Những năm gần đây việc phát triển cây Dó trầm là vấn đề thời sự vì mộtphần do lợi nhuận kinh tế cao do nguồn khai thác Trầm hương tự nhiên đã cạnkiệt, một phần có những kỹ thuật tạo Trầm
Trang 1Những năm gần đây việc phát triển cây Dó trầm là vấn đề thời sự vì mộtphần do lợi nhuận kinh tế cao do nguồn khai thác Trầm hương tự nhiên đã cạnkiệt, một phần có những kỹ thuật tạo Trầm từ các cây Dó trầm trồng trong vườnnhà bước đầu cho hiệu quả kinh tế Từ thực tiễn sản xuất của nhà nông và nghiêncứu của khoa học đã thu được kết quả bước đầu rất khả quan, mở ra hướng pháttriển ngành sản xuất Trầm hương ở Việt Nam Dó trầm trở thành đối tượng quantâm số 1 của những người nông dân cũng như các nhà khoa học, nhà hoạch địnhchính sách, nhà đầu tư, các doanh nghiệp và được đưa vào cây trồng chính, làchiến lược phát triển của một số địa phương Theo thống kê năm 2002 của ViệnKhoa học Lâm nghiệp Việt Nam cả nước có khoảng 6.000 ha rừng Dó trầmnhưng chỉ 4 năm sau, diện tích ấy đã tăng lên 20.000 ha phân bố ở cả 3 miền BắcTrung Nam, trong đó gần 50% diện tích Dó trầm trồng tại Hà Tĩnh [18] Đếncuối năm 2006 cả nước có khoảng 18.000 ha tương ứng 18 triệu cây Dó trầm từ 1năm tuổi trở lên [19].
Ngày 17/09/2007, tại Hà Nội, Bộ NN & PTNT phối hợp với Ủy ban Nhân
dân tỉnh Hà Tĩnh tổ chức hội thảo “Cây Dó bầu và Trầm hương – Thực trạng và
Trang 2Định hướng phát triển” Kết thúc hội thảo Bộ NN& PTNT đã có chủ trương đốivới cây Dó trầm đó là:
- Bộ trưởng Bộ NN & PTNT đã ban hành Quyết định số BNN ngày 15/03/2005 về việc ban hành Danh mục các loài chủ yếu cho trồngrừng sản xuất theo 9 vùng Sinh thái nông nghiệp (trong đó có cây Dó trầm)
16/2005/QĐ Tại Quyết định số 1994/QĐ/BNN16/2005/QĐ KH ngày 04/08/2005, Bộ trưởng BộNông nghiệp & PTNT cho phép xây dựng đề cương quy hoạch cây Dó trầm tạiViệt Nam Từ tháng 4/2005 – tháng 3/2006: Trung tâm tài nguyên và môi trườnglâm nghiệp thuộc Viện điều tra quy hoạch rừng đã tiến hành khảo sát xây dựng
dự án quy hoạch phát triển cây Dó trầm đến năm 2015 là 58,584 ha tại 13 tỉnh
- Trước mắt, khi chưa có kết luận chính thức về thị trường tiêu thụ sảnphẩm từ cây Dó trầm, cũng như các vấn đề kỹ thuật như nêu trên, thì xem cây Dótrầm là cây lâm nghiệp bản địa và được đưa vào trồng như cây rừng, phát triểntheo hướng trồng tập trung, trồng xen, trồng phân tán, không trồng ồ ạt Hướngdẫn nhân dân làm tốt công tác chăm sóc, quản lý bảo vệ diện tích rừng đã có
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã giao cho Viện Khoa họcLâm nghiệp tiếp tục thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học chuyên sâu bao quátmọi vấn đề của cây Dó trầm, trong đó có vấn đề thị trường, để giúp Bộ có cơ sởchắc chắn chỉ đạo trong thời gian tới; cơ quan Kiểm lâm đề xuất tháo gỡ vướngmắc để tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho lưu thông Dó trầm và trầm hươngcông khai, minh bạch hoá thị trường [2]
Tuy nhiên, trồng cây Dó trầm, tạo Trầm hương còn quá mới mẻ, lạ lẫmvới nhiều người và xung quanh điều này còn nhiều ý kiến khác nhau Đến naycây Dó trầm vẫn đang được trồng dưới dạng tự phát, thiếu quy hoạch, thị trườngmua bán, xuất khẩu vì thế phần lớn cũng chỉ là thị trường ảo, hoạt động ngầm.Hậu quả là thị trường tiêu thụ các sản phẩm của Dó trầm phụ thuộc vào cácthương lái nên người sản xuất vẫn chịu thiệt thòi trong khi thị trường xuất khẩuTrầm hương của Việt Nam rất rộng, giá Trầm hương loại 1 lên đến 7.000 – 8.000
Trang 3USD/kg, giá tinh dầu từ 5.000 – 80.000 USD/lít tùy theo chất lượng, xuất xứ vàcông nghệ sản xuất (năm 2010) [19]
Ngoài ra vấn đề chất lượng cây giống cũng rất quan trọng bởi Dó trầm chỉ
có thể phát huy hiệu quả ít nhất sau 5 năm tuổi Thực tế hiện nay, nhiều nơikhông xác định rõ loại Dó trầm nào có nhiều Trầm hương, loại giống nào chấtlượng tốt dẫn đến hệ quả nhiều vườn Dó trầm 5 – 7 năm tuổi bị chết do chấtlượng giống và kỹ thuật chăm sóc không đảm bảo
Công nghệ chưng cất, chế biến tinh dầu Trầm cũng đang là ẩn số với cácdoanh nghiệp Vì thế các sản phẩm từ Dó trầm đều được xuất khẩu dưới dạngTrầm mảnh, Trầm vụn, bột Trầm, nhang Trầm,… mà việc tinh chế được rất hạnchế PGS Đinh Xuân Bá, chủ tịch HĐQT Tổng công ty SECOIN Hà Nội đánhgiá, Việt Nam có 10 cơ sở chưng cất tinh dầu Trầm nhưng cho sản lượng thấp,chưa trở thành hàng hóa để vào thị trường lớn như Pháp, Mỹ, Nhật Bản… Tuynhiên, Dó trầm là một loại cây rất đặc biệt, đa dụng, nó không phải là loại cây chỉdùng để tạo Trầm, cho Kỳ nam như lâu nay hầu hết người dân vẫn lầm tưởng màcòn được dùng để sản xuất dược phẩm, mỹ phẩm cao cấp, hàng mỹ nghệ, làmgiấy thơm, nhang Trầm, chiết xuất tinh dầu Trầm, dùng trong tín ngưỡng của cáctôn giáo ở nhiều nước trên thế giới,…
Kết quả điều tra của Trung tâm Tài nguyên Môi trường lâm nghiệp (Việnđiều tra Quy hoạch Rừng) cho thấy, diện tích Dó bầu ở Việt Nam đến năm 2015
có thể lên đến gần 58.600 ha [18] Do đó, xác định quy hoạch rõ ràng là vấn đề
mà nhiều địa phương đang phải khẩn trương tiến hành Bộ trưởng Cao Đức Phátcũng lưu ý, cần sớm có đánh giá chính xác về giá trị của cây Trầm Khi có đủ cơ
sở nghiên cứu khoa học về cây này, Bộ NN&PTNT sẽ cân nhắc việc cho phéptrồng đại trà cây Dó Trầm
Xã Phúc Trạch thuộc huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh được biết đến là cáinôi của cây Dó trầm, hiệu quả kinh tế cao, việc phát triển cây Dó trầm đã và đangđược xem là cây trồng chiến lược SXKD của Phúc Trạch chủ yếu dựa vào kinh
tế vườn, với việc trồng các loại cây ăn quả trong đó chú trọng đến việc phát triển
Trang 4cây bưởi Bưởi Phúc Trạch vốn là đặc sản, nhưng giá cả bấp bênh, hơn 10 nămqua lại liên tục mất mùa (trừ năm 2008) làm cho cuộc sống người dân khốn đốn,khó khăn nên giờ đây nhiều gia đình đã đốn hạ cả vườn bưởi để trồng Dó trầm.
Sự xuất hiện của cây Dó trầm vào những năm thập niên 90 không chỉ “cứu”người dân thoát nghèo đúng lúc mà còn giúp người dân làm giàu, nâng cao chấtlượng cuộc sống Song, cũng như các vùng SXKD cây Dó trầm khác trên cảnước, tại “rốn” Trầm này vẫn còn nhiều bất ổn, người dân còn thiếu thông tin vềđặc tính, giá trị cây Dó trầm, kỹ thuật tạo trầm và chưng cất tinh dầu cũng như thịtrường tiêu thụ, chất lượng giống cây chưa được kiểm soát trong khi việc phá cácvườn cây ăn quả để trồng Dó trầm vẫn đang tiếp diễn một cách xô bồ, không cóquy hoạch Quan trọng hơn cả là chưa có tài liệu khoa học nào công bố về các kếtquả nghiên cứu đánh giá về hiệu quả kinh tế của loại cây này tại địa phương
Vậy thực hư về giá trị của cây Dó trầm như thế nào? Hiệu quả kinh tế vàhiệu quả bền vững của việc trồng Dó trầm ra sao? Và liệu trong tương lai Dótrầm còn có thể được xem là cây trồng chủ lực của xã Phúc Trạch như hiện naynữa hay không? Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn đó, chúng tôi đã tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu hiệu quả kinh tế của việc trồng cây Dó trầm tại
xã Phúc Trạch, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh”
2 Mục tiêu nghiên cứu.
2.1 Mục tiêu tổng quát:
Cung cấp các dẫn liệu khoa học về hiệu quả kinh tế của việc trồng cây Dótrầm và đề xuất một số giải pháp liên quan đến việc trồng cây này trên địa bàn xãPhúc Trạch
2.2 Mục tiêu cụ thể:
Tìm hiểu hiệu quả kinh tế của cây Dó trầm tại địa bàn nghiên cứu
Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả SXKD của cây Dó trầm,cũng như những khó khăn rủi ro mà người dân có thể gặp phải, từ đó đề xuất một
số giải pháp liên quan đến việc SXKD Dó trầm ở xã Phúc Trạch
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Trang 5Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp xác định được
HQKT và các yếu tố ảnh hưởng đến việc trồng cây Dó trầm tại Phúc Trạch
Kết quả đạt được của đề tài sẽ phần nào cung cấp những dẫn liệu, dẫnchứng quan trọng cho các nghiên cứu liên quan
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những thông tin quan
trọng cho thực tế sản xuất của địa phương, giúp các hộ trồng Dó trầm hiểu rõ hơn
về giá trị và hiệu quả mà cây Dó trầm mang lại, từ đó giúp họ có những kế hoạchsản xuất đúng đắn trong thời gian tiếp theo Đồng thời, những kết quả này sẽ giúpcho các nhà quản lý thuận lợi hơn trong việc hoạch định chính sách của địaphương, nhằm đưa ra những chính sách thiết thực cho sự phát triển nông nghiệpcủa xã nhà
Trang 6Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Hiệu quả kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của cáchoạt động kinh tế, gắn liền với nền sản xuất hành hóa và liên quan trực tiếp vớicác phạm trù và quy luật kinh tế khác Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật phát triểnmạnh mẽ cùng với sự khan hiếm về tài nguyên thiên nhiên, nâng cao chất lượngcác hoạt động kinh tế có nghĩa là tăng cường tận dụng các nguồn lực sẵn có đểmang lại nhiều lợi ích nhất trong Đây là một đòi hỏi khách quan của nền sảnxuất xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người mà mọi nền kinh
tế cần hướng tới
Tổng quát về hiệu quả kinh tế (HQKT) là so sánh giữa kết quả thu được
và chi phí bỏ ra trong sản xuất Tuy nhiên, có nhiều khái niệm về HQKT khácnhau, theo tác giả Nguyễn Trần Quế: “ở dạng khái quát nhất, HQKT là các đặctrưng kinh tế kỹ thuật, xác định bằng tỉ lệ so sánh giữa đầu ra và đầu vào của hệthống” [4] Tác giả Ngô Đình Giao lại cho rằng: “Trên quan điểm kinh tế học vi
mô, Hiệu quả (HQ) nói khái quát nghĩa là không lãng phí nhưng nó quan hệ chặtchẽ với việc sử dụng năng lượng sản xuất hiện có” Còn theo tác giả Đỗ HoàngToàn: “HQKT là khái niệm để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện với cácmục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đótrong những điều kiện nhất định”,… Tóm lại, có thể chia thành ba hệ thống quanđiểm như sau:
- Quan điểm 1: HQKT được đo bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất đạtđược và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
- Quan điểm 2: HQKT được xác định bởi tỉ số giữa kết quả đạt được vàchi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Trang 7- Quan điểm 3: HQKT được xem xét trong phần biến động giữa chi phí
và sản xuất Theo quan điểm này HQKT được biểu hiện bởi quan hệ giữa phầntăng thêm của hiệu quả và phần thăng thêm của chi phí hay quan hệ tỉ lệ giữa kếtquả bổ sung và chi phí bổ sung
Ở ba quan điểm trên, HQKT đều thể hiện mối quan hệ giữa chi phí đầuvào và giá trị đầu ra, khi đó HQKT phổ biến là sử dụng lợi nhuận như là mộtmục tiêu gắn với đầu vào và đầu ra
Từ đó, có thể nêu một cách tổng quát về khái niệm HQKT như sau:HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác các yếu tố đầu tư, cácnguồn lực và phương thức quản lý, là một đại lượng so sánh giữa đầu vào và đầu
ra, so sánh hiệu quả đạt được và các chi phí sản xuất Mục tiêu của HQKT chính
là hiệu quả của xã hội, thước đo của hiệu quả là tối đa hóa kết quả đạt được hoặctối thiểu hóa chi phí HQKT được thể hiện bằng hệ thống các tiêu chí phản ánhcác mục tiêu cụ thể của cơ sở sản xuất phù hợp với yêu cầu xã hội
Bản chất của HQKT là nâng cao năng suất lao động và tiết kiệm lao động
xã hội Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết với vấn đề của HQKT gắn liềnvới 2 quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội là quy luật năng suất lao động
và quy luật tiết kiệm thời gian Trong quá trình sản xuất của con người khôngđơn thuần chỉ chú ý đến HQKT mà còn phải xem xét đánh giá về HQXH, HQMTsinh thái Tuy nhiên mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận thì yêu cầu củaviệc nâng cao HQKT là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi chủ thể sản xuất
Đánh giá HQKT của việc trồng cây Dó trầm tại xã Phúc Trạch là nhằmxác định hiệu quả và tác động của hoạt động sản xuất loại cây này đối với các hộtrồng Dó trầm ở địa phương Đây là cơ sở cho các hộ gia đình lập kế hoạch sảnxuất đúng đắn và các nhà quản lý thuận lợi hơn trong việc hoạch định chính sáchcủa địa phương Đánh giá HQKT cũng là tiền đề cho việc xây dựng các dự án,các mô hình SXKD Dó trầm trong tương lai, mang ý nghĩa rất lớn cho sự pháttriển nông nghiệp bền vững của xã Phúc Trạch trong thời kỳ CNH - HĐH nôngnghiệp, nông thôn
Trang 81.1.1.2 Phân loại hiệu quả kinh tế
Để phân loại HQKT, người ta căn cứ vào các tiêu chí khác nhau: Ứng vớimột tiêu chí là một cách phân loại
Căn cứ theo nội dung và bản chất có thể phân biệt thành ba phạm trù :HQKT, HQXH và HQMT Chúng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau
- Hiệu quả kinh tế: Được thể hiện ở mức độ đặc trưng quan hệ so sánhgiữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Khi xác định HQKT, phải xem xét đầy đủmối quan hệ, kết hợp chặt chẽ giữa các đại lượng tương đối và đại lượng tuyệtđối HQKT ở đây được biểu hiện bằng tổng giá trị sản phẩm, tổng thu nhập, lợinhuận và tỉ suất lợi nhuận, mối quan hệ đầu vào - đầu ra
- Hiệu quả xã hội: Là mối tương quan so sánh giữa kinh tế xã hội và tổngchi phí bỏ ra HQXH có mối liên hệ mật thiết với các loại hiệu quả khác và thểhiện bằng mục tiêu hoạt động kinh tế của con người
- Hiệu quả môi trường: Là hiệu quả mang tính chất lâu dài, vừa đảm bảolợi ích trước mắt, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tàinguyên đất và môi trường sinh thái
Hiệu quả kinh tế có thể phân theo yếu tố hợp thành bao gồm:
- Hiệu quả kinh tế: Là phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng hoạt độngsản xuất kinh doanh Nó phản ánh chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ sảnxuất ra nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường và chi phí nguồn lực thấp nhất, đạtđược mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
- Hiệu quả xã hội : Là hiệu quả phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sảnxuất và các lợi ích xã hội do sản xuất mang lại
- Hiệu quả kinh tế - xã hội: Là phản ánh mối tương quan giữa các kết quảđạt được tổng hợp các lĩnh vực kinh tế, xã hội với chi phí bỏ ra để đạt được kếtquả đó
- Hiệu quả phát triển: Thể hiện sự phát triển của các doanh nghiệp, cácvùng trong nền kinh tế quốc dân Đây là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố như
Trang 9đời sống vật chất, đời sống tinh thần, trình độ dân trí,… do kết quả sản xuất nângcao HQKT mang lại.
Trong các loại HQ xem xét trên ta dễ dàng nhân thấy rằng HQKT là trọngtâm, là phạm trù kinh tế quan trọng nhất HQKT được nhìn nhận và đánh giá mộtcách toàn diện nhất, đầy đủ nhất khi có sự kết hợp hài hòa giữa HQXH, HQMTsinh thái và hiệu quả phát triển
Căn cứ theo phạm vi, hiệu quả kinh tế chia thành:
- Hiệu quả kinh tế quốc dân: Là việc tính toán, xem xét HQKT cho chungtoàn bộ nền kinh tế Dựa vào tiêu chí này, chúng ta đánh giá một cách toàn diệntình hình sản xuất và phát triển sản xuất của nền kinh tế, hệ thống luật pháp,chính sách của Nhà nước tác động đến phát triển kinh tế xã hội nói chung
- Hiệu quả kinh tế ngành: Trong nền KTQD gồm nhiều ngành, nhiều lĩnhvực sản xuất, mỗi ngành lại được phân thành nhiều ngành nhỏ Những ngành lớnnhư nông nghiệp, công nghiệp,… và những ngành nhỏ như: trồng trọt, chăn nuôi,
… trong chăn nuôi lại lại phân thành chăn nuôi đại gia súc, tiểu gia súc và giacầm,… Trong HQKT ngành người ta tính toán hiệu quả riêng cho từng ngành sảnxuất
- Hiệu quả kinh tế vùng: Là hiệu quả phản ánh kinh tế của một vùng.Vùng ở đây được hiểu là vùng kinh tế, vùng lãnh thổ như tỉnh, huyện,…
- Hiệu quả kinh tế theo quy mô tổ chức sản xuất: Có nhiều loại quy môsản xuất, quy mô lớn, quy mô vừa, quy mô nhỏ Mỗi quy mô sản xuất lại có ưuthế, thế mạnh riêng
Căn cứ vào các yếu tố cấu thành, HQKT được chia thành: HQ kỹthuật, HQ phân bổ, HQ kinh tế
- Hiệu quả kỹ thuật: Là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vịchi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể
về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất Nó chỉ ra rằng một đơn vịnguồn lực dùng vào sản xuất đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm HQ kỹthuật của việc sử dụng các nguồn lực được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa
Trang 10đầu vào và đầu ra, giữa các đầu vào với nhau, giữa các sản phẩm khi ra quyếtđịnh sản xuất HQ kỹ thuật phụ thuộc nhiều vào bản chất kỹ thuật và công nghệ
áp dụng vào sản xuất, kỹ năng của người sản xuất cũng như môi trường kinh tế
xã hội khác, mà trong đó kỹ thuật được áp dụng
- Hiệu quả phân bổ: Là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố giá sản phẩm,giá đầu vào hay nguồn lực Thực chất của hiệu quả phân bổ là HQ kỹ thuật cótính đến các yếu tố giá của đầu vào và đầu ra Vì thế nó còn được gọi là HQ giá.Việc xác định HQ này giống như xác định các điều kiện về lý thuyết biên tối đahóa lợi nhuận Điều đó có nghĩa là giá trị biên của sản phẩm phải bằng giá trịbiên của nguồn lực sử dụng vào sản xuất
- Hiệu quả kinh tế: Là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả HQ kỹthuật và HQ phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đềutính đến khi xem xét các yếu tố nguồn lực trong sản xuất Nếu đạt được mộttrong các yếu tố HQ kỹ thuật hay HQ phân bổ thì mới chỉ là điều kiện cần màchưa đủ cho đạt HQKT Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu HQ
kỹ thuật và HQ phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt được HQKT
Tóm lại, phân loại HQKT một cách tương đối giúp chúng ta thuận tiệntrong việc tính toán, phân tích, đánh giá HQKT
1.1.2 Hiệu quả bền vững.
Phát triển bền vững là sự phất triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại màkhông làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhucầu của họ” [6] Nông nghiệp bền vững là việc thiết kế những hệ thống cư trú lâubền của con người, đó là một triết lý về một cách tiếp cận về việc sử dụng đất tạo
ra mối liên kết chặt chẽ giữa tiểu khí hậu, cây hàng năm, đất, nước và những nhucầu của con người, xây dựng những cộng đồng chặt chẽ và có hiệu quả [16]
Tính bền vững còn được xem là khả năng duy trì năng suất trong quá trìnhsản xuất khi chịu ảnh hưởng của một nhiễu loạn lớn Sự nhiễu loạn này bao gồm:
- Sự nhiễu loạn thực tế hoặc tiềm năng, chúng có thể gây ra bởi sự tăngcường mạnh mẽ (stress) và được xác định như là sự ảnh hưởng rối loạn thường
Trang 11xuyên, đôi khi liên tục Ví dụ như sự thay đổi độ mặn, độc, xói mòn, nhu cầu thịtrường suy giảm,…
- Sự nhiễu loạn được gây ra bởi một sự đột biến (shock), được xem như làmột ảnh hưởng nhiễu loạn bất thường, tương đối rộng như hạn hán, lũ lụt hiếm
có, sâu bệnh nguy hiểm hay sự tăng đột ngột giá cả đầu vào,…
Như vậy HQBV phải đáp ứng được 2 yêu cầu cơ bản là khả năng duy trìnăng suất của hệ thống khi chịu ảnh hưởng của một nhiễu loạn nào đó và đảmbảo được tài nguyên thiên nhiên cho thế hệ hiện tại và tương lai
1.1.3 Vai trò của việc đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu quả bền vững.
Hiệu quả kinh tế có vai trò rất quan trọng trong việc lựa chọn và ra quyếtđịnh sản xuất Bất kỳ một mô hình SXKD nào khi tiến hành đều đưa ra mục đích
là hiệu quả kinh tế Nếu không có sự phân tích, đánh giá thì không thể xác địnhxem mô hình và quá trình sản xuất có phù hợp hay không trong một nguồn lực cóhạn Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp điều đó lại càng vô cùng quan trọng, là
cơ sở khoa học để kết luận mức độ thích nghi, khả năng lợi nhuận thu được chocác quy trình sản xuất làm bài học kinh nghiệm cho quá trình sản xuất sau này
Cụ thể, đánh giá HQKT của việc trồng cây Dó trầm tại xã Phúc Trạch sẽ giúp taxác định được cây Dó trầm và mô hình SXKD Dó trầm có thực sự phù hợp vàmang lại HQKT cao trong nguồn lực có hạn của địa bàn hay không? Bài học kinhnghiệm nào được rút ra từ việc trồng Dó trầm? Từ đó để có chiến lược phát triểnphù hợp cho các nông hộ trồng Dó trầm cũng như nhân dân toàn xã
Trước đây, người ta thường chỉ quan tâm đến HQKT mà ít chú trọng đếnHQBV của một mô hình SXKD Ngày nay, khi có nhiều mô hình có HQKT caonhưng không có sự bền vững đã khiến người ta chú ý nhiều hơn đến cả HQBV vàviệc đánh giá cả 2 loại hiệu quả này sẽ giúp ta thấy được cả về lợi ích kinh tế, xãhội lẫn môi trường từ một mô hình sản xuất mang lại Từ đó làm cơ sở khoa học
để kết luận mức độ thích nghi và hiệu quả sử dụng các nguồn lực tại địa phươngcũng như đưa ra khuyến cáo cho việc mở rộng hay thu hẹp sản xuất Trong sảnxuất nông nghiệp, có những nguồn lực không thể thay thế và bị giới hạn bởi các
Trang 12yếu tố khách quan và chủ quan, đòi hỏi phải phân tích, lựa chọn những hướngsản xuất đúng đắn, hướng đầu tư phù hợp với tình hình cụ thể.
Tóm lại, việc đánh giá HQKT và HQBV có vai trò rất quan trọng vàkhông thể thiếu đối với hoạt động SXKD, với yêu cầu tăng trưởng và phát triển
kinh tế nói riêng và phát triển xã hội nói chung
1.1.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu sử dụng trong đề tài
1.1.4.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế.
Căn cứ vào mục đích nghiên cứu, điều kiện thu thập số liệu tôi đã sử dụngcác chỉ tiêu sau để đánh giá HQKT của việc trồng cây Dó trầm:
Thu nhập: Là giá trị bằng tiền của sản phẩm sản xuất ra trong mộtđơn vị thời gian nhất định Đối với cây Dó trầm, thu nhập tính từ sản phẩm đầu
ra là cây Dó trầm ở dạng thô Chu kình SXKD của cây Dó trầm là từ 5- 10 năm.(5- 6 năm đối với loại hình SXKD Dó trầm nguyên liệu chưa tạo trầm, 7- 10 nămđối với loại hình SXKD Dó trầm nguyên liệu đã tạo Trầm)
Chi phí: Là toàn bộ chi phí mà người sản xuất đầu tư vào để phục
vụ cho quá trình sản xuất trên 1 đơn vị diện tích trong thời gian nhất định Baogồm các chi phí như:
- Chi phí biến đổi (TVC): Là chi phí thay đổi theo mức độ sản xuất đầuvào, trình độ kỹ thuật, công nghệ biểu hiện dưới dạng hiện vật hay giá trị Chi phí
đó bao gồm chi phí vật chất trực tiếp (bao gồm các nguyên liệu đầu vào như phânbón, giống, thuốc trừ sâu,…) và chi phí vật chất gián tiếp ( thủy lợi phí, phí lãisuất vay vốn,…)
- Chi phí cố định (TFC): là chi phí không thay đổi theo mức độ lượng
- Tổng chi phí (TC): TC = TVC + TFC (2 1)
Hệ thống chỉ tiêu phản ánh HQKT
- Hiệu quả tuyệt đối: H = Bt – Ct (2 2)
- Hiệu quả tương đối: H = Bt/Ct (2 3) Trong đó: Bt là tổng thu nhập
Ct là tổng chi phí
Trang 13 Đánh giá HQKT theo phương pháp có tính chiết khấu dòng tiền
Thông thường các hoạt động SXKD cây lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanhdài Việc đầu tư chủ yếu tập trung những năm đầu chu kì kinh doanh và thu nhậpvào những năm cuối chu kỳ kinh doanh Vì vậy để đánh giá HQKT của các hộtrồng Dó trầm, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích chi phí và thu nhập(Cost- Binifit Any lysis) viết tắt là CBA
Phương pháp CBA là phương pháp so sánh giữa đầu vào (chi phí) và đầu
ra (thu nhập) có tính đến giá trị của đồng tiền theo thời gian
Theo Jonh.E.Gunter [Đỗ kim chung, Phạm Vân Đình, Trần Văn Đức,
Nguyễn Đình Hà(2008), Kinh tế nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội] công
thức tính được xác định như sau:
Giá trị hiện tại của thu nhập:
n 0
BtBPV (2 4)Trong đó: BPV: Giá trị hiện tại của thu nhập
Bt: Thu nhập tại năm thứ t
r: Tỉ lệ lãi suất (tỉ lệ chiết khấu)
Giá trị hiện tại của chi phí:
0 ( 1 ) (2 5)Trong đó: CPV: Giá trị hiện tại của chi phí
Ct: Chi phí tại năm thứ t
r: Tỉ lệ lãi suất
- Chỉ tiêu đánh giá bằng phương pháp động
+ Giá trị hiện tại thuần túy NPV (Net Present Value) là hiệu số giữa giá trịthu nhập với chi phí thực hiện các hoạt động sản xuất khi đã chiết khấu để quy vềthời điểm hiện tại
0 ( 1 ) (2 6)Trong đó: NPV: Giá trị hiện tại thuần túy
Trang 14+ Tỉ lệ thu nhập trên chi phí (BCR- Benefits to Cost Ratio)
CPV BPV r
Ct r
)1(
Nếu BCR > 1: Phương án đầu tư có lãi
Nếu BCR = 1: Phương án đầu tư hòa vốn
Nếu BCR < 1: Phương án đầu tư bị thu lỗ
+ Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ IRR (Internal Rate of Return)
Bản chất của chỉ tiêu này biểu hiện tỉ suất lợi nhuận thực tế của mộtchương trình đầu tư, nghĩa là nếu vay vốn với lãi suất bằng chỉ tiêu này thìchương trình đầu tư hòa vốn
Tức là với lãi suất r = IRR thì ta có NPV = 0
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thu hồi vốn đầu tư hay nó phản ánh, mức
độ quay vòng vốn Từ IRR cho phép ta xác định thời điểm hoàn trả vốn đầu tư vàlựa chọn phương án đầu tư phù hợp
Trang 15Nếu IRR > 0: Chương trình đầu tư có lãi
Nếu IRR = 0: Chương trình đầu tư hòa vốn
Nếu IRR < 0: Chương trình đầu tư bị thua lỗ
1.1.4.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả bền vững:
Đạt được sự hoà hợp của các chu trình sinh học tự nhiên và kiểm soát được chúng
Bảo vệ và khôi phục độ phì đất và các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Tối ưu hoá được việc quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên
Giảm thiểu việc sử dụng các nguồn không tái sinh được và nguồn đầu vào của sản xuất phải mua từ bên ngoài
Đảm bảo đầy đủ và đáng tin cậy nguồn thu nhập
Khuyến khích được cộng đồng cùng tham gia
Giảm thiểu được tác động xấu lên sức khoẻ con người, sự an toàn, các loài hoang dại, chất lượng nước và môi trường
1.1.5 Một số đặc điểm của cây Dó trầm.
1.1.5.1 Đặc điểm sinh học
Cây Dó trầm (Aquilaria Crassna Pierre) thuộc họ Trầm (Thymelaeaceae)
gồm có 2 giống (species): Aquilaria và Gyrinops
Giống Aquilaria có tất cả 25 loài khác nhau, cây Dó trầm thuộc loài Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte
Tại Việt Nam Dó trầm còn có các tên gọi khác như: cây Dó, cây Trầm,
Dó bầu, Kỳ nam, trầm hương,
Ngoài ra, cây Trầm hương còn có một số tên nước ngoài như:Agarwood,Malayan aloeswood, Malayan eaglewood (Anh), Bois d’aigle, Calambac,Calambour (Pháp), Tuchenxiang (tiếng phổ thông Ch’en Hsiang) (Trung Quốc),Crassna, Krassna, Kresna, Chan krassna, Klampeok (Campuchia), Gaharu,Tengkaras, Mengkaras (Inđônêxia)
Trang 16Dó trầm là loại cây gỗ, có khả năng hình thành một sản phẩm đặc biệt làTrầm hương Ở trong tự nhiên, do một số tác động đã gây tổn thương cơ học vàbệnh lý sinh học cộng sinh Từ nơi những vết thương nay, nhựa luyện (dầu) tích
tụ lại và lan dần tạo thành Trầm hương, quá trình này diễn ra hết sức ngẫu nhiên
và lâu dài (10- 20 năm hoặc có thể lâu hơn) Khi hàm lượng dầu lớn hơn 25%,Trầm hương dễ chìm trong nước Loại Trầm hương cao cấp có thể đạt hàm lượngtinh dầu lên đến 60 - 80 % [11]
- Cành: mảnh, cong queo, màu nâu nhạt, có lông hoặc nhẵn, tán thưa
- Lá đơn, mọc cách (so le); cuống lá dài 4 – 6 mm; phiến lá hình trứng, bầudục thuôn đến mác thuôn, kích thước 8 - 15 x 2,5 - 9 cm, mỏng như giấy hoặc daigần như da, mặt trên màu lục bóng, mặt dưới nhạt hơn và có lông mịn; gốc láthon nhọn dần hay tù; chóp lá nhọn, thuôn nhọn, tận cùng có mũi; gân bên 15- 18đôi, thay đổi thất thường, khá rõ ở mặt dưới
- Hoa: Cụm hoa hình tán hoặc chùm tán, mọc ở nách lá hoặc ở đầu cành,cuống cụm hoa mảnh, dài 2 – 3 cm Hoa nhỏ, đài hợp ở phần dưới, hình chuông,màu vàng lục, trắng nhạt hoặc vàng xám, phía ngoài có lông thưa; mặt trong gầnnhư nhẵn, có 10 đường gân rõ; 5 thùy dài hình trứng thuôn, dài 12 – 15 mm.Phần phụ dạng cánh hoa, đính gần họng đài; nhị 10; bầu hình trứng, 2 ô, có lôngrậm, gốc bầu có tuyến mật
- Quả: quả nang gần hình trứng ngược, hình quả lê, dài 4 cm, đường kính2,5 – 3 cm, có lông mềm, ngắn, có mang dài tồn tại, khi khô nứt làm 2 mảnh, mỗiquả thường chỉ có 1 hạt
Trang 17- Hạt: Có hai phần, phần chính ở phía trên hình nón, phần kéo dài ở phíadưới Hạt khi chín có màu nâu, phần vỏ ngoài cùng hóa gỗ cứng, bên trong mềm
có chứa nhiều dầu Một đặc điểm cần chú ý là hạt Dó trầm có đời sống rất ngắn(short-lived), không lưu trữ lâu ngày được Trong tự nhiên khi hạt chín và rụngxuống đất nếu gặp điều kiện ẩm độ thích hợp là nảy mầm ngay Việc lưu trữ hạtkéo dài quá một tuần lễ, tỉ lệ nảy mầm sẽ giảm 80% hoặc không nảy mầm
- Thời gian ra hoa kết trái: Cây Dó trầm sau trồng khoảng 3-4 năm tuổi thìbắt đầu ra hoa kết trái Tùy vào điều kiện thời tiết của mỗi vùng mà thời gian rahoa có khác nhau Ở Miền Trung Việt Nam cây bắt đầu ra hoa vào tháng 2-3 vàtrái chín vào tháng 6-7 dương lịch Nhưng ở Miền Nam thời gian ra hoa tháng 2,trái chín tháng 5 – tháng 6 dương lịch
Hình 2.1: Cấu tạo lá, hoa, quả, hạt của cây Dó trầm
1.1.5.3 Đặc điểm sinh thái
Trong tự nhiên cây Dó trầm thường mọc trong vùng rừng nhiệt đới ẩmtrên địa hình có độ cao so với mực nước biển từ 300 -1000m, nhưng tập trungnhiều nhất ở độ cao 700 m và rất thích hợp ở những nơi có độ dốc từ 25° trở lên.Tuy nhiên trong thực tế cây Dó trầm vẫn sinh trưởng tốt ở những nơi có độ caotrên dưới 40m so với mực nước biển
Trang 18 Ánh sáng: Cây Dó trầm khi còn nhỏ rất thích hợp trong điều kiện râmmát Ở giai đoạn vườn ươm - từ lúc nảy mầm đến 6 tháng tuổi, cây con cần đượcche phủ ánh sáng từ 60- 70% Ở giai đoạn từ khi bắt đầu trồng đến khi cây được
2 - 3 năm tuổi, nếu được che bóng cây sẽ sinh trưởng và phát triển nhanh
Nhiệt độ: Cây Dó trầm có thể sinh trưởng và phát triển tốt trongkhoảng nhiệt độ từ 15°C - 30°C nhưng thích hợp nhất là từ 22°C - 29°C
Ẩm độ: Dó trầm là loại cây ưa ẩm nhưng không chịu ngập úng Ẩm độthích hợp để cho cây phát triển là vào khoảng 80% Khi còn nhỏ khả năng chịuhạn của cây rất kém, nếu thiếu ẩm cây sẽ ngừng sinh trưởng hoặc chết Việc duytrì ẩm độ cho cây vào mùa nắng là vô cùng quan trọng, nhất là cây ở giai đoạn 2-
3 năm tuổi Khi cây đã lớn, việc tưới nước cho cây là không cần thiết do bộ rễ đã
ăn sâu vào trong đất để hấp thu lượng nước sẵn có trong tự nhiên
Lượng mưa: Dó trầm là loại cây chịu hạn kém, do đó lượng mưa nhiềuhay ít đều có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây.Trong tự nhiên, cây chỉ phân bố tập trung ở những vùng có lượng mưa trung bìnhtrong năm từ 1200 mm trở lên Lượng mưa hàng năm có ảnh hưởng trên một khuvực rộng lớn, đây là một trong những yếu tố có tính tiên quyết khi lựa chọn vàxác định vùng trồng [11]
Đất đai: Yếu tố đất đai không những có ảnh hưởng trực tiếp đến quátrình sinh trưởng và phát triển của cây Dó trầm mà nó còn liên quan đến quá trìnhhình thành Trầm hương ở trên thân gỗ của cây Sự hình thành Trầm hương trong
tự nhiên có liên quan đến loại đất, một số nhân tố lập địa như đá mẹ, tỷ lệ đá lẫntrong đất, độ dốc [18]
Cây Dó trầm trồng được trên nhiều loại đất khác nhau ngoại trừ đất cátnghèo kiệt, đất đá vôi và đất bị ngập úng hoặc đất bị nhiễm phèn nhiễm mặn Vềmặt lý tính, đất trồng phải có kết cấu từ trung bình đến tốt, nghĩa là tầng đất mặtphải tơi xốp, khả năng giữ ẩm và thoát nước tốt, pH đất từ 5 – 6 Về thành phầndinh dưỡng, đất phải giàu chất hữu cơ và các chất vô cơ Một số kết quả nghiêncứu cho thấy, trong tự nhiên loại đất Feralit nâu vàng phát triển trên phiến sa
Trang 19thạch số cây có Trầm và mức độ hình thành Trầm đạt tiêu chuẩn thương mại caohơn số cây phân bố trên loại đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá mẹ Granit [18].
Nhân tố lập địa: Thường những cây phân bố ở điều kiện lập địa có độdốc lớn, tỷ lệ đá lẫn trong đất nhiều thì sản lượng Trầm khai thác được lớn, chấtlượng Trầm cao và ngược lại
1.1.6 Công dụng cây Dó trầm
Dó trầm là loại cây đa dụng, các bộ phận từ rễ, thân, vỏ cây, lá, đều được
sử dụng với những mục đích khác nhau như:
Thân chế tác đồ thủ công mỹ nghệ, làm bột giấy cao cấp
Lá làm dược liệu, thức uống (trà)
Vỏ làm sợi bông hoặc giấy đặc biệt
Gỗ vụn, rễ dùng làm bột nhang trầm
Sản phẩm chính của cây gió bầu là Trầm hương, phần có giá trị nhất.Trầm hương được hình thành trên thân cây Dó trầm, do hàng loạt tế bào thoáihóa, trong vách và các mạch tế bào tích tụ bởi các hợp chất hữu cơ, chúng liênkết với nhau tạo ra khối Trầm với hình dạng và kích thước khác nhau Trầmhương thường có màu đen bóng và màu vàng cánh dán, khi đốt lên lửa keo nhựachảy ra và hương thơm tỏa ra ngào ngạt
Trầm hương là mặt hàng kinh tế cao Ngày xưa Trầm hương là sản vật hếtsức quí hiếm Ngày nay Trầm hương vẫn được coi là lâm sản ngoài gổ có giá trịthương mại quốc tế nhất Cụ thể, Trầm hương có những công dụng sau:
- Hương liệu mỹ phẩm: Làm chất định hương, điều chế các loại nước hoahảo hạng và mỹ phẩm làm đẹp cao cấp như Sental, Nuitd’Orient
- Dược liệu: Là vị thuốc quý hiếm, chữa nhiều bệnh hiểm nghèo, đượcdùng cả trong Đông y và Tây y như: Trừ sơn lam chướng khí, giải nhiệt, trừ sốtrét, chữa một số bệnh về tim mạch (đau ngực, suy tim), bệnh hô hấp (hen suyễn),bệnh thần kinh, bệnh tiêu hóa, bệnh về đường tiết niệu (bí tiểu tiện),…
- Các lĩnh vực khác: Làm trang sức, là sản phẩm biếu tặng trong lĩnh vựcngoại giao, Trầm dùng để đốt trong các dịp lễ, cúng kiến của tôn giáo, …
Trang 201.1.7 Tình hình sản xuất và nhu cầu tiêu thụ Trầm hương
1.1.7.1 Tình hình sản xuất và nhu cầu tiêu thụ Trầm hương trên thế giới Trước đây Trầm hương là sản vật của các nước Nam Á, nhưng theo thời
gian, vùng nguyên liệu cứ thu hẹp dần Cách đây chừng 10 năm chỉ còn một sốquốc gia như Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Myanma có Trầm và gần đây thìsản lượng Trầm hương ở các nước này thấp hẳn do nguồn khai thác hầu như đãcạn kiệt Vì thế, lượng cung hiện nay chỉ đạt khoảng 40% so với nhu cầu, thịtrường Trầm thế giới chỉ trông chờ vào một vài nước, trong đó Trầm hương ViệtNam được đánh giá là có chất lượng cao nhất
Các nước có nhu cầu nhập khẩu Trầm hương lớn bao gồm Đài Loan, ẢRập Saudi, Hồng Kông, Ai cập, Ấn Độ, Nhật, Oman, Trung Quốc, Hàn Quốc vàmột số quốc gia khác Trong đó, thị trường nhập khẩu trầm hương lớn nhất là ĐàiLoan, kế đến là Ả Rập Saudi và Hồng Kông Chỉ tính từ năm 1993 đến năm
1998, Đài Loan đã nhập khoảng 4.500 tấn trầm hương từ các quốc gia nhưCampuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Singapore, Thái Lan…nhưng nhiềunhất là từ Indonesia (2829,5 tấn) và Việt Nam (531,8 tấn)
Gần đây, nhiều nước trên thế giới đã chủ động trồng cây Dó trầm để khaithác Trầm hương và chưng cất tinh dầu Trầm như: Lào, Campuchia, Thái Lan,
… Nhiều công trình khoa học cũng đã nghiên cứu thành công các phương phápcấy tạo Trầm trên thân gỗ của cây Dó từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước và
đã mở ra một hướng đi mới cho thị trường Trầm hương trên thế giới
1.1.7.2 Tình hình sản xuất phát triển Trầm hương tại Việt Nam
Đã từ lâu chất lượng Trầm hương của Việt Nam nổi tiếng trên thế giới,
đây là loại Trầm được hình thành từ thân gỗ của cây Dó trầm (Aquilaria Crassna Pierre ex Lecomte) vốn chỉ có ở Việt Nam và Campuchia Trầm hương Việt Nam
được thị trường thế giới ưa chuộng và mua với giá rất cao trong khi nguồn khaithác trầm hương trong tự nhiên đã cạn kiệt
Kỹ thuật cấy tạo Trầm nhân tạo ngày nay đã trở nên phổ biến với chấtlượng không thua kém Trầm trong tự nhiên nhưng với thời gian nhanh hơn (Cây
Trang 21Dó trầm chỉ sau trồng từ 6-7 năm là có thể cấy tạo trầm và sau thời gian từ 24 –
36 tháng kể từ khi cấy hóa chất là khai thác Trầm
Mặt khác, điều kiện tự nhiên của Việt Nam rất thích hợp để cây Dó trầmsinh trưởng và phát triển Những nguyên nhân trên đã làm động lực thúc đẩy cho
sự phát triển vườn cây Dó trầm ở Việt Nam Ngày nay nhiều nông dân ở ViệtNam đã làm giàu nhờ vào việc trồng và cấy tạo Trầm trên cây Dó trầm (Trungbình, lợi nhuận thu được từ 50 - 150 triệu/ha/năm) Có thời điểm, việc nhângiống cây Dó trầm để bán cũng đã mang lại lợi nhuận rất cao cho nhiều nôngdân Theo số liệu thống kê của Hội Trầm hương Việt Nam, cuối năm 2002 cókhoảng 22 tỉnh trong cả nước đã trồng cây Dó trầm với diện tích trên 6.000 hatrong đó diện tích có thể khai thác Trầm vào khoảng 190 ha Sau đó 4 năm, cảnước có khoảng 18.000 ha tương ứng 18 triệu cây Dó trầm từ 1 năm tuổi trở lên.[19] Đến nay, năm 2010 diện tích Dó trầm trồng trên cả nước vào khoảng30.000 ha, trung bình hàng năm diện tích tăng từ 2.500 - 4.000 ha Theo dự kiếncủa Trung tâm Tài nguyên Môi trường Lâm nghiệp (Viện điều tra Qui hoạchRừng) cho thấy, diện tích Dó trầm ở Việt Nam đến năm 2015 có thể lên đến gần58.600 ha [18]
Với những lợi thế căn bản như: sở hữu loài Trầm hương quý A.crassna chỉ
có ở Việt Nam, điều kiện tự nhiên phù hợp và chất lượng Trầm cao nhất Thếgiới, Trầm hương nước ta đã góp phần làm thay đổi cung cầu, thị trường giá cảTrầm hương trên thế giới Vị thế và tiếng nói của ngành Trầm hương Việt Namđược nâng lên tầm cao mới trên thương trường quốc tế Hiệp hội Trầm hươngViệt Nam đã đóng góp đáng kể về tài chính, về kinh nghiệm sản xuất, đối vớingành Trầm hương thế giới và ngược lại, Hiệp hội cũng học hỏi được nhiều kinhnghiệm về chế biến, nâng cao chất lượng sản phẩm Trầm hương và Tinh dầuTrầm cũng đồng thời giao thương xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường từcộng đồng các nước
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới.
Trang 22Lịch sử của cây Dó trầm được biết đến qua Trầm hương, một sản phẩmquý từ nhiều thế kỷ bởi các nền văn minh Châu Á, Ai Cập và Trung Đông Chođến nay, trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu về cây Dó trầm, các nghiên cứu
đó đã mang lại những đóng góp không nhỏ cho việc phát triển và khai thác giá trịcủa loại cây đặc biệt này Tuy nhiên các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào việcnghiên cứu phương thức cấy tạo Trầm trên thân cây Dó trầm, và phương thứcbảo tồn nòi gen quý của giống cây có khả năng tạo Trầm cao mà chưa có mộtnghiên cứu cụ thể nào đánh giá hiệu quả kinh tế của việc SXKD cây Dó trầm
Đứng trước tình trạng tuyệt chủng của cây Dó trầm các nhà khoa học đãđưa cây này vào sách đỏ thực vật và nỗ lực nghiên cứu phương thức cấy tạoTrầm hương Việc nghiên cứu cấy tạo Trầm đã được các nhà khoa học theo đuổihơn 40 năm qua và đã có những thành công đáng kể Ở Mỹ, trường Đại họcHarvard đã nghiên cứu thành công phương pháp cấy tạo trầm vào những năm 80của thế kỷ XX Đến năm 1994-1995 trường Đại học Kyoto (Nhật Bản), nghiêncứu thành công phương pháp cấy tạo trầm bằng men vi sinh và phương pháp nàytiếp tục được giáo sư Gishi Honda thử nghiệm tại Trung Quốc với tỉ lệ thànhcông trên 80% Những năm gần đây, GS Gishi Honda (Nhật Bản) và giáo sư tiến
sỹ Trần Kim Qui (Việt Nam) đã ứng dụng quy trình công nghệ sinh học này đểgây tạo trầm trên thân gỗ của cây Dó trầm tại Lâm Đồng – Việt Nam, kết quảbước đầu cho thấy sau cấy men từ 6-12 tháng lượng trầm thu được trên một câyvào khoảng 700gr [19]
Cụ thể hơn có các nghiên cứu tập trung vào vấn đề nuôi cấy Trầm nhântạo và cách bảo tồn nòi gen quý của các loài Dó cho sản lượng Trầm cao như:
Phương pháp cấy Trầm của Viện Hàn Lâm thế giới (1999): Cây Dó trầm 10 năm tuổi sẽ cấy Trầm Mỗi năm cấy Trầm 1 lần, cấy 3năm liền: năm đầu cấy hướng Tây, năm thứ 2 cấy hướng Bắc, năm thứ 3 cấyhướng Đông Mỗi lần dùng 50g bột Trầm cấy vào thân, cách thức y như chiếtghép cây Sau 10 năm khai thác Trầm, mỗi cây lấy được 4 – 6 kg Trầm loại IV
Trang 23Nếu cấy Trầm loại đặc biệt vào cây Dó thì sẽ được Trầm loại II Phương Phápnày phải mất thời gian khá dài (20 năm) mới đạt Trầm chất lượng cao [23].
Phương pháp cấy Trầm của Mỹ và Tổ chức Rừng Mưa Nhiệt Đới (TheRainforest Project – TRP, một tổ chức phi chính phủ của Hà Lan):
Theo đơn Patent của Mỹ số 20020194780, ngày 24/ 05/ 2001, đề xuất tạovết thương nhân tạo trên chất gỗ của cây Dó trầm bằng cách khoan lỗ có chiềusâu 1-10 cm vào lõi (xylem) và được thông khí bằng cách gắn vào đó một ốngthông hơi Ngoài ra một số biện pháp khác cũng đã được sử dụng bổ sung nhưcấy vi sinh, phun hóa chất Tuy nhiên, khi tổ chức “Rừng Mưa Nhiệt Đới” thựchiện ở An Giang và Phú Quốc của Việt Nam thì không đạt kết quả như mongmuốn Sản phẩm thu được chỉ là Trầm tóc, chứa một lượng nhỏ tinh dầu có giátrị thấp, dùng xay bột làm nhang chứ không cho lên hàng loại được (Ông HenryHeuveling Van Beek, Giám đốc tổ chức này xác nhận) [1]
Phương pháp cấy Trầm của Đại học Kyoto Nhật Bản:
Dùng Methyl Jasmonate và Jasmonic acid (chất giúp tăng cường năng lực
tự vệ của cây) tác động lên các tế bào của cây Dó trầm theo phương pháp nuôicấy treo có thể tạo ra các chất kết chính của Trầm hương chỉ trong vòng 7 ngày[18]
Phương pháp cấy Trầm của Julaluodin:
Năm 1977, Julaluodin đã tìm thấy trong vùng Tóc của cây Dó trầm có
chứa một loại nấm Cryptosphaeria mangifera Ông đã thử nghiệm bằng cách
cấy những nấm ấy vào thân những cây Gió lành mạnh Sau một thời gian thìvùng nhiễm khuẩn trở nên sậm màu và biến thành Tóc rõ rệt vì khi đốt tỏa ramùi trầm [10], [18]
Ngoài ra còn có những nghiên cứu về Trầm hương như: công dụng củaTrầm, thị trường Trầm hương,… cụ thể:
Nghiên cứu về tác dụng chữa bệnh của Trầm hương:
Phana Douk cùng cộng sự, (Phanna Douk, Contribution àlétude desplantesmesdicinales du Cambodge, Luận án Tiến sĩ Dược khoa, Paris 1966) nghiên cứu
Trang 24về tác dụng của Trầm khẳng định: “Dùng Kỳ nam, Trầm và ngà voi, mài vớinước lạnh để uống, ngày 2-3 lần, mỗi lần từ 3 phân tới 1 chỉ có công dụng chữabệnh sốt rét và giải nhiệt” [10].
Tháng 5 năm 2008, Đại học Johns Hopkins, Mỹ và Đại học Hebrew củaIsrael đã xác định rằng khói trầm hương là một loại thuốc thần kinh mà làm giảmtrầm cảm và lo âu ở chuột [24]
Các nhà khoa học ở Trường Ðại học Rutgers, bang New Jersey (Mỹ) đã
sử dụng một số loại cây trầm hương để tiến hành thử nghiệm trên loại tế bào ungthư vú MCF-7, vốn có tính năng kháng các thuốc trị ung thư Kết quả toàn bộ tếbào ung thư đã bị tiêu diệt hoàn toàn Phát hiện này cho thấy thêm một giá trị nữacủa nhựa trầm hương trong lĩnh vực y khoa ngoài tác dụng làm thuốc giảm đau,làm lành vết thương, chống sâu răng [24]
Các nhà khoa học Mỹ tại Đại học Oklahoma cho biết tinh dầu Trầm hương
có thể là liệu pháp chữa trị hữu ích đối với căn bệnh ung thư bàng quang [10]
Nghiên cứu về thị trường của Trầm:
Theo thống kê của TRP, khoảng 5 năm gần đây khu vực Đạo giáo và Hồigiáo sử dụng hơn 2.500 tấn trầm các loại Ngành hoá mỹ phẩm mỗi năm nhu cầukhoảng 5.000 lít tinh dầu trầm hương loại tốt, nhưng chỉ mới đáp ứng đượckhoảng 100 lít
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam.
Cùng với lịch sử phát triển của nước ta, Trầm Hương được người ViệtNam biết đến hơn hai ngàn năm Theo một số tài liệu, người Nhật cũng nhưngười Cao Ly (Triều Tiên) nhập khẩu Trầm hương của ta từ khoảng hai ngànnăm trước đây, còn người Trung Quốc thì sớm hơn nhiều Cũng theo một số cổthư, Trầm hương của ta cũng theo Con đường tơ lụa trên biển để sang các nướcvùng Trung Ðông vốn là những nước có nhu cầu tiêu thụ Trầm hương khá sớm
và khá mạnh [23] Ngay từ thời xa xưa, Trầm hương được coi là vật sở hữu củaVua Chúa và quan lại cao cấp bởi đây là một phương dược và là vật cúng dường
vô cùng quý giá Nhưng chỉ đến khi dược liệu và hương liệu thượng đẳng này trởnên là nhu cầu của nhiều người, Trầm hương mới trở nên là loại hàng hóa lưu
Trang 25thông rộng rãi trên các thị trường đã nói Lúc bấy giờ Trầm hương còn rất phongphú nên thị trường chỉ ăn các loại trầm thượng đẳng: loại một, loại hai, và loạisiêu đẳng là kỳ nam – những hàng loại mà hiện nay còn lại rất ít, giá một kg nằm
ở mức từ năm trăm triệu đến tám trăm triệu đồng [18]
Khoảng 30 năm lại đây, nhu cầu Trầm hương từ bên ngoài tăng cao saunhiều thập kỷ Trầm hương nước ta bị ách tắc do chiến tranh, người ta thu mua cảđến trầm các loại 4 – 5 và cả đến loại 6, loại trước đây chỉ bán làm giác xông(đốt) với giá rẻ mạt Giữa bối cảnh cuộc sống kinh tế của người dân còn lắm khókhăn sau ngày hòa bình, suốt thời gian trên, hàng ngàn người đã đổ xô lên rừngtìm Trầm vừa như một phương cách mưu sinh vừa cho mong ước đổi đời Khôngchỉ tìm Trầm từ những thân cây Dó trầm mục nát nằm vương vải trên mặt rừngnhư thời trước, ở thời kỳ này người săn trầm đốn hạ bất kể cây Dó trầm nào bắtgặp được để bổ ra tìm kiếm Trầm hương Với qui mô, cường độ và phương thứckhai thác chỉ sau hơn mười lăm năm những vùng Dó trầm được hình thành sauhàng trăm năm đã bị xóa khỏi mặt rừng
Năm 1992, Hội Ðồng Bộ Trưởng (Chính Phủ ) đã ký Nghị Ðịnh số 18, ghitên cây Dó Bầu vào sách đỏ, thuộc nhóm 1A, là loại thực vật quý hiếm cần đượcbảo vệ nghiệm ngặt Chấm dứt việc xuất khẩu Trầm Hương, nghiêm cấm khaithác, chuyên chở và buôn bán trái phép Trầm Hương Các nhà khoa học cũng vàocuộc, nỗ lực nghiên cứu bảo tồn nòi gen quý cũng như nghiên cứu phương phápcấy tạo Trầm trên thân cây Dó với hi vọng tạo được nguồn Trầm nhân tạo, pháttriển sản xuất để khai thác nguồn lợi kinh tế vừa phục vụ cho nhu cầu kinh tế vàmôi trường
Phương pháp cấy tạo Trầm của GS- TS Trần Kim Quy năm 2002 (Ðại họcKhoa học Tự nhiên TPHCM):
GS- TS Trần Kim Quy đã trồng ở Lâm Ðồng hơn 500 cây Dó trầm Bảnthân ông cũng đã vào rừng lấy Trầm và phân lập được 6 giống men trên thân cây
Dó trầm mọc ở rừng Thực chất, chỉ có 3 giống men trong số đó mới có khả năng
Trang 26tạo Trầm Mặc dù số cây Dó trầm do GS – TS Trần Kim Quy trồng đến nay đãđược 8 năm tuổi nhưng mới chỉ tạo được “vết trầm”.
Trước tình hình đó, GS-TS Trần Kim Quy đã thử phân tích tinh dầu trầm
để tìm cơ chế tạo trầm ở cây Dó trầm và đã xác định được 15 chất tạo hương cótrong thành phần của Trầm Từ đó, có thể đem lại con đường ngắn nhất để nuôitrồng cây Dó trầm nhằm tạo ra loại Trầm hàng hóa
TS Thái Thành Lượm năm 2000 “Nghiên cứu tạo Trầm hương nhân tạo
từ cây Trầm hương” (Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn Kiên Giang):
- Phương pháp:
Khoan vào gỗ có kích thước D= 9mm, diện tích vết thương 63,61mm²,các công thức thí nghiệm được tác động vào vết thương Vùng có màu đen, màunâu và nhạt hơn màu nâu được điều tra bằng cách cắt dọc thân cây để vẽ mặt cắt
và tính diện tích bị xâm nhiễm Trong các công thức, tuỳ theo loại màu tích tụ màchia thành sáu cấp màu khác nhau mỗi cấp màu biểu thị tính chất, chất lượnghình thành trầm trong thân cây Màu: Trắng, trắng tro, nâu nhạt, nâu sậm, đennhạt, đen sậm, ứng với: 0,1,2,3,4,5.Các công thức thí nghiệm:
Công thức 1: Tác động vết thương, không cấy meo nấm (đối chứng).Công thức 2: Môi trường xúc tác
Công thức 3: Môi trường dinh dưỡng
Công thức 4: Meo nấm
Công thức 5: Meo nấm có môi trường dinh dưỡng
Công thức 6: Meo nấm có môi trường xúc tác
Bố trí thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 6 lần lặp lại, mỗi khốibối trí trên 1 cây, mỗi cây được thay đổi vị trí sao cho mỗi công thức có mặt ởhai đầu của cây.
- Kết quả nghiên cứu đã thực hiện được:
Nếu chỉ tạo vết thương đơn thuần thì sự kích thích nhựa Trầm nhẹ và chỉtích tụ một vết tụ màu nâu nhạt bao quanh vết thương
Trang 27Nếu cho chất xúc tác tiếp xúc với bề mặt mạch gỗ thì vùng xâm nhiễm cómàu nâu sậm và tích tụ nhựa Trầm cũng ít.
Nếu chỉ tác động bằng môi trường dinh dưỡng thì vết tụ có màu đennhưng phạm vi vết tụ không lớn
Nếu chỉ cấy meo mà nấm mà không dùng chất xúc tác hoặc môi trườngdinh dưỡng, thì chỉ hình thành vết tụ màu nâu bao quanh vết thương
Nuôi meo nấm trong môi trường dinh dưỡng và cấy vào vết thương sẽhình thành vết tụ màu đen bóng chứng tỏ chất lượng nhựa trầm cao
Phối hợp meo nấm với chất xúc tác và cấy vào vết thương cũng sẽ tạothành vòng kết tụ có màu đen nhạt
Do đó để phát huy hiệu quả của phương pháp thì dùng meo nấm nuôitrong môi trường dinh dưỡng và đưa chất xúc tác vào để tạo vết tụ có phạm vilớn hơn và có màu đen bóng theo sơ đồ sau:
Môi trường dinh dưỡng -> Môi trường xúc tác -> Meo nấm Trầm kỳ đenViệc trồng cây Trầm hương với mục đích lấy Trầm cần được kích thíchtạo Trầm từ rất sớm, sau tuổi 2 đến tuổi 4 đều có thể tạo được nhựa Trầm và nếucấy sớm ở tuổi còn non thì đến giai đoạn nuôi cấy 5-6 năm tuổi ta đã có 3-4 nămtuổi Trầm Các khu rừng phòng hộ kết hợp nửa kinh tế do nhà nước quản lý nên
tổ chức phối hợp với các chuyên gia kỹ thuật cấy Trầm để tăng giá trị kinh tế củarừng, góp phần xây dựng tài nguyên rừng Trầm hương của đất nước [18]
Từ những nghiên cứu bước đầu của tác giả có thể khẳng định, nếu tiếp tụcnghiên cứu sẽ hoàn thành quy trình sản xuất nhựa Trầm theo ý muốn của conngười bằng phương pháp nhân tạo
Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản (Viện Khoa Học và Lâm nghiệp ViệtNam) từ năm 1991 – 2000 đã triển khai đề tài “ Nghiên cứu kỹ thuật gây tạo trầmhương trên thân cây Dó trầm”.[18]
- Phương pháp:
Tác động gây chấn thương cơ giới: Phương pháp thí nghiệm là đục sâu vàothân cây theo các vị trí khác nhau (gốc, giữa đoạn thân từ gốc đến chiều cao dưới
Trang 28cành và vị trí tỉa cành tự nhiên) hoặc chặt vát vào gốc thân cây Dó trầm theo hìnhnêm
Sử dụng chế phẩm sinh học Lt: Nghiên cứu phân lập và sản xuất bảo quảnchế phẩm sinh học.Gây chấn thương cơ giới vào cây Dó trầm ở các vị trí khácnhau gốc, thân cây, ở các vị trí cách mặt đất 0.8m, 1.2m, 1.5m bằng đục, khoanvào lõi cây, sau đó cho chế phẩm sinh học vào các vị trí đã tác động gây chấnthương cơ giới.Thăm dò kết quả sử dụng chế phẩm sinh học vào gây tạo Trầm ởcác cây Dó trầm có cỡ tuổi khác nhau (4- 8; 10- 14; 16- 20 tuổi) và ở các cây Dótrầm ở rừng trồng tập trung và cây trồng phân tán
- Kết quả:
Trong tự nhiên Trầm hương thường hình thành tập trung ở gốc thân cây
Dó trầm Quá trình hình thành Trầm hương trong tự nhiên có phụ thuộc vào cỡđường kính cây Dó trầm Thông thường cây Dó trầm đường kính lớn khối lượngTrầm lớn và chất lượng khai thác càng cao và ngược lại
Quá trình hình thành Trầm hương trong tự nhiên bước đầu có liên quanđến một số nhân tố lập địa: Đá mẹ, loại đất, tỷ lệ đá lẫn trong đất, độ dốc Thôngthường những cây sinh trưởng phát triển trên địa hình dốc, tỷ lệ đá lẫn trong đấtcao thì khối lượng hình thành Trầm càng lớn và ngược lại
Tác động cơ giới vào cây Dó trầm chỉ là một điều kiện cần cho quá trìnhhình thành Trầm của cây Chế phẩm sinh học Lt có triển vọng ứng dụng vào việcgây tạo trầm hương
Tuy nhiên đề tài này cần được tiếp tục theo dõi thêm 3- 4 năm nữa mới có
cơ sở lý luận chắc chán hơn Mặt khác, chế phẩm sinh học Lt là hóa chất gì vẫnchưa được công bố rõ ràng và nếu trong sản phẩm còn lại các thành phần hóachất độc hại như Cl, SO4, NO2 và, PO3…sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
và không được người tiêu dùng ưa chuộng
ThS Lê thị Kim Đào và cộng sự “Nghiên cứu thử nghiệm nhân giống một
số cây trồng rừng bằng phương pháp nuôi cấy mô” năm 2001-2002 (trung tâmứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Bình định)
Trang 29- Phương pháp: Mẫu cấy cắt rời từng đoạn dài từ 4 – 6 cm, mỗi đoạn 1 đốt.Sau đó khử trùng, tạo chồi, tạo rễ, đưa cây ra vườn ươm.
- Kết quả: Sau 14 tháng đã nhân 3446 lượt bình chồi
Khử trùng mẫu cấy cho tỷ lệ sống cao nhất là chất HgCl2 nồng độ 0,1%,thời gian khử là 7 phút
Môi trường tốt nhất cho sự tạo chồi, cụm chồi và phát triển chồi là môitrường Tc1(nồng độ BA: 0,1 mg/l) Môi trường tốt nhất cho sự tạo rễ là môi trường
Tr2 (nồng độ IBA: 0,5 mg/l)
Giá thể sử dụng để ươm cây trầm hương tốt nhất có thành phần hỗn hợp
đất: cám dừa là 4:1 Diệt nấm giá thể bằng thuốc Benlate nồng độ 0,05% và phun
thuốc diệt nấm định kỳ 5 ngày/lần
Trần Văn Minh, Bùi Thị Tường Thu, Nguyễn Ngọc Bảo Châu, Trần KimVăn, Trần Văn Định, Bùi Thị Thu Thủy Nguyễn Đức Minh Hùng (Tổ CôngNghệ Cây Ăn Trái), Đinh Trung Chánh (Sở NN&PTNT Tỉnh Kiên Giang), BùiCách Tuyến (ĐH Nông Lâm TP.HCM), Nguyễn Văn Uyên (phòng Công NghệGen Thực Vật) năm 2004 với đề tài “ Công nghệ sinh học cây Dó bầu”
- Phương pháp: ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật (Evans et al.1986; Mamood 1993; Sharp et al 1977; Street 1974; Uyen 1993) để nhân nhanhcây Trầm hương đầu dòng, phục vụ cho việc phục hồi và tái sinh đặc sản rừng vàphát triển diện tích trồng Trầm hương trong vùng phân bố phục vụ cho nhu cầutrong nước và xuất khẩu [20]
- Kết quả: Cây Trầm hương được nhân giống hiệu quả bằng phương pháp nuôicấy mô tế bào thực vật
PGS Đinh Xuân Bá – Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty SECOINnghiên cứu Thị trường Trầm hương khẳng định: “ Thị trường Trầm hoàn toànbền vững Xu hướng tiêu dùng mới liên quan đến Trầm hương đang tăng lên rõrệt sử như: Xu hướng sử dụng Đông dược và Dược thảo trong phòng chữa bệnh,nhu cầu làm sạch môi trường không khí tại gia cư và phòng làm việc, nhu cầu về
Trang 30sản phẩm dùng trong nghi lễ tôn giáo và đời sống tâm linh của cá nhân và giađình.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hứa Đức Nhị tạicuộc Hội thảo về thực trạng khả năng tạo Trầm trên cây Dó bầu và thị trường tiêuthụ sản phẩm, do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tổ chức tại Hà Nộingày 23/10/2008 khẳng định: “ Giá trị kinh tế cao của cây Dó bầu (còn được gọi
là cây Dó trầm hoặc cây Trầm hương) chính là Trầm hương chứa trong thân câysống lâu năm Là một loại chất hóa học tự nhiên, Trầm hương được con ngườibiết đến và sử dụng từ rất xa xưa trong nhiều nhiều lĩnh vực như sản xuất dượcphẩm, mỹ phẩm cao cấp hay dùng trong tín ngưỡng của các tôn giáo ở nhiềunước trên thế giới Bởi vậy, giá của Trầm hương thường rất cao” (nguồn: Thôngtấn xã Việt Nam)
TS Nguyễn Văn Minh, Chủ tịch Hội Trầm Hương Việt Nam với đề tài:
“Khảo sát đánh giá tình hình, triển vọng phát triển cây Dó trầm & Trầm hươngtại Việt Nam” năm 2006 [24], khẳng định: “Việc tạo nhiều sản phẩm từ cây Dótạo Trầm đã tạo những lối ra tốt cho việc phát triển trồng cây Dó trầm, hướng đinày đã thu hút nhiều lao động dư thừa ở vùng nông thôn Nhu cầu tiêu thụ Trầmhương và tinh dầu Trầm hương trên thế giới hiện nay rất lớn, lượng cung cấp chỉđạt khoảng khoảng 40% nhu cầu Do đó trong 5-10 năm tới việc tiêu thụ các sảnphẩm từ cây Dó trầm tạo trầm trong vườn nhà là không đáng lo Cây Dó trầm cóthể thay thế dần các cây trồng hiệu quả thấp bằng xen canh vào sau 2-3 năm mớiphá bỏ vườn cũ Không nên phá toàn vườn để trồng thuần cây Dó, ảnh hưởng đếnkinh tế ” [22]
1.2.3 Những vấn đề còn tồn tại và những vấn đề mà đề tài luận văn tập trung nghiên cứu
Qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về Trầm hương và cây Dótrầm đã nêu trên cho chúng ta cái nhìn khái quát về giá trị, tình hình sản xuất, tiêuthụ cũng như triển vọng phát triển của loại cây này Từ đó cũng cho thấy đượcmột số sai khác hay tương đồng của các nghiên cứu có liên quan Nhìn chung các
Trang 31nghiên cứu đều đóng góp rất nhiều vào quá trình phát triển và khai thác cây Dótrầm; bảo tồn loài cây đặc hữu, quý hiếm, có giá trị đặc biệt về khoa học và kinh
tế của thế giới nói chung và nước ta nói riêng Nhưng lại có rất ít những đề tàitập trung nghiên cứu để đánh giá hiệu quả thực sự của việc trồng Dó trầm tại các
hộ sản xuất mà hiệu quả chủ yếu được khẳng định qua cơ sở lý thuyết hoặc quacác báo cáo tổng kết của ngành nông lâm nghiệp Song các báo cáo chỉ mang tínhchất thống kê và hầu hết được tổng hợp từ số liệu thứ cấp chứ không đi sâu tìmhiểu, thu thập các số liệu sơ cấp từ các hộ sản xuất Từ thực tế đó, để đề tàinghiên cứu của mình có phần thiết thực hơn, tôi đã tiến hành tìm hiểu, đánh giáHQKT của việc trồng cây Dó trầm bằng các số liệu điều tra trực tiếp từ các hộsản xuất và các nguồn tài liệu liên quan thông qua các chỉ tiêu kinh tế, đồng thờitôi cũng tìm hiểu thêm về HQBV của loại cây này Từ đó, tìm ra những nhân tốảnh hưởng đến HQSX cây Dó trầm và mối tương quan giữa năng suất đạt được
và các nhân tố đó Trên cơ sở đó đưa ra kết luận chính xác và các kiến nghị, giải
pháp thiết thực cho địa phương và bản thân nông hộ trồng cây Dó trầm
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Các hộ gia đình trồng Dó Trầm đại diện cho các xóm thuộc xã PhúcTrạch, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh và các đối tượng liên quan khác
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu 35 hộ trồng Dótrầm đã cho thu nhập từ năm 2010 trở về trước trên địa bàn xã Phúc Trạch,huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh
Phạm vi về thời gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ ngày 05tháng 2 năm 2010 đến ngày 28 tháng 4 năm 2010 Các số liệu được thừa kế từnăm 2007-2009 làm cơ sở thực tiễn
2.2 Nội dung nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài tiến hành nghiên cứu những nội dung sau:
Tìm hiểu thực trạng trồng và tiêu thụ Dó trầm tại xã Phúc Trạch
Xác định chi phí đầu tư và thu nhập cho 1 ha Dó trầm qua các nămSXKD của các hộ gia đình trồng Dó trầm
Xác định lợi nhuận thu được trên 1 ha đất trồng Dó trầm bằng phươngpháp có chiết khấu dòng tiền
Xác định thực thu vốn đầu tư (NPV), tỷ lệ hoàn vốn nội tại (IRR) và tỷ lệlợi ích trên chi phí (BCR) của 1 ha Dó trầm kết hợp so sánh cơ cấu thu nhập củacây Dó trầm so với thu nhập khác của hộ
Đánh giá HQKT và HQBV của việc trồng Dó Trầm cho người dân của xãPhúc Trạch
Tìm hiểu, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất Dó trầm Nghiêncứu mối tương quan của các yếu tố đó với hiệu quả kinh tế của cây Dó trầm Từ
đó đưa ra một số giải pháp liên quan đến việc trồng và phát triển sản xuất kinhdoanh cây Dó trầm trên địa bàn nghiên cứu
Trang 332.3 Phương pháp nghiên cứu.
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu.
Thu thập các số liệu sơ cấp: Điều tra trực tiếp các hộ trồng Dó trầmbằng bảng câu hỏi khảo sát Việc khảo sát thông qua 2 bước:
- Khảo sát sơ bộ: tiến hành phỏng vấn 10 hộ trồng Dó trầm lấy mẫu sơ bộ nhằm phát hiện những sai sót của bảng câu hỏi và kiểm tra thang đo
- Khảo sát chính thức: Tiến hành phỏng vấn hộ sau khi bảng câu hỏi đượcchỉnh sửa hoàn thiện từ kết quả khảo sát sơ bộ Mẫu chính thức gồm 40 hộ trồng
Dó trầm
- Tham vấn các chuyên gia: Phỏng vấn những người am hiểu nhất vềnhững vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu Đó là: các cán bộ, kỹ sư ngànhlâm nghiệp, những người quản lý ở các cấp có liên quan, những người kinhdoanh cây Dó trầm và Trầm hương, để có thể thu thập được các thông tin sâuhơn, bao quát hơn về vấn đề nghiên cứu
Thu thập các số liệu thứ cấp: Thừa kế các số liệu đã có về điều kiện
tự nhiên, điều kiện lập địa, tình hình dân sinh, kinh tế của địa bàn nghiên cứu vàcác dữ liệu từ các nguồn khác (internet, sách báo, báo cáo liên quan của các cơquan ban ngành)
2.3.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Phương pháp hạch toán:
Sau khi đã thu thập xong số liệu nghiên cứu thì tiến hành hạch toán cáchạng mục chi phí, đầu tư, thu nhập,… trong các năm của 1 chu kì SXKD cây Dótrầm Để hạch toán được kết quả cuối cùng thì tôi bắt đầu từ việc hạch toán cácchi phí đầu tư qua các năm theo các hạng mục, cụ thể với cây Dó trầm thì chi phíđầu tư bao gồm các hạng mục như: vốn, vật liệu (chi phí cây giống, phân bón,thuốc trừ sâu, chế phẩm tạo Trầm); nhân công (trồng, chăm sóc, tạo Trầm, bảovệ…)
Việc hạch toán chi phí, thu nhập chúng tôi sử dụng phương pháp phân tíchlợi ích chi phí thông qua các chỉ tiêu: NPV, IRR và BCR
Trang 34 Phương pháp phân tổ thống kê:
Sau khi hạch toán, chúng tôi tiến hành phân tổ thống kê với mục đíchphân tích số liệu bằng việc sử dụng các chỉ tiêu tuyệt đối, tương đối, các chỉ tiêuNPV, IRR, BCR Từ đó đưa ra ý kiến khách quan về HQKT của việc trồng cây
Dó trầm tại địa phương
Phương pháp thống kê:
- Thống kê mô tả: là phương pháp mô tả toàn bộ sự vật, hiện tượng trên cơ
sở số liệu đã tính toán Sử dụng phương pháp thống kê mô tả thông qua bình quân số tuyệt đối, số tối thiểu để mô tả tình hình sản xuất nhằm thấy được thực trạng sản xuất như thế nào
- Thống kê so sánh: Bao gồm so sánh tuyệt đối và so sánh tương đối để thấy
rõ được xu thế của hiện tượng Việc so sánh được tiến hành theo nguyên tắcđồng nhất về thời gian và đối tượng so sánh Sau đó tìm ra quy luật chung củahiện tượng nghiên cứu
Công cụ xử lý số liệu: Các số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel
2003 và máy tính bỏ túi
Trang 35Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm tự nhiên.
3.1.1.Vị trí địa lý:
Xã Phúc Trạch nằm về phía Nam của huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh,cách Thị trấn Hương Khê 10 km, có tọa độ địa lý: 18°5’2” – 18°10’27” vĩ độ Bắc
và 105°43’25” – 105°48’54” độ Kinh Đông
Phía Bắc giáp xã Hương Đô và nông trường 20/4
Phía Nam giáp xa Hương Liên
Phía Đông giáp xã Hương Trạch và xã Lộc Yên
Phía Tây giáp xã Hương Lâm
3.1.2 Địa hình
Địa hình không có sự chia cắt lớn, với phía Bắc và phía Nam tương đốibằng phẳng còn phía Đông và phía Tây là đồi núi nhấp nhô, bên cạnh đó là hệthống sông ngòi gần như phân bố đều nên không có sự chênh lệch giữa vùng này
và vùng khác
3.1.3 Khí hậu, thời tiết:
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt phần Việt Nam nên xã Phúc Trạch nói riêng
và huyện Hương Khê nói chung đều mang những đặc điểm thời tiết, khí hậuchung của vùng, đó là chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa và đượcchia thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9 chịu sự ảnh hưởng củagió mùa Đông bắc, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, chịu ảnh hưởngcủa gió Tây Nam (gió Lào) Do đặc điểm của địa hình nên mùa mưa thường xảy
ra lũ quét, nhiệt độ chênh lệch ngày đêm và giữa các mùa tương đối lớn, mùaĐông nhiệt độ có khi xuống đến 7°C còn về mùa hè, nhiệt độ trong ngày có thểlên tới 41°C
Trang 36Bảng 3.1: Các chỉ số Khí hậu – Thời tiết năm 2009.
Tháng Nhiệt độ BQ
tháng (°C)
Độ ẩm BQtháng (T%)
Lượng mưa BQ tháng (T/mm)
Tổng giờ nắng tính đến 13 giờ1
899192898485888787908994
24,440,366,8102,0184,8277,9127,4434,8431,2
545, 586,372,4
62383510514214818418103798119
(Nguồn: Trạm Khí tượng Tthủy văn huyện Hương Khê)
3.1.4 Thủy văn:
Xã Phúc Trạch có sông ngàn sâu chảy qua từ Bắc xuống Nam với chiều dài
3,5 km, hệ thống khe suối gần như phủ đều trên toàn xã như khe Ô ở phía Tây,khe Be ở trung tâm xã, khe Đập Đá ở phía Nam và khe Nếu ở phía Đông vớitổng chiều dài khoảng 16,5 km Ngoài ra, trong khu dân cư còn có nhiều ao hồ,hoang mặt nước nên ảnh hưởng rất tốt đến việc điều hòa tiểu khí hậu và môitrường sinh thái
3.1 5 Thổ nhưỡng:
Xã Phúc Trạch có 3834,53 ha tổng diện tích tự nhiên trong đó diện tích sông
suối và mặt nước là 287,54 ha (chiếm 7,52%), 92,48% diện tích đất còn lại đượcphân thành những nhóm chính sau:
Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá phiến thạch, sét và biến chất, đào sâu
Trang 37120 cm chưa có tầng cứng rắn, ký hiệu FoSx, có diện tích khoảng 127,48 ha, được phân bổ về phía Tây của xã.
Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch, sét và biến chất, đàosâu từ 40 – 120 cm đã có tầng cứng rắn, ký hiệu FoSy, có diện tích khoảng 250
ha, được phân bổ ở trung tâm của xã
Đất Feralit vàng đỏ ở dưới rừng, đào sâu 120 cm chưa có tầng cứng rắn,
ký hiệu PsX có diện tích khoảng 835 ha, phân bổ về phía Bắc của xã
Đất Feralit vàng đỏ ở dưới rừng, đào sâu 40 – 120 cm đã có tầng cứngrắn, ký hiệu PsY, có diện tích khoảng 1.499,3 ha, phân bổ ở phía Nam xã
Đất phù sa được bồi có sản phẩm Feralit, thành phần cơ giới thịt nhẹ, độkết von từ 10 – 30%, ký hiệu Fsz với diện tích khoảng 637,42 ha phân bổ ở trungtâm của xã
Đất phù sa được bồi hàng năm, thành phần cơ giới thịt nhẹ, ký hiệu
Pbx3/8 với diện tích khoảng 240 ha phân bổ ở trung tâm xã
Diện tích đất nông nghiệp của xã hẹp, chỉ chiếm đến 12,24% tổng diệntích đất tự nhiên, trong khi đó diện tích đất lâm nghiệp lên đến 60,24% Phần cònlại là đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng chiếm 27,52 % (số liệu thống kênăm 2010)
Qua bảng 3.2 ta thấy, diện tích và cơ cấu các loại đất của xã biến động quacác năm khá rõ ràng, diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm, từ 523,96 hanăm 2007 giảm xuống 468,12 ha năm 2009 Trong khi đó diện tích đất lâmnghiệp lại có xu hướng tăng, từ năm 2007 đến năm 2009 diện tích đất lâm nghiệp
đã tăng lên 6,43 ha Trong 3 năm diện tích rừng trồng tăng lên khá nhanh (279,12ha) song diện tích rừng tự nhiên cũng giảm đi đáng kể (272,69 ha) Thực tế đóphản ánh sản xuất lâm nghiệp rất được người dân xã Phúc Trạch quan tâm đầu tưphát triển, đó là xu hướng đúng đắn, phù hợp với nền kinh tế và đặc điểm tựnhiên của địa bàn
Trang 38Bảng 3.2: Thực trạng sử dụng đất của xã Phúc Trạch qua 3 năm.
Chỉ tiêu
DT(ha)
CC(%)
DT(ha)
CC(%)
DT(ha)
CC(%)Tổng DT đất Tự nhiên 3824,53 100 3824,53 100 3824,53 100
I Đất nông nghiệp
1 Đất trồng CHN
2 Đất trồng CLN
523,96321,26202,70
13,708,405,30
495,28308,64186,64
12,958,074,88
468,12292,96175,16
12,247,664,58
II Đất lâm ngiệp
1 Rừng tự nhiên
2 Rừng trồng
2297,401695,80601,60
60,0744,3415,73
2301,221614,72686,50
60,1742,2217,95
2303,831423,11880,72
60,2437,2123,03III Đất phi nông nghiệp
1.Đất thổ cư
2.Đất chuyên dùng
3.Đất sông suối, mặt nước
4.Đất phi nông nghiệp khác
674,2642,83305,96293,7231,75
17,631,128,007,680,83
702,1849,72327,38
290, 6734,41
18,361,308,567,600,90
734,3864,49347,39287,5434,96
19,201,699,087,520,91
IV Đất chưa sử dụng
1 Đất bằng chưa sử dụng
2 Đất đồi núi chưa sử dụng
328,91124,47204,44
8,603,255,35
325,85122,31203,54
8,523,205,32
318,22118,48199,74
8,323,105,22
(Nguồn: Tài liệu Địa chính xã Phúc Trạch)
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội.
Những năm qua trong hoàn cảnh cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới
đã ảnh hưởng trực tiếp đến nên kinh tế nước ta, làm giá cả tăng cao ảnh hưởngrất lớn đến đời sống của nhân dân cả nước nói chung và nhân dân xã Phúc Trạchnói riêng Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của các cấp, chính quyền và nỗ lực củangười dân, nhìn chung kinh tễ xã được phát triển, đời sống nhân dân ổn định, tìnhhình An ninh, Quốc phòng được giữ vững, đời sống vật chất, văn hóa của nhândân dần được nâng cao Tổng giá trị thu nhập của xã năm 2009 đạt 39,2 tỉ đồng,thu nhập bình quân đầu người đạt 7 triệu đồng/ năm