1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu lịch sử văn hoá dòng họ ở quỳnh đôi quỳnh lưu nghệ an

93 865 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Lịch Sử Văn Hóa Dòng Họ Ở Quỳnh Đôi - Quỳnh Lưu - Nghệ An
Tác giả Hồ Hoàng Đồng
Người hướng dẫn GVC ThS. Hoàng Quốc Tuấn
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch Sử Văn Hóa
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 23 Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu 2 4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu 3 5 Đóng góp khoa học - giá trị thực tiễn 3 2.2 Những đóng góp của các dòng h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

KHOA LỊCH SỬ -

HỒ HOÀNG ĐỒNG

KHOÁ LUẬN TèT NGHIỆP T×M HIÓU LÞCH Sö V¨N Ho¸ DßNG Hä ë

Quúnh §«i - QUúNH LU – NGHÖ AN

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VĂN HÓA

Trang 2

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu 2

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp khoa học - giá trị thực tiễn 3

2.2 Những đóng góp của các dòng họ Quỳnh Đôi vào công cuộc

phát triển văn hoá làng Quỳnh 322.3 Một số dòng họ điển hình 36

Chơng 3 Đặc điểm kiến trúc điêu khắc nhà thờ các dòng họ Quỳnh

Đôi – Quỳnh L Quỳnh L u - Nghệ An

623.1 Đặc điểm kiến trúc điêu khắc nhà thờ họ Hồ – Quỳnh L Quỳnh Đôi 633.2 Đặc điểm kiến trúc điêu khắc nhà thờ họ Nguyễn - Quỳnh Đôi 703.3 Đặc điểm kiến trúc điêu khắc nhà thờ họ Hoàng - Quỳnh Đôi 73

Truyền thống văn húa dũng họ bồi đắp lờn truyền thống dõn tộc trong qỳakhứ cũng như trong hiện tại và tương lai một cỏch tự phỏt, cỏc dũng họ đó cúnhững đúng gúp ở những mức độ khỏc nhau đối với cụng cuộc xõy dựng và bảo

vệ Tổ quốc Dũng họ đó sỏng tạo nờn những di sản văn húa vụ gía, dũng họ cũn lànhững chiếc nụi sinh ra những nhõn tài cho đất nước Vỡ vậy việc nghiờn cứu Lịch

sử văn hoá dũng họ là một việc làm cú ý nghĩa hết sức to lớn trong việc giữ gỡn vàphỏt huy truyền thống văn húa dũng họ Gớúp chỳng ta hiểu rừ hơn về truyềnthống dũng họ cũng như về cuộc đời sự nghiệp cỏc danh nhõn mà chớnh họ là

Trang 3

những con người được sinh ra từ các dòng họ từ đó rút ra những bài học qúy gía

để giáo dục đào tạo những nhân tài cho đất nước nhằm thực hiện “Chiến lược con

người thế kỷ 21” và góp phÇn xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Uống nước nhớ nguồn là truyền thống đạo lý của người Việt Nam đã tồntại hàng ngàn năm nay Dù tr¶i qua thăng trầm lịch sử, đất nước lúc thịnh lúc suythì truyền thống văn hóa dòng họ vẫn được ghi nhận và ngày càng phát triển.Ngày nay khi đất nước hòa bình thống nhất, kinh tế văn hóa phát triển thì việc tìm

về cội nguồn ngày càng lớn Vì vậy việc nghiên cứu văn hóa dòng họ có một ýnghĩa hết sức to lớn nhằm phát huy và cũng cố khối đại đoàn kết toµn dân tộc Làm cho các dòng họ đoàn kết với nhau trong một cộng đồng chung hết sức

tránh khuynh hướng “Tộc đảng”, khuynh hướng độc tôn dòng họ để t¹o nên một

sức mạnh vô địch cùng với đất nước bước vào một thời kỳ lịch sử mới dù phíatrước đầy khó khăn thử thách nhưng chắc chắn sẽ đạt được những kết qủa to lớn

Trang 4

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu:

Đề tài nghiờn cứu: “Tỡm hiểu lịch sử văn húa dũng họ ở Quỳnh Đụi –

Quỳnh Lưu - Nghệ An” là một đề tài mới hấp dẫn lý thỳ, nú đũi hỏi sự bền bỉ

cụng phu và nhiệt tỡnh, đảm bảo tớnh sỏt thực Ngày nay với xu thế trở về với cộinguồn cựng với sự quan tõm của Đảng và Nhà nước, ở một số địa phương đó tổchức được cỏc cuộc hội thảo lịch sử văn húa dũng họ Một số nhà nghiờn cứu đóbắt đầu để tõm nghiờn cứu về dũng họ nổi tiếng hoặc cỏc nhõn vật nỗi tiếng củacỏc dũng họ như: họ Hồ ở Quỳnh Đụi, Nguyễn Sinh ở Nam Đàn, Họ Đặng ởHương Diễn - Thanh Chương - Nghệ An, dũng họ Hoàng ở Quỳnh Đụi - Nghệ

An, vài nột về dũng họ Tụn ở Thanh Chưong …hoặc đó nghiờn cứu cỏc nhõn vậrnổi tiếng như Hồ Quý Ly, Hồ Tụng Thốc, Hồ Tựng Mậu, Nguyễn Sinh Sắc,Nguyễn Xớ…

Tuy nhiờn thỡ việc tỡm hiểu về lịch sử văn húa dũng họ ở một làng qua cỏcthế kỷ đó cú đúng gúp cho quờ hương núi riờng và đất nước núi chung cũn rất ớt.Trong thực tế đó cú một số tài liệu và một số bài viết núi vế Quỳnh Đụi, tuy nhiờn

để tỡm hiểu về lịch sử văn húa dũng họ ở Quỳnh Đụi - Quỳnh Lưu - Nghệ An cũnrất ớt chưa nờu được một cỏch tổng quỏt đầy đủ về cỏc dũng họ ở Quỳnh Đụi do đúkhi nghiờn cứu đề tài này là một vấn đề khú đũi hỏi đầu tư về thời gian cụng sức

và trớ tuệ

3 Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu:

Với đề tài tỡm hiểu lịch sử văn húa dũng họ ở Quỳnh Đụi Quỳnh Lưu Nghệ An tụi sẽ nghiờn cứu một cỏch tương đối cú hệ thống về quỏ trỡnh hỡnhthành làng Quỳnh từ xưa cho đến nay cũng nh sự tập hợp cỏc dũng họ ở làngQuỳnh Truyền thống lịch sử văn húa làng Quỳnh Một số dũng họ điển hỡnh Đặcđiểm kiến trỳc điờu khắc một số nhà thờ của một số dũng họ điển hỡnh ở QuỳnhĐôi, qua đú để thấy được những đúng gúp của cỏc dũng họ ở Quỳnh Đụi Gúpphần giỏo dục đạo đức truyền thống nhằm giữ gỡn truyền thống bản sắc dõn tộcđồng thời gúp phần làm sỏng tỏ một số sự kiện lịch sử trong tiến trỡnh lịch sử Việt

Trang 5

-Nam mà trong chính sử chỉ nhắc đến sơ sài hoặc bỏ sót Đề tài góp phần chochúng ta biết về các nhân vật diển hình của các dòng họ ở Qùynh Đôi những đópgóp về văn hóa của các dòng họ về dân téc việt Nam.

4 Nguån tµi liÖu vµ ph¬ng ph¸p nghiªn cøu

Khi nghiên cứu đề tài này tôi đã tiếp xúc với các nguồn tài liệu sau:

Tài liệu thành văn: trước hết là các tài liệu thông sử là các giáo trình lịch sử

Việt Nam từ thế kỷ 10 đến 20 Các công trình nghiên cứu vế lịch sử Quỳnh Đôi từtrước đến nay

Tài liệu điền d·: tôi đã tiếp xúc tại thực địa tìm hiểu gia phả các dòng họ,

đền thờ các dòng họ rập chép bia ký, hoành phi câu đối, chụp ảnh sắc phong, sửdụng các phương pháp như: phỏng vấn, tiếp xúc trao đổi trực tiếp với các vị tộctrưởng, các vị trong ban cán sự các dòng họ và những người nghiên cứu lịch sử ởQuỳnh Đôi đối chiếu với những tài liệu thành văn để cho các thông tin khớp nhau

và đảm bảo tính sát thực

§Ó hoàn thành đề tài này tôi sử dụng phưong pháp lịch sử và phương pháplôgic; ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: thèng kê, đối chiếu, sosánh để từ đó rút ra nh÷ng đánh gi¸, phân tích, tổng hợp nêu lên mối quan hệ chặtchẽ sự tác động qua lại giữa các dòng họ ở Quỳnh Đôi với cộng đồng dân tộc ViệtNam

5 §ãng gãp khoa häc - Gi¸ trÞ thùc tiÔn

5.1 Đóng góp khoa học

§ề tài cung cấp và giới thiệu cho độc giả quá trình hình thành và phát triÓncác dòng họ ở Quỳnh Đôi, về truyền thống lịch sử văn hóa về đặc điểm kiến trúcđiêu khắc nhà thê họ ở Quỳnh Đôi Để mọi người hiểu hơn về làng Quỳnh, về cácdòng họ ở Quỳnh Đôi; đồng thời góp phần làm sáng tỏ thêm một số sự kiện lịch

sử, một số mhiệm vụ lịch sử mà trong chính chính lịch sử mới chỉ nhắc đến sơ xài

và bỏ sót

Đề tài góp phần làm phong phú thêm về bộ sử địa phương và trở thànhnguồn tài liệu tài liệu quý đi sâu nghiên cứu về lịch sử, xã hội, dân tộc và văn hóaViệt nam

Trang 6

5.2.Giá trị thực tiễn

Khi mà sự nghiệp đổi mới đất nước đạt được những thành tựu to lớn thỡ việchướng về cội nguồn đó trở thành nhu cầu ngày càng lớn Nhiều địa phương đókhụi phục lại điền thờ lăng mộ gia phả, khơi dậy lại truyền thống dũng họ dõn tộc

để giỏo dục lại truyền thống cho con chỏu Tuy nhiờn khụng ớt đó lợi dụng cơ hội

để kiếm bạc, chức quyền đất đai gõy mất trật tự, mất đoàn kết giữa cỏc dũng họ,hàng xúm, đề tài phỏt huy điểm tớch cực hướng tới sự đoàn kết giữa cỏc dũng họ,hướng tới sự đoàn kết thống nhất để xõy dựng giỏo dục văn húa, làng văn húa đềtài cũng gúp phần phỏt huy và bảo tồn di sản văn húa dũng họ, khụi phục nghề

truyền thống gúp sức hoàn thành sự nghiệp “cụng nghiệp hoỏ hiện đại hoỏ đất

nước” thực hiện mục tiờu “dõn giàu nước mạnh xó hội cụng bằng dõn chủ văn minh”

6 Bố cục đề tài:

Đề tài này ngoài phần dẫn luận, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo Nộidung của đề tài này được trỡnh bày trong 3 chương:

Chương 1: Khỏi quỏt làng Quỳnh Đụi cổ truyền.

Chương 2: Các dũng họ ở Quỳnh Đụi.

Chương 3: Đặc điểm kiến trỳc điờu khắc nhà thờ các dòng họ ở Quỳnh

Đôi – Quỳnh L Quỳnh L u – Quỳnh L Nghệ An.

Trang 7

B Phần NộI DUNG

Chơng 1 KHáI QUáT LàNG QUỳNH Đôi Cổ TRUYềN1.1 Đặc điểm địa lý, dân c:

Từ đình làng theo đường chim bay qua bến đũ Hàu (xó Quỳnh Nghĩa) xuốngbiển khoảng 5km, lờn đường quốc lộ 1A khoảng 3km Quỳng Đụi khụng cú nỳinhưng từ xa bốn phớa đều cú nỳi hướng về đứng giữa làng trụng rất đẹp mắt NỳiQuy Lĩnh hỡnh cỏi bảng gọi là Bảng Giỏp ở xó Quỳnh Bảng Nỳi Hiền Hoa gọi làBảng Canh ở xó Quỳnh Hậu Nỳi Yờn Mó hỡnh yờn ngựa ở xó Quỳnh Bỏ Nỳi TrụHải hỡnh cỏi trống ở xó Quỳnh Tựng, Nỳi Nga Mi hỡnh đụi lụng mày ở xó DiễnHựng Diễn Chõu Hũn Thoi ở xó Quỳnh Giang, Hũn Bỳt ở xó Quỳnh Ngọc Phớađụng cú sụng Mai Giang uống khỳc chảy ra lạch Quốn

Từ bao đời nay những nỳi non hựng vĩ đú đó tượng trưng cho cảm nghĩ vànguyện vọng của nhõn dõn Quỳnh Đụi đồng thời gắn bú với đời sống tõnm linhcủa nhõn dõn

Đõy là mảnh đất thớch hợp cho việc học hành (nghiờn, bỳt) cho việc xụngpha chiến trận (ngựa) cho nghề dệt (thoi) và phụ nữ xinh đẹp (Nga Mi là đụi lụngmày)

Cỏch đõy trờn 600 năm Quỳnh Đụi là vựng nước mặn bồi tụ đang trong quỏ

Trang 8

trình ngọt hóa, động và thực vật nước lợ bắt đầu phát triÓn Quỳnh Đôi cónhiệt độ trung bình 25 – 260C, khi nóng nhất nhệt độ 38 – 390C, từ tháng tư đếntháng tám gió Lào đưa hơi nóng vÒ Lượng mưa trung 1600ml, nhưng tập trungvào tháng 9 đến 10, và vào dịp tiểu mãn (21 tháng 5), hạn h¸n kéo dài từ tháng 5đến tháng 9, lụt bão thường xuyên và thỉnh thoảng có bão lớn.

sự, chính trị…nhiều nhà chính trị, nhà quân sự, các nhà văn nhà thơ được sinh ra

từ Quỳnh Đôi

Cũng chính vì đất Quỳnh Đôi đẹp đã sản sinh ra những con người đẹp,những con người có sức sống vững bền như cây thông ở núi Tùng Lĩnh chịu đựngđược bão gío nắng mưa, những con người có tâm hồn yêu quý cái đẹp, có tâm hồnsống động cách mạng, có tinh thấn đấu tranh kiên cêng những con người có tâmhồn hiền hoà như dòng nước Mai Giang đưa ngọn gió lành về đồng quê, mangdòng nước mát vế với biển Đông

Cho đến n¨m 1314 Quỳnh đôi mới chỉ có vài ba gia đình về đây sinh sống

§ến đời nhà Lê sơ Quỳnh Đôi có khoảng 400 người

Đến đời cảnh Hưng (1786) số dân ở Quỳnh Đôi có khoảng 500 người

Đến năm Giáp Thân (1944) dân số Quỳnh Đôi có khoảng 1.116 người Chođến hiện nay dân sống Quỳnh Đôi sống tại làng là vào khoảng 4.000 người.Nhưng bên cạnh đó người gốc Quỳnh Đôi sống ở mọi miền đất nước cũng như ởnước ngoài cũng vào khoảng 4.000 người

Trang 9

Trớc thời kỳ đổi mới cơ cấu nghề nghiệp dõn cư Quỳnh Đụi, ngoài nghề làmruộng cũn một số nghề thủ cụng khỏc như làm bỳn, dệt vải, cắt túc…sau thời kỳđổi mới cỏc ngành thủ cụng nghiệp truyền thống tiếp tục được phỏt triển bờn cạnhnghề nụng.

Thành phần dõn cư ở Quỳnh Đụi chủ yếu là dõn ở cỏc vựng xung quanh di

cư đến như: Hà Tĩnh, Diễn Chõu, Tĩnh Gia (Thanh Hoỏ) Bắc Ninh, Nam Định, họkhụng theo tụn giỏo nào mà chủ yếu theo tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn ụng bà

1.2 Truyền thống l ịch sử văn hoá Quỳnh Đôi

1.2.1 Quá trình hình thành:

Lành Quỳnh từ khi khai cơ đến nay đó trên 600 năm, vỡ vậy việc trỡnh bàyquỏ trỡnh hỡnh thành làng Quỳnh chỉ trong vài ba trang sỏch là khụng thể đầy đủđược.Tuy nhiờn qua quỏ trỡnh sưu tầm cỏc nguồn tư liệu và qua cuốn “Quỳnh Đôi

cổ kim sự tích Hơng Biên” Chúng ta có thể có đợc những hiểu biể có bản về làngQuỳnh Đôi

Ở vị trớ của chốn “Quỳnh Lưu chiến địa, Mai Giang huyết hồng” cú cỏi gũ

đất nổi lờn giữa một vựng mờnh mang súng nước

Vào đầu thế kỷ thứ 14 cỏi gũ đất khụng tờn giỏp sụng gần biển hỡnh tựa cỏinồi ấy đó lọt vào mắt xanh của một con người đang kiếm tỡm một đỏm đất lành cúgớa trị trường tồn cho con chỏu Đú là Hồ Kha - hậu duệ xa đời của Trạng nguyờnThứ sử Chõu Diễn Hồ Hưng Dật Từ đường thiờn lý vượt qua đồi Hầm, Hồ Khađến xem xột địa thế đứng trờn gũ, nhỡn ra bốn phương trời, nơi đõy cú nỳi Ngựachầu phớa nam, lốn tàn che phớa bắc, Hinh Sơn là giỏp bản (phớa tõy), ất bảng ấyQuy Lĩnh (phớa đụng) Nghiờn bỳt sẵn bày, cờ quạt chỉnh chiền, với nhận thức tõm

linh thủơ ấy ụng cho đất này là “Đinh phong dẫn mạch, đinh thuỷ đỏo đường” đó

là địa linh ắt sinh nhõn kiệt Nhõn kiệt đời đời trờn nghiờn bỳt và trờn yờn ngựa

Nhưng chỉ dừng lại ở cỏi gũ, diện tớch đó eo hẹp lại cấu tạo phức tạp “Nào

gai gúc rậm rạp, nào đất đai bựn lầy, nào đồng chua nước mặn” là khụng đủ

đảm bảo cuộc sống cho nhiều người và cho nhiều đời Qua “Hai cồn lội về phớa

Trang 10

Nam là một vựng tuy khụng rộng nhưng nước hơi cạn cú thể mở rộng bờ cừi dũ dần về phớa đụng nước sõu hơn nếu chịu khú và kiờn trỡ đắp bờ chắn đập, lấn sụng đuổi mặn thỡ diện tớch đất đai cú phần mở rộng hơn”[ 4,10] Tuy đó tỡm

được mảnh đất đứng chõn nhưng biết buổi đầu xõy dựng cơ nghiệp với muụn nổigian khổ khú khăn nếu chỉ một cõy thỡ khụng thể nờn non Hồ Kha đó phải tỡm bạncộng sự, sau một thời gian ụng gặp Nguyễn Thạc ở vựng Kẻ Thơi và HoàngKhỏnh ở vựng Kẻ Mơ là những con người cũng đang ấp ủ một khỏt vọng nhưmỡnh An tõm với hai bạn cú tõm mà lại cú tầm ấy Hồ Kha cho con là Hồ Hồng ởlại cũn mỡnh quay trở lại trại tiờn sinh

Hồ Hồng sinh năm 1358 đời Trần Dụ Tụng Là con cả của Hồ Kha chỏunhiều đời của trạng nguyờn Hồ Hưng Dật, Quan thỏi thỳ Chõu Diễu từ thời HậuHỏn - ngũ quý(thế kỷ 10) được coi là thủy tổ họ Hồ ở nước Việt Nam Hồ Hồng

đó từng là Chỏnh đội trưởng ở Lộ Diễn Chõu, về sau ụng cầm quõn đi bảo vệ biờncương ở vựng Quảng Bỡnh - Thuận Hoỏ và hy sinh ở đú

Nguyễn Thạc (khụng rừ năm sinh) là hậu duệ xã đời của Định Quốc CụngNguyễn Bặc (ngang thời với Hồ Hưng Dật) trung thần của vua Đinh Tiờn Hoàng.ễng quờ ở huyện Nam Sỏch - Hải Dương Nơi đõy vào giữa thế kỷ 14 do chế độthỏi ấp điền trang hà khắc, đó nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa của nụ tỡ và nụng dõnnghốo khổ chống lại triều Trần đó mất lũng dõn cao độ và ngày càng đi vào conđường sụp đổ Tiờu biểu là cuộc khởi nghĩa của Ngụ Bệ ở Kinh Mụn (1344-1360)

và của Trần Tề ở Nam Sỏch (1354) hai cuộc khởi nghĩa này bị thất bại, chủ soỏi

và ba bốn chục tướng sĩ bị bắt giải về thăng Long xử trảm Là một tướng lĩnh khởinghĩa với tước hiệu “An Hoà Hầu” thoỏt được với tờn mới, Nguyễn Thạc đem cảgia quyến theo đường thuỷ vượt biển dạt vào vựng bói ngang Hiền Lương thuộchuyện Quỳnh Lưu - Nghệ An lỏnh nạn ở đõy hơn 10 năm, chuyển cư hai lần vớibiệt danh An tõm cư sĩ Nguyễn Thạc kết hụn với Hồ Thị Thợi vaò khoảng trướcnăm 1370 đụi bờn gặp nhau tõm đầu ý hợp, Nguyễn Thạc cựng Hồ Kha đến chốnlập nghiệp mới

Trang 11

Hoàng Khánh hậu duệ gần đời của Sát Hải chàng lái §ại tướng quân Hoàng

Tá Thốn, người đã cùng danh tướng Yết Kiêu đục thuyền giặc Nguyên Mông vàocuối thế kỷ 13 Hoàng Khánh tên thụy là Cương Chính Công làm quan Hànhkhiển cai quản lộ Diễn Châu dưới các triều vua: Trần Duệ Tông, Trần Phế Đếtrong những năm 70 và 80 của thế kỷ 14

Ông và vợ là Hồ Thị Xinh và người con c¶ Hoàng Chung đã rời nơi ở cũHiền Lương đến vùng đất mới lập nghiệp cùng Hồ Kha và Nguyễn Thạc

Ba vị Nguyễn - Hồ - Hoàng, tuy khác họ, không cùng quê xa nhau trăm ngàn

dặm nhưng lại hữu duyên thông gia với nhau, các vị đã tạo nên một thế “Ba cây

chụm lại”.

Việc trước tiên là đặt tên khai sinh cho chốn nương thân của mình, túc nhonghĩ sâu Tuy đặt tên mộc mạc là Thổ §ôi (gò đất) nhưng Thổ §ôi là giao điểmcủa hai vùng với cái tên mới là Đồng Tương và Đồng Nghệ Sau một thời giankhoảng mươi năm khi đã ổn định bước đầu thì Thổ §ôi được nhà nước công nhận

là Trang của sách (xã) Hoàn Hậu (1378)

Việc Thổ Đôi ra đời không phải là một sự ngẫu nhiên mà nó có nguyên nhânsâu xa của nó Đó là kết qủa của chính sách khai hoang đời Lý - Trần Đời nhà Lý,

Lý Nhật Quang đã chú ý khai hoang ở Nghệ An §iÒu nµy dîc tiÕp tôc duy tr× đếnnăm 1226 để khôi phục lại nền kinh tế bị đình đốn cuối triều Lý Nhà Trần chủtrương cho các công chúa, vương hầu, phò mã, vương phi, chiêu tập dân phiêu tánkhông có ruộng đất làm nô tì đi khai hoang miền biển, sau ba lần chống giặc xâmlược đuổi được giặc M«ng Nguyên ra khỏi bờ cõi Nhà Trần với chính sách khoansức dân sau chiến tranh đã khuyến khích mạnh mẽ khôi phục kinh tế và phát triÓnvăn hoá việc mở mang diện tích đẩy mạnh khai hoang ở các vùng Hoan Diễn đểtăng thêm tiềm lực kinh tế của đất nước, giải quyết đời sống của nhân dân đượcnhà nước chú ý Hồ Kha xuất hiện ở Thổ Đôi vào năm 1314, Năm đầu của đờiTrần Minh Tông tức cuối đời hưng thịnh của nhà Trần là thời điểm báo hiệu nhàTrần đang bước vào con đường suy vong Nhưng những chính sách tích cực của

Trang 12

nhà Trần vẫn còn ảnh hưởng, Việc tìm đất khai hoang của Hồ Kha có ý nghĩa tíchcực.

Hồ Hồng con ông là chánh đội trưởng phải có một vị trí nhất định mới mờiđược Hoàng Khánh, quan hành khiển Châu Diễn, một người có thế lực, đượchưởng chế độ thế tập (cha truyền con nối) chẳng những cùng ông góp phần khaiphá Thổ Đôi mà còn lấy cháu gái ông Ma lãnh công Nguyễn Thạc tuy không phải

là người có quan tước nhưng chắc rằng là người giàu có mới có điều kiện cùng cácông Hồ Hồng và Hoàng Khánh lập ra Thổ Đôi Trang Những điều trên đây có thểkhẳng định Trang Thổ Đôi ra đời không phải do một số quan nhỏ bị chèn ép tìmnơi nương thân mà lµ do ảnh hưởng sâu xa cña chính sách phát triển kinh tế đấtnước ở vïng Hoan Diễn Những điều trên cũng có thể cắt nghĩa vì sao thôn ThổĐôi đã phát triển nhanh chóng và có sắc thái riêng

Đến cuối đời Trần và đầu đời Lê, Trang Thổ Đôi mới có một số gia đình,một số giáp nhỏ (xóm) thuộc thôn Kim Lâu xã Hoàn Hậu Thôn Kim Lâu có bagiáp là: Thổ Đôi, Suất Động, Thượng Yên Xã Hoàn Hậu ngày xưa gäi tổng PhúHậu gồm các xã: Quỳnh Đôi, Quỳnh Thanh, Quỳnh Yên, Tiến Thủy, quỳnhNghĩa, Quỳnh Lương, Quỳnh Minh, Quỳnh Bảng, Quỳnh Lâm và phần lớn xãQuỳnh Thạch ngày nay

Các ông Hồ Hồng, Nguyễn Thạc, Hoàng Khánh quyết tâm biến mảnh đấthoang vu này thành nơi sinh sống lâu dài cho con cháu đời sau

Hồ Hồng làm việc này là thực hiện ý đồ của Hồ Kha Nhưng ít lâu sau HồHồng tử trận trong khi bảo vệ Tổ Quốc ở phía nam (thi hài ông không chôn cất ởquê nên gọi là chiêu hồn) việc khai phá Thổ Đôi lúc đó phải nhường lại cho cácông Hoàng Khánh, Nguyễn Thạc kế đó là Hồ H©n Con Hồ Hồng mới góp côngxây dựng Thổ Đôi thực hiện ý định của Hồ Kha và Hồ Hồng trước đây

Năm Mậu Tý, Minh Đức thứ hai đời nhà Mạc (1528) Bao vinh hầu Hồ Nhân

Hy cháu năm đời của Hồ Hồng đổi tên Thổ Đôi ra thành Quỳnh Đôi tức là gòQuỳnh (gò Ngọc Quỳnh) tên Quúnh Đôi ra đời gắn liền với sự phát triÓn và trưởngthành của nó Lúc này Quỳnh Đôi không còn là một Giáp nhỏ mà đã trở thành một

Trang 13

nơi có dân cư trù mật Năm 1655 Hồ Sĩ Dương đã chia Quỳnh Đôi ra làm bốn tập(tức là phường, tiền thân của giáp sau này).

Đến thêi Nguyễn, Quỳnh Đôi đã thành một làng dân cư đông đúc được gọi làQuỳnh Đôi thôn

Sau cách mạng tháng tám (1946) Quỳnh Đôi hợp nhất với làng Thượng Yêngọi là xã Quỳnh Yên

Năm 1950 xã Quỳnh Yên nhập thêm các làng Hạ Lăng, Cẩm Trường, Thanh

Dạ, Cự Tân, và được gọi là xã Quỳnh Anh Xã Quỳnh Anh có bốn khu (đông:Thượng yên, Tây: Quỳnh Đôi, nam: Hạ Lăng, Cẩm Trường, bắc: Thanh Dạ, CựTân)

Năm 1955, trong cải cách ruộng đất địa phận và quy mô các xã được phân

định lại Làng Quỳnh Đôi cũ thành một xã Quỳnh Đôi “Địa giới Quỳnh Đôi cũng

được phân định rõ, phía bắc là sông Đồng Nghệ, phía tây là Cống Đá Dưới, Phía đông là sông Mai Giang, phía nam đường (lộ lội), Rục Bon Bon Diện tích tự nhiên của Quỳnh Đôi khoản 500ha và từ năm 1955 đến nay thì xã Quỳnh §ôi vẫn giữ nguyên tên gọi” [4,16]

Như vậy qúa trình hình thành làng Quỳnh Đôi Là một quá trình lao độngkhông ngừng từ đời này đến đời khác với biết bao khó khăn gian khổ đổ biết bao

mồ hôi nước mắt và xương máu của biết bao người thuộc các dòng họ ở QuỳnhĐôi để có được làng Quỳnh Đôi như ngày nay

Năm 1460 ông Phan Hoằng Nhiễu từ thôn Hào KiÖt (Yên Thành) ở làng Phú

Mỹ (xã Quỳnh Hoa - Quỳnh Lưu) lấy bà Hồ Thị Thái con gái ông Hồ Hân cho concháu về ở Thổi Đôi trở thành thuỷ tổ họ Phan Quỳnh Đôi

Trang 14

Đầu thời Lờ và Lờ Trung Hưng Cú ông tổ họ Phạm (Phan Phạm) về QuỳnhĐụi trở thành thuỷ tổ họ Phạm Trong nhà thờ họ Phạm cú viết:

“Địa Xuất Tam Quỳnh Chung Vượng Khớ Thời Giai Lục Tộc Triệu Tiờn Cơ”

Cỏc dũng họ đến sau đều đúng gúp cụng sức đỏng kể vào việc xõy dựng ThổĐụi ngày càng đụng đỳc phồn thịnh Những người đến Thổ Đụi đầu tiờn chủ yếu

là người bản địa ở Chõu Diễn, sau đú là những người ở cỏc huyện phía nam NghệTĩnh và cỏc tĩnh Phớa Bắc như: Thanh Hoỏ, Bắc Ninh, Nam Định…

Như vậy cựng với cỏc giai đoạn lịch sử cỏc dũng họ đó du nhập ngày càngđụng về Quỳnh Đụi Cú dũng họ đến sớm, cú dũng họ đến muộn, cú dũng họ đụngngười, cú dũng họ ớt người nhưng tất cả đều chung lưng để xõy dựng và phỏt triển

làng Quỳnh ngày một giàu mạnh Theo thống kê “Đến hiện nay Quỳnh Đụi Cú

khoảng 43 dũng họ lớn nhỏ Từ những dũng họ đầu tiờn thỡ đến nay Quỳnh Đụi đó

cú cả một cộng đồng cỏc dũng họ cựng nhau gúp sức để xõy dựng làng Quỳnh” [15,22]

1.2.3 Truyền thống lịch sử, văn hoá Quỳnh Đôi

Với một bề dày lịch sử gần bảy trăn năm thỡ cựng với nú là một bề dàylịch sử văn hoỏ Làng Quỳnh đó cựng với tiến trỡnh của lịch sử dõn tộc đúng gúpcụng sức vào việc làm giàu thờm truyền thống của quờ hương núi riờng và của đấtnước núi chung trong những đúng gúp đú thỡ nổi lờn nhưng mặt sau

1.2.3.1 Xây dựng kinh tế tiến lên, phát triển văn hoá:

Trang 15

Những trang sử liệu nói về công cuộc xây dựng Thổ Đôi Trang dưới thờiTrần chỉ nhắc đến một công trình duy nhất là Bờ Hói ông Hành, do ông HànhKhiển quan Hoàng Khánh ®ề xướng Các công trình khác có thể lược kÓ như sau:đập Bờ Re, đập Bờ Nậu, Đập Bút, đập Đồng Huyện, được đắp dưới thời nhà Lê.đập Góc, đập Vũ Sĩ, đập Hói Nồi…được xây đắp dưíi thời nhà Nguyễn và thờiPháp thuộc.

Các công trình ngăn mặn như trên đã được tiến hành song song với việc sanlÊp các cồn, gò, tùng, rục, thành đồng ruộng bằng phẳng Ngày nay chỉ còn lại cáitên như cồn Môi, cồn Dứa, cồn Nhày, Tùng Lồng Ống, Rục Lăng, Rục lùm…từmột cánh đồng Tương thủa nào, nhân dân Quỳnh Đôi đã t¹o thêm những cánhđồng mới như đồng Trước, đồng Sau, đồng Nghệ mở mang diện tích canh tácđáng kể Rộng thực cày có 228 mẫu theo sách Quỳnh Đôi Hương Biên ruộng đấtcông ở Quỳnh Đôi Chiếm khoảng 30% dưới hình thức ruộng làng, ruộng họ,ruộng phe, giáp, binh điền và ruộng hương hoả thò cúng những người có công vớilàng

Quỳnh Đôi được coi là một làng văn hoá cổ chẳng những do việc học hànhđậu đạt nhiều mà còn do các công trình xây dựng văn hóa; sự kiện quan trọng nhất

là các khoa Bảng Quúnh Đôi đã bàn với toàn dân xây dựng các khoán ước, điều lệ,tạo nên thuần phong mün tục, ổn định cuộc sống cộng đồng Có ba loại khoánước: khoán hội, khoán phe và quan trọng nhất là khoán làng

Khoán hội là của Văn hội, xây dựng từ năm 1600, được bæ sung qua nhiềuthời kỳ đến năm 1852 đã có 47 điều khoản, quy định hình thức tôn vinh cũng nhưquyền lợi và nghĩa vụ của các vị khoa bảng cao thấp khác nhau, quy định nếp tôn

sư trọng đạo, thể thức hoạt động, đóng góp của các hội viên

Khoán phe được xây dựng từ năm 1645, có 22 điều khoản quy định việc giúpnhau trong việc tang Quỳnh Đôi có hai tổ chức gọi là phe tiền và phe độngchuyên lo việc ma táng người qúa cố

Khoán làng còn gọi là Hương ớc xây dựng từ năm 1638, do cụ Phan Khuê,viên ngoại nam bộ công đề xướng được bæ sung qua nhiều giai đoạn, đến năm

Trang 16

1865 có 115 điều khoản víi c¸c nội dung sau đây: một là yêu cÇu mọi người phảigiữ gìn đạo đức lễ nghĩa Hai là xây dựng tinh thần đoàn kết trong làng xóm Ba làkết hợp lợi ích và trách nhiệm cá nhân và gia đình, thân tộc trong làng xóm Bốn

là thực hiện công bằng dân chủ, chống áp bức bất công Năm là coi trọng giáodục, khuyến học, ngoài ra còn nhấn mạnh coi trọng người cao tuổi và người cóhọc hơn người làm quan

Ngoài các các loại khoán ước như trên, nhân dân Quỳnh Đôi còn xây dựnghai công trình văn hoá quan trọng là nhà Thánh và Hiền từ

Nhà Thánh (văn miếu) là nơi tôn thờ Đức Khổng Tử, bậc thánh tối cao củaNho giáo, được xây dựng năm 1531, tôn tạo năm 1845 làm nhà Thánh chung chovăn thân toàn huyện Quỳnh Lưu

Hiền từ là nơi tưởng niệm những danh nhân nam ,nữ có đức hạnh cao đẹp và

có cống hiến đáng kể cho dân làng, không rõ xây dựng từ năm nào, tồn tại cho đếnsau cách mạng tháng tám năm 1945

Đình làng Quỳnh Đôi có từ thêi nhà Lê từng bị cháy và bão làm đỗ mấy lần,năm 1857- 1858 cụ Phạm Đình Toái, một danh sĩ, từng làm quan Bố Chánh ÁnSát ở Sơn Tây, đã xuất tiền nhà 4000 quan để xây dựng lại, là ngôi đình cao đẹpnæi tiÕng trong vùng Nghệ Tĩnh Đình làng được nhà nước công nhận là di tíchlịch sử văn hoá, hiện nay đình làng là nhà lưu niệm truyền thống của xã, ngoàiđình làng mỗi làng đều có đình của xóm, mỗi xóm điều có luỹ tre tạo thành hàngrào chung bảo vệ xóm làng

Đền thành hoàng Quỳnh Đôi thờ một vị Thiên ThÇn mà sách Hương Biên

ghi “Nổi tiếng linh thiêng” từng phụ hộ dân làng qua khỏi cơn đại hạn, những nạn

sâu, chuột Đền được chính thức xây dựng năm 1757 và tôn tạo qua các năm

1805, 1856, cuối thế kỷ 19 các cụ tổ ba họ Hồ - Nguyễn - Hoàng được phong sắccùng phối tế ở đền Hàng năm vào ngày 12 - 2 âm lịch có lễ rước kiệu thần từ đền

ra đình làng để toàn dân cúng tế

Chùa Quỳnh Thiên do hầu tước Hå Nhân Hi xây cất năm 1531

Trang 17

Chùa Đồng Tương do Quận Công Hå Phi Tích xây cất vào khoản thế kû 18.Riêng chùa Quỳnh Thiên từng được tôn tạo thành một cảnh trí đẹp, có chuôngđồng, hồ sen, cây cổ thụ, là nơi làm lễ xá tội vong nhân vào rằm tháng 7 hàngnăm Ngày nay nhà thánh, hiền từ và chùa Quỳnh Thiên không còn nữa.

Từ ngày khai cơ lập ấp (1378) ®ến giữa thế kỷ 17 nhân dân Quỳnh Đôi chỉ

có nghề cày ruéng, phụ thêm là đánh bắt cá tôm Cho đến năm 1655 mới phát sinhnghề mộc Nguyên do là bà Trương Thị Thành, phu nhân của Quận Công Hồ SĩDương đưa thợ từ làng Phú Nghĩa, quê hương của bà về Quỳnh Đôi lập nên mộtxưởng mộc để đóng giường, ghế, bàn thờ, quan tài cho nhân dân, một số nông dânlàng Quúnh §«i học thêm nghề mộc, có người thành thợ chuyên môn Nhưng nghềnày Ýt phát triÓn khi cần xây nhà ngói vẫn phải gọi thợ từ các làng khác đến

Nghề dệt lụa được truyền về Quỳnh Đôi năm 1685 do bà họ Đàm, phu nhâncủa Quận Công Hồ Phi Tích quê ở làng La Khê, huyện Hoài Đức tỉnh Hà Đôngnghề này rất hợp với phụ nữ Quỳnh Đôi, nhµ lµ víi các gia đình có chồng conchuyên việc đèn sách Từ một vài khung dệt hồi cuối thế kỷ 17 đã truyền bá thànhmột nghề phổ biến cho hầu hết các gia đình trong xóm vµ trở thành nghề chính củaphụ nữ Quỳnh Đôi

Khoảng đầu thời nhà Nguyễn Quỳnh Đôi còn có thêm nghề làm bún, nghềnày do bà Châu Ngọc Bội, quê ở Quảng Nam là vợ ông tri huyện Nguyễn Thụtruyền cho cho bà con Quỳnh Đôi Nghề này không phát triÓn như nghề dệt lụa,vµo thời gian này còn có nghề làm bánh mướt do bà Chu thị Ba làm dâu họ Hồtruyền từ Diễn Châu vÒ Quỳnh Đôi Thời nhà Nguyễn, Quỳnh Đôi có thêm nghềrèn, tương truyền do các cụ văn thân đưa từ làng Trung Lễ, Hà Tĩnh ra để rèngươm, giáo chống giặc về sau sản xuất liềm hái nông cụ cho dân làng

Đầu thế kỷ 19, ông Nguyễn Văn Tạo ®ưa nghề xây và nghề in mộc bản vềQuỳnh Đôi Đến đầu thế kỷ 20 Quỳnh Đôi mới có nghÒ cắt tóc bằng tông đơ, nghềmay bằng máy khâu, nghề kéo xe, nghề buôn tạp hóa, hàng xén, khi mà kinh tếthương mại bắt đầu phát triÓn

Trang 18

Còn một nghề đáng gọi là nghề của các nhà nho Quỳnh Đôi: nghề dạy học.Không những dạy trong làng mà còn dạy ở nhiều địa phương khác Các nhà nhothi không đỗ hoặc thi đỗ mà không ra làm quan điều đi dạy học, phần lín là ra các

tỉnh Bắc Kỳ Họ được gọi cái tên chung là “Thầy Đồ Nghệ”, đầu năm ra đi cuối năm mang tiền về nhà cho vợ con Các cụ có câu “Nam vô tội như tù, nữ hữu

phụ như qủa” (trai không có tội mà như ngồi tù, gái có chồng mà như bà goá quanh

năm) để than thở về nghề dạy học Cũng có người làm quan mà vẫn dạy học như cụ Hồ PhiTích, Cụ Phan Hữu Tính có hàng trăm học trò

Nghề dạy học thường đi đôi với nghề thầy lang, nhiều thầy đồ nho kiêm việcbốc thuốc chữa bệnh, một số nhà nho chuyển sang nghề làm thuốc nổi tiếng nh cụCựu Đờn (Hồ Vạn Phúc), cụ Cử Thống, cụ Hàn Sương…

Kinh tế phát triÓn đến một mức độ Quỳnh Đôi có chợ ở trongxóm vào cuốithời Lê đầu thời Nguyễn Dân làng và bà con đến đây mua bán quen gọi là chợNồi

Việc phát triển ngành nghề và hình thành thị trường đi đôi với việc hình

thành đường sá Con đường chính “Thượng Cống Đá, hạ Bờ re” chạy từ trung

tâm làng lên phía tây, tới làng Bào Hậu đi tiếp lên đường Thiên Lý, Nay là quốc lộ

số 1 đồng thời chạy từ trung tâm xuống phía đông tới làng Thượng Yên, đi tiếp ratới Đò ¤ng

Như vậy với ngót chiều dài lịch sử trªn 600 năm làng Quỳnh vừa xây dựngkinh tế vừa phát triÓn văn hoá Trên mảnh đất văn hoá Quỳnh Đôi ngày nay (từ

1997 – 2002), nhà nước đã công nhận năm di tích lịch sử văn hóa quốc gia:

 Đình làng : Công trình xây dựng của danh nhân Phạm Đình Toái từ thế

Trang 19

 Nhà Thờ Họ Hoàng: nơi thờ cúng Thủy tổ Hoàng Kh¸nh – Cương ChínhCông

 Nhà thờ cụ Án Sát Hồ Trọng Tuấn, cụ án sát Hồ Bá Ôn và cụ Hồ TùngMậu thuộc trung chi 5 họ Hồ đại tộc Quỳnh Đôi

Những di tích lịch sử trên là niềm tự hào, là nguồn cỗ vũ cho toàn thể nhândân cũng như đảng bộ Quỳnh Đôi không ngừng phát huy truyền thống vẻ vangcủa ông cha, phấn đấu vươn lên trong xây dựng quê hương, phục vụ đất nước

1.2.3.2.TruyÒn thèng hiÕu häc

Có thể nói sự kiện quan trọng mở đầu cho sự nghiệp khoa bảng Quỳnh Đôi

là 1440 lần đầu tiên một ông đồ xứ kinh bắc, một xứ nổi tiếng về học hành, đi lầnvào xứ Nghệ, được mời lại làm gia sư cho Hồ Hân một tá khai quốc công thânthời Lê Lợi, là cụ Dương Văn Khai quê ở Bắc Ninh Được biết cụ nhà nho uyênthâm nên gia đình Hồ Hân, hậu duệ của Hồ Hồng mời cụ về Quỳnh Đôi Dạy họccho con cháu trong gia tộc

Khai khoa đầu tiên cho Quỳnh Đôi là Hồ Ước Lễ con của Hồ Hân đậu Tháihọc sinh (tương đương tiến sĩ) n¨m 1449 Ông cũng là người đậu đại khoa đầu tiên

ở huyện Quỳnh Lưu

Việc học hành phát triÓn nhanh từ thế kỷ 15 Năm 1496 lần đầu tiên trongmột khoa thi Quỳnh Đôi có 4 người thi đậu Kể từ đây trong mỗi khoa thi Hương,thi Hội điều có người Quỳnh Đôi đậu đạt Có đi học, có hiểu biết càng hiểu biếtcàng ham học Mục đích đi học rõ ràng là để lập thân lập nghiệp, là vì cuộc sống

“Tiến vi quan, thoái vi sư” Nhà khá giả cho con đi học đã đành người nghèo túng

cũng chịu thương chịu khó chắt chiu nuôi con nuôi chồng ăn học việc học hànhtrở thành một phong trào đua tranh của mọi nhà, một truyền thống hiếu học, khổhọc của cả làng Ai thi đỗ cử nhân trở lên mới đưîc ra làm quan, số người ra làmquan ít hơn số người thi đỗ, càng ít hơn số người đi học những người học mà thikhông đỗ hoặc thi đỗ mà không ra làm quan, theo chân Dương Văn Khai đã đi dạyhọc và do đó đã hình thành một lớp người gọi là thầy đồ Các thầy đồ làng Quỳnh

là một bộ phận đáng kể trong đội ngũ của thầy đồ xứ Nghệ Các thầy đồ làng

Trang 20

Quỳnh thường cha dắt con anh dắt em, chỳ-bỏc dắt chỏu đi dạy đi học khắp ngoàibắc trong nam, biền biệt xa nhà, đầu thỏng giờng đi cuối thỏng chạp về Mỗi nămchỉ sum hợp với vợ con gia đỡnh độ mươi mười lăm ngày Cũng vỡ vậy mới cú cõu

tục ngữ “Nam vụ tội chi tự, nữ hữu phu chi qủa” Cỏc thầy đồ là cỏc điểm sỏng

hội tụ văn húa là tấm gương đạo lý vừa cho gia đỡnh mỡnh vừa cho những vựng đidạy Nú cú tỏc dụng nõng đỡ, khuyến khớch tinh thần cho những người dõn quờchất phỏt mà thất học Họ vừa dạy vừa ụn luyện văn bài để rồi đến kỳ thi Hương

lại “lều chừng” lờn đường.

Truyền thống học hành đó tạo dựng một thang gớa trị trong ý thức, tõm lý conngười làng Quỳnh cú một sắc thỏi riờng:

Giỏ trị học để làm người trội hơn gớa trị học để làm quan Giỏ trị con người

cú đạo đức hơn gớa trị con người “Hữu tài vụ hạnh”

Gớa trị thi cử vỡ danh trội hơn gớa trị thi cử vỡ lợi, vỡ cỏi tiếng hơn cỏi miếng,

vỡ khoa hơn hoạn (quan) coi trọng con người cú học hơn con người cú của mà vụhọc

Học hành thi cử là để xõy dựng và gỡn giữ danh tiếng dài lõu, bền vững vớithời gian năm thỏng cho gia đỡnh, con chỏu hơn là mưu cầu danh lợi một thời cho

cỏ nhõn Và cũng là để gắn danh gớa bản thõn với danh giỏ của gia đỡnh quờ hươngđất nước

Từ năm 1449 đến năm 1919 (470 năm) làng Quỳnh cú 473 người thi đỗ tỳ tài

và cử nhõn với 958 lượt người thi đỗ thường chiếm 9 - 10% số người thi đỗ củaNghệ An và Hà Tĩnh

Về đại khoa cú một bảng nhẫn, một thỏm hoa, hai hoàng giỏp, sỏu tiến sĩ vàbốn phú bảng Tiếp nối con đường học hành của ụng cha, ngày nay làng Quỳnh cúkhoảng 600 người tốt nghiệp từ đại học trở lờn Trong đú cú 29 thạc sĩ, 36 tiến sĩ,

6 phú giỏo sư, 4 giỏo sư, 2 viện sĩ quốc tế Thành tựu của việc học hành ở làngQuỳnh khụng dừng ở số lượng và mức độ của những học vị, tuy đú là mục đớchtrực tiếp và cụ thể, mà cũn ở mặt quan trọng hơn là việc học hành đó tạo ra mộtlàng Quỳnh dựa vào trớ thức tức là một làng bắt nguồn từ tiềm năng con người,

Trang 21

một làng mở khụng bị khộp kớn trong lũy tre xanh Bởi nú hướng vào con ngừơi tưduy sỏng tạo, giao dịch đú đõy chứ khụng phải hướng vào cụng cụ cõm lặng hoặcvào một bản chất chai lỡ, được học hành chu đỏo theo điều kiện của mỗi thời Conngười làng Quỳnh đó cú khả năng tham gia một cỏch chủ động và cú hiệu qủa vàođời sống cộng đồng và đó cú khả năng đảm nhận cỏc trỏch nhiệm trong cỏc hoạtđộng thực tiễn.

Ở Việt Nam cú nhiều làng được gọi là “làng học” khoảng mấy trăm năm lạiđõy hầu như khoa thi nào cũng cú người đỗ đạt cao đú là những làng: Quỳnh Đụi,Hành Thiện, Mộ Trạch, Cổ An….Đến nay phong trào giỏo dục của cỏc làng nàyvẫn khỏ cao, cung cấp cho đất nước nhiều nhõn tài, nhiều nhà khoa học quản lý xóhội Nền dõn chủ thụn giả lại được dựa vào trớ thức càng cú điều kiện phỏt uy vàphỏt triển nhiều hơn so với những nơi do một số người kộm học thức chi phối Cỏckhoỏn ước làng Quỳnh ra đời sớm từ 1636 liờn tục bổ sung điều chỉnh là một minhchứng Cũng cần núi thờm rằng do cú học thức, cú bản lĩnh nờn người làng Quỳnhxưa và nay khụng ỷ lại, thậm chớ đặt cược sự sống của mình vào những thần linhhuyền bớ và may rủi đỏ đen…

Thành tựu của việc học hành đó hun đỳc cho người làng Quỳnh một phong

cỏch sống “Thanh bạch và giản dị, khảng khỏi và trung thực, trọng đạo lý và

giàu tỡnh thương” thành tựu học hành tỏc động truyền thống yờu nước kiờn cường

đấu tranh chống giặc ngoại xõm

1.2.3.3 Truyền thống yêu nớc chống giặc ngoại xâm

Đõy là niềm tự hào của nhõn dõn Quỳnh Đụi trước lịch sử dõn tộc

Vào đầu thế kỷ XV ụng Hồ Hõn đó cựng hai người đồng quận là Nguyễn Xớ

và Nguyễn Ba Lai kết nghĩa anh em và tỡm Lam Sơn đến (Thanh Hoỏ) đứng dưới

cờ nghĩa của Lờ Lợi ễng Hồ Hõn với chức quõn lĩnh đó lập được nhiều công lao

trong cuộc khỏng chiến chống Quõn Minh nờn được phong là “Chiờu thắng quõn

đồng tổng tri, khai quốc cụng thần” được hưởng trật “Chỏnh tứ phẩm”, ụng Trần

Bỏ Đắc vỡ cú cụng giỳp Lờ Lợi nờn sau khi khỏng chiến thắng lợi cũng đượcphong tước “Kiện đụ”, Phan Hoàng Nhiễu con rể của Hồ Hõn đó vận động nhõn

Trang 22

dân đóng nhiều thóc gạo cho nghĩa quân được nhà Lê tặng danh hiệu “§ại t

Nông”.

Dưới thời Lê, Quỳnh Đôi lại có nhiều nhµ nho xuất thân từ bình dân đã đậuđạt ra hợp t¸c với triều đình nhưng khi nhà Lê đi vào con đường suy vong, nhất làvào cuối thế kỷ thứ XVIII thì một bộ phận nhµ nho Quỳnh Đôi hoặc rút lui khỏihoạn trường hoặc là đậu đạt không chịu ra làm quan mà đi làm thầy đồ, thầythuốc Đời sống của nhân dân Quỳnh §ôi lúc bấy giờ vô cùng ngột ngạt tiêu điều.Hơn đâu hết dưới sự áp bức bóc lột của triều đình Lê Trịnh thối nát và bọn quanlại địa phương Khi phong trào Tây Sơn lan rộng ra khắp nước, có một số nhµ nho

vì lòng trung quân mù quáng đã chống lại nghĩa quân và bị thất bại Nhưng đángchú ý là vẫn có một số bộ phận nhµ nho sáng suốt tiêu biểu cho tinh thần nhân dânđịa phương hướng về cuộc cách mạng vĩ đại này Hồ Phi Tứ, Phan ChÝ Tùy đã gianhập đội quân Quang Trung trên đường tiến ra Bắc Hà đại phá quân Thanh Một

số sĩ phu khác như Hồ Sĩ Tố, Hồ Trọng Điển thì động viên nhân dân tiếp tế choquân Tây Sơn Nhân dân Quỳnh Đôi đã cống hai trèng đồng lớn cho Quang Trung

để đúc vũ khí, bà qủa phụ Nguyễn Thị Phát, một phụ nữ rất mực đảm đang hàngtháng đã xuất tiền nuôi năm nghĩa quân

Nhưng truyền thống chống giặc ngoại xâm của nhân dân Quỳnh Đôi đượcbiểu hiện xuất sắc là từ nữa cuối thế kỷ XIX cho đến ngày nay

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta hầu hết các sĩ phu Quỳnh Đôi đang làmquan cho nhà Nguyễn đều đứng về phe chủ chiến ví như ông tiến sĩ Hồ Sĩ Tuầnlúc bấy giờ là một quan chức ở Huế đã kiên quyết chống Pháp đến cùng Nhưngông bị phái chủ hoà “đàn hặc” và Tự Đức bổ ông đi làm tuần phủ Quảng Yênnhưng thực chất là nhằm đày ông ra nơi hải đảo xa xôi 5-1862 Tự Đức ký hàngước Nhâm Tuất cắt đứt ba tỉnh Nam kỳ cho Pháp thì ba tháng sau tháng 8-1862ông mất, nhân dân Quỳnh Đôi đã biếu ông đôi câu đối như sau:

-Du hoãn biệt lân bằng, khứ tuế trùng canh tam biệt khúc

-Quân tử trọng triều quân, bách niên di hận nhất hoà thư

Nghĩa là: “Người làm quan xa bạn, năm trước đà ngâm tam điệp khúc.

Trang 23

Bậc quân tử vì triều quân, trăm năm còn giận một hoà thư

Cùng chí hướng với bạn đồng liêu và đồng ấp của mình, năm 1859 hai ôngVăn Đức Giai và Dương Doãn hài đã có tên trong số 10 văn nhân Nghệ An, làmbiểu dâng triều đình xin kiên quyết chống Pháp Ông Văn Đức Giai còn mangquân vào tận Gia Định đánh thực Pháp, gây nhiều thiệt hại cho kẻ thù Văn ĐứcGiai là người đầu tiên ở Quúnh Đôi và Nghệ An đã vào nam giết giặc ngay khichúng vừa đặt chân lên đất nước ta Năm 1873, thực dân Pháp xâm Lược Bắc Kỳlần thứ nhất ông Dương Doãn Hài lúc này đang làm Bắc Kỳ tán lý quân vụ đạithần đảm nhận trách nhiệm chỉ huy quân tiên phong đã cùng với đÒ đốc Lưu VĩnhPhúc bàn định kế hoạch chống giặc Ông đóng quân ở Cầu Yên quyết cùng Lưubày binh phục kích tiêu diệt được tên Franis Garnier ở Cầu Giấy (1873) tiếp theo

đó ông đã bàn với thống đốc Hoàng Kế Viêm người Quảng Bình là đại diện triềuđình Huế ở Bắc Kỳ cho quân bí mật vào thành, lợi dụng sơ hở của kẻ địch đểchiếm lại Hà Nội nhưng ý kiến của ông không được tiếp nhận và triều đình lại vội

ký hàng ước Giáp Tuất (1874) nên việc không thành

Nhân dân Quỳnh Đôi mỗi khi nhắc tới Dương Doãn Hài đồng thời lại nhắctới Hồ Trọng ĐÜnh Vì trong khi Dương xông pha ở chiến trường Hà Nội - SơnTây thì Hồ Trọng ĐÜnh là Tán Lý quân vụ trấn giữ một vùng biên cương Lợidụng tình hình rối ren ở nội điạ Bắc Kỳ do gịăc pháp gây ra một bọn hải phỉ nướcngoài đã vào đánh cướp Quảng Ninh Dưới quyền chỉ huy dũng cảm mưu trí củaĐÜnh, quân dân địa phương đã đánh tan bọn cướp biển

Một hình ảnh khá tiêu biểu cho lớp quan chức Quỳnh Đôi chống Pháp lúcbấy giời là Hồ Bá Ôn, án sát tỉnh Nam Định Ngày 27-3-1883 giặc Pháp đánh vàothành Nam Định Trong khi các viên bố chánh - Tổng đốc đều bỏ chạy thì Hồ Bá

Ôn cùng với Đô Đốc Lê Văn Điếm quyết tử với giặc để bảo vệ thành nhưng vì thế

cô, vũ khí thiếu nên cha chống cự được bao lâu thì Hồ Bá ôn bị thương nặng vàđược đưa vÒ nhà rồi mất tại quê hương Trong một bài trướng điếu ông, một quanchức đồng ấp là Phạm Đình Toái đã hết sức ca ngợi ông và tỏ ra căm giận bọnquan lại chạy dài “¤ng (Hồ Bá Ôn) thế cô sức kém so với người may khỏi chết

Trang 24

làm chi, dẫu thua vẫn vinh người anh hựng khụng thẹn, sống chết là lẽ thường,ụng cứu nước quờn mỡnh so với người cũn sống chẳng kể, chết khụng mất tiếngtiết liệt cũn thơm ễng với ụng Phạm, ụng Hoàng (Hoàng Diệu) đều là hàng tiếtliệt cả Dõn làng cũng đề cao khớ phỏch hiờn ngang của ụng qua mấy cõu ca:

Thành Nam khúi tỏa trống dồn Lũng vàng phự tỏ sắc son chẳng rời

Bốn bề mưa đạn bời bời Hiến thõn cho nước giữa nơi chiến trường

Bờn cạnh đó thỡ từ năm 1874 đụng đảo cỏc sĩ phu đó tham gia cuộc nổi dậycủa văn thõn Nghệ An do Trần Tấn Và Đặng Như Mai phỏt động để chống lại việc

Tự Đức dõng Nam kỳ cho Phỏp Một số người bị chộm giết, tự đầy như cỏc ụng tỳtài Nguyễn Xuõn Quang, Hoàng Sĩ Liờn

Thỏng 7 - 1885 nhiều văn thõn Quỳnh Đụi lại nhiệt liệt hưởng Hịch Cầnvương do Tụn Thất Thuyết và Hàm Nghi phỏt ra Cỏc ụng Phan Duy Phổ (phúbảng), Hồ Đức Thạc (cử nhõn), Hồ Trọng Miờn (cử nhõn), Hồ Trọng Hoỏn (tỳ tài)

…điều đi Quỳ Chõu (Nghệ An) để đún Hàm Nghi nhưng khụng gặp Trở vế cỏcụng bốn hụ hào dõn làng đào hào đắp luỹ để gõy cơ sở chống Phỏp Nhưng cũngtrong năm ấy, biết rằng Quỳnh Đụi là một trong những nơi nguy hiểm đối vớichỳng, thực dõn Phỏp đó xỳi bẩy một số phần tử tay sai đắc lực gõy ra một cuộcthảm sỏt ở đõy giết hại gần 100 người Tuy nhiờn Quỳnh Đụi khụng vỡ thế mà lựibước, trỏi lại nhõn dõn và cỏc văn thõn càng tham gia một cỏch tớch cực cỏc cuộckhởi nghĩa ở Nghệ An – Hà Tĩnh – Thanh Hoỏ Xin được nờu một số người tiờubiểu như Dương Quế Phổ, Bà Lụa, Nguyễn Qỳy Yờm Dương Quế Phổ là mộttrong những thủ lĩnh quan trọng của phong trào cần vương ở Nghệ An do NguyễnXuõn ễn và Lờ Doón Nhạ lónh đạo (1885) ụng là con thứ hai của Dương DoónHài, đậu giải nguyờn, trong thời kỳ cần vương ụng đó đảm nhiệm vai trũ lónh đạochống [phỏp ở miền tõy Nghệ An như Quỳ Chõu, Anh Sơn ễng bị giặc Phàp bắt

và bị giải vào Vinh Chỳng dụ dỗ ụng “Quy thuận nhưng ụng nhất quyết tự quyết

Trang 25

và cuối cùng để giữ trọn khí tiết ông đã uống thuốc độc tự tử, ngày 28-5 năm §inhHợi.

Ngày 18-7-1887 Ông Nguyễn Quý Yêm, đậu giải nguyên làm huấn đạohuyện Nông Cống (Thanh hoá) đã bỏ quan đi theo cuộc khởi nghĩa của Tống DuyTân, Cao §iền ở Hùng Lĩnh (Thanh Hoá) (1886-1892) ông bị giặc Pháp bắt và xử

tử 1891

Đương thời có một bài thơ viếng ông như sau

Hừu quốc tri phù cảm cố thân Đan thanh bất tử thị tinh thần Ngô niên quý hữu đa thiên cổ Quý địa tài hoa thiểu nhất nhân Cực mục sơn hà thù cảnh vật Thương tâm cung kiếm lão phong trần Khấp quân chính vị cương thường khấp

Hồi thủ thu sơn thức lệ tần

NghÜa lµ:

Vì nước xông pha xá kể mình Tinh thần lưu mãi nét đan thanh Bạn xưa kính mến đâu còn nữa Bạn cũ tài hoa đã vắng tanh Phóng mắt non sông phong cảnh lạ Đau lòng gương súng gío mưa kinh Khóc ông chính bởi cương thường khóc Gạt lệ quay nhìn rặng núi xanh

(Trần Huy Liệu dịch )

Bà Lụa (1860-1930) chính tên là Trần Thị Trâm con một sĩ phu kháng Pháp

là cát sĩ Trần Hữu Duệ ở Đặng Cao(Quỳnh Lưu - Nghệ An) Bà lấy chồng rồi vềQuỳnh Đôi, chồng của bà là ông Hồ Bá Trị, em ruột án sát Hồ Bá Ôn Chồng cếtsớm vì hy sinh thời kỳ Cần Vương, bà ở vậy nuôi con (tức ông Hồ Học Lãm sẽ

Trang 26

nói tới sau) bà thường đi hoạt động dưới danh nghĩa làm nghề bán lụa nên người

ta gọi bà là bà Lụa Là một phụ nữ kiên cường, bà chuyên làm công tác liên lạc vàmua vũ khí cho nghĩa quân suốt trên bốn mươi năm kể từ 1885 gót chân khôngmỏi của bà đã in dấu trên mọi nẻo đường của đất nước, bà đã sang đến Xiêm (TháiLan) và Trung Quốc để mua vũ khí cho nghĩa quân của Phan Đình Phùng, NguyễnXuân Ôn, Hoàng Hoa Thám, Đội Quyên, Đội Phấn, Việt Nam Quang Phục Hội…

bà đã bị thực dân Pháp bắt nhưng địch đã không làm lay ý chí trung kiên của bà vàcác lãnh tụ nghĩa quân đều kính phục bà Do ảnh hưởng của bà, nhiều đã tích cựctham gia các phong trào chống Pháp Trước việc cụ Phan Bội Châu bị thực dânPháp bắt và đem về an trí ở Huế bà tỏ ra bất bình Năm 1929 bà đã vào Huế thăm

cụ Phan Năm 1930, trong lúc nằm trên gường bệnh sắp chết nghe tin có phong

trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bà phấn khởi nói: “Sự nghiệp cứu nước trước đây chưa

thành nhưng đã có anh em cộng sản làm tiếp rồi” Bµ mất năm 1930.

Bước sang đầu thế kûXX, Quỳnh Đôi không những mang theo những mấtmát đau thương do giặc pháp xâm lược gây ra trong nữa cuối thế kỷ trước mà còn

đè nặng bởi ách thống trị tàn bạo và sự bóc lột thậm tệ của chúng Là một làng cótiếng chống pháp, Quỳnh §ôi đã bị bộ máy thống trị thực dân o ép về chính trịnhư hạn chế việc cấp thẻ căn cước, theo dõi những gia đình có thù với chúng.Quỳnh Đôi lại vốn là một làng nghèo, thực dân Pháp càng làm cho cơ cực thêm.Nghề dệt lụa của làng này bị tàn lụi dần vì sự cạnh tranh của nhà máy dệt Pháp.Nghề nông cũng không may mắn gì hơn vì số ruộng đất đã ít lại còn bị một số đạiđịa chủ nhờ uy thế của Pháp tìm cách bao chiếm do đó số dân cày không có ruộngqúa nhiều, dạy học tư cũng là một nghề của Quỳnh Đôi nhưng vì Pháp hạn trường

tư nên nhiều “ông thầy” bị thất nghiệp

Mặc dù nhưng tinh thần yêu níc chống Pháp ở Quỳnh Đôi không nhữngkhông bị dập tắt mà trái lại ngày càng được thức tỉnh nung nấu từ thế hệ này quathế hệ khác Rất nhiều người tuy có đậu đạt nhưng không chịu ra cộng tác với địch

mà vẫn cam chịu cuộc sống bần hàn ở nhà Nếu có người bị bắt buộc phải ra “làmquan” dưới chế độ thực dân thì thường chống lại chúng nên bị chúng cách chức

Trang 27

hợăc bị theo dõi Trường hợp làm tay sai cho thực dân Pháp chỉ là cá biệt và bọnnày không có một chút thế lực gì trong làng xã.

Tóm lại có thể nói trong nữa đầu thế kỷ XX, Quỳnh Đôi đã có mặt trong hầucác cuộc vận động yêu nước của Nghệ An cũng như cả níc Trong phong tràoĐông Du do Phan Bội Châu đề xướng, Hồ Học Lãm và Hồ Sĩ Hanh đã tham gia

Hồ Sĩ Hanh tức Vĩnh Long sang Nhật 1905 sau đó sang Trung Quốc rồi sang

Xiêm (Thái lan) và tham gia phong trào “Thập niên sinh tụ, thập niên giáo

huấn” của Đặng Hứa, ông đã mất ở Xiêm Nhưng người mà nhân dân Quỳnh Đôi

biết nhiều hơn cả là ông Hồ Học Lãm Ông Lãm còn có tên là Hồ Xuân Lan( 1883-1941) là con cháu của một gia đình yêu nước (thân sinh của ông là Hồ BáTrị và bác ruột của ông là án sát Hồ Bá Ôn điều hy sinh vì sự nghiệp chống pháp).Ông du học ở Nhật vào khoảng 1905 sau đó ông sang hoạt động ở Trung Quốc.Ông là một nhân sĩ yêu nước chân chính đã từng nuôi dưỡng và bảo vệ nhiều nhàcách mạng Việt Nam ở Trung Quốc Trong số đó có những đồng chí lãnh đạo caocấp của đảng và nhà nước ta hiện nay Rồi qua các phong trào Đông Kinh NghĩaThục, Duy Tân, Việt Nam Quang Phục Hội - Quỳnh Đôi đều có những ngưới con

ưu tú tham gia Trong số đó có những chiến sĩ nổi tiếng trong địa phương hoặcđược cả nước biết tên như Hồ Bá Kiện, Cù Sĩ Lương, Hồ Phi Khoan

Hồ Bá Kiện hoặc Hồ Thiếu Tùng là con của Hồ Bá Ôn và là thân sinh củađồng chí Hồ Tùng Mậu Trước nạn nước mất nhà tan ông Hồ Bá Kiện không theolối học cử nghiệp nữa mà thường giao du với các sĩ phu yêu nước như Đặng TháiThân, Lê Dật Trúc…ông là một chiến sĩ của phong trào Duy Tân, bị thực dânPháp bắt tại Sơn Tây, và đÇy đi Lao Bảo, ở nhà lao ông đã phát động cuộc bạođộng cướp được nhà tù trong ba ngày Bị Pháp bao vây, ông cùng các bạn chiếnđấu rút vào rừng và cuối cùng bị Pháp giết hại

Cù Sĩ Lương là ngưêi được Hồ Bá Kiện dìu dắt và giới thiệu cho Đặng TháiThân Ông Cù là một chiến sĩ xuất sắc cña Việt Nam Quang Phục Hội mà Việtnghĩa liệt sử đã nhắc tới Bọn thực dân Pháp đã nhiều phen vất vả theo dõi mới bắtđược ông ¤ng bị đày vào Hà Tiên, rồi phẫn uất chết tại đây

Trang 28

Một người nữa mà nhõn dõn Quỳnh Đụi cũng rất kớnh trọng là ụng Hồ PhớKhoan tức là ụng Ốc, là một trong “Tứ hổ” của làng Quỳnh Đụi lỳc bấy giờ Làmột trớ thức yờu nước lại được tiếp xỳc với cỏc sỏch bỏo, phong trào “Mới” hồiđầu thế kỷ XX ụng Khoan đó mở một trường học theo kiểu Đụng kinh Nghĩa thục

ở Hà Nội; trường sở của ụng là một cỏi từ đường ở trong làng, chương trỡnh họcthỡ gồm toỏn học, địa lý “cỏch trớ” (khoa học thường trớ thức) và thể dục; cỏc thầydạy bằng chữ Hỏn và chữ Quốc ngữ Số học viờn cú khoảng 66 - 70 người phầnlớn là thanh niờn yờu nước, nhất là con em của cỏc gia đỡnh chống Phỏp trong làngtrong tỉnh như đồng chớ Hồ Tựng Mậu, đồng chớ Nguyễn Chấn…

Trường này về sau bị thực dõn Phỏp cấm Một trường học như vậy được mở

ra tại một làng quờ hẻo lỏnh ở Nghệ An là một hiện tượng ớt thấy, lỳc bấy giờ,trường tuy bị cấm nhưng người chủ xướng của nú là Hồ Phi Khoan vẫn là mộtnhõn vật cú ảnh hưởng trong giới thanh niờn cú tõm huyết trong những năm sau đú

cú thể núi, ụng Khoan là một trong những tiờu biểu cho một thế hệ chuyển tiếp từphạm trự cỏch mạng dõn chủ tư sản sang cỏch mạng vụ sản ở Quỳnh Đụi

Người chiến sĩ cộng sản đầu tiờn ở Quỳnh Đụi là đồng chớ Hồ Tựng Mậu,đồng chớ Mậu cú tờn nữa là Hồ Bỏ Cự, sinh 1894 trong một gia đỡnh đó cú nhiềucống hiến cho sự nghiệp chống Phỏp, xuất thõn từ một gia đỡnh như vậy và lớn lờntrong một điạ phương lại cú truyền thống chống giặc ngoại xõm, đồng chớ HồTựng Mậu đó sớm nung nấu tinh thấn yờu nước chống Phỏp sõu sắc và quyết tõmtìm đường cứu nước Năm 1919 đồng chớ đó từ gió gia đỡnh xuất dương sang Xiờm

và sang trung Quốc cựng với hai người bạn cựng tỉnh là Lờ Hồng Sơn và ĐặngXuõn Thanh ở Trung Quốc đồng chớ Mậu cựng với cỏc bạn chiến đấu của mỡnhliờn lạc với Đảng cộng sản Trung Quốc, tỡm hiểu kinh nghiệm cỏch mạng thỏng 10Nga Vào năm 1923 đồng chớ thành lập nhúm “Tõm Tõm xó” cú xu hướng Cộngsản nhằm tập hợp những người Việt Nam yờu nước đỏnh Phỏp giành độc lập dõntộc Năm 1920 đồng chớ được gặp đồng chớ Lý Thuỵ tức Nguyễn ái Quốc ởQuảng Chõu đợc giỏc ngộ chủ nghĩa Mỏc - Lê Nin và được học hỏi kinh nghiệmcỏch mạng vụ sản của Quốc tế từ đú đồng chớ trở thành một trong những trợ thủ

Trang 29

đắc lực của NguyÔn ¸i Quèc trong qúa trình vận động thành lập §ảng công sản

§ông Dương, tổ chức và lãnh đạo Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội,giúp NguyÔn ¸i Quèc mở các lớp huấn luyện thanh niên từ trong nước sang, tíchcực hoạt động cho sự thống nhất các tổ chức cộng sản lúc bấy giờ thành §ảngcéng sản §ông Dương

Đồng chí cũng là một thµnh viên trong Hội nghị thống nhất đảng do Hồ ChủTịch triệu tập 3 - 2 - 1930 Trong thời gian hoạt động ở Trung Quốc, đồng chí làchiến sĩ Quảng Châu công xã (1927)đồng chí đã qua 14 năm tù đày trong nhà lao

đế quốc Pháp (1913-145) Sau cách mạng tháng Tám, đồng chí đã tham gia các cơquan lãnh đạo quan trọng của §¶ng và nhà nước ta Năm 1951 trên đường đi côngtác, đồng chí bị mất, thọ 55 tuổi, được truy tặng huân chương Hồ Chí Minh Trong

thư điếu đồng chí Hồ Tùng Mậu ngày 1 - 8 - 1951 Hố Chủ Tịch đã viết: “Về tình

nghĩa riêng tôi đối với chú là đồng chÝ lại là thân thiết hơn anh em Khi hoạt động

ở đất khách quê người khi bị giam ở lao tù đế quốc, khi đấu tranh ở nước nhà hơn

25 năm đã bao phen chúng ta đồng cam cộng khổ như tay với chân.

VÒ công việc chung từ ngày cách mạng tháng Tám thành công chính quyền nhân dân thành lập đến thời kỳ kháng chiến cứu quốc, tôi đã thay mặt chính phủ

và đoàn thể giao phó cho chú những trách nhiện nặng nề, khi lãnh đạo Liên khu

4, khi giữ chức Tổng thanh tra và kiêm Hội trưởng hội Việt Hoa hữu nghị, chú không quản khó nhọc luôn luôn vui vẻ làm tròn nhiệm vụ Mất chú là đồng bào mất một người lãnh đạo tận tuỵ Chính phủ mất một người lãnh đạo lão luyện Đoàn thể mất một người trung thành, và tôi mất một người anh em chí thiết Mấy nguồn thương tiếc cộng vào trong lòng tôi, tôi gạt nước mắt thay mặt chính phủ nghiêng mình trước linh hồn chú và truy tặng chú huân chương Hồ Chí Minh Để nêu công lao của chú với đồng bào, đối với Tổ Quốc”.

Vào khoảng những năm 20 thế kỷ XX, sau khi đồng chí Hồ Tùng Mậu xuấtdương được mấy năm, ở Quỳnh Đôi đã có cả một hế hệ thanh niên chuyển từ chủnghĩa yêu nước sang lập trường của cách mạng vô sản với phong trào chung cảnước Họ không bằng lòng với tư tưởng yêu nước một cách chung chung như

Trang 30

trong thơ Tản §à, Trần Tuấn Khải, họ kính phục Phan Bội Châu và Phan ChuTrinh Nhưng cảm thấy rằng đường lối cứu nước của hai cụ không thể giải phóngđược đất nước Giữa lúc đó thì tư tưởng M¸c-LeNin và đường lối cứu nước của

NguyÔn ¸i Quèc đến với họ qua “Tư bản luận”, “Chủ nghĩa đế quốc là gì”

(bằng ch÷ Trung Quốc) “Đường kách mệnh”… do đó hàng chục người đã gia

nhập tổ chức thanh niên cách mạng Đồng chí hội, tuy những năm 1927-1928những đảng viên ưu tú như Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Khắc Nhu tức là NguyễnChấn…đã được chọn sang học tập tại trường huấn luyện của tổng bộ thanh niên ởTrung Quốc Còn những đoàn viên thanh niên khác cũng có những hoạt động thiếtthực ở địa phương như: chống các tệ nạn xã hội cờ bạc, mê tín, nghiện thuốcphiện, bố trí người tiến bộ ra nắm chức hào lý, hội kỳ mục để lợi dụng hình thứcchính quyền địch mà hoạt động hợp pháp

Sau ngày Đảng ra đời (3-2-1930) chi bộ Đảng Cộng Sản Đông Dương ởQuỳnh Đôi cũng được thành lập trên cơ sở của tổ chức thanh niên cộng sản Chi

bộ này gồm 20 đảng viên và là một trong những chi bộ đông đảng viên nhất củađảng bộ Nghệ An lúc bấy giờ

Năm 1930-1931 trong phong trµo Xô Viết Nghệ TÜnh, chi bộ Quỳnh §ôi đãphát động đông đảo quần chúng tham gia các cuộc đấu tranh của toàn huyệnQuỳnh Lưu và tổ chức biểu tình thị uy toàn tổng ở Đồng Tương (Quỳnh Đôi) các

tổ chức quần chúng như Nông hội đỏ, đội Xích vệ…đã thu hút rất đông nam n÷thanh niên trong làng, khí thế quần chúng sôi nổi như ngày hội thế lực phản động

ở địa phương hầu như không đáng kể Nhưng thực dân Pháp đã đàn áp phong tràođấu tranh cách mạng ở Quỳnh Đôi một cách dữ dội nhất, trong huyện Quỳnh Lưuhàng chục đảng viên và hội viên các đoàn thể như Dương ngọc Liễn, Hoàng VănHợp, Hồ Sĩ L·m…bị bắn chết ngay trong làng hoặc tại huyện lị, một số khác bị tratấn và chết tại nhà lao như Hå Phi Duy (con của ông Hồ Phi Khoan) còn một số bị

tù đày như các đồng chí Phan Hữu Khiêm, Dương Vụ Bản, Hồ Ngọc Diệu (đềutrong thường vụ huyện uỷ Quỳnh lưu) Dương Đình Thuỷ, Dương Văn Lan,

Hoàng Trung Tư, Hồ Thị Nhung…nhưng “Phong trào tạm lắng rồi phong trào lại

Trang 31

lên”, những đảng viên được ra tù đã cùng với những đảng viên không bị giặc bắt

vẫn bám trụ quê hương bắt đÇu chắp nối liên lạc với đảng, gây lại cơ sở cho nêntrong thời kỳ 1936-1939 chi bộ bộ §ảng ở Quỳnh Đôi được cñng cố phát trin vàcàng bắt rễ sâu rộng trong quần chúng Các hoạt động do chi bộ đảng chủ trương

đã diễn ra một cách sôi nổi và thu hút được đông đảo quần chúng tham gia Cuộcmít tinh ngày 1- 5 – 1938 của huyện ở Hói Nồi (Quỳnh Đôi), cuộc đón tiếp đại sứGo-Đa ở Cầu Giát để đưa yêu sách, việc quyên góp ủng hộ Trung Quốc khángNhật, tố cáo bọn cường hào tham nhũng, tổ chức các hoạt động văn hóa để lôi kéothanh niên vào trào mới…Chiến tranh thế giới lần hai bùng, nhiều cán bộ bộ đảngviện lần lược bị thực dân Phàp bắt bớ, tù đày như Phan Hữu Khiêm, Hồ ViếtThắng, Hồ Đức Phiệt, Hoàng Văn Khiêm, Hố Thị Nhụy, Phan Đình Diện, HồTrọng triên….Nhưng những đảng viên còn ở ngoài vẫn bám sát quần chúng hoạtđộng, cho nên phong trào cách mạng ở Quỳnh Đôi vẫn được duy trì

Đầu năm 1945 nhiều chiến sĩ thoát khỏi nhà tù đế quốc trở về làng bắt tayngay vào việc xây dựng và cũng cố chi bộ đảng liên lạc với tổ chức Việt Minh.Ban trù bị thành lập mặt trận Việt Minh do đồng chí Phan Hữu Khiêm triệu tập đã

cử người đi Vinh, Thanh Hoá để bắt liên lạc Mặt trận Việt Minh xã QuỳnhĐôiđược chính thức thành lập vào khoảng tháng 4-1945 trong lúc chưa có huyện

uỷ, chi bộ đảng Quỳnh Đôi lại cử những đồng chí có uy tín đi gây cơ sở Việt Minhtrong toàn huyện Quỳnh Lưu Đó là các đồng chí: Hồ Tùng Mậu, Phan HữuKhiêm, Hồ Việt Thắng, Dương Văn Lan, Dương Đình Thúy, Dương Ngọc Võ, HồThị Nhung…đồng chí Hồ Mậu Đờn được cử làm thủ lĩnh thanh niên huyện QuỳnhLưu để nắm lấy lực lược trẻ Trước nạn đói năm 1945, mặt trận Việt Minh QuỳnhĐôi đã vận động nhân dân quyên góp và tổ chức cứu tế cho những gia đình túngthiếu Do đó Quỳnh Đôi không có người bị chết đói, các phong trào luyên tậpquân sự, bảo vệ trị an và các hình thức hoạt động văn hóa văn nghệ của QuỳnhĐôi cũng nhằm mục đích phát động khí thế quần chúng và chuẩn bị hưởng ứnglệnh tổng khởi nghĩa trong cả nước

Trang 32

Ngày 15-8-1945 phỏt Xớt Nhật đầu hàng Đồng minh thi ngày 18/8/1945Quỳnh Đụi khởi nghĩa giành chớnh quyền nhiều cỏn bộ của Quỳnh Đụi được điềuđộng đi cụng tỏc cỏc nơi trong tỉnh, trong xứ (Trung Bộ) Tiếp theo đú, trongnhững năm khỏng chiến chống phỏp và chống mỹ cứu nước lớp lúp người dõnQuỳnh Đụi đó xung phong ra tuyền tuyến giết giặc Hiện nay tớnh ra cú đến 80%

số gia đỡnh trong làng Quỳnh cú con em đi chiến đấu Trong đú cú 7 gia đỡnh hiện

cú ba bụn tại ngũ chưa kể cú nhiều anh em đó “Nam tiến” từ năm 1945, 1946 rồi ởlại cựng đồng bào miền Nam tiếp tục chống ngoại xõm Nhiều anh em đó lập đượcnhững chiến cụng xuất sắc như: Cự Chớnh Lan (anh hựng quõn đội trong thời kỳchống Phỏp), Nguyễn Ngọc Bỡnh, Phan Thị Xuõn Sắc, Hồ Tõm Sinh (trong thời

kỳ chống Mỹ cứu nước) Trong hai cuộc kháng chiến chống Phỏp và chống Mỹ ởQuỳnh Đụi số thanh niờn xung phong tũng quõn bao giờ cũng vượt qỳa chỉ tiờu đóđịnh và khụng hề cú một người đào ngũ Trỏi lại cú nhiều ngời sau khi hết hạnnghĩa vụ quõn sự lại đăng ký tỏi ngũ

Mặt khỏc hàng trăm chị em cú chồng đi chiến đấu xa nhưng đều một lũngchung thuỷ sắt son với người ngoài tiền tuyến và đảm đang việc đồng ỏng, giađỡnh Phụ nữ Quỳnh Đụi đó được cỏc cấp hội phụ nữ từ huyện đến trung ươngkhen thưởng nhiều lần Qựynh Đụi hiện nay là một trong những xó tiờu biểu củaQuõn khu 4 về thành tớch “25 năm liền, thúc đủ quõn thừa” [24]

Về mọi mặt, Quỳnh Đụi củng là một xó khỏ trong huyện Quỳnh Lưu, QuỳnhĐụi đó cú nhiều người hiện cụng tỏc trong cỏc ngành kinh tế, chớnh trị, quõn sự,văn hoỏ, y tế, giỏo dục ở khắp nước Quỳnh Đụi đó được Chớnh phủ tặng thưởng

đợc nhiều huõn chương vỡ cú cụng trong hai cuộc kháng chiến chống Phỏp vàchống Mỹ

Bước vào thời kỳ đổi mới khi đất nước khụng cũn chiến tranh thỡ Quỳnh Đụilại hăng hỏi bước vào một cuộc chiến mới đú là: xõy dựng đất nước và phỏt triểnkinh tế Những người con Quỳnh Đụi đó tham gia cụng tỏc trong mọi lĩnh vực ởtất cả cỏc cấp từ trung ương đến địa phương kể cả trong nước và ngoài nước Dự ở

Trang 33

cương vị nào thỡ họ cũng quyết tõm đem hết sức mỡnh ra cống hiến cho Tổ Quốc.

Họ tiếp tục nối tiếp truyền thống yờu nước và cỏch mạng của ụng cha để lại

Chơng 2

CÁC DòNG H Ọ Ở QUỲNH đôi

2.1 Khái quát chung

Làng Quỳnh là sự bắt nguồn của văn hoỏ cỏc dũng họ Chớnh cỏc dũng họ làchất keo cố kết nhà với làng, làng với nước, nước với nhà tạo nờn một khối vữngbền một sức sống mónh liệt cho cả làng cả nước Đây là một làng mở với sự tậphợp của cả một cộng đồng của các dòng họ trên 40 dòng họ mỗi dòng họ đều cónhững đóng góp của mình để hình thành nên một làng Quỳnh văn hoá, một làng đ-

ợc phong tặng Anh hùng lực lợng vũ trang nhân dân

Đú thật sự là một vinh dự lớn lao mà trước hết là cụng lao của trờn 40 vị thuỷ

tổ của trờn 40 dũng họ lớn nhỏ trong làng, mở đầu là 3 vị khai cơ: Hồ Nguyễn Hoàng

-Theo chiều dài trên 600 nănm lịch sử, con chỏu cỏc dũng đó chung lũng hợpsức biến một cồn đất hoang vu thành một làng văn hoỏ, một xó anh hựng Gúpphần làm rạng rỡ quờ hương đất nước Đú chớnh là cụng sức của bao con ngườitrong cỏc dũng họ ở làng Quỳnh Cụng lao khụng chỉ của trai trỏng mà cũn cú sựđúng gúp của cỏc bà mẹ, cỏc chị em phụ nữ làng Quỳnh nơi cú nhà thơ lớn HồXuõn Hương đời nối đời chịu đựng cảnh “bảy nổi ba chỡm với nước non” đó

“Thõn cũ lặn lội” để chồng con ra đi vỡ việc nước mà ở nhà trước sau “Vẫn giữ

Lịch sử quốc gia dõn tộc khụng thể tỏch rời khỏi lịch phỏt triển của cỏc dũng

họ Mỗi một dũng họ ở Quỳnh Đụi cũng đều khụng nằm ngoài dũng chảy của lịch

sử dõn tộc và cỏc dũng họ ở làng Quỳnh đó biết trõn trọng, tự hào phỏt huy bản

Trang 34

chất truyền thống ưu việt của dòng họ để đóng góp vào việc phát triÓn văn hóa quêhương cũng như đất nước.

2.2.1 §ãmg gãp vÒ mÆt qu©n sù

Trên một đất nước mà suốt dòng lịch sử, biết bao thế hệ phải cầm vũ khíchống ngoại xâm Một đất nước mà chẳng mấy khi nguôi ngoai binh lửa thì mọikết tinh của văn hoá, trí tuệ thực sự giúp ích cho nước cho đời nó tạo thành sứcmạnh chống ngoại xâm

Làng Quỳnh trong suốt chiều dài lịch sử của mình, dù ở giai đoạn nào cũng

đã cống hiến cho đất nước những người con trong sự nghiệp đấu tranh chống giặcngoại xâm Trong lĩnh vực này người đầu tiên phải nói đến là Hồ Hồng Cụ là liệt

sĩ, đầu tiên của Quỳnh Đôi hy sinh trong trận đánh giặc Chiêm Thành năm 1402 ởvùng Thuận Quảng Để rồi tiếp nối gương dũng cảm của ông các thế hệ con cháu

đã tiếp tục làm nên những trang sử hào hùng, vẻ vang cho quê hương đất nước.Đầu thế kỷ XV, trong qúa trình khởi nghĩa chống quân đô hộ nhà Minh Trần

Bá Đ¾c, tổ tiên hä Trần ở Quỳnh §«i đã tìm đến Lam Sơn đứng dưới cờ khởinghĩa của Lê Lợi, được vua Lê phong tước “kiện đô” tức là quan võ bên cạnh nhàvua Hồ Hân con trưởng Hồ Hồng được phong tước Kiêu thắng hoài viễn tướngquân - khai quốc công thần

Nguyễn Tu con trưởng Nguyễn Thạc, tham gia đánh thành Diễn Châu (1425)quản một đội voi tiến ra Thanh Hoá Đất nước hoàn toµn giải phóng, ông phụng sựbèn triều vua Lê: Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông…ông có công đưa Lê Tư Thànhlên ngôi tức là vua Lê Thánh Tông, được phong danh hiệu qủa cảm tướng công,giữ chức tứ thành đề hạt bảo vệ thành quách Thăng Long; Hoàng Chung đượcphong danh hiệu Cương Dũng Công, tiếp nối nghiệp cha quản thụ, Lé Diễn Châu,trong giai đoạn thành Diễn Châu còn bị giặc Minh chiÕm đóng, ông đã dũng cảmđộng viên nhân dân chống giặc

Dưới thời nhà Nguyễn, trước khi mất nước, ở Quỳnh Đôi nổi lên một số nhàquân sự có nhân cách lớn như: Văn Đức Giai (1807-1864), năm 1861 được pháivào Nam Kỳ đánh giặc Pháp, được vua khen có tài thao lược ban cho tên mới là

Trang 35

Văn Đức Khuờ (Khuờ là ngụi sao sỏng) Triều đỡnh ký hoà ước nhõm tuất 1862ụng dõng sớ can vua lờn bói bỏ ngay hũa ước để khỏi di hận về sau 1864 ễng hysinh trong trận đỏnh giặc Tạ Văn Phụng ở Quảng Yờn, được làm lễ quốc tỏng lậpđền thờ (cựng với tướng Trương Quốc Dũng) và được đưa bài vị vào Hiền Lương

Từ tại Huế

Dương Doón Hài (1812-1878) đỗ giải nguyờn 1843 ụng cựng kết hợp với đềđốc Nguyễn Văn Hựng và quõn đội của Lưu Vĩnh phỳc bày mưu giết được tướngPhỏp Phờrăng xi Gacniờ (12-11-1873)

Ngoài ra cũn cú rất nhiều nhõn vật nổi tiếng khỏc như: Hồ Sĩ Tuần, PhạmĐỡnh Toỏi, Hồ Trọng Đỉnh, Hồ Bỏ ễn…

Từ ngày mất nước đến giữa thế kỷ XX đõy là giai đoạn cả nước bước vàocuộc đấu tranh lõu dài từ thỏng 6-1884 triều đỡnh huế ký hiệp patơnot chịu đặtTrung Kỳ và Bắc Kỳ dưới sự “bảo hộ” của thực dõn Phỏp (Nam Kỳ là thuộc địacủa chỳng từ trước rồi) đến 1945 mới giành được độc lập qua nhiều giai đọan khỏcnhau nhưng dự ở hoàn cảnh nào thỡ cũng cú những người con trong cỏc dũng họ ởlàng Quỳnh tham gia cú người cũn sống có người đó anh dũng hy sinh cho đấtnước Đặc biệt từ năm 1945 trở lại đõy thỡ trong lĩnh vực quõn sự thỡ cỏc dũng họ

đó cống hiến cho đất nước những người con ưu tỳ nhất như: Anh hựng quõn đội:

Cự Chớnh Lan; hai thiếu tướng: Hồ Quang Hoỏ, Hồ Sĩ Hậu 38 đại tỏ, trong đú cú

7 vị đại tỏ vuợt khung (hưởng lương như thiếu tướng) và rất nhiều những ngườilớnh tham gia đỏnh giặc Cú thể núi rằng trong lĩnh vực quõn sự cỏc dũng họ ởlàng Quỳnh đó cú những đúng gúp xứng đỏnhg nú như một dũng chảy khụngngừng liờn tục khụng hề đứt quảng trong cỏc giai đoạn lịch sử và một cấp độ khỏcnhau cú người làm những vị tướng cú người chỉ làm những người lớnh bỡnhthường nhưng tất cả đều khụng tiếc mỏu xương hiến dõng cho tổ quốc cựng kếthợp với sức mạnh của cả dõn tộc gúp phần vào chiến thắng chung của đất nớc

2.2.2 Đóng góp trong lĩnh vực văn hoá:

Với một làng được mệnh danh là đất học như làng Quỳnh thỡ cỏc dũng họ ởđõy đó cú rất nhiều những đúng gúp vào lĩnh vực văn hoỏ

Trang 36

Dưới thời phong kiến làng Quỳnh nổi lên một số tác giả có các tác phẩm lớnnh:

Tiến sĩ Hồ Sĩ Dương: Trùng tu Lam Sơn thực lực

Thiện hạ sĩ vọng Hồ Sĩ Tân: Quỳnh Lưu văn hội trường biên

Cử nhân Hồ Tất Tố: Quỳnh Lưu phong thổ ký

Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo: Thơ và câu đối

Tú tài Hồ Phi Hội: Quỳnh Đôi cổ kim sự tích Hương Biên

Phạm §×nh Toái: §ại Nam quốc sử diễn ca

Đặc biệt là sự xuất hiÖn của bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương với nhữngdòng thơ trào lộng rất mực sâu sắc, hóm hỉnh, tỏ thái độ phản kháng với những bấtcông trong xã hội đòi quyền sống của con người trước hết là người phụ nữ

Đến khi thực dân Pháp xâm lưîc, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp dần thay chữHán đó là một thay đổi lớn Tuy vậy các dòng họ ở Quỳnh Đôi đã chuyển theothời đại và vẫn tiếp tục phát huy truyền thống của cha ông, mặc dù rất nhiều khókhăn nhưng họ vẫn vượt qua các học có nhiều người đã học lên đến bậc đại họctrở thành kỹ sư, bác sĩ, luật sư…có một số người nổi tiếng như luật sư Hồ Đ¾cĐiềm, giáo sư bác sĩ Hồ Đắc Di, kỹ sư Hồ Đắc Liên Một số người đã trở thµnhnhà báo, nhà thơ, ngòi bút của họ chủ yếu đã kích bọn quan lại và bọn cướp nước.Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới cho con emcác dòng họ ở Quỳnh Đôi họ đã nô nức học tËp chen vai sát cánh trong cộng đồngdân tộc và đã có nhiều người đã đạt được những hoc vị về khoa học như giáo sưtiến sĩ, phó tiến sĩ, kỹ sư bác sĩ….Số người hoạt động trên mặt văn hoá giáo dụcvăn học nghệ thuật…cũng khá đông đảo Theo tổng kết thì các con cháu các dòng

họ làng Quỳnh có khoảng 600 người tốt nghiệp từ đại học trở lên trong đó có 29thạc sĩ, 36 tiến sĩ, 10 phó giáo sư tiến sĩ, 4 giáo sư, 2 viện sĩ quốc tế

Với một làng đất không rộng, người không đông như làng Quỳnh thì nhữngđóng góp của các dòng họ về lĩnh vực văn hoá đối với đất nước là vô cùng lớn lao

2.2.3 §ãng gãp trªn lÜnh vùc chÝnh trÞ - x· héi:

Trang 37

Trong lĩnh vực này ở giai đoạn lịch sử các nhà nước phong kiến ở nước ta.Làng Quỳnh do các dòng họ ở đây có số lượng người đỗ đạt nhiều, nên sau khi đỗđạt họ đều được nhà nước phong kiến mời giữ các vị trí nhất định trên quantrường từ trung ương đến địa phương, đều có con cháu các dòng họ làng Quỳnhnắm giữ và hä ®ều đảm nhận những chức vụ được giao và hoàn thành một cách

xuất sắc xứng đáng “Quan thanh liêm - Dân cần cù”.

Sau cách mạng tháng tám năm 1945 thành công thì những người con trongcác dòng họ ở làng Quỳnh đã phấn đấu và đảm nhËn những chức vụ quan trọngtrong bộ máy nhà nước từ trung ương cho đến địa phưong đều có sự góp mặt của

họ Trong đó nổi lên những gương mặt điển hình tham gia trong BCH Trung ương

§ảng như:

Hoàng Ngọc Ân từ tháng Tám 1945 là uỷ viên trung ương đảng là uỷ viênBCH §¶ng Céng s¶n ViÖt Nam từ năm 1956 đến năm 1976

Hồ Tùng Mậu là uỷ viên trung ương §ảng từ tháng 3-1951(đại hội 2)

Hồ Viết Thắng là uỷ viên trung ương §¶ng đại hội 2 (3-1951)

Hồ Quang Hoá: là uỷ viên trung ương §¶ng (1982- đại hội 5)

Hồ Đức Việt là uỷ viên trung ương §¶ng từ tháng 6 -1991 (đại hội 7) đếnnay đại hội 10

Là đại biểu trong các đại hội toàn quốc thì đại hội nào cũng có người thuộccác dòng họ ở Quỳnh Đôi tham gia Ngoài ra thì con cháu các dòng họ ở QuỳnhĐôi còn là đại biểu quốc hội, là bí thư huyện uỷ, chủ tịch khu, uỷ viên khu uỷ, làcán bộ lãnh đạo cấp Bộ, Khu, Thành, Tỉnh uỷ Là bí thư chủ tịch cấp Huyện, cấpquận cũng đều có người tham gia

Các dòng họ ở Quỳnh Đôi còn có rất nhiều các bà mẹ được phong là Bà MẹViệt Nam Anh Hùng đã hiến dâng chồng con cho Tổ quốc Có người được phong

là anh hùng lao động là chiến sĩ thi đua toàn quốc và địa phương Như vậy trong

Trang 38

lĩnh vực chớnh trị xó hội cũng như cỏc lĩnh vực khỏc cỏc dũng họ Quỳnh Đụi cũng

cú những đúng gúp xứng đỏng cho quờ hương và đất nước

Hồ Quỳnh Đụi núi riờng như sau

Nguyờn tổ họ Hồ là trạng nguyờn Hồ Hưng Dật người huyện Vũ Lõm-tỉnhTriết Giang-Trung Quốc Sau khi đậu trạng nguyờn đã sang Giao Chõu vàokhoảng năm 947-950 làm quan, thỏi thỳ Chõu Diễn Sau khi từ quan, lui về ở ẩn ởHương Bào Đột nay là xó Ngọc Sơn, với quan điểm “Vạn đại vi dõn” lo việc càyruộng chiờu dõn lập ấp

Do sự thăng trầm và biến thiờn lịch sử, tộc phả thất truyền mất 12 đời(nguyờn nhõn khụng rừ) đến cuối thế kỷ XIII hậu duệ của ụng, đời thứ 12 là HồLiờm xuất hiện ở Chõu Ái-Thanh Hoỏ làm con nuụi cho tuyờn phủ sứ Lờ Huấn ởHương Đại Lại nay là xó Hà Đụng, huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hoỏ đổi thành họ

Lờ gọi là Lờ Liờm, sau này Hồ Quý Ly (1336-1470) chỏu 4 đời của Lờ Liờn mớilấy lại họ Hồ rồi từ đú cũng thất truyền Ở Chõu Ái (Nghệ An) hậu duệ đời thứ 13của ụng là Hồ Kha xuất hiện

Ở đõy núi về họ Hồ Quỳnh Đụi của thỏi thuỷ tổ Hồ Kha Từ thụn tiờn sinhđường khờ - Nghĩa Đàn ụng đến sỏch Hoàn Hậu xem xột địa thế thấy Thổ Đụi làvựng đất chưa khai phỏ, phong cảnh hữu tỡnh, địa linh cú thể phỏt triển ễng quyết

bỏ cụng khai phỏ vựng đất này làm kế lõu dài cho con chỏu đời sau, rồi ụng giaocho người con cả là Hồ Hồng cựng với hai ụng Ma Lónh Cụng Nguyễn Thạc vàHành Khiển Diễn Chõu Lộ Hoàng Khỏnh cùng lập nghiệp, khai phỏ Trang ThổĐụi và lập nên xó Quỳnh Đụi ngày nay Khai tất tiờn 1378 đến nay đó gần 630năm với một bề dày lịch sử, bế dày truyền thống mà bốn ụng là Thành Hoàng của

xó đều cú sắc phong thần và từ đờng cỏc dũng họ đều là di tớch lịch sử văn húa

Trang 39

Riờng cụ Hồ Hồng sau khi đó tạo dựng cơ nghiệp sinh được bốn người con:hai trai, hai gỏi ụng lại tiếp tục tham gia quõn đội với chức chỏnh đội trưởng (thờinay là vừ quan cao cấp) chỉ huy trờn 2000 quõn đỏnh giặc Chiờm Thành Trongthời gian trấn thủ Tõn Bỡnh, ụng lấy vợ thứ và sinh ra nhỏnh họ Hồ ở Thuận Hoỏ-Thừa Hiờn Con trai trưởng của ụng là Hồ Hõn đó trở thành nhất thế tổ họ HồQuỳnh Đụi.

Như vậy theo hệ thống phả hệ từ “ụng Hồ Kha con chỏu họ Hồ đó cú mặt

nhiều nơi trong cả nước tập trung nhất là từ Thanh Hoỏ trở vào cỏc tỉnh miền Trung Con chỏu ụng đời nối đời đó cú nhiều đúng gúp lớn trong sự nghiệp xõy dựng và bảo vệ đất nước - triều đại nhà Hồ - triều đại Tõy Sơn và thời đại Hồ Chớ Minh Thống kê sơ bộ cho biết, trong 64 tỉnh thành đó cú 467 chi họ được chắp nối 597 nhà thờ Toàn quốc đó cú một ban liờn lạc được thành lập từ năm 1999

đó qua hai kỳ đại hộ [20 – 32]

2.3.1.2 Truyền thống họ Hồ Quỳnh Đôi - Quỳnh Lu:

Cuối thời Trần cựng với hai họ Nguyễn, Hoàng, họ Hồ đó khai cơ ra làngQuỳnh Đụi qua hơn 600 năm lịch sử biết bao sự thăng trầm của đất nước song conchỏu họ Hồ ngày một đụng đỳc thịnh vượng Năm 1725 con chỏu xõy dựng nhàthờ tế cỏc vị tiờn tổ Tuy phải qua nhiều lần tu sửa nhưng vẫn nằm vị trớ khi xưa,cũn giữ nguyờn dỏng vẻ kết cấu của năm 1873 Nhà thờ đại tộc này là nơi thờcỳng cỏc thế hệ họ Hồ mà trong đú cú nhiều nhà văn húa, nhiều vị cú cụng với đấtnước, nhiều bậc tiền bối cỏch mạng…nhiều người đó trở thành niềm tự hào củadũng họ và quờ hương

Trờn lĩnh vực bảo vệ giữ gỡn quờ hương đất nước, từ triều đại này đến triềuđại khỏc cỏc thế hệ con chỏu họ Hồ đó nối tiếp nhau liờn tục hy sinh xương mỏucủa mỡnh để bảo vệ nề độc lập tự do của Tổ Quốc Khụng ớt con chỏu Họ Hồ đóđược sử sỏch nờu gương, đó gúp phần dựng xõy nờn truyền thống tốt đẹp của quờhương, của dũng họ-truyền thống yờu nước chống ngoại xõm

* Thời Lờ:

Trang 40

- Ông Hồ Hân: tham gia khởi nghĩa Lam sơn giữ chức quản lĩnh hưởng trậtchánh tứ phẩm

- Ông Hồ Nhân giữ chức đô thống tham đốc được phong tước hoan quậncông

- Ông Hồ Bá Nhàn giữ chức trang vũ tướng quân phong tước diễn lộc hầu

- Ông Hồ Trung giữ chức chánh đội trưởng được phong tước hoành lộc hầu.Ngoài ra còn nhiều người có công về nội trị, ngoại giao nh: Hồ Sĩ Đống, HồPhi Tích, Hồ Sĩ Dương, Hồ Nhân Hy…

* Thời Tây Sơn:

- Ông Hồ Phi Từ giúp vua Quang Trung làm thượng tướng được phong tước

tư nhân hầu

Ngoài ra còn có phó bảng Hồ Trọng Điểm, Hồ Phồn, bà Hồ Thị Diệp, mẹông Hồ Doãn Kế là Nguyễn Thị Phát đã cung cấp lương thực quần áo cho nghĩaquân tây Sơn

- Cử nhân Hồ Trọng ĐÜnh làm tán lý quân vụ, sau lµm Bố chánh an bang(Quảng ninh) ở đây ông đã xây thành đắp luỹ diệt giặc biển Khi quân Pháp tới,ông thề giữ thành cầm cự với giặc hơn ba tháng Triều đình đã ban khen và thưởngông quân công lên 4 cấp Sau vua bắt b·i binh ông mới ngừng chiến đấu

- Tú tài Hồ Trọng Lưu năm 1885 giữ chức tham biện của vua Hàm Nghi bịv©y hãm phải nhảy xuống Sông Sen tự tử

- Hồ Sĩ Quý giữ chức t¸n dương quân vụ, trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái bịbắt và tử hình ở Vinh

Ngày đăng: 18/12/2013, 22:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- Đại việt sử kí toàn th - Tập II, tập III (1993), NXB Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại việt sử kí toàn th
Tác giả: Đại việt sử kí toàn th - Tập II, tập III
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1993
2- Hoàng Thanh Đạm, Phan Hữu Thịnh (1996) Đời nối đời vì nớc, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời nối đời vì nớc
Nhà XB: NXB Nghệ An
3- Hồ Sĩ Giáng (1997), Họ Hồ trong cộng đồng các dân tộc, NXB Văn hoá - Thể thao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Họ Hồ trong cộng đồng các dân tộc
Tác giả: Hồ Sĩ Giáng
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thểthao
Năm: 1997
4- Hồ Sĩ Giáng (1998) Từ thổ Đôi Trang đến xã Quỳnh Đôi, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ thổ Đôi Trang đến xã Quỳnh Đôi
Nhà XB: NXB Nghệ An
5- Hồ Sĩ Giàng (1993), Quỳnh Đôi - chặng đờng nối tiếp, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: chặng đờng nối tiếp
Tác giả: Hồ Sĩ Giàng
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 1993
9- Hồ Văn Khuê (2000) Quỳnh Đôi văn hiến quê tôi, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỳnh Đôi văn hiến quê tôi
Nhà XB: NXB Lao động
10- Đinh Xuân Lâm, Trịnh Nhu (1985) Từ ba đình đền Hùng Lĩnh, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ba đình đền Hùng Lĩnh
Nhà XB: NXB ThanhHoá
11- Bùi Dơng Lịch - Bản dịch của Đoàn Thắng (1986) Nghệ An Kí, NXB Sự thật - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An Kí
Nhà XB: NXB Sự thật -Hà Nội
12- Lịch sử Việt Nam tập I (1971), NXB Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam tập I
Tác giả: Lịch sử Việt Nam tập I
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1971
13- Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, tập I, tập II (1998, 1999) NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Nghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ An
14- Lịch sử Đảng bộ Quỳnh Lu (2000), NXB chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Quỳnh Lu
Tác giả: Lịch sử Đảng bộ Quỳnh Lu
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 2000
15- Lịch sử Đảng bộ Quỳnh Đôi (2005) NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Quỳnh Đôi
Nhà XB: NXB Nghệ An
16- Những sự kiện 1858 - 1945 (1981), NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những sự kiện 1858 - 1945
Tác giả: Những sự kiện 1858 - 1945
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1981
17- Quỳnh Lu huyện địa đầu xứ Nghệ (1990), NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỳnh Lu huyện địa đầu xứ Nghệ
Tác giả: Quỳnh Lu huyện địa đầu xứ Nghệ
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 1990
18- Quỳnh Yên xa và nay (1990) Đảng uỷ uỷ ban nhân dân xã Quỳnh Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỳnh Yên xa và nay
19- Tạp chí nghiên cứu lịch sử (5/1976) và (5/1992) Viện sử học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu lịch sử
20- Tộc phả và bia kí các họ : Hồ, Nguyễn, Hoàng, Dơng, Phan, Phạm, Cù, Tr-ơng, Phạm Hồ, Hoàng Hồ, Văn … Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tộc phả và bia kí các họ : Hồ, Nguyễn, Hoàng, Dơng, Phan, Phạm, Cù, Tr-"ơng, Phạm Hồ, Hoàng Hồ, Văn
23- Dơng Tất Từ, Lê Văn Hào, Trần Quốc Vợng (1976) Mùa xuân và phong tục Việt Nam, NXB Văn hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa xuân và phong tụcViệt Nam
Nhà XB: NXB Văn hoá
24- Xã luận báo nhân dân (15/11/1972) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã luận báo nhân dân (
6- Hồ Phi Hội, Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hơng biên Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w