Trải quacác thời kỳ lịch sử, Thanh Hoá có các nền văn hoá nổi tiếng nh: Đa Bút, HoaLộc, Đông Sơn… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát Đặc biệt trong thời kỳ phong ki
Trang 1trờng Đại học vinh khoa lịch sử
-
-Phùng thị hảo
khóa luận tốt nghiệp
tìm hiểu di tích thái miếu nhà lê
ở phờng đông vệ thành phố thanh hóa
Chuyên ngành: lịch sử Việt Nam
Vinh, 2007
-Lời cảm ơn
Để luận văn đợc hoàn thành, tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ hớng dẫn tận tình của cô Hoàng Thị Nhạc - giảng viên khoa Lịch sử cùng các thầy cô giáo
Trang 2trong khoa Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô - ngời cô nghiêm khắc và mẫu mực đã dành cho tôi sự chỉ bảo ân cần đầy lòng nhân
Trang 3A Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Thanh Hoá là một tỉnh đất rộng ngời đông, có bề dày lịch sử lâu đời ĐấtThanh Hoá nơi phát hiện vết tích của ngời tối cổ – Văn hoá Núi Đọ Trải quacác thời kỳ lịch sử, Thanh Hoá có các nền văn hoá nổi tiếng nh: Đa Bút, HoaLộc, Đông Sơn… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất pháttích của nhiều dòng Vua Chúa nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam nh: Triệu ThịTrinh, Dơng Đình Nghệ, Lê Hoàn, Lê Lợi, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát Cóthể nói trong lịch sử dựng nớc và giữ nớc của dân tộc ta, ở hầu nh tất cả cácthời điểm có tính chất bớc ngoặt, đất Thanh Hoá, ngời Thanh Hoá đều có vaitrò, đóng góp, quyết định đến vận mệnh lịch sử, đến hng, vong của quốc gia,của dân tộc
Trong lịch sử dân tộc, Lê Lợi - ngời thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa LamSơn giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, đã thiết lập nênmột triều đại mới nhà Lê (1428 - 1788), mở ra một thời kỳ đặc biệt cho lịch sửdân tộc: Thời kỳ độc lập lâu dài nhất trong lịch sử chế độ phong kiến ViệtNam Đó là thời điểm mở đầu cho một triều đại mà dù còn có lúc chìm lúcnổi, lúc thịnh, lúc suy với những diễn biến phức tạp, nhng cũng để lại nhiềubài học sâu sắc nhất là về tinh thần đoàn kết dân tộc, về quản lý đất nớc, quản
lý con ngời và xã hội… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát trong lịch sử Việt Nam nói chung và Thanh Hoá nóiriêng
Để tởng nhớ đến công lao to lớn của vơng triều nhà Hậu Lê, với ý nghĩa
đề cao văn hoá, tôn trọng lễ thức truyền thống và thuần phong mỹ tục của dântộc Việt Nam – tôn vinh vơng triều Hậu Lê – một vơng triều đã có công lớntrong lịch sử đánh giặc ngoại xâm giành lại nền độc lập cho dân tộc và nhằmkhơi dậy đạo lý “Uống nớc nhớ nguồn” trong nhân dân, nhà Nguyễn vào đờiVua Gia Long thứ 4 (1805), đã cho xây dựng điện Hoằng Đức ở làng Kiều
Đại, xã Bố Vệ, tổng Bố Đức, phủ Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá để phụng thờ cácHoàng đế và Hoàng Hậu thời Lê Di tích Thái Miếu nhà Lê là một trongnhững di tích quan trọng nằm trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá Đây là nơi lu giữnhững huyền tích, huyền thoại và nhiều sự kiện thông qua nhân vật lịch sử đợctôn thờ của một triều đại quân chủ Việt Nam đã từng tồn tại 360 năm kể từ khiVua Lê Thái Tổ dựng cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân nhà Minh, lập lại nền độclập tự chủ cho nớc nhà, truyền đến thời Vua Lê Chiêu Tông thì bị họ Mạc cớpngôi, sau đó đợc họ Nguyễn và họ Trịnh giúp đỡ, nhà Hậu Lê lại trung hngtruyền đến đời Vua Chiêu Thống tức là Mẫn Đế thì hết (Tất cả là 26 vị Vua,
Trang 4cả Lê Sơ và Lê Trung Hng) Từng ấy năm trị vì đất nớc nhà Lê đã củng cố nền
độc lập, xây dựng nớc Đại Việt thành một quốc gia lớn, cờng thịnh Trải quagần 200 năm tồn tại âm thầm và lặng lẽ với những bớc thăng trầm của lịch sửcộng với sự tàn phá của nắng ma lụt úng của mối mọt và con ngời nhng cómột thực tế Bố Vệ Miếu đã chứa đầy những chứng tích lịch sử Dù có phần hhỏng nhiều nhng hiện nay vẫn còn lu giữ đợc phần lớn dáng vẻ của ngôi đền
và những giá trị lịch sử – văn hoá Hiện nay ngôi đền đã trở thành trung tâmsinh hoạt tinh thần của ngời dân Thanh Hoá và nó còn có ý nghĩa to lớn trong
đời sống tâm linh và trong cuộc sống đời thờng của ngời dân nơi đây
Là một ngời con đợc sinh ra và lớn lên trên mảnh đất xứ Thanh, một vùng
đất đợc xem là “phên dậu thứ 2 của phía Nam” nơi “địa linh nhân kiệt”, tôi hếtsức tự hào về vùng đất của mình Giờ đây lớn lên đợc học dới mái Trờng Đạihọc Vinh, đợc đào tạo để trở thành một nhà nghiên cứu lịch sử trong tơng lai,tôi đã nhìn thấy đợc tầm quan trọng của các công trình kiến trúc cổ nên cầnphải đợc bảo vệ các công trình kiến trúc đó trên quê hơng mình, để tiếp tụcgiữ gìn và phát huy các giá trị vật chất và tinh thần mà ông cha ta đã để lại chocác thế hệ trẻ chúng ta ngày nay Với lý do đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Tìmhiểu di tích Thái Miếu nhà Lê ở phờng Đông Vệ, Thành Phố Thanh Hoá”
2 Lịch sử vấn đề
Thái Miếu nhà Lê đợc Nhà nớc xếp hạng di tích quốc gia 12/1995 Nhng
từ trớc tới nay ngôi đền này đã bị xuống cấp nghiêm trọng vì do chiến tranh và
sự tàn phá vô thức của con ngời, thêm vào đó là sự tàn phá của thiên nhiên,cho nên cũng không có nhiều bài viết, bài báo, sách vở nghiên cứu về đề tàinày một cách toàn diện và hệ thống Vì vậy khi làm khoá luận tốt nghiệp với
đề tài: Tìm hiểu di tích Thái Miếu nhà Lê ở ph“ ờng Đông Vệ, Thành Phố Thanh Hoá”,tôi đã căn cứ vào các tài liệu sau:
Vũ Ngọc Khánh “Đền miếu Việt Nam” nhà xuất bản Thanh Niên năm 2000Cuốn sách này thiên về đánh giá vị trí lịch sử của ngôi đền, đã khái quát
đợc đặc điểm kiến trúc, lễ hội của ngôi đền Lê
- Nguyễn Diên Niên “Lam Sơn thực lục” Nhà xuất bản KHXH – HN
Trang 5Qua cuốn sách này bạn đọc có thể nắm vững thân thế sự nghiệp của 26 vịVua nhà Lê.
- Ngô Sỹ Liên Đại Việt sử ký toàn th“ ”.
Cuốn sách nay thiên về đánh giá công lao ,sự nghiệp của các vua nhà Hậu Lêtrong lịch sử nớc nhà
- Nguyễn Đăng Ngân lễ “ – hội Đền Lê” Ban quản lý di tích vàdanh thắng Thanh Hoá
Bài viết này đề cập một cách chi tiết về sinh hoạt văn hoá, lễ hội của TháiMiếu nhà Lê trong đời sống tâm linh của nhân dân địa phơng
- Quốc sử quán triều Nguyễn “Đại nam nhất thống chí” tập 2 – NXB
đây bái tổ
Có thể nói Thái Miếu nhà Lê đợc xem là “món ăn tinh thần” không thểthiếu của con ngời nơi đây và ngời dân nơi đây cũng luôn tự hào về nó Cácbậc thế hệ cha ông đi trớc luôn có ý thức giáo dục con cháu sau này thấy đợcgiá trị của Thái Miếu Mỗi chúng ta luôn luôn phải ý thức trách nhiệm gìn giữ,tôn tạo và phát triển nó, làm cho nó thực sự trở thành trung tâm văn hoá, dulịch Việt Nam
Do vậy, trên cơ sở thừa hởng những công trình đã nghiên cứu cùng với
nguồn tài liệu thu thập đợc từ thực tế tôi đã cố gắng hoàn thành đề tài Tìm“
hiểu di tích Thái Miếu nhà Lê ở phờng Đông Vệ, Thành Phố Thanh Hoá ”Tuy nhiên do tài liệu còn tản mạn, bản thân đang là một sinh viên nêntrong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận đợc
sự chỉ bảo của các thầy cô cùng bạn đọc quan tâm
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi chỉ giới hạn vào nội dung chính là: “Tìmhiểu di tích Thái Miếu nhà Lê ở phờng Đông Vệ, thành phố Thanh Hoá”
Trang 6Thái Miếu nhà Lê là một di tích lịch sử văn hoá nghệ thuật kiến trúc
cấp quốc gia nên ngay từ đầu tôi sẽ đi sâu tìm hiểu về vị trí địa lý và conngời nơi đây
Vấn đề thứ 2 của đề tài này chúng tôi đặc biệt chú trọng nghiên cứu cácnội dung chính là tìm hiểu quá trình ra đời và xây dựng của ngôi Thái Miếunhà Lê về mặt thời gian và các công trình kiến trúc, cách thức thờ tự của ngôiThái Miếu này
Vấn đề thứ 3 chúng tôi phải tìm hiểu giá trị của ngôi Thái Miếu nhà Lêvới địa lịch sử – văn hoá
Các sách lịch sử văn hoá, địa danh lịch sử, các báo cáo, các bài phát biểu
và các quyết định của các cơ quan chức năng có thẩm quyền liên quan đến đềtài này
Hồ sơ lý lịch về Thái Miếu nhà Lê
Tập bản vẽ tranh ảnh, tợng thờ cúng ở Thái Miếu
Ngoài ra tôi còn sử dụng các tài liệu điền dã, trực tiếp trao đổi với các cán
bộ từng làm công tác quản lý tại Thái Miếu và các ý kiến của các bậc tiền bốihiện nay vẫn còn sống đã từng chứng kiến về quá trình phát triển và tồn tạicủa ngôi Thái Miếu Ngoài ra tôi còn tiến hành khảo sát thực tế tại Thái Miếu,
từ đó kết hợp với các tài liệu để xử lý thông tin lấy t liệu phục vụ cho đề tài màtôi đang nghiên cứu, làm cho nguồn tài liệu trở nên phong phú hơn
4 Phơng pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này tôi sử dụng các phơng pháp nghiên cứu sau:
Phơng pháp logic, phơng pháp lịch sử: su tầm khai thác t liệu để đánh giáxem xét các sự vật hiện tợng, sự kiện lịch sử một cách chính xác khoa họchơn
Ngoài ra tôi còn sử dụng các phơng pháp nghiên cứu khác nh: đo, vẽ,chụp ảnh,… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát để bổ sung cho nguồn t liệu phục vụ cho đề tài
5 Bố cục của đề tài
Đề tài: Tìm hiểu di tích Thái Miếu nhà Lê ở ph“ ờng Đông Vệ, Thành Phố Thanh Hoá” đợc trình bày.
Ngoài phần dẫn luận, kết luận, tài liệu tham khảo nội dung của đề tài đợctrình bày trong 3 chơng
Chơng I: Một số nét khái quát về Phờng Đông Vệ, Thành Phố Thanh Hoá Chơng II: Di tích Thái Miếu nhà Hậu Lê
Chơng III: Sinh hoạt văn hoá tinh thần ở Thái Miếu
Trang 7
B Nội dung Chơng I: Một số nét khái quát về Phờng
Diện tích tự nhiên trớc 1945, là 4881321m2, xấp xỉ 5 km2, trong đó
đất canh tác 300 ha Năm 1997, diện tích đất tự nhiên là 48877 ha,trong đó diện tích đất canh tác là 155 ha [19,7]
Dân số của Phờng: Năm 1945 là 2750 ngời, năm 1997 là 15444
ng-ời Từ xa Đông Vệ có con sông nhà Lê bao quanh hai mặt phía Đông vàphía Nam chảy qua địa phận bốn làng của phờng Sông nhà Lê đã ghidấu cuộc chiến đấu oanh liệt do Trần Nhật Duật chỉ huy chống quânNguyên Mông xâm lợc ở thế kỷ thứ XIII Cầu Bố còn ghi sâu tội ác trờikhông dung, đất không tha của quân Pháp xâm lợc đối với dân làng ThọHạc sau trận nghĩa quân Cần Vơng tiến công thành Thanh Hoá năm
1886 Với địa thế sẵn có là giao điểm của sông nhà Lê và quốc lộ 1A đãtạo cho Đông Vệ những điều kiện thuận lợi về giao thông, thuỷ, bộ, vàthuận lợi cho ngành kinh tế nông nghiệp, kinh tế thơng mại phát triển
Nh vậy, về vị trí địa lý, Đông Vệ là vùng đất màu mỡ có sông, kênhbao bọc thuận lợi cho việc phát triển nghề nô ng, ngoài ra còn có núi, có đất
đá giúp cho việc khai thác vật liệu xây dựng … Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát lại nằm trên đờng giao thôngquan trọng thuỷ, bộ và là nơi ven tỉnh lị Thanh Hoá - trung tâm kinh tế, chính tri,văn hoá của một tỉnh đất rộng ngời đông, nên chính nơi đây từ xa và cả bây giờ
là trung tâm giao lu, là cửa ngõ quan trọng của tỉnh ở phía Nam
Những yếu tố quan trọng trên đã góp phần nảy sinh đặc điểm địa phơng vàcũng là cơ sở để tạo nên sự gắn bó trong tầng lớp nhân dân để giữ gìn và pháthuy truyền thống dân tộc trên mảnh đất quê nhà
1.2 Quá trình hình thành làng xã ở Đông Vệ
Bố Vệ là một địa danh đã hình thành từ lâu đời trên đất Thanh Hoá và hoàchung vào các cộng đồng dân c của Tổ quốc Việt Nam yêu quý Trong các bộ sử
cổ của nớc ta, địa danh Bố Vệ đợc ghi chép với các tên gọi khác nhau nh: Hơng
Bố Vệ, xã Bố Vệ, Cầu Bố và kênh Bố Vệ ,… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát
Trang 8Qua các tộc phả của các dòng họ ở Đông Vệ hiện nay còn lu giữ lại đã phầnnào cho chúng ta thấy quá trình ra đời từ xa nh sau:
Lúc đầu Bố Vệ là đơn vị hành chính: Xã Bố Vệ Xã Bố Vệ ra đời từ triều Lýthế kỷ XI
Đến thời Lê sơ (thế kỷ XV), xã Bố Vệ đợc đổi thành Hơng Bố Vệ Bố Vệlúc này có thêm thôn Mật Sơn Cuối thời Lê sơ (khoảng 1500) hình thành thêm 3thôn: Quảng Xá, Tạnh Xá, Yên Biên
Năm 1829 đời Minh Mệnh (triều Nguyễn), 2 làng Vệ Yên và Yên Biênchuyển về tổng Quảng Trạch, huyện Quảng Xơng Xã Bố Vệ còn lại 4 làng Kiều
Đại, Mật Sơn, Quảng Xá, Tạnh Xá thuộc tổng Bố Đức, huyện Đông Sơn… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát vàcũng thời kỳ này đơn vị xã không phải là đơn vị hành chính mà chỉ là danh nghĩa
để thờ cúng các Vua thời Hậu Lê
Năm 1946, Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà giải thể tổng Bố Đức, xã
Theo nghị định của Thủ tớng Chính phủ số 55 – CP ngày 26/6/1994, xã
Đông Vệ đợc nâng lên thành đơn vị phờng: Phờng Đông Vệ trực thuộc ThànhPhố Thanh Hoá của tỉnh Thanh Hoá
Bên cạnh quá trình hình thành của Phờng Đông Vệ cũng là quá trình hìnhthành các làng trong phờng Các làng ở Phờng Đông Vệ đợc hình thành và pháttriển vào các giai đoạn lịch sử khác nhau
Làng Bố (còn gọi là làng Kiều Đại) có từ thời nhà Lý thế kỷ thứ XI Các bộ
sử nhà Trần có ghi địa danh này Lúc đầu nhân dân ở đây sống tập trung bên bờBắc sông nhà Lê, phía đông đờng quốc lộ, dần dần sống sang phía nam sông nhà
Lê và ở cả phía tây đờng quốc lộ Đời Gia Long (1802 - 1919), khi cầu Bố đợcbắc lại, làng Bố đợc đổi thành làng Kiều Đại (chữ Hán, Kiều nghĩa là cầu, Đại cónghĩa là thay), nh vậy Kiều Đại có nghĩa là thay cầu Làng Bố có cầu Bố, có chợ,
có bến, có đình Cầu Bố đợc bắc vào thời Hậu Lê bằng gỗ theo kiểu “thợng giahạ Kiều” nghĩa là bên trên có mái che nh mái nhà, giữa cầu là lối đi, 2 bên làlan can có bán hàng Sách “Đại Nam nhất thống chí” có ghi “Cầu Bố Vệhuyện Đông Sơn bắc từ đời Lê, lâu ngày gỗ mục, mới bắc lại từ đầu đời Gia
Trang 9Long” Thời Bắc thuộc, khi đờng quốc lộ đợc rải nhựa, Cầu Bố đợc bắc lạibằng xi măng cốt sắt Chợ làng Bố họp ở phía đông đờng quốc lộ 1A, chợrộng chừng 02 ha, có các lều chợ làm bằng tranh tre nứa lá Chợ chỉ họp vàobuổi chiều nên gọi bằng Chợ Hôm Bến Bố sát với chợ, là nơi dân làng tắm,giặt và đồng thời cũng là nơi thuyền buôn ở tứ phơng đến trao đổi hàng hoánông lâm, hải sản, đồ sành, sứ Có thể nói rằng làng Bố là một trong những
“thơng cảng nhỏ” thời xa rất tấp nập và sầm uất
Đình làng Bố đợc làm bằng gỗ lim rộng 5 gian, nằm ở phía Bắc cầu Bố,bên phía Đông đờng quốc lộ 1A Đình ngoảnh phía Nam nhìn xuống sông nhà
Lê và Chợ Bố Đình Bố là trụ sở hành chính của làng Bố và đồng thời là nơidiễn ra các cuộc hội hè, đình đám của làng
Nghè làng Bố nằm trên bờ đê phía Nam sông nhà Lê ở giữa đoạn đờng làcầu Bố sang làng Vệ Yên Nghè thờ thành hoàng của làng là Đông Hải Đại V-
ơng Từ thờ Lê - Trịnh ở bên 2 đầu cầu Bố đã xuất hiện các phố, đầu cầu phíaBắc có phố Bát, phố thợ Mộc, đầu cầu phía Nam có phố Chợ và phố xóm Chợ.Làng Mật có từ thời Lê Sơ (thế kỷ XV), làng ở phía Tây phờng Đông
Vệ và đờng quốc lộ 1A, làng nằm dài theo hớng Bắc - Nam song song với
đờng quốc lộ 1A
Trên địa phận làng Mật có 3 trái núi (núi Mật còn gọi là núi Kỳ Lân hoặcnúi Hổ); núi Long và núi Ngọc Nữ, trong đó núi Hổ, núi Long chầu phục vàonhau nên trong dân gian còn lu truyền bài thơ cổ:
“ Long, Hổ đồng hội kiến Sơn thuỷ cộng tri giaoXã tắc nh thạch điện Hồng thuỷ bất ba đào.”
đã khẳng định khí thiêng liêng sông núi vùng đất này hội tụ các yếu tố để xã hộivững bền vợt qua muôn trùng sóng gió
Làng Mật còn có 1 xóm gọi là làng Cờn, nằm ở phía Nam của làng giáp vớisông nhà Lê Đây là xóm định c đồng bào huyện Quỳnh Lu (Nghệ An) Trớc đâydân Quỳnh Lu thờng chở thuyền nớc mắm từ cửa Lạch Cờn ra bán ở Thanh Hoá.Vào những năm đầu thế kỷ XX, đồng bào định c tại đây Nghè của làng Mật ởphía Nam của làng giáp với phía Nam sông nhà Lê, nghè thờ vị thành hoàng nữ
Trang 10Làng Tạnh Xá nằm ở phía Đông Bắc phờng Đông Vệ, một vùng đất cát phamàu mỡ Tơng truyền trong dân gian làng Tạnh Xá nguyên là xóm trại của làngMật Sơn tách ra, làng này đợc hình thành từ thế kỷ thứ XV Làng cũng xây dựng
đình và nghè Nghè Tạnh Xá thờ vị thành hoàng của làng là Kỷ Tín (nhà Hán,Trung Quốc) Cầu Tạnh Xá ở phía Đông của làng bắc qua sông nhà Lê sang sânbay Lai Thành, xa kia cầu Tạnh Xá còn có tên gọi là cầu Em Trong “Đại Namnhất thống trí” có ghi “Hai cầu thôn Tạnh Xá huyện Đông Sơn, tơng truyền 2anh em họ Lê là ngời thôn Tạnh Xá cùng đỗ tiến sĩ Ngời anh là Lê Bá Giác đỗHoàng Giáp khoa Mậu Thìn (1508), còn ngời em là Lê Trọng Bích đỗ tiến sĩkhoa Mậu Thìn (1508) Sau khi đã làm quan trong triều đình, dành dụm tiết kiệmnhớ về nơi mình trởng thành, cả 2 vị đã xây dựng cầu qua sông cho làng, nên đếnnay dân làng vẫn còn nhắc đến chuyện “Cầu Anh, Cầu Em”
Có thể khẳng định rằng, mảnh đất và con ngời Phờng Đông Vệ đã có cách
đây gần 1000 năm từ thời nhà Lý (thế kỷ thứ XI) Các dòng họ và các xóm trongPhờng ngày một phát triển thành cộng đồng dân c đông đúc trong mỗi xóm làng.Trải qua hàng trăm năm, biết bao thế hệ con em nơi đây đã dày công vật lộn vớithiên nhiên và xã hội để sinh tồn và phát triển
Trong cuộc trờng kỳ chiến đấu hết sức gian khổ ấy, tổ tiên trong phờng đã
để lại những truyền thống tốt đẹp cho mỗi gia đình, quê hơng, xứ sở
1.3 Con ngời và truyền thống lịch sử
Trớc hết là truyền thống đoàn kết, tự lực, tự cờng cần cù lao động để xâydựng cuộc sống ngày một ấm no hạnh phúc Qua đó đã nảy nở truyền thống vănhoá quê hơng Là một Phờng mà đất đai có khả năng đa vào canh tác khá lớn,nhân dân ta ngay từ buổi đầu ra sức mở mang diện tích cải tạo đồng ruộng Vùngsâu đợc nhiều thế hệ chăm lo tôn tạo mơng máng thuỷ lợi chống úng Vùng cao
đợc đào mơng khơi ngòi để giữ nớc tới cho cây trồng Trong quá trình lao độngcần cù, sáng tạo, chịu khó chịu thơng, nhân dân đã tạo đợc những xóm làng đôngvui, thoáng đãng Nhiều khu thổ c đợc bồi đắp, mở rộng, có đờng đi lối lại dễdàng, có cây lá bốn mùa hoa thơm quả ngọt Làng xóm đợc trải dài trên 4 mặt:Nam, Bắc, Tây, Đông xây nên thế trận liên hoàn trong sản xuất và trong chiến
đấu
Để phù hợp với điều kiện tự nhiên vừa u đãi vừa khắc nhiệt, nhân dân Đông
Vệ hết thế hệ này đến thế hệ khác luôn luôn rèn luyện mình, vơn lên bằng lao
động cần cù sáng tạo, tự lập, tự cờng trong nhiều nghề nghiệp Vì vậy mà nhiềutầng lớp nhân dân trong xã hội đã tích luỹ đợc các vốn sống trên nhiều lĩnh vựckhác nhau, nhằm không ngừng mở mang kinh tế cho gia đình, quê hơng Trên cơ
sở đó sự đoàn kết thơng yêu nhau với tình làng, nghĩa xóm cũng ngày một đậm
đà thắm thiết
Trang 11Trải qua những biến động khốc liệt của thiên nhiên, những thăng trầm củalịch sử, nhân dân trong phờng vẫn giữ đợc đạo lý truyền thống tốt đẹp của dântộc Nhiều xóm làng, nhiều gia đình xa kia có phong tục kết giao giúp đỡ nhauxây dựng cuộc sống hàng ngày, tạo thành mối tình cảm “Chị ngã em nâng”, “lálành đùm lá rách”, có ngời đã bỏ tiền của riêng hoặc tìm kiếm công ăn việc làmcho những ngời nghèo khổ.
Những lẽ sống đời thờng, đạo lý: “Uống nớc nhớ nguồn”, sự tôn kính tổtiên, ông bà cha mẹ, lòng hiếu thảo với gia đình, tinh thần “tôn s trọng đạo”, tìnhbạn bè trung thực, nghĩa vợ chồng thuỷ chung, ý thức ăn ở thật thà có trớc cósau… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát cũng đợc nhân dân ấp ủ, vun đắp
Trải qua lao động khó khăn vất vả, gian lao đã hình thành bản sắc văn hoácủa ngời dân trên mảnh đất quê hơng Trớc hết là niềm lạc quan trong cuộc sống,
đó là tình cảm sống động của mọi ngời dân nơi đây Đình làng xa không những
là nơi hội họp của dân làng mà còn là nơi hội tụ của nhiều cuộc vui chơi giải trírất đỗi lạc quan nh múa rối, leo dây, đấu vật, thi cờ, đốt cây bông, hát hội, hátchèo Nhiều lứa đôi trong làng đợc hình thành từ những mái ấm quê hơng ấy Rồinhững điệu hát ghẹo thờng diễn ra trong những ngày mùa, những đêm trăng sángkhơi dậy tình quê hơng thắm đợm lòng ngời
Nh vậy cũng trong lao động sản xuất, chiến đấu với tự nhiên để sinh tồn,cộng đồng c dân ở đây đã ấp ủ những giá trị truyền thống của dân tộc Trong lẽsống đời thờng đã nói ở trên, thì trong quá trình lịch sử ấy, chính nhân dân lao
động và các thế hệ đã để lại bao công trình có giá trị nghệ thuật kiến trúc cổ rấttinh xảo và độc đáo trong hệ thống đình, chùa, đền, miếu, cầu, chợ… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát Trong đóphải kể đến các công trình kiến trúc tiêu biểu đó là:
Miếu dựng ở Bố Vệ
Miếu thờ các Vua Lê, dựng từ năm Gia Long thứ 4 (1805), ngoài ra cùngvới ngôi chùa danh tiếng nơi đây cũng đợc xây dựng đó là chùa Đại Bi – còngoi là chùa Mật Sơn dới chân núi Mật; chùa Lai (tên chùa là “Già Lai Tự”; chùa
“Già Giác Tự” (tục gọi là chùa Mơi) nằm dới ngã ba Voi; chùa Hội Đồng, nơichấm kỳ thi Hơng đời Nguyễn… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát và một số miếu phủ khác… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát
Một công trình cổ nữa trên Phờng đó là Đền Nhà Lê Điển tích của ngôi
đền này có ghi lại rằng: Thời Lê Sơ (thế kỷ thứ XV), làng Bố có một ngời con gáitên là Nguyễn Thị Ngọc Anh đợc tuyển vào cung làm thần phi của Vua Lê TháiTông Bà đã sinh ra hoàng tử (con Vua) là Lê Bang Cơ Khi Vua Lê mất, hoàngthử Lê Bang Cơ mới 3 tuổi đợc tôn lên làm Vua (tức là Vua Lê Nhân Tông) Bà
đợc tôn phong là hoàng thái hậu nhiếp chính Năm Quý Hợi (1443) niên hiệu
Trang 12Thái Hoà, triều đình xây dựng “Điện Chiêu Dơng” tại làng Bố để hàng năm Vua
và Thái Hậu Thanh Hoá lên bái yết Lam Kinh (Thọ Xuân) và thăm quê ngoạicủa Vua là làng Bố Sau khi mẹ con bà Nguyễn Thị Ngọc Anh bị Nghi Dân giết(10/1459) thì Điện Chiêu Dơng cũng dần bị hoang phế huỷ diệt Đến đời Nguyễn(1804), Gia Long cho xây dựng Hạc Thành làm tỉnh lỵ Thanh Hoá, sau đó mộtnăm (1805), Gia Long cho di chuyển điện Hoằng Đức (tức Thái Miếucủa nhà Lê) từ Thăng Long về làng Bố dựng trên nền cũ của Điện ChiêuDơng Ngôi đền này gọi là “Đền Nhà Lê” Triều đình nhà Nguyễn quy
định hàng năm các quan lớn tỉnh và tổng Bố Đức làm giỗ Lê Lai, Lê Lợivào ngày 21,22 – 8 âm lịch hàng năm, hiện nay ngôi đền đợc Nhà nớcxếp hạng di tích cấp quốc gia
Những công trình kiến trúc trên đã tạo nên những danh lam thắng cảnh,càng làm tôn lên vẻ đẹp của xứ sở quê hơng, mà quá trình lịch sử đã đợc nhândân thập phơng và cả những “tao nhân mặc khách” thăm quan và xớng vịnh Nổilên các điểm danh lam thắng cảnh đó là cầu Bố, đền thờ Vua Lê, Núi Mật Sơn,cầu Anh, cầu Em … Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát Cầu Bố cổ, nó không chỉ là cây cầu giao thông thuần tuý,
mà ở đây cây cầu nằm trong quần thể thiên nhiên “sơn thuỷ hữu tình” xóm làngtrù phú Chính vẻ đẹp ấy là chất liệu thi hứng cho nhiều thi sĩ, trong đó có thi sĩNguyễn Khuyến, ông đã sáng tác bài thơ “Bố Vệ kiều hoài cổ” nh sau:
Thử hơng thuỷ thạch lâm truyền địaTiền đại y quan lễ nhạc đình
Đông đình vô nhân mi lộc ngọaNguyên đình hữu vũ thử miêu thanhBá vơng hng phế đẳng nhàn sựKim cổ vãng lai nhân thế tìnhTrù Tớng Kiều đầu tấn diểu vọngVân yên thụ tế nhất cầm thanh [19,21]
Dịch thơ:
Trên cầu Bố Vệ chạnh nhớ chuyện xa
ấy đất đến đài nghi lễ cũNay nơi rừng núi suối khe rồiBãi bờ ngời vắng hơu nai nhởn
Đồng ruộng ma nhuần lúa mạ tơiCòn mất tình đời đau quặn dạBá vơng sự thế gác ngoài tai
Trang 13Đầu cầu xa ngắm thêm buồn bã
Mây khói vơng cây tiếng hạc trờiNúi Ngọc Nữ ở làng Mật Sơn cũng là một trong những cảnh đẹp Theo “ĐạiNam nhất thống chí” có ghi “… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát Vua Lê Thánh Tông đồng thời cũng là một nhàthơ lớn của dân tộc đi nam tuần, đã cảm tác vịnh bài thơ núi Ngọc Nữ, bài thơnày đợc khắc vào đá… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát” Hiện nay bài thơ cha tìm thấy nhng nó đợc lu truyềntrong nhân dân làng Mật Nội dung bài thơ nh sau:
“Toà núi ai đem đặt giữa đồngTô hình Ngọc Nữ đứng mà trôngPhau phau da đá pha màu phấnPhơi phới hơng xuân trút bụi hồngSớm tắm sơng mai soi bóng nớcTối kề hang thỏ ngắm trăng trongCho hay ớm hỏi bao chăng tá
Trinh tiết bền gan chẳng lấy chồng”
Xuất phát từ vị trí địa lý của Phờng, việc giao lu văn hoá ngày một mở rộng
đã góp phần đẩy mạnh việc học tập trong nhân dân Vì vậy nổi lên trong truyềnthống nơi đây là truyền thống hiếu học
Quả thật từ xa xa, thời nào cũng vậy, mặc dù đời sống vật chất còn gặpnhiều khó khăn nhng ông cha ta đã tự vơn lên bằng nhiều hình thức để mở mangdân trí cho con cháu, ở nhiều gia đình vẫn có phong trào nuôi thầy dạy học Trớckia là thầy đồ dạy chữ Nho, sau là giáo viên dạy chữ Quốc ngữ Bởi thế xóm trênlàng dới ở thời phong kiến đã có nhiều ngời đạt trình độ học vấn cao; có ngời thi
đỗ tú tài, cử nhân và tiến sĩ … Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát
- Ông Lê Bá Giác, đỗ Hoàng Giáp khoa Mậu Thìn (năm 1508), đời Lê Uy
Mụ, làm đến chức Đô ngự sử
- Ông Lê Trọng Bích em ruột Lê Bá Giác đỗ tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1508),
đời Lê Uy Mục, làm chức Tả Thị lang
- Ông Nguyễn Hữu Bình đậu cử nhân khoa Đinh Mão (1807), năm GiaLong thứ 6, giữ chức Thợng th Bộ công
- Ông Ngô Văn Bản, 31 tuổi, ngời làng Quảng Xá, đậu cử nhân khoa ĐinhMão (năm1907), năm Thành Thái thứ 9, giữ chức Huấn đạo huyện Quảng Xơng
- Ông Nguyễn Duy Tân, 29 tuổi, nguời làng Quảng Xá đậu cử nhân khoa
Kỷ Dậu (năm 1909), đời Duy Tân thứ 3
- Ông Vũ Đức Dơng ngời thôn Quảng Xá đậu cử nhân khoa ất Mão nămDuy Tân thứ 9 (1915)
Trang 14Ngoài ra còn có các vị đậu tú tài Hán học thời Nguyễn nh:
- Lê Duy Diệm, ngời làng Kiều Đại, đậu tú tài kép, gọi là cụ tú kép
- Nguyễn Đình Quán, ngời thôn Tãnh Xá, đậu tú tài sau đợc tớc phẩm hànlâm đãi chiếu gọi là ông Hàn Tạnh
Có thể nói trong nền văn hiến trờng tồn của dân tộc, Đông Vệ đã có nhữngchặng đờng và những con ngời đáng tự hào
Truyền thống lao động sáng tạo cần cù và truyền thống văn hoá đậm
đà bản sắc quê hơng ấy, đã làm cơ sở và nền tảng cho lòng yêu n ớc trongmọi tầng lớp nhân dân
Truyền thống yêu nớc chống ngoại xâm Đông Vệ tuy cha phải là nơi cónhiều anh hùng hào kiệt nhng qua các triều đại phong kiến, các thời kỳ lịch sửdựng nớc và giữ nớc của dân tộc, thì ở một số triều đại và thời kỳ nhất định đều
có những ngời con của quê hơng xứ sở đã góp công góp sức, góp của của mìnhtrong việc giúp dân cứu nớc
Tóm lại, từ một Phờng của Thành Phố Thanh Hoá, thiên nhiên u đãinhiều nhng cũng không kém phần khắc nghiệt, lớp lớp nhân dân Đông Vệ thế
hệ sau kế thừa và phát triển thành tựu của thế hệ trớc, đã dày công tạo dựngthành mảnh đất có đời sống sản xuất phong phú, đa dạng, nghề nghiệp khéotay có truyền thống lao động cần cù và tinh thần tự lực tự cờng bền vững, cóbản sắc văn hoá dân tộc độc đáo, giàu tính nhân văn, tinh thần quả cảm hysinh chiến đấu trong đấu tranh chống ngoại xâm
Những nhân vật lịch sử và những sự tích diệu kỳ còn ấp ủ trong lòng vàsông núi quê hơng đã cùng với biết bao thế hệ con cháu liên tiếp tạo lênnhững chiến công vang dội trong đời sống vật chất và tinh thần của xứ sởquê hơng
Trang 15Chơng II: Di tích Thái Miếu nhà Hậu Lê
2.1 c ông lao, sự nghiệp của nhà Hậu Lê trong lịch sử nớc nhà
Trong vòng 20 năm, đất nớc Đại Việt bị phong kiến phơng Bắc xâm lợc vàthống trị Chúng áp dụng một chế độ cai trị hà khắc, nên đã có rất nhiều cuộckhởi nghĩa nổ ra nh: cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi (còn gọi là Trần Quỹ) là conthứ của vua Trần Nghệ Tông Năm 1407, nổi lên khởi nghĩa ở Yên Mô (NinhBình) đợc suy tôn là Giản Định Đế và cuộc khởi nghĩa của Trần Quý Khoáng(cháu Trần Nghệ Tông), khởi nghĩa năm 1409 Nhng cuối cùng các cuộc khởinghĩa này lần lợt bị thất bại Cho đến khi Lê Lợi - một hào trởng thuộc giai tầngxã hội mới (địa chủ bình dân) đã dấy binh dựng cờ khởi nghĩa ở vùng núi rừngLam Sơn (Thanh Hoá ), tự xng mình là Bình Định Vơng truyền hịch kêu gọinhân dân đứng lên cứu nớc Dới sự lãnh đạo của ngời anh hùng dân tộc Lê Lợi,
từ núi rừng Thanh Hoá đã nhen lên một ngọn lửa yêu nớc và nhanh chóng toảsáng khắp mọi miền Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã phát triển thành một phongtrào đấu tranh giải phóng dân tộc sâu rộng trong toàn quốc và đây là sự kết tinhcủa toàn bộ cuộc đấu tranh chống ngoại xâm đầu thế kỷ XV Trải qua 10 nămchiến đấu bền bỉ, gian khổ và ngoan cờng, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã hoànthành vẻ vang nhiệm vụ giải phóng dân tộc Thắng lợi vĩ đại của cuộc khángchiến đã quật ngã ách thống trị của nớc ngoài, đập tan hoàn toàn ý chí xâm lợccủa nhà Minh – một quốc gia phong kiến hùng cờng trên thế giới lúc bấy giờ
Đất nớc đợc giải phóng và nền độc lập dân tộc nhờ đó đợc bảo đảm trong gần 4thế kỷ (đầu thế kỷ thứ XV đến cuối thế kỷ thứ XVIII) không bị nạn ngoại xâmphong kiến phơng Bắc đe doạ Thắng lợi này cũng chứng tỏ dân tộc ta đã trởngthành, có ý thức độc lập cao, có sức sống phi thờng và tài năng sáng tạo đạt tới
đỉnh cao
Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn dẫn đến sự thành lập triều đại Lêsơ, mở ra một thời kỳ đặc biệt cho lịch sử dân tộc: thời kỳ độc lập lâu dài nhấttrong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam Đó cũng là thời điểm mở đầu cho mộttriều đại, mà dù còn có lúc chìm, lúc nổi, lúc thịnh, lúc suy với nhiều diễn biếnphức tạp nhất, nhng cũng để lại nhiều bài học sâu sắc nhất về tinh thần đoàn kếtdân tộc, về quản lý đất nớc, quản lý con ngời và xã hội … Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát cho lịch sử Việt Nam
Nh chúng ta đã biết, triều Lê sơ thành lập sau thắng lợi vẻ vang của sựnghiệp Bình Ngô, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nớc và của chế độquân chủ tập quyền Thể chế chính trị chuyển sang chế độ quân chủ quan liêutheo mô hình Nho giáo, lấy Nho giáo làm hệ t tởng chính thống và độc tôn Vìvậy mà trong giai đoạn đầu của Vơng triều, dới các triều vua Lê Thái Tổ (1428 -
Trang 161433), Lê Thái Tông (1434 - 1442), Lê Nhân Tông (1443 - 1459), Lê ThánhTông ( 1460 - 1497), Lê Hiến Tông ( 1497 - 1503), … Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát đã xây dựng một thiết chếquân chủ tập quyền cao độ nhằm tập trung quyền lực vào tay Hoàng đế, hạn chế
sự tham chính của tầng lớp quý tộc hoàng tộc, loại trừ khả năng lộng quyền củacác triều thần ở trung ơng và tệ nạn tập trung quyền hành của các quan lại địa ph-
ơng Hệ thống giám sát tại triều đình cũng nh trong hệ thống chính quyền địa
ph-ơng đợc coi trọng “Hiệu định quan chế” năm 1471 là một cuộc cải cách hànhchính có hệ thống và quy mô lớn trên phạm vi cả nớc nhằm thực hiện những mụctiêu chính trên
Về mặt hành chính, nhà Lê chia cả nớc thành 13 đạo thừa tuyên Dới cấp
Đạo là Phủ ; dới Phủ là Huyện, ở miền núi gọi là Châu, duới Châu và Huyện làcác xã, ở miền núi gọi là Sách, Động Đó là chính quyền 5 cấp từ triều đình đếnxã, khẳng định sự thống nhất cả nớc về chính trị và văn hoá Đây thực sự là mộtcuộc cải cách lớn
Nh vậy, với việc xây dựng một bộ máy nhà nớc quân chủ tập trung, mangtính chất quan liêu chuyên chế nó đã khắc phục đợc cuộc khủng hoảng cuối triềuTrần và dới Triều Hồ, đã đáp ứng đợc yêu cầu phát triển đất nứơc trong bối cảnhlịch sử cụ thể của nớc Đại Việt và trong bối cảnh chung của khu vực lúc bấy giờ
Để tăng cờng tính pháp lý của bộ máy Nhà nớc thì hàng loạt các quy chếhoạt động đợc ban hành trên cơ sở tổng hợp các điều luật của triều Lê từ đời LêThái Tổ, rồi bổ sung, hoàn chỉnh, năm 1483 xây dựng thành bộ Quốc triều hìnhluật, thờng gọi là luật Hồng Đức Đây là một bộ luật có quy mô lớn, về cấu tạothì bộ luật này có 722 điều, đợc chia thành 13 chơng, các chơng đợc phân bốthành 6 quyển Về mặt nội dung thì đây là một bộ luật tổng hợp, trong đó baogồm các điều khoản quy định và điều chỉnh rất nhiều quan hệ xã hội khác nhau:hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, tố tụng, hành chính,… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát Không những thế bộluật còn chứa đựng những giá trị to lớn về nhiều mặt, đặc biệt là những t tởngtiến bộ mang ý nghĩa nhân bản đợc thể hiện qua nhiều quy định Ví dụ có điềuluật xác định một số địa vị và quyền lợi của ngời phụ nữ trong gia đình trong hônnhân, trong sở hữu tài sản, tôn trọng các dân tộc thiểu số, tôn trọng ngời già trongxã hội Chính vì thế bộ Quốc triều hình luật đợc đánh giá “là một thành tựu cógiá trị đặc biệt trong lịch sử pháp luật Việt Nam”, bộ luật này tiếp tục sửa đổi bổsung và thực thi trong suốt thời kỳ nhà Lê cho đến thế kỷ XVIII
Trên cơ sở chính trị ổn định với một Nhà nớc tập quyền vững mạnh, các vuanhà Lê đã đề ra và thực hiện có hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế, xã hội,
mở mang văn hoá giáo dục… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát a nớc Đại Việt dới triều Lê đặc biệt là dới triều Lêđ
Trang 17Thánh Tông trở thánh một quốc gia độc lập thống nhất và cờng thịnh ở vùng
Đông Nam á
Trớc hết là trong lĩnh vực kinh tế xã hội, nhà Lê đã có những quyết sách
đúng đắn kịp thời để nhanh chóng khôi phục lại nền kinh tế nông nghiệp bị giặcMinh phá hoại nghiêm trọng, ổn định tình hình sản xuất Bằng việc thực thi cácbiện pháp chính sách trong phát triển nông nghiệp nh: chính sách phong thởngruộng đất cho các công thần khai quốc, chế độ lộc điền (chính sách ban cấpruộng đất cho quý tộc, quan lại) đợc chính thức ban hành năm 1477 dới triều LêThánh Tông Chính sách khẩn hoang lập đồn điền cùng với chủ trơng khai hoangphục hoá Tất cả những chính sách, chủ trơng ấy đã góp phần thúc đẩy quá trìnhkhôi phục sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa thiết thực với đời sống dân sinh Mộtchính sách cực kỳ quan trọng có tác động tích cực vào đời sống nông nghiệp nớc
ta lúc bấy giờ đó là việc Nhà nớc Lê Sơ ban hành và thực thi chính sách quân
điền Chính sách này đợc ban hành lần đầu tiên ở nớc ta từ năm 1429, dới triều
Lê Thái Tổ và đến triều Lê Thánh Tông đã hoàn chỉnh chế độ quân điền Chế độquân điền trong thế kỷ thứ XV cùng với chính sách khuyến nông, đẩy mạnh khaihoang, lập làng các biện pháp trị thuỷ, đắp đê sông, đê biển… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát thể hiện qua cáclệnh, dụ và cả luật định… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát đã tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển làm cho
đời sống nhân dân dần dần đi vào ổn định “trăm họ đợc no ấm”
Trong thủ công nghiệp và thơng nghiệp, Nhà nớc Lê sơ tuy cha có sự quantâm đúng mức, các hoạt động kinh tế hành hoá bị hạn chế và có mặt còn bị sútkém so với các triều đại trớc đó Tuy vậy, nền kinh tế công thơng nghiệp thời Lêcũng đã đạt đợc những tiến bộ mới: trong nông thôn nhiều trung tâm thủ côngnghiệp hình thành và phát triển, đó là những làng, những phờng thủ công nghiệptập trung nhiều thợ cùng nghề và chuyên sảm xuất một sản phẩm nhất định Bêncạnh đó nhà Lê còn mở rộng việc lu thông hàng hoá và tiền tệ trong nớc, hệthống các chợ đợc mọc lên ngày càng nhiều Chính sự phát triển của nền kinh tếhàng hoá nên đơn vị tiền tệ và đo lờng ở thời Lê đợc quy định thống nhất Tất cảnhững điều đó chứng tỏ sự quan tâm của Nhà nớc phong kiến Lê sơ đối với côngthơng nghiệp từ đó góp phần làm hồi phục nhanh chóng nền kinh tế của đất nớc,
đa đời sống nhân dân lên cao
Trong lĩnh vực mở mang văn hoá, các vua nhà Lê đã sớm nhận thấy rằng t ởng Nho giáo bảo vệ sự liên kết gia đình, dòng họ xung quanh một triều đình vàgiữ gìn sự phân chia đẳng cấp, xã hội phức tạp theo danh phận nó cũng biết dunghợp sự phân chia và liên kết này trên nền tảng đạo đức, luân lý và chính trị trêncơ sở quan niệm và hoạt động, lễ và pháp dung hợp lẫn nhau đựơc thần thánh hoá
Trang 18t-là trung, hiếu, tam cơng phục vụ cho yêu cầu của giai cấp phong kiến Cho nên ttởng Nho giáo là sự lựa chọn có ý thức của giai cấp thống trị phong kiến thời Lêsơ và đặc biệt t tởng này rất phù hợp với chế độ quân chủ chuyên chế tập quyền
mà Phật giáo không thể nào bằng Vì lẽ đó mà thời Lê sơ Nho giáo phát triển
đến đỉnh cao là kết quả của quá trình lựa chọn lịch sử và phát triển lâu dài Thời
Lê sơ cũng diễn ra sự giao lu và tiếp nhận văn hoá Nho Hán Chính sự giao lu
tiếp biến văn háo này mà nó góp phần làm cho nền văn hoá Đại Việt thêm phongphú, đa dạng Mặt khác ta thấy Nhà nớc Lê sơ chọn Nho giáo làm quốc giáo vìchính ý thức hệ t tởng này góp phần tích cực củng cố Nhà nớc phong kiến tậpquyền quan liêu, củng cố nền thống nhất của xã hội nông nghiệp, tạo ra một kỷcơng xã hội theo lễ và pháp dung hợp Một nền thống nhất mà cơ sở kinh tế chủyếu là nông nghiệp, dựa vào biện pháp quản lý hành chính là chủ yếu, thì hệ t t-ởng Nho giáo có ý nghĩa hỗ trợ tích cực nhất
Trong suốt 360 năm trị vì nhà Lê đã có những cống hiến rất to lớn đối vớilịch sử dân tộc Vơng triều nhà Hậu Lê đã để lại những trang sử hào hùng trongcông cuộc dựng nớc và giữ nớc của dân tộc ta Và trong tâm thức của nhân dân
Đối với lĩnh vực giáo dục: nhà Lê cũng rất chú ý và coi trọng giáo dục,chấn chỉnh chế độ học hành, thi cử Dới triều Lê sơ đặc biệt là ở thời LêThánh Tông, nền giáo dục trong chế độ phong kiến nớc ta đạt đến đỉnh caonhất trong lịch sử thi cử Nho học mà các triều đại trớc và kể cả triềuNguyễn cũng không thể nào bằng Nếu kể từ khoa thi Nho học đầu tiên từthời Lý đến khoa thi cuối cùng năm 1919, theo thống kê cả nớc có 2335tiến sĩ, phó bảng, trong đó có 56 trạng nguyên thì riêng triều Lê Sơ trong
38 năm trị vì của vua Lê Thánh Tông với 12 khoa thi đã có 501 ngời đỗtiến sĩ, trong đó có 9 trạng nguyên Điều đó chứng tỏ nhà Lê rất quan tâm
đến việc đào tạo và sử dụng nhân tài Ngoài ra để mở rộng con đờng họcvấn cho mọi đối tợng nhân dân dới triều Lê Thánh Tông đã ban chiếu khuyếnhọc Từ việc quan tâm đến việc giáo dục nớc nhà nh vậy, nhà Lê đã tạo ra cho
đất nớc một đội ngũ quan lại bổ sung cho bộ máy phong kiến quan liêu làmchỗ dựa vững chắc cho Nhà nớc quân chủ phong kiến Mặt khác cũng tạo nên
đội ngũ hùng hậu những nhà thơ, nhà văn, nhà toán học nổi tiếng làm rạng
danh cho nến văn hiến nớc nhà, đa nớc ta bớc vào thời “thiên hậu ca ”
Trang 19Thanh Hoá, Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn sống mãi, lung linh rực rỡ Đâycũng chính là tình cảm của nhân dân Thanh Hoá đối với Vơng triều Nhà Lê trảidài tới nửa thiên niên kỷ không gì sánh đợc.
2.2 Thái Miếu nhà Hậu Lê – lịch sử ra đời và quá trình xây dựng
Thái Miếu tên thờng gọi là Đền Lê theo cách gọi của nhân dân địa phơng,tên chữ: Bố Vệ miếu hay Bố Vệ Lê Hoàng Miếu là nơi thờ tự chung các Vua vàHoàng hậu thời Hậu Lê Đền Lê đợc xây dựng ở làng Bố Vệ, cạnh bờ sông Vệ vàCầu Bố (cây cầu trên đờng quốc lộ 1A và có tên chữ hán là Kiều Đại) Quanhvùng làng Bố Vệ là các làng Tạnh Xá, Mật Sơn … Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát a kia có lẽ là một vùng xã xchung và nay thuộc Phờng Đông Vệ, Thành Phố Thanh Hoá Các bậc cao niênhiện nay cũng không rõ ngôi đền đợc xây dựng từ năm nào Căn cứ vào tài liệutra cứu ở sách “Lam Sơn thực lục”, do Lê Văn Uông dịch và chú giải, NguyễnDiên Niên khảo chứng thì chúng ta đợc biết: Bố Vệ đợc dựng lại trên cơ sở của 2miếu đợc lập ra dới triều Lê Một miếu ở Lam Sơn huyện Thuỵ Nguyên, trấnThanh Hoa (nay là xã Xuân Lam, Thọ Xuân) và một miếu ở Thăng Long (HàNội) gọi là điện Hoằng Đức Đến dời Vua Gia Long thứ 4 (1805), mới dời vềthôn Kiều Đại, xã Bố Vệ, huyện Đông Sơn và đợc đổi tên là Miếu Bố Vệ [8,286]
Về thời gian dựng miếu, trên thợng lơng của nhà Hậu điện có dòng chữ đề:
“ất sửu niên… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát thụ trụ thợng lơng đại cát nhật” có lẽ là ghi niên đại xây cất điệnmiếu ở Bố Vệ vào năm 1805 T liệu thực địa này phù hợp với nguồn sử liệu đợcchép trong sách “Đại Nam Nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn
Nh vậy, qua gần 200 năm tồn tại âm thầm và lặng lẽ với những thăng trầmcủa lịch sử và sự tàn phá của nắng ma lụt úng, của mối mọt và con ngời cho đến
1945 ngôi Đền Lê Bố Vệ còn rất nguy nga đồ sộ Trải qua 2 cuộc kháng chiếnchống Pháp và chống Mỹ, Đền Lê Bố Vệ bị hoang phế, xuống cấp nghiêm trọng,nhiều chỗ bị phá, nhiều đồ tế khí quý bị thất lạc, nhiều dấu tích bị xâm phạm.Sau ngày chiến thắng giặc Mỹ (1975), ngôi đền dần dần đựơc khôi phục, đợc cấpchính quyền quan tâm, hiện trở thành khu di tích lịch sử thu hút nhiều đoàn thamquan trong nớc và các đoàn khách nớc ngoài
Theo trí nhớ của các bậc già cả trớc đây, ngôi đền nằm giữa một khu rừng
dẻ âm u, nhiều cây cổ thụ và ít ngời lai vãng (trừ những ngày lễ hội) Không khí
cổ kính làm cho ngôi đền càng thêm uy nghi biệt lập hẳn với khu dân c vốn rấttha thớt trớc cách mạng tháng tám Nhng có một thực tế là Bố Vệ Miếu đã chứa
đầy những chứng tích lịch sử, những sự kiện lịch sử là những sự thật đợc tồn tại
Trang 20độc lập ngoài ý thức của chúng ta, nhng sự nhận thức lịch sử lại là chủ quan vàngời chép sử cũng vì mục đích khác nhau.
Sách “Từ điển di tích Việt Nam” do nhà xuất bản Khoa học xã hội ấnhành 1993 cho chúng ta biết thêm một thông tin nữa, đây là nơi thờ các Vua
và các Hoàng Hậu Triều Lê (gồm 29 Hoàng Đế và 28 Hoàng Hậu) Nhữngdòng ghi chép trong sách vở nêu trên các nhà từ điển cũng đã sử dụng từ 2nguồn sử liệu chính: sách “Đại Nam nhất thống chí” của quốc sử Quán triềuNguyễn và sách “Thanh Hoá tỉnh chí” của Vơng Duy Trinh Hai cuốn sáchnày cung cấp cho chúng ta những thông tin đáng tin cậy Tuy nhiên, có thểnhầm lẫn về miếu hiệu mà các tác giả trong sách trên đã nói tới 29 Hoàng Đế
và 28 Hoàng Hậu Sách “Niên biểu Việt Nam” xuất bản 1970, đời Vua củatriều Lê tồn tại 354 năm, thực tế chỉ có 27 đời Vua của Triều Lê Thông quacác nguồn sử liệu đã nêu, vấn đề Hoàng Hậu còn phải tiếp tục nghiên cứu và
bổ sung
Nh vậy, những nguồn t liệu th tịch cổ và những ghi chép trong các sách
có liên quan đến Thái Miếu nhà Lê ở làng Bố Vệ này chỉ cho chúng ta biết sự
ra đời và tồn tại của Thái Miếu ở buổi đầu triều Nguyễn gắn liền với chínhsách xã hội của đời Vua Gia Long
ở đây có một vấn đề đợc đặt ra là điện Hoằng Đức ở kinh thành ThăngLong đợc chuyển về Bố Vệ đã đợc các sách đề cập không rõ ràng là điện gì?Lần giở lại những trang sử nhà Lê chép về kinh thành Thăng Long thời ĐôngKinh (1428 - 1527), thời Đông Kinh – Kẻ Chợ thời Mạc (1527 – 1592) vàthời Lê – Trịnh (1533 - 1788), chỉ thấy những điện chính trong kinh thànhnh: Điện Cần Chánh, Điện Kính Thiên, Điện Thị Triều, Điện Chí Kính, ĐiệnVạn Thọ, Cẩn Đức, Thuý Ngọc, Giảng Võ, Thạch Thất, Thợng Dơng Sang
đến thời Vua Lê Trung Hng, ngoài những điện nêu trên còn xuất hiện thêmcụm kiến trúc Phủ Chúa ở phía ngoài Hoàng Thành Cụm kiến trúc này theo
nh sử sách mô tả là gồm các cung điện nguy nga, có tờng thành bao bọc hìnhvuông Nhng các cung điện ở phủ chúa này cũng không thấy sử ghi chép mộtcách đầy đủ, vì vậy mà vấn đề điện Hoằng Đức đợc chuyển từ Thăng Long về
Bố Vệ cũng cần phải đợc nghiên cứu để làm sáng tỏ
Tuy nhiên các nguồn sử liệu có thể là cha đủ, nhng dù sao thì sự hiệndiện của Miếu thờ các Vua Lê ở làng Bố Vệ đợc khởi dựng chỉ sau 2 năm khiVua Gia Long ra lệnh phá bỏ Hoàng Thành cũ ở Thăng Long để xây dựng mộttoà thành mới, chứng tỏ việc làm của ông đã đợc tổ chức lại về phơng diệnchính trị
Trang 21ở một bối cảnh khác, chúng ta thấy sự ra đời của Bố Vệ Miếu đợc diễn ratrong điều kiện: Điện Miếu Lam Kinh đã bị tàn phá hoàn toàn dới thời TâySơn Bắc Thành bị phá bỏ Trên thực tế Thăng Long đang dần dần bị thu hẹplại Điều này cũng đợc chứng minh thêm dới triều Nguyễn, Thăng Long - HàNội không mất đi vị trí kinh đô của cả nớc mà còn bị hạ thấp từ trấn thànhxuống tỉnh thành Rõ ràng việc xây dựng miếu thờ ở quê hơng các Vua Lê đãnằm trong ý đồ chính trị của Vua Gia Long từ khi ông mới lên ngôi Còn nơi
Rõ ràng, sự ra đời của Thái Miếu ở làng Bố Vệ cùng với việc Vua GiaLong cho Diên tự công Lê Duy Viện thu hoa lợi 12 xã để trích ra góp phần thờcúng ở Thái Miếu, nhà Nguyễn đã chứng tỏ không thể thay thế những t tởng
đã từng tồn tại trong lịch sử bằng việc làm chủ quan của mình Điều này, trớc
đó dới thời Nguyễn Huệ (Quang Trung) vào năm 1789 đã cấp cho Hoàng Tử
Lê Duy Cẩn 2000 mẫu ruộng ở Thanh Hoá để thờ cúng nhà Lê Đó cũng là sựlựa chọn sáng suốt khách quan ở bất kỳ một vơng triều nào đối với sự tồn tạicủa mình
Từ sự nhìn nhận ở trên thì sự tồn tại của Thái Miếu đợc xem nh là một sửliệu – một đối tợng của nghiên cứu sử học
Tóm lại, khi Vua Gia Long lên ngôi đợc 3 năm, để giải quyết vấn đề cólợi cho vơng triều mình, đồng thời làm thay đổi đời sống xã hội cho phù hợptheo ý muốn của nhà cầm quyền, ông đã chọn Thanh Hoá - mà cụ thể là quêhơng của Nguyễn Thị Anh vừa là vợ của Vua Lê Thái Tông vừa là mẹ đẻ củaVua Lê Nhân Tông ở làng Bố Vệ để xây dựng miếu thờ các Vua và Hoàng
Trang 22Hậu triều Lê Điện miếu đợc xây dựng trên cơ sở di chuyển điện Hoằng Đức ởkinh thành Thăng Long và miếu thờ ở Lam Sơn, Thanh Hoá mà thành Trênthực tế việc di chuyển mà Vua Gia Long tiến hành cho phép chúng ta khẳng
định, ông Vua này không có ý định khởi dựng một nhà Thái Miếu mới để thờcác Vua Lê cho hoàn chỉnh mà chỉ giải quyết vấn đề chính trị trên cơ sở củamột giải pháp tình thế đối với vùng đất “quý hơng” của nhà Lê
2.3 Những vị Vua và Hoàng Hậu đợc thờ ở Thái Miếu.
Theo quan điểm của nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ, nhà sử họcNguyễn Diên Niên và một số cán bộ nghiên cứu, ta thấy rằng chỉ có những vịVua phong miếu hiệu (Tông) và các vị hậu đợc phong làm Hoàng Thái Hậumới đợc thờ trong Thái Miếu
Qua khảo sát và tra cứu của mọi nguồn t liệu (Lam Sơn thực lục, bản nhà
Lê Sát do Nguyễn Diên Niên khảo chứng, “Đại Việt sử ký toàn th” của Ngô
Sỹ Liên, “Lịch triều hiến chơng loại chí” của Phan Huy Chú, “Lê Quý Đôntoàn tập”, “Niên Biểu Việt Nam” của vụ Bảo tồn Bảo tàng, “Thế thứ các triềuVua Việt Nam” của Nguyễn Khắc Thuần, … Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát.) thì tất cả chỉ có 27 đời Vua(nếu tính Lê Thần Tông làm Vua 2 lần thì mới chỉ là 28 đời) Trong 27 đờiVua ấy chỉ có các vị Vua sau đây đợc thờ trong Thái Miếu, gồm:
1 Lê Thái Tổ (Lê Lợi), làm Vua từ 1428 – 1433, ở ngôi gồm 6 năm,mất ngày 22 tháng 8 năm Quý Sửu (1433), thọ 48 tuổi Trong thời gian ở ngôi
đặt một niên hiệu là Thuận Thiên (1428 - 1433)
2 Lê Thái Tông (Lê Nguyên Long), làm Vua từ 1433 – 1442 Vua sinhngày 21 tháng 11 năm Quý Mão (1423) tại Thanh Hoá, ở ngôi 9 năm, thọ 19tuổi Trong thời gian ở ngôi đặt 2 niên hiệu: Thiệu Bình (1434 - 1439), ĐạiBảo (1440 - 1442)
3 Lê Nhân Tông (Lê Bang Cơ) làm Vua từ 1442 – 1459 Vua là con thứ 3của Lê Thái Tông, ở ngôi gần 17 năm, mất ngày 03 tháng 10 năm Kỷ Mão(1459) vì bị anh Lê Nghi Dân giết, thọ 18 tuổi Trong thời gian ở ngôi, Lê NhânTông đã đặt 2 niên hiệu là: Thái Hoà (1443 - 1453), Diên Ninh (1454 - 1459)
4 Lê Thánh Tông (Lê T Thành) làm Vua từ 1460 – 1497, là con thứ tcủa Lê Thái Tông, Vua ở ngôi 37 năm, mất ngày 30 tháng 1 năm Đinh Tỵ(1496), thọ 55 tuổi Trong thời gian ở ngôi đã đặt 2 niên hiệu: Quang Thuận(1460 - 1469), Hồng Đức (1470 - 1497)
5 Lê Hiến Tông (Lê Tranh, Lê Huy), làm Vua từ 1497 – 1504 Vua làcon trởng của Lê Thánh Tông, ở ngôi 7 năm, mất ngày 24 tháng 5 năm Giáp
Tý (1504), thọ 43 tuổi, đặt 1 niên hiệu là Cảnh Thống (1498 – 1504)
Trang 236 Lê Túc Tông (Lê Thuần) là con thứ 3 của Lê Hiến Tông ở ngôi đợc 6tháng thì mất vào tháng 12 năm Giáp Tý (1504) thọ 16 tuổi Trong 6 tháng ởngôi, Vua có đặt một niên hiệu là: Thái Trinh (1504).
7 Lê Chiêu Tông (Lê Y, Lê Huệ) Vua là con của Cẩm Giang VơngSùng, cháu đích tôn của Kiến Vơng Tân, ở ngôi 6 năm (1516 – 1522), bỏkinh đô chạy vào Thanh Hoá ngày 18 tháng 10 năm Nhâm Ngọ, thọ 24 tuổi.Trong thời gian ở ngôi có đặt một niên hiệu là Quang Thiệu (1516 - 1522)
8 Lê Trang Tông (Lê Ninh, Lê Huyến) là con của Lê Chiêu Tông, lênngôi tại Thanh Hoá vào năm Quý Tỵ (1533), là vị Vua đầu tiên của thời hỗnchiến Nam Bác Triều (Lê – Mạc), Vua ở ngôi 15 năm, mất ngày 29 tháng1năm Mậu Thân (1548) thọ 33 tuổi Trong thời gian ở ngôi có đặt một niênhiệu là Nguyên Hoà (1533 - 1548)
9 Lê Trung Tông (Lê Huyên) làm Vua từ năm 1548 – 1556, là con ởng của Lê Trang Tông, ở ngôi 8 năm, mất ngày 24 tháng 1 năm Bính Thìn(1556), thọ 22 tuổi Trong thời gian ở ngôi có đặt một niên hiệu là: ThuậnBình (1548 - 1556)
tr-10 Lê Anh Tông (Lê Duy Bang), làm Vua từ năm 1556 – 1573, là cháu
5 đời của Lê Trừ Anh Lê Lợi, ở ngôi 17 năm, bỏ Thanh Hoá chạy vào Nghệ an
để tránh loạn 1572, bị giết ngày 22 tháng 1 năm Quý Dậu (1573), thọ 41 tuổi
11 Lê Thế Tông (Lê Duy Đàm) là con thứ 5 của Vua Lê Anh Tông, ởngôi 26 năm, mất ngày 24 tháng 8 năm Kỷ Hợi (1599) vì bệnh, thọ 32 tuổi, có
đặt 2 niên hiệu là: Gia Thái (1573 - 1577), Quang Hng (1578 - 1599)
12 Lê Kính Tông (Lê Duy Tân), con thứ của Lê Thế Tông ở ngôi 20 năm(1599 – 1619), bị giết ngày 12 tháng 5 năm Kỷ Mùi (1619), thọ 31 tuổi.Trong thời gian ở ngôi có đặt 2 niên hiệu là: Thận Đức (1600 - 1601) vàHoằng Định (1601 - 1619)
Trang 24(1619-14 Lê Chân Tông (Lê Huy Hựu), là con trởng của Lê Thần Tông, ở ngôi
6 năm1643-1649, mất vào tháng 8 năm Kỷ Sửu (1649) thọ 19 tuổi, có đặt mộtniên hiệu là Phúc Thái (1643 – 1649)
15 Lê Huyền Tông (Lê Duy Vũ), em Lê Chân Tông, ở ngôi 9 năm (1662– 1671), mất ngày 15 tháng 10 năm Tân Hợi, thọ 17 tuổi, đã đặt một niênhiệu là Cảnh Trị (1663 - 1671)
16.Lê Gia Tông (Lê Duy Côi, Lê Duy Khoái) là con thứ của Vua Lê ThầnTông, em Vua Lê Chân Tông và Lê Huyền Tông ở ngôi 4 năm (1671 –1675), mất ngày 3 tháng 4 năm ất Mão, thọ 14 tuổi, thời gian ở ngôi có dặt 2niên hiệu là: Dơng Đức (1672 - 1674), Đức Nguyên (1674 - 1675)
17.Lê Hy Tông (1675 - 1705), (có tên là Lê Duy Hiệp), là em của Lê ChânTông, Lê Huyền Tông và Lê Gia Tông Vua nhờng ngôi cho em để làm thợnghoàng 11 năm (1705 1716) mất vào tháng 4 năm Bính Tuất (1716), thọ 53 tuổi.Trong thời gian ở ngôi đặt 2 niên hiệu là: Vĩnh Trị (1676 - 1679), Chính Thà(1680 - 1705)
18.Lê Dụ Tông (Lê Duy Đờng), là con trởng của Vua Lê Huy Tông, ởngôi 24 năm (1705 - 1729), nhờng ngôi cho con để làm thợng hoàng 2 năm(1729 - 1731), mất vào tháng 1 năm Tân Hợi, thọ 51 tuổi đã đặt 2 niên hiệu là:Vĩnh Thịnh (1705 - 1720), Bảo Thái (1720 - 1729)
19 Lê Thuần Tông (Lê Duy Tờng) là con trởng của Vua Lê Dụ Tông, ở ngôi
3 năm (1732 - 1735) thọ 36 tuổi, đặt 1 niên hiệu là: Long Đức (1732 - 1735)
20 Lê ý Tông (Lê Duy Thận, Duy Chấn), là con thứ 11 của Lê Dụ Tông ởngôi 5 năm (1735 - 1740), nhờng ngôi để làm thợng hoàng 19 năm (1740 - 1759),mất tháng 6 năm Kỷ Mão (1759), thọ 40 tuổi, trong thời gian ở ngôi đặt một niênhiệu là Vĩnh Hựu (1735 - 1740)
21 Lê Hiển Tông (Lê Duy Diêu), là con trởng của Lê Thần Tông, gọi Lê ýTông là chú ruột và đợc Lê ý Tông truyền ngôi ở ngôi 46 năm (1740 - 1786), mấtvào tháng 7 năm Bính Ngọ (1786), thọ 69 tuổi Trong thời gian ở ngôi đặt mộtniên hiệu là Cảnh Hng (1740 - 1786)
Ngoài 21 vị Vua đợc phong miếu hiệu trên, chúng ta còn thấy có 4 vị khôngphải là Vua nhng vẫn truy phong miếu hiệu đó là:
1 Lê Đinh (ông của Lê Lợi) đợc truy phong là Hiển Tổ trạch Hoàng Đế
2 Lê Khoáng (bố của Lê Lợi) đợc truy phong là Tuyên Tổ phúc Hoàng Đế
3 Kiến Vơng Tân (con Lê Thánh Tông) đợc truy phong là Đức TôngKiến Hoàng Đế [18, 30]
Trang 254 Cẩm Giang Vơng Sùng (con Lê Thánh Tông) đợc truy phong là MinhTông Triết Hoàng Đế.
Nh vậy, cộng lại có 25 vị Vua đợc thờ ở Thái Miếu
Còn những vị vua sau không đợc thờ ở Thái Miếu bao gồm:
Còn vấn đề Hậu thì những vị nào đợc phong là Hoàng Thái Hậu thì mới đợcthờ ở Thái Miếu Qua nhiều nguồn t liệu đáng tin cậy nh: “Lam Sơn thực lục”(Bản Lê Sát), Đại Việt sử ký toàn th của Ngô Sỹ Liên, Lịch chiều hiến chơng loạichí của Phan Huy Chú thì ta thấy các vị Hoàng Thái Hậu đợc thờ trong TháiMiếu bao gồm:
1 Bà Nội: Lê Thái Tổ (huý là Quách)
- Năm 1428 (Thụân Thiên thứ nhất) đợc truy tôn là: Hiển Tổ GiaThục Hoàng Thái Hậu
- Năm 1437 (Thiệu Bình thứ t) đợc gia thêm 2 chữ “Khâm Thuận”
Vì vậy thánh vị phải viết là: “Hiển Tổ” Gia Thục Khâm Thuận Hoàng TháiHậu
2 Mẹ Lê Thái Tổ (Trịnh Thị Ngọc Thơng)
- Năm 1428 đợc truy tôn: Trịnh từ ý văn Hoàng Thái Hậu
- Năm 1437 tôn thêm: Trịnh từ Văn Trang Hiến Hoàng Thái Hậu
Vì vậy, thánh vị phải viết là: “Trịnh từ ý văn Trang Hiến Hoàng Thái Hậu”
3 Mẹ của Lê Thái Tông (Phạm Thị Ngọc Trần)
- 1434 đợc truy tôn là Cung Từ Quốc Thái Mẫu
- Tháng 2/ 1437 đợc truy tôn là Cung Từ Quang Mục Quốc Thái Mậu
- Tháng 12/1437 truy tôn là Hoàng Thái Hậu
Vì vậy, Thánh vị phải viết là: “Cung Từ Quang mục Hoàng Thái Hậu”
4 Mẹ Lê Nhân Tông (Nguyễn Thị Anh) vợ Lê Thái Tông
Năm 1459 bà Nguyễn Thị Anh bị giết thì 1460 đợc truy tôn là: “Tuyên TừNhân ý Chiêu Túc Hoàng Thái Hậu”
Trang 265 Mẹ Lê Thánh Tông (Ngô Thị Ngọc Dao) và cũng là vợ của Lê TháiTông
Năm 1486 đợc truy tôn là Quang Thục Hoàng Thái Hậu
6 Mẹ Lê Hiến Tông và là vợ của Lê Thánh Tông (Nguyễn Thị Huyên) đợctruy tôn là: “Huy Gia Hoàng Thái Hậu”
7 Mẹ Lê Hiến Tông, vợ Thánh Tông (Phùng Thị Thục Giang) phong
“Nhu Huy Tích Quang Hoàng Thái Hậu”
8 Mẹ Túc Tông, vợ Hiến Tông (Nguyễn Thị Ngọc Hoàn)
Năm 1504 đợc truy tôn là: “Trang thuận Minh ý Hoàng Thái Hậu”
9 Mẹ Uy Mục, vợ Hiến Tông (Nguyễn Thị Cẩn) đợc truy tôn là:
“Chiêu Nhân Hoàng Thái Hậu”
10 Vợ Kiến Vơng Tân (Tân là con Lê Thánh Tông), mẹ Vua Tơng Dực(Trịnh Thị Tuyên) đợc truy tôn là: “Huy Từ Trang Huệ Kiến Hoàng Thái Hậu”
11 Minh Tông Trịnh Hoàng Hậu (Minh Tông tức là Cẩm Giang VơngSùng, con Lê Thánh Tông), mẹ đẻ ra Chiêu Tông (Trịnh Thị Lan), đợc truytôn là: “Đoàn Từ Hoàng Thái Hậu”
12 Chiêu Tông Phạm Hoàng Hậu (Vợ Chiêu Tông) đợc truy tôn là: GiaKhánh Hoàng Thái Hậu Phạm Thị Ngọc Quỳnh
Nh vậy, qua đối chiếu, khảo chứng các nguồn sử liệu từ sách, chúng ta cóthể kết luận: Có 25 vị Hoàng Đế và 12 Hoàng Thái Hậu đợc thờ trong TháiMiếu [18, 33]
2.4 Các công trình kiến trúc
Khu di tích Thái Miếu nhà Hậu Lê, nằm trên đờng thiên lý Bắc Nam.Toàn bộ cảnh quan khuôn viên khu di tích khá rộng bào gồm nhiều hạng mụccông trình nh: Nghi môn đến Bình phong, qua các bức bình phong là sân điện
và 2 bên sân điện là các nhà tả vu và hữu vu, tiếp đến là điện thờ gồm 2 lớp cókết cấu theo lối chữ nhị (=), gần nh kiểu trung thềm điệp ốc
2.4.1 Nghinh Môn
Là một ngôi nhà ba gian, 2 chái, phía trên mái lợp bằng loại ngói mũithông thờng, bờ dãi và bờ nóc đã đợc tu sửa lai
Phía bên trong gồm có 4 hàng chân cột chiều ngang, mỗi hàng 3 chiếc;
ba hành chân cột dọc, mỗi hàng 4 cột Toàn bộ khung nhà có 12 cột bằng gỗlim chống đỡ toàn bộ hệ thống phía trên của ngôi nhà Cột nhà có chân tảng
đá Toàn bộ rui mè đều bằng gỗ lim Nền đợc lát bằng nhiều loại gạch có hìnhdáng khác nhau:
Trang 27- Hai loại hình chữ nhật, một loại có kích thớc45cm25cm, loại khác có kích thớc 20cm15cm.
Nhìn chung, tổng thể kiến trúc bên trong cổng nghinh môn, kết cấu bộkhung gỗ theo lối “giá chiêng, chồng giờng, kẻ bẩy… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát” đợc lắp ghép theo 3chiều không gian thông thoáng: cột, xà, kẻ bẩy… Đặc biệt trong thời kỳ phong kiến, Thanh Hoá là đất phát có độ chính xác cao Đề tàitrang trí là những bức hoa văn chạm trỗ, phù điêu trên các đầu đao, kẻ bẩy làhình vân mây và hoa lá cách điệu
ơng Trên sân, trớc Tiền Điện, có trồng 3 cây muỗm và 1 cây sung Cả 4 cây
có thân to lớn, ba ngời ôm không xuể Đứng giữa sân nhìn lên phía Tiền Điện
có một đôi rồng chầu mặt nguyệt Phía dới sân, chạy suốt chiều dài Tiền Điện,
cứ cách 3m là một đôi nghê gỗ ngồi chầu, trớc mỗi đôi nghê có bệ đặt bát
h-ơng Hiện nay, ở Thái Miếu nhà Hậu Lê, 2 dãy nhà tả vu và hữu vu đã bị tháo
dỡ, bên tả vu đợc thay thế bằng một ngôi nhà tạm lợp ngói tây gồm 7 gian,bên hữu vu là phần đất để trống
2.4.3 Chính điện thờ: Tiền Điện và Hậu Điện
Công trình kiến trúc chính của miếu thờ gồm 2 toà nhà đợc bố trí liềnnhau theo lối trùng thềm (kiểu chữ nhị) Ngôi nhà trớc thờng gọi là “Tiền
Điện” gồm 7 gian, ngôi nhà chính điện (Hậu Điện) cũng gồm 7 gian
Bao gồm 7 gian, kết cấu bằng gỗ lim đợc xây dựng theo kiểu tờng thu hồibít đốc, kết hợp với trụ biểu Chiều rộng của nhà là 14,83m, chiều dài nhà là21,97m, khoảng cách giữa các vì là 2,8m, riêng gian giữa là 3,4m, khoảngcách giữa 2 cột là 4,5m, giữa cột cái và cột quân là 2,65m Nhà Tiền Điện baogồm 5 cửa ra vào và làm theo kiểu bức bàn đã đợc sửa chữa 1 số cánh Hệthống khung cột, vì kèo đợc cấu tạo theo kiểu chữ đinh (J) “Trụ đinh xà kép”,với ván dong kẻ bẩy tổng cộng là 7 gian 8 vì, mỗi vì kèo có 2 hàng cột cái và
2 hàng cột quân, đợc liên kết chặt chẽ với nhau bằng hệ thống xà thợng, xà hạ
và xà hiên Mái lợp bằng ngói mũi hài loại đặc biệt và hiện nay mái hiên trớc
đã đợc gia cố thêm
Cách bài trí trong nội thất Tiền Điện: trớc kia trong nhà Tiền Điện có bày mộtbức tợng đá ngời Chăm cởi trần, mặc quần đùi, hai tay vòng trớc trán dâng hơng,