Hiện nay nhờ áp dụng KHKT vào nghề nuôi thuỷ sản nói chung và nghề nuôi tôm nói chung và nuôi tôm he chân trắng nói riêng, sự phát triểncác công nghệ kỹ thuật đã cải tiến kỷ thuật nuôi,
Trang 1
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, lãnh đạo trường Đại học Vinh, Ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm Ngư, tổ bộ môn Nuôi trồng thuỷ sản đã tạo điều kiên giúp đỡ về mọi mặt cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường, giúp đỡ tôi về cơ sở vật chất, điều kiện nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Tôi xin cảm ơn cảm ơn các bạn, các em cùng thực tâp tại cơ sở đã giúp
đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Vinh, tháng năm 2011
Nguyễn Đình Quế
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số nét về tôm he chân trắng(Penaeus vannamei) 3
1.1.1 Phân loại 3
1.1.2 Nguồn gốc và phân bố tự nhiên của tôm he chân trắng 3
1.1.3 Đặc điểm hình thái 4
1.1.4 Tập tính sống và khả năng thích ứng với một số điều kiện môi trường 4
1.1.4 Đặc điểm sinh sản, sinh trưởng 5
1.1.5 Dịch bệnh 7
1.2 Một số nét về hệ thống an toàn sinh học 8
1.2.1 Khái niệm về hệ thống an toàn sinh học 9
1.2.2 Mục tiêu của hệ thống: 10
1.2.3 Các nguyên tắc cơ bản trong thực hành nuôi tôm an toàn sinh học 10
1.2.4 Yêu cầu trong xây dựng khu trại 10
1.2.5 Các biện pháp thực hành an toàn sinh học 11
1.3 Hệ thống an toàn sinh học 13
1.3.1 Hệ thống an toàn vật lý 13
1.3.2 Hệ thống an toàn hóa học 16
1.3.3 Hệ thống an toàn sinh học 17
2.3 Tình hình nuôi tôm he chân trắng trên Thế giới và Việt nam 17
2.3.1 Tình hình nuôi tôm he chân trắng trên Thế giới 17
2.3.2 Tình hình nuôi tôm he chân trắng ở Việt Nam: 20
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
Trang 42.1 Thời gian nghiên cứu 23
2.2 Địa điểm nghiên cứu 23
2.3 Đối tượng nghiên cứu 23
2.4 Dụng cụ thí nghiệm 23
2.5 Vật liệu nghiên cứu 23
2.6 Nội dung nghiên cứu 23
2.7 Phương pháp thu thập số liệu 24
2.8 Phương pháp xác định các chỉ tiêu đánh giá 24
2.9 Phương pháp nghiên cứu 26
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Ứng dụng quy trình vận hành hệ thống an toàn sinh học 27
3.1.1 Vận hành hệ thống an toàn vật lý 27
3.2.2 Vận hành hệ thống an toàn hóa học 30
3.2.3 Vận hành hệ thống an toàn sinh học 34
3.2 Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường trường ao 34
3.2.1 Nhiệt độ 34
3.2.2 pH 36
3.2.3 Độ trong 37
3.2.4 Hàm lượng NH 3 39
3.3 Tình hình dịch bệnh 40
3.4 Tỷ lệ sống 42
3.5 Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng 43
3.5.1 Tăng trưởng về chiều dài của tôm thẻ chân trắng 43
3.5.2 Tăng trưởng về khối lượng tôm 45
3.5.5 Hoạch toán kinh tế 46
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 48
Kết luận 48
Đề xuất ý kiến 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Khả năng thích nghi của tôm he chân trắng với một số yếu tố môi trường 5
Bảng 2.1 Tần số đo các từng yếu tố môi trường trong ao nuôi tôm 24
Bảng 3.1 Loại vôi và liều lượng bón 28
Bảng 3.2 Sự biến động nhiệt độ trong các ao nuôi ( 0 C ) 35
Bảng 3.3 Kết quả theo dõi pH trong ao 37
Bảng 3.4 Độ trong(cm) theo thời gian nuôi của các ao 38
Bảng 3.5 Bảng thể hiện nồng độ NH 3 39
Bảng 3.6 Tình trạng tôm trong các ao 41
Bảng 3.7 Tỷ lệ sống(%) trong các ao 42
Bảng 3.8 Bảng theo tốc độ tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài tôm trong các ao 43
Bảng 3.9 Bảng chiều dài trung bình của các ao qua các lần đo 44
Bảng 3.10 Bảng theo tốc độ tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng tôm trong các ao 45
Bảng 3.11 Bảng khối lượng trung bình của các ao qua các lần đo 45
Bảng 3.12 Sản lượng và FCR dự tính 46
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Cấu tạo ngoài của tôm he chân trắng 4
Hình 3.1 Bón vôi cải tạo ao 27
Hình 3.2 Bể sát trùng trước cổng khu nuôi 31
Hình 3.4 Đồ thị so sánh tỷ lệ sống trong các ao thí nghiệm 42
Hình 3.5 Đồ thị so sánh chiều dài thân trung bình trong các ao 44
Hình 3.6 Đồ thị so sánh khối lượng trung bình trong các ao thí nghiệm 46
Trang 7MỞ ĐẦU
Nước ta với 3260 km bờ biển, 12 đầm phá eo vịnh, 112 cửa sông lạch,hàng ngàn đầm, phá lớn nhỏ ven biển Với 660.000 ha vùng triều là nhữngđiều kiện thuận lợi cho phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản ven biển, đặc biệt
là nghề nuôi tôm trong đó đối tượng chủ yếu vẫn là Tôm Sú Theo thống kêcủa Bộ Thuỷ Sản, năm 1999 nước ta có 210.448 ha nuôi tôm nước lợ, đạt sảnlượng 63.664 tấn; năm 2005 cả nước có 535.145 ha nuôi tôm nước lợ (tănggấp 2,11 lần so với năm 1999), đạt sản lượng 324.680 tấn (tăng gấp 4,1 lần sovới năm 1999), đạt 90,18% chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2010 (chỉ tiêu đạt360.000 tấn tôm nước lợ)
Nghề nuôi tôm ở nước ta là một nghề truyền thống lâu đời, trước đây
nó được sản xuất với quy mô nhỏ chủ yếu cung cấp thực phẩm cho nhân dântrong vùng Hiện nay nhờ áp dụng KHKT vào nghề nuôi thuỷ sản nói chung
và nghề nuôi tôm nói chung và nuôi tôm he chân trắng nói riêng, sự phát triểncác công nghệ kỹ thuật đã cải tiến kỷ thuật nuôi, mở rộng quy mô sản xuất vàđạt được những thành tựu đáng kể Do vậy, để giúp người nuôi tìm ra mật độnuôi phù hợp tại địa phương từ đó mang lại hiệu quả kinh tế là rất cần thiết
Tôm he chân trắng là một trong những đối tượng nuôi mới, cho nênkinh nghiệm nuôi và nghiên cứu về nó chưa nhiều Chúng ăn rất mạnh, lớnnhanh, chất lượng thịt thơm ngon và rất được ưa chuộng trên thị trường hiệnnay Do thời gian nuôi ngắn, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với Tôm
Sú cho nên hiện nay người dân bắt đầu chuyển sang nuôi tôm he chân trắng
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây tôm he chân trắng đã bị giảm sút vềdiện tích nuôi, cũng như sản lượng do bi mắc một số bệnh gây chết hàng loạtgây tổn thất lớn cho người nuôi tôm
Trang 8Chính vì những lý do trên cho nên tôi chọn đề tài “Tìm hiểu hệ thống
an toàn sinh học trong ao nuôi tôm he chân trắng(Penaeus vannamei) tại khu nuôi thủy sản công nghiệp Minh Thành - Công ty cổ phần BIM - Yên Hưng - Quảng Ninh” làm khóa luận tốt nghiệp.
Mục tiêu đề tài
- Tìm hiểu, đánh giá một số yếu tố: tỷ lệ sống, tăng trưởng, biện phápphòng ngừa dịch bệnh cho tôm he chân trắng nuôi theo hệ thống an toàn sinhhọc trong ao nuôi tôm trong khu nuôi tôm công nghiệp
- Đưa ra một số kiến nghị giúp người nuôi trong quản lý ao nuôi tôm,giúp người nuôi nâng cao hiệu quả kinh tế
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số nét về tôm he chân trắng(Penaeus vannamei)
Loài: Penaeus vannamei (Boone, 1931)
Đặc điểm phân loại: Dưới chủy có 2 - 4 răng đôi khi 5 - 6 răng, không
có gai ở mắt và gai đuôi, gờ sau chủy dài, gờ và rãnh bên chủy ngắn, thânmàu trắng đục, tôm trưởng thành có kích thước khoảng 230mm[6]
1.1.2 Nguồn gốc và phân bố tự nhiên của tôm he chân trắng
Tôm he chân trắng phân bố chủ yếu ở vùng biển tây bắc Thái BìnhDương, từ ven biển Mexico đến miền trung Peru, nhiều nhất ở vùng biển gầnEcuado Đây là loài tôm phổ biến nhất ở tây bán cầu Trong tự nhiên tôm hesống trong vùng đáy cát, độ sâu lên đến 70m, nhiệt độ dao động từ 25 - 300C,
độ mặn: 28 - 34‰, pH: 7,7 - 8,3 Tôm trưởng thành sống ở gần bờ biển, tômcon sống ở cửa sông nơi giàu chất dinh dưỡng, ban ngày tôm vùi mình trongbùn, ban đêm tôm mới bò đi kiếm ăn[11]
Tôm he chân trắng có khả năng sống ở các môi trường có sự thay đổinhiệt độ lớn nên chúng được xếp vào loài rộng nhiệt Nhưng nhiệt độ thíchhợp cho sự tăng trưởng là 25 – 30oC Nhiệt độ lớn hơn 35oC và nhỏ hơn 18oCtôm ngừng bắt mồi Nhiệt độ nhỏ hơn 9oC tôm chết[11]
Trang 10Tôm he chân trắng là loài vận động liên tục, chỉ những khi mực nướcnhỏ hơn 50 cm tôm bắt đầu sống vùi mình trong bùn đáy Tôm thích sống ởđáy có đất thịt pha cát, hoặc đáy cát ít mùn[2].
1.1.3 Đặc điểm hình thái
Tôm he chân trắng có vỏ mỏng, màu trắng đục, chân bò có màu trắngngà, có 6 đốt bụng, có 3 đốt mang trứng, rãnh bụng rất hẹp hoặc không có, gaiđuôi không phân nhánh Chủy có 2 răng cưa ở mặt bụng và 8 - 9 răng cưa ởmặt lưng[3]
Hình 1.1: Cấu tạo ngoài của tôm he chân trắng.
1.1.4 Tập tính sống và khả năng thích ứng với một số điều kiện môi trường
a Tập tính sống
Trong vùng biển tự nhiên tôm he chân trắng sống ở đáy cát, độ sâu từ 0 ÷
72m, tôm trưởng thành phần lớn sống ở vùng biển gần bờ, tôm nhỏ ưa sống ởkhu vực cửa sông giàu dinh dưỡng Ngoài tự nhiên tôm nhỏ thường sống ởvùng cửa sông có độ mặn thấp, nhiệt độ cao, tôm trưởng thành bơi ra biểngiao vĩ và tiến hành sinh sản Trong tự nhiên tôm mẹ đẻ trứng ở độ sâu 70 mnước, độ mặn 350/00, nhiệt độ nước từ 26 ÷ 280C Ban ngày tôm vùi mìnhtrong bùn, ban đêm mới đi kiếm ăn[6]
Trang 11b Khả năng thích ứng của tôm he chân trắng với một số yếu tố môi trường
Trong điều kiện tự nhiên tôm he chân trắng có thể sinh trưởng và pháttriển bình thường nếu các yếu tố môi trường dao động trong khoảng thích hợpsau:
Bảng 1.1 Khả năng thích nghi của tôm he chân trắng với một số yếu tố môi
(Nguồn: Nguyễn Trọng Nho, Tạ Khắc Thường, Lục Minh Diệp, 2003)
1.1.4 Đặc điểm sinh sản, sinh trưởng
Tôm chân trắng cái đẻ rải trứng ra thay vì mang trứng tới khi trứng nở.Chủy tôm này có 2 răng cưa ở bụng và 8-9 răng cưa ở lưng Tôm nhỏ lúc thay
vỏ cần vài giờ để vỏ cứng nhưng khi tôm đã lớn thì cần khoảng 1 - 2 ngày
Mùa vụ sinh sản: Ở khu vực có tôm tự nhiên quanh năm đều bắt đượctôm ôm trứng Mùa vụ sinh sản có sự chênh lệch theo từng vùng, tùy vĩ độ Ở
Trang 12ven biển phía bắc Ecuado tôm đẻ từ tháng 3 đến tháng 8 nhưng lại đẻ rộ vàotháng 4 - 5 Ở Peru tôm đẻ chủ yếu từ tháng 12 - 4 Tôm chân trắng có túi tinh
hở, tôm đực và tôm cái tìm nhau giao vĩ sau khi hoàng hôn, tôm đực phóngcác chùm tinh từ cơ quan giao cấu dính vào chân bò thứ 3 đến thứ 5 của tômcái, có khi dính cả lên thân con cái Trong điều kiện nuôi tỷ lệ giao vĩ tự nhiên
Tôm chân trắng lớn rất nhanh trong giai đoạn đầu, mỗi tuần có thể tăngtrưởng 3g với mật độ 100con/m2, sau khi đã đạt được 20g tôm bắt đầu lớnchậm lại, khoảng 1g/tuần, tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực
Sức sinh sản: Tôm chân trắng có tuổi thành thục sớm, tôm cái có trọnglượng 30 - 45g là có thể tham gia sinh sản, sức sinh sản thực tế khoảng 10 -
25 vạn trứng/tôm/mẹ Trứng có đường kính trung bình là: 0,22mm Trứng saukhi thụ tinh từ 14 - 16 tiếng sẽ nở ra Nauplius Quá trình biến thái ấu trùngtrải qua: 6 giai đoạn Nauplius, 3 giai đoạn zoea, 3 giai đoạn mysis mới đếnpostlarvare Trong tự nhiên tôm con sống ở nơi có độ mặn thấp, sau vài thángtôm trưởng thành bơi ra biển giao vĩ và tiến hành đẻ trứng[12]
Trang 131.1.5 Dịch bệnh
Tôm chân trắng trong giai đoạn ấu trùng và thương phẩm dễ bị cảmnhiễm vibrio, vi khuẩn dạng sợi, nấm, nguyên sinh động vật và virut đầuvàng, đốm trắng
Chưa năm nào, tình hình dịch bệnh trên tôm và nghêu lại diễn biếnphức tạp và trầm trọng như năm nay Bên cạnh những yếu tố khách quan dotác động của môi trường thì vấn đề phòng chống dịch bệnh trên tôm và nghêunuôi đang được đặt ra cấp bách
Trước tình hình diễn biến dịch bệnh trên tôm ngày càng phức tạp vànặng nề, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về việcnhanh chóng khảo sát, nghiên cứu tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi ởĐBSCL để tìm tác nhân gây bệnh và đề ra biện pháp khống chế dịch bệnh cóhiệu quả, Cục Thú y đã cùng với các đơn vị như Tổng cục Thủy sản, ViệnNghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II, III và Trường Đại học Cần Thơ đi kiểmtra và thu mẫu tại 6 tỉnh là Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, CàMau và Kiên Giang Đồng thời, hướng dẫn việc giám sát bệnh trên các vùngnuôi tôm, nghêu để chủ động trong việc phòng ngừa dịch bệnh lây lan; tạmdừng việc mua bán, vận chuyển nghêu giống ở các tỉnh ĐBSCL để tránh lâylan bệnh ra các vùng nuôi khác; tổng hợp đề xuất của các địa phương để trìnhChính phủ xin hóa chất phòng dịch bệnh từ Quỹ dự trữ Quốc gia[ 9]
Bên cạnh đó, Cục yêu cầu các Chi cục Thú y địa phương củng cố, tăngcường hệ thống thông tin giám sát, báo cáo dịch bệnh thủy sản Trong đó, chủđộng phối hợp với các đơn vị liên quan nhanh chóng nắm bắt, thường xuyêncập nhật tình hình dịch bệnh thủy sản, đặc biệt là dịch bệnh trên tôm nuôi vàcác đối tượng thủy sản nuôi trọng điểm ở địa phương Thực hiện nghiêm túcchế độ báo cáo dịch bệnh theo quy định tại Thông tư 36/2009/TT-BNNPTNT
và các văn bản chỉ đạo về báo cáo dịch bệnh thủy sản của Cục[9]
Trang 14Một trong những khó khăn của công tác quản lý thú y thủy sản hiện nay
là thiếu nhân lực Theo Cục Thú y, các cơ quan thú y vùng, Chi cục Kiểmdịch động vật hiện đang phải thực hiện công tác quản lý về thú y thủy sản khichưa được bố trí thêm biên chế Thực tế nhiều địa phương vẫn chưa chuyểngiao nhiệm vụ quản lý thú y thủy sản về các Chi cục Thú y hoặc có chuyểnnhiệm vụ nhưng không chuyển biên chế và phòng thí nghiệm xét nghiệmbệnh thủy sản nên hệ thống quản lý thú ý thủy sản chưa được kiện toàn thôngsuốt từ Trung ương đến địa phương [9]
Đề cập đến những khó khăn trong công tác thú y thủy sản, đại diện các
Sở NN&PTNT đều phản ánh sự thiếu nhân lực của thú y và thú y thủy sản,điều này làm cho công tác quản lý thú y thủy sản, bao gồm phòng chống dịchbệnh, kiểm dịch, kiểm tra vệ sinh thú y và quản lý thuốc thú ý gặp nhiều khókhăn Do vậy, vấn đề hiện nay là phải tăng biên chế cho Chi cục Thú y cáctỉnh, nhất là thú y thủy sản[9]
Cùng với việc phòng chống dịch, Cục Thú y đang chỉ đạo các đơn vịtrực thuộc Cục và các Chi cục Thú y tổ chức kiểm tra vệ sinh thú y và thựchành an toàn sinh học đối với các trại sản xuất tôm giống; kiểm soát nhậpkhẩu và vận chuyển nội địa giống tôm và nghêu Cục đang tăng cường thẩmđịnh và chỉ định phòng thí nghiệm có đủ năng lực xét nghiệm bệnh thủy sản;xây dựng chương trình giám sát dịch bệnh tôm, đề xuất thành lập ban chỉ đạophòng chống dịch bệnh tôm, khu vực ĐBSCL Đồng thời, tập huấn về phòngchống dịch bệnh thủy sản cho các địa phương[9]
Trang 15tôm từ 25 - 35 ngày tuổi, cá biệt ở một số ao tôm chỉ mới thả vài ngày cũng bịthiệt hại
Do tác nhân gây bệnh vẫn chưa được định danh một cách rõ ràng, nênbiện pháp an toàn sinh học trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết màngười nuôi cần áp dụng để phòng bệnh cho tôm Biện pháp này tuy mới,nhưng cũng không quá khó để thực hiện Vấn đề là người nuôi phải thực hiệnmột cách triệt để trong từng công đoạn nuôi Trước hết, đối với dụng cụ chămsóc (chài, sàng kiểm tra…) phải dùng riêng cho từng ao hoặc phải khử trùngbằng chlorine 65% (nồng độ 5g/100l) trước khi sử dụng cho ao khác; côngnhân chăm sóc ao nuôi phải khử trùng tay, chân trước khi chuyển sang chămsóc ao khác, riêng những ao tôm đã nhiễm bệnh hoặc nghi nhiễm bệnh cần cửngười chăm sóc riêng; không chuyển tôm nghi nhiễm bệnh sang ao khác;thường xuyên vệ sinh, dọn sạch bờ ao Tuyệt đối không để gia súc và gia cầm,chuột… vào khu vực nuôi tôm; bờ ao và bờ kênh cần được kiểm tra thườngxuyên để phát hiện và xử lý kịp thời những chỗ rò rỉ, thẩm lậu; thường xuyênkiểm tra phát hiện và diệt ký chủ trung gian như cua, còng, giáp xác trong
ao nuôi và trong hệ thống cấp nước; khi có tôm chết, tôm bị bệnh phải thudọn và tiêu huỷ, những nơi có xác tôm chết cần được khử trùng Ngoài ra, cầndiệt tác nhân gây bệnh ở đáy ao nuôi và môi trường nước bằng cách dùng chếphẩm vi sinh làm sạch môi trường, hạn chế thay nước ngăn ngừa mầm bệnh
từ môi trường bên ngoài vào; nếu thay nước phải lấy từ ao lắng đã được khửtrùng[18]
1.2.1 Khái niệm về hệ thống an toàn sinh học
Nuôi tôm an toàn sinh học là việc áp dụng tổng hợp và đồng bộ cácbiện pháp kỹ thuật và quản lý nhằm ngăn ngừa sự tiếp xúc vật chủ và mầnbệnh nhằm đảm bảo cho tôm được hoàn toàn khỏe mạnh và không bị dịchbệnh[17]
Trang 161.2.2 Mục tiêu của hệ thống:
+ Ngăn cản sự xâm nhập của mầm bệnh từ bên ngoài vào trong trại.+ Ngăn cản sự lây lan giữa các khu vực trong trại
+ Không để tôm trong trại phát bệnh.
+ Ngăn cản sự lây lan mầm bệnh từ trong trại(nếu có) ra ngoài
1.2.3 Các nguyên tắc cơ bản trong thực hành nuôi tôm an toàn sinh học
- Tôm phải được nuôi trong một môi trường được bảo vệ
- Tôm phải được chăm sóc nuôi dưỡng tốt
- Tất cả mọi sự di chuyển ra vào trại và giữa các khu vực trong trại đềuphải được kiểm soát
1.2.4 Yêu cầu trong xây dựng khu trại
+ Qui hoạch của khu trại:
- Nhìn từ ngoài vào trong, khu trại nên được bố trí như sau: Hàng rào ranh giới trại – vùng đệm – hàng rào bên trong – vùng chăn nuôi –các khu chăn nuôi/ kho thức ăn/ kho vật tư/ kho dụng cụ/ phòng thí nghiệm –các dãy ao nuôi[17]
- Tại cổng trại (nằm trên ranh giới trại) có hệ thống bơm và vòi nước
áp lực để rửa các loại phương tiện, tiếp đến là hố sát trùng để sát trùng ủng vàbánh xe, rồi đến nhà thay quần áo (trong đó có phòng tắm và các hố sát trùng)[17]
- Đầu mỗi khu nuôi và đầu mỗi dãy ao có hố sát trùng
Trang 17- Trại phải có khu hành chính riêng biệt được bố trí trên vùng đệm
- Các kho chứa phải bố trí riêng biệt cho từng nhóm:
+ Thức ăn, nguyên liệu thức ăn
+ Dụng cụ chăn nuôi
+ Hóa chất sát trùng độc hại
- Xung quanh mỗi dãy ao phải có rãnh thoát nước thải, cuối dãy hoặccuối mỗi khu nuôi phải có ao chứa (để xử lý trong trường hợp cần thiết) trướckhi ra đường thoát chung của trại
- Có khu nuôi cách ly đàn tôm giống mới nhập về
- Có khu vực để xử lý, tiêu hủy đàn tôm chết
- Có khu vực để nước thải
1.2.5 Các biện pháp thực hành an toàn sinh học
+ Thực hiện chế độ nuôi khép kín đối với từng trại Trong trường hợpkhó khăn, áp dụng chế độ nuôi này cho từng dãy ao
- Đối với trại thương phẩm nên nuôi khép kín, có nghĩa là trong mỗi trạichỉ có 1 giống tôm và tất cả đều cùng một độ tuổi Như vậy sẽ giảm thiểu sốlượng các tác nghiệp chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh, phòng bệnh, xuất nhậpvật tư, sản phẩm, … Quan trọng hơn, chế độ nuôi khép kín sẽ làm giảm thiểunguy cơ lây nhiễm chéo giữa đàn tôm giống này với đàn tôm giống khác, haygiữa đàn ở lứa tuổi này với đàn ở lứa tuổi khác[15]
+ Chăn nuôi và kiểm soát dịch bệnh theo từng khu vực trong trại:
- Tại mỗi khu vực chăn nuôi có thể có một hoặc một số dãy ao đượcdùng để nuôi một lượng tôm nào đó khác với khu vực khác ở trong trại
- Tất cả người và phương tiện khi vào khu vực phải đi qua hố sát trùng
ở lối vào khu vực
- Tất cả người và phương tiện khi đi vào từng dãy ao phải đi qua hố sáttrùng ở đầu ao
Trang 18- Cọ rửa ủng và bánh xe ngay khi ra khỏi dãy ao và sau đó đi qua hố sáttrùng ở đầu dãy
- Dụng cụ chăn nuôi và vệ sinh chỉ dùng riêng cho từng ao Cọ rửa vàphơi khô sau khi sử dụng[1]
- Cố định công nhân theo dãy ao hoặc khu nuôi
+ Sử dụng con giống an toàn dịch bệnh:
Nhập giống về phải đảm bảo đàn giống khỏe mạnh và không mắc bệnh.+ Nuôi cách ly tôm mới nhập trại:
Trong trường hợp nuôi nhiều đàn, nhiều lứa trong một trại, những đànmới nhập trại phải được nuôi cách ly ít nhất trong 2 ngày đầu Trong thời giannày, nếu thấy tôm giống vẫn hoàn toàn khỏe mạnh, không có biểu hiện dịchbệnh mới đưa ra thả ngoài khu vực nuôi của trại[13]
+ Phòng bệnh bằng kháng sinh và vitamin:
Trong thời gian nuôi tôm được bổ sung các loại kháng sinh và cácvitamin nhằm tăng cường sức đề kháng cho tôm
+ Xét nghiệm định kỳ, giám sát sự lưu hành các loại mầm bệnh
+ Vệ sinh, tiêu độc, khử trùng khu trại trong thời gian nuôi:
- Vệ sinh, dọn hàng ngày đối với các dãy ao, khu vực xung quanh ao vàcác lối đi
- Trong điều kiện không có dịch bệnh, định kỳ phun thuốc sát trùng 2tuần 1 lần đối với toàn bộ khu trại, kể cả khu vực đệm
Lưu ý: Tránh phun qua loa, mà phải phun ướt đẫm với lượng 1 lít dungdịch/1m2[14]
- Trong trường hợp trại đang nằm trong vùng dịch hoặc vùng bị dịch uyhiếp thì phải phun thuốc sát trùng mỗi tuần 1 lần như trên
+ Vệ sinh, tiêu độc, khử trùng ao sau mỗi đợt nuôi:
Ngay sau mỗi đợt nuôi, cần phải sát trùng đối với:
Trang 19Ao, khu vực xung quanh ao, các khu vực phụ, các lối đi, khu vực đệm,
+ Kiểm soát các sự di chuyển ra vào trại:
- Các phương tiện vào trại phải được rửa sạch bằng vòi phun nước áplực cao Sau đó, đi qua hố sát trùng
- Người xuống ao bắt buộc phải vệ sinh theo qui trình sau:
+ Huấn luyện nhân viên:
- Hướng dẫn mọi cán bộ và công nhân của trại để họ hiểu rõ và có kỹnăng thực hiện tốt tất cả các biện pháp an toàn sinh học áp dụng ở trại[4]
1.3 Hệ thống an toàn sinh học
1.3.1 Hệ thống an toàn vật lý
* Xây dựng ao xứ lý, ao lắng:
- Ao chứa - lắng
Trang 20Khu vực nuôi phải có ao chứa - lắng để trữ nước và xử lý nước trướckhi cấp cho các ao nuôi Diện tích ao chứa - lắng thường bằng 25 - 30% diệntích khu nuôi, đáy ao chứa - lắng nên cao bằng mặt nước cao nhất của ao nuôi
để có thể tự cấp nước cho ao nuôi bằng hình thức tháo cống mà không cầnphải bơm Nước lấy vào ao chứa - lắng là nước biển qua cống hoặc bơm tuỳtheo mức thuỷ triều của vùng nuôi Nếu độ mặn quá cao nước biển phải phađấu với nước ngọt để hạ độ mặn theo yêu cầu của kỹ thuật nuôi[5]
- Ao xử lý thải
Khu vực nuôi còn cần phải có ao xử lý nước thải, diện tích bằng 5 10% diện tích khu vực nuôi để xử lý nước ao nuôi sau khi thu hoạch thànhnước sạch không còn mầm bệnh mới được thải ra biển
-Trong quá trình xây dựng ở khu nuôi không chủ động xây dựng ao chứalắng, xử lý mà lấy ao nuôi làm ao lắng phục vụ cho quá trình thay nước trongquá trình nuôi
Ao chứa lắng được xây dựng ở đầu nguồn nước cấp vào có diện tích đủlớn để cung cấp cho khu nuôi Trong khu nuôi thì cứ 2ha nuôi lại có 5000 m2lam ao chứa và xử lý nước
Ao chứa lắng và ao xử lý có tác dụng lắng trong nước và lá nơi xử lýchất lượng nước trước khi cấp vào ao nuôi Chủ động được nguồn nước cấp:Bơm nước từ ao lắng vào ao nuôi không bị phụ thuộc vào chế độ thủy triều
Giảm số lương mầm bệnh trong nước: Trong thời gian lăng nước và xử
lý hóa chất, tiêu diệt tất cả mầm bệnh Do đó cấp nươc vào ao nuôi sẽ được antoàn hơn[5]
Giảm tính độc hại của hóa chất sát trùng nước Nếu dùng Chlorine sáttrùng diệt tạp nước trong ao nuôi, một lượng Chlorine sẽ bị hấp thụ xuống nềnđáy ao nuôi và được thải ra từ từ trong quá trình nuôi có thể gây hại cho tôm
Trang 21Để hạn chế được tình hình dịnh bệnh trong nuôi tôm để phục vụ mục tiêu pháttriển ổn định và bền vững nghề nuôi, ao lắng là yêu cầu không thể thiếu được.
*Lót bạt bờ, bạt đáy ao
Bạt để sử dụng làm bạt bờ là loại bạt HDPE
Giúp bờ ao tránh hiện tượng rò rỉ,xói lở Hạn chế hiện tượng đục nước
do phù sa làm giảm oxy hòa tan trong nước Tránh hiện tượng trôi phèn từ bờđặc biệt vào mùa mưa Hạn chế nước rò rỉ qua bờ ao nuôi, mần bệnh vào aogây dịch bệnh cho tôm Giúp tạo dòng chảy của nước để tập trung mùn bã hữicơ[11]
* Mương cấp, mương tiêu
Mương cấp và mương tiêu để cấp cho các ao nuôi và dẫn nước của aonuôi ra ao xử lý thải Mương cấp cao bằng mặt nước cao của ao nuôi vàmương tiêu thấp hơn đáy ao 20 - 30cm để thoát hết được nước trong ao khicần tháo cạn Hệ thống mương cấp mương tiêu khoảng 10% diện tích khu vựcnuôi[13]
* Hệ thống bờ ao, đê bao
Ao nuôi tôm thông thường phải có độ sâu của nước 1,5m và bờ ao tốithiểu cao hơn mặt nước 0,5m Ðộ dốc của bờ phụ thuộc vào chất đất khu vựcxây dựng ao nuôi Ðất cát dễ xói lở bờ ao nên có độ dốc là 1/1,5, đất sét ít xói
Trang 22cao hơn lúc thuỷ triều cao nhất hoặc nước lũ trong mùa mưa lớn nhất 0,5 1m[15].
-* Cống cấp và cống tháo nước
Mỗi ao phải có một cống cấp và một cống tháo nước riêng biệt Vật liệuxây dựng cống là xi măng, khẩu độ cống phụ thuộc vào kích thước ao nuôi,thông thường ao rộng 0,5 - 1 ha, công có khẩu độ 0,5 - 1m bảo đảm trongvòng 4 - 6 tiếng có thể cấp đủ hoặc khi tháo có thể tháo hết nước trong ao
Cống tháo đặt thấp hơn chỗ thấp nhất của đáy ao 0,2 - 0,3 m để tháotoàn bộ nước trong ao khi bắt tôm[15]
* Bãi thải
Khu vực nuôi được thiết kế bãi thải nhằm thu gom rác thải và mùn bãhữu cơ ở đáy ao xử lý thành phân bón hoặc rác thải di chuyển đi nơi khác đểchống ô nhiễm cho khu vực
1.3.2 Hệ thống an toàn hóa học
* Xây dựng hệ thống sát trùng khi vào khu nuôi
Để tránh được dịch bệnh từ bên ngoài các phương tiện xe cộ và conngười cững không ngoại lệ, đều có thể mang mầm bệnh vào trong trang trạilàm lây lan cho đối tượng nuôi Trước khi vào khu vực nuôi nên sát khuẩnbằng dung dịch thuốc tím hoặc hóa chất khác Thuốc tím sử dụng với nồng độ200ppm
* Bố trí hệ thống sát trùng cho từng ao nuôi
Ở mỗi từng ao được bố trí những xô, chậu có đựng thuốc tím ở nơi lênxuống ao luc cho ăn và nơi vào cầu nhá Thuốc tím sử dụng với nồng độ200ppm
Dụng cụ sát trùng cũng rất quan trọng giúp hạn chế lây lan trong quátrình thao tác tại ao
Trang 231.3.3 Hệ thống an toàn sinh học
*Xây dựng lưới ngăn chim:
Hạn chế rủi ro không thể thiếu hệ thống lưới ngăn chim cho ao nuôi.Nên chọ loại dây có màu đỏ thì khả năng quan sát của chim dễ nhận thấy hơn
+Tác dụng của lưới ngăn chim
Trong hệ thống an toàn sinh học lưới ngăn cua, chim có vai trò rấtquan trọng trong việc ngăn ngừa vật chủ trung gian mang mầm bệnh(chim,cua, còng) xâm nhập vào trong ao nuôi, ngoài ra con có tác dung trong việcphòng chống trộm
*Xây dựng lưới ngăn cua và vật chủ trung gian
Ngăn cua không cho vật chủ trung gian như: loài giáp xác, vật nuôi từngoài vào trong ao mang theo mầm bệnh cho tôm nuôi Hạn chế sự lây landịch bệnh, đặc biệt là bệnh đỏ thân, đốm trắng Đế tránh hiện tượng nước trên
bờ chảy vào ao nuôi đặc biệt vào mùa mưa, mang theo mầm bệnh, nên ràobằng bạt nylon cao khoảng 60cm – 80cm[18]
2.3 Tình hình nuôi tôm he chân trắng trên Thế giới và Việt nam
2.3.1 Tình hình nuôi tôm he chân trắng trên Thế giới
Trên thế giới, sản lượng tôm chân trắng đứng hàng thứ hai sau tôm súnhưng ở châu Mỹ sản lượng tôm chân trắng đứng hàng đầu, đạt 86.000 tấn(1990), 132.000 tấn (1992), 191.000 tấn (1998) và đạt gần 200.000 tấn năm1999[6]
Những nhà nghiên cứu đến từ Chương trình nuôi tôm biển của Mỹ U.S Marine Shrimp Farming Program (USMSFP) đã phát triển những cáchtiếp cận mới để giảm nhẹ sự tác động và tàn phá của virus với tôm nuôi baogồm cả việc sử dụng những loài tôm sạch bệnh (SPF) và những loài có khảnăng kháng bệnh (SPR) cũng như sử dụng hệ thống sản xuất an toàn sinh học
-để dựa vào đó mà ngăn chặn, loại trừ mầm bệnh Những cách tiếp cận đó đã
Trang 24được tiến hành và phát triển trong hơn một thập kỷ qua ở Mỹ Những con tômkhoẻ mạnh từ nguồn tôm sạch bệnh được chuyển tới các nông trại nuôi tôm
và kết quả là sản xuất tôm ở Mỹ gia tăng đáng kể trong giai đoạn từ năm1992-1994 Tuy nhiên vào giữa năm 1995 thì hội chứng Taura (Taurasyndrome virus -TSV) đã được xác định ở phía nam bang Texas và một sốkhu vực nuôi tôm chính của Mỹ Kết quả là dịch bệnh TSV gần như tàn phásạch sản lượng tôm nuôi ở đây từ năm 1994 đến 1995 Các nhà nghiên cứucủa USMSFP đã ứng phó bằng cách lựa chọn chương trình phát triển tôm L.vannamei có khả năng kháng bệnh TSV Việc sử dụng những con tôm có sứckhoẻ tốt và có khả năng kháng bệnh đưa vào nuôi ở các trang trại sử dụng hệthống an toàn sinh học đã làm cho lượng tôm sản xuất ở Mỹ tăng từ năm 1998đến nay
Các nhà nghiên cứu của USMSFP hiện nay đang phát triển hệ thốngsản xuất tôm an toàn sinh học loại trừ mầm bệnh Kết quả cho thấy hệ thốngsản xuất này có thể sản xuất ra 5kg tôm/m2 (cỡ tôm thương phẩm 20g/con)trong vòng 12 tuần và phải sử dụng khoảng 400l nước trên mỗi kg tômthương phẩm Với công nghệ này ngành nuôi tôm công nghiệp có thể mởrộng sang các khu vực khác và có thể kiểm soát tốt hơn với sự lây lan củadịch bệnh và không gây ra ảnh hưởng bất lợi nào cho môi trường
Ecuador coi nuôi tôm chân trắng là ngành sản xuất lớn, sản lượng tômnuôi chiếm 95% tổng sản lượng của khu vực châu Mỹ, năm 1991 là 103.000tấn Năm 1993, do gặp dịch bệnh hội chứng Taura (Taura Symdrome Virus)sản lượng giảm còn 1/3, sau 2-3 năm khôi phục lại đạt 120.000 tấn (1998),130.000 tấn (1999) rồi lại gặp đại dịch bệnh đốm trắng còn 35.000 tấn (2000).[6]
Một số nước như Mexico, Panama, Eelize, Peru, Colombia… cũng cótình hình phát triển tương tự Ecuador Sau khi được nhiều nước Châu Mỹ
Trang 25nuôi nhân tạo thành công và có hiệu quả cao, tôm chân trắng được di giốngsang Hawaii Từ đây tôm chân trắng lan sang Châu Á, Đông Nam Á Nhiềunước Đông Nam Á đã nhập tôm chân trắng để nuôi như: Philippin, Inđônêsia,Malaixia, Thái Lan, Việt Nam với hy vọng đa dạng hóa các sản phẩm tômxuất khẩu để nhằm tránh tình trạng chỉ trông cậy phần lớn vào tôm sú hiệnnay Tôm chân trắng được nhập khẩu vào Châu Á vì người ta nhận thấy một sốloại tôm bản địa chủ yếu hiện đang được nuôi cho năng suất thấp, mức độ tăngtrưởng chậm và có khả năng mang bệnh Việc khoanh vùng nuôi tôm chântrắng khép kín và sự phát triển của các dòng giống tôm chân trắng chọn lọc vàthuần hóa đã đưa tôm chân trắng trở thành đối tượng quan tâm lớn của ngànhnuôi tôm thời kỳ hiện nay Trên phạm vi toàn cầu, tôm chân trắng đang chiếmtới 2/3 tổng sản lượng tôm nuôi toàn thế giới Ở châu Á, trong giai đoạn từ2001-2006, tôm sú chỉ duy trì ở một sản lượng nhất định, thì tôm chân trắngnhảy vọt lên 1,5-1,6 triệu tấn (năm 2006) và đạt 1,8 triệu tấn (năm 2009) Đặcbiệt, việc gia tăng nhanh sản lượng tôm chân trắng là do các nước đã sản xuấtđược tôm bố mẹ sạch bệnh và áp dụng các biện pháp khoa học công nghệ nângcao năng suất, chất lượng tôm Đặc biệt ở Thái Lan trong năm 2004 sản lượngtôm chân trắng đã đạt tới 300.000 tấn, chiếm tỷ lệ cao trong sản xuất tôm biểnvới sản lượng chiếm xấp xỉ 80% Khảo sát tại Thái Lan cho thấy, nước này đãchuyển sang nuôi tôm chân trắng đời thứ 7, sạch bệnh Người nuôi tôm ở TháiLan đã nuôi thành công tôm chân trắng cỡ lớn (vượt tôm sú), có ưu thế vượttrội về năng suất, đạt 25-30 tấn/ha/vụ; lợi nhuận thu được cao gấp 2-3 lần sovới tôm sú Sản lượng tôm nuôi của Thái Lan năm 2008 đạt 533.000 tấn, gồm160.000 tấn tôm sú và 373.000 tấn tôm chân trắng Còn tại Philippines, BộNông nghiệp nước này cũng đã dỡ bỏ lệnh cấm nhập khẩu và nuôi tôm chântrắng ở nước này sau những nghiên cứu kỹ lưỡng cho thấy việc nuôi tôm chântrắng hiệu quả cao, lại không đe dọa môi trường, góp phần đa dạng sinh học.
Trang 26Tôm chân trắng được thế giới công nhận là một trong ba loài tôm he nuôi cónhiều ưu điểm, có thể nuôi theo nhiều hình thức bán thâm canh, thâm canh vànuôi công nghiệp trong các ao đầm nước mặn lợ[6].
2.3.2 Tình hình nuôi tôm he chân trắng ở Việt Nam:
Tôm chân trắng (Penaeus vannamei) có nguồn gốc từ Nam Mỹ, được
du nhập vào Việt Nam vào khoảng các năm 1997 - 2000 Kể từ đó, việc nuôitôm chân trắng đã phát triển nhanh, chủ yếu là tại các tỉnh miền Trung vàmiền Bắc Việt Nam vì một số ưu điểm sau:
+ Chúng dễ sinh sản và thuần dưỡng
+ Dễ nuôi ở mật độ cao
+ Đòi hỏi hàm lượng protein trong thức ăn thấp hơn so với tôm sú.+ Chịu được nhiệt độ thấp
+ Chịu được nước có chất lượng kém hơn so với tôm sú
Sau khi du nhập vào Việt Nam sự phát triển của nghề nuôi tôm chântrắng đã được Bộ Thủy sản kiểm soát chặt chẽ Tuy nhiên kể từ ngày25/1/2008, tôm chân trắng được phép nuôi tại các ao thâm canh
Năm 2009, Việt Nam xuất khẩu tôm vào 82 thị trường trong đó 10 thịtrường đầu tiên chiếm hơn 80% cả về khối lượng lẫn giá trị gồm Nhật Bản,
Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan, Đức, Trung Quốc, Australia, Canađa, Anh và Bỉ
Năm 2010, tuy tôm sú vẫn là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của thủy sảnViệt Nam, nhưng tôm he chân trắng có khả năng tăng mạnh Dự báo sảnlượng tôm he chân trắng năm nay sẽ tăng gấp ba lần năm 2009, có khả nănglên 150.000 tấn, do vậy kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng gấp hai lần, ước đạt 500
- 600 triệu USD, chiếm một phần ba kim ngạch xuất khẩu tôm của cả nước.Theo Cục Nuôi trồng Thủy sản, Việt Nam có thể có lợi thế ở thị trường tôm
he chân trắng cỡ nhỏ do có tiềm năng phát triển Giá thấp, năng suất cao, giá
cả tôm phù hợp nhu cầu tiêu dùng[6]
Trang 27Năm 2010, diện tích nuôi tôm chân trắng đạt gần 25.000 ha, tăng 30%
so với 2009, sản lượng đạt 135.000 tấn (tăng 50% so với năm 2009 là 89.500tấn) XK tôm chân trắng cả năm 2010 đạt 62.400 tấn, trị giá gần 414,6 triệuUSD (chiếm gần 20% tổng giá trị XK tôm)
Diện tích nuôi tôm he chân trắng ngày càng tăng trong những năm gầnđây, một phần do mở rộng diện tích nuôi, một phần do chuyển đổi từ ao nuôitôm sú sang nuôi tôm he chân trắng Diên tích nuôi tôm he đang dần được quyhoạch và ổn định hơn
Tại Quảng Ninh
Nếu như năm 2002, trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Ninh có 200 ha nuôitôm he chân trắng, với tổng sản lượng đạt 700 tấn, chiếm tỷ lệ 34,65% tổngsản lượng tôm nuôi toàn tỉnh thì đến năm 2009, diện tích nuôi tôm he chântrắng đã tăng lên trên 3.500 ha, chiếm 35,85% diện tích nuôi tôm nước lợ toàntỉnh Như vậy, so với năm 2002, diện tích nuôi tôm he chân trắng tăng 3.300
ha Tôm he chân trắng chủ yếu được nuôi theo hình thức thâm canh và bánthâm canh Loại tôm này được tập trung phát triển nhiều tại các địa phươngnhư: Móng Cái, Hoành Bồ, Yên Hưng, Đầm Hà, Hải Hà, Vân Đồn Theo Chicục Nuôi trồng thuỷ sản, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, tôm hechân trắng có những ưu điểm nổi bật hơn so với loài tôm khác và phù hợp vớithời tiết khí hậu miền Bắc Đặc biệt khả năng chịu lạnh tốt, tốc độ tăng trưởngnhanh, chịu đựng được độ muối rộng, chu kỳ nuôi ngắn, thời gian quay vòngnhanh, có thể nuôi 2 vụ/năm Với những ưu điểm phù hợp với khí hậu, điềukiện địa hình của tỉnh Quảng Ninh, tôm he chân trắng đã làm chuyển dịch cơcấu mùa vụ Từ chỗ trước đây chỉ nuôi được 1 vụ/năm đến nay đã nuôi được
2 vụ/năm Hơn nữa, công nghệ nuôi cũng được nâng lên, trước diện tích nuôitôm chủ yếu là nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến, nay chuyển sang bánthâm canh, thâm canh
Trang 28Tình hình nuôi tôm của công ty Bim
Hiện nay, công ty cổ phần thuỷ sản BIM là nhà nuôi trồng tôm lớnhàng đầu tại Việt Nam, đang quản lý và phát triển khoảng 2.000ha nuôi tôm.Công ty sở hữu hệ thống trại giống sạch bệnh, nhà máy chế biến thủy sản.Khu nuôi tôm của công ty được quy hoạch tốt đảm bảo việc nuôi bền vữngtheo mô hình an toàn sinh học
BIM là một trong những công ty đầu tiên ở Việt Nam sử dụng côngnghệ vi sinh tự nhiên trong nuôi tôm Nhờ đó mà chất lượng tôm được nângcao đáp ứng những tiêu chuẩn xuất khẩu khắt khe nhất của Nhật, Châu Âu và
Mỹ Công ty là nhà sản xuất tôm giống, nuôi và chế biến tôm trong một chutrình kiểm soát đảm bảo khả năng truy xuất nguồn gốc và kiểm soát tuyệt đốichất lượng và sản lượng tôm
Khu nuôi thuỷ sản Minh Thành - Yên Hưng - Quảng Ninh thuộc công
ty BIM tính đến năm 2010 có di ện tích 250ha chia làm 3 khu nuôi nhỏ.Trong quá trình phát triển công ty đang dần hoàn thiện quy trình nuôi và pháttriển ngày càng lớn mạnh Với một nguồn lực lớn mạnh về con người cũngnhư trang thiết bị kỹ thuật, hàng năm công ty luôn đạt được năng suất cao
trong hoạt động nuôi tôm thẻ thương phẩm Năm 2010 là năm mà khu nuôi
thu được thành công lớn nhất trong mấy năm trở lại đây sản lượng tôm thẻchân trắng đạt 16 tấn/ ha sản lượng toàn khu dự kiến đạt 1200 gấp đôi so vớinhững năm trước đó Năm 2011 công ty đã cho tiến hành mở rộng diện tíchkhu nuôi lên tới diện tích 316ha với việc xây thêm khu 4 ở bên cạnh khu 2.Khu nuôi cũng đang tiến hành những thử nghiệm ban đầu trong sản xuất congiống nhằm đáp ứng nhu cầu con giống, giảm bớt chi phí nhằm nâng cao hiệuquả sản xuất