1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu giai cấp nông dân và phong trào nông dân trung quốc thời cổ trung đại

58 1,1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu giai cấp nông dân và phong trào nông dân Trung Quốc thời cổ - trung đại
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc
Người hướng dẫn Thạc sĩ Phan Hoàng Minh - GVC - Khoa Lịch Sử
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 183,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chọn đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu giai cấp nông dân và phong trào nông dân Trung Quốc thời cổ - trung đại” làm khoá luận tốt nghiệp đại học.Với khả năng còn hạn chế, nghiên cứu đề tài nà

Trang 1

Lời cảm ơn

Để hoàn thành tốt đề tài khoá luận tốt nghiệp này, tôi đã nhận đợc sự hớngdẫn nhiệt tình của thầy giáo, Thạc sĩ Phan Hoàng Minh - GVC - Khoa lịch sử cùngcác thầy cô giáo trong khoa Qua đây cho cho tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, tớinhững ngời thầy đã mẫu mực nghiêm khắc, dành cho tôi sự chỉ bảo ân cần và lòngnhân ái, giúp chúng tôi hoàn thành tốt đề tài này

Vì thời và nguồn t liệu có hạn, bản thân mới bớc đầu làm quen với công tácnghiên cứu khoa học, nên đề tài có nhiều sai sót, kính mong đợc sự chỉ bảo của cácthầy cô và bạn bè

Trung Quốc là một trong những quốc gia có lịch sử lâu đời nhất trên thế giới,

là nơi cất dấu nền văn minh tối cổ của loài ngời Văn minh Trung Quốc phát triểncách đây khoảng 4000 năm trên lu vực hai con sông Hoàng Hà và Trờng Giang.Khác với văn minh Ai Cập bùng lên rồi tắt, văn minh Trung Quốc có sức sống bền

bỉ chiếu sáng đến tận thế kỷ XIX Trung Quốc còn là nơi đã từng diễn ra quá trìnhphát triển liên tục từ vợn ngời thành ngời hiện đại cho đến ngày nay

Trang 2

Trong quá trình phát triển lịch sử xã hội, nông dân Trung Quốc luôn giữ vaitrò quan trọng trong nền sản xuất kinh tế, là ngời làm ra sản phẩm nuôi sống toànxã hội Đông đảo nông dân công xã thời cổ đại, tầng lớp nông nô thời trung đại vàgiai cấp nông dân thời hiện đại luôn là lực lợng sản xuất chủ yếu của xã hội TrungQuốc Thế nhng trong xã hội có giai cấp đối kháng, giai cấp nông dân luôn là đối t-ợng bóc lột chủ yếu của giai cấp thống trị với nhiều hình thức nh cống nộp, tô thuế,lao dịch, binh dịch nặng nề Thời cổ đại, nông dân công xã bị bọn quý tộc chủ nôthống trị bóc lột, thời trung đại, nông dân Trung Quốc bị quan lại, quý tộc phongkiến áp bức, đè nén nặng nề, tàn bạo dã man Từ khi cách mạng dân tộc dân chủTrung Quốc thành công, nông dân lao động đợc giải phóng cuộc sống của nông dânngày càng đợc cải thiện, song so với đời sống của c dân thành thị thì vẫn còn nhiềuhạn chế, nhiều bất cập và nhiều vấn đề bức xúc đang cần đợc quan tâm giải quyết.

Ngày nay Trung Quốc là nớc đông dân nhất thế giới, trong đó nông dânchiếm tỷ lệ cao Nhờ có những chính sách đúng đắn của Đảng cộng sản và Nhà nớcTrung Quốc, sức lao động sáng tạo của nông dân đợc khơi dậy và phát huy mạnh

mẽ, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nớc làm cho TrungQuốc đạt nhịp độ tăng trởng kinh tế cao nhất thế giới hiện nay và đạt nhiều thànhtựu to lớn trên lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trung Quốc là nớc làng giềng gần gũi “núi liền núi, sông liền sông” có mốiquan hệ lịch sử lâu đời với Việt Nam Hiện nay Đảng Nhà nớc và nhân dân hai nớcViệt Nam – Trung Quốc đang ra sức củng cố, duy trì, phát triển những mối quan

hệ tốt đẹp truyền thống trên nhiều lĩnh vực nhằm xây đắp tình cảm láng giềng thânthiện, đoàn kết hữu nghị, tôn trọng lẫn nhau lâu dài, cùng có lợi giữa hai nớc

Trong hoàn cảnh đó việc tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử Trung Quốc nói chung

và các vấn đề về giai cấp nông dân Trung Quốc nói riêng là một vấn đề cần thiết vàluôn có ý nghĩa thời sự và thực tiễn sâu sắc

Với t cách là sinh viên ngành Lịch sử, chúng tôi thấy việc tìm hiểu, nghiêncứu về đời sống của ngời nông dân và phong trào đấu tranh của nông dân TrungQuốc trong lịch sử là việc làm thiết thực, bổ ích Thông qua việc nghiên cứu, chúng

ta sẽ có đợc cách nhìn tổng quát có hệ thống về đời sống của nông dân và cuộc đấutranh đòi giải phóng của họ trong xã hội có giai cấp đối kháng, từ đó thấy đợc sứcmạnh to lớn vĩ đại của nông dân nói chung và nông dân Trung Quốc nói riêng trong

sự nghiệp cải tạo, xây dựng nông thôn mới, xã hội mới Từ nhận thức đó, chúng tôi

Trang 3

chọn đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu giai cấp nông dân và phong trào nông dân Trung Quốc thời cổ - trung đại” làm khoá luận tốt nghiệp đại học.

Với khả năng còn hạn chế, nghiên cứu đề tài này, chúng tôi không tham vọng

đa ra đợc ý kiến mới có tính phát hiện, mà chỉ đặt ra nhiệm vụ tiếp cận những kếtquả nghiên cứu của một số học giả trong và ngoài nớc, đồng thời vận dụng kiếnthức đã đợc truyền thụ trong thời gian học đại học để tạo dựng một bức tranh về đờisống của giai cấp nông dân và sự vùng lên chống áp bức cờng quyền của nông dânTrung Quốc Đồng thời chúng tôi hy vọng thông qua việc nghiên cứu, sự hiểu biếtcủa bản thân về lịch sử Trung Quốc nói chung và vấn đề nông dân nói riêng sẽ đợccủng cố, bổ sung, góp phần giảng dạy tốt phần lịch sử Trung Quốc sau khi tốtnghiệp ra trờng

Đang là sinh viên, vốn hiểu biết còn nhỏ bé, năng lực t duy hạn hẹp, khả năngnghiên cứu còn non yếu, không có vốn ngoại ngữ nên không thể tiếp cận đợc cácnguồn t liệu tiếng nớc ngoài, do đó khi thực hiện đề tài này chắc chắn chúng tôi cònmắc nhiều sai sót, hạn chế, kính mong các thầy, cô, các đồng môn và các bạn quantâm chỉ bảo và miễn thứ

2 Lịch sử vấn đề:

Lịch sử Trung Quốc nói chung và các vấn đề thuộc lịch sử Trung Quốc nóiriêng đã đợc nhiều học giả, nhiều sử gia trong và ngoài nớc quan tâm nghiên cứu.Kết quả nghiên cứu đó đã làm giàu thêm cho vốn hiểu của nhân loại về Trung Quốcthuộc nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, khoa học, nghệ thuật và

đóng góp to lớn của nhân dân Trung Quốc vào kho tàng văn hoá nhân loại Tuy vậy

do khả năng có hạn, trình độ còn thấp, chúng tôi khô ng tiếp cận đợc với nguồn tliệu và toàn bộ những kết quả nghiên cứu nên trên mà chỉ tham khảo một số tài liệu

đợc xuất bản bằng tiếng việt, đề cập các vấn đề liên quan tới đời sống của giai cấpnông dân và phong trào đấu tranh nông dân Trung Quốc thời cổ - trung đại để thựchiện đề tài

Năm 1976 trờng đại học S phạm Hà Nội I đã dịch cuốn “Tuyển tập luận văn

phong trào nông dân Trung Quốc thời phong kiến” (trích trong Trung Quốc phong

kiến xã hội nông dân chiến tranh về vấn đề thảo luận tập, Nxb Tam Liên Th Điếm,Bắc Kinh, 1962; Trơng Tú Bình: Một trăm sự kiện Trung Quốc, Nxb Văn hoá thôngtin, Hà Nội 1998; Sử ký T Mã Thiên do Phan Ngọc dịch Nxb Văn học Hà Nội 1999;Nguyễn Gia Phu: Lịch sử Trung Quốc, Nxb Giáo dục2001; Nguyễn Anh Thái:

Trang 4

Lịch sử Trung Quốc, Nxb Giáo dục1991; Nguyễn Hiến Lê: sử Trung Quốc, NxbVăn hoá thông tin1997; Trung tâm khoa học xã hội nhân văn quốc gia cho ra đờitạp chí nghiên cứu Trung Quốc năm 1994; đề cập đến vấn đề kinh tế chính trị, vănhoá xã hội, đã làm phong phú thêm lí luận nghiên cứu về Trung Quốc.

Nội dung chính của các công trình nghiên cứu, có tính chất thông sử về quátrình hình thành, phát triển, suy tàn của nhà nớc phong kiến Trung Quốc, con đờnggiải phóng dân tộc của nhân dân Trung Hoa qua từng thời kỳ, trong đó, đã có một

số công trình nghiên cứu đề cập đến giai cấp nông dân thời cổ - trung đại, cũng nhchế độ ruộng đất, phong trào khởi nghĩa nông dân cổ - trung đại

Bằng những cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã bớc đầu kháiquát, từ đó đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu về giai cấp nông dân và thân phận của họqua mỗi thời kỳ, cũng nh chế độ ruông đất và phong trào nông dân Trung Quốc cổ -trung đại Dựa trên cơ sở tập hợp và xử lí số liệu, của những công trình nghiên cứucủa các học giả trong nớc, cũng nh trên thế giới đã đợc dịch ra tiếng việt Chúng tôi

sẽ đi sâu và tìm hiểu kỹ hơn về giai cấp nông dân, phong trào nông dân Trung Quốc

cổ - trung đại Hy vọng rằng qua đề tài này vấn đề trên sẽ đợc làm sáng tỏ và đầy đủhơn cho hiểu biết và nhận thức của bản thân về lịch sử Trung Quốc

3 Phạm vi, nhiệm vụ khoa học và phơng pháp nghiên cứu:

Lịch sử giai cấp nông dân Trung Quốc và phong trào nông dân Trung Quốc làmột nội dung lớn đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu, tìm hiểu, thế nhng do khảnăng hạn chế, với mức độ của khoá luận, chúng tôi chỉ đặt ra nhiệm vụ tìm hiểunhững nét cơ bản về đời sống của giai cấp nông dân Trung Quốc dới chế độ chiếmhữu nô lệ và chế độ phong kiến, trong đó vấn đề ruộng đất đã ảnh hởng trực tiếp

đến nông dân Trung Quốc nh thế nào Đồng thời chúng tôi muốn tìm hiểu nhữngcuộc đấu tranh của nông dân thuộc hai thời kỳ nói trên và kết quả những cuộc đấutranh đó, từ đó rút ra nhận xét vầ đặc điểm của phong trào nông dân dới hai chế độxã hội có giai cấp ấy để thấy đợc tính tích cực và hạn chế của giai cấp nông dân nóichung và ở Trung Quốc riêng

Đây là một đề tài khoa học, xã hội, thuộc lĩnh vực chuyên sử, nên phải xuấtphát từ quan điểm sử học Macxít, chúng tôi sử dụng phơng pháp tổng hợp, hệthống, kết hợp su tầm, chọn lọc và xử lí t liệu Phơng pháp lịch sử, phơng pháplogic, phơng pháp so sánh đợc sử dụng chủ yếu để thực hiện đề tài

4 Bố cục đề tài:

Trang 5

Ngoài phần dẫn luận, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung đợc sắp xếpthành các chơng mục sau đây:

Chơng1: Giai cấp nông dân và đấu tranh của nông dân Trung Quốc thời cổ

đại (XIX TCN - 221 TCN)

1.1.Tình hình nông dân Trung Quốc thời cổ đại

1.2 Chế dộ ruộng đất ở Trung Quốc thời cổ đại

1.3 Khởi nghĩa nông dân Trung Quốc thời cổ đại

Chơng 2: Giai cấp nông dân và đấu tranh của nông dân Trung Quốc thời

trung đại (221TCN - 1840)

2.1 Tình hình nông dân Trung Quốc thời phong kiến

2.2 Chế độ ruộng đất ở Trung Quốc thời phong kiến

2.3 Khởi nghĩa nông dân Trung Quốc thời phong kiến

b Phần nội dung

Chơng 1 Giai cấp nông dân và đấu tranh của nông dân Trung Quốc

thời cổ đại (XIX TCN – 221 TCN). 221 TCN).

1.1 Tình hình nông dân Trung Quốc thời cổ đại.

Thời cổ đại, trong xã hội Trung Quốc bao gồm các giai cấp, quý tộc chủ nôthống trị giai cấp nông dân, tầng lớp công thơng và nô lệ Mỗi một giai cấp có sựbiến chuyển, giữ vai trò nhất định trong xã hội Trung Quốc Giai cấp nông dân làgiai cấp đông đảo nhất giữ vai trò chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp

Trang 6

Trong sử sách Trung Quốc, giai cấp nông dân thờng đợc gọi bằng các tên

nh nông phu, thứ dân…Đây là giai cấp đông đảo nhất, là lực lĐây là giai cấp đông đảo nhất, là lực lợng giữ vai trò quantrọng nhất trong sản xuất nông nghiệp

Thời Chu, nông dân là những ngời cày ruộng tỉnh điền Trong điều kiện toàn

bộ ruộng đất trong nớc thuộc quyền sở hữu cao nhất của nhà vua, ở địa phơng thuộcquyền quản lí của các thôn ấp, nông dân không có ruộng đất riêng mà đợc làngmình chia cho một phần đất 100 mẫu để cày cấy Sau khi nhận ruộng việc sản xuất

đợc tiến hành theo đơn vị gia đình

Tháng giêng sửa cày cuốc, Tháng hai bận xuống đồng,

Vợ con ta làm cùng, Cơm đen ra tận ruộng [10, tr51]

(Kinh thi bàn phong bài Thất nguyệt)

Đồng thời việc sản xuất đợc các chức dịch trong ấp lãnh đạo, đôn đốc

"Thực hoá chí" của Hán Th chép: "Mùa xuân khi sắp cho dân ra đồng, sángsớm Lý T ngồi ở điếm bên phải, Lân Trởng ngồi ở điếm bên trái, sau khi ra hết thìtrở về, đến chiều cũng vậy Những ngời vào ấp phải xách theo củi, nặng nhẹ chianhau, những ngời tóc đã bạc hoa râm thì không phải xách"

Ngoài công việc ruộng đồng, nông dân còn làm một số nghề phụ khác nh sănbắn, nuôi tằm, diệt vải v.v Đặc biệt, dệt vải là một nghề phụ gia đình do phụ nữ

đảm nhiệm và tồn tài lâu dài trong xã hội Trung Quốc trớc đây Về vấn đề này,

"Thực hoá chí" của Hán Th chép:

"Mùa đông, dân vào hết trong ấp, phụ nữ cùng ngõ, cùng nhau kéo sợi ban

đêm, công của phụ nữ một tháng đợc 45 ngày công Phải làm cùng nhau nh vậy đểtiết kiện đèn lửa, tốt xấu giống nhau và hợp với tập tục"

Đến thời Chiến quốc, do sự thay đổi về quyền sở hữu ruộng đất nên giai cấpnông dân cũng phân hoá thành nhiều loại Ngoài bộ phận nông dân vẫn tiếp tục càyruộng tỉnh điền, đã xuất hiện thêm hai loại nông dân mới: nông dân tự canh và nôngdân tá điền

Nông dân tự canh là loại nông dân khi chế độ tỉnh điền ở địa phơng tan rã, họtrở thành ngời sở hữu 100 mẫu ruộng mà trớc kia làng chia cho họ

Nông dân tá điền là loại nông dân không có hoặc có rất ít ruộng đất, phải lĩnhcanh ruộng đất của địa chủ Về nghĩa vụ, nông dân cày ruộng tỉnh điền và nông dân

Trang 7

tự canh phải nộp thuế 1/10, còn nông dân tá điền thì phải nộp địa tô bằng 5/10 thuhoạch Ngoài tô thuế, nông dân còn phải làm lao dịch nh đắp thành, làm cầu đờng,xây dựng nhà cửa, dinh thự cho gia cấp thống trị, và phải đi lính Thời Th ơng, Chunòng cốt trong quân đội là tầng lớp trên nhng nguồn binh lính chủ yếu là nông dân.

Đến thời Xuân thu, Chiến quốc, bộ binh trở thành lực lợng chủ yếu trong quân đội,nên vai trò của nông dân càng quan trọng

Về địa vị xã hội, nông dân là thần dân của vua là dân tự do chỉ ở dới tầng lớp

sĩ Năm 493 TCN, Triệu Ưởng ở nớc Tấn trớc khi xuất quân đã hứa, nếu thắng đợc

địch thì những nông dân tham gia chiến đấu, sẽ đợc trở thành "sĩ" Con em nôngdân cũng có quyền đợc đi học, nếu u tú thì tiếp tục hợp để làm quan

"Thực hoá chí" của Hán thi viết rằng: những con trai cha đến tuổi lao độngthì đến trờng học Tám tuổi vào tiểu học, sáu giáp, năm phơng, các sách và việc tínhtoán bắt đầu biết phép tắc về kẻ lớn ngời nhỏ trong nhà Mời lăm tuổi vào đại học,học lễ nhạc của bậc thánh đời trớc, do đó mà biết đợc các lễ vua tôi trong triều đình.Những kẻ u tú khác đợc lên hơng học ở trờng Tự Những kẻ hơn ngời ở trờng Tự đ-

ợc đến kinh đô vua, ch hầu học ở trờng Thiếu học Các ch hầu hàng năm tiến cốngnhững kẻ học xuất sắc ở trờng Thiếu học lên Thiên tử để học ở trờng Thái học, đợcgọi là tạo sỹ Mặc dù đợc coi là dân tự do và là một lực lợng lao động chủ yếutrong xã hội, nhng đời sống của nhân dân rất nghèo khổ Hiển nhiên, khi tìm hiểu

về giai cấp nông dân Trung Quốc, không thể không nói đến hai vấn đề cơ bản: chế

độ ruộng đất và phong trào khởi nhân dân

1.2 Chế độ ruộng đất ở Trung Quốc thời cổ đại.

1.2.1 Chính sách phân phong ruộng đất thời Tây Chu.

Thời Hạ, do thiếu t liệu lịch sử, nên tình hình ruộng đất không thể biết đợc

cụ thể

Thời Thơng, trong giai đoạn đầu nông nghiệp còn mang tính du canh, du c,kinh đô dời nhiều lần, địa điểm c trú của vua cha ổn định, nên quyền chiếm hữuruộng đất cha đợc quy định chặt chẽ Về sau, cùng với việc xác định rõ tôn ti trật tựtrong dòng họ nhà vua, vua Thơng đã thi hành chính sách phân phong ruộng đất cho

bà con thân thích của mình “Thiên Ân bản kỷ" trong sử kí của T Mã Thiên viết:

"Con ngời con cháu đời Thơng đợc phong, lấy nớc làm họ, có họ Ân, họ Lai,

họ Tống, họ không Đồng, họ Trĩ, họ Bắc Ân, họ Mục Di " Những ngời đợc phong

Trang 8

các tớc Hầu Bá, Tử Họ phải có nghĩa vụ phải phục tùng mệnh lệnh của vua, phảivâng mệnh vua, đi chiến đấu, phải đem các lễ vật về cúng ở nhà Thái miếu.

Đến thời Tây Chu chế độ ruộng đất đã đợc hoàn chỉnh hơn, sau khi chinhphục đợc các nớc Thơng và các bộ tộc nhỏ khác tất cả các đất đai đều thuộc quyềncủa nhà vua Chu, vua Chu là ngời thống trị cao nhất tự xng là "Thiên tử" vua và quýtộc lập ra triều đình gọi là Thiên triều (triều đình nhà Trời) với quan niệm thống trịtoàn thiên hạ nh trên xuất phát từ thuyết "Thiên địa hai tầng", thế giới chia thànhhai tầng

Thiên là trời tầng trên, Địa là đất ở dới Thiên là thế giới vô hình, Địa là thếgiới hữu hình, chịu sự thống trị của thế giới vô hình (Thiên trị Địa) Vua Chu đã dựavào quan niệm có xa này nêu lên thuyết "Thiên mệnh" Thiên hạ, Thiên trị đểthống trị các ch hầu, bộ tộc xung quanh Do vậy mà lúc bấy giờ đất đai và thần dântrong thiên hạ đều thuộc quyền sở hữu và thống trị tối cao của Thiên tử Theo sách

Những ngời đợc phong đất đai và tớc vị trở thành ch hầu của Thiên tử nhàChu Vua ch hầu tuy không có quyền sở hữu ruộng đất, những đợc quyền lãnh đạo

Trang 9

(cũng đợc gọi là nớc) của mình cho con cháu Đối với Thiên tử nhà Chu, vua ch hầu

có nghĩa vụ phải đến hầu nộp cống, phải đem quân đội đến giúp khi có chiến sự xẩy

ra Nếu không thi hành đầy đủ những nghĩa vụ đó thì tuỳ theo mức độ mà bị giángtớc, tự thu hồi đất phong hoặc bị đem quân đến tiêu diệt

Ruộng đất trong Vơng kì và trong các nớc ch hầu bị đem phong cho các quanlại của triều đình nhà Chu và trong toàn bộ máy hành chính của các ch hầu gọi làkhanh, đại phu để làm thái ấp

Khanh, đại phu lại chia đất Thái ấp của mình cho những ngời giúp việc gọi là

Sĩ Sĩ là tấng lớp cuối cùng trong giai cấp thống trị Họ đợc hởng số thuế của phầnruộng đất đợc chia cho, nhng đến khi thôi việc ruộng ấy lại phải trả lại

Quần chúng nhân dân giữ vai trò chủ yếu trong sản xuất là nông dân công xã.Trong các làng xã việc phân chia ruộng đất cho các hộ nông dân do các chức dịch ởnông thôn phụ trách, lúc đầu cứ mỗi năm chia lại một lần, về sau cứ ba năm chia lạimột lần

Sự phân phong ruộng đất cho các khanh, đại phu, sĩ cũng nh việc chia ruộng

đất cho các thôn xã đều áp dụng chế độ tỉnh điền Chế độ ruộng đất này đã có mầmmống từ thời Thơng, đến thời Tây Chu có sự phát triển mạng lới thuỷ lợi và sự tiến

bộ trong việc đo đạc ruộng đất càng đợc hoàn chỉnh Để chia ruộng đất thành từngphần để dẫn nớc vào ruộng, ngời ta đắp những bờ vùng, bờ thửa và đào những conmơng ngang dọc hai bên mơng và đờng đi, chia cắt đồng ruộng thành nhiều mảnhvuông nh hình chữ "tỉnh" (#) (nghĩa là các giếng ở trên cánh đồng) nên gọi là tỉnh

Nô lệ là ngời lao động trồng trọt tỉnh điền Họ bị quý tộc điều khiển bóc lộttàn bạo Khi đó, bởi trình độ sản xuất thấp kém và để tiện cho việc kiểm soát nô lệ,tỉnh điền đều trồng trọt tập thể Nô lệ phải làm việc ở tỉnh điền suốt năm mà không

đợc ăn no và nghỉ ngơi Ngoài ra, nông dân cũng đợc phân phần ruộng đất để càycấy nhng phải nộp chừng 1/10 thu hoạch cho quý tộc, gọi là thuế thập nhất Họ còn

Trang 10

phải gánh vác su dịch cho quý tộc nh xây thành luỹ làm đờng sá, đào mơng, thựchiện nghĩa vụ quân sự.

Quý tộc bóc lột nông dân thôn xã và nô lệ nặng nề, nên tích luỹ đợc nhiềucủa cải Trong Kinh Thi có những bài thơ mô tả cảnh bất công trong xã hội, và lòngoán nghét của nhân dân với bọn quý tộc với bọn thống trị

Có kẻ luôn buồn rầu lo sợ "

(Kinh Thi - Tiểu Nhã)Chế độ tỉnh điền tồn tại rất lâu dài ở Trung Quốc cổ đại Đến thời Chiếnquốc, khi ruộng đất t suất hiện thì chế độ này dần dần tan rã

1.2.2 Sự thay đổi về chế độ sở hữu ruộng đất thời Xuân thu, Chiến quốc

Nếu nh ở thời kỳ trớc, toàn bộ ruộng đất Trung Quốc đều thuộc quyền quản

lý, sở hữu của nhà nớc, nhng sang thời Xuân Thu, tình hình đó đã thay đổi Chế độruộng đất của nhà nớc hoàn toàn tan rã, ruộng đất t xuất hiện ngày một nhiều

Thời Tây Chu ruộng đất đợc phân phong theo thứ tự, Thiên tử phong cho chhầu, ch hầu phong cho khanh, đại phu, khanh, đại phu chia cho sĩ Vua các nớc chhầu tuy đợc quyền lãnh địa cho con cháu, những không có quyền sở hữu, còn thái

ấp của khanh, đại phu thì vốn là bổng lộc của vua ban cho dới nhiều hình thứcruộng đất đối với những khanh, đại phu khác họ với nhà vua thì khi thôi chức thái

ấp phải trả lại

Nhng đến thời Xuân Thu nguyên tắc ấy không đợc chấp hành nghiêm chỉnhnữa Do cải tiến, có sự thay đổi đột ngột biến cách mạng về công cụ sản xuất từ đồ

đồng đến đồ sắt, công cụ ngày càng sắc bén hơn, dẫn đến ruộng đất t đợc vỡ hoangngày càng nhiều và năng suất lao động không ngừng đợc nâng lên Lúc này ngời takhông cần thiết phải chia ruộng đất công theo định kỳ nh trớc đây nữa mà công xã

cứ giao từng mảnh ruộng đất cho từng gia đình nông dân nhận lấy tự cày cấy làmlụng trong suốt một thời gian lâu dài Trên mảnh ruộng của mình, nông dân có thểdùng phơng pháp lu canh hoặc luân canh để tăng năng suất Qua nhiều năm canh

Trang 11

tác mảnh ruộng đất công đó trở thành ruộng t ngày càng nhiều Ruộng đất nông dân

vỡ hoang cũng biến thành ruộng t

Khi mới thi hành chính sách phân phong, sự ràng buộc của nhà Chu đối vớicác nớc ch hầu một mặt dựa vào quan hệ họ hàng, mặt khác dựa vào quan hệ tônchủ (ngời phong đất) với bồi thần (đã đợc phong đất) Thời Xuân Thu quan hệ họhàng đó đã trở nên xa vời và quan trọng hơn, Thiên tử nhà Chu với t cách là tôn chủkhông còn đủ thế lực để bắt những ngời đợc phong thừa đất phải thực hiện nghĩa vụcủa họ

Trong khi đó, các nớc ch hầu lớn thờng thôn tính các nớc nhỏ hoặc xâm chiến

đất đai của nớc khác Ví dụ nớc Lỗ đã thôn tính 9 nớc nhỏ và

15 ấp của nớc khác Nớc Tề đã thôn tính 10 nớc nhỏ và 2 ấp, nớc Tần đã thôn tính 20

n-ớc nhỏ v.v Trên thực tế các nn-ớc ch hầu đều coi lãnh địa đợc phong trn-ớc kia làthuộc quyền sở hữu của họ

Trong các nớc ch hầu, tình hình cũng tơng tự nh vậy Thời Xuân Thu, ngoàithái ấp làm bổng lộc cho các khanh, đại phu còn vua ch hầu ban thởng ruộng đất vìnhững công lao đặc biệt của họ Ngoài ra các khanh, đại phu còn tranh giành đất

đai của nhau

Ví dụ ở nớc Tần có 6 họ quan lại lớn là Triệu, Nguỵ, Hàn, Trí, Phạm, TrungHành Cuối thời Xuân Thu, bốn họ Triệu, Nguỵ, Hàn, Trí đã chia nhau thái ấp củahai họ Phạm, Trung Hành, về sau 3 họ Triệu, Nguỵ, Hàn, lại chia nhau thái ấp của

họ Trí Khi thế lực của vua ch hầu suy yếu, các khanh, đại phu còn xâm chiếm đất

đai của vua Những nguồn ruộng đất ấy của khanh, đại phu, hầu nh hoà đồng làmmột và dần biến thành ruộng t

Đồng thời, với hiện tợng chế độ phân phong ruộng đất bị phá vỡ, chế độ tỉnh

điền cũng dần tan rã Do công cụ sản xuất đợc cải tiến và số dân lao động tăng dầnlên, ngời ta có khả năng khai khẩn thêm nhiều đất hoang Một số nông dân khai pháthêm một ít ruộng đất ngoài phần đất đợc chia, tạo nên sự chênh lệch, về tài sảntrong hàng ngũ nông dân Hơn nữa, do kỹ thuật sản xuất tiến bộ, việc đầu t côngsức vào ruộng đất cũng khác nhau, việc định kỳ chia lại ruộng đất cũng lỏng lẻo.Vì vậy đến thời Xuân Thu một số nông dân cũng có ruộng riêng

Thời Tây Chu, vì ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nớc nên không đợcmua bán, nhng đến thời Xuân Thu hiện tợng mua bán ruộng đất đã xuất hiện, sáchTả truyện chép:

Trang 12

"Ngời Nhung Địch đến ở, dùng vật quý đổi lấy đất, đất có thể mua bán".Hiện tợng mua bán ruộng đất ra đời là kết quả tất yếu của chế độ ruộng đất thuộcquyền sở hữu t nhân, đồng thời thúc đẩy ruộng t phát triển nhanh chóng Năm (654TCN) nớc Tấn thi hành chế độ viên điền cố định nông dân vào ruộng đất đã giaocho nông dân sử dụng, bãi bỏ lệ hàng năm sau khi chế độ t hữu ruộng đất pháttriển , số lợng ruộng đất cho nông dân chiếm hữu không giống nhau nữa, hình thứcthu thuế cũng không thích hợp nên đợc thay đổi thuế mới, đánh vào từng mẫuruộng Năm 594 TCN nớc Lỗ thực hiện chế độ thuế mới, theo diện tích ruộng đất,căn cứ theo số lợng mẫu ruộng mà nông dân chiếm hữu để đánh thuế Về sau các n-

ớc khác cũng bắt chớc nớc Lỗ Chế độ thuế mới về căn bản là thu hiện vật, nhng các

su dịch khác vẫn không bãi bỏ Việc đó chứng tỏ nớc Lỗ chính thức thừa nhận sựchênh lệch về ruộng đất trong hàng ngũ nông dân và quyền t hữu ruộng đất củanông dân là hợp pháp Năm 350 TCN nớc Tần thi hành luật cải cách của Thơng

Ưởng, tuyên bố xóa bỏ chế độ sở hữu ruộng đất của công xã nông thôn, thừa nhậnchế độ t hữu về ruộng đất, quyền tự do mua bán ruộng đất, "Phá tỉnh điền - phá bờruộng" mở rộng diện tích trồng trọt, phát triển sản xuất nông nghiệp Nhà nớc trựctiếp thu thuế của nhân dân, theo diện tích trồng trọt Khuyến khích nông dân càycấy, diệt vải Nhà nào sản xuất nhiều nhất thì đợc miễn su dịch Bỏ ruộng đất công,cày cấy để đi buôn, hoặc lời lao động đến nỗi nghèo khổ thì phạt thành nô lệ nhàquan

Những chính sách ấy của các nớc càng tạo điều kiện cho ruộng t phát triển,ngời ta có thể tiến hành mua bán ruộng đất, ngời giàu tậu ruộng cho nông dân lĩnhcanh để nộp tô Nh thế, quan hệ bóc lột phong kiến bắt đầu ra đời Từ đó, ruộng đấtcàng tập trung vào tay các địa chủ lớn, nông dân nhiều ngời bị mất ruộng đất: "Nhàgiàu ruộng liền bờ bát ngát, ngời nghèo không có tấc đất cắm dùi"

Tóm lại thời Chu, ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nớc Thời Xuân Thubắt đầu xuất hiện ruộng t Thời Chiến quốc chế độ ruộng t phát triển mạnh

Trên cơ sở quyền sở hữu đất thuộc về nhà nớc, thời Tây Chu tầng lớp quản lýruộng đất là khanh, đại phu, sĩ; thời Chiến quốc xuất hiện tầng lớp địa chủ mới

Giai cấp nông dân giữ vai trò chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp, trong đó,tầng lớp nông dân canh tác ruộng đất nhà nớc phải nộp thuế, những nông dân càyruộng đất của địa chủ phải nộp tô, giai cấp nô lệ không phải là giai cấp giữ vai trò

Trang 13

quan trọng trong nền kinh tế đơng thời Tình hình ruộng đất vẫn còn tiếp tục ở giai

đoạn tiếp theo thời trung đại

Nh vậy, ở thời cổ đại nông dân Trung Quốc là giai cấp đông đảo nhất và làlực lợng giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, là những ngời cày cấyruộng "tỉnh điền" Họ sống trong các làng xã mà ở đó từ xa đã lập thành nhữngcông xã nông thôn Ngoài việc sản xuất nông nghiệp, nông dân còn làm một sốnghề phụ khác nh chăn tằm, dệt lụa, kéo sợi v.v Trong thôn xóm họ ra vào thânmật với nhau, xóm giềng giúp đỡ lẫn nhau, ốm đau cùng săn sóc nhau cho nên nhândân hoà mục Mặc dù nông dân đợc coi là "dân của vua" tức là dân tự do, nhng bị

áp bức bóc lột nặng nề Nhận 100 mẫu ruộng công nằm trong phần ruộng đất củaquý tộc, nông dân phải nộp thuế bằng khoản 1/10 thu hoạch Ngoài ra, họ còn phảinộp các khoản thuế phụ khác nh lụa dạ, thú săn v.v và phải làm tạp dịch nh xâydựng dinh thự, thành quách, cầu đờng Nông dân công xã bị áp bức bóc lột nặng nề,nên họ cũng cực khổ chẳng khác gì nô lệ Chính C.Mác đã từng nói, ở phơng Đôngtồn tại "chế độ nô lệ phổ biến" Khái niệm "chế độ nô lệ phổ biến” mà C.Mác đãnêu ra chỉ là một cách để nhấn mạnh tình trạng bị áp bức bóc lột nặng nề của nôngdân phơng Đông nói chung và Trung Quốc nói riêng dới chế độ chuyên chế Tómtại, trong xã hội Trung Quốc, lực lợng sản xuất đông đảo nhất ở đây là nông dâncông xã, còn giai cấp nô lệ có số lợng không đông và không giữ vai trò quan trọngtrong sản xuất kinh tế mà chủ yếu đợc dùng phục dịch trong gia đình quý tộc chủnô hoặc xây dựng các công trình công cộng nên đợc gọi là: "nô lệ gia trởng" Nôngdân là lực lợng sản xuất chủ yếu, nhng là giai cấp bị bóc lột nặng nề nhất, cho nênmâu thuẫn cơ bản trong xã hội Trung Quốc là mâu thuẫn giữa giai cấp nông dâncông xã với quý tộc chủ nô và khi họ bị áp bức bóc lột đến mức không thể chịu

đựng đợc, họ đã vùng lên đấu tranh Đó là quy luật tất yếu của lịch sử: "Có áp bức

có đấu tranh" Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến phong trào đấu tranh củanông dân Trung Quốc thời cổ đại

1.3 Khởi nghĩa nông dân Trung Quốc thời cổ đại.

ở thời cổ đại phong trào khởi nghĩa của nông dân Trung Quốc cha thể hiệnmột cách rõ nét, sôi nổi, và mạnh mẽ, quyết liệt điển hình nh thời trung đại, nhng b-

ớc sang xã hội phong kiến Trung quốc đã có hàng nghìn cuộc khởi nghĩa nông dân

Trang 14

lớn nhỏ với quy mô lớn, số lợt nhiều của nó, là một điều hiếm thấy trong lịch sử thếgiới.

Từ thời Hạ, những ngời đứng đầu công xã, đã biến tù bình thành nô lệ phục

vụ trong gia đình của mình, đồng thời ra sức bóc lột sức lao động của nông dâncông xã , xây dựng thành quách để bảo vệ quyền thống trị của mình, đề phòngnhững cuộc khởi nghĩa từ bên ngoài Đến thời vua Hạ Thiếu Khanh, nền chuyên chếtrung ơng tập quyền đợc cũng cố vững chắc Họ đã tiến hành chiếm ruộng đất củacông xã biến thành của riêng Bộ phận này đã tập hợp lại trở thành tầng lớp quý tộc

và chủ nô Ngợc lại, nông dân công xã thì bị ngợc đãi, để bảo vệ quyền lợi củamình, giai cấp chủ nô đi trấn áp nô lệ và dân nghèo, bọn quý tộc chủ nô đã dựng lên

bộ máy nhà nớc chiếm hữu nô lệ

Vua là ngời đứng đầu nắm mọi quyền hành trong nớc, vua đã thu thuế cốngvật từ nông dân công xã nông thôn, ra sức xây dựng thành quách để bảo vệ quyềnthống trị của mình Đến thời vua Hạ Thiếu Khanh, nền chuyên chính trung ơng tậpquyền đợc cũng cố vững chắc, lãnh thổ của nhà Hạ lúc này bao gồm một vùng rộnglớn, thuộc lu vực sông Hoàng Hà, đặt kinh đô ở An Cấp thuộc Sơn Tây Nhng đếnthời vua Hạ Kiệt (thế kỷ XVII TCN), nhân dân rất căm phẫn vì vua, quý tộc ăn chơi

xa xỉ, bóc lột nhân dân tàn nhẫn để thoả mãn chính sách trụy lạc, dâm đãng trongcung đình Nhân dân ngày càng bất bình hơn thế nữa, nông dân bị bắt đi lính phục

vụ cho những cuộc chiến tranh xâm lợc để mở rộng lãnh thổ, làm cho sản xuất bị

đình đốn, kinh tế bị sa sút, đời sống nhân dân cực khổ thế nớc suy yếu Trong tìnhhình đó nhà Hạ bị các bộ tộc Thơng xâm chiếm

Chúng ta thấy rõ một điều rằng thời kỳ chiếm hữu nô lệ, quan hệ giữa chủ nô

và giai cấp nông dân cha trở nên gay gắt đỉnh điểm, nên cha có một cuộc khởinghĩa của nông dân nổ ra trong giai đoạn này

Đến đời Thơng, mọi mặt trong đời sống Trung Quốc đã có biến chuyển vàphát triển sớm hơn so với đời Hạ Nông nghiệp trở thành ngành sản xuất chủ yếu,nông dân công xã biết đào mơng dẫn nớc, dùng lỡi cày, cuốc, bằng gỗ xới đất, biếttrồng trọt và chăn nuôi Đặc biệt là sự phát triển về thủ công nghiệp, mà tiêu biểu lànghề đúc đồng điển hình là đỉnh đồng "Từ mẫu mậu", sau đó ngời ta dùng đồng đúctiền thời Ân - Thơng, xã hội phân hoá thành hai giai cấp rạch ròi Một bên là quýtộc chủ nô giàu có, một bên là nông dân công xã bị áp bức bóc lột, việc phân hoánày đã tạo nên sự chênh lệch trong phát triển kinh tế Tơng truyền thủa thiếu thời,

Trang 15

Vũ Đình sống trong dân gian, biết đợc nỗi vất vả của việc cấy gặt, do đó, sau khilên làm vua không giám ăn chơi mà chỉ lo cho đất nớc thịnh trị.

Tuy nhiên, những vua cuối triều Thơng phần nhiều do dâm loạn, bạo ngợc.Không biết nỗi khổ cực của việc cấy, gặt, thời gian ở ngôi của họ thờng là ngắnngủi Đặc biệt ông vua cuối cùng là vua Trụ (Đế Tân), cũng là một tên bạo chúa nổitiếng trong lịch sử Trung Quốc Vì vậy, vua Trụ thờng đợc ghép với Kiệt của triềuHạ để chỉ sự bạo chúa , tham lam xa xỉ, suốt ngày say đắm trong tửu sắc Hơn nữa,Trụ lại còn dùng hình phạt tàn khốc, lại luôn đem quân đi gây chiến tranh bộ lạcxung quanh, làm cho nhân dân thêm khổ cực và oán dận Nhân tình hình ấy, nớcChu (phía Tây) vốn là nớc phụ thuộc vào Thơng đã đem quân tấn công Triều Ca.Vua Trụ hết đờng trốn chạy phải lên Lộc Đài tự thiêu Triều Thơng bị diệt vong

Nh vậy, sự sụp đổ của triều Thơng là do sự xâm chiếm của bộ tộc nớc Chu ởphía Tây tiến hành Đây là sự lật đổ vơng triều này thành vơng triều khác, chứ khôngphải thay đổi vơng triều bằng một cuộc khởi nghĩa của phong trào nông dân

Sang xã hội thời Tây Chu có ba bộ phận cơ bản: quý tộc, nông dân công xã,nô lệ Trong nớc Chu, vua Chu đợc coi là Thiên tử (con trời), vua và bọn quý tộcnhà Chu lập ra triều đình và đặt quan chức t đồ, mã, khấu để trông coi việc cụ thểcủa vua Ví dụ: Trông coi việc hành chính, xây dựng t pháp, quân sự Các chứckhanh, đại phu, sĩ là các chức quan trọng trong hệ thống quý tộc, vua thực hiện quátrình cha truyền con nối, các nớc ch hầu đều tổ chức bộ máy nhà nớc là nh vậy Tuỳtheo các chức tớc cao hay thấp, rộng hay hẹp về lãnh thổ, vua và các ch hầu phânphong ruộng đất cho các quý tộc ch hầu để lập ra một thái ấp Nh vậy, thái ấp

đứng đầu là vua tông chủ, vua ch hầu do bọn quý tộc lập ra, vua có quyền sở hữu tốicao về ruộng đất và hành chính t pháp Điều đó đợc thể hiện:

"ở dới gầm trời này đâu cũng là đất vua Trên mặt đất này ai cũng là thần dân của vua"

Nông dân công xã là lực lợng đông đảo nhất trong xã hội, đóng vai trò quantrọng nhất, họ cày cấy trên ruộng tỉnh điền và có trách nhiệm nộp thuế Nông dâncày cấy trên lãnh địa của quý tộc phải nộp 1/10 thu hoạch, xong mùa nông dân phảixây dựng công trình công cộng cống nạp những sản vật quý hiếm Đời sống củanông dân vô cùng cực khổ, vì bị giai cấp quý tộc bóc lột nặng nề

Nô lệ bị đối xử tàn nhẫn, họ bị coi là loài súc vật, biến thành hàng hoá và cóthể mua đi bán lại, làm quà tặng Một xã hội nh vậy, đầy rẫy những bất công, những

Trang 16

bất công này tạo nên những mẫu thuẫn ngày càng trở nên sâu sắc Cho đến thế kỷ

IX TCN , vua Chu Lệ Vơng đã thi hành chính sách bao chiếm ruộng đất và ao hồ,nhân dân oán hận, mặt khác mâu thuẫn nội bộ trong triều đình trở nên gay gắt, nôngdân thờng nổi dậy đấu tranh

Tiêu biểu cho phong trào đấu tranh của nông dân và nô lệ do Cộng Bá Hoàlãnh đạo, cuộc khởi nghĩa đợc tổ chức bằng đòn tấn công vào cung điện của nhàvua, đuổi Chu Lệ Vơng ra khỏi triều đình, sau đó quân khỏi nghĩa thành lập một hội

đồng quý tộc để quản lý đất nớc trong vòng 14 năm (481 TCN - 428 TCN) Đây làthời kỳ quản lý đất nớc không phải là vua, mà do quyền lực của "Hội đồng côngcộng", sử gọi là thời kỳ Cộng hoà để ghi nhớ công lao của Cộng Bá Hoà [10 - 20]

Nh vậy: cuối thời Tây Chu đã có một cuộc khởi nghĩa của nông dân, nô lệdiễn ra do Cộng Bá Hoà lãnh đạo, nhằm giải quyết mẫu thuẫn giữa nông dân côngxã với quý tộc để thành lập một thể chế "Hội đồng công cộng" hay còn gọi là thời

kỳ Cộng Hoà Nhng thời kỳ này chỉ tồn tại trong vòng 14 năm Lịch sử Trung Quốcbớc sang thời kỳ mới, thời Xuân Thu - Chiến Quốc

Nổi bật nhất là có cục diễn Ngũ Bá thời Xuân Thu (năm nớc này cùng xngbá) Sở, Tề, Tấn, Yên, Tống Nhân thế nhà Chu suy yếu, các nớc ch hầu tìm cáchthôn tính đất đai của nhà Chu Nớc lớn lấn át nớc nhỏ, đa ra khẩu hiện: "Tôn vơngbài di" để lấy cớ chiếm đoạt đất đai và sự bành trớng của mình, cục diễn Ngũ Bá nổ

ra sau đó là cục diễn Thất Hùng thời Chiến Quốc (bảy nớc xng hùng), bọn quý tộctiến hành chiếm đoạt đất đai, dành dân để cai trị Do cuộc chiến tranh liên miên,làm cho đất nớc bị suy yếu, dân tình đói rách, vấn đề đặt ra là các nớc phải tiếnhành cải cách làm cho nớc giàu dân mạnh Thành công nhất là cuộc cải cách của n-

ớc Tần - cải cách của Thơng Ưởng (359 TCN - 350 TCN)

Chế độ ruộng đất t phát triển, nên bộ phận quý tộc khanh, đại phu đã trởthành tầng lớp địa chủ mới, thậm chí thơng nhân bỏ tiền ra mua ruộng đất Nôngdân công xã, một số ngời khai khẩn đất hoang để tự canh phải nộp tô thuế 1/10 thuhoạch Nông dân vẫn canh tác trên phần ruộng của công xã phải nộp 1/2 thu hoạch.Dần dần một số ít nông dân công xã trở thành địa chủ Chế độ nô lệ vẫn không cógì thay đổi, về cơ bản phục dịch trong gia đình quý tộc, cung đình nhà vua Do quátrình ruộng đất t ngày càng nhiều lên, nên thời kỳ này quan hệ sản xuất phong kiếndần dần đợc hình thành Nh vậy, ở thời kỳ này cha có một phong trào khởi nghĩanông dân tiêu biểu và điển hình Nhng âm ỉ trong lòng xã hội lúc bấy giờ đều nhen

Trang 17

nhóm cho một cuộc khởi nghĩa của nông dân sắp nổ ra Đây chính là nền tảng, bớc

mở màn khởi sắc cho một giai đoạn lịch sử mới - xã hội phong kiến Trung Quốcdần dân đợc xác lập, khởi nghĩa nông dân trong thời kỳ này đã trở thành một phongtrào tiêu biểu, mang tính chất điển hình, quy mô lớn, phát triển từ thấp đến cao

Nh vậy thời cổ đại đấu tranh chống quí tộc chủ nô của nông dân chủ yếu là

đập phá công cụ, bỏ trốn, phá hoại mùa màng,khởi nghĩa vũ trang còn ít ỏi

Chơng 2:

Giai cấp nông dân và đấu tranh của nông dân Trung

quốc thời trung đại (221 TCN - 1840).

2.1 Tình hình nông dân Trung Quốc thời phong kiến.

Từ thời Chiến Quốc, chế độ tỉnh điền tan rã, giai cấp nông dân thời cổ đạiphân hoá thành hai loại: Một số vẫn giữ phần đất của mình và biến thành nông dân

Trang 18

tự canh, một số khác bị mất ruộng đất và trở thành nông dân lĩnh canh ruộng đấtcủa địa chủ Sau đó, tuy ruộng đất và thân phận của nông dân luôn luôn bị xáo độngnhng hai loại nông dân ấy vẫn tồn tại trong suốt xã hội phong kiến.

Nông dân tự canh là những ngời cày cấy ruộng đất của mình hoặc của nhà

n-ớc cấp theo chính sách quân điền Họ có nghĩa vụ phải nộp thuế thờng bằng 1/10thu hoạch và phải đi làm lao dịch cho nhà nớc Về địa vị chính trị, họ đợc coi là dân

tự do, nếu có điều kiện học hành và thi đỗ đạt thì có thể trở thành quan lại

Tuy vậy, do sự áp bức bóc lột của nhà nớc phong kiến và giai cấp địa chủ,trong điều kiện sản xuất còn thấp, thiên tai thờng xuyên xẩy ra, đời sống của họ hếtsức khổ cực

Đến đời Hán, tình cảnh nông dân đợc Triều Thố miêu tả rằng: một nhà nông

có 5 nhân khẩu, số lao động không dới hai ngời, ruộng đất cày cấy không quá 100mẫu, thu hoạch của 100 mẫu chẳng qua đợc 100 thạch Mùa xuân cày, mùa hạ xới,mùa thu gặt, mùa đông cất vào kho, chặt củi, lo việc quan, làm lao dịch Mùa xuânkhông đợc tránh gió bụi, mùa hè không đợc tránh nắng nóng, mùa thu không đợctránh ma, muà đông không đợc tránh rét buốt, trong suốt bốn mùa không có ngàynào đợc nghỉ ngơi Lại còn đa đón khách khứa, viếng ngời chết, thăm ngời ốm,chăm sóc con côi, nuôi nấng trẻ nhỏ đều đợc dựa vào đó Vất vả cực khổ nh vậy,nếu lại gặp nạn lụt hạn, viên quan bạo ngợc, thuế khoá thất thờng, sáng ra lệnhchiều đã thay đổi thì kẻ có cũng phải bán nửa giá ngời, không phải đi vay với lãigấp đôi cho nên phải bán ruộng nhà, con cháu để trả nợ Nh vậy, tuy là nông dân

tự do, nhng đời sống của họ rất thiếu thốn, ruộng đất của họ còn rất bấp bênh và khi

bị phá sản họ trở thành nông dân lĩnh canh ruộng đất của địa chủ, họ phải bỏ quê

h-ơng đi tha phh-ơng cầu thực

Loại nông dân lĩnh canh ruộng đất của địa chủ là những ngời không có hoặc

có rất ít ruộng đất, nên họ phải trở thành tá điền của địa chủ, họ có nghĩa vụ phảinộp tô cho chủ ruộng mà từ thời Chiến Quốc đã nêu ra tiền lệ bằng 5/10 thu hoạch.Nói chung mức địa tô ấy, đợc duy trì trong suốt chế độ phong kiến Trung Quốc.Tuy địa vị kinh tế của họ trớc sau không thay đổi, nhng về thân phận thì tuỳ theotừng thời kỳ mà có ít nhiều khác nhau

Thời Tây Hán, loại nông dân tá điền này vẫn là dân của nhà nớc, nhng từ thời

Đông Hán đến Nam Bắc Triều, đại bộ phận nông dân tá điền trở thành điền khách,

Trang 19

bộ khúc của chủ điền trang, do vậy, mức độ lệ thuộc của họ vào địa chủ tăng hơn

tr-ớc, trái lại, đối với nhà nớc họ không phải chịu nghĩa vụ gì cả

Thời Đờng Tống, nông dân cày cấy ruộng đất của điền trang gọi là trangkhách, sự lệ thuộc của vào chủ có phần giảm xuống, quan hệ giữa chủ điền trangvới trang khách thuần tuý là quan hệ địa chủ và tá điền Họ đợc lập hộ tịch riêng gọi

là "khách hộ" Thời Tống, số "khách hộ" chiếm khoảng 35% số hộ trong nông dân

Nhng đến thời Nguyên, cùng với quá trình cớp đoạt ruộng đất và nô dịchnông dân của bọn địa chủ Mông Cổ và Hán tộc, tá điền phải nộp tô nặng hơn trớc

và bị lệ thuộc chặt chẽ vào địa chủ Nông dân muốn rời khỏi ruộng đất của địa chủ

là một việc rất khó khăn ở một số nơi còn có hiện tợng địa chủ can thiệp vào việchôn nhân của tá điền và còn bán tá điền theo ruộng đất Pháp luật triều Nguyên quy

định, nến địa chủ đánh chết tá điền thì bị phạt đánh 107 gậy, trong khi đó nến đánhchết nô tỳ thì bị phạt 87 gậy

Từ một nông dân nghèo khổ đợc lên làm hoàng đế Trung Quốc, Chu NguyênChơng (Minh Thái Tổ), tỏ ra rất chú ý cải thiện đời sống và thân phận của nôngdân Ông tuyên bố xoá bỏ điều luật chỉ bị phạt 107 gậy, nếu địa chủ đánh chết tá

điền của triều Nguyên Tuy vậy, nhà Minh cũng quy định, nếu tá điền gặp chủruộng không kể tuổi tác phải lấy lễ của ngời ít tuổi đối xử với ngời nhiều tuổi

Trong hai loại nông dân nói trên, nông dân tự canh là đối tợng bóc lột và lànguồn lao dịch chủ yếu của nhà nớc, còn nông dân tá điền là đối tợng bóc lột chủyếu của giai cấp địa chủ Vì vậy, nhà nớc muốn duy trì đến mức tối đa tầng lớpnông dân tự canh, còn bọn địa chủ thì muốn chiếm đoạt ruộng đất của nông dân vàbắt họ phải lệ thuộc vào mình Do đó, đã dẫn đến sự giành giật ruộng đất và nôngdân, giữa nhà nớc phong kiến và giai cấp địa chủ, mặc dầu, giai cấp địa chủ là cơ

sở của giai cấp nhà nớc phong kiến và nhà nớc phong kiến là chính quyền của giaicấp địa chủ

Về phía giai cấp nông dân, do tính chất không cố định của quyền sở ruộng

đất của các giai cấp, tầng lớp, nên nông dân Trung Quốc luôn luôn mơ ớc đợc vơnlên thành địa chủ, hơn nữa là thành quan lại, thậm chí có kẻ muốn trở thành vuachúa

Nh vậy, giai cấp nông dân Trung Quốc là giai cấp bị nhà nớc phong kiến vàgiai cấp địa chủ áp bức bóc lột rất cực khổ, nên giàu tính đấu tranh, nhng ngoài hạnchế chung của giai cấp nông dân thời trung đại, giai cấp nông dân Trung Quốc chịu

Trang 20

ảnh hởng nặng nề của t tởng phong kiến, do đó một khi nổi dậy khởi nghĩa họ liềnxng làm vua, lập triều đình văn võ thậm chí còn phong vơng, phong hầu nữa và nếuthắng lợi thì tớng lĩnh của họ biến hẳn thành một tập đoàn phong kiến mới.

2.2 Chế độ ruộng đất ở Trung Quốc thời phong kiến.

Thời cổ đại, cũng nh ở các nớc phơng Đông khác, ruộng đất ở Trung Quốcthuộc quyền sở hữu của nhà nớc Đến thời Xuân thu - Chiến Quốc chế độ thái ấp, vàchế độ tỉnh điền bớc vào thời kỳ tan rã, hiện tợng mua bán ruộng đất xuất hiện,ruộng đất t bắt đầu ra đời Từ sau chiến quốc, ruộng đất t ngày càng phát triển,trong khi đó, ruộng công vẫn tồn tại Do vậy, hai hình thái sở hữu ruộng đất của nhànớc và của t nhân tồn tại song song từ đầu đến cuối trong chế độ phong kiến TrungQuốc

2 2.1 Ruộng đất nhà nớc.

Bộ phận ruộng đất thuộc quyền quản lý trực tiếp của nhà nớc trong sử sáchTrung Quốc thờng đợc gọi bằng tên công điền, vơng điền, quân điền Ngoài loạiruộng đất vốn do nhà nớc quản lý, còn có ruộng đất vắng chủ sau những thời kỳchiến tranh loạn lạc Vậy nên, thông thờng trong các thời kỳ đầu, các triều đạiphong kiến ở Trung Quốc nắm đợc nhiều ruộng đất Trên cơ sở ấy, các triều đạiphong kiến đem ban cấp cho quý tộc làm bổng lộc, một bộ phận thì tổ chức thành

đồn điền, điền trang để sản xuất, hoặc chia cho nhân dân dới hình thức quân điềnthu tô thuế Trong các chính sách xử lý ruộng đất, đáng chú ý nhất là chế độ quân

điền tồn tại từ cuối (thế kỷ V - VIII)

Vào thời Nam Bắc Triều, ở miền Bắc Trung Quốc do chiến tranh, đói kémnhân dân phải rời bỏ quê hơng đi lu lạc ở nơi khác, do đó, ruộng đất bỏ hoang rấtnhiều, việc sản xuất nông nghiệp bị đình đốn Trớc tình hình ấy, học tập kinhnghiệm thống trị của các triều đại phong kiến Hán tộc, năm 485, vua Hiến Văn Đếcủa triều Bắc Nguỵ ban hành chế độ quân điền, mục đích nhăm khôi phục và pháttriển sản xuất nông nghiệp, bảo đảm nguồn thuế khoá cho nhà nớc, sau Bắc Nguỵ,các triều Bắc Tề, Tuỳ, Đờng đều tiếp tục thi hành chính sách quân điền với nhữngnội dung có ít nhiều thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của từng thời kỳ

Tuy nhiên về quy định cụ thể, chính sách quân điền của các triều đại nói trên

ít nhiều khác nhau, nhng tinh thần chung của chế độ đó là:

Nhà nớc đem ruộng đất do mình trực tiếp quản lý cấp cho nông dân cày cấy

Trang 21

Thời Bắc Nguỵ, đàn ông từ 15 tuổi trở lên đợc cấp 40 mẫu ruộng trồng lúa và

20 mẫu ruộng trồng dâu; đàn bà cấp 20 mẫu ruộng trồng lúa; nô tỳ cũng đợc cấp

nh ngời tự do Nếu ruộng thuộc loại đất phải để một hay hai năm thì đợc nhận gấp

đôi hoặc gấp ba

Cuối đời Đờng thì quy định, đàn ông từ 18 tuổi trở lên đợc cấp 80 mẫu ruộngtrồng lúa gọi là ruộng vĩnh nghiệp ; cụ già, ngời tàn tật đợc 46 mẫu ruộng khẩuphần; bà già đợc cấp 30 mẫu ruộng khẩu phần, nếu là chủ hộ thì cấp nửa suất theotráng đinh

Các quan lại, tuỳ theo chức vụ cao hay thấp đợc cấp ruộng đất làm bổng lộc.Thời Bắc Nguỵ, quan lại thấp nhất đợc cấp khoảnh (1khoảnh bằng 100 mẫu),cao nhất đợc 15 khoảnh

Thời Đờng quý tộc, quan lại tuỳ theo địa vị, công lao, chức tớc mà đợc bancấp ruộng vĩnh nghiệp, ruộng thởng công và ruộng chức vụ Ruộng vĩnh nghiệp đợcphong tớc và các quan tứ ngũ phẩm trở lên, ít nhất là 5 khoảnh nhiều nhất là 100khoảnh; ruộng thởng công ban cho nhiều nhất đợc 30 khoảnh; ruộng chức vụ bancho các quan lại làm lơng bổng ít nhất là 8 khoảnh nhiều nhất là 12 khoảnh

Ruộng trồng lúa đến 60 tuổi phải trả lại cho nhà nớc, ruộng trồng dâu, ruộngvĩnh nghiệp đợc truyền cho con cháu Ruộng chức vụ của quan lại khi thôi chứcphải giao lại cho ngời mới nhận chức Từ ruộng ban thởng cho quý tộc, quan lại đ-

ợc tự do mua bán, còn nói chung ruộng đất cấp cho nông dân là không đợc chuyểnnhợng Nhng trong một số trờng hợp đặc biệt nh nông dân thiếu hoặc thừa ruộngtrồng dâu, gia đình có việc tang ma mà nghèo túng thì có thể mua bán ruộng trồngdâu, thậm chí, chính sách quân điền ở đời Đờng còn quy định nếu nông dân dời chỗ

từ nơi ít ruộng đến nơi nhiều ruộng thì đợc bán cả ruộng khẩu phần

Mục đích của chế độ quân điền là hạn chế sự tập trung quá nhiều ruộng đấtvào tay giai cấp địa chủ, để nông dân có một ít ruộng cày cấy, bảo đảm nguồn thếkhoá và lao dịch cho nhà nớc Tuy vậy, chế độ quân điền ngay cả ở thời Tuỳ Đờng,chỉ thi hành ở miền Bắc, nơi có nhiều ruộng đất vô chủ Hơn nữa, ngay ở miền Bắcchế độ đó cũng không đợc thi hành triệt để Nhiều tài liệu đời Đờng để lại cho biếtrằng rất nhiều nông dân không có đủ số ruộng theo mức quy định

Tuy vậy, chế độ quân điền cũng có những ý nghĩa nhất định, những nông dânkhông có hoặc có ít ruộng đất, những ngời đi ly tán trở về quê hơng đều đợc chiaruộng đất, vì thế họ trở thành nông dân cày cấy ruộng của nhà nớc, thoát khỏi lệ

Trang 22

thuộc và giai cấp địa chủ Toàn bộ ruộng đất bỏ hoang vì chiến tranh nay đợc canhtác trở lại, việc sản xuất nông nghiệp dần dần đợc phát triển, bởi vậy không nhữngthu nhập của nhà nớc đợc đảm bảo mà đời sống của nhân dân cũng đợc cải thiện ítnhiều Trên cơ sở chế độ quân điền, nhà nớc bắt nông dân phải chịu nghĩa vụ ngangnhau về thuế khóa và lao dịch, mà đến thời Tuỳ Đờng thì quy định thành chế độ tô,dung, điệu "Tô" là thuế đánh vào ruộng lúa, "điệu" là thuế đánh vào đất lâu dài,còn "dung" là thuế hiện vật thay cho nghĩa vụ lao dịch Thời Đờng, mức thuế quy

định nh sau: Mỗi tráng đinh mỗi năm phải nộp "tô" bằng hai thạch thóc, "điệu"bằng 20 thớc lụa và 3 lạng tơ, "dung" bằng 60 thớc lụa để thay cho 20 ngày laodịch Chế độ quân điền và chế độ tô, dung điệu không những đợc thi hành ở TrungQuốc trong một thời gian khá dài mà còn đợc nhiều nớc láng giềng bắt chớc Nhng

do sự chiếm đoạt ruộng đất của giai cấp địa chủ, do một số nông dân không chịunổi nghĩa vụ thuế khoá phải rời bỏ quê hơng đi tha phơng cầu thực, đặc biệt là do vụloạn A Sử năm (755 - 763) đã gây nên sự xáo động lớn về nhân khẩu, nên chế độquân điền bị phá hoại dần dần và nhà nớc cũng không nắm vững số nhân khẩu đểthu tô, dung , điệu nữa Bởi vậy, năm 780 nhà Đờng phải đặt ra một chính sách thuếkhoá mới gọi là: "phép thuế hai kỳ" Chính sách thuế mới này quy định: Nhà nớcchỉ căn cứ theo số ruộng đất và tài sản có thể để đánh thuế; đồng thời thuế đợc thulàm hai lần vào hai vụ thu hoạch tháng 6 và tháng 11 âm lịch

Bỏ tô, dung, điệu, chỉ căn cứ theo tài sản có thực để đánh thuế, điều đó chứng

tỏ rằng, đến đây nhà nớc phải công khai thừa nhận sự phá sản của chế độ quân điền

Từ đó đến cuối chế độ phong kiến, bộ phận ruộng đất của nhà nớc vẫn tiếptục tồn tại nhng nhìn chung ngày càng bị thu hẹp Với số ruộng đất do nhà nớc trựctiếp quản lý, các triều đại từ Tống về sau chỉ đem ban cấp cho quan lại, lập đồn điền

và các điền trang gọi là hoàng trang, quan trang, tỉnh trang v.v Chứ không cònchính sách gì mới

Đặc biệt, dới thời Minh, Thanh chế độ quân điền hoàn toàn tan rã Thay vào

đó là chế độ sở hữu t nhân về ruộng đất chiếm vị trí tuyệt đối Nhà nớc thời kỳ nàytuy ruộng đất công vẫn còn bị thu hẹp, Chẳng hạn "thời gian đầu của triều Minh"diện tích ruộng đất đóng thuế cho nhà nớc là trên 8 triệu khoảnh, nhng đến cuối thế

kỷ XV trở về sau, số diện tích này chỉ còn lại hơn 4 triệu khoảnh Trên cơ sở ruộng

đất còn lại, các triều đại phong kiến Minh, Thanh đem lấy ban cấp cho các thân

Trang 23

v-ơng, công hầu, hoạn quan, ngoại thích Lập thanh điền trang với các tên gọi khácnhau: "quang trang", "hoàng trang", "tỉnh trang".

Nh vậy, sự tan rã của chế độ quân điền, cùng nạn kiêm tính, chiếm đoạtruộng đất của bọn địa chủ, quan lại chính là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế phongkiến Trung Quốc lâm vào con đờng khủng hoảng

Cùng với sự thu hẹp ruộng đất và sự tan rã của chế độ quân điền thì chế độ tôthuế, quân dịch cũng thay đổi Nếu trớc kia nông dân nhận ruộng của nhà nớc càycấy, sản xuất thì phải nộp tô thuế bằng hiện vật (thóc, bông, gạo) chịu nghĩa vụ laodịch khoảng 100 đến 150 ngày Nhng đến thời Minh, Thanh tô thuế lao dịch có thểnộp bằng tiền, cụ thể đời Minh Thần Tông (1573 - 1620) đã tiến hành chỉnh đốn, đo

đạc lại ruộng đất và thi hành chính sách: "Một cái roi" (nhất điều tiên pháp) Chínhsách "một cái roi" tức là đem mọi tạp thuế nghĩa vụ lao dịch, gộp với thuế ruộng đấttính chung rồi đem trích thu bằng bạc; hay ở thời Thanh vua Anh Tông vùng GiangNam phải nộp thuế bằng bạc lạng, đến Thế Tông, Mục Tông cũng thực hiện phép

"nhất điều tiên pháp"

Trên thực tế, những chính sách ở các triều đại thời Minh, Thanh về thuếkhoá, lao dịch và các khỏan thu thế, từ chỗ thu bằng hiện vật sang thu bằng tiền đãtạo điều kiện cho nền kinh tế hàng hoá phát triển trong nông nghiệp, góp phần tíchcực đến sự khủng hoảng và suy thoái của nền kinh tế Trung Quốc hậu kỳ trung đại

2.2.2 Ruộng đất t

Tình hình tập trung ruộng đất vào tay đại địa chủ

Bắt đầu từ thời Xuân thu, Chiến quốc ruộng đất t ở Trung Quốc xuất hiệnngày một nhiều Do sự phá hoại của chế độ tỉnh điền, việc vua các nớc ban cấpruộng đất không kèm theo điều kiện cho quan lại và tớng sĩ để khuyến khích họ lậpcông và do việc khai phá đất hoang mà công cụ bằng sắt đã tạo nên một phơng tiệnrất thuận lợi Trong quá trình ấy, việc mua bán ruộng đất đã trở thành một hiện t-ợng phổ biến càng thúc đẩy sự phát triển của quyền sở hữu t nhân về ruộng đất

Đến thời Tần Hán, phần lớn ruộng đất trong nớc đều tập trung vào tay giai cấp địachủ Trong tờ sớ dâng lên Hán Vũ Đế, Đổng Trọng Th nói: "Đến đời Tần dùngluật của Thơng Ưởng, sửa đổi chế độ của các đế vơng, bỏ tỉnh điền, dân đợc muabán, nhà giàu ruộng liền bờ bát ngát, ngời nghèo không có tấc đất cắm dùi nhàHán nổi lên, cũng theo nh thế mà không thay đổi"

Trang 24

Từ đời Đờng về sau, việc ban cấp ruộng đất cho các thân vơng, công thần lạicàng phóng tay hơn Ví dụ một ông thần tên là Lý Tịch đợc vua Đờng ban cho1.000 khoảnh ruộng Ngoài số ruộng đất đợc ban thởng, bọn địa chủ còn chiếm đoạtruộng đất của nông dân hoặc tìm cách biến ruộng công thành ruộng đất riêng củamình Vì vậy, trong xã hội số đại địa chủ mà ngời đơng thời gọi là "ông nhiềuruộng" (L Hùng Nguyên), "kẻ nghiện đất" (Lý Bành Niên)

Hiện tợng tập trung ruộng đất vào tay giai cấp địa chủ đời Nguyên lại càngkinh khủng, trong đó các thân vơng quý tộc Mông Cổ đợc vua ban cho rất nhiềuruộng đất Đã thế bọn địa chủ còn tự mình chiếm đoạt ruộng đất của dân, có kẻ nh

An Tây Vơng đã chiếm đến hơn 100 nghìn khoảnh Nhân tình hình đó, bọn địa chủHán tộc cũng đua nhau chiếm đoạt ruộng đất, có nơi nh ở Phúc Kiến 5/6 ruộng đấtcủa cả huyện Sùng An thuộc về địa chủ

Đầu đời Minh, Chu Nguyên Chơng có quy định các công thần, công hầu,thừa tớng đợc ban cấp nhiều nhất là 100 khoảnh còn thân vơng thì đợc 1 nghìnkhoảnh Nhng đến cuối đời Minh các thân vơng công chúa, sùng thần thờng đợcban cấp hàng nghìn, hạng vạn khoảnh, nh Phúc Vơng đợc 20.000 khoảnh, quanhoạn Nguỵ Trung Hiền đợc ban 10 nghìn khoảnh, bọn phú hào ở các địa phơngcũng chiếm hữu hàng triện mẫu ruộng, do đó ở miền ven biển Đông Nam có nơi cứ

10 ngời thì 9 ngời không có ruộng Nh vậy, thời phong kiến ruộng t ngày càng pháttriển và số tập trung vào tay bọn địa chủ ngày càng một nhiều Vì vậy câu nói "nhàgiàu ruộng liền bờ bát ngát, ngời nghèo không có tấc đất cắm dùi" đợc nhắc đi nhắclại nhiều lần trong sử sách Trung Quốc, những ngời nông dân còn giữ lại đợc một ítruộng đất thì phải chịu su cao thuế nặng, nhiều ngời không nộp đợc thuế phải đivay nợ lãi, cầm cố ruộng đất hoặc bán đợ vợ con, rồi bản thân mình trở thành tá

điền, ngời làm thuê, nô tỳ hoặc tha phơng cầu thực Đời sống cực khổ cho nênphong trào đấu tranh của nông dân nghèo liên tiếp nổ ra đặc biệt cuối đời Minh

Dới triều Thanh, tình trạng độc quyền phong kiến đối với vấn đề ruộng đấtcủa bọn đại địa chủ quý tộc còn chắc chắn hơn nhiều Mặc dù nhà nớcc đã ra sắclệnh cấm nông dân bán đất khẩu phần Nhng do đói kém, tô thuế cao cho nên ngờinông dân phải cầm cố ruộng đất, hoặc bán ruộng đất của mình cho bọn đại địa chủ,quan lại, do đó đất khẩu phần ngày càng bị thu hẹp Ngời ta ớc tính rằng đến giữathế kỷ XIX đất khẩu phần mất khoảng 20 - 25%

Trang 25

Cuối cùng năm 1853 do không ngăn cản đợc kiên tính ruộng, lệnh cấm bánruộng đất của nhà Thanh bị thủ tiêu Điều này càng tạo điều kiện cho nạn kiên tínhruộng đất phát triển, mà cụ thể là các tỉnh Sơn Đông, Trực Lê, Quảng Đông, GiangTô chế độ chiếm hữu ruộng đất trở nên phổ biến, hay giữa thời Càn Long - GiaKhánh chiếm hơn 800 khoảnh đất, thời đạo Quang số ruộng đất mà Kỳ Thiện - tổng

đốc Trực Lê đã chiếm đoạt lên tới 2.500 khoảnh Nhìn vào những con số cụ thể này,

có thể giải thích đợc vì sao ruộng đất công của nhà nớc lại bị thu hẹp đến nh vậy

Trên cơ sở đất đợc ban cấp, mua bán, cớp đoạt các đại địa chủ quý tộc, quanlại đã tiến hành tổ chức thành những điền trang rộng lớn Thời kỳ này đặc trng củachế độ phong kiến Trung Quốc vẫn là chế độ phát canh thu tô với mức cao 50 -70% Tô ruộng lúa thờng là 1/2 thu hoạch (150 đến 200 thang thóc) Lực lợng lao

động chủ yếu trong các hoàng trang, quang trang, là tá điền, quân lính phạm nhân

Từ thời Đông Hán, tổ chức điền trang đã ra đời và tồn tại lâu dài trong lịch

sử Tơng tự nh trang viên phong kiến Tây Âu, điền trang là những đơn vị kinh tế tựcấp, tự túc Trong các điền trang, không những chỉ trồng các loại ngũ cốc mà còntrồng các thứ cây, nhằm cung cấp nguyên liệu cho các nghề thủ công nh cây dâu,cây đay Ngoài ra, ở đây còn có vờn cây ăn quả, ao thả cá, bãi chăn nuôi trong điềntrang lại có các nghề thủ công nh nuôi tằm, dệt lụa, dệt vải, nhuộm, may, nấu rợu,làm tơng chế thuốc công cụ, binh khí, có thể cung cấp đủ những nhu cầu hàng ngàycho chủ điền trang và trang dân Một số điền trang khác còn có nơi khai thác gỗ,quặng sắt, do đó phạm vi tự túc lại càng rộng

Những ngời lao động ở trong các điền trang từ thời Đông Hán đến Nam BắcTriều là điền khách, bộ khúc, nô tỳ Điền khách là những nông dân lĩnh canh ruộng

đất của điền trang và có nghĩa vụ phải nộp tô cho địa chủ Hình thức địa tô chủ yếu,nếu không nói là duy nhất ở đây là tô sản phẩm Còn bộ khúc là những điền khách

đợc tập luyện quân sự, bình thờng thì sản xuất nông nghiệp, khi có chiến sự thì trởthành lực lợng tự vệ của điền trang Tuy có khác nhau về tên gọi, nhng cả hai loại

điền khách và bộ khúc đều là nông dân lệ thuộc vào chủ điền trang Tuy nhiên, mức

độ lệ thuộc ấy không chặt chẽ nh nông nô ở Phơng Tây Họ không bị đời đời buộcchặt vào ruộng đất của chủ mà có thể tự rời bỏ điền trang bất cứ lúc nào Chính vìvậy, nhiều triều đại phong kiến ở Trung Quốc đã dùng nhiều chính sách mà quantrọng nhất là chính sách quân điền, để thu hút nông dân lệ thuộc vào giai cấp địachủ thành nông dân cày cấy ruộng đất của nhà nớc

Trang 26

Ngoài điền khách thì bộ khúc, nô tỳ, vẫn còn giữ địa vị khá quan trọng trongsản xuất nhất là trong thủ công nghiệp.

Trong những thời kỳ chính quyền trung ơng suy yếu, đất nớc loạn ly, các

điền trang đã trở thành cơ sở của các lực lợng phong kiến mang ít nhiều tính chất

độc lập, nhng nói chung, điền trang ở Trung Quốc tồn tại trong điều kiện có bộ máychính quyền từ trung ơng đến địa phơng, nên điền trang không phải là những đơn vịhành chính t pháp

Đến thời Đờng, Tống, cùng với sự phát triển quyền t hữu ruộng đất của giaicấp địa chủ, số điền trang trong nớc càng nhiều hơn trớc Nhng đồng thời, do sựphát triển của kinh tế hàng hoá, tính chất tự nhiên của kinh tế điền trang có giảmbớt, có một số điền trang còn sản xuất đốt than để đem ra bán ở thị trờng Mặt khác,thân phận của lực lỡng lao động sản xuất chủ yếu trong các điền trang nay gọi làtrang khách, thuần tuý là những tá điền của chủ

Do không có sự đột biến về kinh tế xã hội, hình thức điền trang còn tồn tạilâu dài, nhng những thay đổi nói trên trong tổ chức điền trang thời Đờng ,Tống, lànhững biểu hiện của sự tan rã dần dần của chế độ điền trang ở Trung Quốc

Nh vậy, dới thời phong kiến nói chung ruộng đất phần lớn đều thuộc quyền

sở hữu t nhân của giai cấp địa chủ Tình hình ấy, đã ảnh hởng đến sự vững chắc củachế độ tập quyền, đến nguồn thuế khoá và lao dịch nhà nớc Bởi thế, các triều đạiphong kiến đã nhiều lần ban hành các chính sách nhằm hạn chế sự chiếm đoạt vô

độ của giai cấp địa chủ, nh chính sách hạn điền của Vơng Mãng, chính sách chốngchiếm đoạt ruộng đất của Chu Nguyên Chơng Những chính sách ấy hoặc là khôngthực hiện đợc, hoặc là hiệu quả chẳng đợc bao nhiêu Đến cuối các triều đại, khichính quyền trung ơng suy yếu, bọn địa chủ, nhân đó lại tăng cờng chiếm đoạtruộng đất Tuy nhiên, những cuộc chiến tranh nông dân đã đánh mạnh vào thế lựckinh tế của giai cấp địa chủ, cho nên các triều đại mới lập ra đều có điều kiện, để

điều chỉnh tạm thời tỷ lệ giữa ruộng đất của nhà nớc, và địa chủ t nhân

Bên cạnh địa chủ t nhân, nhà chùa, phật giáo và đạo giáo cũng là những tập

đoàn phong kiến chiếm rất nhiều ruộng đất Do sự phát triển mạnh mẽ của tầng lớp

địa chủ nhà chùa, giữa thế kỷ IX, Đờng Vũ Tông đã ra lệnh "bỏ phật", tức là chỉ giữlại một số ít chùa chiền ở kinh đô và các châu quận với một số s sãi rất hạn chế.Kết quả là nhà nớc tịch thu đợc 10 triệu khoảnh ruộng, qua đó có thể biết đợc sốruộng đất của nhà chùa không phải là ít Lệnh "bỏ phật" này chỉ duy trì đợc dăm ba

Trang 27

năm Sau khi Vũ Tông chết, thế lực của nhà chùa lại khôi phục và thậm chí còn pháttriển hơn trớc Với chính sách lợi dụng tôn giáo để cai trị, đến thời Nguyên thế lựcphật giáo, nhất là Lạt ma và đạo giáo ngày càng mạnh Các vua Nguyên thờng banrất nhiều ruộng đất cho các đạo chùa, trong đó chùa Thừa Thiên hộ thánh trong hai

đời vua Văn Tông và Thuận Đế (thế kỷ XIV), trớc sau đợc ban tặng 350 nghìnkhoảnh ruộng đất Ngoài ruộng đất đợc vua ban, các s sãi phật giáo còn chiến đoạtruộng đất của dân, tiêu biểu là nhà s Thẩm Minh Nhân kẻ đứng đầu giáo phái BạchVân ở miền Nam Trung Quốc đã chiếm 20 nghìn khoảnh ruộng của dân [10 - 189]

Đạo giáo trong thời Đờng Tống đợc tôn làm quốc giáo, nên thế lực cũng pháttriển nhanh chóng

Đến thời Nguyên, đạo sĩ Trơng Tông Diễn đợc Hốt Tất Liệt cho cầm đầu đạogiáo ở miền Nam và ban cho nhiều ân huệ Vì vậy, họ Trơng cũng trở thành một địachủ lớn chiếm đợc nhiều ruộng đất và thành lập thành nhiều điền trang rộng lớn

Ngoài ruộng đất của địa chủ còn có ruộng đất của nông dân tự canh Bộ phậnruộng đất này rất ít ỏi và quyền t hữu ruộng đất của nông dân rất bấp bênh, nhng tr-

ớc sau vẫn tồn tại trong suốt xã hội phong kiến Trung Quốc

Nh vậy, giai cấp nông dân Trung Quốc thời phong kiến luôn luôn là đối tợngbóc lột chủ yếu của giai cấp thống trị với nhiều hình thức nh cống nộp, tô thuế, laodịch, binh dịch nặng nề Nếu nh ở thời cổ đại, nông dân công xã bị bọn quý tộc chủnô thống trị bóc lột, thì ở thời trung đại, nông dân Trung Quốc bị bọn quan lại quýtộc phong kiến áp bức, đè nén nặng nề, tàn bạo dã man, họ phải chịu cuộc sống cựckhổ, nhng họ lại là lực lợng sản xuất chủ yếu của xã hội vì vậy mâu thuẫn xã hộingày càng gay gắt

Trong xã hội phong kiến, nền kinh tế tự cung, tự cấp chiếm địa vị chủ yếu.Nông dân chẳng những sản xuất ra nông sản phẩm cho nhu cầu của mình, mà cònsản xuất ra sản phẩm lớn cho nhu cầu phục vụ cho nhu cầu xã hội Địa tô mà bọn

địa chủ, quý tộc phong kiến bóc lột của nông dân chủ yếu hởng thụ chứ không trao

đổi, dẫn đến tình trạng xã hội trị trệ kém phát triển

Giai cấp địa chủ, quý tộc phong kiến và nhà vua chiếm giữa phần ruộng đấtlớn nhất Còn nông dân có ít hoặc hoàn toàn không có ruộng đất Nông dân dùngcông cụ, sức lao động của mình để cày cấy ruộng đất cho địa chủ, quý tộc nhà vua,

và phải đem 7,8/10 thu hoạch nộp cho chủ chẳng những địa chủ quý tộc, nhà vuasống bám vào bóc lột địa tô của nông dân mà nhà nớc của giai cấp địa chủ còn cỡng

Trang 28

bức nông dân cày cấy, nộp tô thuế, lao dịch không công để nuôi sống một "bầy" lớnquan lại và quân đội, mà quân đội này chủ yếu đàn áp nông dân.

Tình trạng đó, dẫn đến dới các triều đại phong kiến kể cả những triều đại hngthịnh nhất nh ở thời Đờng, nông dân đều có cuộc sống nghèo khổ, cơ cực nh thânphận nô lệ Họ chịu bóc lột về kinh tế, áp bức về chính trị của chính quyền phongkiến Nông dân bị trói buộc dới chế độ phong kiến ấy, không có quyền tự do thânthể Đối với nông dân, địa chủ có quyền tuỳ ý đánh chửi, thậm chí xử tử Mâu thuẫn

đối lập đó quy định đấu tranh giai cấp trong lòng xã hội phong kiến mà phong tràonông dân là hình thức cao nhất Nh Lênin nói: "chế độ chiếm hữu ruộng đất của địachủ là nguyên nhân chủ yếu khiến cho nông dân bị áp bức lạc hậu"

Tóm lại, giai cấp Trung Quốc thời phong kiến họ bị "róc đến xơng tuỷ", cólúc dẫn đến khuynh gia bại sản, trăm họ li tán, cũng bởi chính sách áp bức và sựchiếm đoạt ruộng đất của giai cấp địa chủ, nông dân rơi vào cảnh nô tỳ Quan phủthả sức vơ vét, thuế khoá quàng lên cổ nông dân ngày một nặng nề Cho nên: "ngày

ba lần roi vọt, còn đợi gì mà chẳng bùng lên" Từ nguyên nhân cố hữu đó, phongtrào nông dân nổ ra là tất yếu bởi quy luật phát triển lịch sử: "có áp bức có đấutranh"

2.3 Phong trào khởi nghĩa nông dân Trung Quốc thời trung đại.

2.3.1 Nguyên nhân, động lực, kết quả, ý nghĩa của phong trào nông dân Trung Quốc thời phong kiến.

Nguyên nhân:

Nh chúng ta đã biết, mỗi một phong trào, một cuộc khởi nghĩa, hay một cuộcchiến tranh cách mạng bùng nổ, đều có những nguyên nhân của nó Vậy nên, phongtrào khởi nghĩa của nông dân Trung Quốc cũng không nằm ngoài quy luật đó

Thứ nhất, xét về mặt quan hệ giai cấp, trong xã hội phong kiến Trung Quốccơ bản là mối quan hệ giữa giai cấp địa chủ và giai cấp nông dân

Nắm quyền thống trị xã hội là giai cấp địa chủ phong kiến Nó bao gồmnhiều tầng lớp khác nhau có địa vị kinh tế, chính trị khác nhau Nhng nhìn chung

đều có một điểm, đó là bóc lột nông dân để có cuộc sống giàu sang hởng lạc trên sự

đau khổ của giai cấp nông dân Với cuộc sống xa hoa, tàn ác và dâm loạn, bọnchúng lại đợc nhà nớc phong kiến bảo vệ chặt chẽ Trong xã hội phong kiến, tồn tạihai hình thái sở hữu ruộng đất, sở hữu ruộng đất nhà nớc và t nhân tồn tại song songvới nhau Điều này đã dẫn đến, khi chính quyền trung ơng mạnh thì bộ phận ruộng

Trang 29

đất của tầng lớp địa chủ cũng đợc mở rộng và ngợi lại Cho nên, giữa chính quyềntrung ơng và tầng lớp địa chủ có nhiều mâu thuẫn, chính những mâu thuẫn đó đãdẫn đến nhiều cuộc đấu tranh trong nội bộ giai cấp phong kiến Đó chính là qúatrình giành giật về sức lao động nông nghiệp, mà thực chất là sự tranh giành về tôthuế Từ đó, dẫn đến sự tồn tại và phát triển của chế độ phong kiến Trung Quốctheo hình "làn sóng", là nguyên nhân làm cho xã hội phong kiến Trung Quốc khủnghoảng triều đại có tính chất chu kỳ.

Đối lập trong xã hội phong kiến là giai cấp nông dân, giai cấp nông dân chịucuộc sống khổ cực, nhng lại là lực lợng sản xuất chủ yếu của xã hội, nông dânTrung Quốc trong xã hội phong kiến luôn chịu những chính sách áp bức bóc lột tànbạo cũng nh những chế độ su dịch của nhà nớc phong kiến, tạo cho họ cuộc sốngluôn bị đe doạ rình rập

Cho nên, mâu thuẫn cơ bản trong xã hội phong kiến Trung Quốc là mâuthuẫn giữa giai cấp nông dân và giai cấp địa chủ Trong xã hội phong kiến TrungQuốc, nền kinh tế tự cung tự cấp chiếm địa vị chủ yếu Nông dân chẳng những sảnxuất ra nông phẩm cho nhu cầu của mình, mà còn sản xuất ra phần lớn sản phẩmphục vụ cho nhu cầu xã hội Địa tô mà bọn địa chủ, quý tộc phong kiến bóc lột củanông dân chủ yếu để chúng hởng thụ chứ không hề thay đổi, dẫn đến tình trạng xãhội trì trệ kém phát triển Giai cấp thống trị địa chủ quý tộc và nhà vua chiếm phầnlớn ruộng đất Còn nông dân có ít, hoặc hoàn toàn không có ruộng đất Nông dândùng công cụ, sức lao động của mình để cày cấy ruộng đất cho địa chủ Chẳngnhững địa chủ quý tộc nhà vua sống bám vào bóc lột địa tô Mà nhà nớc của giaicấp địa chủ còn cỡng bức nông dân cày cấy, nộp thuế, lao dịch không công để nuôisống một bầy quan lại, quân đội, mà quân đội này chủ yếu đàn áp nông dân

Tình trạng đó, dẫn tới dới các triều đại phong kiến nông dân đều chịu cuộcsống nghèo khổ, cơ cực nh thân phận nô lệ vì sự bóc lột kinh tế, áp bức chính trị củachính quyền phong kiến, nông dân bị trói buộc phong kiến ấy, không có quyền tự

do thân thể Đối với nông dân, địa chủ có quyền đánh chửi, thậm chí xử tử, mâuthuẫn đối lập đó quy định cuộc đấu tranh giai cấp trong lòng xã hội phong kiến, màphong trào nông dân là hình thức cao nhất

Thứ hai, vì sự phân hoá giai cấp mạnh mẽ nh vậy, cho nên ngời cùng cực đaukhổ nhất vẫn là giai cấp nông dân Ngoài thuế ruộng đất họ còn phải nộp thuế hộ,các loại thuế phụ thu khác, còn lại chịu nghĩa vụ lao dịch đối với nhà nớc Thậm

Ngày đăng: 18/12/2013, 22:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w