1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu kịch của nguyễn huy tưởng qua những tác phẩm tiêu biểu

78 1,4K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu kịch của Nguyễn Huy Tưởng qua những tác phẩm tiêu biểu
Tác giả Nguyễn Huy Tưởng
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 510 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi vở kịch Vũ Nh Tô đợc dàn dựng trên sân khấu, khán giả nh đã “ bỗng nhiên phát hiện ra một tác phẩm lớn của nền văn học nớc nhà”, cho đến nay, đạo diễn và lớp diễn viên trẻ vẫn mo

Trang 1

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nguyễn Huy Tởng là một trong những nhà văn nổi tiếng của nền văn học Việt Nam hiện đại ở cả hai giai đoạn sáng tác trớc và sau Cách mạng Tên tuổi của ông gắn liền với nhiều tiểu thuyết lịch sử, truyện ngắn, ký sự, tuỳ bút, nhật ký, truyện viết cho thiếu nhi và kịch Trong đó, kịch là một thể loại chiếm

vị trí quan trọng trong sự nghiệp văn chơng của ông

1.2 Sách giáo khoa hiện hành đã đa một số vở kịch của Nguyễn Huy ởng vào chơng trình dạy học bộ môn ngữ văn trong nhà trờng THPT nh Vũ Nh

T-Tô, Bắc Sơn

1.3 Chọn Tìm hiểu kịch của Nguyễn Huy Tởng chúng tôi hy vọng sẽ góp phần tìm hiểu một cách đầy đủ hơn về tác phẩm kịch của Nguyễn Huy T-ởng trên phơng diện nội dung và nghệ thuật từ đó có thể hiểu một cách chuyên sâu hơn về đặc trng của thể loại kịch và để thấy đợc đóng góp của Nguyễn Huy Tởng ở mảng kịch trong tiến trình phát triển nền văn học dân tộc

2 Lịch sử vấn đề

Từ khi cho xuất bản những vở kịch lần đầu tiên cho tới những lần tái bản, rồi đợc diễn trên sân khấu, các vở kịch của Nguyễn Huy Tởng đã thu hút

sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

Từ giữa những năm 60 của thế kỷ XX, Hà Minh Đức và Phan Cự Đệ bằng những chuyên luận của mình đã đánh giá một cách toàn diện sự nghiệp của Nguyễn Huy Tởng với những thành tựu và hạn chế Trong đó mảng kịch cũng đã đợc các ông đề cập tới khá nhiều

Với bài Tìm hiểu kịch của Nguyễn Huy Tởng đăng trên Tạp chí Sân

khấu 1- 1- 1984, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Thành đã khái quát kịch Nguyễn

Huy Tởng chủ yếu viết về đề tài lịch sử và “ đến với hiện thực cách mạng”

Nhà nghiên cứu Văn Tâm đặt Nguyễn Huy Tởng trong hoàn cảnh “ bát nháo” để tìm hiểu ý nghĩa t tởng của vở kịch ( Nguyễn Huy Tởng một sự

nghiệp cha kết thúc, Viện Văn học, H, 1992) Còn Phạm Xuân Nguyên cho

rằng chìa khoá để hiểu đợc nội dung chính của vở kịch Vũ Nh Tô nằm ở câu

Trang 2

cuối cùng của lời tựa “ Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm” ( Bệnh Đan Thiềm, Sông Hơng, số xuân Quý Dậu, 1993) Dựa vào kết thúc của

vở kịch quá trình diễn ra xung đột kịch Đỗ Đức Hiểu đánh giá Vũ Nh Tô là một vở bi kịch hiện đại ở Việt Nam, là tác phẩm đỉnh cao của thể loại kịch ý kiến đánh giá của Phan Trọng Thởng, Phạm Vĩnh C giúp ta có cái nhìn đầy đặn hơn về vở kịch này

Sau khi vở kịch Vũ Nh Tô đợc dàn dựng trên sân khấu, khán giả nh đã “ bỗng nhiên phát hiện ra một tác phẩm lớn của nền văn học nớc nhà”, cho đến nay, đạo diễn và lớp diễn viên trẻ vẫn mong muốn có đợc những kịch bản nh Vũ

Nh Tô để có thể diễn bằng hết khả năng và sự đam mê nghệ thuật của mình “

Kịch Vũ Nh Tô có vóc dáng vạm vở của một tợng đài Nói đúng hơn, một nhóm tợng đài, với cuồn cuộn lửa khói và đám đông hò reo, với thoáng bóng dáng của

Đan Thiềm, và gơng mặt vừa rạng rỡ vừa quằn quại đau khổ của Vũ Nh Tô khi thấy Cửu Trùng Đài bốc cháy” ( Phong Lê) “ Đọc lại Vũ Nh Tô, chúng ta ngạc nhiên về tầm sâu của vấn đề đợc nhà văn trẻ Nguyễn Huy Tởng đặt ra trong một tác phẩm đầu tay của mình”

Vũ Nh Tô cho đến nay vẫn luôn đợc các nhà nghiên cứu quan tâm vì

phần nội dung ý nghĩa ẩn chìm trong tác phẩm mà tác giả đã thể hiện kín đáo

và thâm

Sau cách mạng thángTám lần đầu tiên trình diễn trên sân khấu, Bắc

Sơn đã thu hút khán giả và đợc khán giả hân hoan chào đón Có hàng loạt tờ

bào đăng bài phê bình kịch Bắc Sơn Báo Vì nớc (số 77, 5- 4 -1946) đánh giá:

“Bắc Sơn xứng đáng là vở kịch cách mạng thành công nhất từ trớc tới nay”, Báo Độc Lập ( số 118, 7- 4- 1946) cho rằng kịch Bắc Sơn là một vở kịch cách mạng nhng không có tính tuyên truyền Ngợc với ý kiến này trên báo Kiến thiết ( số 8, 14- 4- 1946) thấy “ Bắc Sơn thuộc về loại tuyên truyền biểu dơng” và đó

là “Một vở kịch tâm lý”

Đánh giá vở Bắc Sơn, Nguyễn Văn Tỵ đa ra những ý kiến về vở kịch từ kịch bản đến vở diễn trên sân khấu Ông đã chỉ ra những chỗ đợc và cha đợc, những thành công và hạn chế của kịch bản cho đến vở diễn Nhng chung quy

Trang 3

lại, ông đánh giá cao những gì Bắc Sơn đã làm đợc trong bối cảnh bấy giờ: “ Vở

Bắc Sơn đã ra đúng thời, đánh tan hẳn luận điệu mập mờ nghệ thuật không thể

diễn tả đợc công trình cách mạng”, “ Kịch đã diễn tả sự thực mà quần chúng

đang sống, đang hồi hộp nh lúc nhận tin tức hàng ngày”( Tiên phong,số 4-1946)

9,16-Chuyên luận của Hà Minh Đức và Phan Cự Đệ về vở kịch Bắc Sơn cũng

nh ý kiến của Nguyễn Đình Thi về vở kịch này cũng đã cho chúng ta thấy đợc thành công và hạn chế của vở kịch trên phơng diện nội dung và nghệ thuật Xuất phát từ hoàn cảnh ra đời, Hà Minh Đức và Phan Cự Đệ đã chỉ ra đợc thành công của Bắc Sơn chính là khai thác chủ đề cách mạng, phản ánh hiện thực cách mạng: “Bắc Sơn là một bản hùng ca của nhân dân, của quần chúng cách mạng” Bên cạnh thành công, các ông cũng đã chỉ ra những tồn tại của vở kịch khi xây dựng một số nhân vật và vấn đề kết cấu của vở kịch Nguyễn Đình Thi phần nào thông cảm đợc cái lý do dẫn đến khuyết điểm của vở kịch Bắc

Sơn: “ Viết Bắc Sơn, Nguyễn Huy Tởng đã bị thúc đẩy bởi nổi khổ tâm chung

của các nhà văn trớc tình trạng thiếu thốn kịch trờng”(Lời giới thiệu vở kịch

Bắc Sơn Hội Văn hóa Cứu quốc, 1946).

Trong dịp kỷ niệm 40 năm sân khấu cách mạng, nhà nghiên cứu Phan Kế Hoành căn cứ vào ý kiến đánh giá của những ngời mà ông cho là trung thực và

đầy đủ nhất để nói về giá trị kịch Bắc Sơn “Với sự sàng lọc của công chúng và thời gian đến nay, sau 40 năm có lẽ chỉ còn thấy một Bắc Sơn hằn lại nh một dấu son đẹp” (Tạp chí Sân khấu, số 11 – 1985)

Khác với Vũ Nh Tô và Bắc Sơn, hai vở kịch đặt hai cột mốc quan trọng

trên chặng đờng sáng tác kịch của Nguyễn Huy Tởng, Những ngời ở lại không

thu hút đợc nhiều sự quan tâm của báo chí đơng thời cũng nh giai đoạn sau này Trong bài báo phê bình đăng trên tờ báo Sự thật, ngày 15/4/1949, nhà nghiên cứu Hồng Lĩnh “ hoan nghênh tác giả đã chọn một đề tài đặc sắc”, có nhiều cố gắng để xây dựng nên một tác phẩm dày dặn về dung lợng, điều đó tạo “niềm

hy vọg vào tác giả ở những tác phẩm sau này” ông còn chỉ ra một số hạn chế

mà sau đó một số nhà nghiên cứu cũng tỏ ra đồng tình với đánh giá của ông: “ Qua vở kịch, không thấy cơn thử thách vĩ đại mà dân tộc đang trải qua” Phan

Trang 4

Cự Đệ trong quá trình tìm hiểu đặc điểm chung của kịch Nguyễn Huy Tởng

đánh giá “Những ngời ở lại là một bớc thụt lùi so với Vũ Nh Tô và Bắc Sơn” Nguyễn Đình Thi phát biểu: “Những ngời ở lại tạo nên liên khu I thì đợc nhng dựng lên liên khu I thì cha đạt”

Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức và Nguyễn Văn Thành cho rằng tác giả đã

“không làm nổi” vấn đề ông đa ra trong tác phẩm, song tác phẩm đã phần nào nói lên đợc cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân Thủ đô, nên vẫn là một vở kịch có bề thế và có giá trị văn học đáng kể

Nhiều ngời khi đọc Những ngời ở lại cho rằng Nguyễn Huy Tởng chịu

ảnh hởng quá lớn từ vở kịch Lôi Vũ của Tào Ngu Nhng theo Nam Cao “mới

đọc (Những ngời ở lại), ngời ta có hơi khó chịu vì có hơi hớng Lôi Vũ thật

Nh-ng càNh-ng đọc cái hơi hơi hớNh-ng ấy tuy vẫn còn nhNh-ng bị một cái gì mạnh hơn đánh bạt đi Ngời đọc thấy rung động Và lại không khí lắm ” Luyện Thanh Nga…cũng đã chứng minh rằng Những ngời ở lại chịu ảnh hởng của Lôi Vũ, nhng sự

ảnh hởng ở đây chỉ diễn ra trong một phạm vi nào đó, chứ không phải là toàn

bộ, và nó mang một sức sống mới đậm đà bản sắc Việt Nam

Một số trang Wed điện tử đã đăng tải những ý kiến đánh giá của nhà phê bình về kịch của Nguyễn Huy Tởng Trong số đó, nhà nghiên cứu Thuỵ Khuê

đã chỉ ra đợc đóng góp kịch của Nguyễn Huy Tởng cho nền kịch nói Việt Nam khi so sánh các vở kịch của ông với những vở kịch của các tác giả cùng thời

Nhìn chung, xung quanh việc nghiên cứu kịch của Nguyễn Huy Tởng có thể thấy kịch của Nguyễn Huy Tởng đợc đề cập khá nhiều qua các chuyên luận

và bài viết song chủ yếu là những ý kiến đánh giá tản mạn, đi vào từng khía cạnh cụ thể mà cha có hệ thống, cha đợc nghiên cứu chuyên sâu Kế thừa kinh nghiệm và kết quả của những ngời đi trớc, chúng tôi thực hiện đề tài này với mong muốn tìm hiểu rõ hơn đặc điểm của kịch Nguyễn Huy Tởng từ đó thấy đ-

ợc giá trị kịch của ông và đóng góp kịch của ông

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 5

Tìm hiểu đặc điểm nội dung, nghệ thuật kịch của Nguyễn Huy Tởng, qua

đó, thấy đợc đóng góp kịch của Nguyễn Huy Tởng trong văn đàn Việt Nam

4 Phạm vi t liệu khảo sát

Tìm hiểu kịch của Nguyễn Huy Tởng chúng tôi tiến hành khảo sát các vở

kịch Vũ Nh Tô, Bắc Sơn, Những ngời ở lại và một số các vở kịch khác của tác

giả

5 Phơng pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng đồng thời các phơng pháp: khảo sát, thống kê, phân tích, tổng hợp , đối chiếu, so sánh

6 Cấu trúc khoá luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo khoá luận của chúng

Trang 6

Ch¬ng 1Hµnh tr×nh s¸ng t¹o v¨n häc cña NguyÔn Huy Tëng 1.1 Vài nét tiểu sử cña Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Huy Tưởng sinh ngày 6 tháng 5 năm 1912 trong một gia đình nhà nho tại làng Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội Cha ông - cụ Nguyễn Huy Liễn, là một nhà nho không lần nào lều chõng, không làm việc với chính quyền thực dân, quanh năm sống giản dị trong luỹ tre làng- mất sớm nên ông chịu sự giáo dục nuôi dưỡng của mẹ, một người phụ nữ tần tảo nhân từ, đôn hậu và cởi mở, thanh bạch và giản dị có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành nhân cách ở con mình

Tuổi thơ của Nguyễn Huy Tưởng lặng lÏ trôi trong sự êm ấm, trong sự yêu thương trìu mến kín đáo của mẹ Khoảng năm lên 10 tuổi, mẹ cho ông ra Hải phòng theo học ở nhà bµ chị ruột và ông anh rễ làm thông phán bưu điện Tại đây ông học xong cả bốn năm thành chung và tốt nghiệp năm 1932 Ông học trung bình Môn văn cũng không giỏi lắm Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường , ông đã say mê những câu chuyện về các nhân vật anh hùng trong lịch sử Mảnh đÊt Dục Tú quê hương ông- nơi “Tất cả mọi cái đều lịch : lịch

sử dựng nước, lịch sử giữ nước, lịch sử văn hoá, lịch sử xã hội”, thành Cổ Loa, đất đế đ« của nhà Thục, nơi có giếng ngọc sâu thẳm dưới cây đa nghìn tuổi, đã truyền cho ông sự say mê đặc biệt, một sự say mê có thể nói như nhục cảm về một quá khứ oai hùng của cha ông đồng thời đặt ra cho ông những băn khoăn của một người dân mất nước

Năm 18 tuổi khi còn là cậu học trò thành chung, Nguyễn Huy Tưởng

đã xác định con đường đi của mình : “ Phận sự của một người tầm thường như tôi muốn tỏ lòng yêu nước thì chỉ việc viết văn Quốc ngữ thôi” Với ý nghĩ vậy ông đã âm thÇm tìm đọc các tác giả cổ điển Pháp, Nga, Anh, Trung Quốc Ông thường dồn tiền ®ể dành mua những sách cổ ®iển Pháp, Hi L¹p, La

mã, Tây Ban Nha… Rồi từ đó làm quen với những tác phẩm của Rabelis, Shakespeare, Dante, Homere, Vilrgile, Schiller, CÐvanter… Với các vốn Hán học tự học và nhờ bác ông bày thêm, ông có thể đọc được Đường thi và một

Trang 7

số Hỏn văn khỏc Những gỡ đọc được đó nung nấu trong ụng ước vọng xõy đắp những vần thơ đầu tiờn ghi lại những suy nghĩ về văn chương về nghệ thuật, về cuộc sống mà trớ thức trẻ được chứng kiến, đang trải qua, những vần thơ được ghi lại trong những trang nhật kớ viết khỏ đều đặn của ụng.

Từ cuối năm 1932, Nguyễn Huy Tưởng lờn Hà Nội với tham vọng thật lớn là vừa đi làm, vừa tự đi học thi tỳ tài Những năm 1935, ụng thi trỳng thư

kớ nhà Đoan làm việc tại Hà Nội Đến 1939, ụng được chuyển về làm việc tại Hải Phũng

Đứng trước vận nạn của đất nước, chứng kiến cuộc sống lầm than của bao người xung quanh mỡnh, Nguyễn Huy Tưởng ý thức vai trũ của mỡnh đối với đất nước Giờ đõy khụng cũn thỡ giờ để mộng tưởng viễn vụng, để núi chuyện bự khỳ thõu đờm, mà cũn phải hành động để cứu nước

Ở tuổi 30, ụng tham gia hoạt động hướng đạo, những mong luyện “ cả

chớ gan vàng” và sau đú là hoạt động tớch cực trong tổ chức Truyền bỏ chữ quốc ngữ ở Hải Phũng và Hà Nội Đặc biệt là từ cuối năm 1942, ụng bắt liờn

lạc với tổ chức Mặt trận Việt Minh Từ đầu năm 1943, ụng gia nhập tổ chức Văn hoỏ Cứu quốc của Đảng Dấn thõn vào những hoạt động chớnh trị, hoạt động cỏch mạng, Nguyễn Huy Tưởng gặp nhiều nguy hiểm khú khăn hơn nhưng đồng thời cũng hào hứng say mờ trong hoạt động xó hội cũng như trong sự nghiệp văn chương

Trước Cỏch mạng thỏng Tỏm, trong thời gian làm cụng chức ở sở Đoan

và tham gia hoạt động cỏch mạng, Nguyễn Huy Tưởng đó cho ra đời cuốn

tiểu thuyết Đờm hội Long Trỡ (1940), vở kịch Vũ Như Tụ (1942), cuốn tiểu

thuyết An Tư (1943).

Trong những năm khởi nghĩa, Nguyễn Huy Tưởng được đoàn thể tớn nhiệm cử đi dự Đại hội Tõn Trào Cỏch mạng thỏng Tám thành cụng, ụng tham gia biờn tập tờ bỏo Giải phúng, Tiờn phong và làm Tổng Thư kớ cuả Tiểu ban Trung ương vận động đời sống mới Ngày1/1/1946, ụng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đụng Dương và là đại biểu Quốc hội khoỏ I Cũng

chớnh năm này ụng cho ra đời vở kịch Bắc Sơn Thỏng 7 cựng năm ụng được

Trang 8

bầu làm Thư kí Hội Văn hoá Cứu quốc Việt Nam Toàn quốc kháng chiến, ông

được giao nhiệm vụ tổ chức đưa đoàn văn hoá kháng chiến lên Việt Bắc tham gia kháng chiến

Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Huy Tưởng là uỷ viªn thường

vụ Hội Văn nghệ Việt Nam, Thư kí toà soạn Tạp chí Văn nghệ và tham gia

Tiểu ban Văn nghệ Trung ương Đảng Thời gian này, ông xuất bản tập kịch

Những người ở lại (1948), tập kịch Anh sơ đầu quân (1949), truyện Tìm mẹ

(1950) Năm 1951, ông tham gia chiến dịch Biên giới và cho xuất bản Kí sự

Cao Lạng- được giải ba của Hội Văn nghệ Thâm nhập nông thôn trong phong trào Giảm tô và Cải cách ruộng đất, ông viết Truyện anh Lục (1955-1956), và

nhận được Giải nhì Văn học của Hội Văn nghệ Việt Nam Năm 1956, ông cho

xuất bản kí Gặp Bác Năm 1957, ông trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt

Nam , là Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, khoá I Chuyến đi thực tế lên Điện Biên mảnh đất anh hùng bị bom đạn giặc cày xới nay đang

ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội, ông viết Bốn năm sau (1959).

Trong các mảng sáng tác của ông, một thể loại ông dành tâm sức đÓ cho ra đời những truyện kể hay về câu chuyện cổ tích, về câu chuyện lịch sử

đó là chuyện giành cho thiếu nhi VÒ m¶ng truyện viết cho thiếu nhi, có nhiều

truyện đến nay vẫn được coi là mẫu mực và được các em tìm đọc như An

Dương Vương xây thành ốc, Kể chuyện Quang Trung, Lá cờ thêu sáu chữ vàng… Với tình yêu mến và sự quan tâm sâu sắc đến thế hệ mầm non tương

lai của đất nước,ông đã cùng một số văn nghệ sĩ khác bắt tay xây dựng phong trào sáng tác cho thiếu nhi Ông cũng là giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng

Căn bệnh ung thư gan không cho phép ông kéo dài sự sống, không cho phép ông tiếp tục văn nghiệp của mình.Nguyễn Huy Tưởng mất ngày

25/7/1960, khi ông mới hoàn thành xong tập I, tiểu thuyết Sống mãi với Thủ

đô Cùng với những trang bản thảo còn dang dë, ông để lại hàng ngµn trang

nhật kí được ông viết liên tục trong suốt 30 năm trước lúc ông qua đời

1.2 Qu¸ tr×nh s¸ng t¹o v¨n häc cña NguyÔn Huy Tëng

Trang 9

Đến với văn chơng, gắn mình vào định mệnh ấy, Nguyễn Huy Tởng đã tự cho rằng đấy là một sứ mệnh thiêng liêng cao cả, đòi hỏi ngời nghệ sĩ phải hết sức dụng công, có ý thức cao trong lúc cầm bút, đặt bút viết nên những dòng suy nghĩ, t tởng của mình Và bởi nó không dừng lại là những dòng t tởng, tình cảm của bản thân cá nhân nhà văn mà nó còn là những t tởng tình cảm của số đông cộng đồng là bản sắc trong nếp sống, nếp suy nghĩ của cả một nền văn hóa dân tộc, cho nên cần phải hết sức cẩn trọng, phải hết sức nghiêm túc khi đặt bút ghi trên trang giấy Với suy nghĩ đó, bằng thực lực, khả năng của bản thân có thể nói con đờng sáng tạo nghệ thuật của ông không đơn giản chút nào, không bằng phẳng, và nhiều lúc không đạt đợc kết quả nh mình mong muốn.

18 tuổi, chàng thanh niên đã ghi những dòng nhật kí :“ Phận sự của một ngời tầm thờng nh tôi muốn tỏ lòng yêu nớc thì chỉ có việc viết văn chữ quốc ngữ thôi” ý thức và tinh thần yêu nớc đến sớm trong con ngời trẻ tuổi Nhng

ông đến với nghiệp văn hơi muộn so với những bạn cùng thời, nh Hàn Mặc Tử,

Vũ Trọng Phụng Năm 1940, khi Nguyễn Huy Tởng bắt tay vào xây dựng tiểu thuyết Đêm hội Long Trì và sau đó vở kịch Vũ Nh Tô thì những ngời bạn cùng thời với ông đã kết thúc quá trình sáng tác của mình Nguyễn Huy Tởng có quá trình chuẩn bị đến với văn chơng khá dài, bởi ông không phải là cây bút tài năng bẩm sinh có thể ngẫu hứng “ xuất khẩu thành chơng”, cũng không thể “ tài hoa” đặt bút tạo nên những áng văn bay bổng thoát li cuộc sống nh những nhà văn thời kì 1900 - 1945

Ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trờng, ông đã có quan niệm đúng về cái

đích của văn chơng đó là góp phần xây dựng cho cuộc đời Và khác với lĩnh vực khác, văn chơng chủ yếu đóng góp về mặt tinh thần Ông nghĩ: “Ngời viết chuẩn bị cho quá trình sáng tác của mình không chỉ bằng cái vốn của cuộc đời thực tế mà còn phải bằng sự tích lũy những tri thức” Do vậy ở ông diễn ra một quá trình tìm tòi tri thức một cách say mê và hết sức nghiêm túc: “ Tôi đi tìm chân lí từ những sách triết học, từ thuyết nhân nghĩa của đạo Nho, đến thuyết từ

bi bác ái của đạo Phật, tôi rơi vào chủ nghĩa sức mạnh của Nietzche, bởi vì tôi nghĩ một dân tộc yếu lùn thì sức mạnh là con đờng giải thoát Tôi vùi đầu trong

Trang 10

đống sách lịch sử để lấy cái vinh quang của ông cha mà bồi dỡng lòng tự hào dân tộc cho mình Tôi chuẩn bị viết văn để ca ngợi lịch sử, ca ngợi dân tộc, kích

động lòng yêu nớc của đồng bào” Những suy nghĩ này cho thấy lựa chọn của

ông trong khuynh hớng văn học của mình Ông chọn lối viết về đề tài lịch sử nhằm mục đích tô điểm cho nền văn hóa dân tộc và một mục đích cao cả là đem lại nguồn sức mạnh chiến đấu cho quần chúng nhân dân để họ đấu tranh bảo vệ

độc lập cho tổ quốc

Đặt bút viết những vần thơ với ớc mơ mong hoàn thành tập thơ “ Nhất

điểm linh đài” Song ông thấy khó quá Thơ ca cần phải có những phút thần

hứng, phải có sự cảm nhận tinh tế để có thể hát lên những khúc ca trữ tình giàu cảm xúc Những vần thơ đầu tiên ông dành ghi lại cảm xúc, tâm trạng của mình trớc hiện thực đen tối mà dân tộc đang phải trải qua Những vần thơ rất khác với những vần thơ của các nhà thơ lãng mạn cùng thời muốn thoát li, muốn chối bỏ hiện thực phũ phàng này :

Sôi cay đắng không trôi còn nuốt mãi Gánh nghèo hèn vai bại vẫn còn khiêng Khối vô duyên ám mãi mắt lo phiền Khối uất kết mỗi giờ thêm rắn lại

( Đau khổ, 1940)

Nhng cuộc thử nghiệm với thơ ca, nàng thơ đã không thể cho ông những gì ông mong muốn Ông đã chuyển sang địa hạt văn xuôi kiếm tìm hớng đi mới phù hợp với khả năng của mình Và ở địa hạt ấy : Kịch, tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện viết cho thiếu nhi, thể loại nào ông cũng có những tác phẩm sống mãi với độc giả

Trớc năm 1945, với cảm quan lịch sử, tiểu thuyết Đêm hội Long Trì (1942),

An T (1943) và kịch Vũ Nh Tô (1942) đã in đậm dấu ấn của một chủ thể sáng tạo

đầy u thời mẫn thế, ngay từ những tác phẩm đầu tay đã tạo đợc vóc dáng và hồn cốt không lẫn với các cây bút cùng thời Đêm hội Long Trì là tác phẩm mở đầu cho quá trình sáng tác của Nguyễn Huy Tởng Đêm hội Long Trì dựa trên những t liệu lịch sử đề cập qua Hoàng Lê nhất thống chí và Việt Lam xuân thu Khai thác

Trang 11

câu chuyện xung quanh quan hệ giữa chúa Trịnh Sâm và chị em Đặng Thị Huệ và

Đặng Lân

Đêm hội Long Trì đã cho ta thấy bức tranh toàn cảnh xã hội Việt Nam

d-ới thời chúa Trịnh đen tối và mục nát đến mức nào Vì say đắm sắc đẹp của

Đặng Thị Huệ, mà chúa Trịnh Sâm đã bao che và dung túng Đặng Lân- em trai

Đặng Thị Huệ - một tên du đãng, một con thú dữ với dục vọng cuồng bạo luôn trong tình trạng khát mồi, hãm hiếp, chém giết, gây nên bao tội ác động trời Hắn coi thờng kĩ cơng xã hội, chà đạp lên đạo lí, sống dã man, tàn bạo và dâm loạn

Viết Đêm hội Long Trì, Nguyễn Huy Tởng không khai thác tập trung vào mối quan hệ giữa Trịnh Sâm và Đặng Thị Huệ Mà ở đây tác giả lấy Đặng Lân làm đầu mối cho các quan hệ: Đặng Lân- Quỳnh Hoa, Đặng Lân- Nguyễn Mại, thể hiện hai sự đối lập, đối lập giữa sự tàn ác, thô bỉ của dục vọng với vẻ đẹp mềm mại và tình yêu thơ mộng, và đối lập giữa tội ác và công lí

Đêm hội Long Trì đã cho thấy đợc sự biểu lộ chân tình và mạnh mẽ thái

độ bất bình của ngời viết, một thanh niên yêu nớc, trớc những thế lực bạo tàn trong lịch sử cũng nh trong cuộc sống Tác giả bày tỏ lòng ngỡng mộ một công

lí xã hội phù hợp với quyền lợi và nguyện vọng của quần chúng nhân dân

Trên tinh thần ấy, Nguyễn Huy Tởng đã sáng tạo ra vở kịch Vũ Nh Tô,

vở kịch lịch sử có giá trị sáng tạo về nhiều mặt Vũ Nh Tô là nơi kí thác tâm sự của ông, là quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Huy Tởng, là vấn đề luôn làm suy nghĩ cuả ông không thể tĩnh lặng và luôn luôn xoáy sâu, không dứt Câu chuyện kể về một nghệ sĩ tài hoa mang một khối mâu thuẫn lớn, khối mâu thuẫn giữa khát vọng nghệ thuật và ý thức công dân Khi cầm bút viết nên tác phẩm này trong Nguyễn Huy Tởng cũng “ chẳng biết”, ông cầm bút vì cùng một bệnh với Đan Thiềm, một cung nữ trong cung cấm Và cho đến nay tự bản thân mỗi độc giả khi theo dõi kịch đều có thể tự đa ra câu trả lời cho mình trớc câu hỏi đợc tác giả đặt ra lời đề tựa : “ Chẳng biết Vũ Nh Tô phải hay những kẻ giết Nh Tô phải?”

Lịch sử với truyền thống yêu nớc, đó là vấn đề ông hết sức say mê, trân trọng Ngợc dòng quá khứ quay về với những sự kiện xảy ra trong những năm

Trang 12

tháng của những thế kỉ đầu dựng nớc và giữ nớc, Nguyễn Huy Tởng viết Cột

Đồng Mã Viện và tiểu thuyết An T, dựa vào hai hiện tợng lịch sử tuy không lớn

nhng là những chuyện xót xa trong những năm đất nớc bị xâm lợc

Cách mạng tháng Tám thành công, bản thân mỗi nhà văn cũng tiến hành một cuộc cách mạng trong t tởng nhận thức của chính mình ảnh hởng trực tiếp

từ bản Đề cơng văn hóa(1943) do đồng chí Trờng Chinh soạn thảo với ba phơng châm : Dân tộc, Khoa học, Đại chúng, hầu hết các nhà văn sáng tác trớc đó đều phải dùng “đôi mắt” để “ nhận đờng” thực hiện yêu cầu, đòi hỏi, nhiệm vụ mà

Đảng giao phó cho nền văn nghệ Có nhiều nhà văn rất khó bắt nhịp cùng không khí thời đại bởi họ quen chối bỏ hiện thực đen tối trớc năm 1945 Giờ

đây cuộc sống mới đến, họ còn ngỡ ngàng, thậm chí loay hoay cha biết phải làm gì thì Nguyễn Huy Tởng hân hoan chào đón Cách mạng, đón chào ngày hội non sông Hiện thực mới của xã hội nh có mãnh lực hấp dẫn đã lôi cuốn toàn bộ cảm hứng của Nguyễn Huy Tởng Bằng niềm hân hoan vui sớng, bằng

sự trải nghiệm và vốn sống cùng với t liệu đợc chính những ngời trực tiếp tham

gia cuộc khởi nghĩa cung cấp, ông viết nên vở kịch Bắc Sơn (1946) Bắc Sơn

đ-ợc viết ra trong sự tích tụ và bừng sáng của nhiệt tình cách mạng và cảm hứng

công dân Khi Bắc Sơn ra đời và công diễn trên các sân khấu lớn đã đợc công

chúng hết sức hoan nghênh đón nhận Đấy là “vở kịch Cách mạng thành công nhất từ trớc đến nay Là vở kịch mở ra một nền kịch mới Và với vở kịch này Nguyễn Huy Tởng đã cứu đợc cả một mùa kịch vừa qua”

Từ đây Nguyễn Huy Tởng gắn bó ngòi bút đầy trách nhiệm và giàu tin cậy của mình với từng bớc chuyển của cách mạng Ngòi bút của ông giống nhống kính quay phim lia vào từng hoàn cảnh, từng sự kiện lịch sử mà đất nớc

đang trải qua để miêu tả, phản ánh Ông mở rộng cảm hứng để đón chào và ghi nhận những sự kiện lớn lao của dân tộc : Hà Nội trong những ngày khói lửa chiến tranh , chiến dịch Việt Bắc, chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950,…công cuộc Cải cách ruộng đất, những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội

Nếu nh trớc Cách mạng, đề tài Nguyễn Huy Tởng hớng tới là quay về với quá khứ của dân tộc, những sự kiện lịch sử đã xảy ra nhng vẫn mang tính chất

đơng thời, thì giờ đây, ông giống nh một phóng viên ghi lại tất cả những sự kiện

Trang 13

có tính chất nóng hổi về tình hình hoàn cảnh đất nớc ở thời khắc hiện tại Ông quan niệm ngời nghệ sĩ bây giờ không thể ngồi trong tháp ngà để sáng tạo nghệ thuật mà phải lăn lộn, phải bám chắc vào cội rễ đời sống, phải tham gia sinh hoạt, sản xuất với quần chúng nhân dân thì mới có thể viết nên những tác phẩm văn chơng có giá trị phục vụ cho cách mạng, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nớc Thiên hớng và sở trờng của ông lúc này là những tác phẩm dài hơi, là những công trình có tính qui mô, đồ sộ Trên những trang nhật kí của mình, Nguyễn Huy Tởng viết lên những mong ớc mà tác giả cảm thấy có phần cao xa : “Tôi toàn mơ mộng cái lớn : anh hùng ca, kịch liên hồi, tiểu thuyết tràng giang đại hải” Và ông ớc ao “ khi nào đó, phải có những tác giả dựng đợc cuộc kháng chiến từ Nam chí Bắc thành những bộ, những pho sử biên niên, trong đó mỗi địa phơng mỗi chiến dịch, mỗi trận đánh, mỗi chiến sĩ, mỗi vị t-ớng cầm quân trở thành một tập thể của đất nớc và con ngời anh hùng đậm nét tiêu biểu, tuyệt vời đẹp và vô cùng li kì, hấp dẫn nh cuộc cách mạng mà chúng

ta đã và đang trải qua” Nhà văn Nh Phong đã công nhận Nguyễn Huy Tởng là

“một nhà văn viết kip thời nhất”

Hà Nội trong những ngày đầu kháng chiến đã khơi nguồn cảm hứng cho Nguyễn Huy Tởng viết vở kịch Những ngời ở lại(1948) Những ngời ở lại có nhiều thiếu sót so với Bắc Sơn, là một bớc thụt lùi về mặt nghệ thuật viết kịch

so với Vũ Nh Tô và Bắc Sơn Nguyễn Huy Tởng chọn một đề tài hết sức lớn lao Ông đã cũng cố gắng khi gắn hoàn cảnh lớn- cuộc kháng chiến bảo vệ Thủ

đô vào hoàn cảnh hẹp - gia đình bác sĩ Thành với số phận của từng cá nhân thành viên Dờng nh đấy không phải là một việc dễ dàng, bởi thế mà nhà văn đã không thể làm nổi bật đợc không khí chiến đấu, sức mạnh chiến đấu của trung

đoàn Thủ đô cũng nh cha làm nổi bật đợc nỗi băn khoan do dự của tất cả những ngời yêu Hà Nội, mà chỉ mới dừng lại ở sự quyết định ở lại hay không ở lại của một số ngời Và dờng nh quyết định đó thiên về tình cảm riêng t hơn là về tinh thần chiến đấu bảo vệ Thủ đô nên nhiều lúc khiến ta cảm thấy các nhân vật nh tách khỏi cuộc chiến đấu, hay lấy hoàn cảnh chiến tranh để thử thách tình cảm, quan hệ của các nhân vật Nguyễn Huy Tởng có lần chân thành, nghiêm túc nhận xét về ảnh hởng của kịch Những ngời ở lại : “ Những chuyện nhỏ gia

Trang 14

đình, công chúng đi xem ngày nay đều thờ ơ, lãnh đạm Kịch Những ngời ở lại chỉ nói lên đợc những băn khoăn của một vài cá nhân không nói lên đợc băn khoan của quần chúng cho nên đối với công chúng bấy giờ, kịch của tôi đặt ra những vấn đề không quan thiết đến vận mệnh số đông”.

Những ngời ở lại cha phải là một vở kịch hay, nhng rõ ràng đây là một tác phẩm bề thế, công phu : nhân vật có bản sắc, ngôn ngữ kịch có giá trị văn học

Trực tiếp tham gia chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950, cảm nhận

đ-ợc không khí hào hùng của cuộc chiến tranh nhân dân thời kì mới, chứng kiến bao tấm gơng bất tử hi sinh của các chiến sĩ trên mặt trận lớn của chiến trờng và

ý nghĩa lớn lao của chiến dịch, bằng ngòi bút đậm chất anh hùng ca, Nguyễn Huy Tởng đã tạo nên tính chất sử thi, qui mô cho tác phẩm Kí sự Cao Lạng Viết Kí sự Cao Lạng Nguyễn Huy Tởng đã tái hiện đợc một chiến dịch cụ thể, những ngày tháng truy kích giặc, những trận đánh quyết định, niềm vui thắng lợi của quân dân Bút pháp lãng mạn quen thuộc của ông thời kì trớc Cách mạng

đã nhờng chỗ cho mạch văn xuôi hiện thực khỏe khoắn, nhiệt tình Có thể nói lần đầu tiên sáng tác của ông có những trang miêu tả về cuộc đời và cảnh vật cụ thể

Vai trò của nhà văn - chiến sĩ đợc ông ý thức rất sâu sắc, bởi vậy ngòi bút của ông luôn chuyển động hết sức nhịp nhàng với những chuyển động của hoàn cảnh lịch sử đất nớc Những năm 1952- 1954, nông thôn phát động phong trào Giảm tô và Cải cách ruộng đất, Nguyễn Huy Tởng đã đến với ngời nông dân bằng tình đồng chí, anh em, biết thông cảm sẽ chia và gắn bó

Kháng chiến thành công, đất nớc bớc vào một hoàn cảnh mới xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn miền Bắc Các nhà văn thực hiện một cuộc lên đờng, xâm nhập thực tế, đến những vùng kinh tế mới để viết về phong trào xây dựng quê hơng, xây dựng chủ nghĩa xã hội Trên tinh thần ấy, cũng giống với các nhà văn đồng chí của mình, Nguyễn Huy Tởng tha thiết đi vào đời sống để viết về những vấn đề thời sự Về thực tế ở Điện Biên, Nguyễn Huy Tởng viết Bốn năm

sau Bốn năm sau đã bắt đợc cái mới nảy sinh trên mảnh đất vừa tắt khói lửa

chiến tranh, nhng vẫn còn tàn tích, vết thơng do chiến tranh gây ra Bằng việc

Trang 15

dựa vào một cốt truyện mỏng manh : Một bà mẹ tìm gặp lại đợc anh bộ đội đã cứu sống con gái mình trong chiến dịch Điện Biên Phủ Dựa vào câu chuyện riêng t này, ông đã không thể nói đợc nhiều về những gì đã xảy ra trên nông tr-ờng rộng lớn.

Là ngời con Hà Nội sinh ra và lớn lên trên mảnh đất kinh kì, Nguyễn Huy Tởng đã có những sáng tác viết về ngời Hà Nội, phong cảnh phố phờng Hà Nội thân yêu

Trở về Hà Nội kháng chiến, một đề tài ấp ủ với nhiều tâm huyết nhất gắn bó với biết bao kỉ niệm và vốn hiểu biết sâu sắc, Nguyễn Huy Tởng viết

Sống mãi với Thủ đô và Lũy hoa Sống mãi với Thủ đô khép lại chặng đờng

sáng tác của ông Viết Sống mãi với Thủ đô, Nguyễn Huy Tởng không chỉ nhằm diễn tả lại hai ngày đêm chiến đấu của quân dân Hà Nội, sâu xa hơn tác giả muốn nói đến quá trình của từng ngời dân Hà Nội đến với cách mạng và tham gia đấu tranh cách mạng

Sống mãi với Thủ đô đi thẳng vào trung tâm cuộc chiến đấu theo bề rộng

cũng nh bề sâu, ở tầm quy mô bao quát cũng nh từng diễn biến cụ thể theo dòng

sự kiện đang ào ạt trôi đi Cuốn tiểu thuyết tuy mới dừng lại ở tập I nhng Nguyễn Huy Tởng đã dựng lại đợc một Hà Nội bao quát trong không gian và chuyển động, lắng sâu trong thời gian

Truyện phim Luỹ hoa đợc xây dựng trên cơ sở của tiểu thuyết Sống mãi

với Thủ đô, dựng lại một cuộc chiến đấu trong lòng Thủ đô Hà Nội những ngày

đầu kháng chiến toàn quốc

Sống mãi với Thủ đô, Luỹ hoa là những bông hoa nghệ thuật mà Nguyễn

Huy Tởng muốn trao tặng lại mảnh đất và con ngời đợc ông dành rất nhều tình cảm, sự yêu mến tha thiết mỗi góc phố con đờng, căn nhà, những chàng trai Hà Thành thanh lịch, nhã nhặn, những cô gái có vẽ đẹp mặt mà đoan trang, hiền dịu Tất cả đều có tinh thần tham gia chiến đấu bảo vệ Thủ đô rất hăng hái, nhiệt tình Họ đẹp mãi trong tâm trí ngời Hà Nội đơng thời và mai sau

Trên con đờng đi tới sáng tạo nghệ thuật, bên cạnh những tác phẩm kịch

và tiểu thuyết, truyện ngắn ngời ta biết đến ông còn với t cách một nhà văn viết truyện cho thiếu nhi Phải chăng vì bản tính hồn hậu, giàu tình thơng, giàu tình

Trang 16

yêu mến đối với con ngời với cuộc đời, đối với đất nớc Bốn ngàn năm lịch sử

mà ông muốn thế hệ trẻ - những mầm non tơng lai của đất nớc biết đến pho sử

đồ sộ, hào hùng của dân tộc từ trong quá khứ trở về hiện tại Do vậy mà hầu hết truyện ông viết cho thiếu nhi đều lấy truyền thống dân tộc là chủ đề miêu tả: An

Dơng Vơng xây thành ốc, Điện Biên Phủ của chúng em, Con cóc là cậu ông Giời, Tìm mẹ, Kể chuyện Quang Trung, đặc biệt tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ

vàng đợc các bạn nhỏ hết sức yêu mến đón đọc

Truyện Con cóc là cậu ông Giời, Tìm Mẹ, An Dơng Vơng xây thành ốc

là những cổ tích vừa lạ lùng xanh biếc, vừa mênh mông những t tởng kỳ ảo mà trong đó chứa chất cả một kho vàng ngọc, những tình cảm yêu, những lòng tin, những chí khí dời núi lấp biển của ngời Việt Nam, của truyền thống Việt Nam Truyện Kể truyện Quang Trung, Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Hai bàn tay chiến

sỹ… mỗi truyện là một trang anh hùng đời đời của dân tộc ta từ xa hoặc mới

đây, trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất nh tinh thần dũng cảm đến tột cùng trong Hai bàn tay chiến sỹ

Với cách viết giản dị, với lời văn nghiêm túc mà trong trẻo, với tất cả tấm lòng yêu mến và cảm phục, Nguyễn Huy Tởng đã làm sống dậy những sự tích, những hình ảnh thiếu nhi anh hùng bằng cảm hứng ngợi ca Nguyễn Huy Tởng, qua những câu chuyện đã gợi cho các em thấy một cách xúc động và thiêng liêng, sức sống vĩ đại của dân tộc và con ngời Việt Nam trong cách mạng

Có thể nói đến với nghệ thuật, gắn kết nó vào cuộc đời của mình, Nguyễn Huy Tởng đã để lại đợc nhiều dấu ấn trong lòng độc giả, những trang văn giàu chất sử thi anh hùng cao cả của một tấm lòng yêu dân tộc tha thiết muốn góp sức mình trong việc gìn giữ và làm giàu vốn văn hoá truyền thống của dân tộc, cũng nh góp sức mình vào cuộc chiến đấu bảo vệ nền độc lập dân tộc vĩ đại của nhân dân Việt Nam Con đờng sáng tạo nghệ thuật đó không phải là con đờng rải thảm hoa hồng mà đấy là con đờng đầy sóng gió, chông gai nhiều bão táp Muốn trụ vững và bớc những bớc vững chắc trên con đờng nghệ thuật ấy, ngời nghệ sỹ đòi hỏi phải lao động hết sức bền bĩ, miệt mài tâm huyết, say mê Nguyễn Huy Tởng đã làm đợc điều đó Do vậy, bên cạnh là một tiểu thuyết gia, một cây bút truyện ngắn nhà văn viết truyện cho thiếu nhi, ông còn đợc biết đến

Trang 17

là một kịch sỹ đã có nhiều đóng góp cho nền kịch nớc nhà qua những vở kịch

Vũ Nh Tô, Cột đồng Mã Viện, Bắc Sơn, Những ngời ở lại.

1.3 Vị trớ thể loại kịch trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Huy Tưởng

Khụng hiếm những nhà văn cú thể cầm bỳt viết nhiều thể loại và thành cụng trờn cỏc thể loại ấy Nhưng trường hợp của Nguyễn Huy Tưởng cú

lẽ rất hiếm bởi hầu như ụng đó thành cụng trờn cỏc thể loại mà ụng đặt ngũi bỳt viết nú, kết quả của cỏch làm việc nghiờm tỳc, suy nghĩ chớn muồi của một sự chắc chắn, cẩn thận , tỉ mỉ, với một niềm sy mờ và ý thức trỏch nhiệm cao đối với nghề cầm bỳt của mỡnh Tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện viết cho thiếu nhi, kớ sự, (thơ là thử nghiệm đầu tiờn nhưng chưa thành cụng) và đặc biệt là kịch Nguyễn Huy Tưởng được biết đến là một nhà viết kịch hàng đầu việt Nam những năm 30- 45 và sau Cỏch mạng, cũng như ụng là người cú cụng làm cho nền kịch nước nhà cú hi vọng vào tương lai, khai mở một nền kịch đến được với cụng chỳng, sống lại trong lũng cụng chỳng với những vở

diễn để đời như Vũ Như Tụ, Bắc sơn, Những người ở lại….

Khởi dầu văn nghiệp bằng vở kịch Vũ Như Tụ(1941), tiếp đến là một

loạt vở kịch ngắn, kịch dài ra đời trước và sau Cỏch mạng thỏng Tỏm, những tỏc phẩm đú đó gúp phần hỡnh thành và khẳng định Nguyễn Huy Tưởng với

tư cỏch một nhà viết kịch

Xung quanh kịch của Nguyễn Huy Tưởng đó cú nhiều ý kiến đỏnh giỏ khỏc nhau Nhưng cú sự thống nhất chung ở việc ghi nhận đúng gúp quan trọng của kịch Nguyễn Huy Tưởng cho nền kịch núi Việt Nam những năm trước và sau Cỏch mạng Điểm dễ nhận thấy trong kịch của ụng là chất sử thi dựa trờn khai thỏc những mõu thuẫn cuả cơ bản thời đại, những xung đột quyết liệt liờn quan đến vận mệnh dõn tộc, hoặc chớ ớt cũng là những vấn đề

xó hội được đặt ra để làm nền cho hoạt động tõm lớ cho sự giải bày tõm trạng thụng qua số phận của từng nhõn vật Do vậy, vấn đề ụng đặt ra trong kịch thường cú tầm khỏi quỏt rộng rói và nhõn vật cũng giàu chất sống nội tõm Ngũi bỳt sử thi mang màu sắc lịch sử kết hợp với phong vị lóng mạn, trữ tỡnh

là đặc điểm cơ bản trong kịch của Nguyễn Huy Tưởng

Trang 18

Nguyễn Huy tưởng để lại một số lượng kịch bản không nhiều, chừng

khoảng hơn bảy vở kịch như Vũ Như Tô, Cột đồng Mã Viện, Bắc Sơn, Những

người ở lại, Tờ báo, Vết cũ, Anh sơ đầu quân, Một ng y à hè… Một số vở trong

đó đã gây được tiếng vang và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc,

người xem, trong số đó phải kể đến vở kịch Vũ Như T« Những gì Nguyễn Huy Tưởng làm được trong khi xây dựng Vũ Như Tô đưa ®ến thành công cho

riêng bản thân ông, từ đó nâng vị trí «ng trên văn đàn Việt Nam Đây là một trong những vở kịch tiêu biểu và xuất sắc nhất đồng thời có thể xem như một tuyên ngôn nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng Vấn đề mà Nguyễn Huy Tưởng đặt ra trong vở kịch cho đến nay nó vẫn còn nguyên giá trị dù chế độ

xã hội lúc này đã khác, hoàn cảnh đã khác Nhưng xét về tính chất của vấn đề,

nó luôn là một câu hỏi không có câu trả lời cuối cùng Vũ Như Tô là bi kịch

của một nghệ sĩ có tài Kịch giả đã xây dựng một xung đột kịch hết sức gay g¾t quyết liệt trong chính bản thân chàng kiến trúc tµi hoa - để từ xung đột, mâu thuẫn đó lan rộng ra trở thành một xung đột mang tầm vĩ mô khái quát trong xã hội lúc bấy giờ Trong con người Vũ Như Tô, một mặt tuy không muốn đem tài năng của mình phục vụ cho chế độ hôn quân, bạo chúa, nhưng mặt khác lại muốn mượn tay vua Hồng Thuận để xây dựng một công trình nghệ thuật ghi tên tuổi với muôn đời làm vẻ vang cho dân tộc, và bởi đó là khao khát là ước vọng là mộng lớn của con người có tài trời Trong suy nghĩ của ông thực ra những điều đó không có gì là mâu thuẫn bởi dù gì nếu ông không muốn phục vụ cho chế độ hôn quân đó là vì ông yêu dân tộc tha thiết,

và mong muốn xây dựng Cửu Trùng Đài đó cũng là biểu hiện của tình yêu đất nước, vì ông muốn điểm tô non sông, muốn cho dân tộc mình cũng có những công trình kiến trúc vĩ đại ngang tầm vóc với các nước xung quanh, các nước láng giềng và trên thế giới Và có lẽ cái bi kịch ông nhận lấy là do “sinh bất phùng thời”, khi Vũ Như Tô quyết định nghe theo lời cña Đan Thiềm, khi ông cho khởi động Cửu Trùng Đài chỉ trong vòng 10 tháng cái mộng lớn của ông được xây dựng, điểm tô và sụp đổ hoàn toàn, trở thành ®ống đổ nát và kèm theo một cái chết oan uổng thảm hại thê lương, bởi ông không hiểu tại sao

Trang 19

mỡnh chết, cỏi chết đến do sự hiểu lầm nhầm lẫn mà ụng khụng cú cơ hội làm sỏng tỏ những qui kết tội lỗi mà đỏm quần chỳng ụ hợp dành cho ụng.

Sau Vũ Như Tụ, Nguyễn Huy Tưởng tiếp tục đề tài lịch sử với Cột đồng

Mó Viện Vở kịch đưa ta về thời kỡ đầu của lịch sử dựng nước và giữ nước

Vở kịch đó đề cao tinh thần bất khuất và ý chớ quật khởi của dõn tộc ta, kờu gọi sự nổi dậy chống lại quõn xõm lược Mó Viện Vở kịch mang ý nghĩa thời

sự, thể hiện tỡnh chiến đấu rừ rệt đồng thời ca ngợi tỡnh huynh đệ giữa nhõn dõn hai nước Trung- Việt Tuy vậy với vở kịch này, Nguyễn Huy Tưởng chưa

cú được thành cụng như với Vũ Như Tụ Cốt truyện Cột đồng Mó Viện đơn

giản, nhõn vật thiếu chiều sõu nội tõm, tớnh cỏch mờ nhạt nờn khụng mang lại hiệu quả nghệ thuật, khụng thu hỳt được sự chỳ ý, quan tõm của cỏc nhà nghiờn cứu

Vũ Như Tụ và Cột đồng Mó Viện là hai vở kịch mà Nguyễn Huy Tưởng

sỏng tỏc trước Cỏch mạng thỏng Tỏm Người ta biết đến ụng với những suy nghĩ, dằn vặt, những tõm t tỡnh cảm của một người trí thức cú hoài bóo cú trỏch nhiệm nhưng cũn lỳng tỳng, ngại ngựng, cũn loay hoay hay lựa chọn được rồi mà khụng dỏm khẳng định con đường mỡnh đó chọn

Cỏch mạng thỏng Tỏm thành cụng, Nguyễn Huy Tưởng viết Bắc Sơn

Bắc Sơn đó đỏnh dấu một bước ngoặt, ghi lại một thành cụng đáng kể của một nền kịch mới Ngay từ lỳc mới cụng diễn, Bắc Sơn đó được cụng chỳng

hõn hoan, đún nhận bởi nú đó dựng lại được khụng khớ của một cuộc khởi nghĩa lịch sử của quần chỳng trong quỏ trỡnh đấu tranh của dõn tộc Sự ra đời

cuả Bắc Sơn lỳc bấy giờ là một minh chứng hùng hồn của một sự hồi sinh,

một sự sinh thành của một nền văn học mới, nền văn học cỏch mạng Vở kịch lấy cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn cú thật trong lịch sử để làm nền phản ỏnh khụng khớ cỏch mạng, tinh thần cỏch mạng Thụng qua hoạt động cỏch mạng của cỏc thành viờn trong một gia đỡnh miền nỳi, vở kịch phản ỏnh được quỏ trỡnh chuyển biến, nhận thức đi theo cỏch mạng, và chỉ ra được hướng vận động của cỏch mạng là một trong những yờu cầu quan trọng mà cỏc văn nghệ sĩ cần phải làm được lỳc này Tất cả vỡ sự nghiệp chung là bảo vệ nền độc lập dõn

Trang 20

tộc, vỡ vậy, văn học nghệ thuật cũng trở thành một mặt trận, ở đú cỏc chiến sĩ cầm bỳt đó phải tiến hành một cuộc Cỏch mạng trong tư tưởng của mỡnh trước yờu cầu của thực tiễn lịch sử Tỡnh hỡnh sõn khấu trong những năm đầu cỏch mạng cũn ở trong tỡnh trạng chưa ổn định Một số vở kịch lịch sử tuy cú đề cao tinh thần dõn tộc nhưng cũn đợm phong cỏch lóng mạn và “ kiếm hiệp anh hựng” Một vài vở kịch thơ với phong vị vừa cổ kớnh vừa hư ảo xa lạ

Đỏng chỳ ý hơn là vở kịch viết về cỏch mạng như Lối sống của Thõm Tõm,

Tụ Hiệu của Nguyễn Cụng Mĩ Nhưng cỏc tỏc phẩm trờn cũn thiếu thuyết phục vỡ quỏ đơn giản, sơ lược Bắc Sơn ra đời đó dặt nền múng cho một nền

kịch mới Nú đó lấp được một khoảng trống đỏng kể và tạo được niềm tin yờu

đối với kịch cụng khai cỏch mạng khi mà lỳc này kịch cỏch mạng cũn nghốo

nàn, khủng hoảng về vở diễn Nếu như Vũ Như Tụ đã thu hỳt sự quan tõm của

nhiếu nhà nghiờn cứu về quan niệm nghệ thuật của Ngyễn Huy Tưởng cũng như khối mõu thuẫn lớn của nhõn vật kiến trỳc sư tài ba Vũ Như Tụ thỡ đến

Bắc Sơn, bằng việc miờu tả hiện thực cỏch mạng sau biến cố vĩ đại của dõn

tộc, đũi hỏi một nền văn nghệ những nhiệm vụ mới trong đú phải xõy dựng một nền sõn khấu mới khỏc về chất so với nền sõn khấu cũ

Tiếp mạch nguồn cảm hứng về đề tài lịch sử, Nguyễn Huy Tởng viết

Những ngời ở lại sau thành công của Bắc Sơn Giống nh Bắc Sơn, Những ngời

ở lại muốn đi vào thực hiện sự kết hợp bình diện gia đình với bình diện xã hội,

kết hợp yếu tố tâm lý với yếu tố sử thi, anh hùng ca, thông qua câu chuyện xảy

ra trong một gia đình trí thức ngời Hà Nội - bác sỹ Thành Nhà văn muốn chuyển tải, muốn phản ánh không khí của cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô trong những ngày đầu kháng chiến thông qua việc phản ánh quá trình chuyển biến nhận thức của ngời trí thức đi theo cách mạng, thông qua việc phản ánh tấn kịch trong gia đình bác sỹ Thành Dù vấp phải những hạn chế, những khuyết điểm, những nhầm lẫn và sai sót khi xây dựng vở kịch này và bị đánh giá là “một bớc lùi” so với Vũ Nh Tô và Bắc Sơn; “trong vở kịch tất cả mọi vấn đề đã không đ-

ợc giải quyết một cách triệt để”, “qua vở kịch không thấy rõ cơn thử thách vĩ

đại mà dân tộc đã trải qua” (Hồng Lĩnh) kịch giả đã “không làm nổi”, không đủ

Trang 21

sức theo đuổi để có thể lý giải sâu sắc hơn những lý tởng lớn lao mà ông đặt ra Nhng tác phẩm đã phần nào nói lên đợc cuộc chiến dấu anh dũng của quân dân Thủ đô, nên vẫn là một vỡ kịch có bề thế và có giá trị văn học đáng kể

Tuy với một số lợng không nhiều, nhng chính những vở kịch ấy đã làm cho công chúng biết đến tên tuổi của nhà văn Chính kịch đã góp phần làm nên một tên tuổi Nguyễn Huy Tởng

Những chơng tiếp sau của luận văn sẽ trình bày kĩ hơn nội dung và nghệ thuật một số vở kịch tiêu biểu của Nguyễn Huy Tởng

Trang 22

Chơng 2kịch nguyễn huy tởng trớc 1945: Vũ nh tô

2.1 Hoàn cảnh sỏng tỏc Vũ Như Tụ

Vũ Như Tụ là sỏng tỏc đầu tay, mở đầu văn nghiệp của Nguyễn Huy

Tưởng

Hiện thực xó hội Việt Nam những năm 1930-1945 đó được diễn tả đầy

đủ nột sinh động về sự đen tối, thối nỏt, về nỗi khổ cực mà nhõn dõn Việt Nam phải hứng chịu khi thực dõn Phỏp đặt ỏch đụ hộ trờn đất nước hỡnh chữ S này Tiếng sỳng Đức tấn cụng Ba Lan ngày 1/10/1939 đó đưa nhõn loại vào cuộc sống ngập chỡm mựi thuốc sỳng với màn trời xỏm xịt, và bao trựm là tử khớ do bom đạn gõy nờn Chiến tranh thế giới nổ ra, khụng một đất nước nào được yờn bỡnh để sống, để làm việc, để vui chơi…

Việt Nam, một thuộc địa của thực dõn Phỏp, một đất nước nhỏ bộ nằm trong khu vực Đụng Nam Á cũng khụng nằm ngoài quĩ đạo những thương vong ấy Cỏi “ bỏt nhỏo” của sự đời trựm toả biến việt Nam khụng cũn là một chỉnh thể thống nhất mà diễn ra trờn cựng một cơ thể là sự xõu xộ, chiếm đoạt cưỡng hiếp của bọn giặc Chưa bao giờ như lỳc này, trong đất nước cựng một lỳc tồn tại nhiều tổ chức, đảng phỏi chớnh trị Bờn cạnh những quan đại Phỏp cao to mà thất thế là cỏc sĩ quan xứ Phự Tang tầm thước mà quyền uy, kiếm dài chạm đất rao giảng thuyết Đại Đụng Á, tổ chức Viện Văn hoỏ Nhật Bản, vừa trừng trị khụng thương tiếc những ngời nụng dõn Việt Nam đúi rỏch khụng chịu nhổ lỳa trồng đay cung cấp đủ nguyờn liệu cho cỏc cụng trỡnh xưởng Nhật chế tạo thuốc sỳng Xó hội phơi bày bao nghịch cảnh chướng tai gai mắt cựng với nạn lạm phỏt và giỏ cả sinh hoạt tăng lờn một cỏch vô tội vạ Trước ngó ba toàn cầu, ngó tư đất nước như vậy, người Việt Nam nhất là trớ thức, học giả khụng thể đứng khoanh tay mặc cho sự đời trụi theo dũng xoỏy của nú Mỗi người tự chọn cho mỡnh một hướng đi để làm sao đú giữ được sự thăng bằng, ổn định để tiếp tục tồn tại Đú là lỳc con người ta khụng thể đựa cợt, đỏnh cược với số phận mà phải cú thỏi độ rừ ràng phải cương quyết lựa chọn một con đường nhưng lựa chọn con đường nào cho thật phự hợp ? Lựa

Trang 23

chọn con đường nào để con người ta tiếp tục sống và làm việc Và mỗi cá nhân tự tìm cho mình một hướng đi trong cuộc đời đầy biến động, lắm cơn lốc xoáy mà nếu không khéo, họ sẽ chän cho mình một con đường chết Thế nhưng có thể nói chính cái phân ngã nhiều đường đã khiến cho giới trí thức khắc họa lên được nhiều chân dung da dạng phong phú.

Trí thức đứng giữa bao nhiêu sự lựa chọn, nên hay không nên…Ở thời

kì này nổi lên ba khuynh hướng phát triển của văn học : khuynh hướng văn học lãng mạn, văn học Hiện thực phê phán, văn học lãng mạn cách mạng Các khuynh hướng này đã cho thấy tình thế đầy biến động của xã hội ViÖt Nam lúc này Chưa bao giờ như lúc này tiếng nói của cái tôi cá nhân đÇy tuyệt vọng, đầy nçi u buồn, yếm thế lại được cất lên dõng dạc như vậy Với họ cuộc sống thực không có gì đáng lưu luyến, phải níu kéo, phải trải mình ra mà tận hưởng Cuộc sống thực chỉ lµ ngôi mé giữa trần gian Họ chối bỏ thực tại, quay lưng với thực t¹i để trốn vào chốn hư vô, vào chốn bồng lai tiên cảnh là lựa chọn của hầu hết các nhµ Thơ mới Với họ cuộc đời là vô nghĩa, chỉ là đau thương tang tóc cho nên:

Tôi có chờ đâu, có đợi đâu Mong chi xuân đến chỉ thêm sầu?

Với tôi tất cả là vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau

(Xu©n-ChÕ Lan Viªn)

Chối bỏ thực tại và quay lưng lại với nó còn bằng cách hướng về quá khứ Họ xem những gì đẹp nhất, ý nghĩa nhất đáng sống nhất chỉ có ở trong quá vãng xa xôi nên chủ trương tìm vÒ hoài niệm Nhà văn thực hiện một chuyến đi dài theo chủ nghĩa xê dịch tìm những thú vui tao nhã, các món ăn

và hương vị của cuộc sống đích thực, men theo nó vùi quên cuộc đời trong đó

để vơi bớt đi đau thương của thực tại đang khiến họ ngộp thở, dìm chết họ từng khoảnh khắc Người ta không thể tự quên b»ng ý nghĩ thì mượn đến các cuộc truy hoan dục vọng, mượn đến chất kích thích của ma tuý để thoát đời:

Hãy buông lại gần đây làn tóc rối

Trang 24

Sỏt gần đõy gần nữa cặp mụi điờn Rồi em sẽ dỡu anh trờn cỏch khúi Đưa hồn say vụ tận cuối trời quờn

(Quờn- Vũ Hoàng Chương)

Đấy là một hướng đi, một lựa chọn Cũng cú văn sĩ chọn cho mỡnh cỏch đối diện với hiện thực đú, phõn tớch mổ xẻ để tỡm ra bản chất thực xấu xa bỉ ổi của xó hội thành thị và hiện thực đen tối ở nụng thụn Việt Nam những năm

30-45 Thụng qua Số đỏ, Giụng tố, Chớ Phốo,Lóo Hạc, Tắt đốn, Bước đường cùng… của cỏc nhà văn Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Ngụ Tõt Tố, Nguyễn

Cụng Hoan… ta nhỡn thấy thực tại phũ phàng và cay nghiệt mà thõn phận con người khụng cũn là người nữa Lối thoỏt của hầu hết cỏc nhõn vật trong tỏc phẩm viết theo dũng hiện thực phờ phỏn đều chịu cho mỡnh một cỏi chết để cú thể giữ được thiờn lương trong sỏng, hoặc phải độc ỏc dẫm lờn số phận người khỏc để mỡnh ngúc cổ dậy tiếp tục sống Điều đú cũng thể hiện được sự tự tỳng, bế tắc của nhà văn khi chưa tỡm được lối thoỏt bằng cách nào đú có thể khắc phục được tỡnh trạng này

Và bờn cạnh hai hướng đi ấy, người ta vẫn thấy xuất hiện những vần thơ ca đầy sức sống khi họ biết bắt nhịp cuộc sống, đối đầu với nú, tỡm cỏch khắc phục và đưa cuộc sống bước sang một trang mới sỏng tươi hơn, như nhà thơ Tố Hữu Tố Hữu đó tạo ra cho mỡnh một con đường, tự ụng làm chủ soỏi trờn con đường đi đến tương lai bằng lớ tưởng cỏch mạng cao đẹp

Nguyễn Huy Tưởng là một trớ thức, sinh ra trong hoàn cảnh chính trị hết sức rối ren ấy, bản thõn nhà văn cũng phải lựa chọn một con đường Đứng trước ngó sỏu của tõm cảnh xó hội Việt Nam lỳc này, việc lựa chọn ấy đối với ụng khụng dễ Mặc dầu ngay từ khi ngồi trờn ghế nhà trường, ụng đó xỏc định

“Phận sự của một người tầm thường như tụi muốn tỏ lũng yờu nước thỡ chỉ cú việc viết văn bằng chữ Quốc ngữ thôi” í thức ấy, nhiệm vụ ấy quả thật rất đỳng đắn, nhưng để bắt đầu nú , phụng sự dõn tộc, thỡ mói những năm 1940,

khi ụng bắt tay viết vở kịch Vũ Nh Tụ mới cho thấy hiệu quả của lựa chọn

thiết thực của Nguyễn Huy Tưởng lỳc bấy giờ

Trang 25

Kịch Vũ Như Tô được hoàn thành vào mùa hạ năm 1941 và một năm

sau tác giả bổ sung lời đề tựa (8/6/1942) tuy ngắn gọn mà gắn bó hữu cơ víi nội dung vở kịch, giúp người đọc cảm nhận thấu đáo hơn những gì tác giả muốn kí thác ở đứa con tinh thần của mình

Trước khi bắt tay viết Vũ Như Tô, giữa những ngã đường chằng chịt

của văn hoá, văn nghệ Việt Nam hẳn Nguyễn Huy Tưởng đã nghe từ bốn phương tám hướng dội đến bên tai đủ thứ tiếng nói: giọng khinh bạc giá lạnh của những ai coi sống và chết đều mỏi mệt ngang nhau, tiếng nghêu ngao của

kẻ say, tiếng rên xiết của người thần trí bất bình thường, lời rên rỉ của bậc thức giả bàn bạc lẻ minh triết, giọng chân tình tha thiết của đám đông hàn mặc muốn thuyết phục mọi người cùng quay về cội nguồn dân tộc, những lời

lẻ đứt nối của những ai đó nửa hướng đạo tâm linh về nẻo đại ngã…Trước tất

cả những tiếng nói chồng chéo ấy, Nguyễn Huy Tưởng đã quyết định hoà

nhập vào những lời lẻ vang vọng và thống thiết nhất : về với dân tộc Vũ Như

Tô ra đời với cảm hứng chủ đạo “ làm vinh dự cho non sông”.

2.2 Nội dung vở kịch Vũ Như Tô

Nội dung vở kịch được xây dựng từ một câu chuyện có thật trong lịch

sử được ghi chép trong cuốn “Việt sử thông giám cương mục” của quốc sử quán triều Nguyễn thế kỉ XIX “Khởi công xây dựng đại điện và Cửu Trùng Đài

Trước đây Vũ Như Tô, một người thợ Cẩm Giàng, xếp cây mía thành kiểu mẫu cung điện lớn trăm nóc, dâng lên nhà vua, nhà vua bằng lòng, phong cho Như Tô làm đô đốc đứng trông nom việc dựng hơn trăm nóc cung điện lớn có gác, lại khởi công làm Cửu Trùng Đài Mặt trước điện đào hồ thông với sông Tô Lịch, vòng quanh khuất khúc mở thông cửa cống Nhà vua bát thần ngự phủ làm việc xây đắp chưa được thành công lại bắt quân sĩ các nha môn ở trong và ngoài kinh thành làm việc lấp hồ, san đất Khi nhà vua đi chơi thấy người nào làm vừa ý thì thëng cho thẻ bài vàng hoặc bạc Có khi công việc đã làm xong rồi lại thay đổi làm lại ; sửa sang xây dựng hết năm này qua năm khác quân và dân phải đi làm việc bị bệnh dịch chết mất khá nhiều(…)

Trang 26

Duy Sản vì thường can ngăn vua, làm trái ý vua, nhà vua tức giận, sai đánh bằng trượng Duy Sản bèn cùng Lê Quảng Độ, Trình Chí Sâm bàn mưu bỏ vua này lập vua khác Họ chuẩn bị sửa soạn binh thuyền, khí giới, hội họp ở bến Thái Cực, nói phao là đem đi đánh giặc, rồi nhân ban đêm đem quân kinh ngô hộ vệ hơn ba nghìn người vào cửa Bắc Thần Lúc lửa cháy, nhà vua ngờ

là giặc kéo đến, đi lén ra ngoài cửa Bảo khánh, lúc tờ mờ sáng đi qua cửa Thái Học đến chç chu Tước ở phường BÝch Câu, gặp Duy Sản nhà vua hỏi “ giặc ở đâu?” Duy Sản không trả lời quay mặt đi đằng khác và cười ầm lên Nhà vua quay ngựa chạy mặt tây, Duy Sản sai võ sĩ tên là Hạnh đâm nhà vua ngã ngựa, rồi giết đi Khâm đức hoàng hậu cũng tự nhảy vào đóng lửa để chết

Điểm xuất phát nội dung tư tưởng của vở kịch chỉ vẻn vẹn là câu chuyện về một kiÕn trúc tài hoa và cuộc bạo loạn, thoán vị ngôi thứ xảy ra trong triều đại phong kiến Việt Nam cuối Lê đầu Trịnh B»ng hư cấu nghệ thuật, tài năng của một nghệ sĩ có thể nắm bắt và xây dựng được một mâu thuẫn lớn từ mâu thuÉn trong bản thân người trí thức Vũ Như Tô đÓ có được

vở kịch bề thế và quy mô: kịch 5 màn

2.2.1 Thể hiện vấn đề con người cá nhân víi tư cách công dân

Vấn đề đặt ra trong vở kịch này là gì? Và đ©u là vấn đÒ trung t©m mà tác giả muốn đề cập đến? Cho đến nay để trả lời cho câu hỏi đó, đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra sự đánh giá, nhận xét, lí giải của mình về ý nghĩa, nội dung tư tưởng được tác giả đặt ra trong tác phẩm Nhà nghiên cứu Văn Tâm cho rằng vấn đề đặt ra trong Vũ Như Tô là mối quan hệ giữa quyền lợi dân tộc và quyền lợi nhân dân Theo ông việc xây dựng Cửu Trùng Đài quy mô có thật trong lịch sử Việt Nam thế kỉ XVI được tái hiện thông qua hư cấu hoá trong vở kịch lịch sö Vò Như Tô mà ở đó khái niệm nhân dân tạo ra sự liên

tưởng đối sánh của nó là: nhà cầm quyền, còn khái niện dân tộc tạo ra sự liên tưởng thực thể đối sánh khác, đó là một dân tộc khác Và trong cái mối quan

hệ giữa dân tộc và dân tộc khác, nhân dân với nhà cầm quyền, Vũ Như Tô không rõ đứng về phía nào hay người kiến trúc này đứng ở giữa? Bởi theo

Trang 27

Văn Tõm thoạt kỡ thuỷ Vũ Như Tụ đứng về phớa nhõn dõn, nếu xem Thị Nhiờn- vợ Vũ là đại diện Và phần sau Vũ đứng về phớa dõn tộc nếu xem Đan Thiềm là đại diện Trong thực tế, quyền lợi nhõn dõn và quyền lợi dõn tộc trong một quốc gia khụng mõu thuẫn mà thống nhất chặt chẽ với nhau Nhưng xột trong trường hợp này nếu phõn biệt khỏi niệm dõn tộc và nhõn dõn như vậy thi rừ ràng đó cú sự đối khỏng Mõu thuẫn sẽ xảy ra nếu Vũ Như Tụ đứng

về phớa dõn tộc- bởi xõy dựng Cửu Trựng Đài chớnh là Vũ đó đứng về phớa thế lực cầm quyền, một tờn hụn quõn, ăn chơi xa xỉ khụng lo việc triều chớnh, xõy dựng Cửu Trựng Đài là phục vụ trực tiếp cho việc ăn chơi sa đoạ của người cầm quyền Lờ Tương Dực bạo chỳa, bạo dõm, kẻ thự của nhõn dõn, phục vụ quyền lợi dõn tộc hoỏ ra lại xõm phạm đến quyền lợi của nhõn dõn; đứng về phớa thự địch của cụng dõn Đấy cũng là sự phõn biệt của Phan Trọng Thưởng khi xột Nguyễn Huy Tưởng- Vũ Như Tụ tư cỏch cụng dõn và tư cỏch ngời nghệ sĩ Đứng ở gúc độ là một người cụng dõn, Vũ Như Tụ đứng về phớa nhõn dõn và khi đứng gúc độ người nghệ sĩ thỡ Vũ Như tụ đứng về phớa dõn tộc Xột về hành động của Vũ Như Tụ thỡ đấy là sự lựa chọn sai lầm khi ụng quyết định xõy dựng Cửu Trựng Đài, bởi cuối cựng cỏi kết mà ụng nhận được là sự sụp đổ của Cửu Trựng Đài và cái chết của kiến trỳc sư tài hoa, khi bị quần chỳng nhất tề nổi dậy ra tay chấm dứt cỏi đại sự muốn phục vụ dõn tộc vốn đầy thiện chớ của con người yờu quý giống nũi Vỡ thế mà cõu hỏi đặt ra trong lời đề tựa vở kịch mói mói là một cõu hỏi khụng cú lời đỏp cuối cựng “ Chẳng biết Vũ Như Tụ phải hay những kẻ giết Như Tụ phải?”

Chỳng ta đứng trờn lập trường nào để đưa ra cõu trả lời phự hợp với cõu hỏi tỏc giả đặt ra?

Vũ Như Tụ là một kiến trỳc sư cú tài trời, tài năng của ụng được cỏc nhõn vật khỏc nhắc tới nhất là vua Lờ Tương Dực: “ Hắn là một người thợ cú hoa tay tuyệt thế, chạm trổ, nạm đục, xõy dựng khụng kộm đường gỡ Lại cú tài đào muụn kiểu hồ, vẽ những vườn hoa lộng lẫy như Bồng Lai Hắn cũn là một tay hội hoạ khỏc thường: chỉ một vẩy bỳt là chim hoa hiện lờn mảnh lụa, thần tỡnh biến hoỏ như cảnh hoỏ cụng Cũn cỏi tài tớnh toỏn thỡ khụng lời nào

Trang 28

tả hết Hắn sai khiến gạch đá như ông tướng cầm quân, có thể xây dựng những lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ” Ông còn là một con người khẩu khí, có khí phách hiên ngang Đứng trước lưỡi gươm có thể cắt cổ mình lúc nào chẳng biết, thế nhưng Vũ Như Tô không run sợ Vũ Như Tô khảng khái cương trực Đứng trước mặt vua, đứng trước sự vinh hoa phú quý, nhưng Vũ Như Tô không quị luỵ, van nài, không sụp lạy, không chịu làm theo yêu cầu mệnh lệnh của nhà vua Đối với ông xây dựng Cửu Trùng Đài là thực hiện một tội ác “Tâu Hoàng thượng, tiện nhân chết đi là tránh cho triều đình một tội ác” Kiến trúc sư tin tưởng vào bản thân mình, không sợ hãi trước những lời đe doạ, sẵn sàng lý luận với nhà vua

“Tâu hoàng thượng tiện nhân có tội gì mà hoàng thượng phải khoan thứ? tiện nhân không trộm cướp, không tham nhũng, không giết người… hỏi tiện nhân

có tội gì? Một điều tất yếu xẩy ra ở các triều đại phong kiến là “Vua cần đến thì thần nhân phải xả thân bằng bất cứ việc gì đến chết thì thôi”… nhưng ở đây Vũ Như Tô quyết chống trả không phụ theo lễ thói ấy Bởi theo ông

“Kính sỹ mới đắc sỹ”, nhà vua có đối đãi tử tế với kẻ sỹ thì mới mong kẻ sỹ đáp lại mệnh lệnh vua ban

Một cuộc thoả hiệp diễn ra Xây Cửu Trùng Đài đó không phải là một

sự khuÊt phục trước cường quyền và đấy là một sự thoả hiệp, khi nhà vua chịu chấp nhận hai điều kiện bắt buộc nhà vua phải thực hiện đối với kẻ sỹ Vì

“được biệt đãi, có địa vị thì những kẻ tài hoa mới xuất hiện, tranh nhau tô điểm nước non” song để đi đến cuộc thoả hiệp này, ngoài việc tự tin vào tài năng của mình “Phi Vũ Như Tô, không ai làm nổi” và quá trình “Khổ công trau nghề, nào hơn, nào tập, nào khảo cứu, học cả văn chương toán phát, địa

lý, thiên văn, nghe tiếng ai giỏi là tìm đến thụ giáo, các đền đài dinh thự trong nước dù xa dù gần đều cố đi xem kể cả những danh lam thắng cảnh ở Trung Quốc, Chiêm Thành, ở Tây Trúc cũng không quản đường trường, lần đến khảo sát” Để có được tài nghệ ở tuổi 40, Vũ Như Tô đã phải rèn luyện trong gian khổ, tài năng không đơn giản là trời phú mà đó là cả một quá trình tô dũa

mà thành Nhưng lý do khiến Vũ Như Tô đưa ra điều kiện với vua Lê Tương

Trang 29

Dực đú chớnh lời khuyờn của Đan Thiềm, đỏng lẽ ra Vũ Như Tụ gặp vua trước nhưng chớnh cuộc gặp gỡ này một kẻ cú tài và người cú sắc trở thành mối tõm giao và trở thành hỡnh tượng nghệ thuật đẹp đẽ của tỏc phẩm.

Lời núi của Đan Thiềm quả cú sức lay chuyển mạnh mẽ chăng, đó khiến cho cuộc xõy dựng Cửu Trựng Đài từ khụng thành cú Bà đó núi gỡ?

“ễng biết một mà khụng biết hai ễng cú tài tài đú phải đem cống hiến cho non sụng, khụng nờn để mục nỏt với cỏ cõy …chấp kinh phải tũng quyền Đõy

là lúc ụng nờn mượn tay vua Hồng Thuận mà thực hành cỏi mộng lớn của ụng

…Đú là tiểu tiết ễng cứ xõy một toà nhà cao cả Vua Hồng Thuận và lũ cung

nữ kia rồi mất đi, nhưng sự nghiệp của ụng cũn lại về muụn đời Dõn ta nghỡn thu được hónh diện, khụng phải thẹn với những cung điện đẹp ở nước ngoài, thế là đủ Hậu thế sẽ xột cụng cho ụng và nhớ ơn ụng mói mói ễng hóy nghe tụi mà làm cho đất Thăng Long này thành nơi kinh kỳ lộng lẫy nhất trần gian” Nếu núi theo triết học Mac thỡ đấy quả là một lời khuyờn đầy biện chứng hết sức triết lý và đỳng đắn Vũ Như Tụ nghe xong liền “đa tạ Bà đó khai cho tụi cỏi úc u mờ này Thiếu chỳt nữa, tụi nhỡ cả Những lời vàng ngọc tụi xin lĩnh giỏo Trời quỏ yờu nờn tụi mới được gặp bà” Một sự đồng cảm giữa những t tởng lớn nhanh chóng đợc diễn ra thấu hiểu và sẽ chia Ngay khi mới gặp Đan Thiềm, Vũ Nh Tô đã khinh bỉ dèm pha, cho Đan Thiềm cũng chỉ thuộc loại say trong tuý hơng, sống trong cảnh xa hoa phù phiếm để cho nhan sắc tàn phai sau những buổi tiệc tàn Nhng không phải thế hiện hữu trớc

Vũ Nh Tô là một cung nữ có sắc và có tài, cung nữ rơi vào cảnh ngộ đáng thơng

đó là “thức khi ngời ngủ, khóc khi ngời cời và thơng khi ngời ghét” Vũ Nh Tô

có sự hối hận, hoá ra nàng cũng mang một căn bệnh giống nh Vũ Nh Tô đó là cùng rơi vào tình cảnh bi đát giữa cuộc đời này Một kẻ có tài luôn phải bị truy

đuổi, sống bất an trong nỗi lo sợ phải chịu đày ải, phục dịch Một ngời có nhan sắc nhng nhan sắc chỉ để tàn phai theo năm tháng trong cung cấm, vùi chôn những năm tháng tuổi xuân trong nỗi ê chề nhục nhã Cùng là những con ngời

bị “tài làm luỵ và nhan sắc phụ ngời” Một sự đồng cảm sâu sắc Bản thân Vũ – một kiến trúc s , một nghệ sỹ có tài hẳn rất mong muốn đợc phô diễn tài của

Trang 30

sống, ông đã trải qua, chứng kiến bao cảnh đời cơ cực và tủi hổ, nheo nhóc và tan nát của những kẻ có tài nh ông mà tan cửa nát nhà, mà luôn trở thành tai hoạ cho gia đình họ Ông không muốn đem cái tài ấy phục vụ cho bọn cầm quyền tàn ác Dẫu sao cái mong ớc ấy vẫn quá lớn lao, hơn thế nữa đấy là khát khao là

“mộng lớn” của một trí thức, kẻ sỹ yêu nớc thiết tha Quyết định xây Cửu Trùng

Đài hay không xây nó thì đấy vẫn là biểu hiện của lòng yêu nớc của Vũ Nh Tô

Có điều lựa chọn xây dựng Cửu Trùng Đài – tự ông tách mình thành một phía

đơn độc cùng với Đan Thiềm và phía bên kia là cả một tập hợp quần chúng bát nháo, ô hợp chống trả một cách quyết liệt “một mất một còn” Vậy mà Vũ Nh Tô đã chọn

Ông bắt tay xây dựng Cửu Trùng Đài trong sự câu thúc của nhà vua, của khát vọng điểm tô non sông, ý thức niềm tự hào về dân tộc Một toà đài nguy nga bề thế đợc dựng lên với hơn 100 nóc hình trăm rồng tranh ngọc, một toà đài rất tráng quan diễm lệ Và mới lúc bắt đầu, việc xây dựng đợc đám thợ thuyền ủng hộ, cố đem hết khả năng sức lực để cùng “Bác cả” dựng đài

Thế nhng sau 10 tháng toà đài đợc dựng lên trở thành đống tro tàn Ngay khi Thị Nhiên đến thăm chồng, những suy nghĩ chân thực của một phụ nữ ở quê

ra thăm chồng phần nào nói lên đợc tính chất công việc Vũ Nh Tô đang làm Bản tính hiền dịu của ngời phụ nữ luôn đứng về phía chồng mình, ủng hộ và bảo

vệ họ đã khiến cho Thị Nhiên cha thật sự khuyên nhủ và ngăn cấm chồng mình không nên tiếp tục mà nên biết cách dừng lại Nhng những lời nói từ đáy lòng của Thị Nhiên phần nào cho ta dự cảm khó khăn mà Vũ Nh Tô gặp phải trong quá trình xây đài Bên cạnh lời tâm tình của vợ, Vũ Nh Tô còn trực tiếp nghe lời

đe doạ của Trịnh Duy Sản Đấy chính là nguyên nhân dẫn đến kết cục thảm hại

mà Vũ Nh Tô phải hứng chịu Trong sự việc xây dựng Cửu Trùng Đài ai sai? Phải chăng là tại Đan Thiềm vì nàng mà Vũ Nh Tô thay đổi quyết định Trớc khi gặp nàng, Vũ Nh Tô kiên quyết từ chối, vậy mà chỉ vì lời của một cung nữ

mà Vũ nghe để rồi Vũ phạm vào “tội ác”? Đan Thiềm có nói gì sai đâu Công trình xây dựng nào chẳng phải tốn kém tiền của sức lực, nhất là dới thời phong kiến Có công trình để đời nào để lại trên thế gian lại không đi kèm với phu phen tạp dịch, sông máu núi thây Và nếu nh Cửu Trùng Đài tồn tại ngời ta sẽ

Trang 31

nhắc đến ai, ngỡng vọng ai và nó sẽ trở thành niềm tự hào nh Cố đô Huế, Di Hoà Viên, Vạn Lý Trờng Thành và lúc đó danh xng Vũ Nh Tô đợc lu truyền hậu thế Đấy chẳng phải ao ớc cao cả của con ngời hay sao? Bởi vậy đấy là một lời khuyên chân thành và cũng xuất phát từ tấm lòng biết trân trọng và sử dụng tài năng cũng nh tầm đoán định tơng lai của nàng Nàng cũng là một ngời con dân tộc, thiết tha yêu mến Tổ quốc này nên sẵn sàng hy sinh bản thân mình để

có thể cứu sống Vũ Nh Tô bởi Vũ cần phải sống hơn bà Bởi Vũ còn phải góp công tô điểm non sông Đan Thiềm trở thành nguồn động viên, an ủi là sức mạnh tiếp lực cho Vũ xây dựng Cửu Trùng Đài

Và thời thế đã không cho phép cái “Mộng lớn” đấy đợc thực hiện một

cách hoàn chỉnh, trọn vẹn Có thể nói, xây dựng Vũ Nh Tô là Nguyễn Huy

T-ởng đã xây dựng một vở bi kịch hiện đại Bi kịch của ngời nghệ sỹ “sinh bất phùng thời” có lẽ vì đó là hoàn cảnh đặc biệt, hoàn cảnh khiến cho lợi ích của cá nhân bắt buộc phải gắn chặt lợi ích của quần chúng Đi ngợc lại lợi ích của quần chúng chính là tự đào huyệt cho mình.Vậy nờn nếu Vũ Như Tụ khụng xõy dựng Cửu Trựng Đài, thực hiện nghĩa vụ cụng dõn khụng làm hại cho đất nước sẽ được bỡnh yờn Nhưng như thế cũn gỡ để núi Bản thõn Vũ khụng phải

là một vị quan của triều đỡnh, khụng phải là người chịu trỏch nhiệm trước cuộc sống cơ cực hay sung tỳc của người dõn Trọng trỏch đú khụng thuộc về phần Vũ – một con người bỡnh thường – một cụng dõn Song Vũ là một con người cú ý thức về giống nũi quỏ cao, cú lũng yờu dõn tộc tha thiết, khụng muốn vỡ cỏi tài của mỡnh đem phục vụ cho vua chỳa mà khiến cho cuộc sống dõn chỳng lầm than đau khổ nhưng cũng khụng muốn dõn tộc mỡnh thua kộm bất kỳ dõn tộc nào Vũ cú tài, Vũ thừa khả năng “điểm tụ non sụng ”, lũng say

mờ nghệ thuật, tõm huyết muốn tận dụng cơ hội “ mượn tay vua Hồng Thuận

” mà thi thố tài năng mà cống hiến cho đất nước những cụng trỡnh vĩ đại, phụng sự nghệ thuật, phụng sự cỏi đẹp bằng bàn tay khối úc của mỡnh, điều ấy đỳng với phận sự của một kẻ sỹ Dự hứng chịu một kết cục bi thảm nhưng đấy

là một lựa chọn tất yếu của người nghệ sỹ bởi với họ “ Cuộc đời chỉ là

Trang 32

phương tiện cho nghệ thuật ” để dấn thõn quờn đi tất cả, vượt lờn trờn tất cả để tạo tác nờn những cụng trỡnh tuyệt mỹ trường tồn với thời gian.

Vũ Nh Tô là nhân vật t tởng mà Nguyễn Huy Tởng xây dựng để ký thác những suy nghĩ của mình về quan điểm nghệ thuật Nghệ sỹ không phải muốn cống hiến, muốn sáng tạo đều có thể tự ý, mặc sức Nghệ sỹ luôn phải tự đấu tranh, tô luyện mới có khả năng sáng tạo Và không phải trong bất cứ môi trờng nào nghệ sỹ cũng có thể phát huy sức sáng tạo của mình

2.2.2 Thể hiện con ngời cá nhân với t cách nghệ sĩ

Tính chất bi kịch mà ngời nghệ sỹ gặp phải chính là ngời nghệ sỹ mong muốn vơn tới tận cùng cái đẹp, cái toàn mỹ, toàn bích điểm tô cho non sông đất nớc, nhng khát vọng ấy lắm khi gặp phải những thời điểm, những hoàn cảnh nhất định lại diễn ra xung khắc ghê gớm đến đau đớn mất còn Nghệ sỹ trong khi say mê đến quên mình xây dựng những giá trị thẩm mỹ lâu dài cho nhân dân muôn đời, lại bị chính nhân dân ấy trong một thời điểm cụ thể, tất yếu không hiểu, không cần thậm chí phỉ nhổ, nguyền rủa, và tiêu diệt

Có ngời đa ra ý kiến, toàn bộ nội dung của vở kịch đã đợc thể hiện qua

“đề tựa” đợc tác giả bổ sung sau một năm hoàn tất tác phẩm (1942)

“Chẳng biết Vũ Nh Tô phải hay những kẻ giết Nh Tô phải?

Đài Cửu Trùng không thành nên mừng hay nên tiếc? Tháp ngời hời nguyên là giống Ăngkor!

Mãi vật lộn quên cả đài cao rộng lớn Công ông cha hay là nỗi thiệt thòi?

Ôi khô khan! ôi gay gắt! nhng đừng vội tủi Sức sống tràn từ ải Bắc đến

đồng Nam Than ôi Nh Tô phải hay những kẻ giết Nh Tô phải! Ta chẳng biết

Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”

Nguyễn Huy Tởng đặt ra câu hỏi cho thấy đợc nổi băn khoăn, suy t của

ông, sự kiếm tìm một lời giải đáp “Nh Tô phải hay những kẻ giết Nh Tô phải” Nghệ thuật chân chính luôn lấy mục đích vì cuộc sống làm tiêu chí Xây dựng CửuTrùng Đài, đó là vì tinh thần dân tộc và khi Nh Tô nói “Vì nhà vua thì ít, vì tiện nhân thì nhiều”, đấy là vì thoả lòng khao khát của cá nhân Vũ hãy một Vũ

Nh Tô - công dân muốn tô điểm non sông đất nớc muốn làm cho các nớc bạn xung quanh phải trầm trồ ngỡng mộ Tinh thần ấy liệu có đáng trách Liệu việc

Trang 33

xây dựng Cửa Trùng Đài có phải? Khi ngời dân lâm vào cảnh lầm than chết chóc, thảm thơng đen tối, tủi nhục Quần chúng dới sự xúi dục đe doạ của lực l-ợng nắm quyền đã dẫn đến hành động nổi dậy đột phá Cửu Trùng Đài, giết chết

Đan Thiềm, giết chế Vũ Nh Tô Hành động ấy ta có thể thông cảm và cảm thấy

đau xót về sự u mê, bất động của đám quần chúng ấu trĩ đã đứng lên phá nát tất cả

Vũ Nh Tô phải - hay không phải thì nhà văn cầm bút là vì cùng bệnh với

Đan Thiềm, căn bệnh chung của giới nghệ sỹ có khát khao sáng tạo nghệ thuật cống hiến cho đời Đan Thiềm mong muốn dù bất kể trong hoàn cảnh nào nghệ

sỹ cũng cần phải cố gắng đem tài mình mà phụng sự cho non sông mình, phải luôn biết trân trọng bảo vệ những tài năng cho đất nớc Bởi vậy mà ngay khi gặp

Vũ Nh Tô bà đã khuyên Vũ có tài thì không nên để phí tài mục nát với cỏ cây

mà nên điểm tô cho non sông Trong quá trình xây dựng đài Cửu Trùng, Đan Thiềm cũng luôn dõi theo nhịp độ tiến triển của công trình, hết sức động viên, khuyến khích Vũ, tiếp thêm sức mạnh để Vũ Nh Tô hoàn thành “mộng lớn” của mình Có biến, Đan Thiềm không nghĩ đến mình mà đi tìm Vũ Nh Tô, van lạy

Vũ Nh Tô hãy mau trốn tránh bởi vì Vũ mà mất đi thì “ nớc ta không còn ai tô

điểm nữa” khi quân nổi loạn đến, Đan Thiềm van lạy, xin tha cho Vũ Nh Tô, xin chịu hết tội lỗi về phần mình

Đan Thiềm thị tài, trọng tài Căn “bệnh của Đan Thiềm” mà Nguyễn Huy Tởng mắc phải chính là căn bệnh của những trí thức có tài có hoài bão xây dựng, sáng tạo, mong muốn cống hiến một chút tài trí của mình điểm tô non sông, góp phần làm giàu vốn truyền thống văn hóa dân tộc

“Đài Cửu Trùng không thành nên mừng hay nên tiếc?” Nên mừng chăng? Bởi nh thái tử Chiêm Thành nói với tên thợ “ Mi có biết không?Nớc ta bại chỉ vì nay làm đền, mai đẽo tợng rút cục cả vua lẫn dân chết vì đền đài, còn

họ chỉ nai lng khơi sông đắp đê, khai khẩn ruộng hoang; cho nên dân họ đông, nớc họ mạnh, ngời họ hùng cờng mới lấn át ta đợc Mi bảo nớc ta xây đài cho

đẹp có ích gì không? Thế mà bây giờ họ lại bắt chớc ta, ta nên cố giúp cho Vua

họ xây đài, cho hao ngời tốn của, cho họ kiệt quệ nh ta Bao nhiêu tinh anh đổ cả vào cái đài này Mi đã biết cha? Rồi họ chết!”

Trang 34

Cho nên đài Cửu Trùng sụp đổ khi mới xây dựng trong 10 tháng, khi còn dang dở cha hoàn thiện để tránh đợc kế báo thù của thái t Chiêm Thành là điều rất mừng hơn nữa dân chúng chê đài “Chỉ cảnh An Nam, xấu lắm mấy lại họ chê chỗ xây đài phí tiền”, không nên gây thêm nỗi kết oán trong lòng quần chúng khi giờ đây khắp nơi trên đất nớc đều cho răng chính Vũ Nh Tô - “Bác cả” “là con yêu quỷ hại nớc” “dân đã khổ chính bác ấy làm cho khổ thêm”.

Nhng con ngời ta, một dân tộc “sống” chứ đâu phải tồn tại đơn thuần Bên cạnh những giá trị vật chất ngời ta vẫn luôn khao khát kiếm tìm và sáng tạo

ra các giá trị tinh thần để tự thởng thức để lu truyền cho thế hệ mai sau Nếu nh

ai cũng chối bỏ thiên chức cao quý của mình cất giấu tài năng của mình vì cuộc sống yên bình của bản thân thì rút cuộc dân tộc còn lại gì khi họ mất đi? Nguyễn Huy Tởng vẫn tự hào về cái “sức sống tràn từ ải Bắc xuống đồng Nam” nhng vẫn chua xót và càng chua xót hơn về nỗi thiệt thòi của ngời con sinh ra trên đất nớc “không có gì” để sánh ngang tầm với các quốc gia khác Vậy nờn nếu Vũ Như Tụ khụng xõy dựng Cửu Trựng Đài, thực hiện nghĩa vụ cụng dõn khụng làm hại cho đất nước sẽ được bỡnh yờn Nhưng như thế cũn gỡ để núi Bản thõn Vũ khụng phải là một vị quan của triều đỡnh, khụng phải là người chịu trỏch nhiệm trước cuộc sống cơ cực hay sung tỳc của người dõn Trong trỏch đú khụng thuộc về phần Vũ – một con người bỡnh thường – một cụng dõn Song Vũ là một con người cú ý thức về giống nũi quỏ cao, cú lũng yờu dõn tộc tha thiết, khụng muốn vỡ cỏi tài của mỡnh đem phục vụ cho vua chỳa

mà khiến cho cuộc sống dõn chỳng lầm than đau khổ nhưng cũng khụng muốn dõn tộc mỡnh thua kộm bất kỳ dõn tộc nào Vũ cú tài, Vũ thừa khả năng

“điểm tụ non sụng”, lũng say mờ nghệ thuật, tõm huyết muốn tận dụng cơ hội

“ mượn tay vua Hồng Thuận ” mà thi thố tài năng mà cống hiến cho đất nước những cụng trỡnh vĩ đại, phụng sự nghệ thuật, phụng sự cỏi đẹp bằng bàn tay khối úc của mỡnh, điều ấy đỳng với phận sự của một kẻ sỹ Dự hứng chịu một kết cục bi thảm nhưng đấy là một lựa chọn tất yếu của người nghệ sỹ bởi với

họ “ cuộc đời chỉ là phương tiện cho nghệ thuật ” để dấn thõn quờn đi tất cả,

Trang 35

vượt lờn trờn tất cả để tạo tạc nờn những cụng trỡnh tuyệt mỹ trường tồn với thời gian.

Vì thế nếu xét theo những suy nghĩ của Nguyễn Huy Tởng - nhà văn luôn mong muốn góp sức mình làm giàu thêm vốn văn hoá nớc nhà, một nhà văn luôn trong tình trạng phải sáng tác để phục vụ kịp thời cho cuộc chiến đấu bảo

vệ độc lập, hẵn ông sẽ rất buồn khi Cửu Trùng Đài bị đốt cháy Khi một biểu ợng văn hoá của đất nớc Việt Nam bị chôn vùi thì sao có thể vui đợc, phải là tiếc, rất tiếc thậm chí đau lòng khi một công trình vĩ đại, tráng lệ là niềm tự hào của dân tộc bị phá nát chôn vùi

t-Đọng lại sau khi đọc xong vở kịch là cảm giác buồn, một nỗi thơng tiếc dành cho nhân vật Vũ Nh Tô Nhân vật này mang trong mình một khối mâu thuẫn lớn Và nhà văn đã để cho nhân vật của mình phát triển theo tính cách của

nó Vậy cho nên đến tận bây giờ “Nh Tô phải hay những kẻ giết Nh Tô phải” cha thể có một câu trả lời nào thoả mãn những ai nghiền ngẫm vấn đề đặt ra trong tác phẩm Viết tác phẩm Vũ Nh Tô năm 1941, lúc đó nhà văn mới 29 tuổi

29 tuổi còn quá trẻ so với những suy nghĩ, t tởng đặt ra trong tác phẩm Ngời nghệ sỹ cầm bút viết lên Vũ Nh Tô dờng nh đã có một sự trải nghiệm sâu sắc, một suy nghĩ chín chắn kèm theo đó là một tâm trạng luôn luôn day dứt, trăn trở kiếm tìm những chân lý nghệ thuật để đeo đuổi nó, sáng tạo theo nó

2.3 Nghệ thuật vở kịch Vũ Như Tụ

Kịch đợc xây dựng trên cơ sở những mâu thuẫn lịch sử xã hội hoặc những mâu thuẫn mang tính toàn nhân loại (giữa thiện và ác, cao cả và thấp hèn, ớc mơ và hiện thực) Những xung đột ấy đợc thể hiện bằng một cốt truyện

có cấu trúc chặt chẽ các hành động của nhân vật kịch và theo những qui tắc nhất

định của nghệ thuật kịch

Vũ Nh Tô- một vở bi kịch thuộc loại hàng đầu trong văn học Việt Nam

hiện đại và không thua kém bất cứ kiệt tác bi kịch nào trong văn học thế giới cả

về tầm cỡ vấn đề mà nó nêu ra lẫn trình độ biên kịch điệu nghệ của tác giả Để xây dựng nên vở bi kịch kiệt tác này, tác giả đã thể hiện đợc mâu thuẫn xung

đột và xây dựng nhân vật bi kịch cùng với hành động của nó

2.3.1 Nghệ thuật thể hiện mâu thuẫn, xung đột

Trang 36

So với sử liệu mâu thuẫn trong vở kịch có tính chất hoàn toàn khác Mâu thuẫn trong sử liệu là mâu thuẫn giữa hai phe đối lập Trịnh Duy Sản với Lê T-

ơng Dực Còn mâu thuẫn trong vở kịch nhìn bề ngoài, nhiều ngời tởng rằng đó

là mâu thuẫn giữa bọn Trịnh Duy Sản và đám quần chúng nhân dân với Lê Tơng Dực và Vũ Nh Tô Nên nhìn nhận nh vậy sẽ làm mất đi nhiều cái nội dung t t-ởng của vở kịch

ở đây Nguyễn Huy Tởng đã xây dựng mâu thuẫn xung đột thông qua các lớp đối thoại của các nhân vật trong vở kịch Tựu trung lại hai lực đối kháng và

đồng đẳng xung đột quyết liệt trong tác phẩm bi kịch này là chất nghệ sỹ và t ởng nhân dân trong bản thân kiến trúc s tài ba Vũ Nh Tô từ đó mở rộng ra là sự xung đột mâu thuẫn giữa quần chúng nhân dân (đại diện là Trịnh Duy Sản, Thị Nhiên, đám thợ thuyền) với bọn cầm quyền và ngời phục vụ chúng (Lê Tơng Dực, Vũ Nh Tô, Đan Thiềm)

t-Vở kịch gồm 5 hồi: mỗi hồi được đỏnh dấu bằng một sự kiện -

nú là biến cố để thỳc đẩy sự phỏt triển của cõu chuyện Mộng lớn của Vũ Như

Tụ, nếu khụng phải người đúng bệnh là Đan Thiềm thỡ liệu cú thực hiện được hay khụng để rồi đi đến sụp đổ Chớnh lời núi của Đan Thiềm "ễng biết một

mà khụng biết hai ễng cú tài, tài ấy phải đem cống hiến cho non sụng Khụng nờn để mục nỏt với cỏ cõy Ồng khụng cú tiền, ụng khụng cú thể xõy dựng lấy một tũa đài như ý nguyện Chấp kinh phải tũng quyền Đõy là lỳc ụng nờn mượn tay vua Hồng Thuận mà thực hành cỏi mộng lớn ấy của ụng ễng cứ xõy lấy một tũa nhà cao cả Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ kia rồi mất đi nhưng sự nghiệp của ụng cũn lại với muụn đời Dõn ta nghỡn thu được hónh diện, khụng phải thẹn với những cung điện đẹp của nước ngoài, thế là

đủ Hậu thế sẽ xột cụng cho ụng, và nhớ ơn ụng mói mói, ụng hóy nghe tụi làm cho đất Thăng Long này thành một kinh kỳ lộng lẫy nhất trần gian" Núi về một sự thực của thời đại, một ý nghĩa cơ bản cú tớnh triết lớ của vở kịch Đối thoại của Đan Thiềm và Vũ Như Tụ ở lớp này tạo một bước ngoặt

vĩ đại cho hành động kịch Nghe lời núi mặn mà , đầy sức thuyết phục (giữa cỏi nhất thời và cỏi vĩnh cữu), đầy sự thấu hiểu cuộc sống("Tài làm lụy ụng

Trang 37

cũng như nhan sắc phụ người Tài bao nhiêu lụy bấy nhiêu"), làm cho Vũ Như Tô ra khỏi giấc u mê " Đa tạ bà đã khai cho cái óc u mê nay Thiếu chút nữa, tôi nhỡ cả Những lời vàng ngọc tôi xin lĩnh giáo Trời quá yêu nên tôi mới gặp bà" Nó đánh dấu từ không đến có Và tất cả bắt đầu Tất cả bắt đầu sau lời nói đầy triết lí, thâm thúy của một người đàn bà "thức khi người ngủ, khóc khi người cười, thương khi người ghét", để rồi từ sự quyết liệt chống trả việc xây dựng Cữu Trùng Đài cho một tên bạo chúa trở thành tự nguyện, cố gắng và bất chấp tất cả để hoàn thành Đài Cữu Trùng Mâu thuẫn, một mâu thuẫn ngay chính trong con người trí thức, một kẻ có tài đã không được giải quyết một cách rõ ràng nên đi theo hướng nào để mọi việc đều ổn thỏa nöa năm sau, đài Cữu Trùng vươn lên trời, hùng vĩ và tráng lệ Song 4 tháng sau nữa, chỉ một đêm nó bị phá đổ và cháy thành tro bụi Kết quả của lời nói của Đan Thiềm, dẫu sao đã làm thỏa mãn cái ước muốn đó, cái mộng lớn của kẻ muốn cống hiến tài mình để điểm tô cho non sông Song có lẽ cái mộng nhầm thời nên bị đánh đổ, bị vùi dập bị sát hại.

Hết sức lôgic, "mộng lớn" tan tành Đan Thiềm chết, Cửu Trùng Đài sụp đổ, tất cả được báo hiệu từ hồi II lớp 3 Khi xuất hiện Trịnh Duy Sản, Duy Sản nói "Xin cụ lớn xét lại cho Xây Cửu Trùng Đài thì loạn mất" "giết

mi thì Cửu Trùng Đài cũng hết"(tuốt kiếm định chém Vũ Như Tô) Lời nói, chi tiết này chính là vết rạn thứ nhất của tòa đài, khi mà trong bản thân Trịnh Duy Sản - quân công có uy thế trong triều đình và trong thâm tâm hắn muốn lật đổ ngôi vua Và ở hồi thứ III, vết rạn thứ 2 nghiêm trọng hơn, nó ở ngay trong nội bộ những nguời đanng thết kế và xây dựng tòa đài Phó Độ, phó Bảo,Hai Quát Vốn dĩ là những người thợ có tài, họ quyết tâm chung sức chung lòng với "Bác Cả" đi xây dựng một tòa đài nguy nga lộng lẫy, nhưng trước sự lung lạc và đe dọa của Trịnh Duy Sản, lập trường không kiên định, bản lĩnh non nớt dựa theo thời thế đã khiến tất cả quay lưng lại trừ phó Cõi - suốt ngày say là con nguời nghĩa khí trọng tình, luôn đứng về phía Vũ Như

Tô - Tất cả các diễn biến trên (thể hiện bằng đối thoại - hành động) liên kết với nhau từ hồi này sang hồi khác tạo nên hình tượng báo hiệu và chuẩn bị

Trang 38

cho sự đổ vỡ của Cữu Trùng Đài ở hồi V - Cấu trúc lôgic nghiêm ngặt của kịch cổ điển phương Tây.

Ở hồi III, Xung đột giữa hai thế lực yểm trợ và lực phản đối cho việc xây dựng Cữu Trùng Đài của Vũ Như Tô, giữa Lê Tương Dực và Trịnh Duy Sản lên đến cực độ

Trịnh Duy Sản:- Hoàng thượng nên bãi ngay việc xây dựng Cữu Trùng Đài

- Dâm dật là mầm bại vong, xa xỉ là nguồn hoan lạc Hoàng thượng là bậc anh minh xinh nghĩ lại

Lê Tương Dực:- Ngươi hãy lui ra, Trẫm không muốn nghe chuyện chướng tai nữa, lui ra !

Trịnh Duy Sản:- Còn như Vũ Như Tô nữa - Nó đã bày vẽ ra Cữu Trùng Đài, hao tiền tốn của vì nó, sưu cao, thuế nặng vì nó, triều đình đổ nát, giặc dã như ong là vì nó Kiệt Trụ mất nước chỉ vì cái bệnh xây cung điện Xin hoàng thượng mau mau tỉnh ngộ, tu tỉnh thân mình, xa gái đẹp, đuổi Vũ Như Tô, học thói thánh hiền, thương dân như con, kẻo họa đến thân

Lê Tương Dực: - Duy Sản ngươi bước ngay, kẻo cái công hãn mã của ngươi trẫm không kể nữa, trẫm phải nghe ngươi dạy khôn à?

Trịnh Duy Sản: - Xin hoàng thượng nghe lời hạ thần đuổi cung nữ, chém Vũ Như Tô(nắm lấy tay vua)

Lê Tương Dực: - Lão ương gan, quân vũ nho (rút kiếm) Bước!

Trịnh Duy Sản:- Hạ thần xin chết về tay hoàng thượng còn hơn là trông thấy ngày nhà Lê mất nghiệp (quỳ xuống vươn cổ)

Lê Tương Dực: - Mi thách trẫm sao (định chém) Nể lời thứ phi ta hãy để cái đầu mi đấy!

Trịnh Duy Sản:- Thương thay cơ nghiệp nhà Lê

Đối thoại trên đồng thời là việc làm quyết định hành động kịch Sau sự biến này Duy Sản sẽ làm loạn, giết cung nữ, giết Vũ Như Tô, phá Cửu Trùng Đài, đoạt ngôi vị

Trang 39

Muốn nhận thức ý nghĩa của kịch bản cần thiết phải tháo dỡ, bổ sung, phân tích cấu trúc kịch bản, những đối thoại và độc thoại, những chỉ dẫn sân khÊu, những khoảng trống chç trắng của kịch bản.

Với lời đề tựa viết sau khi hoàn tất kịch bản Vũ Như Tô một năm, phần

nào ta hiểu được nội dung, ý nghĩa của vở kịch Và với lời đề tựa đó, không

có đáp án cuối cùng rằng Nguyễn Huy Tưởng muốn nói gì ở đây:"ch¼ng biết

Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải

Đài Cöu Trïng không thành nên mừng hay nên tiếc( )

Than ôi! Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải? Ta chẳng biết.Cầm bút ch¼ng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm."

Thật lòng kịch sĩ không biết? Hay kịch sĩ muốn che dấu ý kiến thực của mình? Kịch sĩ chỉ hỏi để mà hỏi trong khi chính kịch sĩ đã có câu trả lời? "Ta chẳng biết", phải chăng vì "ta" cũng là một trí thức, một nghệ sĩ có mộng lớn

có khát vọng muốn dâng hiến muốn điểm tô cho non sông nhưng chưa làm được Vì vậy chưa thể khẳng định ước muốn đó có nên được bảo vệ hay không Nguyễn Huy Tưởng đặt ra câu hỏi nhưng bằng việc xây dựng hình tượng Vũ Như Tô với tòa đài lộng lẫy được dựng lên thì đủ cho thấy ông đứng về phía nào: "Như Tô phải hay những kẻ giết Vũ Như Tô phải" Và ngay ở câu cuối lời đề tựa: ''Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm", mà chính Vũ từng nói: "Ủa? Bà nói như một người đồng mệnh" Do vậy có thế xem kịch sĩ không phải đồng bệnh với Đan Thiềm mà còn đồng bệnh với Vũ Như Tô? Nguyễn Huy Tưởng có ý thức rằng kịch viết về một nhà kiến trúc, nhưng mang ý nghĩa sâu xa hơn, rộng lớn hơn: Vũ Như Tô là hình ảnh nhà văn (người cầm bút), của nghệ sĩ, nhà văn chủ nghĩa, người trí thức, tất cả những ai quan tâm, bảo vệ xây dựng, ngợi ca cái đẹp con người Tầm vóc "Bác Cả" do vậy "Vươn tới trời cao tầm vóc một triết gia", một "Đại trượng phu", một "kẻ sĩ" Song ở các chế độ xã hội tàn ác, đó là cái bệnh

"Bệnh Đan Thiềm" "Bệnh Đan Thiềm" trở thành một thành ngữ mà mọi người sẽ nhớ mãi Sau này, một khi "tài" còn "lụy", còn bị "bọn người bạc ác khinh rẻ" như Vũ Như Tô nói Đó là những con người mang trong mình một

Ngày đăng: 18/12/2013, 22:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w