1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu di tích lịch sử đền trần thương (xã nhân đạo, huyện lý nhân, tỉnh hà nam)

86 2,5K 23
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu di tích lịch sử đền Trần Thương (xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam)
Tác giả Trương Thị Lan
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Duyền
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Văn hóa
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 461,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơntới Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Nam, Ban quản lý Di tích lịch sửvăn hóa đền Trần Thương, Thư viện Trường Đại học Vinh, các cơ quan banngành, bạn b

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân,tôi luôn nhận được sự động viên giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn ThS NguyễnThị Duyên, các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, gia đình và bạn bè

Qua đây tôi muốn bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Nguyễn Thị Duyên,tới những người đã giúp đỡ chỉ bảo tận tình cho tôi Tôi cũng xin gửi lời cảm ơntới Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Nam, Ban quản lý Di tích lịch sửvăn hóa đền Trần Thương, Thư viện Trường Đại học Vinh, các cơ quan banngành, bạn bè, người thân đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Mặc dù có nhiều cố gắng, song kinh nghiệm còn thiếu, thời gian thu thậptài liệu và tìm hiểu không dài nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sótnhất định Tôi rất mong nhận được sự đóng góp chân thành từ phía thầy, cô, cácbạn sinh viên để khóa luận hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Vinh, tháng 5 năm 2010

Tác giả

Trương Thị Lan

Trang 2

Trờng đại học vinh khoa lịch sử

Trang 3

A MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của khóa luận 3

6 Bố cục của khóa luận 4

B NỘI DUNG 5

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN LÝ NHÂN TỈNH HÀ NAM 5

1.1 Điều kiện tự nhiên 5

1.2 Điều kiện kinh tế 8

1.3 Điều kiện xã hội 9

1.3.1 Lịch sử hình thành 9

1.3.2 Cách tổ chức dân cư 11

1.4 Truyền thống lịch sử, văn hóa 15

1.4.1 Truyền thống lịch sử 15

1.4.2 Truyền thống văn hóa 18

Chương 2 KHẢO TẢ VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐỀN TRẦN THƯƠNG 24

2.1 Vị trí - Nguồn gốc lịch sử của ngôi đền 24

2.1.1 Vị trí của ngôi đền 24

2.1.2 Nguồn gốc lịch sử của ngôi đền 25

2.1.2.1 Quá trình xây dựng và tu sửa ngôi đền 25

2.1.2.2 Nhân vật được thờ tự 26

2.2 Kiến trúc - điêu khắc của ngôi đền 34

2.2.1 Kiến trúc 34

2.2.2 Một số đồ thờ tự 43

Trang 4

Chương 3 LỄ HỘI VÀ GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN

HÓA ĐỀN TRẦN THƯƠNG 47

3.1 Lễ hội đền Trần Thương 47

3.1.1 Lễ hội tháng Giêng 48

3.1.1.1 Lễ phát lương 48

3.1.1.2 Lễ tế cá 53

3.1.2 Lễ hội tháng Tám 57

3.1.2.1 Nguồn gốc của lễ hội 57

3.1.2.2 Hoạt động chuẩn bị 57

3.1.2.3 Tiến trình lễ hội 59

3.2 Giá trị của di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương 71

3.2.1 Giá trị về lịch sử 71

3.2.2 Giá trị về nghệ thuật 73

3.2.3 Giá trị văn hóa tâm linh 74

3.2.4 Giá trị về du lịch 75

3.3 Thực trạng và một số đề xuất của cá nhân về di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương 76

3.3.1 Thực trạng của di tích lịch sử văn hóa đền Trần thương 76

3.3.2 Công tác bảo tồn và phát triển di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương 77

3.3.3 Một số đề xuất của cá nhân 78

C KẾT LUẬN 80

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC

A MỞ ĐẦU

Trang 5

1 Lý do chọn đề tài

Tỉnh Hà Nam tuy mới được thành lập năm 1890 do một phần tỉnh HàNội và một phần tỉnh Nam Định hợp lại Song, Đất - Người - Lịch sử - Vănhoá Hà Nam thì đã có từ lâu đời Ở đây đã phát hiện được 1269 di tích vănhoá các loại

Huyện Lý Nhân là một trong sáu đơn vị hành chính của tỉnh Ở đây có

16 di tích lịch sử - văn hoá - kiến trúc - nghệ thuật đã được công nhận cấp tỉnh

và Quốc gia, tiêu biểu như: đình Văn Xá (xã Đức Lý), đình Vĩnh Trụ, đìnhThọ Chương (xã Đạo Lý), đình Đồng Lư, đền Bà Vũ (xã Chân Lý), đền TrầnThương (xã Nhân Đạo)…

Xã Nhân Đạo huyện Lý Nhân luôn tự hào về truyền thống văn hoá của

mình với những con người hiền lành, chất phác, cần cù chịu khó “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” làm giàu cho quê hương mình Đặc biệt với di tích

lịch sử văn hoá đền Trần Thương vừa là niềm tự hào về văn hoá truyền thốnglại vừa là bằng chứng cho sự bảo lưu, giữ gìn di tích lịch sử văn hoá của vùng

Đền Trần Thương được xây dựng trên nền của kho lương thời Trầntrong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần hai (1285) gắn với vịanh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn

Tuy Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Hà Nam, Phòng văn hoá - thông tinhuyện Lý Nhân, các tác giả có những đề tài nghiên cứu tới di tích lịch sử vănhoá đền Trần Thương nhưng vẫn chưa có được cái nhìn tổng quan

Là sinh viên học chuyên ngành Lịch sử văn hóa, tôi muốn đi sâu tìm

hiểu Di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương để góp phần giới thiệu một

cách khái quát nhất về di tích lịch sử này Qua đó giúp mọi người hiểu thêm

về vẻ đẹp và những giá trị văn hóa của mảnh đất Hà Nam

Trang 6

2 Lịch sử vấn đề

Đền Trần Thương là một khu di tích lịch sử văn hóa có giá trị to lớn cả

về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần đối với nhân dân huyện Lý Nhân nóiriêng và lịch sử văn hóa Hà Nam nói chung Vì vậy, đền Trần Thương đã trởthành đề tài cho một số nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu:

- Cuốn “Địa chí Hà Nam” (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005), đã

khảo tả về khu di tích và nhân vật được thờ

- Cuốn “Hà Nam di tích và thắng cảnh”, Sở Văn hóa thông tin Hà

Nam, (2003), đã giới thiệu cho bạn đọc những nét khái quát về kiến trúc đền,

có kèm theo hình ảnh minh họa

- Tác giả Mai Khánh có nhiều bài viết về giá trị lịch sử và văn hóa của

đền như: Đền Trần Thương - Bóng dáng Phủ Đệ của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn

Đây là một trung tâm văn hóa tâm linh có quy mô vùng nên các cơquan đoàn thể đã rất chú ý tới các hoạt động của đền Vì vậy, hiện nay banquản lý khu di tích đã lưu trữ được hai cuốn VCD liên quan đến hoạt độngcủa đền như:

+ Di tích lịch sử và lễ rước nước

+ Lễ tế cá

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương ở xãNhân Đạo, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận của tôi tập trung một số vấn đề sau:

- Nguồn gốc, quá trình xây dựng và tu sửa di tích lịch sử văn hóa đềnTrần Thương

Trang 7

- Khảo tả về kiến trúc - điêu khắc của di tích lịch sử văn hóa đền TrầnThương.

- Các hoạt động lễ hội diễn ra hàng năm tại di tích lịch sử văn hóa đềnTrần Thương

- Một số giá trị của di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Để thực hiện đề tài này, tôi chủ yếu khai thác một số nguồn tài liệu sau:

- Tài liệu thành văn như: Đại Việt sử ký toàn thư, Đất nước Việt Namqua các đời, Danh tướng Việt Nam…

- Các bài viết, các công trình nghiên cứu về di tích lịch sử văn hóa đềnTrần Thương ở Lý Nhân, Hà Nam như: Lý lịch di tích lịch sử văn hóa đềnTrần Thương (xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam)…

- Tài liệu điền dã thực tế

- Tài liệu internet

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng kết hợp chặt chẽ phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp điều tra, sưu tầm tư liệu lịch sử

5 Đóng góp của khóa luận

- Tập hợp tư liệu điền dã, tư liệu thành văn để giới thiệu một cách có

hệ thống về di tích lịch sử văn hoá đền Trần Thương (xã Nhân Đạo, huyện

Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) Qua đó, khóa luận làm nổi bật giá trị lịch sử vănhóa của đền Trần Thương và chỉ rõ ảnh hưởng của nó đối với đời sống nhândân trong vùng

Trong quá trình tìm hiểu đặc điểm ngôi đền, tôi đã có sự liên tưởng, sosánh với một số di tích lịch sử liên quan đến nhân vật Trần Hưng Đạo như

Trang 8

đền ở Vạn Kiếp (Chí Linh - Hải Dương), đền Trần (Nam Định)… Mặt khác,khóa luận còn có sự đối sánh lễ hội ở đây với lễ hội cổ truyền ở đồng bằngBắc Bộ để rút ra điểm tương đồng và khác biệt.

Ngoài ra khóa luận có ý nghĩa đóng góp vào công cuộc bảo tồn và pháttriển khu di tích, quảng bá một di tích lịch sử văn hoá có quy mô vùng

6 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dungchính của khóa luận được trình bày qua 3 chương:

Chương 1 Khái quát chung về huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam

Chương 2 Khảo tả về di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương

Chương 3 Lễ hội và giá trị của di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương

Trang 9

B NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

1.1 Điều kiện tự nhiên

Lý Nhân là một trong sáu đơn vị hành chính của tỉnh Hà Nam Diệntích tự nhiên toàn huyện là: 166,8 km2, vốn là đất hình thành tại chỗ và do phù

sa sông Hồng bồi đắp

+ Về vị trí địa lý: nằm phía Đông của tỉnh trong khoảng toạ độ 20 o35’

vĩ độ bắc; 106,05’ độ kinh đông

Phía Đông: qua sông Hồng là tỉnh Hưng Yên và Thái Bình

Phía Tây: giáp 2 huyện Bình Lục và Duy Tiên

Phía Nam: giáp huyện Bình Lục và tỉnh Nam Định

Phía Bắc: giáp huyện Duy Tiên

Huyện Lý Nhân cách thành phố Phủ Lý - trung tâm kinh tế, văn hoá,chính trị của tỉnh Hà Nam 14km về phía Tây

Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ nên địa hình huyện LýNhân có dạng lòng chảo nghiêng dần về phía Đông Nam Địa hình tương đốibằng phẳng, hình thành 3 vùng sinh thái khác nhau, đó là:

- Vùng đất bãi bồi ngoài đê sông Hồng và sông Châu

- Vùng đồng chiêm trũng (chiếm 2/3 diện tích)

- Vùng đất màu và cây công nghịêp

+ Về nguồn nước: hai con sông bao quanh huyện là sông Hồng và sông

Châu có tổng chiều dài trên địa bàn khoảng 78km với diện tích lưu vựckhoảng 1.084 ha Sông Hồng hàng năm bồi đắp phù sa cho vùng bãi ngoài đê

và cho vùng lúa qua hệ thống trạm bơm từ sông Hồng

Sông Châu là một nhánh của sông Hồng, bắt đầu từ Tắc Giang đổ rasông Hồng qua Hữu Bị Nay trên sông có nhiều đập ngăn nước để tưới cho

Trang 10

đồng ruộng và làm nhiệm vụ tiêu nước cho cả hai huyện bạn là Bình Lục vàDuy Tiên trong mùa mưa úng.

Ngoài ra còn có kênh Long Xuyên như con kênh tiêu chính cho toàn bộvùng trũng của huyện từ cống Vũ Xá chảy qua cống Vừa đổ ra sông Châu

Bên cạnh nguồn nước mặt phong phú dồi dào thì Lý Nhân còn cónguồn nước ngầm hai tầng thuộc hệ thống sông Thái Bình và hệ thống ở HàNội Khu vực sử dụng được chiếm tới 50% diện tích, lượng khoáng hoá (1mg/

1 lít) Tầng chứa nước Pleistoxen thuộc hệ thống Hà Nội có lượng nước biếnthiên từ mặn đến nhạt, dày từ 10 - 15cm, nồng độ sắt trong nước tăng dầntheo chiều từ biển vào đất liền

Nhờ có hai tầng nước ngầm này, chương trình nước sạch nông thôn doUNICEP viện trợ đã được thực hiện từ năm 1983

+ Về khí hậu: huyện Lý Nhân nói chung và xã Nhân Đạo nói riêng đều

nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, thuộc tiểu vùng khíhậu của đồng bằng Bắc Bộ nên nó chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa ĐôngBắc về mùa đông và gió mùa Tây Nam về mùa hè

Lượng mưa trung bình hàng năm gần 2000mm, năm mưa nhiều nhấtđến 2400mm, năm mưa ít nhất là 1200mm, được phân bố không đều, chia làmhai mùa: mùa mưa và mùa khô

Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 lượng mưa chiếm tới 80%,

có năm lên tới 90% lượng mưa cả năm Cũng có năm cá biệt, mùa mưa kếtthúc muộn kéo dài sang tháng 11, mưa lớn chiếm tới 21% lượng mưa cả năm(1996) Mưa nhiều nhất vào các tháng 7 - 8 - 9 Mưa nhiều, mưa tập trung gâyngập úng lớn, nhất là khi mưa kết hợp với bão và nước lũ ngoài sông dângcao, gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp

Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa thời gian nàychỉ chiếm 20% lượng mưa cả năm Mưa ít nhất là vào tháng chạp, thángGiêng, tháng hai, có tháng không có trận mưa nào Cũng có năm mưa muộn

Trang 11

ảnh hưởng lớn đến việc gieo trồng vụ đông và mưa sớm gây trở ngại cho thuhoạch vụ chiêm xuân.

Nhiệt độ trung bình nằm dao động từ 23,5oC - 24oC, mùa hè nhiệt độtrung bình là 27 oC Nóng nhất là tháng 6, tháng 7 có khi lên tới 36 oC - 38 oC.Mùa đông nhiệt độ trung bình là 18,9 oC Tháng Giêng, tháng hai là lạnh nhất,

có năm thấp tới 6 oC - 8 oC

Tổng giờ nắng trung bình cả năm khoảng 1276 giờ Số giờ nắng phụthuộc theo mùa Các tháng hè số giờ nắng nhiều, cao nhất là các tháng 5 - 6 -

10 Mùa đông trời âm u, độ ẩm cao, sâu bệnh phát triển Có tháng chỉ có 17

-18 giờ nắng (2/2007) còn trung bình chiếm 28% số giờ nắng trong năm

Độ ẩm giữa các tháng chênh lệch không lớn, giữa tháng khô nhất vàtháng ẩm nhất chỉ chênh nhau khoảng 12% Các tháng hanh khô là 10 - 11 - 6

Độ ẩm trung bình tối đa là 92%, tối thiểu là 80%

Gió thay đổi theo mùa Tốc độ gió trung bình là 2 - 2,3m/s Mùa đôngchủ yếu là gió mùa Đông Bắc với tần suất 60 - 70 % Tốc độ trung bình 2,4 -2,6m/s lớn hơn mùa hè Cuối đông, gió chuyển sang hướng đông Nhữngngày có gió mùa Đông Bắc thường có gió cấp 4, cấp 5

Mùa hè hướng gió chính là Đông Nam, tần suất 50 - 70% Tốc độ gió1,9 - 2,2m/s, khi bão vào tốc độ gió cực đại đạt tới 40m/s Đầu mùa hạ thườngxuất hiện gió Tây Nam khô nóng

Như vậy, với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên nói trên huyện Lý Nhân

có những hạn chế và lợi thế sau:

- Về lợi thế: có vị trí địa lý thuận lợi, gần các trung tâm kinh tế - chính

trị của tỉnh và tỉnh bạn như thành phố Phủ Lý (Hà Nam), Hưng Yên, thànhphố Nam Định (Nam Định), giao thông thuận tiện cả đường thuỷ, đường bộ,nhất là khi hoàn thành cầu Yên Lệnh qua sông Hồng và mở rộng quốc lộ 38A

Là vùng đồng bằng tương đối rộng, bằng phẳng, đất đai màu mỡ dosông Hồng bồi đắp nên có thể sản xuất 2 - 3 vụ / năm, nguồn nước dồi dào

Trang 12

- Mặt hạn chế: Lý Nhân là vùng “đất chật người đông” Trong khi đó,

đất chưa sử dụng còn ít và khó khai thác Vì vậy, Lý Nhân khó có khả năngkhai thác mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp Khả năng tiêu thụ nông sảnthấp Hiện tượng ế thừa, xuống giá làm ảnh hưởng đến tốc độ phát triển, sứccạnh tranh thu hút vốn đầu tư yếu hơn các huyện trong tỉnh

1.2 Điều kiện kinh tế

“Nam Xang đồng hẹp, bãi dài

Ăn cơm thì ít, ăn khoai thì nhiều”.

Câu ca đã thể hiện phần nào đời sống kinh tế của cư dân vùng này.Nông nghiệp chiếm 80% dân số trong đó chủ yếu là trồng lúa nước Lý Nhân

là vùng đồng bằng chiêm trũng nên cốt đất thấp, độ PH cao, độ phì nghèo, đấtkém màu mỡ thường chỉ cấy được một vụ chiêm là chính, vụ mùa chỉ làmđược một phần ở chân ruộng cao còn phổ biến là trồng ngô, khoai

Nói chung, đất ở Lý Nhân nghèo dinh dưỡng như: mùn, đạm, lân, kali Vềmùa mưa bị ngập úng nặng nên phải xây dựng các trạm bơm lớn để tiêu nước

Do điều kiện tự nhiên chi phối nên nhân dân Trần Thương cũng nhưnhân dân huyện Lý Nhân đã hình thành các ngành nghề phù hợp với điều kiện

tự nhiên cũng như đức tính cần cù, chịu khó của nhân dân nơi đây Ngoài cấylúa là hoạt động sản xuất nông nghiệp chính thì huyện Lý Nhân còn nổi tiếngvới một số đặc sản được truyền tụng như: hồng không hạt (Nhân Hậu), chuốiNgự (Đại Hoàng), quýt đỏ (Tảo Môn), hạt sen (Nhân Đạo) Tuy nhiên, cácđặc sản này đang dần mai một do không có điều kiện phát triển để trở thànhsản phẩm hàng hoá

Tuy nhiên, nhắc tới địa danh Nhân Đạo, Trần Thương thì chúng takhông thể không biết đến câu ca truyền đời sau:

“Cá Nhân Đạo, gạo Trần Thương”

Hoặc tại toà tiền đường trong đền Trần Thương có bức hoành phi ghi:

“Trần Thương dư phúc địa, cầm thảo tứ thời xuân” [23,15].

Trang 13

Nghĩa là: đất phúc Trần Thương còn đó, hoa quả bốn mùa đầy vẻtươi xuân.

Như vậy, qua câu ca trên ta có thể thấy được sự trù phú của mảnh đấtnày Trần Thương là một làng nằm ven sông Hồng nên từ lâu cư dân nơi đây

có nghề vớt cá, nuôi cá bột Từ rất sớm, nhà nông làng Trần Thương đã biếtchọn gieo trồng các giống lúa ngon, phù hợp với đồng đất quê hương như nếpcái hoa vàng, nếp quýt vừa thơm vừa dẻo, lại còn Ri hương, dự, tám thơm nổitiếng Người dân mảnh đất này đã biết chọn những phương thức canh tác phùhợp với cảnh quan của vùng chiêm trũng Ở những chân ruộng cao trồng lúaLốc gieo xạ, chân ruộng trũng thì cấy lúa Rong gạo đỏ, những cây chịu ngập,chịu rét, ít sâu bệnh

Những năm gần đây, thực hiện công cuộc Công nghiệp hoá - hiện đạihoá công nghiệp và nông thôn, Lý Nhân đã tập trung vào mục tiêu phát triểnkinh tế, xoá đói giảm nghèo, từng bước đi lên xây dựng thành một huyện giàumạnh Nằm trên địa bàn huyện Lý Nhân, nhân dân xã Nhân Đạo chủ yếu sốngvới nghề làm ruộng và chăn nuôi gia súc, gia cầm Ngoài ra còn có nghề trồnghạt sen xuất khẩu Hiện nay đời sống của nhân dân tương đối ổn định Số hộđói nghèo trong thôn xã còn không đáng kể

1.3 Điều kiện xã hội

VI - III.TCN, nay được trưng bày ở Viện bảo tàng Việt Nam, Hà Nội

“Vào thời Văn Lang, đất này thuộc bộ Giao Chỉ, sau là huyện Chu Diên, quận Vũ Bình Thời Bắc Thuộc vẫn thuộc bộ Giao Chỉ.

Trang 14

Thời Lý - Trần thuộc Châu Lợi Nhân, lộ Đông Đô Thời Lê kiêng tên huý nên đổi thành Lỵ Nhân Năm Quang Thuận thứ 7 (1466) vua Lê Thánh Tông chia nước thành 12 đạo thừa tuyên, phủ Lỵ Nhân nằm trong Sơn Nam thừa tuyên gồm 5 huyện đó là: Thanh Liêm, Bình Lục, Cổ Bảng, Cổ Giả, Cổ Lễ.

Năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741) thuộc Sơn Nam Thượng Trấn Năm 1822 đổi tên thành Lý Nhân thuộc trấn Sơn Nam Năm 1831, thuộc vào tỉnh Hà Nội Năm 1832 trích hai huyện Nam Xang (Nam Xương) và Bình Lục đặt làm phân phủ thuộc tỉnh Hà Nội.

Ngày 21/3 năm Thành Thái thứ 2 (1890), ở huyện Nam Xang, Bình Lục, Thanh Liêm lập thành phủ Liên Bình trực thuộc tỉnh Nam Định Đến 20/10/1890, chính quyền Pháp bỏ cấp phủ, phân chia lại các đơn vị hành chính thành lập tỉnh Hà Nam với phần đất của tỉnh Hà Nội và của tỉnh Nam Định, huyện Nam Xang thuộc tỉnh Hà Nam mới Ngày 21/3/1923 huyện Nam Xang lấy lại tên cũ là Lý Nhân” [27,95-96].

Sách “Đại Nam nhất thống chí, Tập III” do Quốc sử quán triều Nguyễn

biên soạn viết về huyện Nam Xang như sau:

“Huyện Nam Xang ở cách phủ 50 dặm về phía Đông Nam Đông Tây cách nhau 22 dặm, Nam Bắc cách nhau 17 dặm Phía Đông đến sông Nhị đối ngạn với địa giới hai huyện Kim Động và Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên 8 dặm Phía Tây vượt sông đến địa giới hai huyện Duy Tiên và Bình Lục 14 dặm Phía Nam đến sông Nhị đối ngạn với địa giới hai huyện Thượng Nguyên và Mỹ Lộc tỉnh Nam Định 14 dặm Phía Bắc giáp địa giới huyện Phú Xuyên phủ Thường Tín 3 dặm Nguyên là huyện Lỵ Nhân đời Lê Quang Thuận làm huyện Nam Xang Trước do phân phủ Kiên Lý, nay đặt tri huyện” [21,162].

Còn theo sách “Các tổng trấn xã danh bị lãm” viết đầu thế kỷ XIX thì

huyện Nam Xang nằm trong phủ Lỵ Nhân, trấn Sơn Nam Thượng, bao gồm

10 tổng, 80 xã, thôn, phường, trang trại, sở

Trang 15

Thời Pháp thuộc, năm 1941 huyện Lý Nhân có 9 tổng, 86 xã, 400 thôn.Sau cách mạng tháng Tám cũng không có gì thay đổi về tổ chức hành chính.

Đến đầu năm 1948, trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dânPháp, để thuận tiện cho sự chỉ đạo, chủ trương của Trung Ương và tỉnh uỷ làcủng cố chính quyền, sát nhập các đơn vị hành chính

Ngày 04/01/1948, sát nhập Uỷ ban hành chính với Uỷ ban kháng chiến,hành chính huyện Lý Nhân Ngày 16/01/1948, sát nhập 86 xã nhỏ thành 20 xã

đó là: Bắc Lý, Công Lý, Chính Lý, Chung Lý, Đạo Lý, Đồng Lý, Đức Lý,Nguyên Lý, Nhân Đạo, Nhân Hậu, Nhân Hoà, Nhân Hưng, Nhân Khang,Nhân Long, Nhân Mỹ, Nhân Thắng, Nhân Thịnh, Văn Lý, Xuân Khê [28,98]

Những tên xã này còn tồn tại phần lớn cho tới ngày nay Hiện nay,huyện Lý Nhân có 22 xã và 1 thị trấn huyện lỵ với 345 thôn, xóm và 2 khuphố Diện tích tự nhiên là 166,84 km2 Trong đó, xã Nhân Đạo có diện tích6,6 km2, dân số: 4.201 người, mật độ 636 người/km2 Gồm 6 thôn, 3 xóm Đólà: thôn Đồng Nhân, Đội Xuyên, Khu Hoàng, Trác Ngoại, Trác Nội, Trần

Thương (có 3 xóm từ 1 đến 3).

1.3.2 Cách tổ chức dân cư

Thời xa xưa, thôn Trần Thương cũng như các thôn khác trong xã, tronghuyện là dân sống tụ cư trên một địa bàn cư trú, có tính cộng đồng và tự trịcao Sự cố kết giữa các thành viên trong một thôn xóm không phải dựa vàomột mà nhiều cách, nhiều nguyên tắc khác nhau, vừa đa dạng, vừa phức tạp

Về cơ bản, cách tổ chức dân cư của làng, của thôn được tổ chức nhưsau: theo địa vực cư trú, theo huyết thống, theo giáp, theo tinh thần tự nguyện,theo bộ máy hành chính

Theo địa vực cư trú: ở Việt Nam nói chung, để hình thành cộng đồng

cư dân người Việt thì tập hợp người theo địa vực cư trú là cơ bản nhất Cách

tổ chức dân cư của thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo cũng tuân theo nguyêntắc trên, gồm 3 xóm với tên gọi từ 1 đến 3 Quan hệ giữa các thành viên trong

Trang 16

1 thôn, xóm không nhất thiết ai là họ hàng của ai mà thường là “người làng”

của nhau Những người dân trong thôn, xóm đoàn kết cùng hợp tác sản xuấtkinh tế, làm thuỷ lợi, khai phá đất hoang và đấu tranh chống giặc ngoại xâmgiữ làng, giữ nước

Trong quá trình cộng cư, tính cấu kết cộng đồng hình thành mối quan

hệ “tối lửa đắt đèn có nhau” Trong những ngày lễ hội, các chức sắc trong

thôn xóm đứng ra tổ chức, tạo ra không gian sinh hoạt văn hoá chung Nhữnghoạt động này, góp phần củng cố mối liên kết giữa các thành viên trong thônxóm càng trở nên chặt chẽ

Theo quan hệ huyết thống: hiện nay, qua khảo sát thì làng Trần

Thương có nhiều dòng họ khác nhau, nhiều và lâu đời nhất vẫn là dòng họTrần Ngoài ra còn có các dòng họ khác như: họ Nguyễn, họ Phạm Cácdòng họ phân bố đan xen trong các xóm, đứng đầu là trưởng họ Các thànhviên trong một dòng họ phải có nhiệm vụ thờ tổ tiên của dòng họ mình

Cũng như nhiều làng quê khác, vấn đề dòng họ luôn là vấn đề quantrọng, nhiều khi quyết định đến các mối quan hệ khác Dưới xã hội phong kiến,vấn đề dòng họ ở làng Trần Thương (Nhân Đạo) nói riêng và các làng quê khác

bị đẩy lên mức cực điểm Hiện tượng chia bè phái, chống đối, mâu thuẫn cả vềđịa lý, kinh tế diễn ra sâu sắc có ảnh hưởng tiêu cực tới văn hoá làng xã Vínhư: các chức sắc chủ chốt trong làng gần như là cha truyền con nối

Bên cạnh mặt hạn chế thì sự tập hợp dân cư theo quan hệ huyết thống

có những điểm tích cực đáng tự hào Trong thời kỳ chống giặc ngoại xâm cóbiết bao con em từ các dòng họ đã tham gia kháng chiến, góp phần to lớntrong công cuộc giữ gìn và xây dựng quê hương đất nước Không những thế,trong làng có những dòng họ nổi tiếng về truyền thống học giỏi, có nhữngbiện pháp khuyến khích con em trong họ chăm chỉ học hành, đỗ đạt

Theo giáp: ngoài việc lấy tình làng nghĩa xóm, tình máu mủ, huyết

thống làm nền tảng thì thời phong kiến làng xã Việt Nam nói chung và

Trang 17

làng Trần Thương nói riêng còn có hình thức tổ chức dân cư theo giáp(theo lứa tuổi).

Theo nhiều tài liệu, khái niệm “giáp” có nguồn gốc đầu tiên ở Trung

Quốc Hình thức tổ chức này tới Việt Nam vào cuối những năm Bắc thuộc

Theo hồi tưởng của các cụ cao niên trong làng thì trước đây làng TrầnThương có 4 giáp

“Giáp” là tổ chức dành riêng cho nam giới nên phụ nữ không được vào

“giáp” Vì trong khung cảnh của làng Việt cổ truyền lúc đó bị chi phối bởi tư

tưởng phong kiến lạc hậu, vai trò người phụ nữ bị hạ thấp chỉ có chức năng

chính sinh con duy trì nòi giống: “Trọng nam khinh nữ”; “Thập nữ viết vô”.

Thành viên nam trong làng đều được vào một giáp cụ thể Gia nhập vàogiáp này hay giáp kia không phải tuỳ thuộc vào sở thích từng người mà phải

theo huyết thống (tức là theo hình thức: “cha truyền con nối”).

Trong xã hội cổ truyền thì “giáp” cũng là một trường tiến thân của mỗi

người Nhưng ở đây, con người tiến thân không phải là do sự tích lũy của cảivật chất mang lại, cũng không phải do chức vụ, phẩm hàm mà Nhà nướcphong kiến cấp Trường tiến thân ở đây là do tuổi tác mang lại Tuổi tác nàyđược gọi là xỉ tước Nó đối lập với quan tước, phẩm tước do Nhà nước cấp

“Triều đình trọng tước, hương ước trọng xỉ”.

Dưới thời phong kiến, hàng năm giáp trưởng có trách nhiệm đôn đốc thu

tô, thuế của đinh giáp trong làng, đôn đốc việc đi phu đi lính, thúc giục ngườidân góp tiền để duy trì các hoạt động lễ hội Hằng năm, người dân trong làngđóng góp kể cả vật chất lẫn tinh thần để tổ chức lễ hội đền Trần Thương vàotháng Giêng và vào trung tuần tháng Tám nhằm tưởng nhớ công lao to lớn củaHưng Đạo Đại Vương - Trần Quốc Tuấn Trước khi lễ hội diễn ra, làng phải tổchức nuôi quân (trai tân bơi chải, người rước nước, rước kiệu ) Như vậy, giáp

có vai trò to lớn trong việc duy trì hoạt động của làng xã

Trang 18

Theo tinh thần tự nguyện (phe, hội, phường): trong hầu hết các

làng Việt cổ truyền ngoài mối quan hệ về cư trú, huyết thống thì còn hìnhthức tập hợp người trong các phe, hội, phường Trần Thương nằm trongvùng văn hoá Bắc Bộ nên cũng mang đặc điểm về cách thức tổ chức dân cưtheo cách này

Trong làng có nhiều phe:

- Phe tư văn: gồm những người có học thức, có chữ nghĩa, có hiểu biết.

Phe này gánh vác cho làng một nhiệm vụ hết sức quan trọng là thảo văn tế đểphục vụ trong những dịp lễ hội của làng như: lễ hội đền Trần Thương Họ cónhiệm vụ nói về tiểu sử, công lao của nhân vật, đối tượng được làng tôn thờ,

nhân dân cả nước gọi là: “Đức Thánh Cha” Ngoài ra trong dịp tế lễ, họ được

cử là người đọc văn tế

- Phe tư: họ có vai trò trong việc tiệc tùng, ăn uống là chính Do đó,

những người vào phe này thường là những người có của cải, giàu có tronglàng

Để phục vụ trong những dịp lễ hội, hè, đình đám thêm phần hấp dẫn thì

ta không thể không nói đến vai trò của các hội Trong làng có hội võ, hội vật,hội chèo thành viên trong hội phải là những người biết chút ít về võ - vật -chèo Khi làng có hội thì những hội võ - vật - chèo có cơ hội thi thố tài năngvới nhau Việc duy trì các hoạt động của hội có vai trò to lớn trong việc giữgìn, phát triển các trò chơi dân gian của làng

- Ngoài ra còn có hội thiện: mục đích làm việc thiện Hễ trong làng có người gặp khó khăn thì “hội” sẽ đứng ra quyên góp và thay mặt nhân dân

trong làng đến thăm hỏi động viên…

Phát triển cao hơn hội là phường Phường nhằm tập hợp các thành viêntrong làng cùng làm một nghề nào đó Hình thức này trong làng không rõ nétlắm Bởi vì trong huyện Lý Nhân chia thành các xã Thường mỗi một làng xãlàm một nghề nhất định Ví như: nghề dệt, chủ yếu phát triển ở Nga Khê, tơ

Trang 19

tằm Văn Lý, vải vuông Đại Hoàng, làm quạt Phú Đa, đan tre giang Bảo Lý,Hội Động, Vũ Xá, Bốn Câu, làng mộc nổi tiếng ở Cao Đà, Nhân Giả.

Theo bộ máy hành chính: trong xã hội phong kiến Việt Nam, làng là

đơn vị tổ chức thấp nhất trong nước Làng Trần Thương cũng thuộc đơn vị thấpnhất trong bộ máy quân chủ, nhưng không phải thế mà kém phần chặt chẽ

Theo tài liệu còn lại và dựa vào lời kể của các cụ cao niên thì làngTrần Thương thuộc tổng Thổ Ốc - huyện Nam Xang - Phủ Lỵ Nhân, trấnSơn Nam Thượng

Nét nổi bật trong cơ cấu tổ chức này là tính hướng nội, tính tự trị, làng

đề ra điều lệ, hương ước cho riêng mình Đây là sản phẩm của phương thứcsản xuất tiểu nông, tồn tại dai dẳng lâu dài trong xã hội Việt Nam

1.4 Truyền thống lịch sử, văn hoá

Bên cạnh những nét văn hoá, lịch sử chung của vùng đồng bằng Bắc

Bộ thì xã Nhân Đạo - huyện Lý Nhân cũng có những nét đặc thù riêng

1.4.1 Truyền thống lịch sử

Hà Nam vốn là vùng đất giàu truyền thống yêu nước, chống giặc ngoạixâm Giai thoại để lại cho biết: Hà Nam ngày nay được kế thừa không gianvăn hoá người Việt cổ, điển hình nền văn hoá Đông Sơn - văn minh thời cácvua Hùng bắt đầu dựng nước

Lý Nhân là quê hương của chiếc trống đồng Ngọc Lũ, một di vật cóniên đại cổ nhất và đẹp nhất trong các trống đồng đã tìm thấy ở Việt Nam.Trống được đúc vào khoảng thế kỷ VI - III trước công nguyên, cách ngày nay

từ 8.000 - 5.000 năm và đã trở thành hiện vật gốc quý hiếm của Bảo tàng lịch

sử Việt Nam

Đến thời Trần, truyền thống lịch sử đó vẫn còn in đậm ở xã Nhân Đạogiáp bờ sông Hồng Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên -Mông (thế kỷ XIII), vùng đất này là nơi đóng quân của Quốc công tiết chế

Trang 20

Hưng Đạo Đại Vương - Trần Quốc Tuấn Tương truyền, nền đất của đền TrầnThương hiện nay được xây dựng trên kho lương chính của quân đội ta thờiTrần Sau những chiến công oanh liệt, kho lương chuyển về kinh thành dânlàng đã xây đền trên nền kho lương cũ để tưởng nhớ công lao của vị anh hùngdân tộc này.

Truyền thống đánh giặc giữ nước đó của người xưa đã được phát huycao độ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ở thời đại HồChí Minh sau này

Từ tháng 9/1929, tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội

đã có cơ sở đầu tiên ở Chính Lý - Lý Nhân Tháng 9 năm 1930, chi bộ ĐảngCộng sản Đông Dương đầu tiên của huyện đã ra đời tại làng Đồng Vũ (xã ThọÍch) với ba Đảng viên do đồng chí Thái Huy Quỳnh làm bí thư

Từ ngọn lửa đỏ ban đầu, đến tháng 10 năm 1930, Đảng bộ huyện LýNhân được thành lập với ba chi bộ và hơn 20 Đảng viên Đảng đẩy mạnhcông tác tuyên truyền xây dựng các tổ chức quần chúng như một số hội côngkhai hợp pháp: hội Đàn Thiện ở Dũng Kim, Mạc Thượng, hội Tương Tế áihữu ở Thọ Ích - Vũ Xá, Nhân Giả Đến cuối năm 1931, nông hội đỏ đã có 68hội viên ở các làng Phúc, Dũng Kim, Mạc Thượng

Phong trào cách mạng nhiều phen chìm nổi, bị thực dân Pháp đàn áp,khủng bố nhưng qua mỗi lần sóng gió lại đứng lên vững vàng hơn Sau khiNhật đảo chính Pháp, nhiều cơ sở Đảng được phục hồi, tổ chức thanh niêncứu quốc, tự vệ cứu quốc được thành lập ở nhiều hợp tác xã Tháng 6 năm

1945, ban vận hành Việt Minh ra đời, phát truyền đơn, tuyên truyền xungphong, míttinh, biểu tình vũ trang vạch trần tội ác của thực dân Pháp và phátxít Nhật, kêu gọi nhân dân tham gia các tổ chức cứu quốc phá kho thóc củaNhật để cứu đói, tích cực chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa

Trong cao trào của cách mạng tháng Tám, huyện Lý Nhân đã lấy thônTrần Thương là điểm đầu tiên tổ chức míttinh, bắt các hương hào trong xã,

Trang 21

tổng, thành lập chính quyền mới Từ đây phong trào được phát động ra cácđịa phương trong huyện.

Năm 1947 - 1949, thực dân Pháp đã thiết lập thêm nhiều đồn bốt ở khuvực Vũ Điện, Cầu Không và một số nơi khác Trần Thương trở thành điểm baovây của đồn bốt Mặc dù vậy, tại sân đền Trần Thương vẫn đều đặn diễn ra cácbuổi tập luyện của du kích và là nơi huấn luyện của bộ đội huyện và tỉnh

Năm 1950, địch chia làm hai mũi càn vào làng hòng xoá sổ địa điểmtập kết của quân dân, du kích, bộ đội địa phương Nhưng chúng đã gặp phải

sự chống trả quyết liệt của quân dân địa phương, buộc chúng phải rút quân

Từ đây, Trần Thương trở thành khu an toàn, trung tâm giao liên quan trọngphục vụ cho kháng chiến Năm 1952, Trần Thương là điểm tập kết lương thực

từ Thái Bình chuyển sang để phục vụ cho bộ đội, đồng thời là trạm tiếp nhậnthương binh về điều dưỡng [23,18]

Trong suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, mảnh đất và con ngườiTrần Thương nói riêng và Lý Nhân nói chung đã có nhiều đóng góp công laovào thắng lợi chung của dân tộc Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, quân

và dân Lý Nhân đã đánh 144 trận đánh lớn, diệt 919 tên địch, bắt sống 567tên, thu nhiều quân trang, vũ khí, bắn rơi một máy bay, bắn chìm một tàuchiến Về phía ta, 1007 liệt sỹ đã hy sinh trên các chiến hào đánh địch, để lạiniềm tiếc thương trong lòng người dân

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), LýNhân lại được giao nhiệm vụ đón tiếp, giúp đỡ, nuôi dưỡng hàng nghìn nhândân và học sinh Quảng Bình, Vĩnh Linh và các thành phố lân cận sơ tán vớilòng tương thân tương ái Để góp phần chi viện cho chiến trường, Lý Nhân đã

tổ chức 30 đợt giao quân, tiễn đưa 16.900 người lên đường “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, đóng góp cho Nhà nước 35.000 tấn lương thực, 7.000 tấn

thịt lợn hơi (1966 - 1975)

Qua các chiến công, Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu vẻvang anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ chống Pháp cho xã Nhân Nghĩa

Trang 22

(28/04/2000), xã Hoà Hậu và Xuân Khê (11/2000) và huyện Lý Nhân(04/01/2002).

Trong huyện còn có 3 người được phong tặng danh hiệu Anh hùng lựclượng vũ trang đó là:

Phạm Văn Vượng - Thị trấn Vĩnh Trụ, phong tặng ngày 23/09/1973Nguyễn Phong Lưu - xã Nguyên Lý - thanh niên xung phong chống Pháp.Kiều Xuân Thành - xã Nhân Mỹ, anh hùng trong Bảo vệ Tổ Quốc,phong tặng ngày 12/1979

Tại “Hội nghị tổng kết 10 năm chống Mỹ (1965 - 1975)”, quân khu III

đã tặng cán bộ và nhân dân Lý Nhân bức trướng thêu dòng chữ: “Tình nghĩa, thuỷ chung, chu đáo, vẹn toàn, chấp hành tốt chính sách hậu phương quân đội” [27,109].

1.4.2 Truyền thống văn hoá

Huyện Lý Nhân là vùng quê có bề dày về truyền thống lịch sử văn hóa,bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể Toàn huyện hiện có tổng số 438 ditích, gồm: 108 đình, 92 đền, 38 phủ, 58 miếu, 43 từ đường, 01 quán… Trong

đó, 14 di tích cấp Quốc gia, 08 di tích cấp tỉnh Các di tích tiêu biểu như: đềnTrần Thương, đình Văn Xá, đình Vĩnh Trụ… Về văn hóa phi vật thể, hiện cònbảo tồn và phát huy nhiều giá trị như: các làng nghề truyền thống: mộc Cao

Đà, đan cót Thọ Chương, đan lưới vó… Các giá trị về dân ca như: hát Chèo ởlàng Nghò, Xuân Khê, làng Chương…, hát Lải Lèn ở Nội… Đặc biệt, trongsinh hoạt văn hóa của nhân dân, tính cộng đồng, cộng cảm của người dân rấtcao Tất cả các giá trị đó đã tạo nền tảng cho Lý Nhân xây dựng và phát triểncác phong trào văn hóa

1.4.2.1 Con người

Do môi trường - điều kiện tự nhiên quy định nên người Lý Nhân từ lâu

đã hình thành đức tính cần cù, siêng năng, chịu khó, nhẫn nại, sống chan hòanhân hậu, trọng chữ tín…được đúc kết trong câu ca dao:

Trang 23

“Voi nan lững lững đứng ngồi Thế mà tiếng nói lời mời dễ nghe Múa gậy dựng đứng cây tre Vung gươm chặt đứt cả bè gỗ lim”.

Cuộc sống của con người vùng chiêm trũng khó khăn là vậy nhưngngười Lý Nhân vẫn rất lạc quan, yêu đời Trong những ngày mùa lao động vất

vả, trên khắp cánh đồng vẫn rộn vang tiếng cười nói Một nét đẹp trong văn

hóa nơi đây là họ thường tập hợp nhau lại thành từng nhóm lao động “đổi công” cho nhau rất vui Điều đó thể hiện rất rõ truyền thống đoàn kết của con

người nơi đây nói riêng và ở đồng bằng Bắc Bộ nói chung

Mặt khác, con người nơi đây luôn giáo dục thế hệ trẻ phải sống tiết

kiệm nhưng không phải “vắt chày ra nước” Cuộc sống người dân chủ yếu

phụ thuộc vào nông nghiệp nên rất bấp bênh, do đó con người nơi đây rất hòathuận, thương yêu đùm bọc lẫn nhau Truyền thống đó được thể hiện trongcâu ca dao:

“Râu tôm nấu với ruột bầu Chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon”.

Những thế hệ trước thường nhắc nhở cho con cháu về truyền thống củaquê hương và định hướng để phát triển quê hương Nhận thức được điều đó,thế hệ trẻ huyện Lý Nhân rất phấn đấu và đạt thành tích cao trong học tập.Hiện nay trình độ dân trí của huyện Lý Nhân đã nâng cao Hệ thống trườnghọc, trụ sở đã được khang trang Hàng năm, có rất nhiều em đỗ vào cáctrường Đại học, Cao đẳng Bộ máy lãnh đạo từ Trung Ương đến địa phương

có nhiều con em của huyện Lý Nhân Tổng cán bộ làm công tác văn hóa cấphuyện là 13 người (trong đó: Đại học 9; Cao đẳng 2; Trung cấp 2) Đội ngũcán bộ ngày càng được tăng cường và nâng cao về trình độ Đây là nhân tốthuận lợi cho sự phát triển văn hóa của huyện

Trang 24

1.4.2.2 Phong tục tập quán

Cũng nằm trong vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ nên thôn TrầnThương cũng có những phong tục tập quán tương đồng với nhiều làng quêtrên mảnh đất Lý Nhân nói riêng, đồng bằng Bắc Bộ nói chung đã được nói

đến trong cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh Tuy nhiên,

nếu nghiên cứu kỹ thì chúng ta sẽ nhận thấy những điểm khác biệt giữa làngquê này so với làng quê khác Nét riêng đó thể hiện trong giọng nói, nếp ăn,nếp mặc, đi lại, ma chay, cưới hỏi…của cư dân Nhưng những phong tục đókhông hề ở trạng thái tĩnh mà luôn biến thiên theo thời gian, những phong tục

cổ truyền dần bị thay thế hay mất đi theo sự phát triển của xã hội

Do điều kiện tự nhiên, phương thức sản xuất quy định nên bữa ăn củanhân dân làng Trần Thương cũng như nhiều làng quê khác trong huyện có:cơm tẻ, cá, rau xanh Đây là những sản vật do chính đôi bàn tay người dânlàm ra, mang tính tự cung tự cấp

Trong những ngày Tết thì món ăn phong phú hơn: trong ba ngày TếtNguyên Đán, nhà ai cũng có chậu bột để làm món bánh lá Nguyên liệu làmloại bánh này rất đơn giản: bánh làm bằng gạo tẻ trộn nếp xay nhuyễn, nhânbánh làm từ thịt lợn, mọc nhĩ, hành hoa, bọc ngoài là một lớp lá dong mỏng.Tết mồng 3 tháng 3 có bánh trôi Tết mồng 5 tháng 5 ngoài giết sâu bọ còn có

lễ “khảo cây”.

Về nhà ở: xưa kia, người làng Trần Thương chủ yếu là nhà vách đất,nhà ngói rất ít, chủ yếu hạng chức sắc, chức dịch trong làng mới có Thậm chícách đây vài năm trong làng vẫn còn một đến hai căn nhà làm bằng tre nứalụp xụp Nhà chủ yếu quay hướng Đông Nam có tác dụng chống nóng vàomùa hè và lạnh vào mùa đông

Khi trong làng có ai cưới hỏi hay qua đời thì tính cộng đồng được thểhiện rất rõ Với cách tổ chức dân cư trong làng thì hầu hết mọi người đều cómối quan hệ với nhau (họ hàng, làng xóm, cùng phường cùng hội…) Trong

Trang 25

đám hỷ, các nghi thức đều có nét giống với phong tục các làng khác Tuynhiên trong lễ lại mặt lại có điểm khác Theo phong tục cổ truyền của ngườiViệt: lễ lại mặt nhà trai thường tới nhà gái thì ở làng Trần Thương nhà trai lại

tổ chức và mời nhà gái đến Khi hỏi các cụ cao niên trong làng thì các cụ chohay: vừa để gặp gỡ hai gia đình, dặn dò con cái và vừa phần nào thể hiện tấmlòng của nhà trai đối với nhà gái Trong đám tang, có kèn, trống như để đuổi

tà, khí Họ khóc trước sự ra đi của người thân, thể hiện sự thương tiếc củangười sống đối với người chết Trong sinh hoạt hàng ngày người dân có nhiềukiêng kỵ như: đầu năm mới hay sáng mùng một đầu tháng kiêng đòi nợ, sợgiông cả năm, đen cả tháng… Ngoài ra trong làng còn có nhiều phong tụckhác thể hiện mối quan hệ gia đình, xã hội…

1.4.2.3 Tôn giáo, tín ngưỡng

Đời sống tâm linh của người dân làng Trần Thương nói riêng và củahuyện Lý Nhân khá phong phú và phức tạp Ngoài tín ngưỡng thờ tổ tiên,người dân còn thờ Phật, thờ Mẫu, thờ thành hoàng…Ngay trong tổng thể kiếntrúc đền Trần Thương thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn thì phía sau cóphủ thờ Mẫu Liễu Hạnh Nơi đây, hàng năm tổ chức các lễ hội rất nhộn nhịp,linh đình Cách làng không xa về hướng đông là ngôi chùa của làng, gọi là

chùa “Họ” Chùa tuy nhỏ nhưng trong chùa lúc nào cũng có người ra vào thắp

nhang cầu khấn Cũng giống nhiều làng quê khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ,

người dân nơi đây có tục “xin thẻ” Đầu năm, nhân dân đi lễ bái để xin thẻ

xem vận mình hay - dở Đối với dân làng Trần Thương, họ thường lên đền xinthẻ Trước hết, họ dâng vàng hương, đồ lễ, khấn vái bày tỏ tâm nguyện rồiquỳ trước bàn thờ mà xóc ống thẻ Xóc mãi cho đến khi có một cái thẻ trongống vọt ra thì lấy thẻ ấy xem số thứ mấy rồi ra xin ông thủ đền một tờ giấy inquẻ theo số ấy

Ngoài ra, dân làng Trần Thương còn có tục thờ các vị thần nôngnghiệp Là một vùng chiêm trũng, sản xuất nông nghiệp là chính nên cư dân

Trang 26

nơi đây vẫn còn bảo lưu trong đời sống văn hóa tinh thần của mình nhiều hìnhthái tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp cổ xưa mà đậm nét nhất là tín ngưỡngthờ Tứ pháp Đó là 4 vị thần tự nhiên như: mây - mưa - sấm - chớp Đặc biệt,

ở đây còn có tục cúng cơm mới rất phổ biến của cư dân nông nghiệp lúanước Tục này vừa có ý nghĩa cảm tạ thần lúa, mẹ lúa lại vừa cầu mong các vịthần phù hộ cho vụ mùa tới được mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi

Nét nổi bật trong tín ngưỡng, tôn giáo nơi đây là thờ đa thần, tôn giáo tín ngưỡng đan xen Như vậy, làng Trần Thương tuy diện tích nhỏ nhưng đờisống tâm linh của họ rất phong phú Trong làng, người dân chủ yếu đi theođạo Phật

-Tiểu kết:

Như vậy, Lý Nhân là mảnh đất không những giàu về truyền thống lịch

sử mà còn có bề dày về văn hóa Là nơi “địa linh nhân kiệt”, sản sinh nhiều

danh nhân có đóng góp to lớn cho lịch sử dân tộc Là nơi lưu giữ được nhiềucác giá trị văn hóa vật chất và tinh thần phong phú, đặc sắc Nơi đây, với sốlượng và mật độ phân bố dày của các di tích cũng đủ thấy vẻ đẹp văn hóa độcđáo của một vùng quê nằm trong vùng châu thổ đồng bằng Bắc Bộ Trong đó,

di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương có một giá trị đặc biệt Bởi nó gắnvới thời kỳ lịch sử huy hoàng bậc nhất trong lịch sử chống ngoại xâm thờiphong kiến - giai đoạn chống quân Nguyên - Mông Đồng thời, nó gắn vớimột anh hùng dân tộc - một danh nhân được cả nước tôn thờ đó là Hưng ĐạoĐại Vương Trần Quốc Tuấn

Trang 27

Chương 2 KHẢO TẢ VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA

Về phương diện địa lý: đền quay về hướng Nam, trước mặt là dòng

sông cổ, dân gian gọi là sông Trần Thương, nay đã bị vùi lấp hết Dòng sôngnày ngày xưa là một nhánh của sông Hồng Cửa sông ở địa phận thôn Chương

Xá - xã Chân Lý hiện nay Sông chảy theo hướng Đông Tây rồi hợp lưu vớimột nhánh khác của sông Hồng bắt nguồn ở xã Nhân Thịnh cùng huyện, cuốicùng mới đổ vào sông Châu Cách đền khoảng 2 km về hướng Nam là dòngsông Hồng Như vậy, ngôi đền nằm trên thế đất gắn với sông nước Mặt khác,cách Trần Thương về phía Đông khoảng 3 km theo đường chim bay là khuTam Đường - nơi đặt lăng mộ nhà Trần, về phía Nam khoảng 20 km là khuThiên Trường - Nam Định (quê hương của nhà Trần)

Trần Thương trước đây còn là trung tâm của 6 con ngòi nhỏ (gọi là lụcđầu khê) Từ đây, có thể theo sông Long Xuyên ra sông Hồng xuống cửa Hữu

Bị, Tuần Vường vào sông Châu Giang; hoặc từ Trần Thương có thể ngượcdòng sông Hồng đi Thăng Long rồi xuôi ra biển Ở vào địa thế đẹp, giàunguồn lương thực và thuận lợi về giao thông thuỷ, bộ nên không phải ngẫunhiên Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương đặt ở đây một kho lương vớimột đội quân thường xuyên canh gác phục vụ cho cuộc kháng chiến chốngquân Nguyên - Mông lần hai (1285)

Trang 28

Không chỉ có thế, vị thế của đền Trần Thương còn thể hiện triết lý dângian cổ truyền Cụ thể là thuyết phong thuỷ, hội tụ âm dương, có tiền án, hậu

chẩm, tả “Thanh Long”, hữu “Bạch Hổ” Tiền án là sông Hồng trước mặt

(hướng Nam) tức là dương, thu nhận linh khí của chòm sao Chu Tước (conchim đang bay màu đỏ) từ không trung Đây cũng là phương tượng trưng củaTrời hay Thiên tử Quốc công tiết chế lúc sinh thời có vị thế rất cao trongtriều đình mà tâm thức dân gian có khi đặt ngang hàng với Vua Hậu chẩmcủa ngôi đền là gò đất cao sau hậu cung tạo thế tựa vững vàng, đón sinh lực

của Huyền Vũ (con rùa đen) tích tụ khí âm Phía Tây (âm) là “hữu Bạch Hổ”

thu nhận tinh lực của hai chòm sao hình con rồng xanh đang bay, hình con hổtrắng đang nhảy

Như vậy, đền Trần Thương có vị trí rất quan trọng kể cả trong lĩnh vựcquân sự, lẫn triết lý dân gian Chính vì thế mà Quốc công tiết chế Hưng ĐạoĐại Vương - Trần Quốc Tuấn mới đặt ở đây một kho lương thực phục vụ chocuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần hai (1285)

2.1.2 Nguồn gốc lịch sử của ngôi đền

2.1.2.1 Quá trình xây dựng và tu sửa ngôi đền

Theo các cụ cao niên kể lại rằng: mảnh đất Trần Thương xưa kia chỉ làbãi sậy um tùm và xen kẽ là những gò cao, dân cư thưa thớt Trên đường điđánh quân Nguyên - Mông, Trần Quốc Tuấn thấy thế đất ở đây đẹp bèn chođặt kho lương chính của triều đình để phục vụ cho cuộc kháng chiến Sau khi

chiến thắng trở về, ngài lấy dân ở đây làm “tạo lệ” (không phải đóng tô thuế,

lao dịch) và từ đó xuất hiện thôn Trần Thương và một loạt thôn khác Đến

1300, khi Hưng Đạo Đại Vương - Trần Quốc Tuấn mất, để tưởng nhớ cônglao to lớn của Ngài thì nhân dân thôn Trần Thương đã lập đền thờ Ngài cùngcác tướng lĩnh và gia quyến của Ngài

Theo các thần phả để lại thì đền Trần Thương được xây dựng vào thế

kỷ XIII Qua những thời kỳ lịch sử, ngôi đền đã được tu sửa lại Sử thành văn

Trang 29

còn ghi lại, thời vua Lê Vĩnh Hựu, năm 1735 đền Trần Thương được xâydựng lại bề thế khang trang, xứng đáng là một danh thắng đẹp của trấn SơnNam Thượng Nơi xây đền, ở giữa nổi gò đất như mai rùa Hai bên là nhữngdải đất giống như tay ngai, xung quanh là hồ nước trong, ngát hương sen.

Năm 1943, đền được nâng lên cao vì trước kia đền thiết kế xây quáthấp Đứng lên tu sửa là ông Chánh Tổng Sơn, người làng Trần Thương

Đền Trần Thương chính thức được Nhà nước công nhận là Di tích lịch

sử văn hoá Quốc gia vào năm 1986

2.1.2.2 Nhân vật được thờ tự

Nhân vật liên quan đến ngôi đền là Hưng Đạo Đại Vương - Trần QuốcTuấn Trong công cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lượclần thứ hai (1285), trên đường đi đánh giặc, Quốc công tiết chế Hưng ĐạoVương - Trần Quốc Tuấn thấy mảnh đất nơi đây có địa thế đẹp Vì thế Ngài

đã chọn nơi đây đặt kho lương thực chính của quân đội

Trần Quốc Tuấn sinh ngày 10 tháng 12 Hiện nay chưa có tài liệu nàoxác định rõ năm sinh của ngài Vì vậy, việc xác định chính xác ngày thángnăm sinh của người còn là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu

Trần Quốc Tuấn là con thứ hai của Khâm minh Đại Vương Trần Liễu,

mẹ ông là Đoan Túc (tức Thuận Thiên công chúa, con gái của vua Lý Huệ

Tông) Sách “Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II” ghi rõ: “có người tên là Kinh đến ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường sinh ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, đời đời làm nghề đánh cá” [15,7] Như vậy, ông nội của Trần

Quốc Tuấn là Trần Thừa và chú ruột của người là Trần Cảnh tức vua TrầnThái Tông Quê gốc của Người là làng Tức Mặc, xã Lộc Vượng, ngoại thànhNam Định ngày nay Thuở nhỏ ông sống ở ấp An Lạc Đây là Thái ấp do thânphụ ông là An Sinh Vương Trần Liễu mở mang, mộ dân khai khẩn (ấp AnLạc nằm ở phía Tây Bắc của phủ Thiên Trường)

Trang 30

Trong thần phả còn lưu lại tại đền có ghi khi Trần Quốc Tuấn mới

sinh ra, có người xem tướng trông thấy nói “mai sau có thể kinh bang tế thế được” [23,3].

Trong cuốn “Việt Điện u linh” có chép rằng: “ Đông Á năm xưa về tinh phận Sao Đức và Sao Chẩn Ở phía Đông Nam có một luồng khí trắng che phủ toàn không Thần núi Tản Viên coi thấy đã biết rằng sau này có nạn ngoại xâm Do đó ngài đã làm sớ tâu với thiên đình Thượng đế đã phải ngẫm nghĩ rất lâu rồi truyền ngọc dụ rằng: tả hữu ai vì trẫm để quét sạch luồng khí trắng (chỉ nạn ngoại xâm ở Đại Việt thời Trần) ấy thì nhận lấy kiếm phi thiên thần và tam bảo (từ, khâm, liên của Lão Tử), Ngũ Tào (trí, nhân, dũng, trung, tín) của Thái Công để giáng sinh vào nhà Thân vương (tức An Sinh Vương Trần Liễu) Sau sẽ là một vị tướng đệ nhất trung hưng, đến khi tuổi già được hoá làm danh thần để cai trị việc nhân gian, con cháu đời đời được ghi vào

Vương nói: Tiên sinh ở xa tới đây chẳng hay có việc gì quý báu chăng?

Vị đạo sĩ trả lời: Đêm qua tôi mơ thấy một ngôi sao sa tới đây, cho nên hôm nay đến xin yết kiến An Sinh Vương liền cho người nhà đem công tử ra

để coi Vị đạo sĩ coi xong vội vàng quỳ xuống thềm nhà mà nói rằng: tốt thay cậu bé công tử quý hoá này, mai đây ắt có những tài trị đời, giúp nước, làm vinh quang cho Quốc gia dân tộc Nói xong, vị đạo sĩ đó biến mất, cả nhà đều

Trang 31

Bát bát thám dịch trượng Lục hoa bát trận đồ Thát đát cầm Nguyên tướng”.

Nghĩa là:

“Tứ, thất long bao chứa Bát bát quả dịch xem Sáu hoa bày thế trận Giết giặc bắt tướng Nguyên”[23,5].

Trong đời mình, Quốc Tuấn đã trải qua một lần gia biến, ba lần nạnnước Nhưng ông là một người hiền tài, một vị anh hùng cứu nước nên ôngluôn đặt lợi nước lên trên thù nhà, vun trồng cho khối đoàn kết giữa tông tộc

họ Trần, tạo cho thế nước ở đỉnh cao muôn trượng đủ sức đè bẹp quân thù

Sinh Vương cầm tay Trần Quốc Tuấn trăn trối rằng: con không vì cha mà lấy được thiên hạ thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được Quốc

Tuấn ghi nhớ điều đó trong lòng nhưng không cho là phải

Đến khi vận nước lung lay, quyền quân, quyền nước đều do ở mình.Ông đem lời cha dặn để dò ý hai gia nô thân tín là Dã Tượng và Yết Kiêu

Hai gia nô bẩm rằng: làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm Nay Đại Vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không

có trung hiếu, chỉ xin lấy người làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi.

Trang 32

Nghe xong, Quốc Tuấn cảm phục đến khóc, khen ngợi hai người Một

hôm, Quốc Tuấn vờ hỏi con mình là Hưng Vũ Vương Trần Quốc Hiển: người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thế nào?

Hưng Vũ Vương Trần Quốc Hiển thưa: dẫu khác họ cũng không nên, huống chi là cùng một họ.Trần Quốc Tuấn ngẫm cho là phải Lại một hôm

ông đem chuyện ấy hỏi người con thứ là Hưng Nhượng Vương Trần Quốc

Tảng Trần Quốc Tảng liền thưa: Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng

đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ Trần Quốc Tuấn tức giận, toan rút

gươm ra chém: tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra và định giết QuốcTảng Hưng Vũ Vương hay tin vội chạy tới xin, Quốc Tuấn mới tha Sau đó,

ông dặn Hưng Vũ Vương: sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi hãy cho Quốc Tảng vào viếng.

Mặt khác, Trần Quốc Tuấn và Trần Quang Khải vốn là hai đại thầntrong triều nhưng hai người lại là đại diện cho hai chi họ Trần vốn có hiềmkhích Một người là con Trần Liễu, một người là con Trần Cảnh, hai anh emđối đầu của thế hệ trước Khi quân Nguyên sang xâm lược, trước cảnh xã tắclâm nguy, Trần Quốc Tuấn vì lợi ích chung mà xóa thù nhà, chủ động hoàgiải với Trần Quang Khải

Sử cũ đã trân trọng ghi chép nhiều mẩu chuyện cảm động về TrầnHưng Đạo Ông luôn luôn bày tỏ lòng trung thành tuyệt đối của mình đối vớinhà vua, cuối cùng ông đã xoá sạch lòng ngờ vực của nhà vua và của bá quanvăn võ Chính Trần Hưng Đạo đã tự mình tắm rửa cho Trần Quang Khải

khiến cho quân sĩ ngạc nhiên và sung sướng reo hò rằng: Quốc công tắm cho Thượng tướng, chúng ta không còn lo về nỗi chết chóc nữa Và cũng chính

Trần Hưng Đạo là người có ảnh hưởng to lớn đối với nhà vua và triều đìnhtrong việc khôi phục lại chức tước cho danh tướng Trần Khánh Dư, khiếnlòng người bấy giờ rất cảm kích

Trang 33

Trong kháng chiến, Quốc Tuấn thường hộ giá bên vua Khi đó, QuốcTuấn tay chỉ cầm chiếc gậy bịt sắt nhọn Thế mà mọi người đã gườm mắt và

sợ ông nhân đó giết vua Biết ý ông liền vứt bỏ đầu sắt nhọn chỉ chống gậytrơn khi ở gần vua, sự dị nghị cũng chấm dứt Hành động đó của Trần Quốc

Tuấn đã được sử thần Ngô Sĩ Liên đánh giá như sau: “bậc đại thần ở vào hoàn cảnh bị hiềm nghi nguy hiểm tất phải thành thực tin nhau sáng suốt, khéo xử… Quách Tử Nghi nhà Đường, Trần Quốc Tuấn nhà Trần đã làm được như vậy” [15,54].

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược, HưngĐạo Đại vương chỉ huy hơn 2.000 chiến thuyền, dàn trận hàng chục dặm ởVạn Kiếp giao chiến với Thoát Hoan và Lý Hằng lúc đầu thắng bại không

phân Vua liền triệu Trần Quốc Tuấn đến ướm hỏi: nay thế giặc như vậy, Trẫm muốn hàng để cứu sinh mạng muôn dân? Trần Quốc Tuấn liền tâu:

“Xin hãy chém đầu thần trước sau hãy hàng giặc Đầu thần còn giữ được,

xã tắc vẫn bền vững lâu dài, xin bệ hạ đừng lo” [23,9].

Tháng 10 năm 1283 vua Trần Thánh Tông phong cho Hưng Đạo VươngTrần Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế thống lĩnh quân đội toàn quốc

Vì có công với nước với dân nên Vua Trần Thánh Tông cho phépQuốc công tiết chế quyền phong tước cho bất kỳ ai cũng được Nhưng TrầnQuốc Tuấn chưa phong tước cho một người nào Khi chiến tranh ác liệt,những người có công đóng góp nhiều lương thực nuôi quân được ông phong

“giả lang tướng’ để phân biệt với các tướng thực khác Ông không lợi dụng

chức quyền để làm những việc trái với luân thường đạo lý, trái với kỷ cươngphép nước

Trần Quốc Tuấn là người coi trọng hiền tài, dùng người hiền lương vàtiến cử những người tài đức giúp nước Môn khách của ông sau này có nhiềungười trở thành anh hùng, văn chương chính sự đều có tiếng trên đời như:Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng… Ông đánh giá cao sự

Trang 34

đóng góp của các tướng lĩnh dưới quyền Ông nói: “chim Hồng Hộc sở dĩ bay cao được tất phải nhờ có sáu cái xương trụ ở cánh, nếu không có 6 cái xương trụ cứng rắn thì chim hồng hộc cũng như loài chim thường thôi” [23,13]

Trần Quốc Tuấn luôn yêu thương binh lính và họ cũng rất trung thành

với ông Đội quân “cha con” ấy đã trở thành một đội quân bách chiến, bách

thắng, đánh bại ba cuộc xâm lược của quân Nguyên - Mông

Tiêu biểu là trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ 3, một trong những chiến thắng của quân dân Đại Việt là trậnthuỷ chiến trên sông Bạch Đằng do Hưng Đạo Đại vương chỉ huy Trần HưngĐạo đã cho quân đóng cọc ở sông Bạch Đằng và phủ cỏ lên Hôm đó, nhânlúc nước triều lên, Hưng Đạo Vương cho quân ra khiêu chiến rồi giả thuachạy, các thuyền của giặc hối thúc đuổi theo Khi nước triều xuống thuyềnquân ta quay mũi phản công, cộng với các mũi mai phục ở hai bên triền sôngnhất tề xông ra, bọn giặc bị đánh bất ngờ vội quay thuyền tháo chạy và xa vàobãi cọc Thuyền giặc vỡ đắm, quân giặc chết đuối không kể xiết, máu giặcnhuộm đỏ cả khúc sông Quân ta bắt được 400 chiếc thuyền của giặc và bắtsống tướng Ô Mã Nhi Còn Thoát Hoan theo đường bộ chạy trốn và lại mộtlần nữa hắn thoát chết Chiến thắng Bạch Đằng đã chấm dứt ý đồ xâm lượccủa giặc Nguyên - Mông đối với non sông Đại Việt

-Từ khi ốm đến lúc qua đời, Trần Quốc Tuấn vẫn luôn lo việc nước Hai

tháng trước khi mất, vua Anh Tông đến thăm lúc ông đang ốm có hỏi: nếu có điều chẳng may mà giặc phương Bắc sang xâm lược thì dùng kế sách nào?

Ông đã nắm tay vua trăn trối những lời cuối cùng thật thấm thía và sâu sắc

cho mọi thời đại: “Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là

thượng sách giữ nước” Câu trả lời của ông với vua Trần Anh Tông đã được

sử sách xưa nay ghi lại và bình phẩm với một lòng kính phục Đó là sự tổngkết bài học lịch sử từ thời Đinh, Lê, Lý, Trần Bài học mà Trần Quốc Tuấn rút

ra từ cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông vừa qua

Trang 35

Là một vị tướng tài ba, đứng đầu quân đội nhà Trần, Hưng Đạo ĐạiVương Trần Quốc Tuấn đã sống qua 4 triều đại nhà Trần (từ Trần Thái Tông,Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và Trần Anh Tông) Cả cuộc đời ông cầmquân ra sống vào chết, chiến đấu cho độc lập của đất nước, tự do cho giốngnòi, khi ốm nặng Trần Quốc Tuấn vẫn lo nghĩ đến dân, đến nước Ông đãcống hiến cả đời mình cho sự nghiệp cứu nước Tấm lòng của ông thật đángkính trọng, nể phục.

Nếu như trong thời kỳ chiến tranh, tấm lòng yêu nước thương dân, xảthân vì nước là đặc điểm nổi bật thì trong thời bình tình nghĩa thuỷ chung coithường giàu sang phú quý cũng là những đường nét kết hợp hài hoà tạo nênmột chỉnh thể thống nhất, tô điểm cho nhân cách của vị anh hùng dân tộcthêm sáng ngời

Về mặt quân sự: Trần Quốc Tuấn là nhà quân sự đại tài, là bậc tướng

cột đá chống trời, rường cột của Quốc gia Ông được vua giao quyền tiết chế,thống đốc tất cả các tướng hầu, tôn thất, tướng lĩnh, điều động binh lính, khígiới Ông là người có công lao to lớn nhất trong ba lần đại phá quân Nguyên -Mông Là vị tướng soái, ông luôn chủ động và linh hoạt, biết mình biết người,biết rút lui, phòng ngự, phản công, tiến công đúng lúc Khi đại quân rút, kể cảnhững lúc gian nan nhất, ông vẫn tin tưởng vào thắng lợi, giữ vững được lòngdân, lòng quân Cái tài giỏi của ông là biết chuyển từ thế hiểm nghèo thànhđiều kiện thuận lợi, xoay chuyển thế trận tạo nên thời cơ lớn Khi chuyển sangphải công, ông biết chọn đúng hướng, đúng mục tiêu, đánh những trận quyếtđịnh khiến kẻ thù không kịp trở tay, trong chốc lát đã bị thất bại

Câu nói bất hủ: “Năm nay đánh giặc nhàn” [24,11] khi hàng chục vạn

quân Nguyên - Mông sắp sang xâm lược (1288) đã chứng tỏ tài thao lượcquân sự của Trần Quốc Tuấn

Như vậy, với tài chỉ huy quân sự tài giỏi, kết hợp với lòng yêu nướcnồng nàn và lòng trung thành vô hạn với vua với nước, Trần Quốc Tuấn đã

Trang 36

góp phần lớn lao làm nên thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống giặcNguyên - Mông của dân tộc ta.

Ngoài tài thao lược quân sự, Trần Quốc Tuấn còn để lại cho đời saunhững áng văn thơ bất hủ còn nguyên giá trị tới ngày nay và mãi mãi về sau

này Một trong những áng văn thơ nổi tiếng của ông là “Hịch tướng sĩ” Có

thể coi đây là tác phẩm lớn nhất thể hiện khí phách anh hùng và tinh thần yêu

nước của văn học thời Trần Với “Hịch tướng sĩ” người đời đã khẳng định Trần Quốc Tuấn là bậc: Đại học vấn; Đại uyên bác Ngoài ra, Trần Quốc

Tuấn còn để lại cho đời hai tác phẩm lý luận chính trị quân sự lỗi lạc là:

“Binh thư yếu lược” và “Vạn Kiếp tông bí truyền thư”.

Đây là 2 cuốn sách gia truyền để dạy các tướng lĩnh cách cầm quânđánh giặc

Với công lao to lớn trong ba cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông

và tấm lòng đức độ trong sáng, Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương đã gópphần không nhỏ trong việc giữ yên dân và xây dựng giang sơn Đại Việt Lậtlại những trang sử vẻ vang của dân tộc, ta thấy Hưng Đạo Vương như mộtngôi sao khuê sáng chói giữa trời Nam Ngôi sao đó còn mãi với non sông đấtnước Khi Ngài mất, nhân dân đã hương khói thờ cúng khắp mọi nơi Họ suy

tôn ông là bậc Thánh nhân: “Sinh vi tướng, tử vi thần”, “Đức Thánh Trần”,

“Đức Thánh Cha”.

“ Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ”

Hiện nay trên cả nước có rất nhiều nơi lập đền thờ ngài Đền TrầnThương là một trong ba ngôi đền có quy mô, nổi tiếng trong cả nước

2.2 Kiến trúc - điêu khắc của ngôi đền

2.2.1 Kiến trúc

Đền Trần Thương được xây dựng trên một khu đất rộng 20.000m2.Riêng công trình đền dài rộng hơn 1.000m2 Đền nằm biệt lập ở phía đầu làng

Trang 37

trên nền cũ của kho lương thực thời Trần trong công cuộc chống quân

Nguyên - Mông xâm lược lần thứ 2 Đền được xây dựng trên thế đất “hình nhân bái tướng” tức là hình người lạy Khi tìm hiểu, các cụ cao niên trong

thôn cho biết: hình nhân là người phụ nữ nằm nghiêng về bên trái Đầu là gòđất cao, sau hậu cung Hai tai là hai cái giếng đăng đối ngang hậu cung Giếngbên trái hình hơi dẹt (vì nằm nghiêng về bên trái) Miệng là cái giếng tròn

nằm giữa tiền đường và trung đường, nhân dân địa phương quen gọi là “hồ khẩu” Hai nhũ là hai giếng tròn đăng đối ngoài nghi môn nội Chúng tôi đã hỏi các cụ cao niên: vì sao đền lại được xây dựng trên tướng đất như vậy, tính chất thiêng liêng là gì, ý nghĩa chữ “bái” ở đâu? Các cụ nói chỉ được nghe

người xưa truyền lại như vậy chứ tiền nhân cũng không cắt nghĩa chi tiết

Nhìn vào bình đồ kiến trúc - cảnh quan đền Trần Thương, tác giả Mai

Khánh đã lý giải hàm ý của thế “hình nhân bái tướng” như sau: “hình người này nghiêng về bên trái, mặt quay hướng đông nơi cách đó không xa là sông Hồng, phải chăng gợi mở về khía cạnh “nhân tình” của dòng họ Trần nói chung và Đức Thánh Trần Hưng Đạo nói riêng mà không hàm ý “thiêng” của thế đất được chọn để xây dựng ngôi đền”[13,52 ].

Cùng với thế đất “hình nhân bái tướng” có người còn đề cập đến thế đất “ngũ mã, thất tinh” là nói về thế đất thiêng, đẹp của cả thôn Trần Thương chứ không trực tiếp chỉ thế đất của khu vực đền Trần Thương “Ngũ mã” là thế đất hình 5 con ngựa nằm ở xóm 1 “Thất tinh” là tượng trưng cho 7 chòm sao (với 1 sao chủ) là những gò đất, nhân dân địa phương gọi là “nấm” nằm rải rác trên cánh đồng Đó là: “Đống Bạt; Đống Yếng; Con Nhạn; Đống Xẻ; Đống Cao; Lá Cờ; Đống Dõng”.

Nhìn vào tổng thể kiến trúc ngôi đền ta thấy, đền được thiết kế theokiểu nội công ngoại quốc đậm nét kiến trúc thời Lý - Trần, kết tụ văn hóa thờiNguyễn ở đây Sau đền là phủ thờ Mẫu, tiếp đến có gò đất cao tạo thế vữngchắc ở phía Bắc cho ngôi đền

Trang 38

2.21.1 Nghi môn ngoại

Đi từ ngoài vào, công trình đầu tiên xin được đề cập là nghi môn ngoại(tam quan ngoại) Công trình khá lớn được xây bằng gạch đỏ, cao ba tầng.Tầng dưới, cửa được cuốn hình vòm, xung quanh có trang trí nhiều hoa vănđẹp mắt và cổ kính Tầng giữa là gác chuông, mái đắp, trang trí hoa văn tinh

xảo Tầng trên có bốn chữ Trần Đại Vương Tử (tức là: đây là nơi thờ của

một vị vương tôn nhà Trần) được làm kiểu 8 mái Trên mái đắp giả kiểu ngóiống, bờ nóc có đắp một đôi rồng chầu mặt nguyệt Xung quanh tường của gácchuông có trang trí nhiều hoa văn mang phong cách thời Nguyễn Bốn giáđược cuốn vòm thành bốn cửa: Đông - Tây - Nam - Bắc Bên trong gácchuông có treo một quả chuông lớn Chiều chiều, người dân làng TrầnThương nghe tiếng chuông đổ hoà quyện vào cùng làn khói mờ như thúc giụchào khí Đông A [4,21-22]

Từ cổng giữa đến hai cổng phụ (tả môn và hữu môn) là một bức tườngđược xây bằng gạch có chiều dài 2m, cao 2,2m Bức tường được xây thànhhai cấp: cấp dưới đắp nổi đôi ngựa chầu trong tư thế đứng Cấp trên đắp nổinhững đoá hoa sen hồng rực rỡ sắc hoa Hai cổng tả môn, hữu môn được làmthành hai làn mái nhưng phần dưới tạo phẳng thành lòng máng, mái trên ngóitạo kiểu ngói ống Trên các bờ dải, bờ nóc, được tạo các gờ chỉ và vuốt cong

về bốn góc Phần khoảng cách giữa mái trên và mái dưới tạo thành một ô lớntrong đó đắp nổi bức cuốn thư và hoa lá cách điệu Nối tiếp với hai cổng này

là bức tường xây bằng gạch thành hai cấp Cấp dưới đắp nổi hai con voi chầu,cấp trên đắp nổi những đoá hoa sen, hoa cúc đang nở rộ Phía ngoài cùng làhai cột đồng trụ, thân cột tạo thành rãnh có đắp nổi các đôi câu đối, phía trêntạo đèn lồng, trên cùng là đôi nghê chầu

2.2.1.2 Đường chính đạo

Đi qua Tam quan ngoại là con đường chính đạo rộng rãi lát bằng gạch

đỏ được tuyển chọn kỹ càng, lát đúng hàng thẳng mũi Nhìn vào, chúng ta có

Trang 39

cảm giác như một bức thảm đỏ nối từ tam quan ngoại vào đền Chiều dài củacon đường này là 50m, rộng 10m Hai bên là hai hàng cây lưu niên như:nhãn, xà cừ cành lá tươi tốt quyện vào nhau thành tấm thảm xanh che mátcho cả quãng đường, tạo cảm giác thoải mái cho du khách vừa phải đi mộtchặng đường dài Những buổi nắng hè, từng ánh nắng chiếu qua kẽ lá soibóng xuống hồ nước lung linh như ngàn sao trên trời đang hội tụ về mảnhđất linh thiêng.

Từ cổng chính đến nghi môn nội, hai bên có hai cái giếng nằm đối xứngnhau, nhân dân gọi là hai nhũ của một người phụ nữ Hai cái giếng này xungquanh được kè bằng loại đá xanh, nước giếng trong mát như những giọt sữa

2.2.1.3 Nghi môn nội

Kiến trúc của nghi môn phần nào sao chép kiến trúc lăng tẩm thờiNguyễn ở Huế Nghi môn được xây dựng rất bề thế Ở giữa là hai cột đồng trụ

to, cao 5m Chân cột được làm bằng kiểu thắt cổ bồng, thân cột xung quanhđắp gờ chỉ tạo thành các rãnh, trong rãnh đắp nổi các đôi câu đối bằng chữHán Trên phần thân cột đèn lồng đắp nổi các cảnh tứ linh, tứ quý Trên cùng

là bệ nghê và đôi nghê chầu hướng mặt vào nhau Các cụ già ở đây cho biết:

“ngày xưa người ta đốt hương trầm ở dưới chân để khói hương bốc lên nhả

ra từ miệng nghê quay đầu vào đền” [11] Khoảng cách từ cột đồng trụ đến

cổng tả môn và hữu môn là bức tường dài 2m, cao 1m Trên tường có trang trícác ô thoáng hình cánh hoa chanh trông vừa thoáng lại vừa đẹp Cổng tả môn,hữu môn cũng được làm kiểu tám mái, cửa được cuốn hình vòm Trên máiđược tạo kiểu ngói ống Các bờ dải, bờ nóc, đều soi các đường chỉ nổi đẹpmắt Khoảng cách giữa mái trên và mái dưới tạo thành ô trang trí Trên đó,đắp nổi các hình rồng phượng Từ hai cổng này ra đến cột góc cũng là mộtkhoảng tường dài 3m, cao 1m Trên tường có các ô thoáng hình thoi đều đặn

2.2.1.4 Sân đền

Đi qua hàng cột đồng trụ là khoảng sân đền rộng khoảng 600m2 Toàn

bộ sân được lát bằng loại gạch phẳng phiu Khoảng sân này rất thuận lợi cho

Trang 40

việc tổ chức các kỳ lễ hội lớn Phần giáp với cột đồng trụ được xây một bức

bình phong Trên đó, phần chính giữa đắp chữ “thọ” hình tròn, hai bên được

tạo cảnh rồng chầu, phượng múa, đan xen các hoạ tiết vân mây, sóng nước

2.2.1.5 Công trình chính

Qua khoảng sân rộng là công trình chính Ngôi đền bề thế được thiết kếtheo kiểu chữ Quốc Toà tiền đường năm gian, ở phía trước gian giữa còn cóthêm toà thiêu hương Tiếp đến là hai dãy nhà khách, khoảng giữa không gian

kiến trúc có tạo một chiếc giếng, nhân dân gọi là: “hồ khẩu”, tiếp đến là toà

đệ nhị năm gian Sau cùng là hậu cung ba gian Xung quanh công trình kiếntrúc được trồng rất nhiều cây lưu niên Đáng chú ý là cây đa cổ thụ ở phía sauđền Theo các cụ cao niên thì cây đa có đến mấy trăm tuổi, bóng của nó chephủ một góc đền Hai bên phải, trái của công trình là hai chiếc giếng được kèbằng đá xanh, nhân dân gọi là hai tai

Toà tiền đường: gồm năm gian được xây bít đốc, có chiều dài 17m60,

chiều rộng 6m80 Ở phía trước gian giữa của toà tiền đường có dựng một toà

cổ lâu (tòa thiêu hương) Công trình này tạo cho tổng thể ngôi đền có một nétđặc thù riêng khác hẳn với các công trình khác Tòa cổ lâu thiết kế thành hai

tầng theo kiểu kiến trúc “tiền đao hậu đốc” Các ngọn đao được chạm khắc

tinh vi Mái lợp ngói nam, trên bờ nóc và các bờ dải đều có đắp rồng, phượngrất công phu và đẹp mắt Phần khoảng cách giữa mái trên và mái dưới thay

bằng các con tiện là bức đại tự lớn, trên đó có khắc nổi bốn chữ: “Phong vân

trường hộ” nghĩa là: gió mây mãi mãi phù hộ.

Bốn cột trụ được làm bằng loại gỗ lim già làm kiểu búp đòng Các cộtnày đặt trên các chân tảng đá xanh làm kiểu thắt cổ bồng cao 65cm Toà cổlâu này đã tạo cho mặt trước của đền thêm vẻ tôn nghiêm và độc đáo Ở giữatoà cổ lâu đặt một đỉnh hương bằng đá, hai bên đỉnh hương có hai con cá sấu

đá ngồi chầu

Ngày đăng: 18/12/2013, 22:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,1964 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
[2]. Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
[3]. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
[4]. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch - Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, Dự án phục hồi, nâng cấp và bảo tồn Lễ hội đền Trần Thương (năm 2010), Hà Nam, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án phục hồi, nâng cấp và bảo tồn Lễ hội đền Trần Thương (năm 2010)
[5]. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Sử học, Hà Nội, 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Nhà XB: Nxb Sử học
[6]. Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng, Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thanh niên
[7]. Nguyễn Cường - Xuân Khu, Chen lấn xô đẩy tại lễ phát lương đền Trần Thương, wwwww.vietnamplus.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chen lấn xô đẩy tại lễ phát lương đền Trần Thương
[8]. Đền Trần Thương, wwwww.hanam.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền Trần Thương
[9]. Đền Trần Thương, Diễn đàn hội đồng hương tỉnh Hà Nam, wwwww.hanamhome.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền Trần Thương, Diễn đàn hội đồng hương tỉnh Hà Nam
[12]. Háo hức tới nhận “lương” tại đền Trần Thương, www.baomoi.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Háo hức tới nhận “lương” tại đền Trần Thương
[13]. Mai Khánh, Đền Trần Thương - Bóng dáng Phủ Đệ của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, Tạp chí Văn hóa Hà Nam, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền Trần Thương - Bóng dáng Phủ Đệ của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn
[14]. GS. Vũ Ngọc Khánh - Phạm Minh Thảo, Từ điển Việt Nam văn hóa tín ngưỡng phong tục, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Việt Nam văn hóa tín ngưỡng phong tục
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
[15]. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, tậpII, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư, tậpII
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
[16]. Đặng Văn Lung - Nguyễn Sông Thao - Hoàng Văn Thụ, Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
[17]. Lễ hội đền Trần Thương, www.hanam.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội đền Trần Thương
[18]. Lễ phát lương tại đền Trần Thương - Hà Nam, www.vtv4.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ phát lương tại đền Trần Thương
[19]. Lễ hội đền Trần Thương, www.Luutru,vn.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội đền Trần Thương
[20]. Hữu Ngọc (chủ biên), Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam, Nxb Thế Giới, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thế Giới
[21]. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Nxb Khoa học Xã hội,1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam nhất thống chí, tập 3
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
[22]. Sở Văn hóa Thông tin Hà Nam, Hà Nam di tích và thắng cảnh, Hà Nam, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nam di tích và thắng cảnh

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w