Cho nên, tôi chọn “tìm hiểu giáo dục Thái Lan sau cuộc ˝Cách mạng sinh viên 1973 đến năm 2005” ” làm đề tàinghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình, hi vọng sẽ rút ra đợc sự hiểubiết
Trang 1Trờng đại học vinh
khoa lịch sử - -
Hoàng Thị Quỳnh Oanh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Tìm hiểu giáo dục thái lan sau cuộc
Trang 2nghiêm khắc và mẫu mực đã giành cho bản thân tôi sự chỉ bảo ân cần và lòng nhân ái.
Vì thời gian và nguồn t liệu có hạn, bản thân còn chập chững trên con
đờng nghiên cứu khoa học nên khoá luận còn rất nhiều thiếu sót Kính mong
sự chỉ bảo của thầy cô và bạn bè.
Tác giả
A mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Thái Lan là một trong những nớc phát triển hàng đầu ở Đông Nam á,
đ-ợc coi là “chìa khoá của ASEAN” về kinh tế, văn hoá, an ninh chính trị vàgiáo dục Giáo dục Thái Lan hiện nay đã có những bớc phát triển mạnh mẽ sovới các nớc trong khu vực Đông Nam á Bởi vậy, hiện nay Thái Lan và các n-
ớc Singapo, Inđônêxia là địa chỉ du học đáng tin cậy của du học sinh - sinhviên các nớc trong khu vực Đông Nam á
Nền giáo dục Thái Lan phát triển theo khuynh hớng giáo dục của các
n-ớc phơng Tây Ngay từ năm 1868, dới triều vua Chulalongkon, Xiêm (hiệnnay là Thái Lan) đã có chủ trơng hiện đại hoá nền giáo dục và phổ cập giáodục cho dân chúng Các triều vua trị vì của Xiêm sau này đã tiếp nối truyềnthống của Chulalongkon, không ngừng học tập phơng Tây, mà dấu hiệu biểuhiện của nó là mời các giáo s nớc ngoài đến giảng dạy ở các trờng Thái Lan,
đồng thời cho con em Thái ra nớc ngoài học tập để tiếp thu khoa học công
Trang 3nghệ tiên tiến trên thế giới Nhờ đó, nền giáo dục Thái Lan trong thời kỳ hiện
đại không ngừng hoàn thiện và nhanh chóng hoà nhập vào xu thế phát triểncủa thế giới
Việt Nam - Thái Lan là hai nớc láng giềng trong khu vực Đông Nam
á, có những đặc điểm tơng đồng về tự nhiên, con ngời, văn hoá Trong nhữngthập niên gần đây, mối quan hệ giữa hai nớc Việt Nam – Thái Lan ngàycàng đợc cải thiện và hợp tác trên nhiều lĩnh vực đạt nhiều kết quả tốt đẹp,trong đó có quan hệ hợp tác về lĩnh vực giáo dục đào tạo
Theo nghị quyết TW2 khoá VIII bàn về giáo dục đào tạo và khoa họccông nghệ đã xem giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọngthúc đẩy Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, là điều kiện tiên quyết để phát triểnnguồn lực con ngời, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trởng kinh tếnhanh và bền vững Nhận thức đợc điều đó, Đảng và nhà nớc ta đã đổi mớicăn bản và toàn diện nội dung, phơng pháp dạy và học, hệ thống trờng lớp và
hệ thống quản lý giáo dục theo hớng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá vàdân chủ hoá Thực hiện tốt khẩu hiệu “giáo dục cho mọi ngời” cả nớc thànhmột xã hội học tập, tập trung đào tạo một đội ngũ nhân tài cho đất nớc và thựchiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện cho ngời nghèo có cơ hộihọc tập Đại hội lần thứ IX của Đảng đã đề ra định hớng phát triển giáo dục và
đào tạo đến năm 2010 trên quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, tăngcờng hiệu lực quản lý nhà nớc về giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dỡng nhân tài phục vụ CNH - HĐH đất nớc, đáp ứng yêu cầu xây dựng vàbảo vệ tổ quốc vì mục tiêu dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng dân chủ vănminh Để thực hiện định hớng của Đảng đã đề ra, trách nhiệm đó trớc hếtthuộc về các cấp quản lý và cán bộ giáo chức của nghành giáo dục và đào tạo,phải có những ngời quản lý giỏi, có nh vậy mới đáp ứng đợc nhu cầu trớc mắt
và chấn hng đất nớc
Xuất phát từ thực tiễn đất nớc, việc giao lu, hợp tác và học hỏi kinhnghiệm giáo dục ở các nớc trên thế giới và trong khu vực là rất cần thiết Đặcbiệt hợp tác và học tập trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo giữa Thái Lan - ViệtNam ngày càng đợc mở rộng và phát triển hơn Gần đây là việc trờng Đại HọcVinh đã liên kết với một số trờng đại học ở Thái Lan để hổ trợ lẫn nhau, học
tập lẫn nhau hai bên cùng có lợi Cho nên, tôi chọn “tìm hiểu giáo dục Thái
Lan sau cuộc ˝Cách mạng sinh viên (1973) đến năm 2005” ” làm đề tàinghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình, hi vọng sẽ rút ra đợc sự hiểubiết về chiến lợc phát triển giáo dục ở Thái Lan và đúc rút đợc những bài họckinh nghiệm bổ ích góp phần cho sự phát triển giáo dục ở nớc nhà
Trang 42 Lịch sử vấn đề
Kể từ ngày 6/8/1976, Thái Lan và Việt Nam đặt quan hệ ngoại giao vớinhau đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Thái Lan: đất nớc, con ngời tronglịch sử và hiện tại song, vấn đề giáo dục Thái lan thì cha đợc tổ chức nghiêncứu, giới thiệu dịch thuât một cách đầy đủ Cho đến nay, cha có một công trìnhnào nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực giáo dục của Thái Lan, mà hầu hết cáccông trình đều nghiên cứu có tính chất thông sử về lịch sử hình thành và pháttriển của Thái Lan qua từng giai đoạn, từng thời kỳ lịch sử trong đó có đề cập
đến vấn đề giáo dục Viết về giáo dục của Thái Lan chúng tôi mới chỉ tìm thấynhững bài viết công bố chủ yếu là trong các tạp chí cụ thể
Cuốn Lịch sử vơng quốc Thái Lan của Lê Văn Quang giới thiệu toàn bộ
lịch sử vơng quốc Thái Lan từ khởi thuỷ đến hiện tại, trong đó có đề cập đến
vấn đề cải cách giáo dục của Chulalongkon Cuốn Một vòng quanh các nớc
-Thái Lan của Trần Vĩnh Bảo biên dịch (2005) mới chỉ phác thảo vài nét về
loại hình, hệ thống và một số trờng đại học nổi tiếng trong nghành giáo dụcThái Lan hiện nay
Cuốn Văn hoá -giáo dục các nớc Đông Nam á của Nhà xuất bản Văn
hoá Thông tin Hà Nội, đề cập những thông tin cơ bản về các hoạt động giáodục của 10 nớc trong khu vực Đông Nam á, trong đó có Thái Lan và mốiquan hệ hợp tác trên lĩnh vực giáo dục đào tạo giữa Thái lan và Việt Nam
Các bài viết của các giáo s, tiến sĩ ở Viện nghiên cứu Khoa học giáo dục
đăng trên các Tạp chí giáo dục hàng năm cũng đã đề cập từng khía cạnh nhỏ trong
lĩnh vực giáo dục của Thái Lan nh: bài viết của Trần ái Hoa đề cập đến những
quan điểm tích hợp trong sách giáo khoa tiếng Thái bậc tiểu học, bài viết của
Nguyễn Văn Ngữ lợc dịch từ cuốn Giáo dục Thái Lan năm 1997 của Uỷ ban giáo
dục quốc gia,Văn phòng thủ tớng Vơng quốc Thái Lan đã đề cập đến Chi phí cho
giáo dục ở Thái Lan, bài viết của Lê Văn Quang đề cập về Dự án giáo dục tiểu học bạn hữu trẻ em ở Thái Lan, hình thức tuyển sinh đại học ở Thái Lan, bài viết
của Nguyễn Tiến Đạt đề cập đến Đào tạo cao đẳng kĩ thuật công nghệ ở một số
n-ớc trên thế giới đăng trên Tạp chí giáo dục (2003).
Ngoài ra, các bài viết của Viện Đông Nam á đăng trên tạp chí ĐôngNam á có đề cập đến mối quan hệ hợp tác giữa Thái Lan và Việt Nam, cógiới thiệu vài nét trong hợp tác giáo dục và đào tạo giữa hai nớc
Nhìn chung, những công trình về Giáo dục Thái Lan mới chỉ bắt đầu,rất ít ỏi.Tính đến thời điểm này, vẫn cha có một chuyên khảo nào tập trung đisâu và đề cập một cách đầy đủ, có hệ thống về nội dung và hình thức của giáo
Trang 5dục Thái Lan Vì vậy, sau một quá trình tìm tòi, tổng hợp và xử lí t liệu, chúngtôi đã tập hợp lại một cách có hệ thống về Giáo dục Thái Lan từ sau cuộc
“Cách mạng sinh viên” năm 1973 cho đến nay làm nội dung khoá luận
3 phạm vi và phơng pháp nghiên cứu
Giáo dục Thái Lan là một hệ thông giáo dục bao gồm nhiều cấp học,nghành học khác nhau, với nội dung chơng trình đa dạng và phong phú Để đisâu vào tìm hiểu hệ thống giáo dục Thái Lan thời kỳ hiện đại, đòi hỏi phải cóquá trình nghiên cứu tìm tòi lâu dài Song, do hạn chế về trình độ, kinhnghiệm cũng nh thời gian và đặc biệt là nguồn t liệu quá ít ỏi, cho nên trong
đề tài khoá luận của mình tôi chỉ đề cập một số nét về sự hình thành và pháttriển của hệ thống giáo dục hiện đại Thái Lan trong gần 30 năm trở lại đây, và
sự hợp tác trong lĩnh vực giáo dục đào tạo giữa Thái Lan - Việt Nam
4 Phơng pháp nghiên cứu
Để đạt đợc mục đích nghiên cứu và bảo đảm những yêu cầu khoa họccủa khoá luận, nên phải sử dụng phơng pháp nghiên cứu tổng hợp : kết hợpgiữa việc su tầm, chọn lọc và xử lý tài liệu với phơng pháp lịch sử, phơngpháp logic và phơng pháp so sánh
KHái quát tình hình giáo dục thái lan trớc
cuộc “cách mạng sinh viên” (1973)
1.1 Cải cách giáo dục của Chulalongkon
1.1.1 Giáo dục nhà chùa - Nét nổi bật trong xã hội phong kiến Thái.
Trớc khi ngời Thái thành lập vơng quốc thống nhất hùng mạnh và trớckhi họ trở thành dân tộc chủ thể ở Thái Lan vào cuối thế kỷ XVIII, thì tạimảnh đất này suốt hơn 10 thế kỷ, Phật giáo đã bén rễ và phát triển sâu rộng
Trang 6Mặc dù những c dân cổ theo Phật giáo này không phải là ngời Thái, nhng họ
đã góp một phần không nhỏ vào việc truyền bá những t tởng Phật giáo cho chủnhân đến sau của đất nớc Thái Lan hiện nay Nhng chỉ từ khi nhà nớc Xụ KhôThay ra đời, thì Phật giáo mới dần dần trở thành tôn giáo chính của ngời Thái
ở Thái Lan Và cũng chính từ đây, Phật giáo thâm nhập và ảnh hởng vào mọisinh hoạt tập thể của ngời Thái Chùa có vai trò đặc biệt quan trọng trong đờisống văn hoá giáo dục và các hoạt động xã hội của ngời dân, việc học tập vàgiáo dục con em gắn liền với nhà chùa ngay từ nhỏ, trẻ con ở Thái Lan vừa đihọc, vừa ở chùa Việc giáo dục bấy giờ chủ yếu xoay quanh hai tổ chức: một
là của Tôn giáo, hai là của Hoàng gia Chỉ có con em của những gia đìnhhoàng tộc và quý tộc thì đợc giáo dục theo mục tiêu phục vụ cho triều đình vàlàm quan cai trị ở các tỉnh, còn đại đa số ngời dân trong xã hội nh nông dân,những ngời nghèo thì cảm thấy học thuật là không cần thiết cho lắm Lịch sử,kiến thức là triết lý địa phơng đều đợc truyền khẩu, chính vì vậy, các gia đình
có điều kiện ở Thái Lan thời bấy giờ thờng gửi con mình tới nhà chùa trongthời gian từ 8 đến 18 tuổi, tập trung nhất là từ 10 đến 15 tuổi làm trẻ chùa Tại
đó, vào các buổi sáng sớm, buổi tối chúng dọn dẹp cho chùa sạch sẽ, phục vụcơm nớc cho các s và học tập
Vào buổi tối, trẻ tham gia các buổi lễ ngắn tại phòng có bệ thờ Phậttrong nhà nghỉ của chùa và giở bài học ra ôn dới sự quan sát của các s tiểu.Tiếng trẻ học bài ở chùa cùng ánh sáng các ngọn đèn tới khuya (khoảng 11giờ đêm) tạo nên không khí thân thuộc thế tục ở khu vực linh thiêng này Trẻchùa có kỉ luật hơn, ngoan hơn và thờng học giỏi hơn những đứa trẻ cùng lớp,vì có thời gian dới sự giám sát của các s, tiểu
Đến tuổi 20, nếu có nguyện vọng và đợc gia đình đồng ý thì chúng cóthể tiếp tục giành một thời gian hay cả quãng đời còn lại cho sự nghiệp lý t-ởng, thi sát hạch thành s Nh vậy, ngay từ khi còn nhỏ trẻ ở Thái Lan đã đợcgiáo dục về làm công đức, đạo đức và t cách
Đến thời vua Rama II trị vì (1809 - 1824) ngời ta đã áp dụng một hệthống giáo dục chặt chẽ theo kiểu thầy tu Những văn bản kinh sách bằngtiếng Pali đợc lựa chọn và phân chia cho thích hợp với từng cấp học Trong hệthống giáo dục của Rama II có hai loại:
- Thứ nhất, học đạo pháp hay giáo lý nhà Phật
- Thứ hai, học tiếng cùng văn bản Pali
Chơng trình học giáo lý đợc chia làm ba cấp Ai học qua cả ba cấp sẽ
đ-ợc phong hiệu Nắcdhama (ngời thông hiểu giáo lý Phật giáo) Còn học tiếng
và văn bản Pali thì có bảy cấp Ai học qua cả bảy cấp đợc phong tớc hiệu
Trang 7Mahả Phra Mahả Nhng thông thờng, việc dạy giáo lý và văn bản Pali kết hợpvới nhau cùng một lúc Muốn qua hết tất cả hai chơng trình đòi hỏi phải mất 7năm học.
Có thể nói, chơng trình giáo dục nhà chùa thời Rama II đã đặt cơ sở,nền móng cho hệ thống chơng trình giáo dục nhà chùa ở Thái Lan sau này
Đặc biệt, thời Rama V (1868 - 1910) việc giáo dục Phật giáo đợc chú ý nhiều.Trờng đại học Phật giáo hay Mahả Chulalongkon Ratgiavidialaia đợc thànhlập Em của Chulalongkon còn lập thêm một trờng đại học Phật giáo khác cótên là Mahả Mahyraratgiavidialaia giành riêng cho Đham mauttiha Nikaia
Mặc dù, thời Rama V - Nhà nớc đã quản lí toàn bộ công việc giáo dục
từ phổ thông đến đại học, nhng Phật giáo vẫn là một bộ môn bắt buộc cho cáclớp, các cấp Ngoài môn học bắt buộc, Phật giáo còn đến với học sinh quanhiều phơng tiện khác nh : sách truyện, sách tranh, hoạ báo về Đức Phật giànhcho trẻ em; tổ chức cho học sinh đi tham quan, cắm trại ở các chùa, đài phátthanh có những buổi về Phật giáo giành riêng cho học sinh
Nh vậy, giáo dục Thái Lan thời phong kiến mới chỉ xoay quanh hai tổchức: Tôn giáo và Hoàng gia, nhằm phục vụ cho triều đình, song vấn đề đạo
đức đã đợc đề cao trong việc giáo dục con em ngay từ khi còn bé
1.1.2 Cải cách giáo dục của Chulalongkon (1868-1910)
Sau khi Ram IV - Mông kut qua đời, con trai ông, hoàng tử trẻ tuổiChulalongkon lên nối ngôi với vơng hiệu Rama V (1868-1910) vào năm 1868,tức là cùng năm Minh Trị Thiên Hoàng tiến hành cuộc duy tân nổi tiếng ởNhật Bản, đây là vị vua nổi tiếng vào bậc nhất của ngời Thái Chulalongkonsinh năm 1853, khi lên ngôi ông mới chỉ 16 tuổi, vì vậy mà thời kỳ 4 năm đầunhà vua cầm quyền với một hội đồng nhiếp chính Trong những năm này,Chulalongkon đã giành nhiều thời giờ đi du lịch ở Canquytta (ấn Độ), Singapo
và Java (Inđônêxia) Là một ngời sùng đạo Phật, nhng lại hấp thụ sâu sắc vănminh phơng Tây, Chulalongkon chủ trơng tiến hành những cải cách duy tân
đất nớc theo hớng "mở cửa" theo con đờng của phơng Tây, nhng vẫn cố gắngbảo vệ độc lập và chủ quyền của đất nớc và bảo vệ quyền lợi của giai cấpphong kiến Thực hiện đợc mục đích trên, Chulalongkon cũng nhận thức rất rõ
đó là một sự nghiệp rất khó khăn và lâu dài Ông nói "Tôi mong muốn mangtới những lợi ích cho nhân dân, dù phải huỷ bỏ những tập tục đã đợc thiết lậpvững chắc, nhng không thể thay đổi tất cả trong một đêm" [5, 234]
Rõ ràng, Chulalongkon đã kế tục t tởng của nhiều bậc tiền bối trớc đây
ở Xiêm, đặc biệt rõ nhất là t tởng của Rama Mông-kut, cha mình,Chulalongkon đã phát triển và bớc đầu thực hiện chính sách cải cách xã hội
Trang 8đất nớc Đồng thời, khi ông lên kế ngôi cũng là thời điểm cải cách Duy tânNhật Bản tiến hành nên cũng đã ít nhiều tác động đến Chulalongkon Ông đã
đi nhiều nơi và học tập ở nhiều nớc phơng Tây để về áp dụng trong nớc, nhằm
đa Xiêm phát triển ngang bằng trong quan hệ với các nớc t bản phơng Tây.Xuất phát từ sự nhìn nhận đúng đắn về sự "chênh lệch" khách quan giữa sựphát triển của các nớc phơng Tây và phơng Đông trong thời kì cận đại đặc biệtcuối thế kỉ XIX, cho nên trong 42 năm trị vì, RamaV thi hành nhiều chínhsách cải cách quan trọng có tác động đến mọi đời sống xã hội, nên đã giữ đợcnền độc lập cho đất nớc, ngăn đợc những tham vọng xâm lợc của các thế lựcphơng Tây Trong thời kỳ trị vì của Chulalongkon, một trong những vấn đề mà
đợc Chulalongkon chú ý đến đó là cải cách giáo dục Dới triều đại của vuaRamaV, ngời ta nhận thức đợc rằng sự cần thiết cần có những ngời có học làmviệc trong guồng máy quan liêu thì chính quyền mới vững mạnh đợc Chính vìthế, năm 1902 Chulalongkon cho thành lập trờng đào tạo về chính trị cho cácthành viên của Hoàng gia để họ có thể có đợc khả năng quản lý lãnh đạo cáchoạt động khác nhau trong Chính phủ Trong giai đoạn này những ngời giữcác chức vụ quan trọng trong chính quyền của Chulalongkon là những ngờithuộc dòng dõi quý tộc hoặc con cháu của họ đợc đào tạo ở châu Âu hoặc có
t tởng "Âu hoá", cho nên họ vừa có tác phong làm việc theo kiểu t bản châu
Âu, vừa trung thành bảo vệ những quyền lợi của Hoàng tộc và giai cấp phongkiến
Để đào tạo những lớp ngời nh trên, công tác cải cách giáo dục đã đợcChulalongkon đặc biệt chú ý là chiến lợc phát triển lâu dài, đi từ thấp đến cao,từng bớc hiện đại hoá hệ thống giáo dục và phổ cập hoá đối với dân chúng,khác với nền giáo dục truyền thống trớc đây chủ yếu đợc tiến hành trong cácchùa chiền và tu viện Phật giáo
Ngay từ khi cha chính thức đăng quang, năm 1871 - Chulalongkon đãcho thành lập một trờng dạy tiếng Anh và một trờng dạy tiếng Thái cho Hoànggia và con em quý tộc theo học Thực ra, ban đầu, trờng này chỉ có tính chấthạn chế trong giới quý tộc nhằm đào tạo những ngời phục vụ cho Hoàng gia
mà cha phổ biến ra ngoài rộng rãi Song, với t tởng tiến bộ của Rama V ông
đã cho mở rộng giáo dục tới cả giáo dục nô lệ, vì theo ông nếu không đợc giáodục, không có kiến thức thì các nô lệ sau khi đợc giải phóng rất có thể lại bị
"nô lệ hoá" trở lại Vì vậy, năm 1885 nhà vua đã cho công bố rõ mục đíchgiáo dục phổ thông với việc thành lập hệ thống trờng học do nhà nớc quản lý,nhằm buộc mọi ngời phải theo học nếu ai lời biếng và không tham gia xây
Trang 9dựng trờng nhà nớc tuyên bố có thể bắt đi lính bất cứ lúc nào, nhờ đó mà mộtkhối lợng lớn trẻ em đã đợc gửi đến trờng.
Đến năm 1887, Bộ Giáo dục Xiêm đợc thành lập với t cách là một bộchuyên trách
Trong chuyến thăm châu Âu năm 1897, Chulalongkon đã rất quan tâmtìm hiểu chơng trình, nội dung giáo dục ở các nớc ông đến thăm Đi theo cùng
ông trong chuyến đi này là một Bộ trởng chuyên trách đặc biệt tìm hiểu, thamkhảo các biện pháp giáo dục ở châu Âu và sau đó phải tờng trình lại cho nhàvua về những tìm hiểu của mình một cách tỉ mỉ Bản báo cáo thu hoạch đợc vềgiáo dục sau chuyến đi thăm châu Âu đã trở thành cơ sở của chơng trình giáodục đầu tiên ở Xiêm và đợc công bố vào năm 1898, trong đó Rama V đã phêchuẩn sắc lệnh về giáo dục bắt buộc hệ phổ thông 12 năm Từ đó, số trẻ em
đến trờng ngày càng đông Để đáp ứng yêu cầu giáo dục bắt buộc hệ phổthông 12 năm, các trờng s phạm đào tạo giáo viên ở Xiêm đã đợc thành lập.Sắc lệnh về giáo dục bắt buộc của Chulalongkon là một sắc lệnh có ý nghĩalớn đối với việc phát triển dân trí ở Xiêm lúc đó
ở bậc đại học, nhà nớc Xiêm đã cho thành lập các trờng Lục quân, Hảiquân, Luật và trờng học sinh Hoàng gia (ngày nay là đại học Chulalongkon)
Đặc biệt, Rama V còn rất khuyến khích con em quý tộc và các quan chức caocấp của Xiêm đi du học ở nớc ngoài Từ năm 1897, đã có chế độ nhà vua cấphọc bổng cho các sinh viên du học ở ngoại quốc Đồng thời, Ram V cũng rấtcoi trọng việc sử dụng các cố vấn và chuyên gia phơng Tây trong các lĩnh vựcchuyên môn khác nhau Thực ra, việc sử dụng cố vấn và chuyên gia phơngTây trong hệ thống nhà nớc Xiêm đã trở nên phổ biến từ thời Mông-kut (1851-1868) Theo D.G.Hall: "Họ đợc sử dụng làm cố vấn và giáo viên, nhng do tìnhtrạng thiếu các quan chức ngời Xiêm có những kiến thức về kỹ thuật hoặckinh nghiệm hành chính phù hợp cho nên rất nhiều trong số họ đã phải trựctiếp lãnh đạo các Cục, Vụ ở Xiêm" [6, 123] Tình hình đó, dới thời Rama V,hầu nh đã trở thành phổ biến Phần lớn các cố vấn nớc ngoài màChulalongkon sử dụng là ngời Anh (cố vấn tài chính), bởi vì những cố vấn này
đã ở ấn Độ và Miến Điện, nên đã có nhiều kinh nghiệm và phù hợp với điềukiện làm việc ở Xiêm Ngoài ra, ông còn sử dụng cả cố vấn ngời Bỉ và ĐanMạch nữa
Phần lớn trong các cơ quan hành chính ở Xiêm, đều có những ngời
ph-ơng Tây phục vụ, cho nên các quan chức của Xiêm một mặt bổ sung đợcnhững kiến thức mà mình còn thiếu, mặt khác học tập đợc phong cách làmviệc của các viên chức phơng Tây
Trang 10Việc sử dụng hệ thống cố vấn và chuyên gia phơng Tây nh vậy, nókhông chỉ đơn thuần nhằm giải quyết những gì mà bản thân ngời Thái cha giảiquyết đợc, mà còn phản ánh t tởng hớng ngoại rộng mở và thông thoáng củaChulalongkon.
Cùng với việc xây dựng trờng học, nhiều th viện, nhà in cũng lần lợt ra
đời Các nhà in đã in nhiều tác phẩm lớn bằng tiếng Thái, những tạp chí bằngtiếng Thái cũng xuất hiện và đợc phát hành rộng rãi
Việc cải cách giáo dục theo mô hình phơng Tây của Chulalongkon, việckhuyến khích quan chức, con em quý tộc phong kiến du học ở châu Âu, đãhình thành ở Xiêm một tầng lớp trí thức tiểu t sản có t tởng và lối sống mới
Họ đã tiếp thu nhiều t tởng dân chủ tiến bộ của phơng Tây và công cuộc MinhTrị duy tân ở Nhật khi đó, nên họ là những ngời dễ dàng đoạn tuyệt với nhữngquan hệ phong kiến lỗi thời Chính tầng lớp trí thức tiểu t sản mới cùng vớicác sĩ quan trẻ trong quân đội đợc đào tạo theo mô hình phơng Tây sẽ họpthành bộ phận cấp tiến nhất trong xã hội Xiêm lúc đó
Với cải cách giáo dục của mình, Chulalongkon là ngời đặt nền móngcho hệ thống giáo dục phổ thông của Xiêm và là dấu mốc quan trọng, có ýnghĩa to lớn trong lịch sử giáo dục Thái Lan Ngoài ra, Rama V còn thực hiệnmột số cải cách khác nh: tài chính, quân đội, kinh tế Đặt trong khung cảnhchung của châu á mà trớc hết là Đông Nam á có thể coi đó là những việc làm
mà mức độ thành công của nó có lẽ chỉ thua kém công cuộc Minh Trị duy tân
ở Nhật Bản (1868-1912), nhng lại là những sự kiện độc đáo ở Đông Nam á.Những cải cách trong lĩnh vực giáo dục của Chulalongkon đã mở đầu cho quátrình xây dựng một nền giáo dục hiện đại và rộng rãi trong toàn dân, và đãgóp phần từng bớc đa Xiêm trở thành một đất nớc "phú quốc, cờng binh" đầutiên trong khu vực Đông Nam á Sau việc xây dựng hệ thống giáo dục phổthông theo chơng trình 12 năm, Thái Lan bắt đầu một chơng trình giáo dụchiện đại, mô phỏng theo các nớc phơng Tây
1.2 Giáo dục Thái Lan thời kỳ cận – hiện đại hiện đại
Cuối thế kỉ XIX, bớc sang những thập kỉ đầu thế kỉ XX, hầu hết các nớctrong khu vực Đông Nam á đều đã trở thành thuộc địa của các nớc phơngTây Trong khi đó, với chính sách ngoại giao khôn khéo qua hai vơng triều kếtiếp nhau là Rama IV Mông-kut (1851-1868) và Rama V Chulalongkon(1868-1910), Xiêm đã bảo vệ đợc độc lập, chủ quyền, an ninh toàn vẹn lãnhthổ của mình, đa Xiêm tránh đợc tất cả những cuộc chiến tranh bất lợi vàmang lại cho Xiêm một nền hoà bình quý giá Xiêm là nớc duy nhất ở Đông
Trang 11Nam á trên danh nghĩa không phải là nớc thuộc địa nh các nớc Đông Nam ákhác, cho nên lãnh thổ của Xiêm đợc bảo toàn trọn vẹn, đó là một thành cônglớn của nền ngoại giao Xiêm nửa sau thế kỉ XIX, nửa đầu thế kỉ XX Nhờ đó,chính sách đối ngoại và những kết quả của nó đã tác động trở lại đối với chínhsách đối nội, thúc đẩy sự phát triển của quốc gia Xiêm Xiêm đã tranh thủ đợcnhững điều kiện quốc tế thuận lợi trong khả năng cho phép để phát triển đất n-
ớc, và phục vụ cho công cuộc cải cách dới thời Chulalongkon
Cho nên, nền quân chủ phong kiến Xiêm của dòng họ Rama cho đếnthế kỉ XIX cha bớc vào giai đoạn suy vong mà vẫn còn ở thời kì phát triển.Giai cấp phong kiến lãnh đạo ở Xiêm về cơ bản vẫn còn đóng đợc vai trò lịch
sử của nó, trớc hết là hoàng đế Mông-kut và sau đó là Chulalongkon và bộphận phong kiến mới Họ là những ngời có t tởng cấp tiến nhờ đợc học hành
tử tế ở phơng Tây, cho nên những ngời lãnh đạo đất nớc Xiêm bấy giờ đã giảiquyết tốt hai nhiệm vụ: duy tân để phát triển, tự cờng và bảo vệ độc lập Xiêm
đã hơn hẳn các nớc ở khu vực Đông Nam á là thành công trong việc "họccách sống" sao cho ít bất lợi nhất cho mình; có bất lợi, có thiệt thòi, nhng lànhững bất lợi ít nhất và có thể chấp nhận đợc" [6, 125] Tất cả những thànhcông trong đối ngoại của các vua Xiêm và chính sách phát triển đất nớc theohớng t bản chủ nghĩa ở Xiêm, không chỉ đa lại một nền chính trị ổn định, kinh
tế phát triển mà cả văn hoá giáo dục cũng đợc đổi mới và ngày càng mở rộng,hoàn thiện, hiện đại
Nếu nh, ở Việt Nam và một số nớc khác trong khu vực Đông Nam á,nửa đầu thế kỉ XX, nền giáo dục cha đợc xây dựng, vẫn chịu sự nô dịch củabọn thực dân xâm lợc phơng Tây Điều đó thể hiện rõ nét ở Việt Nam, đếnnăm 1945, sau khi Cách mạng tháng tám thành công, vẫn còn hơn 90% dân số
mù chữ, chơng trình giáo dục cha có, hậu quả mà bọn thực dân phong kiến đểlại hết sức nặng nề Trong khi đó, Thái Lan đã xây dựng và đổi mới hệ thốnggiáo dục theo kiểu phơng Tây từ cuối thế kỉ XIX Những ngời đứng đầu đất n-
ớc lúc bấy giờ đã ý thức về việc xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân để chotoàn bộ con em nhân dân đợc học hành và cho cá nhân mỗi công dân có thểphát triển khả năng riêng của mình một cách đầy đủ
Tiếp nối Rama V, các triều vua Rama VI, Rama VII cũng tiếp tục tiếnhành xây dựng và hiện đại hoá nền giáo dục Hệ thống trờng lớp và bậc họcngày càng mở rộng và quy định nội dung, phơng pháp cho các cấp học Cũng
nh Nhật Bản, Xiêm mong muốn thông qua hệ thống giáo dục toàn dân và bằngcon đờng đó xây dựng đất nớc Xiêm thành một nớc độc lập, hiện đại và tiếnkịp với các nớc châu Âu Để thực hiện mục đích đó, các nhà lãnh đạo Xiêm
Trang 12nghĩ rằng họ phải xây dựng các nhà trờng để thanh niên có thể học đợc nhữngtri thức và những kĩ thuật cần thiết của thời đại mới lúc đó, họ nghiên cứu các
hệ thống nhà trờng và những điều kiện giáo dục các nớc tiên tiến nhất củachâu Âu và châu Mĩ, và học tập các nớc đó phơng pháp và cách tổ chức nềngiáo dục quốc dân
Nền giáo dục Xiêm đợc đổi mới và nâng cao cùng với sự biến đổi củaxã hội Xiêm trong những năm đầu thế kỉ XX, dới tác động của tình hình thếgiới, cho nên xã hội truyền thống của Xiêm bắt đầu có những thay đổi thực sự,những mầm mống của xã hội mới đợc kích thích phát triển
Biểu hiện trớc tiên là việc cải tổ bộ máy nhà nớc làm thay đổi cơ cấuthành phần giai cấp thống trị Tầng lớp viên chức mới ra đời thay thế tầng lớpquan lại cũ, phần lớn những ngời này xuất thân từ tầng lớp trên trong xã hội,nhiều ngời đợc đào tạo ở nớc ngoài, chịu ảnh hởng của nền văn minh t sản ph-
ơng Tây Cùng với những thay đổi về cơ cấu xã hội, việc nâng cao trình độgiáo dục cũng đợc đẩy mạnh, nhằm đào tạo đội ngũ tri thức có t tởng cấp tiếnphù hợp với xã hội hiện đại Hệ thống trờng lớp đợc mở rộng hơn, chơng trìnhgiáo dục đợc bổ sung và hoàn thiện của thời Chulalongkon Năm 1917, trờng
đại học Chulalongkon đợc thành lập - chính thức bắt đầu nền giáo dục đại học
ở Xiêm, nhằm đào tạo tri thức khoa học và công nghệ hiện đại cho thanh niênXiêm Đại học Chulalongkon là cơ sở đầu tiên duy nhất ở Xiêm đào tạo ởtrình độ cấp cao vào những năm 20 của thế kỉ XX
1.2.1 Cuộc cách mạng nửa vời của Priđi Phanômyông năm 1932
Những năm 20 của thế kỷ XX, cuộc khủng hoảng của xã hội ở Xiêm
b-ớc vào thời kì nghiêm trọng Cuộc khủng hoảng ấy không chỉ đụng chạm đếngiới cầm quyền, mà còn đụng tới lợi ích của các tầng lớp nhân dân, không chỉtác động tới lĩnh vực tài chính - kinh tế mà còn tác động tới cả lĩnh vực tinhthần và chính trị của xã hội
Mấy chục năm hiện đại hoá, dù là với những nhịp độ chậm chạp và yếu
ớt, nhng cũng tạo ra những thay đổi nhất định trong cơ cấu kinh tế và xã hộicủa Xiêm Đến nay cơ cấu ấy không còn giữ nguyên tính chất truyền thống
nh đầu thế kỉ XIX nữa Thành phần c dân xã hội cho đến những năm 30 củathế kỷ XX đa số vẫn là nông dân, nhng với sự thâm nhập của kinh tế hàng hoá
- tiền tệ, nhân dân không còn sống theo kiểu hoàn toàn tự cung tự cấp nh trớckia Vì toàn bộ hệ thống buôn bán và lu thông tiền tệ trong nớc (kể cả ở nôngthôn) đều nằm trong tay thơng nhân ngời Hoa và một số rất ít ngời trong giớiquan chức Xiêm, nên nhìn chung trong nông thôn không có sự phân hoá giaicấp theo hớng t bản chủ nghĩa Nông dân Xiêm vẫn mang tính chất tiểu nông,
Trang 13bởi vì họ tiếp xúc với chủ nghĩa t bản thông qua ngời Hoa, ngời Hoa đóng vaitrò mô giới giữa chủ nghĩa t bản phơng Tây với nông thôn Xiêm Thơng nhânngời Hoa đã dùng mọi hình thức để thao túng nông dân và nông thôn Xiêm.Hậu quả của những chính sách đó là nông dân ngày càng bị bần cùng hoá,nhất là vào những năm khủng hoảng kinh tế 1929 - 1932, giá thóc gạo trên thịtrờng thế giới giảm sút mạnh mẽ, thì nông dân càng bị bóc lột nặng nề hơn.Mặc dầu vậy nhìn chung, cơ cấu xã hội nông thôn Xiêm cho đến những năm
30 thế kỷ XX vẫn mang tính chất truyền thống Trong nông thôn không xuấthiện những lực lợng xã hội mới nào, và do đó cũng không xuất hiện nhữngvận động xã hội nào đáng kể
ở thành thị, đã bắt đầu có sự xuất hiện của những nhân tố kinh tế mới.Một số ngời trong giới quan chức tham gia kinh doanh thơng mại và sản xuấtcông nghiệp, và có thể coi đó là những yếu tố t bản chủ nghĩa trong dân cXiêm
Đặc biệt, một trong những thay đổi đáng kể về cơ cấu xã hội trong quátrình hiện đại hoá ở Xiêm đó là : trong xã hội Xiêm đã xuất hiện một tầng lớptrí thức mới, trí thức Âu hoá Một số khá lớn trong số đó từng theo học các tr -ờng ở các nớc phơng Tây và chịu ảnh hởng văn hoá phơng Tây mạnh mẽ.Chính tầng lớp này đã tạo thành một chất men quan trọng nhất để làm thay đổikhông khí xã hội và chính trị của Xiêm trong mấy chục năm đầu thế kỉ XX B-
ớc vào thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng, một xu hớng đòi cải cách chính thểbắt đầu hình thành trong giới quan chức, nhất là trong những quan chức tríthức Âu hoá
Năm 1928, Đảng nhân dân - chính Đảng t sản đầu tiên do PriđiPhanômyông đứng đầu, xuất hiện ở Băng Cốc Bốn năm sau, ngày 24/6/1932,dới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân, giai cấp t sản làm cuộc đảo chính không
đổ máu lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế, lập chế độ quân chủ lập hiến
Dới sự trị vì của Rama VII (Prajadhipok 1925-1935) Xiêm bị khủnghoảng nghiêm trọng về tài chính, do triều đình và nhà vua chi tiêu lãng phí.Trớc tình ình ngày càng khó khăn, Rama VII buộc phải cắt giảm ngân sáchchi tiêu của nhà nớc, gây nên nhiều bất mãn trong xã hội Tầng lớp phản ứngmạnh là viên chức nhà nớc, vì họ bị chính sách giảm biên chế đe doạ và vì giátrị đồng lơng của họ bị sút giảm, cho nên họ chính là động lực của cuộc chínhbiến vào tháng 6/1932 Sự kiện tháng 6/1932 cha phải là một cuộc cách mạngthực sự, song nó có ý nghĩa quan trọng đối với lịch sử Xiêm
Từ mờ sáng ngày 24/6/1932, những ngời cầm đầu Đảng nhân dân, mà
đa số là những ngời tiếp thu nền giáo dục t sản phơng Tây, chiếm cơ quan
Trang 14Chính phủ, bắt giữ các Bộ trởng làm con tin và gửi tối hậu th cho vua RamaVII (lúc bấy giờ đang nghỉ ở Huahin trên bờ biển phía Tây cách Băng cốc 120dặm) Đảng nhân dân nổi dậy đoạt chính quyền, với mục đích là thành lập chế
độ quân chủ lập hiến, và Rama VII vẫn giữ cơng vị đứng đầu
Ngay hôm sau Rama VII có mặt ở thủ đô, hứa sẽ ban bố hiến phápthành lập Quốc hội và trao cho Đảng nhân dân thành lập Chính phủ doManôpakon làm thủ tớng Sau khi nắm đợc chính quyền, Đảng nhân dân công
bố cơng lĩnh hoạt động gồm 6 điểm : hoà bình, cải thiện đời sống nhân dân,
kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân; bình đẳng; tự do và giáo dục bắt buộc
Hiến pháp tạm thời đợc công bố vào tháng 10/1932, chế độ quân chủchuyên chế chấm dứt, chế độ quân chủ lập hiến chính thức đợc thừa nhận Sựphân chia quyền lực không đổ máu đã xong, nhà vua chỉ còn là một biểu tợngthiêng liêng để mọi ngời ngỡng mộ, còn quyền lực thì chuyển sang tay thế lựcmới
Cuộc chính biến này có ý nghĩa hết sức to lớn đối với lịch sử Xiêm và
có thể coi đây là bớc ngoặt đa Xiêm bớc vào thời kì hiện đại Vì thế cuộcchính biến này đợc coi là một cuộc "cách mạng" Đánh giá sự kiện này, nhànghiên cứu ngời Nhật Tanaka Tadahasu nhận xét : "Có thể nói cuộc cáchmạng này không phải là một cuộc cải biến phủ định chế độ cũ hay những cơcấu xã hội nâng đỡ chế độ đó, mà chỉ là một sự phản kháng đối với cách cai trị
độc đoán của bọn quan lại lớp trên trong chế độ quân chủ chuyên chế Nên coicuộc cách mạng này là một cuộc đấu tranh quyền lực giữa tầng lớp dới và tầnglớp trên của giai cấp quan lại quý tộc, hoặc là phong trào giành thêm quyềnlực của tầng lớp dới" [5, 86] Tanaka Tadahura làm một phép so sánh thú vịgiữa cuộc "cách mạng" này với cuộc vận động duy tân thời Minh trị ở NhậtBản vào giữa thế kỉ XIX, và đi tới kết luận : “Cuộc vận động duy tân thờiMinh Trị mang tính chất biến đổi triệt để hơn Cuộc vận động duy tân MinhTrị về thực chất là một cuộc cải cách t sản triệt để, mở đờng cho nớc Nhật bớcvào con đờng phát triển t bản chủ nghĩa một cách mạnh mẽ, còn cuộc "cáchmạng" năm 1932 ở Xiêm thì không đụng tới những quan hệ kinh tế - xã hội cơbản của nớc này, cho nên sự phát triển chủ nghĩa t bản sau cuộc "cách mạng"
ấy không hề thay đổi những nhịp độ chậm chạp của nó ’’[5, 86] Song phải nóirằng, sự thay thế chế độ quân chủ lập hiến (về thực chất là chế độ dân chủ tsản, tuy không triệt để) là một bớc tiến rất quan trọng của một xã hội gần nhnằm trong trạng thái trì trệ truyền thống Nhà nớc T sản đã thực sự hình thành,
và chế độ chính trị đón tồn tại cho đến ngày nay Chính quyền nhà nớc từ đóthật sự nằm trong tay tầng lớp đại t sản quý tộc có nhiều quan hệ với t bản nớc
Trang 15ngoài Cũng từ đấy trở đi, vũ đài chính trị Xiêm liên tục diễn ra cuộc đấu tranhgiành quyền lực giữa hai phe quân sự và dân sự.
Một cuộc cách mạng - dù chỉ là về mặt chính thể, không triệt để nh vậychỉ có thể dẫn tới hậu quả phức tạp, mà hậu quả đầu tiên là sự phản côngmạnh mẽ của các thế lực bảo thủ, phản động
Tháng 3/1933, ngời có t tởng cấp tiến bất ngờ trong phe dân sự là PriđiPhanômyông (lúc đó là một quốc vụ khanh trong hoạt động nhà nớc), trìnhbày trớc Quốc hội chơng trình kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân, trong đó,
ông chủ trơng quốc hữu hoá tất cả các nguồn tài sản quốc gia, kể cả ruộng đất
và nhà nớc, tạo công ăn việc làm cho mọi ngời dân Chính phủ lâm thời khôngtán thành chơng trình ấy, còn đối với nhà vua và các thế lực bảo thủ, phản
động thì coi dự án đó là dự án "cộng sản" Vua và thế lực phản động lên ánkịch liệt chơng trình cải cách của Priđi và nó đã trở thành nguyên cớ để chonhững thế lực bảo thủ, phản động tiến hành một cuộc đảo chính lật đổ Chínhphủ lâm thời do cuộc cách mạng năm 1932 lập ra Ngời đứng ra làm cuộc đảochính ấy không phải ai khác, mà chính là Manopakosu - thủ tớng Chính phủlâm thời Priđi buộc phải tạm ngừng hoạt động chính trị, lánh ra nớc ngoài
Sau cuộc đảo chính năm 1933, phe quân sự dần dần thắng thế Đến năm
1938, ngời đại diện cho phe này là tớng Phibun Soongkram lên làm thủ tớng,
mở đầu thời kì phe quân sự thao túng hoàn toàn bộ máy nhà nớc
Phibun là ngời có nhiều tham vọng và sùng bái Chủ nghĩa dân tộc cực
đoan, ông đổi tên nớc là Thái Lan và đa ra thuyết Đại Thái (Panthay) vào năm
1939 Trong thời gian này, Priđi đợc ân xá bởi cái tội "cộng sản" và đợc bổnhiệm làm Bộ trởng Nội vụ (tháng 2/1934) Để tạo ra một đội ngũ nhân sự cónăng lực và có đầu óc dân chủ, ông ta đã thành lập "Trờng đại học các khoahọc đạo đức và chính trị" (ĐH Thammasat) và trờng Đại học Thammasat vềsau trở thành thành trì chủ yếu của phe "dân sự"
Với sự cầm quyền của phái quân sự đứng đầu là Phibun và sự ra đời
"Chủ nghĩa Đại Thái", xu hớng bành trớng bá quyền khu vực của giới cầmquyền Thái Lan đợc tiếp tục Bản thân Phibun chịu ảnh hởng chủ nghĩa phátxít nên cho rằng : một nớc lạc hậu nh Thái Lan muốn phát triển đất nớc phải
có một Chính phủ chuyên chế lấy sức mạnh quân sự làm cơ sở, phải thành lậpmột chế độ độc tài quân sự
Năm 1939, chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, lợi dụng những khó khăncủa các nớc châu Âu, đặc biệt Anh và Pháp, giới cầm quyền Thái Lan đã dựavào Phật giáo để giành lại những quyền lợi bị mất cho Anh và Pháp Tháng
Trang 1610/1939, Thái Lan tuyên chiến với Pháp và giành đợc một số vùng đất ở phíaTây Cămpuchia và Lào.
Bất chấp sự phản đối của d luận trong nớc, để đổi lại sự ủng hộ và giúp
đỡ của Nhật, chính phủ Phibun đã cho quân đội Nhật đóng ở Thái Lan vàtháng 1/1943 Thái Lan tuyên chiến với Mĩ
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Thái Lan ở vào địa vị một nớc bạitrận Năm 1944, chính phủ Phibun sụp đổ, t bản Mĩ xâm nhập mạnh mẽ vàoThái Lan Không đợc lợi lộc gì khi tham gia chiến tranh, nền kinh tế lại lâmvào những khó khăn to lớn do đình chỉ ngoại thơng của các nớc Đồng minh,
sự bất bình của nhân dân đối với chính phủ ngày càng tăng lên làm cho tìnhhình kinh tế - xã hội Thái Lan suy sụp nghiêm trọng sau chiến tranh
1.2.2.Thái Lan trong những năm 50, 60, 70, 80 của thế kỷ XX
Sau khi dập tắt luồng gió tự do dân chủ năm 1946, Thái Lan thiết lậpmột chế độ độc tài quân sự và chế độ đó tồn tại đến những năm 70 của thế kỉ
XX Trong thời gian này, giới quân sự Thái Lan chi phối nền chính trị của đấtnớc nên các cuộc đảo chính thờng xuyên xảy ra Từ cuộc đảo chính tháng11/1947 đến đảo chính năm 1957, hay những sự thay đổi Chính phủ liên tiếptrong những năm 70 đều do giới quân sự tiến hành với mục đích là thiết lậpmột chế độ độc tài quân sự, chống lại các t tởng tự do dân chủ, đặc biệt là đàn
áp những ngời cộng sản, thi hành chính sách thân Mĩ, chống lại cách mạng
Đông Dơng Chính sách đối ngoại của Thái Lan dần bớc sang quỹ đạo của Mĩ.Tháng 10/1950, Mĩ - Thái kí hiệp định viện trợ kinh tế, kĩ thuật và hiệp địnhquân sự, tháng 9/1954 Thái Lan gia nhập khối phòng thủ Đông Nam á(SEATO) và Bộ chỉ huy quân sự của khối này đợc đặt tại Băng cốc do các t-ớng lĩnh cao cấp Thái Lan đứng đầu Nhờ đó mà viện trợ kinh tế của Mĩ choThái Lan không ngừng tăng lên Nếu trong thời gian từ năm 1950 đến năm
1956, tổng số tiền viện trợ của Mĩ là 104,6 triệu USD, thì từ năm 1957 đếnnăm 1965 là 294 triệu USD Đáng chú ý là sau năm 1965, khi Thái Lan thamgia chiến tranh xâm lợc Việt Nam thì số viện trợ của Mĩ càng tăng nhanh.Năm 1966 : 56 triệu USD, 1967 : 77 triệu USD, 1968 : 100 triệu USD, ngoài
ra Nhật Bản, Tây Đức và Anh cũng tăng viện trợ cho Thái Lan
Chiếc thọng lọng kinh tế và chính trị của Mĩ ngày càng thắt chặt, Chínhphủ t sản Thái không ngừng tiếp tay cho đế quốc Mĩ thực hiện kế hoạch xâmlợc Đông Dơng Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Thái Lan đã thực sự trởthành một căn cứ quân sự của Mĩ Trong thời gian này, kinh tế Thái Lan pháttriển nhanh do Mĩ tăng cờng viện trợ và do thu đợc nhiều lợi nhuận trong cácdịch vụ phục vụ quân đội Mĩ đóng ở đây Trải qua hai thập niên thực hiện
Trang 17chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội với 4 kế hoạch dài hạn : Kế hoạch 6 nămlần thứ nhất từ năm 1961 đến năm 1966 , kế hoạch 5 năm lần thứ hai từ năm
1967 đến năm 1971, kế hoạch 5 năm lần thứ ba từ năm 1971 đến năm 1976,
kế hoạch 5 năm lần thứ t từ năm 1977 đến năm 1981, nền kinh tế Thái Lan bắt
đầu phục hồi và công nghiệp hoá đất nớc Những năm 60, 70 của thế kỷ XXtổng sản phẩm nền kinh tế quốc dân Thái Lan tăng trung bình hàng năm 7%,thu nhập quốc dân tăng trung bình hàng năm là 8,6% Do thu nhập quốc dântăng lên nên tỉ lệ đầu t cố định (kể cả của Chính phủ) cũng tăng lên; năm 1957
là 13%, năm 1969 là 24% Nhờ đó, nguồn đầu t để phát triển kinh tế dần dầndựa vào nguồn thu nhập trong nớc là chủ yếu Cơ cấu kinh tế của Thái Lanchuyển từ cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang cơ cấu kinh tế nông - công nghiệp
Có thể nói, Thái Lan trong những năm 60 của thế kỷ XX đã trở thành một nớc
t bản chủ nghĩa thật sự Con đờng phát triển t bản chủ nghĩa của xã hội TháiLan trong 100 năm trớc đó (từ năm 1850 đến năm 1950) mới chỉ là một địnhhớng Nhng đến những năm 60 của thế kỷ XX, với sự phát triển của giai cấp tsản đã trở thành một lực lợng chính của xã hội thì con đờng t bản chủ nghĩa đã
định hình tuy còn ở trình độ thấp
Mặc dầu, chủ nghĩa t bản dần dần phát triển ở Thái Lan, nhng đến những năm
70 thế kỷ XX tỉ lệ dân c sống trong tình trạng nghèo khổ tuyệt đối vẫn ở mứccao nh Miền Bắc là 36%, Đông Bắc là 27%, Miền Nam 25%, Miền Trung -khu vực phát triển nhất trong nớc cũng tới 12% Sự bất bình đẳng về thu nhậplàm cho mâu thuẫn xã hội gay gắt, tạo thành mối đe doạ đối với sự ổn địnhchính trị Thái Lan
1.2.2.1 Cuộc ˝cách mạng sinh viên˝ năm 1973.
Sự phát triển Chủ nghĩa t bản ở Thái Lan không phải là một quá trìnhlịch sử tự nhiên thuần tuý, đi từ những vận động bên trong của xã hội và củanền kinh tế, mà là một quá trình có phần đợc "áp đặt" từ bên trên và từ bênngoài Chính vì thế, nền kinh tế Thái Lan bị phụ thuộc nhiều vào thị trờng thếgiới t bản Năm 1973, cuộc khủng hoảng dầu lửa đã làm cho nền kinh tế TháiLan bị rối loạn, một số ngành đình trệ, giá sinh hoạt lên cao Trong khi đó,chính sách chống cộng đợc Chính phủ Sarit thực hiện một cách triệt để hơnbất cứ chính phủ nào trớc đó Luật chống cộng ban hành ngay sau cuộc đảochính ngày 22/10/1958, quy định hành vi chống cộng với quy mô rộng lớnhơn Chủ nghĩa chống cộng đợc đa vào các sách giáo khoa ở các trờng học.Chính sách đối nội và đối ngoại của Thái Lan ngày càng làm cho tình hìnhkinh tế - xã hội trong nớc thêm căng thẳng, không khí chính trị luôn ở trongtình trạng nghẹt thở Chính sách phản động của chính quyền Thái Lan không
Trang 18chỉ thể hiện ở sự duy trì bộ máy quan liêu và củng cố nó, mà còn ở ngay cảtrong quá trình phát triển kinh tế T bản chủ nghĩa.
Sự phát triển chủ nghĩa t bản ở Thái Lan những năm 60 thế kỷ XX dới
sự thống trị của bộ máy quan liêu (chế độ độc tài quân sự) dẫn tới những mẫuthuẫn xã hội ngày càng sâu sắc Sự phân cực xã hội diễn ra một cách mạnh mẽ
ở nông thôn và thành thị với quy mô lớn Dới tác động của chính sách "pháttriển nông thôn" của chế độ độc tài quân sự, nông dân không có ruộng đất, đờisống trở nên bần cùng, khốn quẫn Đời sống nghèo khổ của nông dân theo báocáo của Ngân hàng Quốc tế năm 1968, thu nhập thực tế của nông dân đã giảm
đi trong 15 năm gần đây 1/3 số hộ nông dân tức 9 triệu ngời sống trong cảnhnghèo khổ tuyệt đối và hàng nghìn ngời khác sống gần với mức đó, trong khinhững nhóm xã hội khác thì lại trở nên cực kì giàu có [22, 18].Trong vòng cha
đầy 15 năm, thành phố Băng cốc thờng đợc gọi là "Vơnidơ của Phơng Đông"
đã biến dạng thành một thành phố "bạch tuộc", "một con quái vật 5 cha 7mẹ"
Sự phát triển mà đợc giới cầm quyền khuyến khích trong giai đoạn này
là cuộc chạy đua vô độ để kiếm những khoản lợi nhuận bất chính, đó khôngphải là sự phát triển đích thực Một nửa dân số sống dới mức nghèo khổ, nửatriệu ngời nghiện ma tuý, một nửa số trẻ em không đợc đến trờng, nạn dùngtrẻ em vào sản xuất ở các xí nghiệp phổ biến, tình trạng thất học của trẻ emngày càng gia tăng
Nạn thất nghiệp thật nghiêm trọng đã diễn ra trong năm 1977 (1,2 triệungời thất nghiệp).Thất nghiệp không chỉ diễn ra ở đội ngũ công nhân và dânlao động nghèo mà thất nghiệp còn diễn ra ở cả những ngời tốt nghiệp các tr-ờng đại học và kĩ thuật Năm 1973, 69% số ngời tốt nghiệp đại học và 70%những ngời tốt nghiệp các trờng kĩ thuật không tìm đợc việc làm sau khi tốtnghiệp đã 2 năm Mặc dầu vậy, vào những năm 60, 70 của thế kỷ XX một loạtcác trờng đại học liên tiếp đợc thành lập và đội ngũ sinh viên tăng lên nhanhchóng, đóng một vai trò chính trị nổi bật trong lịch sử hiện đại Thái Lan
Gắn liền với "chơng trình phát triển kinh tế", hệ thống giáo dục TháiLan có những thay đổi lớn từ đầu những năm 70 Đến giữa những năm 70, hệthống giáo dục Thái Lan gồm : Bậc tiểu học từ lớp 1 đến lớp 7; bậc Trung học
từ lớp 8 đến lớp 12 và bậc Đại học với thời hạn học từ 3 - 5 năm Về hìnhthức, bậc tiểu học đợc tuyên bố là bắt buộc, nhng trong thực tế, nhất là ở nôngthôn điều đó chỉ hạn chế ở lớp 1(dù sao cũng có khoảng 80% trẻ em trong độtuổi 7 - 13 đã tới trờng) Điều kiện học rất thiếu thốn : thiếu thầy giáo, thiếuSGK, thiếu phòng học Theo thống kê chính thức thì đầu những năm 70,
Trang 19khoảng 75% dân c mù chữ, đặc biệt trong 4 tỉnh giáp Lào, có tới 90 đên 95%nhân dân không biết đọc, biết viết Bậc trung học mới chỉ thu hút hơn 12%thiếu niên trong lứa tuổi từ 14 đến 18, vì muốn học trung học thì phải rời nôngthôn đến các thành phố mới có trờng Năm 1970, tổng số học sinh trung họcgần 90 vạn, trong đó con cái nông dân chỉ chiếm 20 đến 25% Một bộ phậnkhá lớn học sinh trung học (30 - 35%) theo học các trờng t.
Bậc đại học vào đầu những năm 70 thế kỷ XX gồm có 10 trờng đại họctổng hợp trực thuộc Uỷ ban chuyên trách trong văn phòng thủ tớng và một sốtrờng cao đẳng trực thuộc Bộ Giáo dục Ngoài ra, có 2 trờng cao đẳng phậtgiáo trực thuộc Ban tôn giáo, một học viện cảnh sát trực thuộc Bộ Nội vụ, 3học viện quân sự trực thuộc Bộ Quốc phòng Chơng trình và phơng pháp giảngdạy do Hội đồng giáo dục toàn quốc vạch ra (Hội đồng trực thuộc Văn phòngThủ tớng) Chính phủ Thái Lan tập trung vào bậc đại học, coi đó là nơi đào tạoquan chức, lực lợng của giới cầm quyền Đội ngũ sinh viên tăng lên nhanhchóng : từ năm 1950 đến năm 1971, trong khi dân số tăng gấp 2 lần thì độingũ sinh viên tăng lên gấp 4 lần, từ 23.000 sinh viên lên 100.000 sinh viên Đa
số sinh viên là con cái những gia đình thuộc các tầng lớp trên, cụ thể là : 54%
là lớp trên, 25% là con cái viên chức Chính phủ, 8% là con cái những ngời làmcông và nông dân là 7% Nh vậy là, sinh viên trong giai đoạn này không phảihoàn toàn là con em của tầng lớp thợng lu, tầng lớp lãnh đạo nh trớc đây
Đầu những năm 70, khi nền kinh tế Thái Lan đứng trớc những khó khănmới do ảnh hởng cuộc khủng hoảng năng lợng thế giới năm 1973 Thời kỳphồn vinh của nó đã chấm dứt, những mâu thuẫn xã hội đã phát triển đến mứccăng thẳng thì đời sống của sinh viên cũng chịu ảnh hởng của tình hình ấy.Một mặt, sinh viên lo sợ sau khi tốt nghiệp không tìm đợc việc làm thích hợp;mặt khác, những sự kiện chính trị trong nớc và trên thế giới, đặc biệt trongkhu vực Đông Nam á, mà nổi bật là sự xuống thang của Mĩ trong chiến tranhViệt Nam và cuối cùng là Mĩ phải rút quân đội viễn chinh ra khỏi Việt Namtheo Hiệp định Pari tháng 1/1973, đã làm cho tâm trạng sinh viên bất ổn vàbuộc họ phải suy nghĩ theo những chiều hớng mới
Dới chế độ độc tài, các cuộc đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ luôndiễn ra Trong những năm 60, đã có những tổ chức chủ trơng tiến hành đấutranh vũ trang chống nền độc tài quân sự nh : tổ chức "Mặt trận yêu nớc TháiLan" chủ trơng tiến hành đấu tranh vũ trang năm 1968, quân du kích đã nổidậy ở nhiều nơi, đặc biệt họ đã tấn công vào cả sân bay Uđontani (8-1968)
Từ những năm 70 của thế kỷ XX, sinh viên Thái Lan đã liên tiếp tiến hànhcuộc đấu tranh chính trị và cuộc đấu tranh đó đã lôi kéo các tầng lớp khác
Trang 20trong xã hội tham gia Các trờng đại học tổng hợp đã trở thành những nơi sôi
động về sinh hoạt t tởng và chính trị Những cuộc hội thảo bí mật đợc tổ chức,những bài viết bí mật đợc truyền tay nhau Đề tài bàn tán sôi nổi nhất là: chế
độ giáo dục lỗi thời, nạn quan liêu thống trị đời sống chính trị, những bất đồng
về pháp luật, vai trò của sinh viên trong xã hội Phong trào sinh viên khôngdừng lại ở đó, mà phong trào sinh viên đã phát triển có tổ chức khá chặt chẽ.Tháng 12/1969, Trung tâm sinh viên toàn quốc của Thái Lan (gọi tắt NSCT -National Student Center of ThaiLand) đợc thành lập, với mục đích phối hợphoạt động của sinh viên trong cả nớc và liên hệ với những tổ chức sinh viênquốc tế Cơ cấu của nó giống nh một “Chính phủ sinh viên thật sự", gồm 3 cơquan chấp chính: Ban chấp hành, Ban th ký, Ban tài chính Tình hình trở nênsôi động, vì quần chúng lên tiếng đòi "dân chủ" và chống nạn tham nhũngphát triển một cách mạnh mẽ cha từng thấy Năm 1972, có 55 cuộc đấu tranh,năm 1973 có 128 cuộc bãi công với sự tham gia 30.000 công nhân, viênchức
Phong trào đấu tranh đặc biệt lên cao vào năm 1973, với các cuộc đấutranh của sinh viên bùng lên ở nhiều trờng đại học Chiến dịch chống hànghoá Nhật và gửi điều trần đòi Chính phủ cấm ngời nớc ngoài can thiệp vào đờisống kinh tế trong nớc Giữa chính phủ và phong trào sinh viên diễn ra cuộcgiằng co, không ai chịu ai, kéo dài từ cuối tháng 5/1973 Đến giữa tháng6/1973, phong trào sinh viên chuyển sang tấn công chính phủ một cách mạnh
mẽ Hàng vạn sinh viên kéo đến quãng trờng nhà vua, hô vang khẩu hiệu đòilật đổ ngay chính phủ, lên án giới quân sự cớp chính quyền, đòi phải có mộthiến pháp mới Chính phủ cảnh cáo sinh viên và tuyên bố sẽ trừng trị kiênquyết Trớc thái độ của chính phủ, ngay lập tức, hơn 80 giáo viên các trờng
đại học công bố bức th ngõ gửi Văn phòng Thủ tớng bày tỏ sự ủng hộ đối vớisinh viên, còn sinh viên thì tiếp tục kéo đến quãng trờng càng đông hơn, bấtchấp sự ngăn cản quân đội và cảnh sát Trớc cuộc đấu tranh kiên quyết củasinh viên buộc chính phủ phải tiến hành cuộc họp khẩn cấp để giải quyếtnhững yêu sách của sinh viên, và kết cục chính phu đã chấp nhận những yêusách của sinh viên
Giành đợc thắng lợi bớc đầu, phong trào sinh viên càng phát triểnmạnh, uy tín ngày càng tăng lên và tiếp tục đa ra những yêu sách mới cao hơnnh: đòi bố trí việc làm cho sinh viên tốt nghiệp đại học, đòi đứng ra triệu tậpcuộc hội thảo của sinh viên châu á tại Băng cốc với đề tài "vai trò của sinhviên trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế dân tộc" và đòi mời đại biểu sinh
Trang 21viên các nớc XHCN, trong đó có đại biểu sinh viên Việt Nam đến dự hội thảo,nhng bị Chính phủ bác bỏ.
Tình hình chính trị căng thẳng đến cực độ khi Trung tâm sinh viên toànquốc đa yêu sách thành lập một Chính phủ đối lập (vào tháng 8/1973) Đếntháng10/1973, cơng lĩnh vấn đề Hiến pháp mới đợc công bố.Trớc sự phát triểnmạnh mẽ của phong trào sinh viên, Chính phủ đã ra tay đàn áp, sinh viênkhông khuất phục mà quyết định tẩy chay các lớp học và tập hợp đông đảo tạitrờng đại học Thammasat Thái đọ của sinh viên đợc dân chúng nhiệt liệt hởngứng Ngày 9/10/1973, Trung tâm sinh viên đa tối hậu th cho Chính phủ đòi thảvô điều kiện những sinh viên bị bắt, nếu không sẽ có "hành động quyết định".Ngày 13/10/1973, hết hạn tối hậu th, một cuộc biểu tình đông cha từng thấy ởThái Lan kéo đi tuần hành với sự tham gia của nửa triệu ngời Cuộc biểu tình
nh một cơn thuỷ triều lớn dâng lên giữa thủ đô Băng cốc Nhà vua đích thâncan thiệp, buộc Thanom phải thả những ngời bị bắt và hứa sẽ ban hành hiếnpháp mới, nhng sau đó, cảnh sát đã trở mặt khủng bố làm 72 ngời bị chết
Bất chấp những cảnh tợng đàn áp khủng khiếp, bất chấp những chiếctrực thăng quân sự bắn đạn xối xả, quần chúng đã chống trả quyết liệt Dớisức ép của quần chúng, nhà vua đã phải nhợng bộ, tổ chức bầu cử, thành lậpChính phủ mới Đến ngày 15/10/1973, 3 tên độc tài Thanom, Prapas vàNorong rời khỏi nớc, chế độ độc tài bị lật đổ
Cuộc "Cách mạng sinh viên" đã giành một thắng lợi cha từng thấy tronglịch sử Thái Lan Cuộc nổi dậy đầu tiên của quần chúng đã có sức mạnh lật đổ
đợc chế độ độc tài Lần đầu tiên, quần chúng có tiếng nói quyết định trên vũ
đài chính trị, nơi trớc đây chỉ dành riêng cho giới quan liêu từng thống trị xãhội Thái Lan hàng thế kỉ liền Sau thắng lợi này, Trung tâm sinh viên đa ramột chơng trình rộng lớn về "nền giáo dục dân chủ" nhằm làm cho quầnchúng có ý thức rõ về tình hình đất nớc Tháng 10/1976, các thế lực độc tàiquay trở lại phản công mục tiêu là trờng Đại học Thammasat làm 72 ngờichết, 200 ngời bị thơng Mặc dù, phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ bịkhủng bố nhng phái quân sự cũng đã phải nhợng bộ Sau sự kiện năm 1973,hoạt động của các Đảng phái trở nên sôi động hơn và giai đoạn từ năm 1973
đến năm 1976 đợc xem là giai đoạn "thử nghiệm dân chủ ở Thái Lan" Năm
1976, một Chính phủ liên hiệp quân đội - dân sự đợc dựng lên Năm 1977,Chính phủ này lại bị lật đổ và quyền lãnh đạo đất nớc lại thuộc về phe dân sự.Mặc dầu vậy trong nửa đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, giới quân sự còn tiếnhành thêm 5 cuộc đảo chính nhằm giành lại quyền lực của phái quân sự Cóthể nói, lịch sử chính trị Thái Lan là lịch sử của việc quân đội nắm quyền lãnh
Trang 22đạo đất nớc Từ năm 1932 đến năm 1978, ở Thái Lan xẩy ra 14 cuộc đảochính với sự ra đời của 12 bản hiến pháp khác nhau Nếu tính từ năm 1932 đếnnăm 1990, ở Thái Lan diễn ra 19 cuộc đảo chính quân sự thì 17 lần thay đổiThủ tớng Nền chính trị Thái luôn nằm trong tình trạng bất ổn, đảo chính xảy
ra liên miên
Cuộc "cách mạng sinh viên" năm 1973 đã xoa dịu bầu không khí căngthẳng tình hình chính trị - xã hội Thái Lan Điều đặc biệt, sau cuộc "Cáchmạng sinh viên"này bớc sang những thập kỉ 80 của thế kỷ XX, trớc những sức
ép của xã hội và những đòi hỏi của công cuộc phát triển đất nớc, Thái Lan đãtìm mọi cách thoát ra bằng những cải cách về chính trị, kinh tế - xã hội
- Về chính trị, Thái Lan từng bớc dân chủ hoá đời sống chính trị đất
n-ớc, tạo ra từng bớc để thực hiện cơ chế dân chủ Hiến pháp 1997 đã tạo điềukiện cho sự tham gia của công dân vào bộ máy chính trị, đồng thời hạn chế
ảnh hởng của các nhóm đặc quyền, đặc lợi, nhất là giới quân sự
- Về kinh tế từ những khó khăn của đất nớc đã làm cho Thái Lan tìmmột chiến lợc kinh tế mới, chiến lợc công nghiệp hoá hớng vào xuất khẩu Đểthực hiện chiến lợc này, Thái Lan đã chọn những ngành công nghiệp mà đấtnớc mình có lợi thế, chế biến thực phẩm, dệt, các nghề thủ công truyền thống,
đồng thời chủ trơng phát triển các ngành công nghiệp điện tử, hoá dầu, chế tạo
ô tô và một số ngành kĩ thuật cao khác Ngoài ra, nông nghiệp cũng đợc quantâm hàng đầu trong chiến lợc phát triển kinh tế Thái Lan đã ban bố luật đầu thấp dẫn, dành u đãi cho các nhà kinh doanh nớc ngoài
Nhờ chiến lợc phát triển kinh tế đúng đắn, nên Chính phủ Thái Lan đãthành công trong việc phục hồi nền kinh tế đất nớc Năm 1986, tỉ lệ tăng trởngkinh tế 7%, giá trị xuất khẩu tăng 39,5% so năm 1985 Lạm phát giảm từ11,6% xuống còn 2,8% Chơng trình phát triển nông thôn thu đợc những kếtquả to lớn Năm 1988 đợc đánh dấu nh là năm "cất cánh" của nền kinh tếThái Lan, tốc độ tăng trởng kinh tế đạt 13% Bớc vào thập kỉ 90 của thế kỷ
XX, tốc độ tăng trởng ổn định ở mức 7 đến 8%
Nh vậy, từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, Thái Lan đã từng bớc biến đổi
để trở thành một nớc có nền kinh tế nông - công nghiệp khá phát triển Songnhững khuyết tật trong hệ thống chính trị Thái cùng các nhân tố khác đã làmbùng nổ cơn khủng hoảng tài chính - tiền tệ năm 1997, làm cho nền kinh tế bịchao đảo Mặc dù, không khí ảm đạm của cuộc khủng hoảng tài chính vẫnbao trùm nhng Hiến pháp năm 1997 đã khẳng định quyết tâm của Thái Lan đa
đất nớc trở thành một nớc Công nghiệp mới (NIC) trong tơng lai Đến nay,kinh tế Thái Lan đang trên đà phục hồi và đang vơn lên hàng các quốc gia dẫn
Trang 23đầu quá trình phục hồi kinh tế châu á Tuy vậy, việc chuyển hớng phát triểnkinh tế vào đầu những năm 80 không đi với chuyển hớng giáo dục,do đó, hàngnghìn sinh viên tốt nghiệp ra trờng không có việc làm trong khi ở nhiều ngànhkinh tế lại thiếu lực lợng lao động có kĩ thuật Tất cả những điều đó tạo thànhsức ép xã hội buộc Chính phủ phải đổi đờng lối lãnh đạo và tiến hành mộtcuộc cải cách giáo dục.
1.2.2.2 Cải cách giáo dục
Nền kinh tế từng bớc ổn định và phát triển là cơ sở vững chắc để TháiLan thực hiện một cuộc cải cách giáo dục, nhằm hệ thống hoá toàn bộ nềngiáo dục quốc dân, nâng cao chơng trình và phơng pháp giảng dạy ở các trờngphổ thông, mở rộng giáo dục đại học Kể từ khi Hiến pháp năm 1932, đa rachơng trình giáo dục bắt buộc cho đến đầu những năm 80, thì nền giáo dụcThái Lan vẫn chỉ nhằm phục vụ cho việc đào tạo quan chức, chỉ có một tỉ lệrất nhỏ con cái tầng lớp dới đợc học lên trình độ đại học Bởi vậy, sự mất cân
đối trong việc sử dụng lao động có tay nghề phục vụ cho các ngành kinh tế là
điều không thể tránh khỏi Giáo dục đại học không đem lại hiệu quả phục vụcho việc phát triển đất nớc, còn giáo dục phổ thông đã trở nên bất cập trongtình hình mới
Trong khi đó, bớc sang những năm 80 của thế kỷ XX, thế giới bắt đầu
có những chuyển biến quan trọng Trong khi các nớc XHCN lâm vào suythoái kinh tế thì các nớc TBCN thoát khỏi khủng hoảng năng lợng năm 1973bằng những cuộc cải cách cơ cấu kinh tế Các trờng đại học đã bắt đầu nói đến
sự xuất hiện của làn sóng văn minh thứ ba và yêu cầu cải cách giáo dục đápứng với sự phát triển mới của nhân loại trong kỉ nguyên văn minh trí tuệ Yêucầu khách quan về việc tiến hành một cuộc cải cách giáo dục mang tính toàncầu ngày càng thể hiện rõ khi loài ngời bớc vào những năm cuối thế kỉ XX Sựphát triển nh vũ bão của khoa học công nghệ tác động mạnh mẽ, sâu sắc đếntình hình các nớc, các dân tộc và cuộc sống thờng ngày của con ngời Trongnhững chuyển biến đó, nổi bật là sự hình thành xã hội thông tin, kinh tế trithức và xu thế không cỡng lại đợc của toàn cầu hoá Những yếu tố đó đã tác
động đến giáo dục tạo ra một làn sóng mới đòi hỏi phải cải cách giáo dục phổbiến ở các nớc trên thế giới "Cha bao giờ cải cách giáo dục lại trở thành mộthiện tợng nổi bật mang tính toàn cầu nh hiện nay, cùng vì cha bao giờ giáodục lại trở thành vấn đề nổi bật mang tính toàn cầu nh bây giờ" [ 3, 8]
Xuất phát từ thực tiễn đất nớc và xu thế phát triển khách quan trênthế giới, Thái Lan cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó Cải cách giáo dục làbiện pháp hữu hiệu cho việc hiện đại hoá đất nớc Cũng nh các nớc khác, Thái
Trang 24Lan chịu ảnh hởng mạnh mẽ những nội dung của đổi mới giáo dục, với trọngtâm: giáo dục đại chúng thay thế cho giáo dục tinh hoa, quyết tâm hình thànhcác phẩm chất và năng lực, phát triển cá tính bản sắc của ngời học Đồng thời,trao quyền tự chủ cho địa phơng, trờng học, giáo viên, học sinh quyết định vậndụng linh hoạt tri thức vào phát triển cộng đồng, quốc gia, toàn cầu Đầu tmạnh ngân sách quốc gia cho giáo dục, giúp học sinh tiếp cận với nhữngthành tựu hiện đại của khoa học công nghệ.
Trớc những yêu cầu của đất nớc và sự phát triển trên thế giới, đòi hỏicải cách giáo dục phải tiến hành một cách có cơ sở khoa học vững vàng, đồng
bộ, sâu sắc và toàn diện Cải cách giáo dục đòi hỏi phải biến đổi toàn bộ hoặchầu hết các thành tố của giáo dục: mục tiêu, nội dung, phơng pháp, hệ thốnggiáo dục và thể chế giáo dục, sao cho phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị -xã hội, với yêu cầu đa dạng và phong phú của ngời học Trên cơ sở đó, TháiLan đã bắt nhịp đợc với xu thế cải cách giáo dục trên thế giới, thực hiện cảicách giáo dục ở nớc mình, nhằm xây dựng một nền giáo dục dân chủ và hiện
đại hơn Nhờ đó, Thái Lan đã đạt đợc những thành tựu rực rỡ trong lĩnh vựcgiáo dục kể từ cuối thập kỉ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX và hiện nay nềngiáo dục Thái Lan có những bớc tiến vợt bậc, thu hút du học sinh của các nớc
Đông Nam á sang học tập và nghiên cứu, trong đó có Việt Nam
Trang 25Chơng 2
giáo dục thái lan sau cuộc
“cách mạng sinh viên” (1973) đến năm 2005
2.1 Chi phí và tài chính cho giáo dục
2.1.1 Quan niệm về ngời giáo viên
Thái Lan rất coi trọng truyền thống tôn s trọng đạo Trớc đây, các trờnghọc của Thái Lan thuộc sự quản lý của nhà chùa, nhà s đồng thời cũng là nhàgiáo Song do ảnh hởng của phơng Tây, nhà trờng dần tách ra khỏi nhà chùa.Thái Lan đã thay đổi không chỉ trong kinh tế - xã hội mà cả về giáo dục Nghềdạy học bị coi là kém cõi do đồng lơng quá ít ỏi, địa vị ngời thầy không đợccoi trọng nh xa Trớc tình hình đó, nhằm đảm bảo cho việc phát triển giáodục, nâng cao chất lợng đào tạo học sinh, Thái Lan chủ trơng phải có quanniệm đúng về ngời giáo viên
- Nhiệm vụ của giáo viên:
Trớc hết, ngời giáo viên phải biết kết hợp truyền thống của phơng Đôngvới ảnh hởng của phơng Tây Giáo viên phải là ngời nắm vững kiến thứcchuyên môn, chuyên tâm vào việc dạy học và quan tâm đến xã hội để dạy họckhông xa rời thực tế Trách nhiệm của giáo viên rất to lớn, đó là sự vun trồngcho đất nớc những con ngời không lầm lạc, tránh xa điều xấu, biết nhận ranhững giá trị chân chính của nhân loại Giáo viên phải yêu mến, hiểu biết vàthông cảm với học sinh, giúp đỡ, hớng cho trẻ biết tự đấu tranh với bản thân vìcái đẹp, cái tốt và vì sự thật, phải chú ý đến trẻ học yếu, luôn động viên giúp
đỡ chúng Giáo viên không chỉ nhớ nội dung môn học mà cần nhớ đến từnghọc sinh, càng quan tâm đến trẻ bao nhiêu thì hiệu quả giáo dục của giáo viêncàng tốt bấy nhiêu
Trong giảng dạy, giáo viên không chỉ là ngời truyền thụ kiến thức chotrẻ mà cần phải học tập chúng và tìm cách thực hiện nhiệm vụ của mình trọnvẹn, hoàn hảo Do vậy, hàng năm giáo viên cần phải bồi dỡng thêm kiến thức
và soạn lại giáo án để nâng cao trình độ Những điểm mà giáo viên cần chú ýkhi dạy học sinh:
1- Cho biết những điều cha biết
2- Cho thấy những điều cha hiểu
3- Giải thích, giảng giải để giải toả những nghi ngờ của trẻ
4- Dẫn dắt trẻ vào con đờng đúng
Nội dung cuối đợc đặc biệt lu ý
- T cách, đạo đức giáo viên:
Trang 26ở giáo viên phải có đạo lí của Phật giáo và t cách đạo đức của ngờicông dân, giáo viên cần phải phấn đấu để xứng đáng với trách nhiệm củamình: để chăm sóc, dạy dỗ trẻ trở thành ngời tốt, trớc hết giáo viên phải là ng-
ời tốt Giáo viên cần có sức mạnh tinh thần, lời nói sâu sắc; lúc nào nênnghiêm khắc và lúc nào nên mềm mỏng với học sinh Sẵn sàng tranh luận vớihọc sinh, không nóng nảy và luôn có lòng nhân ái, sự công bằng Với chứcnăng dạy chữ, dạy ngời, giáo dục Thái Lan cần ở ngời giáo viên phẩm chấtbiết quan tâm đến môi trờng xã hội, đạo lí và môi trờng thiên nhiên quanhmình Giáo viên phải là mối liên hệ giữa nhà trờng và xã hội; giữa lớp ngời trẻtuổi và lớp ngời lớn tuổi Giáo viên phải biết làm cho học sinh quan tâm đếnxã hội, đến những ngời nghèo khổ và giúp đỡ họ về vật chất, tinh thần, hớngthiện và quan hệ tốt trong cộng đồng, biết suy nghĩ đến những vấn đề củanhân loại, đặc biệt là điều hay lẽ phải, không tham lam, không ghen ghét, sobì với ngời khác Dạy cho học sinh có ý chí vơn lên, làm ngời có ích cho xãhội Đó là yêu cầu lớn nhất mà ngời giáo viên Thái Lan cần đạt đợc
2.1.2 Chi phí và tài chính cho giáo dục ở Thái Lan
ở Thái Lan, năm tài chính bắt đầu từ 1/10 và kết thúc vào 30/9 nămsau Nguồn tài chính cho giáo dục có thể phân thành 5 loại là: Ngân sách củaChính phủ, ngân sách của địa phơng, phi Chính phủ, vay nợ nớc ngoài và hỗtrợ kĩ thuật, những tài trợ khác của t nhân
- Ngân sách của Chính phủ là nguồn tài chính chủ yếu dành cho phát
triển giáo dục ở Thái Lan Trung bình từ năm1987đến năm1997, tổng chi tiêucủa chính phủ cho giáo dục bằng 3,16% so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP)hoặc chiếm 18,64% so với tổng chi ngân sách chính phủ
Tổng chi cho giáo dục tăng từ 42.888 triệu baht năm 1987 lên tới216.318 triệu baht năm 1997 Phần chi phí cho giáo dục trong ngân sách củaChính phủ là 18,85% năm 1987 và tăng tới 22% năm 1997.Và từ năm 1991chi phí cho giáo dục đã chiếm một tỉ lệ lớn nhất trong tổng chi phí công cộngcủa Chính phủ Chi phí công cộng phân chia cho các lĩnh vực trong năm tàichính 1997 nh sau: Giáo dục 22%, dịch vụ xã hội 15,4%, quốc phòng 12,2%,quản lý nhà nớc 11,7%, giao thông và viễn thông 10,0%, nông nghiệp 8,6%,sức khoẻ cộng đồng 7,7%, trả nợ nớc ngoài 4,8%, an ninh trật tự 4,5%, khoahọc - công nghệ và môi trờng 2,0%, thơng mại và du lịch 0,7%, công nghiệp
và mỏ 0,3%
Từ năm 1987 hơn một nửa ngân sách của Chính phủ dành cho giáo dục
đã đợc phân bổ cho giáo dục trớc tuổi đến trờng và giáo dục tiểu học Năm
1987 là 58,84%, đến năm 1997 giảm xuống còn 50,4% Phần chi cho giáo dục
Trang 27đại học và giáo dục phi chính quy đã tăng đáng kể giữa năm 1987 và năm
1997, còn phần chi cho giáo dục trung học, giáo dục nghề, giáo dục s phạmkhông thay đổi bao nhiêu Tỉ lệ phân bổ ngân sách giáo dục theo cấp bậc: giáodục phi chính quy 2,81%, giáo dục trung học phổ thông 16,49%, giáo dục tiểuhọc và giáo dục trớc tuổi đến trờng 50,4%, hỗ trợ cho giáo dục khác 5,05%
- Ngân sách địa phơng: Các chính quyền địa phơng cũng phân bổ ngân
sách địa phơng cho giáo dục ngoài phần ngân sách của chính phủ giành chogiáo dục ở địa phơng họ Theo cơ quan quản lý hành chính vùng đô thịBangkok (BMA) thì tổng ngân sách giáo dục đã tăng từ 1.875,6 triệu baht năm
1991 tới 4.052,8 triệu baht năm 1997 Phần ngân sách này chủ yếu do chínhphủ cung cấp và đó là nguồn tài chính chủ yếu chi cho giáo dục của BMA Từnăm 1991 đến năm 1997, phần cung cấp của chính phủ dao động trong khoảng73,7% và 77,0% Tổng ngân sách của địa phơng chi cho giáo dục năm 1997 là932,8 triệu baht chiếm khoảng 23% so với tổng ngân sách cho giáo dục Mặc
dù, ngân sách giáo dục của BMA tăng từ 527,1 triệu baht năm 1992 đến 810,6triệu baht năm 1996, nhng về tỷ lệ chi phí cho giáo dục tổng chi phí của BMAthì lại giảm đi từ 5,1% năm 1992 xuống 4,0% năm 1996 và phần giành chogiáo dục là phần nhỏ nhất trong tổng chi phí ngân sách của BMA
Cũng tơng tự nh vùng Bangkok, các tỉnh, thành phố khác, tài chính chogiáo dục chủ yếu và từ nguồn ngân sách của chính phủ Sự hỗ trợ của chínhphủ cho giáo dục của các địa phơng tăng từ 2.693,7 triệu baht năm 1994 lên4.153 triệu baht năm 1997 Phần lớn nhất hỗ trợ của Chính phủ cho địa phơng
là cho giáo dục mầm non và giáo dục tiểu học
- Ngân sách phi chính phủ, gồm có:
* Học phí: Nguồn thu nhập khác của giáo dục là từ học phí do các gia
đình phải đóng góp học phí đã trở thành thu nhập của các cơ sở giáo dục, nó
đợc sử dụng để bổ sung vào ngân sách chính phủ Tuy nhiên, có sự khác nhaulớn về học phí giữa trờng công và trờng t và giữa các bậc học của trờng công.Chẳng hạn, học phí của học sinh trung học cơ sở là 3,9% và phổ thông trunghọc là 6,8% trong tổng số chi phí cho một học sinh Sinh viên trong các trờng
đại học công phải trả chi phí cho việc học tập thấp nhất so với các sinh viênkhác Kết quả là cần phải tăng học phí, đặc biẹt là của các sinh viên đại học
để phản ánh thực tế chi phí cho giáo dục Mặc dù, khan hiếm về các nguồnkinh phí, nhất là ở bậc trung học và đại học, nhng giáo dục Thái Lan vẫn pháttriển nhanh chóng Từ năm 1996, Chính phủ Thái Lan đã thực hiện chơngtrình tín dụng cho sinh viên vay nhằm tạo cơ hội học tập cho sinh viên ở cácgia đình có thu nhập thấp và những sinh viên cha tốt nghiệp
Trang 28* Quà tặng: Quà tặng của cá nhân hay của cộng đồng cho giáo dục ởThái Lan gồm nhiều loại, bằng cả tiền và hiện vật Giá trị của các loại quàtặng hàng năm là thấp so với các nguồn kinh phí khác cho giáo dục.
* Các nguồn khác: Ngoài nguồn thu từ ngân sách Chính phủ và cáckhoản thu ngoài ngân sách Chính phủ nh học phí và quà tặng, còn có cácnguồn thu của các cơ sở giáo dục chẳng hạn nh nguồn thu nhập từ các hoạt
động nghiên cứu, sản xuất của sinh viên và thu từ sở hữu tài sản
- Vay nợ nớc ngoài và sự hỗ trợ kĩ thuật:
Vay nợ nớc ngoài để phát triển giáo dục ở Thái Lan là từ ngân sách thếgiới (WB), Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA), Ngân hàng phát triển châu á(ADB), và quỹ hợp tác kinh tế Hải ngoại (OECF) Còn hỗ trợ kĩ thuật đợc hìnhthành từ nhiều nguồn khác nhau, chẳng hạn dịch vụ của các chuyên gia, họcbổng, trang thiết bị, tài trợ Tuy nhiên, số vay nợ nớc ngoài để phát triển giáodục bắt đầu giảm dần khi Chính phủ hạn chế việc vay nợ nớc ngoài Sự hỗ trợ
kĩ thuật từ nớc ngoài cũng giảm dần khi nền kinh tế Thái Lan trở thành một
n-ớc công nghiệp mới
- Tài chính cho giáo dục từ khu vực t nhân:
Hầu hết các trờng t hiện nay là thuộc sở hữu của t nhân, chỉ một số rất ítcác trờng là do tôn giáo sở hữu Uỷ ban Giáo dục t nhân đợc uỷ quyền đểkiểm soát và hỗ trợ cho các trờng t ở Thái Lan
Có hai loại trờng t thục: Thứ nhất là các loại trờng t tổng hợp bao gồm
từ mẫu giáo tới tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học Loại thứ hai là cácdạng trờng dạy nghề và cao đẳng nghề t nhân
Bộ Giáo dục cũng phân loại các trờng t thành hai loại nh sau: Những ờng t không đợc trợ cấp của chính phủ, đó là những trờng có nhiều thuận lợi
tr-và có thể tự trang trải mọi chi phí hoạt động Chính phủ hầu nh không trợ cấpbất cứ một khoản nào, vì vậy chính phủ cũng không kiểm soát mức học phítrên đối với các loại trờng này, đây là việc hoàn toàn do nhà trờng tự quyết
Trang 29Trợ cấp hàng năm mà Chính phủ dành cho các trờng t đã tăng từ 366,7 triệubaht năm 1987 lên 3.602,8 triệu baht năm 1997 Các trờng t có vai trò rất quantrọng đối với giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học, trung học phổ thông, giảmgánh nặng về tài chính cho giáo dục của Chính phủ Nhng hiện nay, số học sinh ởcác trờng t của giáo dục mầm non và giáo dục trung học phổ thông lại giảm đáng
kể, trong khi đó số sinh viên đại học t lại tăng lên nhanh Sự thu hẹp lại vai trò củagiáo dục t là do học phí ở các trờng t cao và sự phát triển nhanh các trờng công ởcả thành thị và nông thôn
Đối với giáo dục đại học, sự phát triển nhanh chóng của đại học t là do nhucầu đòi hỏi của xã hội đối với cấp học này trong khi đó các cơ sở giáo dục đạihọc công chỉ thu hút đợc số lợng sinh viên rất ít, mặc dù các cơ sở đại học t họcphí cao hơn rất nhiều so với đại học công Đây là vấn đề cốt lõi để chính phủkhuyến khích tài trợ thêm cho các cơ sở t nhằm tăng vai trò của khu vực t nhân
đầu t cho giáo dục và giảm gánh nặng của chính phủ về nguồn tài chính
Tóm lại, nguồn tài chính cho giáo dục ở Thái Lan chủ yếu là từ nguồn ngânsách của chính phủ, nó chiếm khoảng 20% tổng chi phí công cộng của Chính phủ
và là phần chi lớn nhất trong năm 1997 Cần chú ý rằng các địa phơng chỉ hỗ trợmột phần nhỏ nguồn ngân sách của địa phơng cho giáo dục, các nguồn khác chiphí cho giáo dục là học phí, quà tặng, thu nhập của các cơ sở giáo dục, vay nợ nớcngoài và hỗ trợ kĩ thuật Ngoài ra, khu vực t nhân cũng đóng góp vào đầu t nguồntài chính cho giáo dục của Thái Lan
So với các nớc trong khu vực Đông Nam á, Thái Lan là nớc có tỷ lệ phầntrăm chi phí cho giáo dục thuộc vào hàng nớc cao nhất Điều này đợc thể hiệntrong bảng số liệu sau:
Trang 30Chi phí cho giáo dục tính theo % tổng chi phí cho các ngành của Chính phủ ở các nớc Đông Nam á
đã tăng đến 22,2%
2.2 Các loại hình đào tạo giáo dục ở Thái Lan
2.2.1 Giáo dục chính quy
Kế hoạch giáo dục chính thức đầu tiên đợc công bố năm 1932 Theo kếhoạch này, chơng trình giáo dục cơ bản gồm 4 năm và giáo dục cấp II gồm 8năm Hệ thống này sau đó đợc cải cách vào năm 1936, trong đó có 5 cấp học
đợc hình thành: Mẫu giáo, tiểu học, trung học, dự bị đại học và giáo dục cấpcao Kế hoạch giáo dục công bố năm 1951 chú ý tới việc tạo điều kiện chogiáo dục đặc biệt và giáo dục cho ngời lớn
Nh một phần trọng tâm trong việc phát triển giáo dục, từ năm 1960,mục tiêu chính của hệ thống giáo dục là phát triển cân đối với những kế hoạchkinh tế và chính trị.Trong thời gian này, chính quyền phải đơng đầu với tìnhtrạng thất học lan tràn và với nhiệm vụ nặng nề là đào tạo giới trẻ trong thờigian ngắn nhất để đáp ứng cho tiến trình phát triển năng động của xã hội Gần
đây, nhà nớc Thái Lan đã sửa đổi bổ sung vào chơng trình những môn thêm kĩnăng đặc biệt do công nghiệp đòi hỏi nh khoa học máy tính, kĩ thuật môi trờng
và những phân ngành mới của y khoa
Năm 1977, kế hoạch giáo dục đề ra cỡng bách giáo dục cho 6 năm cấptiểu học, đồng thời yêu cầu 3 năm trung học cơ sở đối với những ngời muốnhọc một số nghề đặc biệt và thêm 3 năm trung học phổ thông đối với nhữnghọc sinh muốn theo học ở cấp cao hơn hoặc vào Đại học Hệ thống này đợcthực hiện từ năm 1978 và áp dụng cải cách theo kiểu cuốn chiếu cho đến khigiáp vòng vào năm 1983
Trang 31Hệ thống giáo dục hiện nay ở Thái Lan áp dụng cho lối học chính quybao gồm 4 cấp: 1 hoặc 2 năm ở cấp mẫu giáo, 6 năm bắt buộc ở cấp tiểu học,
6 năm ở cấp trung học gồm 3 năm trung học cơ sở và 3 năm trung học phổthông, và giáo dục sau trung học
Những nỗ lực để nâng chuẩn mực toàn diện hầu hết đáp ứng cho nhucầu phát triển về công nghệ và các phơng pháp nông nghiệp tiên tiến đã dẫn
đến việc kéo dài giai đoạn giáo dục cơ bản từ 6 năm lên 9 năm, trong đó có 6năm cấp tiểu học và 3 năm cấp trung học cơ sở đối với các khu vực nông thôn
để hình thành một cơ sở rộng rãi cho việc đào tạo và tuyển dụng nhân lựctrong tơng lai Đây cũng là một trong những biện pháp nhằm đào tạo nguồnnhân lực, nhân viên kĩ thuật lành nghề phục vụ cho nền kinh tế đang phát triểncủa Thái Lan
2.2.2 Giáo dục không chính quy
Giáo dục không chính quy trong đó có giáo dục cho ngời lớn, đã đợchình thành ở Thái Lan từ năm 1940 trong một nỗ lực nhằm cung cấp kiến thứccho những ngời bị bỏ lỡ cơ hội học tập trong nhà trờng Đó là một phần khôngthể thiếu trong hệ thống giáo dục hiện hành nhằm bổ sung cho hệ thống giáodục chính quy Chơng trình giáo dục dạng này đã phổ biến trong cả nớc vớitrọng tâm là giáo dục kiến thức cơ bản, tin tức, kiến thức về thông tin vànhững kĩ năng nghề nghiệp
Hiện nay, trong cả nớc có hơn 500 th viện, hầu hết trong số này có dịch
vụ lu động để phục vụ cho các vùng nông thôn Những loại tài liệu thực tiễn
đ-ợc đa đến trên 30.000 trung tâm đọc sách của làng, do Uỷ ban Nhân dân ởnhững làng đó thành lập
ở Thái Lan có ít nhất 38 bảo tàng quốc gia để dân chúng đến thamkhảo lấy thông tin
Năm 1993, Vụ Giáo dục không chính quy đã thành lập trung tâm giáodục từ xa để hoạch định và quản lý dự án giáo dục từ xa qua vệ tinh Giai đoạnthử nghiệm của dự án này kéo dài từ năm 1994 đến năm 1998 Trung tâm đãphối hợp với các cơ quan trong cả nhà nớc lẫn t nhân có liên quan để quản lýviệc giáo dục từ xa bằng ti vi, qua hệ thống truyền dẫn của vệ tinh và qua việctriển khai những phơng tiện đa truyền thông nh giáo trình tự học, các loại giáo
cụ, các chơng trình truyền hình, truyền thanh, các loại băng video, cassette
Ngoài ra, các dịch vụ đào tạo đặc biệt cũng đợc triển khai để phục vụcho những ngời gặp khó khăn ở thành thị và nông thôn, những ngời mới đilàm, những ngời thất nghiệp và một số đối tợng nh những ngời bị kết án tù,ngời vô gia c, những nạn nhân bị lợi dụng trong mua bán tình dục Đây là
Trang 32những nhóm ngời cần có một số kĩ năng để kiếm sống và đóng góp tích cựccho xã hội.
Với loại hình giáo dục không chính quy, đã hỗ trợ phần nào cho việcthực hiện phổ biến giáo dục bắt buộc đối với mọi tầng lớp nhân dân trong xãhội Thái Lan Nó nhằm khuyến khích mọi ngời tham gia học tập, tìm tòi vàứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, nâng cao trình độ học vấn cho xã hộiThái Lan
2.2.3 Giáo dục hớng nghiệp
Với sự nhận thức về nhu cầu làm cho hệ thống giáo dục thích nghi với
sự phát triển và yêu cầu lao động của đất nớc, ở Thái Lan việc giáo dục và đàotạo hớng nghiệp đã đợc quan tâm đặc biệt, nhiều khoá học và chơng trình đàotạo đã đợc thực hiện và quản lý bởi Vụ Giáo dục hớng nghiệp và Viện côngnghệ và giáo dục hớng nghiệp
Có tất cả 8 chơng trình cho các cấp độ khác nhau để thích ứng với vốnliếng học vấn sẵn có của từng học sinh, từ cấp độ kĩ năng sơ đẳng dành chonhững học sinh đã học hết trung học cơ sở đến cấp độ của chơng trình s phạm
kĩ thuật dành cho những ngời có chứng chỉ kĩ thuật cao đẳng, với thành tíchhọc tập tốt và muốn trở thành những giáo viên kĩ thuật tại các trờng cao đẳng
và các trung tâm đào tạo hớng nghiệp
Ngành giáo dục s phạm đã trải qua nhiều thay đổi từ năm 1892, khi ờng s phạm đầu tiên đợc thành lập nhằm đào tạo những giáo viên sơ cấp, đếnnăm 1960 hàng loạt những đơn vị s phạm ra đời để đáp ứng nhu cầu bức thiết
tr-về giáo viên Nghành s phạm mở rộng do thúc đẩy bởi ba nhân tố chính: việc
mở rộng phạm vi cỡng bách giáo dục, sự gia tăng dân số và sự gia tăng phổcập giáo dục cấp trung học trong nhân dân Sự quan tâm đến việc mở rộngngành s phạm hiển nhiên là dẫn đến sự gia tăng đột biến về giáo viên Tuynhiên, buổi đầu sự gia tăng về giáo viên chỉ tập trung vào số lợng nhiều hơn làvào chất lợng Sau đó, chơng trình s phạm Kurudayada là một trong những dự
án đổi mới đợc thiết kế nhằm nâng cấp bộ mặt của ngành s phạm và đẩy mạnh
sự phát về chất lợng của giáo viên Chơng trình này đặt trọng tâm vào quátrình xét tuyển nghiêm ngặt đối với giáo sinh s phạm Những ứng cử viên cótâm huyết với sự nghiệp s phạm và muốn đăng ký vào chơng trình này phải
đạt tối thiểu điểm ba (theo thang điểm của Thái Lan) ở cấp trung học và phảitham gia tích cực vào các hoạt động giáo dục do Văn phòng Hội đồng giáodục quốc gia tổ chức
Với những quy định chặt chẽ trong chơng trình s phạm Kurudayada,cho nên hàng loạt trờng đào tạo giáo viên trong toàn quốc đã tập trung đợc
Trang 33một đội ngũ giáo viên có trình độ học vấn ở cấp cao cho ngành giáo dục sphạm Thái Lan từ những thập niên 70 của thế kỉ XX đến nay Các thế hệ giáoviên ở Thái Lan ngày càng đợc tiếp cận với tri thức khoa học công nghệ, cóchất lợng chuyên môn.
2.2.4 Giáo dục đặc biệt
Giáo dục đặc biệt là loại hình giáo dục dành cho tất cả những trẻ emthuộc diện thiểu năng và tật nguyền, trong đó có những trẻ mù, điếc và chậmphát triển tinh thần Giáo dục phúc lợi nhằm vào đối tợng tật nguyền về mặtvăn hoá và xã hội, chẳng hạn nh trẻ em của các bộ tộc, các khu nhà ổ chuột vàcon em trong những gia đình mắc bệnh hủi Để đảm bảo cho những trẻ em đó
có đợc cơ hội bình đẳng về giáo dục và nội dung giáo dục phù hợp với nănglực của chúng, những trờng đặc biệt và những trờng phúc lợi với chơng trình
và phơng tiện giáo dục đặc biệt đã đợc thành lập khắp trong nớc
2.2.5 Giáo dục cấp cao
Giáo dục cấp cao là mối quan tâm chính của bộ Đại học - cơ quan điềuphối hoạt động của các trờng đại học và cao đẳng công lập và t thục trong nớc.Giáo dục ở cấp độ này nhằm vào những học sinh đã tốt nghiệp trung học cónguyện vọng tiếp tục sự nghiệp học vấn của họ
Hầu hết các trờng t thục thực hiện một chơng trình nặng về khoa học tựnhiên và công nghệ Những trờng này mở ra nhằm đáp ứng nhu cầu ngày mộtgia tăng của số lợng đông đảo những học sinh tốt nghiệp trung học và đáp ứngcho nhu cầu của một nền công nghệ tiên tiến
Việc đăng ký vào các trờng đại học của nhà nớc phải qua một kì thituyển sinh hàng năm vào tháng t do Bộ đại học tổ chức Sau khi trúng tuyển,thí sinh phải trải qua đợt kiểm tra thể lực và phỏng vấn của trờng đại học và đ-
ợc chọn đăng ký không quá 4 ngành học
Hiện nay, ở Thái Lan có trên 20 trờng đại học và học viện công lập vàkhoảng 50 trờng đại học t thục đào tạo sinh viên với các bằng cấp từ cử nhântrở lên Trờng đại học đầu tiên là Chulalongkon đợc thành lập năm 1917 Theo
kế hoạch của nhà nớc tránh việc tập trung các trờng đại học vào một khuvực,mà các trờng đại học phải đợc đặt tại những trung tâm của các địa phơngtrong khắp cả nớc Trong số các trờng đại học ở Thái Lan, thì có 3 trờng đạihọc đó là: trờng đại học Chiang Mai ở vùng phía Bắc, trờng đại học Khonkaen
ở vùng Đông Bắc, trờng đại học Hoàng tử Songkla ở phía Nam là những trờng
đại học có các chơng trình đào tạo đa dạng ở cấp đại học và sau đại học, bao