẵn có chí, khi gặp

sự vật có thể chuyển tải cái chí đó, thì cảnh sẽ chạm vào tâm mà gâynên cảm hứng thơ Nhưng cái chí ấy phải là cái chí có thực của nhà nho

ưu dân ái quốc chứ không phải là giả tạo, bịa đặt

Như vậy bài tựa của Lê Hữu Kiều đã đề cập đến nội dung có tínhchất nghị luận Và như ta đã biết đây cũng là kiểu biểu đạt thường gặptrong các bài tựa, bạt

Lời bạt Ảm chương công thi tập của Phạm Nguyễn Du cũng bằng

giọng văn nghị luận, tác giả lại trình bày quan điểm của mình về conngười thiên bẩm trong thơ văn Nói theo cách nói hiện đại thì muốnlàm thơ văn đòi hỏi phải có năng khiếu Nếu không có tài năng thiênbẩm thì chí dù cao, lòng dù rộng cũng không làm thơ hay được

“Thơ là tài nghệ, nhưng thánh nhân đem tài nghệ xếp vào mục chíđạo, ưu đức và hoài nhân, như vậy liệu tài nghệ có thiếu được chăng?Các bậc hiền triết ngày xưa đầy đủ ở đạo đức và nhân, nhưng vẫn cóngười chưa đầy đủ ở tài nghệ Vì tài nghệ phần nhiều nảy sinh từ thiên

Trang 26

bẩm, chứ không hoàn toàn do học vấn, đó là điều nhân tài xưa naycùng tán đồng vậy” [47; 162].

Trong lời bạt, Phạm Nguyễn Du đã bổ sung thêm quan niệm vềthơ của người xưa Thơ không chỉ để nói chí mà nó đòi hỏi tài nghệthực sự của người viết Đề cao tài nghệ của người làm thơ cũng là tácgiả đã đề cập đến vấn đề nghệ thuật thơ: “cái tài của sai sử chuyển ý,

áp vần, cái khéo của xếp đặt khởi kết, toàn bộ ngân vang, khiến ngườiđánh nhịp, tài nghệ đến như vậy là tinh vi rồi, đâu riêng sự đi tới củahọc vấn, mà còn là sự cao sáng của thiên tư” Theo tác giả, muốn làmthơ và có thơ hay phải là sự kết hợp trọn vẹn của đạo, đức, nhân và tàinghệ

Điểm giống nhau tiếp theo giữa tựa và bạt là một tác phẩm có thể

có nhiều bài tựa khác nhau và cũng như thế, một tác phẩm có thể cónhiều bài bạt khác nhau, mỗi bài bạt đưa ra những lời nhận xét, phẩm

bình bổ sung vào tác phẩm Dương mộng tập của Hà Tông Quyền

(1798-1839) đã trích dẫn bốn bài bạt cho tác phẩm này

Bài bạt thứ nhất của tác giả Phan Huy Chú Ông bày tỏ niềmngưỡng mộ và đồng cảm sâu sắc với tập thơ của Hà Tông Quyền “Thơông mênh mông như sông dài đổ biển, cô cao như cánh hạc dương trời,khí cách của thơ thì già dặn, âm vận thì du dương….” [47; 190] Ngườiviết bài bạt đã đưa ra những lời nhận xét, phẩm bình, đánh giá khái quátđối với tác phẩm Và qua lời nhận xét, phẩm bình, đánh giá của các tácgiả, người đọc có thể rút ra được những quan niệm về văn chương củacác trí thức xưa

Bài bạt thứ hai của tác giả Doãn Uẩn Khác với bài bạt của PhanHuy Chú chỉ đưa ra lời phẩm bình, đánh giá về tập thơ, Doãn Uẩn khôngchỉ đưa ra những cảm nhận khái quát về thần tập thơ mà còn nêu rõ hoàn

Trang 27

cảnh sáng tác của nó để người đọc có thể hiểu sâu sắc hơn nhân cách củangười sáng tác.

Hà Tông Quyền, một nho sinh có tài “tuổi trẻ đỗ cao”, đã từng

được triều Nguyễn trọng dụng, nhưng sau đắc tội với triều đình, lẽ ra bị

xử nặng nhưng được xét lại, cho vượt biển đi công cán sang nhiều nướcĐông Nam Á để lập công chuộc tội

Trong hoàn cảnh xã hội phong kiến Việt Nam thế kỷ XVIII, vượtbiển đi sang các nước Đông Nam Á là một dịp hiếm để nhà nho mởmang tầm hiểu biết nhưng cũng là một cuộc hành dịch nặng nề, đầy sự

đe dọa, thử thách Với hoàn cảnh đó nên Doãn Uẩn đánh giá rất cao nhâncách nhà nho, đức nghiệp nhà nho của Hà Tông Quyền “Cái đức và sựnghiệp nằm ngay ở nơi hoạn nạn, từ sự mài dũa lớn lao này” Doãn Uẩncũng đứng trên lập trường nho giáo về văn nghệ để “phê bình” tập thơ.Theo lập trường này, điều cốt lõi của tác phẩm văn học là cái đạo đứcthể hiện, còn nghệ thuật chỉ là phụ Do vậy mà ông chỉ nói đôi dòngchiếu lệ về nghệ thuật tập thơ nơi phần kết của bài bạt: “Còn như đối với

sự tinh tế của cách luật, sự âm vang của vần luật, sự cao nhã của lí trí,phải tìm nó nơi người xưa, còn tôi chưa quen với Phong Tao, nên chưadám đem nó để bình luận sự lớn lao của ông vậy” [47; 206] Cách nóicủa Doãn Uẩn vừa thể hiện sự khiêm tốn lại vừa thể hiện một quan niệmkhá phổ biến của các nhà nho thời trung đại

Bài bạt thứ ba của Ngô Thế Vinh Ông mở đầu bài bạt bằng mộthình tượng quen thuộc đối với người xưa diễn đạt mối quan hệ giữa tình

và cảnh, tức giữa chủ thể và khách thể thẩm mỹ trong thơ: ống sáo vàgió Khi gió thổi vào ống sáo thì tạo nên âm thanh du dương trầm bổng.Phải có gió thì mới có tiếng sáo, gió là tác động của ngoại cảnh Tuynhiên, nếu gió thổi vào một vật đặc, chẳng hạn như khúc gỗ thì cũng

Trang 28

không thể có âm thanh được Từ đó, người xưa thể hiện quan niệm vềphẩm chất chứa có sẵn bên trong thế giới nội tâm của nhà thơ Nó giốngnhư ống trúc đón nhận gió Theo quan niệm đó, Ngô Thế Vinh đề cao

bản lĩnh, nhân cách nhà nho của tác giả tập thơ Dương mộng tập Cách lí

giải của Ngô Thế Vinh như muốn cắt nghĩa tại sao lại có tập thơ mang

tên Giấc mơ nơi biển cả này Các cảnh vật kì vĩ chưa từng thấy, sự gian

nan hiểm nguy đe dọa…đối với Hà Tông Quyền chỉ là những cơn giókhác nhau giúp bộc lộ hoài bão lớn lao của nhà nho, ý nghĩa trung vớiquân vương, hiếu với cha mẹ Thơ ông dừng nơi lễ nghĩa Nhân cách đạođức nhà nho là cái chứa chất sẵn trong tâm tác giả, cảnh vật chỉ giúp cho

nó hiện lên thành lời

Bài bạt thứ tư của tác giả Phan Thanh Giản thêm một lời bình chotập thơ của Hà Tông Quyền Qua bài bạt, Phan Thanh Giản đã thể hiệnmột cách tiếp nhận thơ gần giống với cách tiếp nhận của tác giả PhanHuy Chú, nắm bắt cái thần của tác phẩm Tác giả bài bạt đã cảm nhậnđược “sự linh kì biến hóa” huyền diệu của tập thơ, cảm nhận được tâm

sự “bất đắc chí” nhưng được giấu kín trong lòng nơi tác giả của nó

Về bố cục và lời văn nghệ thuật, theo một số nhà nghiên cứu, tựa,bạt đều được xếp vào hình thức tản văn, không gò bó về bố cục, câu chữ.Thể tựa, bạt có thể thay đổi một cách linh hoạt tùy thuộc vào mục đíchcủa người viết Tuy nhiên, dù không gò bó về bố cục, câu chữ, ngôn từ

trong văn bản tựa, bạt rất hàm súc, cô đọng Bài bạt Cấn trai thi tập của

Ngô Thì Vị có đoạn viết: “Một ngày kia, bài ca khi gió ấm, khúc ngâmmừng đứng lên Nếu cửu trùng có điều giao phó chắc ông là người trong

những con người như Hán, Phạm, Âu, Tô Còn như tập Quan quang là

tập thơ ông làm thời đắc chí, việc nước đã xong ước quyền của ta cũngtoại, thế là ông vá may ngọc lụa, xem xét phồn vi, tâm bình cho nên

Trang 29

không lo hiểm họa, cảnh thuận cho nên không có lời nguy, nhưng chưa

đủ đem những điều đó làm sự kì vĩ của ông” [47; 153]

Bài bạt được viết vào cuối thể kỷ thứ XVIII, in rõ dấu ấn của hìnhthức văn chương thời trung đại: cô đọng, hàm súc với nhiều điển tích,điển cố Không phải không có cảm xúc nhưng cảm xúc đó được baochứa, cô nén trong những cách diễn đạt khuôn mẫu: “Tình sầu mà khônggiả dối, phong cách thuầu hậu mà không hỗn tạp, sự việc chân thật,không hoang đường, nghĩa lí thẳng thắn không quanh co, bố cục gọngàng không rối rắm, lời văn đẹp mà không lòe loẹt…”

Nếu đi sâu xem xét nội dung và hình thức của các bài tựa, bạt còn

có thể tìm thấy nhiều điểm giống nhau của chúng Tuy nhiên, do giới hạncủa đề tài chúng tôi chỉ so sánh những đặc điểm giống nhau và khácnhau cơ bản nhất, trên cái nhìn tổng quát của hai thể này

1.4.2 Sự khác biệt

Tìm hiểu trong cuốn 10 thế kỷ bàn luận về văn chương (Từ thế kỷ X

đến nửa đầu thế kỷ XX), tập I, NXB Giáo dục, 2007 có 70 lời tựa và 11bài bạt thuộc văn học Việt Nam thời trung đại Như vậy có thể thấy sốlượng bài tựa lớn hơn số lượng bài bạt Mặc dù xếp chung thể tựa, bạtnhưng vai trò chính thuộc về thể tựa, còn bạt chỉ giữ vai trò thứ yếu

Xét về mặt chức năng, mặc dù tựa, bạt đều thuộc văn học chứcnăng nhưng tựa có chức năng chính giới thiệu về tác phẩm hoặc côngtrình biên soạn thì chức năng của bạt chỉ là những lời bàn thêm, bổsung vào phần thiếu sót của bài tựa về tác phẩm hoặc công trình biênsoạn đó Vì vậy xét về vị trí, các bài tựa thường đứng trước (và cũng cóthể đứng sau tác phẩm hoặc công trình biên soạn – gọi là hậu tự) thìcác bài bạt chỉ đứng sau tác phẩm hoặc công trình biên soạn

Trang 30

Tựa có thể do chính tác giả, soạn giả viết hoặc cũng có thể dongười khác viết còn bạt chủ yếu do người khác viết Tựa có thể của tácphẩm sưu tập hoặc của tác phẩm sáng tác nhưng bạt tập trung nhiềuhơn ở các tác phẩm sáng tác.

Về hình thức kết cấu, nếu ở bài tựa thường có hai phần: phần nộidung và phần lạc khoản (một số bài tựa chỉ có phần chính mà không cóphần lạc khoản) thì các bài bạt chỉ có một phần nội dung Phần nội dungcủa bài tựa thường có hai phần: Phần thuyết lí và phần tự sự thì phần nộidung của bài bạt thường chỉ có một phần: bàn về tác phẩm

Cùng sử dụng nội dung mang tính chất nghị luận và tự sự nhưngnếu tựa sử dụng nghị luận và tự sự nhằm nêu rõ lí do, quá trình làm sách,bày tỏ một số quan niệm về văn chương thì bạt dùng nghị luận và tự sựnhằm mục đích trình bày những quan niệm văn chương có tính bổ sung,

bàn luận Ví dụ trong bài tựa Phong trúc tập, Nguyễn Dưỡng Hào viết:

“Bạn tôi là Tấn Giang Ngô quân Hon Phác, thủa nhỏ tập thờivăn, rất giỏi về thơ Rồi chán tiếng rườm rà của thói đời, hăng hái tìmtiếng nguyên chất của thiên hạ, do đó mà ra Phật vào Tiên, tìm điều tỉ

mỉ, rút điều kín đáo, hầu hơn mười năm mà chẳng được gì…Tiên sinhbình sinh rất ưa trúc, ở chỗ nào thì cũng trồng trúc ngay trước song,trong lúc nhàn chơi, gió thanh nhẹ đến, sang sảng lên tiếng, thật là sựhòa hợp nhiệm màu.Trúc không có ý với gió, nhưng gió đến thì trúc

động mà sinh tiếng; …Vậy cho nên tập thơ đề là Phong trúc” [47; 164].

Đoạn văn sử dụng chủ yếu là phương thức tự sự, kết hợp vớinghị luận nhằm để giới thiệu về tác giả của tập thơ và quá trình sáng tác

nó Người viết dường như không chú trọng đến lời bàn về nội dung, nghệthuật của tác phẩm nên trong bài tựa chỉ xen kẽ một và đoạn văn ngắnđưa ra những lời bình phẩm khái quát nhất

Trang 31

Trong bài bạt Phong Trúc tập của Trần Thế Xương, dù rất ngắn

nhưng Thế Xương đã dành hầu như trọn cả bài viết để bình về tập thơ

Phong trúc tập Bài viết chủ yếu dùng phương thức nghị luận kết hợp

tự nhiên chợt đến, muốn sáo đều kêu, mà sao lại lấy riêng cây trúc màđặt tên? Là vì trúc là cái vật có vẻ giống như đức của người quân tử.Xem cái chí biểu lộ ra ở tên tập thơ thì đại khái có thể tưởng biết đượcngười, huống chi lại được đọc thơ nữa” [47; 165]

Trong văn học trung đại chưa có bộ môn phê bình văn học thực sự

nhưng những lời bạt về tâp thơ Phong trúc tập của Trần Thế Xương đã

góp phần chứng minh rằng hình thức phê bình văn học đã manh nha từthời trung đại Tác giả không chỉ đưa ra ra những lời bình về nội dungcủa tập thơ như “xúc cảm dồi dào”, “Tính tình đúng đắn”… mà ông cònbàn đến hình thức nghệ thuật của nó: “thanh điệu tự nhiên”, “âm vậnkhông cùng”… Trong lời bạt, Trần Thế Xương đã bày tỏ niềm đồng cảmsâu sắc với sở thích, chí hướng của người viết tập thơ Giải thích việc đặtnhan đề tập thơ cũng là một biểu hiện của mối quan hệ đồng cảm này

Như vậy có thể thấy nếu tựa tập trung trình bày lí do, quan điểm

và quá trình làm sách thì bạt lại thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận vềtập sách Bài bạt gần với hình thức phê bình văn học sau này hơn Tìmhiểu thêm một số công trình văn học thời hiện đại, chúng tôi thấy hình

Trang 32

thức thể tựa trong văn học Việt Nam thời trung đại được biến thể thành

lời nói đầu, lời giới thiệu, lời tự bạch… còn hình thức thể bạt được biến

thể bằng các lời bạt, đôi điều suy nghĩ thêm, hoặc lời nói sau, lời cuối

sách…

Tuy nhiên, do sự phát triển của thể loại càng về sau khoảng cáchkhác biệt giữa thể tựa và thể bạt càng được rút ngắn Đặc biệt ở các bàitựa của các tác phẩm sáng tác do người khác viết, việc trình bày lí do,tôn chỉ, quá trình làm sách được lược bỏ bớt và thay vào đó là những lờiviết nghiêng về nội dung cảm nhận và thẩm bình tác phẩm Những bài

tựa Đoạn trường tân thanh của Phong Tuyết Chủ Nhân Thập Thanh Trị

hoặc của Tiên Phong, Mộng Liên Đường Chủ Nhân đều như thế Vì vậy,không phải ngẫu nhiên mà tựa, bạt được xếp chung một thể: thể tựa, bạt

Vị trí của hai loại văn bản này cũng góp phần tạo nên sự khác biệt

giữa chúng Người đọc tựa khi chưa đọc tác phẩm nên người viết tựa cần

có sự định hướng, giãi bày Bài bạt được đọc sau khi đọc xong tác phẩmnên có những nội dung không cần trình bày nữa, thay vào đó là sự chia

sẻ tư tưởng, cảm xúc

Trang 33

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA BÀI TỰA CÔNG TRÌNH SƯU TẬP

2.1 Đặc điểm nội dung

2.1.1 Thể hiện tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “ Dân tộc ta có một lòng nồngnàn yêu nước” Đó là truyền thống quý báu và lâu đời của nhân dân ta.Truyền thống đó đã trở thành nội dung cảm hứng lớn xuyên suốt mườithế kỷ của văn học trung đại mà tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc là mộtbiểu hiện Tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc của người xưa được thể hiệnmột cách sinh động qua các bài tựa Đó là ý thức khẳng định dân tộc,khẳng định ranh giới, chủ quyền quốc gia, khẳng định nền văn hóa lâuđời của dân tộc… Và quan trọng hơn ý thức đó đã được thể hiện bằnghành động

Việc sử gia biên soạn các bộ sử luôn thể hiện tinh thần độc lập dântộc, chủ quyền quốc gia, khẳng định chế độ phong kiến chính thống Bêncạnh đó, việc biên soạn các bộ sử còn thể hiện một nền văn học riêng

biệt sánh ngang với phương Bắc Trong bài tựa Đại việt sử ký toàn thư,

sử thần Ngô Sĩ Liên viết:

“Đời xưa các nước đều có sử, như Xuân thu của nước Lỗ, Đào ngộtcủa nước Tấn, Thặng của nước Sở, đều là sử cả Nước Đại Việt ta ở phíaNam Ngũ Lĩnh, thế là trời đã phân chia Nam Bắc Thuỷ tổ ta khởi từ concháu Thần Nông, thế là trời đã sinh ra chân chúa, vì thế mới cùng vớiBắc triều làm chủ một phương” [46; 34]

Đánh giá về tinh thần của sử gia Ngô Sĩ Liên, Bùi Văn Nguyên đãnhận định: “Rõ ràng Ngô Sĩ Liên đã phát triển ý tự cường dân tộc ở đoạn

đầu trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi Bộ Đại Việt sử ký toàn

Trang 34

thư này rất có giá trị, chẳng những nó là cơ sở cho các bộ sử sau này của

ta mà còn là tài liệu tham khảo điển phạm cho các nhà sử học ngoạiquốc” [32; 87]

Trong bài tựa Lĩnh Nam chích quái, Vũ Quỳnh cũng viết:

“Quận Quế Dương tuy ở ngoài Ngũ Lĩnh nhưng núi sông tú lệ, đấtđai linh thiêng, những người hào kiệt, những việc thần dị đời nào cũngcó” [47; 45]

Một lần nữa Vũ Quỳnh khẳng định ranh giới Nam – Bắc bằng NgũLĩnh và chứng minh về nền văn hiến của Đại Việt qua những tiêu chí

“núi sông tú lệ, đất đai linh thiêng, những người hào kiệt, những việcthần dị” thể hiện một trình độ văn minh cao sánh ngang với Trung Hoa

Trong đề tựa tập thơ Việt âm mới san định, soạn giả Phan Phu

Tiên viết: “Nước ta là một nước văn hiến, các bậc văn nhân tài tửkhông phải không nhiều…” [47; 21]

Phan Phu Tiên thể hiện niềm tự hào dân tộc bằng việc khẳngđịnh “các bậc văn nhân tài tử không phải không nhiều”, Lý Tử Tấncũng đồng quan điểm với Phan Phu Tiên khi ông viết: “ Nước Việt ta,

từ khi lập quốc tới nay, có nhiều nhà thơ nổi tiếng với đời” [47; 22],còn Hoàng Đức Lương lại thể hiện tinh thần dân tộc bằng tấm lòng xót

xa trước những di sản của tiền nhân bị tan nát trôi chìm Ông viết

trong bài Tựa Trích diễm thi tập:

“Than ôi! Một nước văn hiến, trải mấy nghìn năm xây dựng, lẽ nàokhông có một quyển sách để làm chứng tích, mà phải tìm đọc xa xôi qua thơ

ca đời Đường, như thế chẳng đáng đau xót lắm sao?” [47; 29]

Tác giả khẳng định dân tộc Đại Việt có nền văn hiến “trải mấynghìn năm” và ông cũng bày tỏ nỗi niềm xót xa khi một dân tộc như

Trang 35

thế mà “không có một quyển sách để làm chứng tích, mà phải tìm đọc

xa xôi qua thơ ca đời Đường”.Ông muốn góp phần làm sống lại nềnvăn hoá dân tộc Tự hào về nền văn hiến, văn học dân tộc Xuất phát

từ ý thức trách nhiệm với nền văn học dân tộc, tác giả đã kín đáo chêtrách những bậc danh nhân làm quan to nhưng không làm tròn bổnphận Ông viết:

“Thật ra, những bậc danh nho làm quan ở các công sở nhưquán, các , có thể vì công việc bận rộn, không có thời giờ để biên tập.Còn các quan viên thuộc cấp thấp mọi nơi, có khi còn lật đật lo thi

cử, hoặc lo công việc hằng ngày, cũng không để ý” [47; 29]

Trong tâm trí người Việt, tổ tiên là một điều cực kỳ thiêng liêng.Cho đến ngày nay người ta vẫn khẳng định có thuỷ tổ của dân tộc vàngày giỗ tổ Hùng Vương Ca dao có câu:

Dù ai đi ngược, về xuôi, Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng Ba.

Trong bài tựa Lĩnh Nam chích quái, Vũ Quỳnh viết:

“Nước Việt ta mở đầu từ Hùng Vương, dần tiến hoá lên văn minh,các đời Triệu, Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần còn ở bước đầu Đến nay thì đãthành tựu, cho nên biên chép việc cũ có phần rõ ràng hơn” [47; 45]

Cách nhìn của Vũ Quỳnh về cơ bản vẫn dựa vào truyền thuyết vềthời Hùng Vương – khởi thuỷ của người Việt Nhưng từ lúc các triều đại

“Triệu, Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần” đã có tín sử, việc ghi chép được “rõ rànghơn”, nên đã khẳng định lịch sử nước Đại Việt “dần tiến lên văn minh”

Trần Thế Pháp có cách nhìn nhận giống Vũ Quỳnh Trong Cổ

thuyết tựa dẫn, ông viết:

Trang 36

“Miền Quế Hải tuy ở ngoài Ngũ Lĩnh, nhưng núi sông cảnh lạ, chonên đất thiêng người hùng, thông thường đời nào cũng có” [47; 41], và

“Người Việt dựng nước nguyên từ thời Hùng Vương, nếp văn minh dầndần tăng tiến, như nước tràn chén, ngay từ các thời Triệu, Ngô, Đinh, Lê,

Lý, Trần cho đến nay, mọi việc quy về một mối, như nước chảy xuốngkhông vơi cho nên, quốc sử mới được ghi chép rõ ràng hơn” [47; 42]

Như vậy, có thể thấy dù sự nhìn nhận, cách thể hiện khác nhaunhưng các tác giả đều cùng chung tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc Đây

cũng chính là một nội dung quan trọng của văn học trung đại Việt Nam

2.1.2 Thể hiện chức năng giáo dục.

Quan niệm xem văn học như một hình thức giáo dục tư tưởng –

đạo đức đã có truyền thống khá lâu đời Từ thế kỷ XV, trong bài tựa Đại

Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên viết:

“Sử để chép việc, mà việc hay dở, được mất dùng làm gương răncho đời sau Nhưng vì nước ta thiếu sử sách biên chép, mà sự thực đều

do truyền văn, lời ghi có phần quái đản, công việc có phần sót quên, chođến sao chép lầm lẫn, biên soạn hỗn tạp, như vậy chỉ làm loạn mắt, còndùng làm gương sao được” [47; 34]

Ngô Sĩ Liên nhấn mạnh việc “làm gương răn cho đời sau” và vănhọc còn giúp cho sự nhận thức thẩm mĩ Nếu như lời văn “quái đản,nhầm lẫn, phồn tạp”, thì mất tính giáo dục, “chỉ làm loạn mắt” Sự tiếpnhận văn học cần phải có thế giới quan, hoạt động nhận thức, để phânbiệt việc hay - dở, được - mất

Vũ Quỳnh khi bàn đến tính chất của văn học dân gian đã chỉ ra

chức năng giáo dục của nó Trong bài tựa Lĩnh Nam chích quái, ông viết:

“Việc tuy kì dị mà không đến nỗi huyễn hoặc, văn tuy thần bí màkhông đến nỗi yêu tà, tuy có phần hoang đường mà tung tích vẫn có

Trang 37

phần bằng cứ Đó chẳng qua là để khuyến thiện trừng ác, bỏ nguỵ giữchân, cốt để phong tục tốt đẹp hơn mà thôi” [47; 46].

Phần lớn những câu chuyện trong Lĩnh Nam chích quái liệt truyện

đều ảnh hưởng từ văn học dân gian, việc biên chép chúng để thực hiệnmột chức năng giáo dục là “khuyến thiện trừng ác, bỏ ngụy giữ chân”

và “cốt để phong tục tốt đẹp hơn” Sự tác động của văn học đến conngười thường diễn ra dần dần, nó không thể khiến cho con người lậptức ngăn chặn điều ác hay làm việc thiện ngay, nó giúp con người ýthức được việc thiện, việc ác Ý thức đó sẽ khuyến khích con ngườihành động tốt đẹp, ngăn chặn con người hành động xấu xa, làm cho xãhội và phong tục tốt đẹp

Mở đầu bài Hậu tự Lĩnh Nam chích quái liệt truyện, Kiều Phú

viết: “Kẻ ngu này cho rằng sự việc thường thấy thì được trình bày trongkinh sử để giáo huấn người đời sau” [47; 47]

Kiều Phú đã xác định kinh sử thuộc văn học chức năng, nó phải có ýnghĩa cho việc “giáo huấn người đời sau” Ý kiến của Kiều Phú cũng tươngđồng với Ngô Sĩ Liên khi nói đến giá trị của kinh sử đối với con người

Bàn về chức năng giáo dục của văn học, Nguyễn Thiên Túng đã

trình bày ý kiến của mình Trong bài tựa Quần hiền phú tập, ông viết:

“Triều Lê ta chấn hưng văn trị, mở khoa thi chọn kẻ sĩ, cân nhắc thànhnếp, kì thi tam trường lấy thơ phú để xét thí sinh” [47; 50]

Nguyễn Thiên Túng đã đánh giá cao sự “chấn hưng văn trị” củatriều Lê, nhất là thời Lê Thánh Tông “Văn trị” là một sách lược tíchcực của Nho giáo, dùng văn giáo để thi hành chính sách cai trị dânchúng Muốn có được một xã hội có văn trị tốt, phải chọn kẻ sĩ, hiền tài

mà thơ phú là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để thực hiện việc

đó qua con đường giáo dục khoa cử

Trang 38

Trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, chức năng giáo dụccủa văn học cũng bộc lộ khác nhau và cách thực hiện nó cũng khônggiống nhau Thời kỳ văn học trung đại Việt Nam, chức năng giáo dụcđược đề cao và được thể hiện rõ qua các bài tựa.

2.1.3 Quan niệm về con người thần dị

Trong các nền văn học trên thế giới, vị trí của con người luônđược coi là trung tâm Văn học phản ánh đời sống con người Trong bài

tựa bạt của các tác phẩm giai đoạn văn học này tuy có những ý kiến khác

nhau, nhưng đều tập trung nói về con người

Trước hết là đề cập tới hình ảnh, giá trị, vị trí của con người thần

dị Họ vừa là những con người linh thiêng, vừa là những con người anhhùng hào kiệt… tạo sức hấp dẫn cho người đọc Con người thần dị đượcphản ánh nhằm giải thích hiện tượng của cuộc sống Loại nhân vật này

đã chi phối đời sống tâm linh của người Việt Nam thời trung đại Quanniệm nghệ thuật về con người thần dị chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các tôn

giáo, đặc biệt từ Đạo giáo và tôn giáo bản địa Trong bài tựa Việt điện u

linh tập, Lý Tế Xuyên viết:

“Thánh nhân xưa nói: Những bậc thông minh, chính trực mới đánggọi là thần, tà ma, quỷ quái mà lạm gọi là thần được đâu!” [47; 9]

Con người thần dị được Lý Tế Xuyên nhắc tới là thần được thờtrong các đền miếu ở “nước Hoàng Việt ta” Tuy nhiên hiện tượng lạmxưng của các thần đã tạo ra sự lầm tưởng Phải là “những bậc thôngminh, chính trực mới đáng được gọi là thần” như thánh nhân xưa nói

Sở dĩ họ “đáng gọi là thần” là vì: “Có vị là núi sông tinh tuý, có vị lànhân vật kiệt linh, khí thế rừng rực lúc đương thời, linh thiêng toả rộngđến đời sau” [47; 9]

Trang 39

Đó là nói về công lao của các vị thần Họ phải có “công tích lớnlao, cứu giúp sinh linh” Quan niệm của Lý Tế Xuyên về thần – conngười thần dị rất rõ ràng, xác đáng thể hiện một giá trị nhân bản cao.

Vũ Quỳnh thể hiện quan niệm về con người thần dị qua một ý kiến

trong bài tựa Lĩnh Nam chích quái liệt truyện Ông viết: “Việc tuy kì dị

mà không đến nỗi huyễn hoặc, văn tuy thần bí mà không đến nỗi yêu tà.Tuy có phần hoang đường mà tung tích vẫn có phần bằng cứ, đó chẳngqua là để khuyến thiện trừng ác, bỏ nguỵ giữ chân, cốt để phong tụcđược tốt đẹp mà thôi” [47; 46]

Những con người thần dị được thể hiện trong Lĩnh Nam chích quái

liệt truyện phần lớn thuộc văn học dân gian Việc biên chép lại các câu

chuyện đó qua truyền miệng nhằm đạt tới mục đích “khuyến thiện trừng

ác, bỏ nguỵ giữ chân” và “cốt để phong tục được tốt đẹp hơn”

Khi thể hiện những quan niệm về con người thần dị, các tác giảcũng muốn bày tỏ những mơ ước, khát vọng một cuộc sống tốt đẹp hơn,

“thần tiên” hơn, và cũng qua đó để giải thích nguồn gốc cuộc sống conngười, sự vật, hiện tượng…

Với mong muốn cuộc sống con người tốt đẹp hơn còn được Hồ

Nguyên Trừng viết trong bài tựa Nam Ông mộng lục:

“Một mặt để nêu ra những việc thiện nhỏ của tiền nhân, một mặt đểcung cấp những chuyện lạ tai cho người quân tử” [47; 20] Nhữngchuyện “lạ tai” là nói về những con người thần dị, với những nghĩa cửcao cả, cứu giúp sinh linh, Hồ Nguyên Trừng chỉ dám nói là “việc thiệnnhỏ” Sở dĩ ông đề cao những việc thiện là bởi một quan niệm rõ ràng.Ông viết tiếp:

“Việc thiện tôi thích nghe nên nhớ được; còn chuyện bất thiệnkhông phải không có nhưng tôi không nhớ được” [47; 19]

Trang 40

Về nghệ thuật, việc “cung cấp những chuyện lạ tai” là công việccủa người sáng tác văn học nghệ thuật Quan niệm về nghệ thuật của

Hồ Nguyên Trừng thật sâu sắc

Quan niệm nghệ thuật về con người thần dị cũng được Kiều Phú

trình bày trong bài Hậu tự Lĩnh Nam chích quái liệt truyện Ông viết:

“Sự việc quái lạ thì được ghi chép trong truyện kí để mở rộng truyện

kì lạ” [47; 47]

Kiều Phú đã cho rằng truyện kí thuộc văn học nghệ thuật thì ghichép sự việc quái lạ để “mở rộng chuyện kì lạ” Kiều Phú đã đề cao

“chuyện kì lạ” Gía trị này thể hiện sáng tạo thẩm mĩ của nhà văn

Trong bài Hậu tự, Kiều Phú viết: “Còn như sự linh thiêng của núi

sông, sự kì dị của nhân vật, thì tuy rằng ngòi bút của các nhà chép sửkhông ghi lại, nhưng mà truyền miệng cũng không ngoa” [47; 47]

Người xưa đã thấy được mối quan hệ giữa tư liệu văn học dângian và văn học nghệ thuật Những “sự linh thiêng của núi sông, sự kì

dị của nhân vật” được “truyền miệng” trong dân gian đã trở thành chấtliệu sáng tác văn học nghệ thuật

Quan niệm nghệ thuật về con người thần dị mà các tác giả đề cậptới, tuy chưa đạt đến tầm lí luận, nhưng là dấu hiệu cho sự phát triểncủa văn học nghệ thuật trong các giai đoạn sau

2.1.4 Quan điểm về ngôn từ nghệ thuật

Văn học là nghệ thuật ngôn từ, vì vậy nó phải đạt được giá trịthẩm mỹ cao Cùng với việc đó, văn học phải đạt giá trị nội dung sâusắc, nên nghệ thuật ngôn từ được coi là quan trọng bậc nhất Trong quanniệm này, các tác giả có ảnh hưởng từ nhiều tư tưởng khác nhau, nhưng

Ngày đăng: 18/12/2013, 22:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Huy Chú (1961), Lịch triều hiến chương loại chí – Văn tịch chí, tập 1, Nhóm biên dịch Viện Sử học Việt Nam, NXB Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí – Văn tịch chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXB Sử học
Năm: 1961
2. Lê Quý Đôn (1962), Kiến văn tiểu lục, NXB Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến văn tiểu lục
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: NXB Sử học
Năm: 1962
3. Lê Quý Đôn (1964), Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ biên tạp lục
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: NXB Khoa học
Năm: 1964
4. Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt thông sử
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1978
5. Văn Giang (1984), “Tựa tựa Kỳ Xuyên văn sao của Nguyễn Thông”, Tạp chí văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tựa tựa Kỳ Xuyên văn sao của NguyễnThông”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Văn Giang
Năm: 1984
6. Trần Văn Giáp (1984), Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập 1, NXB Văn hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm
Tác giả: Trần Văn Giáp
Nhà XB: NXBVăn hoá
Năm: 1984
7. Trần Văn Giáp (1990), Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập 2, NXB Văn hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm
Tác giả: Trần Văn Giáp
Nhà XB: NXBVăn hoá
Năm: 1990
8. Hồ Sĩ Hiệp (1979), “Tựa Tĩnh phố thi tập của Nguyễn Miên Trinh”, Tạp chí văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tựa Tĩnh phố thi tập của Nguyễn MiênTrinh”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Hồ Sĩ Hiệp
Năm: 1979
9. Lưu Hiệp (1999), Văn tâm điêu long, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn tâm điêu long
Tác giả: Lưu Hiệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1999
10. Lê Huy – Hồ Lãng (1973), “Người xưa viết về nghệ thuật”, Nghiên cứu nghệ thuật, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người xưa viết về nghệ thuật”,"Nghiên cứu nghệ thuật
Tác giả: Lê Huy – Hồ Lãng
Năm: 1973
11. Lê Huy – Hồ Lãng (1978), “Người xưa viết về nghệ thuật”, Nghiên cứu nghệ thuật, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người xưa viết về nghệ thuật”,"Nghiên cứu nghệ thuật
Tác giả: Lê Huy – Hồ Lãng
Năm: 1978
12. Đỗ Văn Hỷ, Tựa Hoàng Phác (1980), “Chiến cổ thi tập của Phạm Nguyễn Du”, Tạp chí văn học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến cổ thi tập của PhạmNguyễn Du”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Đỗ Văn Hỷ, Tựa Hoàng Phác
Năm: 1980
13. Đỗ Văn Hỷ (1980), “Thi tệ giải trào của Trần Bích San”, Tạp chí văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi tệ giải trào của Trần Bích San”, "Tạp chívăn học
Tác giả: Đỗ Văn Hỷ
Năm: 1980
14. Đỗ Văn Hỷ (1981), “Tựa Tây hồ mạn hứng của Phạm Nguyễn Du”, Tạp chí văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tựa Tây hồ mạn hứng của Phạm NguyễnDu”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Đỗ Văn Hỷ
Năm: 1981
15. Đỗ Văn Hỷ sưu tầm (1993), Người xưa bàn về văn chương, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người xưa bàn về văn chương
Tác giả: Đỗ Văn Hỷ sưu tầm
Nhà XB: NXBKhoa học xã hội
Năm: 1993
16. Đỗ Văn Hỷ sưu tầm (1993), Người xưa bàn về văn chương, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người xưa bàn về văn chương
Tác giả: Đỗ Văn Hỷ sưu tầm
Nhà XB: NXBKhoa học xã hội
Năm: 1993
17. Nguyễn Phạm Hùng (1996), Văn học Lý – Trần nhìn từ thể loại, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Lý – Trần nhìn từ thể loại
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
18. Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương (1978-1979), Văn học Việt Nam thể kỷ X – nửa đầu thể kỷ XVIII, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thể kỷ X – nửa đầu thể kỷ XVIII
Nhà XB: Nhà xuất bảnĐại học và Trung học chuyên nghiệp
19. Ngô Sĩ Liên (1970-1971), Đại Việt sử kí toàn thư, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử kí toàn thư
Nhà XB: NXB Khoa họcxã hội
20. Phương Lựu (1979), “Quan niệm văn chương yêu nước và tự hào dân tộc của ông cha ta”, Tạp chí Văn nghệ quân đội, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm văn chương yêu nước và tự hàodân tộc của ông cha ta”, Tạp chí "Văn nghệ quân đội
Tác giả: Phương Lựu
Năm: 1979

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w