1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu di tích lịch sử đền đức hoàng (phúc thành yên thành nghệ an)

78 5,4K 24
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu di tích lịch sử đền Đức Hoàng (Phúc Thành - Yên Thành - Nghệ An)
Tác giả Nguyễn Thị Thủy
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Duyên
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử văn hóa
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 247,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, với nhiều biến cố xã hội và sự tàn phácủa thiên nhiên, nhng Nghệ an nói chung và Yên Thành nói riêng vẫn giữmột di tích khá lớn và phong phú về loại hình

Trang 1

Trờng Đại học Vinh Khoa lịch sử -*** -

Trong quá trình thu thập tài liệu tôi cũng đã nhận đợc sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các bác làm việc trong đền Đức Hoàng, các chú trong UBND xã Phúc Thành, các cô chú trong Bảo tàng tổng hợp Nghệ An …

Trang 2

Qua đây tôi xin nói lời cảm ơn chân thành nhất với các quý vị.

Mặc dù vậy, do thời gian đầu t cho khoá luận không đợc nhiều, đặc biệt là năng lực nghiên cứu của tôi còn hạn chế, chắc chắn không tránh khỏi sai sót Tôi rất mong đợc sự quan tâm, góp ý của các thầy cô giáo và tất cả các bạn

Sinh viên Nguyễn Thị Thủy

Trang 3

A Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Hoạt động văn hoá nói chung và việc bảo tồn, kế thừa và phát huynhững giá trị văn hoá tuyền thống nói riêng luôn luôn đợc Đảng và nhà nớc taquan tâm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: Văn hoá là một mặt căn bảncủa xã hội, đồng thời ngời cũng chỉ rõ, trong công cuộc kiến thiết nớc nhà có

4 vấn đề phải chú ý đến, cùng phải coi trọng lẫn nhau, đó là: Chính trị, kinh

tế, xã hội, văn hoá Cách đây 48 năm, vào ngày 30-10-1958 tại Hội nghị vănhoá toàn quốc, Ngời đã chỉ ra một trong những nhiệm vụ xây dựng và pháttriển nền văn hóa mới là: Phải khôi phục giữ gìn vốn văn hóa tuyền thống vớitinh thần "Cái gì tốt ta nên khôi phục và phát triển, cái gì xấu thì ta phải bỏ

đi"

Bớc sang thời kỳ đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện

đại hoá đất nớc, xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu

"dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh", Đảng ta đã khẳng định :

"Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lựcthúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội" (nghị quyết TW 5 khoá VIII của BCH

Đảng cộng sản Việt Nam)

Nghị quyết đã chỉ rõ "Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng

đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo ra những giá trịvăn hóa truyền thống…"."

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, với nhiều biến cố xã hội và sự tàn phácủa thiên nhiên, nhng Nghệ an nói chung và Yên Thành nói riêng vẫn giữmột di tích khá lớn và phong phú về loại hình : Di tích lịch sử, di tích lịch sử -văn hóa, di tích lịch sử - kiến trúc, nghệ thuật, di tích khảo cổ học…" Cho đếntháng 6/ 2002 ở Nghệ an đã có hơn 133 di tích đợc xếp hạng, trong đó YênThành có 15 di tích đã đợc xếp hạng

Trong số các di tích đó thì đền Đức Hoàng ở Yên Thành là một trongnhững di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu đợc nhân dân nhiều địa phơng biết

đến

Đền đợc lập ra để thờ ông Hoàng Tá Thốn - một vị tớng có công lớntrong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông ở thế kỷ XIII của dân tộc

Có thể nói, lịch sử dân tộc ta là lịch sử chống ngoại xâm, trong cuộcchống ngoại xâm ấy, nhân dân ta đã dành đợc thắng lợi hiển hách trớc nhiều

kẻ thù lớn mạnh Làm nên những chiến thắng đó không thể không kể đến

Trang 4

công lao của những vị tớng giỏi, mu lợc, Hoàng Tá Thốn là một vị tớng nhvậy.

Chính vì vậy mà sau khi ông chết, nhân dân nhiều điạ phơng cũng nhnhân dân Yên Thành lập nhiều miếu, đền để thờ ông Đền Đức Hoàng đợckhởi công xây dựng từ thời Trần, nhng lúc đó chỉ là một ngôi miếu nhỏ đơnsơ Đến năm 1505 mới bắt đầu xây tờng, lợp ngói

Đền Đức Hoàng là một di tích lịch sử - văn hóa, là một công trình kiếntrúc nghệ thuật tơng đối công phu đợc hoàn thành và để lại cho chúng ta ngàynay

Sự phong phú và đa dạng của các loại hình di tích là một đề tài rất líthú đối với những ngời nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử ở địa phơng làm chochúng ta thêm hiểu biết lịch sử dân tộc Bởi lịch sử địa phơng là bộ phận cấuthành lịch sử dân tộc Tìm hiểu về lịch sử một ngôi đền có thể cho ta biếtthêm về nhân vật đợc thờ trong đó có liên quan gì với triều đại đơng thời Hơnnữa thông qua sự tìm hiểu nh vậy, chúng ta cũng có thể hiểu thêm về một thời

kỳ lịch sử ở một địa danh nhất định Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài này làmkhoá luận tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Có thể nói di tích là một tấm gơng phản ánh truyền thống lịch sử vănhóa của một địa phơng Chính vì thế mà cũng nh nhiều di tích khác tronghuyện, di tích này đã đợc đề cập khá nhiều công trình nghiên cứu của nhiềutác giả Tuy nhiên mỗi công trình ấy lại tìm hiểu, nghiên cứu ở mỗi khía cạnhkhác nhau Chẳng hạn nh : Bộ hồ sơ di tích đền Đức Hoàng của Trần Thị MaiPhơng (1996), thể hiện một tập tờ trình đúng với yêu cầu của nó Hay tác giảNinh Viết Giao với cuốn "Yên Thành - Địa chí và làng xã", đề cập đến rấtnhiều vấn đề : kinh tế, chính tri, xã hội, phong tục…" đình, đền, chùa của YênThành nên không có điều kiện đi sâu nghiên cứu về di tích đền Đức Hoàng.Ngoài ra, một số công trình khác cũng tơng tự nh thế

Có thể nói rằng, cho đến nay cha có công trình nào hoàn chỉnh, kháchquan về di tích lịch sử đền Đức Hoàng ở Phúc Thành, Yên Thành Vì thế đềtài " Tìm hiểu về di tích lịch sử văn hóa đền Đức Hoàng" (xã Phúc Thành -Yên Thành - Nghệ An) nhằm tìm hiểu thêm về di tích lịch sử đền Đức Hoàng

Đó cũng là một dịp để hiểu về lịch sử địa phơng, lịch sử dân tộc mình

3 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu.

- Về thời gian, luận văn nghiên cứu về di tích lịch sử đền Đức Hoàng từkhi đợc xây dựng cho đến ngày nay

Trang 5

- Về không gian : Luận văn nghiên cứu, tìm hiểu về đền Đức Hoàng ởxã Phúc Thành - huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ an.

- Về nội dung, luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung chínhsau:

+) Khái quát về lịch sử - văn hóa xã Phúc Thành - Yên Thành

+) Di tích lịch sử văn hoá Đền Đức Hoàng

+) Giá trị lịch sử - văn hóa

Trang 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu.

Căn cứ vào lịch sử nghiên cứu vấn đề và giới hạn nghiên cứu của luậnvăn đã trình bày ở trên, đề tài nhằn giải các vấn đề sau :

- Khái quát về lịch sử - văn hóa xã Phúc Thành - Yên Thành về :

Điều kiện địa lí tự nhiên

Đặc điểm dân c và truyền thống

- Tìm hiểu đền Đức Hoàng về :

+) Nguồn gốc lịch sử+) Nhân vật đợc thờ+) Đặc điểm kiến trúc xây dựng+) Các hiện vật tại di tích

- Giá trị lịch sử - văn hóa

+ Lễ hội truyền thống và ý nghĩa+ Giá trị về mặt văn hóa tâm linh

5 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu

- Nguồn tài liệu:

Để thực hiện đề tài, chúng tôi chủ yếu tiếp cận khai thác từ nguồn tàiliệu : Th viện Nghệ An, Bảo tàng tổng hợp Nghệ An, dựa vào lời kể của các

cụ ở địa phơng xã Phúc Thành, Nghị quyết của Đảng, các quy định của chínhphủ về bảo tồn và phát huy di tích lịch sử văn hóa …".Ngoài ra chúng tôi tìmhiểu, tham khảo các báo cáo, tổng kết của chính quyền địa phơng qua các kỳ

lễ hội đầu năm, tiếp xúc trao đổi với ngời dân về đây vãn cảnh, viếng chùanhằm xác minh một số vấn đề cần thiết trong luận văn, cùng tiến hành khảosát thực tế, thu thập một số hình ảnh về đền, về lễ hội hàng năm

- Phơng pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng phơng pháp của các tác giả đã nghiên cứu với phơngpháp phân tích tổng hợp và tổng quát

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phơng pháp điền giả, đồng thời có ảnh

t liệu về đền, về lễ hội kèm theo

6 Đóng góp của khoá luận

Với đề tài : "Tìm hiểu về di tích lịch sử văn hóa đền Đức Hoàng" chochúng ta hiểu thêm về một vị tớng - nhân vật lịch sử Hoàng Tá Thốn có công

Trang 7

lao to lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông Đồng thời thấy

rõ tầm quan trọng về giá trị lịch sử văn hóa , về mặt văn hóa tâm linh của đền

Đức Hoàng đối với nhân dân địa phơng Để từ đó, mọi ngời dân đều có ý thức

đóng góp và bảo vệ di sản văn hóa cuả Tổ quốc

Khoá luận sẽ là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiêncứu lịch sử - văn hoá địa phơng, phục vụ cho việc giảng dạy lịch sử địa phơngYên Thành

7 Bố cục của khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungchính của luận văn đợc triển khai qua 3 chơng sau :

Chơng 1 Khái quát về lịch sử văn hóa xã Phúc Thành - Yên ThànhChơng 2 Di tích lịch sử - văn hoá Đền Đức Hoàng

Chơng 3 Giá trị lịch sử văn hóa

Trang 8

B Nội dung Chơng 1

Khái quát về lịch sử văn hóa xã Phúc Thành,

Phủ Diễn Châu tức Châu Diễn là một bộ phận của bộ Hoài Hoan, mộttrong mời lăm bộ của nớc Văn Lang thời Vua Hùng dựng nớc

Mùa Xuân năm Minh Mệnh thứ 18 (1837) từ huyện Đông Thành tách

ra thành hai huyện Đông Thành và Yên Thành theo chiều Đông Tây, huyệnYên Thành ở phía Bắc trụ cột đóng ở Yên Lý (gần chợ huyện, xã Diễn Yên)

Huyện Đông Thành ở phía nam, trụ sở đóng ở làng Cao Xá (xã YênThành) Huyện nào cũng có núi, có đồng bằng, có biển Hiện nay xã PhúcThành là một trong 38 xã của huyện Yên Thành Phúc Thành có chiều dài từcầu Diệu đến trại Đng 8 cây số, chiều rộng nơi trung tâm 2,5 cây số, nơi rộngnhất là từ động Mũi Thuyền đến khe Dền là 4 cây số Phía Đông giáp đồngruộng xã Văn Thành (tức kẻ Dền) và Phú Thành

Phía Bắc giáp xã Hậu Thành

Phía nam giáp Khe Dền

Phía Tây giáp đôi núi, làng mạc của xã Hậu Thành và Đông Thành.Phúc Thành là vùng đồi núi nằm ở phía Đông Động Huyệt "Núi MãYên ở huyện Yên Thành, trong đó hang sâu vài ba trợng gọi là "huyệt VơngMẫu" Tơng truyền con vua Lê Đại Hành trấn thủ Diễn Châu, lị sở đóng ở xãCông Trung, đem hài cốt mẹ táng ở huyện này, sau khi nhà Lý cớp ngôi,hoàng tử chiếm cứ Diễn Châu xng Hoàng đế, nhà Lý đánh mãi không đơc,bèn bí mật sai ngời đào huyệt, sau mới đánh đợc" [9,141 - 142]

"ở phủ Diễn châu về phong cảnh đẹp, trong vùng thì có nhiều nơi nh ởxã Lịch Phúc có đầm Thuỷ ô, tục gọi là Báu ác, có sen thơm đẹp" [4,62]

Từ thời nhà Lê đã ghi chép làng Đức Hậu trớc có tên Đức Lân, làngDiệu ốc, Phơng Tô trớc có tên Hơng Tô cùng với làng Thuần vĩ, làng Vũ Kỳ.Làng Phúc Thọ cuối thế kỷ XVII là viên Yên Sơn và viên Thọ Sơn, đến nămBảo Thái (1721) mới thành lập làng Hơng Thọ sau đổi tên là Phúc Thọ Nh

Trang 9

vậy là từ xã Lịch Phúc đến thời Lê là xã Yên Lạc thuộc tổng Quan Triều,huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu Măm Minh Mệnh thứ 18 (1837) lậphuyện Yên Thành, từ đó xã Giai Lạc thuộc tổng Quan Hoá.

Huyện Yên Thành ở phía Đông Bắc tỉnh nghệ Tĩnh, cách thành phốVinh 55km về phía Bắc Chiều Bắc Nam từ Hòn Sơng giáp Quỳnh Lu ở phíabắc, đến Tràng Sơn giáp Nghi Lộc, ở phía Nam dài gần 40 km, thuộc 18 độ

55 phút đến 19 độ 12 phút, độ vĩ Bắc Chiều rộng từ thôn Ngọc Sơn làng Đại

Độ đến làng Tràng Thịnh, ở phía Tây dài 35km thuộc 105 độ 11 phút đến 105

độ 34 phút độ kinh đông, cách bờ biển nơi gần nhất ở xã Đô Thành 6km, nơi

xa nhất ở xã Thịnh Thành gần 40 km Tiếp giáp về phía Đông là huyện DiễnChâu; phía Bắc là huyện Diễn Châu và Quỳnh Lu, phía Tây là huyện Nghĩa

đàn và Tân Kỳ, phía Nam là huyện Nghi Lộc và huyện Đô Lơng Huyện YênThành hiện nay có diện tích tự nhiên 56,204 ha, trong đó đất canh tác 15647

ha chiếm 29%

1.1.2 Đặc điểm về tự nhiên

Về hình thể, huyện Yên Thành giống nh một hình lòng chảo khôngcân Ba phía Bắc, Tây, Nam là rừng núi và đồi trọc ở phía Đông là một đồngbằng trũng tiếp giáp với Diễn Châu Nơi cao nhất là đỉnh núi Vàng Tâm ởphía Tây Bắc làng Quỳ Lăng cao 544m Nơi sâu nhất là vùng trũng ven sông

Điển, sông Cầu Bà âm 0,6m so với mực nớc biển

Yên Thành có khí hậu và thời tiết khá phức tạp, có những mặt u đãi,nhng cũng có những mặt khắc nghiệt Nằm trong vùng khí hậu ẩm ớt nhiệt

đới gió mùa, quanh năm nhận đợc lợng bức xạ lớn của mặt trời Tổng nhiệt ợng cả năm hơn 8.500oC, đạt 75 calo/cm2 Nhiệt độ trung bình hàng năm

l-23oC Lợng ma trung bình hàng năm 1600 - 1800 ly Ma tập trung các thángvào mùa hạ, khi nhiệt độ hạ thấp đột ngột, ấp thấp nhiệt đới xuất hiện, bão to

ma lớn kèm theo Có ngày ma dồn dập 300 - 400 mm Nớc từ các triền núi,khe suối đổ về làm đồng bằng ngập trắng, có nơi ngập sâu 3 - 4 m Cũng cónằm ngay giữa tháng 5 xuất hiện cả lụt tiểu mãn Nớc cần cho sản xuất vàsinh hoạt nhng cũng cớp đi của con ngời nhiều mùa vụ sắp dến kỳ thu hoạch

và nhiều tài sản quý giá Do địa hình phức tạp, lại có độ nghiêng dốc lớn, nênnhững cánh đồng bậc thang ven chân núi qua trình mài mòn, thờng bị khôhạn và bạc màu Vùng đồng trũng có năm bị lũ lụt ngập úng 2 - 3 lần Lịch sử

đã ghi lại những trận bảo lũ ghê gớm nh tháng 8 Nhâm Thìn (1842); nămBính Ngọ (1846) Sông hồ tự nhiên ở Yên Thành không nhiều và không cócon sông nào lớn.Hầu hết sông suối bắt nguồn từ các dãy nũi phía Bắc, TâyNam

Trang 10

Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn thách thức của điều kiện địa lý tựnhiên, thiên nhiên cũng u đãi cho Yên Thành có nhiều cảnh đẹp và là "vựalúa" của cả tỉnh, với câu ca dao xa:

Nghệ Đông Thành, Thanh Nông Cống

- Hết nớc thì có nớc nguồn

- Hết gạo thì có gạo buôn Đông Thành

Hay: "Nhà vàng đụn ló kho tiên

Ai mà chiếm đợc lọng vàng che thân"

Qua các câu ca dao đó nói lên đặc điểm Yên Thành là huyện sản xuấtlơng thực chủ yếu, là vùng đồng bằng rộng nhất của tỉnh Nghệ Tĩnh

Không những là "vựa lúa" của cả tỉnh mà nơi đây còn có nhiều cảnh

đẹp Các nho sĩ ngày xa đã có câu hát về cảnh đẹp của quê hơng:

"Cận thủy cận sơn

Đồng tiền cao ráo

Đồng tiền hạt gạo

Là của trên tay

Hoa quả trên cây

Mùa nào tiết ấy

Nớc trong khe cấy

Chảy ra đôi dòng

Trong đã nên trong

Trong tứ mùa bát tiết

Cách đây hơn một trăm năm, nhà yêu nớc, nhà thơ Nguyễn Xuân Ôn

đã có vần thơ ca ngợi cảnh đẹp lèn Vũ Kỳ:

"Cẩm phong đặc địa phô la đái

Văn thạch liên thiên thụ phái tinh

Cốc ủng phong hồi minh cổ hởng

Truyền phi thuỷ kích tác kim thanh"

Dịch:

"Đỉnh gấm chênh vênh phơi giải lụa

Đá vằn chót vót dựng cờ mây

Khe vùng ngọn núi hồi chuông dục

Gió xoáy bên hang dịp trống bay"

Trang 11

Phúc Thành có Bàu ác, tức Diệu ốc liên đàm (đầm Sen Điệu ốc) làmột trong tám cảnh đẹp của Đông Thành khi trớc "ở phủ Diễn Châu vềphong cảnh đẹp, trong vùng thì có nhiều nơi nh xã Lịch Phúc có đầm Thuỷ ô,tục gọi là Bàu ác, có sen thơm đẹp [4; 62]

Đầm sen Diệu ốc bao quanh đền thờ Đức Hoàng "đầm ở Tây Namthôn Diệu ốc thuộc xã An Lạc, tổng Quan Triều đứng mà trông, trên đất giápchân núi, dới giáp đồng bằng, chu vi phỏng hai mơi mẫu, gọi là đàm ô (Bàu

ác) Dầm nở nhiều hoa sen, không kém cảnh ao Thái Dịch (ao trong kinhthành nhà vua), mỗi năm tới mùa thịnh hạ, gió nam phe phẩy trớc mắt, hơngthơm ngào ngạt đợm vào ngời, lúc đó có kẻ đi tìm sen mà ngụ cái thuyết yêusen, bớc đi sinh ra hoa sen mà giữ hứng ở con thuyền hái sen.Hứng đặm tình

ca, rất đáng thởng thức Vả nói lại, giữa có nhiều vũng sâu, tục truyền cóvũng thuồng luồng" [16; 92]

ở nhà thơ họ Lê, xóm Yên nam có đội câu đối:

Núi rừng và đồi ở Yên Thành là dạng địa hình chiếm hầu hết diện tích

ở phía Bắc, phía Tây và phía Nam huyện Tổng diện tích đất lâm nghiệp20.815 ha Dãy núi phía Bắc đợc hình thành do dãy phía Đông Bắc bộ chạy vềQuỳnh Lu tới Yên Thành, hình thành một bức tranh màu xanh của dãy núi Bồ

Bồ, dãy núi phía tây và nam huyện do dãy núi Phu Hoạt ở Tây Bắc Nghệ tĩnhchạy về, hầu hết là rừng núi và đồi thấp, nhng có độ nghiêng dốc lớn ở đây

xa có thảm rừng xanh bao phủ, rừng có ngời gỗ quý nh Lim, Sến, Kền Kền,

Gụ, Dổi, Vàng tâm, Táu, Trai…" có nhiều động vật nh Voi, Hổ, Bò Rừng, Lợnrừng, Phợng hoàng, Công, Trĩ, Mang, Khỉ, Vợn …" nhiều dựơc liệu quý nhNgũ gia bì, sâm nam, hà thủ ô …" đáng kể có rừng lim ở Lăng Thành, Gụ ởXanh Giám, ở đây có các tỉnh núi cao nh vàng tâm 544m, bồ bồ 459 m, khenọc 454m, khu giàu 436m, đồi mồng gà 385m, Đông huyệt 301m…"

Đứng từ đồng bằng nhìn lên, nhân dân thờng thấy ba ngọn núi :

Nhất cao là động Mồng Gà

Thứ nhì là động Huyệt, thứ ba là động Thờ

Một dạng địa hình khác ở Yên Thành là do hiện tợng lắng đọng trầmtích đá vôi nham tởng vào kỷ các - bon, péc -mi, cách ngày nay 285 đến 335

Trang 12

triệu năm, hình thành nhiều lên đá vôi ở Đồng Thành, Nam Thành, Lý Thành,Trung Thành, Bảo Thành, Vĩnh Thành, Long Thành Nơi đây có nhiều hang

động kín đáo, có nhiều mạch nớc ngầm và khoáng sản nh đá vôi, phốt phorít Núi đồi, lèn đá, thung lũng và đồng bằng đã tạo ta nhiều cảnh quan đẹp

đẽ, và cũng vốn đất chủ yếu của Yên Thành

Nhân dân thờng nói:

Phía trớc kho lơng

Phía sau rơng tiền

Suốt mấy ngàn năm lao động cần cù và sáng tạo, ngời dân ởtđây cũng

đổ biết bao mồ hôi nớc mắt để khai thác, tạo lập nên một vùng đất giàu đẹpcủa Đông Yên nhị huyện, một phần máu thịt của giang sơn cẩm tú Việt Nam

1.2 Đặc điểm về dân c và truyền thống

1.2.1 Con ngời

Con ngời là một nguồn lực vô cùng quan trọng của quốc gia C dân ởPhúc Thành, Yên Thành có nguồn gốc bản địa, họ đã xây dựng cuộc sốngcủa mình từ lâu đời trên mảnh đất này "Do địa hình vùng núi, Yên Thành ănliền với các dãy núi từ phía Tây Bắc Nghệ Tĩnh trở xuống,có nhiều lèn đá vôi,nhiều hang động và thung lũng kín là địa bàn c trú thuận lợi của ngời việt cổ.Với những kết quả bớc đầu của khảo cổ học chúng ta biết yên Thành, DiễnChâu là nơi giao lu của hai nền văn hóa Bắc Nam là nơi ngời Việt cổ có mặt

từ lâu đời

Cách ngày nay khoảng 5000 năm, Ngời Việt cổ đã quần tụ trên cáchang động ở Yên Thành Đó là những c dân trồng lúa cuối thời đại đá mới ởvùng đồng bằng ven biển Nghệ Tĩnh Họ chính là con cháu của những ngời v-

ợn ghè đá ở Thẩm òm (Quỳ Châu) đến những bộ lạc săn bắt và hái lợm ở Cồn

Điệp (Quỳnh Văn), và là những ngời đơng thời với ngời Việt Cổ ở Rú Ta- HaiVai (Diễn Châu) [32; 18-19]

C dân Gia Lạc nói chung, Phúc Thành nói riêng đợc quy tụ về đây ngàycàng đông đúc theo hai hớng Hớng thứ nhất, từ đồng bằng Bắc Bộ, ThanhHoá, Quỳnh Lu đi vào nh họ Trần Đăng, Nguyễn Trọng, Phạm Gia, NguyễnKhắc, Họ Hồ …" ớng thứ hai đi từ miền rừng núi Thanh Hoá đi vào vùng núi HTây Bắc Nghệ An và đi dần về xuôi nh họ Hà, họ Dơng …" Từ thế kỷ XV,XVI đến thế kỷ XVII, XVIII các dòng họ về đây sinh sống, làm ăn ngày càng

đông, lúc đầu thờng đặt chân sinh cơ lạc nghiệp ở các làng Đức Lân, Diệu ốc,Thuần Vĩ rồi dần dần định c tới làng Phúc Thọ

Trang 13

Hiện nay xã Phúc Thành có 21 xóm: Đông Thịnh, Nam Thịnh, YênBang, Xuân Viên, Xuân Sơn, Đông Nam, Trung Nam A, Trung Nam B, TâyNam, Nam Sơn, Liên Sơn, Đông Yên, Nam Chính, Đông - Tây Hồ, Yên Sơn,Phơng Tô, Yên Trung, Bình Nguyên, Xuân Trà, Phúc Giang, Kỳ Sơn Tính

đến tháng 3 -1996, xã Phúc Thành có 1949 hộ, 9185 nhân khẩu, trong đó có

163 hộ với 739 khẩu của bà con theo đạo Thiên Chúa

Phúc Thành có núi đá vôi Vũ Kỳ rộng lớn với nhiều hang động : HangLúa, Hang Tiền, Hang Thung Buồng, có nhiều khe suối sâu và kín, có những

đồi núi với tên Thung Mây, Thung Chè, với những công cụ bằng đá, bằng

đồng mà nhân dân ta thu nhặt đợc những dấu vết và di tích ấy chứng tỏ conngời có mặt rất sớm ở vùng đất này

Trên vùng đất Phúc Thành hiện nay có con cháu của 35 dòng họ lớnnhỏ, đông nhất là họ Trần Đăng có gần 200 hộ, họ Nguyễn Trọng có 150 hộ,một số họ khác chỉ có trên dới 10 hộ nh họ Hà chi thứ ba, họ Cao, họ Hồ, họNguyễn Phúc vv…"

Sự quy tụ của nhiều dòng họ trên vùng đất này đã tạo nên tinh thần

đoàn kết cộng đồng, họ gắn với làng, làng gắn với nớc Trong làm ăn sinhsống, khai phá đất đai, ngăn khe đắp đập, đánh giặc giữ làng giữ nớc, tạo nênvùng văn hóa có nhiều đặc sắc Tuy vậy tàn tích của thời trang phong kiến đểlại không ít những hiện tợng nh : tính cục bộ địa phơng, cục bộ dòng họ Đócũng là đặc điểm tính cách của c dân nông nghiệp Việt Nam nói cung

1.2.2 Truyền thống

* Truyền thống lao động sáng tạo

Vùng đất Phúc Thành nằm dới chân các dẫy núi đồi, nhiều cồn kỳ, bậcthang, độ dốc nghiêng về phía Đông, thờng xuyên là hạn hán, thiếu nớc đểcày cấy, sinh ohạt Về mùa hè, có khi không có nớc cho trâu uống vì đầm ao,khe suối khô cạn Đã có thời có những em bé phải chịu chết nắng, chết khátgiữa đồng khi ngời mẹ đang xuống suối tìm nớc để đem về cho con uống Nh-

ng đến khi mùa lũ thì nớc trên núi đổ về, những dòng nớc chảy xiết tàn phámùa màng, làng mạc, gây ra cảnh đi lại rất khó khăn vì khe suối nớc to, phảibắc cầu tre cho ngời qua lại thờng gọi là cầu đòi noi, cầu khỉ

Bởi thế, nghề trồng lúa nớc chỉ phát triển ở những xóm phía dới nh YênBang, Yên Thịnh, hầu hết các xóm khác đều gieo trồng lúa khô Nhà bác học

Lê Quý Đôn viết : "Đất 12 tổng, huyện Đông Thành đều là đất cát nên dânhuyện ấy theo tục truyền thống đến tiết Mang Chủng (tua rua mọc) thì khởicông cày bừa thóc giống rất dày, ngay sau đó khi gieo giống lại bừa luôn nữa,

Trang 14

thóc giống trộn với cát lẫn lộn, không bao lâu thóc mọc mầm, ma xuống thấmnớc, màu đất bồi cho lúa Bừa thế không hại lúa mà lại trừ đợc cỏ Khi lúamọc rồi, gốc còn lại không cắt đi, để cho nó thối thành phân bón, ruộng càytốt Cũng có khi bừa lại, thóc ruộng xuống lại mọc, không phải trồng Mộtnhà có đợc một con trâu cày 10 mẫu ruộng không tốn công mấy" (trích "vân

đài loại ngữ")

Ngày trớc, c dân Phúc Thành đã biết lợi dụng thiên nhiên để gieo trồngmỗi năm một vụ lúa mùa khô bằng phơng thức trĩa vãi Khi gặp ma vào tháng

ba, tháng t họ cày đất lên, phơi khô để ải, Vì đất cứng phải dùng lỡi cày sắt

đổ gang cho sắc để dễ xới đất gọi là cày chìa vôi Rồi họ dùng bừa đạp răng

gỗ, xé đất ra, quăng đều lúa giống, lại cày xới đất lên và dùng loại bừa vãibằng gỗ bừa đi bừa lại cho hạt xuống sâu Hạt lúa dựa vào những hòn đất đểmọc và tốt lên dần Khi ma xuống họ dùng bừa để bừa cỏ và làm những hòn

đất tan nhỏ ra, tạo nên lớp màu nuôi dỡng cây lúa Vào những ngày trĩa vãi

nh vậy, đàn ông thì cày bừa, che lán bằng những cành cây, ngủ lại ngoài

đồng, tranh thủ ban đêm để phơi bờ, dọn cỏ, đàn bà thì gánh phân ruộng, đemcơm nớc cho ngời đi cày, bứt cỏ, cho trâu ăn Trời cha sáng mà ngời đi làmrộn rã, tấp nập nh ngày hội "Tiết mùa hạ cấy cày, tiết mùa thu vá may, tiếtmùa đông gặt hái"

Từ phơng thức gieo trĩa lúa mùa khô, ngời nông dân đã lợi dụng dòngkhe suối, đắp đập, đào mơng đa nớc về từng cánh đồng nhỏ để chủ động làmlúa và có thể mỗi năm làm hai vụ Cách đây khoảng vài trăm năm có một ôngQuản Binh đã tổ chức đắp một con đập nối liền Hòn Du với Hòn Giang, chặndòng khe lại để đa nớc ra ruộng Nhân dân thờng gọi con đập ấy là đập QuảnHải

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân đã dựa vào con đập ấy,xây dựng công trình trung thủy nông Quản Hài

Ngời nông dân Phúc Thành sinh sống lâu đời ở vùng đồi núi, có truyềnthống và kinh nghiệm trồng màu Xa kia nhà nào cũng trồng khoai lang, sắn,dong riềng, khoai từ, khoai vạc, khoai sọ Họ ăn khoai trừ bữa, hoặc nấu gạo

có độn thêm khoai Khách đến nhà thì mời khoai luộc chấm mật mía hoặcnấu chè…".Mỗi nhà thờng có ba chùm khoai khô Còn sắn, khoai từ, khoaivạc…".thì để dự trữ dới đất, khi cần ăn hoặc bán thì đào lên Có bụi khoai từ

đào đợc một tháng củ, có củ khoai vạc nặng chục cân

Làm vờn đồi, vờn rừng ở đây có truyền thống sáng tạo là đào rãnh đểtrĩa chè Cứ năm đến bảy hàng chè lại có một vệt dứa, gai vừa để lấy quả vừa

để chống xói mòn Chè xen dới mít, hởng bóng mát của mít mà chè xanh tốt

Trang 15

Phần lớn những gia đình giàu có lên là nhờ nghề làm vờn "Hàng xuôichợ Mõ, hàng về chợ Dinh"; "Gỗ chợ Mõ, ló chợ Cuồn"…".

Chăn nuôi ở đây cũng phong phú : Bò, trâu, dê, ong, cá…" Vùng YênBang, Yên Thịnh làm nhiều ruộng nớc thì "nuôi trâu bò trên vai" nghĩa là cắt

cỏ gánh về nuôi trâu bò trong chuồng Còn vùng Phúc Thọ, phơng Tô nhiều

đồi núi thì chăn nuôi bò đàn, sáng lùa bò vào rừng, chiều từng đàn bò nối

đuôi nhau về chuồng Nhiều gia đình nuôi 5 -7 tổ ong gác trên cành cây trongvờn ở đây cũng có nghề trồng dâu, nuôi tằm, trồng bông, dệt vải, đan lát ởlàng Diệu ốc còn có nghề chài lới, dùng thuyền đánh bắt cá

Sinh sống trong cộng đồng làng xã, c dân Phúc Thành, lập nên nhữngphờng hội để giúp đỡ nhau trong cuộc sống : hội phờng tranh, hội lợp nhà, hộikéo vải,xe tơ Còn có phờng săn hơu nai, lợn rừng, nhím, chồn…".Những hôm

đi săn đợc thú rừng cũng là ngày hội của xóm làng "Nhân dân thuần phác,làm ruộng, cày trại là chính, khi rỗi thì vào rừng kiếm cũi, mây giang vừadùng, vừa bán Không có mấy nghề thủ công, khi cần xẻ gỗ thì thuê thợ ChânPhúc (Nghi Lộc), thờ nề thuê ngời Đệ Nhất, thợ mộc thuê ngời Thủ Phủ ởdiễn Châu, thợ rèn đều là ngời Hà Tĩnh" [14; 62]

* Truyền thống văn hóa

Truyền thống là những yếu tố về sinh hoạt xã hội, văn hoá, t tởng, tìnhcảm…" hình thành trong quá trình lịch sử của một dân tộc, một giai cấp, mộtnớc, một địa phơng, một đơn vị nào đó đợc truyền từ đời này sang đời khác,thế hệ trớc đến thế hệ sau

Phúc Thành là mảnh đất có truyền thống văn hóa lâu đời, có nhiều ngời

đỗ đạt, có những ông quan to

Ông Trần Đăng Dũng ở Diệu ốc từ giải nguyên đỗ tiến sĩ khoa Hoành

Từ, triều Lê Trang Tông, thợng th hai bộ : Bộ Binh và bộ Lại Sau khi chết

đ-ợc phong tôn thần, nhân dân lập đền thờ

Trong bài văn xã tế thu xã viết : bản xứ hoàng giáp đặc tiến vinh lộc đạiphu, binh lại nhị bộ thợng th, minh quang hầu, Hiệu ngũ Phơng, gia phongdực bảo trung hng linh phủ tôn thần Trong các khoa thi trớc đây là làng Diệu

ốc có 13 hơng cống và cử nhân (6 ngời họ Nguyễn, 4 ngời họ Trần, 1 ngời họThái, 1 ngời họ Phạm, 1 ngời họ Lê), 41sinh đồ và tú tài (20 ngời họ Nguyễn,

13 ngời họ Trần, 1 ngời họ Phạm, 4 ngời họ Lê, 2 ngời họ Hoàng Phúc Thọ

có 6 sinh đồ và tú tài (3 ngời họ Phạm, 1ngời họ Trần, 1 ngời họ Hồ, 1 ngời

họ Dơng)

Trang 16

Theo Đăng khoa lục của tỉnh Nghệ Tĩnh, thì xã Giai Lạc có những ngờisau đây đậu tú tài:

Khoa Giáp Tý (1864)

- Dơng Xuân Quản (Hơng Thọ)

- Mai Huy Cơ (Đức Lân) hai khoá tú tài

Khoa Đinh Mão (1867)

Dới thời Pháp thuộc, ông Lơng Đích tức Bang Chuẩn ở làng Vũ Kỳ làmột nhà Phú Hữu đã hiến cho xã Giai Lạc một ngôi trờng 3 lớp, xây gạch lợpngói ở gần đình Hơng để làm trờng sơ đẳng Pháp - Việt (é-coleélé mentairede Giai Lạc), trờng này đã khai trơng khoá đầu tiên vào năm học 1926 -

1927, từ đây đã đào tạo nên một lớp thanh niên có học vấn khá đông, trong đó

có ông Trần Văn Khuông đậu bán phần tú tài vào năm 1938 Trờng Giai Lạccòn là nơi giao lu văn hoá - kinh tế của vùng Nhờ có trờng nên có đờng giaothông lớn từ huyện lỵ lên trờng và đi lên Vũ Kỳ

Có thể nói đây là một quê hơng văn vật mà trung tâm xa là thôn Diệu

ốc ở núi Hòn Giai, phía Đông là Võ Miếu, phía Nam là Văn Miếu của xãGiai Lạc Hàng năm hội văn, hội võ 6 thôn trong xã về tế thánh, nhà ThánhTổng Quan Hoá cũng đặt ở xóm Yên Bang của làng Diệu ốc

Truyền thống chuộng học vấn, văn chơng đợc ghi khá nhiều bằng câu

đối ở các nhà thờ họ Tại nhà thờ họ Phạm có câu:

"Thuyền sơn nhất mạch th hơng kế

Thọ thuỷ thiên thu giáo trạch lu"

(Một giải thuyền sơn lu truyền nền học vấn; ngàn năm bàu Thọ nềngiáo dục kế tiếp muôn đời)

Tại nhà thờ họ Hà đệ tam chí có câu :

"Th kiếm gia thanh nghi thả đại nghi thả đại

Hào hoa anh dị kế hy vong"

Trang 17

(Gia đình có dòng th kiếm làm nên việc lớn;

Con cháu có học vấn mới kế tục đợc ông cha)

Trong làng xã có nhiều thầy dạy chữ Hán tại nhà mình hoặc tại các gia

đình khác nh cụ cử nhân Trần Văn Huân, cụ tú tài Phạm Gia Mỹ, cụ tú tài LêLiễu, cụ Nguyễn Đờng, cụ Thợng Tiếu, cụ Mậu (xóm Xuân Viên), cụ Phú(xóm Yên Nam), cụ Nguyễn Thờng (tức cụ Thuần) xóm Đông Yên Từ cụ tútài Phạm Gia Mỹ đến thầy giáo Phạm Gia Khi ở xóm Đông Yên là bốn đờinghề dạy học

Có những danh y lý số (thầy thuốc và thầy địa lý giỏi) nh cụ ThạchKim Quýnh (cố thợng thế) ở xóm Tây Hồ, cụ Dơng Xuân Tiên (cố thợng tiếu)

ở xóm Xuân Sơn Phạm Gia Lãng, Phạm Gia Cầu, Phạm Gia Chuyên ở làngDiệu ốc có cụ danh y Nguyễn Nhuận Cận

Phúc Thành là nơi có nhiều đình đền Trớc kia có đình làng Diệu, đìnhlàng Hơng, nay chỉ còn đình Hơng, có câu ghi ở cột đình: "Chính hoà triệucơ, bảo thái kiến ấp" (năm Chính Hoa xây nên (1680), năm Bảo Thái lập làng(1721) Và "Minh Mệnh Bốc Trúc, Khải Định trùng tu" (năm Minh mệnh bắt

đầu xây dựng (1840), năm Khải Định tu sửa lại (1917)

Đình Hơng là ngôi đình có giá trị lịch sử văn hóa lâu đời (gần 200năm) Khi yên bình là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa của làng xã, khi cógiặc ngoại xâm là nơi trú ngụ, là cơ quan trờng học, cho c dân nhiều nơi trongtỉnh về đây sơ tán Tại ngôi đình này (có ảnh đình hơng ở phần phụ lục) là nơi

c trú và hoạt động thuận lợi, lại đợc nhân dân địa phơng hết lòng cu mang,giúp đỡ

Đình Hơng là một ngôi đình chạm trổ rất kỳ công, là nơi họp làng và

cứ 3 năm một lần vào các năm Tý, Ngọ, Mão lại tổ chức yến lão mừng thọcác cụ (nam) từ 60 tuổi trở lên

Mỗi kỳ tế thần hoặc yến lão đã thể hiện một cách rõ ràng thứ bậc, tôn titrật tự trong cộng đồng Ai đợc ngồi chiếu trên, đợc miếng thịt thủ làng biếuthì coi là một vinh dự lớn "Một miếng giữa làng bằng một sàng trong bếp"

Đó cũng là tính cách, truyền thống của ngời Việt rất coi trọng danh dự

Thứ bậc ở chốn đình Trung thờng chia làm 3 loại:

1.Thiên chức (tớc trời cho), ở lễ Yến Lão , các cụ 70 trở xuống 60,ngồi 4 ngời 1 cỗ; cụ 100 tuổi ngồi một mình một cỗ

2 Nhân tớc là tớc vua ban nh khoa bảng, quan chức

3 Những ngời thiên tớc cha đợc, nhân tớc không có, muốn có chỗ ngồi

ở đình phải bỏ tiền ra mua Có các chức nh : hơng giám (cử nhân của làng),

Trang 18

h-ơng tú (tú tài của làng), sau đó là hh-ơng hiệu, cai hộ, trị hộ, phó sở, nhiêu nam.Những chức cao phải mua đến hai ba trăm quan tiền Làng bán hơng chức vàonhững dịp có công việc lớn nh làm đình, đền, đắp đập.

Về tôn giáo, tín ngỡng, trớc đây ngoài đền miếu còn có chùa lớn nhchùa Diệu, có s chủ trì, ở làng Phúc Thọ có chùa Hơng ở làng Vũ Kỳ cóchùa Thiên Tạo, ở đây có tợng gỗ 3 ông Phật, có giếng thuồng luồng, cóHang Tiền, Hang Lúa Phúc Thành có một họ nhỏ thiên chúa giáo ở chòmYên Nam, nhà thờ xây dựng xong năm 1912, nay mới tu sửa lại

Làng có đền của làng, xóm có đền của xóm nên trong xã có rất nhiều

đền : đền Cả, đền Hoàng, đền Phủ Thờ (Trần Đăng Dinh), đền Thái Bảo, đền

Đệ Tam, đền Quan, đền Tràng Lậm, Hòn Giang, đền Cây Mít, đền Canh Cự,

đền Nhà Bà, đền cây Bứa…".Nay đang giữ đợc hai đền lớn : Đền Phủ Thờ, đền

Đức Hoàng

Nằm trong vùng văn hóa dân gian xứ Nghệ, ở Phúc Thành, nam nữthanh niên thờng tổ chức hát ví dặm Đêm đêm, bên cối giã gạo, bên guồngkéo vải, hoặc ngoài sân, ngoài cổng, nhiều tốp nam nữ có ngời học rộng, trínhanh cầm đầu bẻ chuyện, họ hát đố đáp thâu đêm Hầu hết các xóm đều có

đội hát tuồng với những vở hát quen thuộc nh Trng Trắc, Trng Nhị, Tề Thiên

Đại Thánh, Triệu Tử Long, Tống Địch Thanh…".Đặc biệt, ở Phúc Thành cóphờng chèo nổi tiếng hát hay đợc nhiều nơi xa gần biết đến Những đêm trăngthanh gió mát có tổ chức đấu vật dới các gốc đa Tết đến xuân về thì chơi đu,chọi gà hoặc rủ nhau xuống làng Đức Hậu vật cù lộ

Những phong tục tập quán ấy là sợi dây vô hình ràng buộc những ngời

ở trong cộng đồng Nó thể hiện từ những việc rất nhỏ nh : lối têm miếng trầuxinh xắn, cánh chào đón đến những vấn đề quan trọng khác

Phong tục tập quán bao gồm nhiều mặt, nhng tập trung nhất ở hai việc:cới xin và hiếu nghĩa, hai việc đánh dấu hai mốc quan trọng của một đời ngờinếu làm không tốt sẽ bị chê trách, "ma chê, cới trách"

Trai gái đến tuổi cập kề khoảng 15 - 16 tuổi là đã bắt đầu nghĩ đến việctrang điểm cho bản thân mình, con trai áo the khăn lợt, con gái yếm thắm giải

đào là y phục chuẩn mực nhất Răng đen là vẻ đẹp chuẩn mực chung cho cảnam lẫn nữ :

"Lấy chồng cho đáng tấm chồng

Bỏ công trang điểm, má hồng răng đen".

Cới xin phải đủ qua các bớc : bỏ trầu, ăn hỏi, xin cới, lễ cới Cới xin cỗbàn to hay nhỏ là tuỳ theo gia cảnh giàu nghèo nhng có một điều không thể

Trang 19

thiếu đợc nạp tiền cheo cho làng "Cới không cheo nh nghèo không mấu" Nạp cheo cho làng có thể ví nh ngày nay đăng ký giá thú.

Trong việc hiếu nghĩa ma chay, tinh thần tơng thân tơng ái đợc thể hiện

rõ nét nhất, dù lúc sống có mắc mớ với nhau nhng đến lúc chết "nghĩa tử lànghĩa tận", nghĩa đối với ngời chết cuối cùng Khi có ngời chết thì láng giềngsang giúp đỡ nhau , thổi cơm, làm mọi công việc Những ngời thân quen thìgóp tiền gạo giúp làm đám trong một đám tang có hai tiếng thầy lễ , thầy gia

lễ giúp việc cúng đơm, thầy hộ lễ giúp sắp xếp mọi công việc trong lúc tanggia bối rối

Đám tang to hay nhỏ là tuỳ theo số lợng nội cữu (ngời khiêng quan tài)

Đám tang bình thờng phải 12 nội cửu, có 6 đòn khiêng, đám tang lớn là 24nội cửu thì số đòn khiêng gấp đôi Đám tang lớn còn có kiệu đòn rồng nhàxếp, có tớng, thuồng luồng đi hộ tống Tang lễ thì theo nh sách Thọ Mai gialễ

Diệu ốc, Phúc Thọ, Phơng Tô ở đất văn vật nên phong đợc coi làthuần, tục đợc coi là mỹ Phong tục tập quán, khoán ớc có tác dụng xiết chặtmối đoàn kết, tinh thần tơng thân tơng ái trong cộng đồng nhng cũng có mặttrái của nó là thờng làm nảy sinh t tởng địa phơng cục bộ Giữa cộng đồngnày với cộng đồng kia thờng xảy ra những vụ mất đoàn kết, tranh dành kiệntụng nhau là do lẽ đó ở đây có một vụ kiện đợc nhắc đời : vụ kiện giữa xãCông Trung và xã Giai Lạc tranh dành nhau một đoạn sông Dền Sổ là sôngDền của xã Công trung, nhng có một đoạn chảy qua thôn Phơng Tô và GiaiLạc.Công Trung đòi quyền sở hữu đoạn sông đó Hai bên dàn quân đánhnhau, phải đa lên huyện Quan trị huyện Đông Thành xử không xong phảikiện lên phủ Quan tri phủ Diễn Châu đã xét xử và phê vào đơn nh sau :

"Đồng điền Giai Lạc, hố hác Công Trung" (đồng điền thuộc về Giai Lạc,sông suối là của CôngTrung) Công Trung tởng nh thắng kiện, mừng rỡ, nhngsau đó trên thực tế, ai có thuyền mà chẳng đợc chèo, bất cứ đoạn đờng nàocủa sông Dền, ai có cần mà chẳng đợc câu ở đấy Rút cục tranh dành kiệntụng nhau chẳng dẫn đến kết quả nào cả Quan tri phủ Diễn Châu phê vào đơnkiện nh vậy thật là cao tay !" [14, 87]

Trên cơ sở những truyền thống phong tục tốt đẹp về lao động, làm ăn,

về văn hóa làng xã mà nhân dân Phúc Thành sinh cơ lập nghiệp, tồn tại vàphát triển Có những mặt, những cái còn giữ đợc đến ngày nay, có những mặt,những cái đã mất đi Có lí về mặt thời gian, về thiên tai và nghèo đói, nhngcũng có cái thiếu hiểu biết về văn hóa - lịch sử nên có phong tục mai một dần

Bở thế những cái tốt đẹp còn giữ lại đợc là những di sản đáng quý về tinh

Trang 20

thần, về văn hóa cũnglà những giá trị về mặt vật chất cần đợc quan trọng vàphát huy.

* Truyền thống yêu nớc chống ngoại xâm

Lịch sử Yên Thành gắn liền với lịch sử đấu tranh kiên cờng chống giặcngoại xâm và áp bức cờng quyền, vơn lên bảo tồn sự sống, làm chủ quê hơng

đất nớc Th tịch, giả sử, khảo sát thực địa cho chúng ta thấy trên đất YênThành mỗi ngọn núi, khúc sông, cánh đồng, mỗi thôn xóm đều có ghi nhữngchiến tích hào hùng, có khi là những bi kịch đau thơng tên làng, tên đất nhmột Động Đình, Động Huyệt, Đình Mõ, Đình Hơng, Đình Hậu, Đồng Thông,xóm Luỹ, xóm Hố, Vũ Kỳ, Trang Niên, Nội Chung, Tràng Sơn…" Đều gắnliền với lịch sử quê hơng

Nhà yêu nớc Lê Doãn Nhã viết :

"Nhớ thời núi tụ anh linh

Quy Lai giáo dựng, động đình gơm reo

Trời chiều nổi áng cờ treo

Nhớ ơn tằng tổ hiểm nghèo xông pha … "

Địa thế hiểm yếu, ba phía là núi, giữa là đồng bằng nhìn ra biển, tiến

có thể đánh, lùi có thể giữ Lòng dân yên nớc dám xả thân vì nghĩa lớn, nềnmóng cho truyền thông yêu nớc và cách mạng của c dân Phúc Thành nơiriêng, Yên Thành nói chung Hầu nh không có một cuộc kháng chiến nào củanhân dân Nghệ Tĩnh mà không có con em Yên Thành tham gia Có lúc YênThành là đất đứng chân là nơi gửi gắm niềm tin của những ngời lãnh đạo vànhững phút khó khăn nhất của cuộc kháng chiến giữ nớc Địa thế xã Giai Lạcnói chung, Phúc Thành nói riêng, ở vào miền đồi núi gần giáp dãy Trờng Sơn

ở phía Tây, chỉ cách Quỳ Lăng - Lỵ sở đời Ngô, đời Đinh vài cây số cách kẻDền - Lỵ sở đời Lê một cây số là vùng đất nằm sát chân núi Đông Huyệt.Phúc Thành còn có dấu tích đồng Tàu Voi, Động Thành (thành đắp bằng đấtnện), Đồng Đồn, Bờ Bia…".Những dấu tích ấy chứng tỏ cách đây hàng ngànnăm, Phúc Thành cùng với Hậu Thành, Đồng Thành, Lăng Thành…".là vùngcăn cứ của nhiều triều đại yêu nớc Nhân dân Phúc Thành đã góp phần đắpthành, xây lũy, che dấu quân cơ, tiếp tế lơng thực cho binh lính bảo vệ đất n-

ớc, giữ gìn bờ cõi "Trong thời gian Lí Nhật Quang làm tri châu Nghệ An,nhân dân địa phơng đã giúp nhà Lí xây dựng 50 sở kho để cất dấu thóc lúa.Lại tùy từng nơi, đặt ra những đồng bằng đất, thu thóc tô thuế, đựng vào đó để

đề phòng khi có chính sự" Vào thời Lê Lợi "núi Động Đình thuộc sách QuyLai (Yên Thành) đợc địa quân chọn làm căn cứ tập kết lực lợng Đây là một

Trang 21

vùng núi non hiểm trở cách Phủ Thành Diễn Châu 14 cây số về phía Tây Tại

đây vẫn còn nhiều tên đất gắn liền với những truyền thuyết đóng quân vàluyện tập chủ nghĩa quân Lam Sơn nh : Khe Thiềm, Khe Lá, Khe Cái, BãiTập…".Bãi Tập là khoảng đất rộng gần khe Cái tơng truyền là nơi luyện quâncủa Đinh Lễ ở đây, ngời ta cũng thờng tìm thấy nhiều viên đạn đá các cỡkhác nhau" [32,98,141] ở Phúc Thành, nhiều ngời ở làng Diệu ốc cũng đãtìm thấy đống nhỏ đạn đá ở cùng Động Thành, mỗi hòn đạn thờng to bằngnắm tay

Từ căn cứ Động Đình nghĩa quân Lê Lợi dới sự chỉ huy của tớng đinh

lễ chuyển quân về đồng bằng qua đờng rừng Ba Xanh, Ba Quanh, Động Cầu,Yên Ngựa, về Quỳ Lăng, bao vây thành Trài (thành Diễn Châu) Tớng giặc làTrơng Hùng chỉ huy 300 thuyền lơng vào tít tế cho quân lính trong thành bị tamai phục đánh tan đội thuyền và tiêu diệt 300 tên từ trong thành ra đến độithuyền Nhân dân xã Giai Lạc trong đó có xã Phúc Thành đã có sự đóng góptrong việc đánh bại quân đô hộ nhà Minh, giải phóng đất nớc của Lê Lợi Giaphả họ Lê Đình ghi rõ ông tổ Lê Đức Tính vốn ngời Thanh Hoá là lính của LêLợi

Từ khoảng năm 1535, xã Phúc Thành nằm trong địa bàn cắn cứ củaNguyễn Kim và chúa Trịnh bao gồm phần đất phía Tây huyện Yên Thành vàmột phần đất huyện Đô Lơng, Thanh Chơng ngày nay, nhân dân trong xãPhúc Thành nhiều ngời sum vào binh lính của chúa Trịnh ở thế kỷ 16 - 17xã Phúc Thành có 3 quật công, quan tớc, hầu, bá tử, nam thì khá nhiều

Từ năm 1672, họ Trịnh và họ Nguyễn nung chiến hoà bình đợc lập lại,tạo điều kiện cho lập lại ổn định dân c, sản xuất nông nghiệp phát triển Làngxóm đợc tổ chức quy cũ hơn Làng Đức Lân, làng Diệu ốc xây dựng đình, đềnchùa, nhà thánh mở rộng chợ Mỏ Làng Phúc Thọ đợc thành lập cới chợ H-

ơng Các làng Phơng Tô, Thuần Vĩ, Vũ Kỳ, trớc bị thiêu tán đợc chiu tập lạilàm ăn phồn thịnh hơn trớc Nhiều họ từ các địa phơng đến nh họ Trần, họNguyễn, họ Phạm…".Cùng xây dựng làng xóm, khối đại đoàn kết

Năm 1771, cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra nh bão táp ở đằng trong.Năm 1789, vua Quang Trung từ Thuật Hoá trên đờn tiến ra Bắc đánh quânxâm lợc Mãn Thanh đã dừng lại ở Nghệ An để tuyển thêm binh lính Nhândân Yên Lạc, Phúc Thành cùng với nhân dân Nghệ An hăm hở đón tiếp và gianhập quân đội Quang Trung "chật đất ngời thiêu, đầy đờng rợu bày" Chínhquyền của Tây Sơn đợc thiết lập đến cơ sở, xã Yên Lạc hồi đó có xã quan là

ông Phạm Gia Oanh (1761 - 1801) Những cựu thần của Lê Trịnh không tứcthời muốn chống lại Trần Quang Diệu là tớng của Tây Sơn nhng bị thất bại

Trang 22

Năm 1858, thực dân Pháp nổ lực vào Đà Nẵng, bắt đầu xâm lợc nớc ta.Sau một vài thời gian chống cự yếu ớt, đến năm 1884, triều đình Huế ký hiệp

ớc đầu hàng, công nhận quyền cai trị của đế quốc Pháp trên đất Việt Nam.Năm 1885 quân đội Pháp đánh chiếm Nghệ Tĩnh nhân dân Phúc Thành cùngvới nhân dân toàn tỉnh, và cả nớc phải sống dới ách thống trị tàn bạo cảu thựcdân Pháp cấu kết với vua quan Nam Triều tay sai

Nhận rõ dã tâm xâm lợc của thực dân Pháp, đông đảo sĩ phu và nhândân Nghệ Tĩnh không đồng tình với thái độ nh nhợc và cầu hoà của triều đìnhHuế Nhân dân Nghệ Tĩnh đã giấy lên cuộc khởi nghĩa vũ trang năm GiápTuất 874) dới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nớc: Trần Tuấn (Thanh Chơng),

Đặng Nh Mai (Nam Đàn), Trần Quang Cán (Hơng Sơn), Nguyễn Huy Điển(Thạch Hà) tại xã Giai lạc cũng có phong trào ủng hộ cuộc khởi nghĩa nên đãxẩy ra những cuộc xung đột giữa đồng bào bên lơng và bên giáo ở trong xã.Tại làng Đức Hậu có Mai Huy Cơ chỉ huy một số nhân dân tham gia trận

đánh tại Bảo Nham

Tháng 6 - 1884, Triều đình Huế ký hiệp ớc thừa nhận nền đô hộ củathực dân Pháp ở Việt Nam Nhng tiếng súng chống Pháp của nhân dân takhông ngừng nổ Phái chủ chiến trong triều đình do Tôn Thất Thuyết đứng

đầu rớc vua Hàm Nghi ra Quảng Trị Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vơng kêu gọinhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lợc Tức thì khắc các tỉnh ởBắc Kỳ, Trung Kỳ nhân dân dới sự lãnh đạo của các văn thân sĩ phu yêu nớcnổi lên ủng hộ vua Hàm Nghi chống pháp Tại Nghệ An và Hà Tĩnh, phongtrào cần vơng sôi nổi từ đầu, về sau quy tụ lại thành hai cuộc khởi nghĩa lớn:Khởi nghĩa của Phan Đình Phùng trên địa bàn các phủ huyện phía Nam vàcuộc khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn trên địa bàn các phủ huyện phía Bắc

Nguyễn Xuân Ôn, ngời làng Quần Phơng, xã Lơng Điền nay là xã DiễnThái - huyện Diễn Châu, Ông đậu tiến sĩ năm 1871, đợc bổ nhiệm là tri phủQuảng Bình, đốc học tỉnh Bình Định, ám sắc tỉnh Bình Thuận Nhiều lần ôngdâng sớ lên triều đình vạch trần âm mu xảo quyệt của giặc Pháp, đề nghịnhững biện pháp tích cực để đối phó, nhng triều đình không nghe Năm 1883,

Tự Đức cắt chức ông, từ đó ông về quê chuẩn bị cơ sở để chống Pháp cứu nớc

Nhân dân Phúc Thành và Giai Lạc thâm gia cuộc khởi nghĩa NguyễnXuân Ôn Khi Nguyễn Xuân Ôn chuyển lên xây dựng căn cứ địa của nghĩaquân ở vùng phía Tây huyện Yên Thành, đã đóng quân ở xóm Hố (làng Ph-

ơng Tô) Đồng Thông, Đồng Bản của xã Đồng Thành ngày nay Bãi tập củanghĩa quân Giai lạc ở Hng Lớn, sau đền Đệ Tam (làng Phúc Thọ) Nghĩaquân của Nguyễn Xuân Ôn thờng trú quân ở phủ Thờ, đình Hơng, đình Mõ,

Trang 23

đình Sừng, thờng hành quân qua các làng Phúc Thọ, Diệu ốc, Đức Hậu, QuỳLăng, Nhân dân xã Giai Lạc, trong đó có xã Phúc Thành đã gia nhập nghĩaquân, hy sinh xơng máu, tài sản, tiếp tế lơng thực, bảo vệ cơ sở Trong hàngngũ những ngời chỉ huy quân sự của nghĩa quân nổi lên ông Nguyễn VănNhoãn thờng gọi là Đốc Nhoãn Ông sinh ra ở Đức Hậu, sau về ở làng Diệu

ốc, rất giỏi võ nghệ, có tài đánh giặc theo kiểu đặc công Trong trận đánh phủthành Diễn Châu, đội tiên phong Đốc Nhoãn chỉ huy gồm 7 - 8 chiến sĩ cảitrang làm ngời bán củi lọt vào thành ở phía ngoài Nguyễn Xuân Ôn, chiaquân làm ba mũi do Lãnh Ngợi, Đề Vinh, Đề Niên chỉ huy, lợi dụng đêm tối

ám sát phủ ly Đúng giờ hẹn, Đốc Nhoãn ở trong thành cho phát lệnh, nghĩaquân ở bên ngoài thấy tín hiệu lửa cháy, ba mũi cùng nhất loạt tiến công.Quân địch vừa bị trong đánh ra, ngoài đánh vào, lâm vào thế bị động, vội gọiquân Đồn Si tới cứu Nghĩa quân vừa công thành, vừa đánh quân tiếp viện.Trong thành, quân Đốc Doãn đã phóng lửa đốt một số kho tàng của địch.Nhân lúc quân địch hoang mang Đốc Doãn vào nhà binh bắt sống tên chỉhuy ngời Pháp tên là Ac-sơ-văng rồi rút ra an toàn

Có lần quân lính giặc về vây làng Diệu, lùng sục vào nhà Đốc Nhoãn,

ông phải nhảy xuống Bàu ác lính Tây, lính ta bao vây, trên mặt bàn của chúngthì thuyền sục sạo Sau một ngày, một đêm, Đốc Nhoãn bị đau bụng vì lạnh,không thể ngâm mình dới nớc đợc nữa, bất thần ông ném lao vào tên đội tâyngồi trên thuyền để vùng chạy nhng tên đội tây chỉ bị thơng, nó dùng súngbắn vào Đốc Nhoãn, ông bị thơng ở cánh tay không thể chạy đợc nữa, bị quângiặc bắt về giam ở thành Diễn Châu Tại đây, ông đã bẻ gãy cùm, đục tờngnhà lao trốn thoát

Phong trào Cần Vơng chấm dứt vào năm 1896 thì từ đầu thế kỷ XX,phong trào yêu nớc, phong trào dân tộc lại đấu lên mạnh mẽ ở Nghệ Tĩnh, dới

sự khởi xớng và sự lạnh đạo của nhà chíên sĩ yêu nớc tiêu biểu là Phan BộiChâu Uy tín và ảnh hởng của cụ Phan Bội Châu đến rất sớm với nhân dân xãGiai Lạc Trong các kỳ thi hơng, thi hội ở đầu thế kỷ XX một số nhân sĩ, nho

sĩ trong xã đã đợc gặp cụ Phan Bộ Châu và cụ Phan Châu Trinh, Trần QuýCáp cảm phục trình độ học vấn, tài thơ văn, tinh thần yêu nớc, ý chí bất khuấtcủa các cụ và truyền đi nhiều nơi trong địa phơng Từ khoảng 1906 - 1913, cụ

Hồ Bá Kiện (thân sinh cụ Hồ Tùng Mậu), cử nhân, ngời làng Quỳnh Đôi,huyện Quỳnh Lu thờng qua lại xã Giai Lạc vận động ngời xuất dơng, quyêntuyền ủng hộ phong trào Đông Du, truyền bá văn thơ yêu nớc của cụ Phan vànhững tài liệu cải cách văn hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục

Trang 24

Trong phong trào chống Pháp ở xã Phúc Thành có ông Lê Liễu, làngDiệu ốc, đậu tú tài năm Mậu Ngọ (1894) Ông không ra dạy chữ Hán ở trờngcông theo lời mời của đốc học Nghệ An mà lại ở quê nhà dạy học và làm thơ.

Ông để lại một bản trờng ca : "Nam quốc tỉnh mê ca" - bài ca thức tỉnh nớcNam, kể lại một cách hào hùng những chặng đờng lịch sử vẻ vang của dân tộcViệt Nam từ các vua Hùng lập nớc đến những năm tháng chống thực dânPháp xâm lợc, giải phóng đất nớc Ngoài ra, Lê Liễu còn để lại hàng trăm bàithơ ca ngợi cảnh đẹp của quê hơng, phản ánh mọi cung bậc tình cảm trớc thờithế trong mối quan hệ gia đình, bạn bầu Cuộc đời và thơ văn cuả Lê Liễu làhình ảnh khá tiêu biểu của một nhà nho xứ Nghệ, ham học, hiếu học, văn haychữ tốt, cơng trực, thanh bạch, gắn bó với quê hơng, làng nớc, gắn bó vớinhân dân, có lòng yêu nớc nồng nàn, sống có tiết tháo, khi cần thì bỏ cả vănchơng cử nghiệp để xả thân vì nghĩa lớn Điểm lại cội nguồn và truyền thốngcủa nhân dân Phúc Thành gắn liền với xã Giai Lạc càng thấy rõ vị trí trongmột địa bàn chiến lợc qua các triều đại, là căn cứ "đứng chân", có thể tiến lui

ra Bắc vào Nam, đi lên biên giới Việt Lào Bởi vậy, nhân dân ở đây đã biểu lộlòng yêu nớc chống ngoại xâm từ lâu đời Rừng xanh suối biếc, thiên nhiêngiàu và đẹp Con ngời ở đây trung hậu, nhiều tài năng Bốn chữ : "Địa linhnhân kiệt" (đất thiêng ngời giỏi) đợc khắc chạm trên cột đình làng Hơng, từ

xa đã phản ánh rõ mảnh đất và con ngời nơi đây Truyền thống đó là những disản quý báu làm cơ sở để nhân dân Phúc Thành tiến hành những cuộc cáchmạng lớn lao, dành nhiều thắng lợi vẻ vang khi đợc tiếp thu ánh sáng chủnghĩa Mác - Lê Nin, có đờng lối lãnh đạo sáng suốt của Đảng cộng sản ViệtNam, của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc

Sau những thất bại của các phong trào yêu nớc do các sĩ phu phongkiến lãnh đạo thì những sự kiện mới lại vang dội đến Yên Thành : Cách mạngtháng mời Nga, cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới đầu tiên thànhcông, sự kiện Nguyễn ái Quốc gia nhập Đảng cộng sản Pháp, đem t tởng chủnghĩa Mác - Lênin về truyền bá trong nớc có đờng lối lãnh đạo sáng suốt của

Đảng cộng sản Việt Nam, của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc

Sau những thất bại của phong trào yêu nớc do các sĩ phu phong kiếnlãnh đạo thì những sự kiện mới lại vạng dội đến Yên Thành Cách mạngtháng Mời Nga, cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới thành công, sựkiện Nguyễn ái Quốc gia nhập Đảng Cộng sản Pháp , đem t tởng của chủnghĩa Mác - Lê nin về truyền bá trong nớc , việc thành lập Tân Việt, ViệtNam thanh niên cách mạng Đồng chí hội ở Vinh - Bến Thuỷ …" Những sự

Trang 25

kiện ấy dội vào Yên Thành, đến với những thanh niên học sinh, trí thức vànhững ngời có xu hớng của xã Giai Lạc.

Năm 1927, tại trờng Tiểu học Yên Thành, một số thầy giáo và học sinh

tổ chức lễ truy điệu nhà ái quốc Phan Châu Trinh đã có tác dụng cổ vũ lòngyêu nớc trong thiếu niên học sinh, trong đó có số ngời Giai Lạc học ở trờngNguyễn

Năm 1930, Đảng cộng sản Đông Dơng ra đời đã lãnh đạo nhân dân xãPhúc Thành, Yên Thành đấu tranh chống Pháp

Sự đàn áp dã man của đế quốc Pháp và tay sai "Tây đốt cả mọi nơi, đốtTờng Lai, Thủ Phủ, Đốt Đót, Già Sừng, Mỏ, Đốt Hơng, Thọ, Giai, Cầu, Cả bọlẫn trâu, cớp hàng hà sa số" (vè làng Sen); những cuộc hi sinh đẫm máu trongXô Viết Nghệ Tĩnh, những nỗi thống khổ, đói kém hàng ngày diễn ra trongthôn xóm, trong mỗi gia đình…" càng làm cho nhân dân Phúc Thành khaokhát mong chờ sự lãnh đạo của một tổ chức cộng sản ở địa phơng

Trong tình thế đó, vào tháng 6 - 1939 ở núi Hòn Nhãn, giữa làng PhúcThọ, tại một gia đình trí thức nho học, một nhóm thanh niên cộng sản đợcthành lập gồm Trần Văn Khuông, Lê Cửu, Trần Phiên, Nguyễn Viết Trờng,

Di Trần Văn Khuông phụ trách

Những thanh niên này tiếp thu đợc tinh thần yêu nớc chống Pháp củacác Phong trào Văn Thân, Đông Du và lý tởng cộng sản của Phong trào Xôviết Nghệ Tĩnh, đặc biệt chịu ảnh hởng của những thầy giáo tham gia thanhniên Cách mạng Đồng Chí hội Trần Văn Khuông là sinh đệ tam trờng t thụcThăng Long ở Hà Nội, từ đầu năm 1936 đã đợc tổ chức và sinh hoạt trong

đoàn thanh niên cộng sản tại trờng Thăng Long

Từ năm 1937, nhóm thanh niên của cộng sản của làng Phúc Thọ làmnòng cốt tổ chức Đoàn thanh niên dân chủ xã Giai Lạc, gồm 4 thanh niêncộng sản nói trên và một số thanh niên khác Đoàn thanh niên dân chủ hoạt

động cho đến cuối tháng 9 năm 1939 Phạm vi hoạt động gồm các làng PhúcThọ, Đức Hậu, Diệu ốc, Phơng Tô Đoàn thanh niên dân chủ xã Giai Lạc chịu

sự lãnh đạo của Đoàn thanh niên dân chủ TW qua sách báo của mặt trận dânchủ và của đoàn thanh niên dân chủ TW tại Hà Nội gữi về và qua th từ trao

đổi với đồng chí Đào Duy Kỳ Đồng thời, từ năm 1938, đoàn thanh niên dânchủ xã Giai Lạc cũng đợc sự lãnh đạo của Đảng bộ đảng cộng sản huyện YênThành

Ngoài những sinh hoạt nghiên cứu báo chí tiến bộ nói chuyện về cáchmạng tháng mời Nga và tình hình Liên Băng Xô Viết về mặt trận bình dân

Trang 26

Tây Ban Nha đấu tranh chống Phátxít Phơ- răng- cô, mặt trận bình dân Pháp

và hoạt động của Đảng cộng sản Pháp vv…".Đoàn thanh niên dân chủ xã GiaiLạc đã tổ chức những hoạt động cụ thể :

- Tổ chức đội bóng đá để thu hút thanh niên, học sinh đáp ứng nh cầuhoạt động thể thao và tuyên truyền giác ngộ về t tởng yêu nớc và cách mạng

- Tổ chức lấy đơn và chữ ký vào đơn yêu cầu đại xá chính trị phạm gữicho báo đời nay

- Tham gia vận động bầu cử Dân biểu Trung Kỳ

Mùa hè năm 1937, đồng chí Phan Đăng Lu về làng Phúc Thọ đến nhàmời ông Trần Văn Huân là một tri thức nho học (thân sinh Trần Văn Khuông)

ra ứng cử, những năm đó ông bị bệnh không tham gia đợc, sau đó giới thiệuNguyễn Văn Song (vừa là thầy giáo, vừa là phú hữu) nhng ông Song khôngtrúng cử

- Cùng với thanh niên xã Tràng Thành (Hoà Bình) họp míttinh tại chùaThiên Tạo lên Vũ Kỳ để tởng nhớ đồng chí Phan Thanh, một chiến sĩ cáchmạng hoạt động công khai nổi tiếng của Đảng vừa từ trần và để tuyên truyềnvận động thanh niên vào tổ chức thanh niên xã hội khoá Phan Thanh (PromoTion Phan Thanh) Cuộc mít tinh này vừa có ý nghĩa chính trị, vừa là hoạt

động văn hóa tham quan du lịch thích hợp với lứa tuổi thanh thiếu niên vìchùa Thiên Tạo là một cảnh đẹp Trong cuộc họp đó có tổ chức hát những bài

ca cách mạng nh : "Quốc tế ca", bài hát : "Thanh niên xích vệ" bằng tiếngPháp

Những hoạt động tích cực của Phong trào thanh niên dân chủ xã GiaiLạc đã gây đợc ảnh hởng tốt trong Phong trào các từng lớp nhân dân, đặc biệt

là thanh niên và học sinh Bốn thanh niên cộng sản (Trần Văn Khuông, LêCửu, Trần Khuyên, Nguyễn Viết Trờng) là nòng cốt của mọi hoạt động thanhniên dân chủ

Trong cách mạng tháng tám năm 1945, nhân dân xã Giai Lạc cũng đãgóp phần làm nên chiến thắng ở xã Giai Lạc, tổ chức thanh niên cộng sản đ-

ợc tiếp thu tinh thần Nghị quyết TW lần thứ 8 qua sự truyền đạt của đồng chíPhan Duy Huệ và đồng chí Trần Tấn, cán bộ cách mạng cũ ở xã Vạn Phần(Diễn Châu) Đồng thời có sự chỉ đạo của Việt Minh huyện Yên Thành nêntháng 6 năm 1945, tổ chức Việt Minh xã Giai Lạc đợc hình thành tổ chứcthanh niên cộng sản làm nồng cốt, gồm một số thanh niên, học sinh và nôngdân gữi và có cảm tình với cách mạng đã trải qua đấu tranh trong các cuộcvận động trớc đây, cùng một số thanh niên học sinh ở Vinh bỏ trờng về quê

Trang 27

sau ngày Nhật đảo chính Pháp, Việt Minh cũng đã tập hợp một số ngời thuộctừng lớp trên đã trải qua các cuộc đấu tranh chống hào lí đơng quyền ở địaphơng.

Sau khi đợc tin Nhật đầu hàng Đồng Minh vào ngày 15/8/1945, huyệnQuỳnh Lu đã dành chính quyền vào ngày 19/8/1945, nhờ có sự liên hệ vớiViệt Minh lâm thời huyện Yên Thành, Việt Minh xã Giai Lạc đã nắm đợc t t-ởng chỉ đạo của cấp trên kịp thời bố trí kế hoạch lãnh đạo cớp chính quyền ởcác làng Phúc Thọ, Phơng Tô, Diệu ốc, Đức Hậu

Cách mạng tháng Tám thành công mở ra bớc ngoặt lớn trong lịch sử

đấu tranh lâu dài của nhân dân trong xã

Nhân dân Phúc Thành vô cùng phấn khởi khi đợc nghe chủ tịch Hồ ChíMinh đọc bản "Tuyên ngôn độc lập" Trong niềm hân hoan to lớn, nhân dânPhúc Thành lại cùng cả huyện, cả tỉnh và cả nớc dốc hết nhiệt tình cách mạng

đóng góp vào công cuộc xây dựng và cũng cố chính quyền mới, xây dựng vàbảo vệ nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà

Khi thực dân Pháp quay lại xâm lợc nớc ta lần thứ hai, và khi chủ tịch

Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (ngày 19/12/1946) Đápứng lời kêu gọi thiêng liêng đó, quân dân xã Giai Lạc đã bớc vào cuộc khángchiến với tất cả lòng quyết tâm và niềm tin tởng của mình, xã Giai Lạc đã huy

động nhiều công sức, đóng góp nhiều vật liệu, tổ chức rào làng chiến đấu theomô hình làng Cự Nậm (Quảng Bình) nhiều đợt huy động đi phá các con đờngquốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ, xây đắp các luỹ đất, các chớng ngại vật, không chocơ giới đi và cản đờng tiến của địch vào làng

Nam nữ thanh niên từ 18 tuổi đến 35 tuổi đợc động viên ghi tên gianhập dân quân du kích Chỉ trong mấy ngày, xã đội Giai Lạc có tên 500 chiến

sĩ đã ghi tên

Mặc dù đời sống vật chất thiếu thốn, chỉ có cơm độn khoai ăn với muốivừng, nhng lực lợng dân quân du kích đều hăng say luyện tập, sẵn sàng chiến

đấu Tiếng hát "Tuốt gơm trờng ba thớc, ta cùng nhau bớc, bớc tới môi trờng

sa…"." vang lên nh những lời thề giết giặc cứu nớc

Từ hàng ngũ dân quân du kích đó, xã Phúc Thành có 87 ngời trở thành

bộ đội cụ Hồ Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Phúc Thành có 60 chiến sĩquân đội tham gia mặt trận Có 26 liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc kháng chiếnchống Pháp, 4 thơng binh từ chiến trờng trở về

Để chuẩn bị kháng chiến lâu dài, nhân dân xã Giai Lạc đã tự nguyệncho chính quyền xã mợn 19 gian nhà ngói cất dấu lơng thực và các loại vũ

Trang 28

khí, đạn dợc Đồng thời đã xây dựng căn cứ ở vùng, núi Nhà Đũa và ĐộngHuyệt, vừa chăn nuôi,sản xuất, tích trữ lơng thực và muối.

"Đèo cao thì mặc đèo cao

Tinh thần cứu nớc còn cao hơn đèo"

Đó là tiếng hò của đội quân dân công trên mọi nẻo đờng kháng chiếncủa tổ quốc, trong đó có dân công xã Giai Lạc, xã Phúc Thành

Trong các chiến dịch Hà Nam Ninh và Hoà Bình, xã Giai Lạc có một

đại đội trên 120 ngời do ông Lơng Cận chỉ huy Chiến dịch Tây Bắc ĐôngXuân 1952 - 1953 có hai đại đội gồm 270 ngời do ông Lê Châu và ông Trần

Vũ Linh chỉ huy Chiến dịch Thợng Lào phối hợp với chiến dịch Điện BiênPhủ có một đại đội 120 ngời do ông Phạm Tân chỉ huy Trong những đội dâncông hoả tuyến ấy của xã Giai Lạc, Phúc Thành đã đóng góp 250 ngời cha kểnhững đợt dân quân làm đờng phục vụ chiến dịch kháng chiến

Trong kháng chiến chống Pháp, Phúc Thành cũng là nơi làm việc củacơ quan uỷ ban kháng chiến hành chính liên khi IV, của cơ quan tỉnh ủyNghệ An Đền Đệ Tam ở làng Phúc Thọ là địa điểm chỉnh huấn của tỉnh uỷNghệ An, nơi đây đã có 5 lớp với hàng ngàn cán bộ trong tỉnh về tham dựchỉnh huấn, chuẩn bị cho tổng phản công và thi hành các chính sách ruộng

đất Phúc thành và Giai Lạc và là nơi tiếp nhận, tạo việc làm ăn và điều kiệnsinh sống cho một số nhân dân ở huyện Diễn Châu tản c đến

Kháng chiến chống Pháp thành công, đất nớc mới chỉ giải phóng đợcmột nữa, miền Bắc bớc vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Namtiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, kháng chiến chống Mỹcứu nớc

Nhng "miền Nam là máu của Việt Nam là thịt của thịt Việt Nam Nớc

có thể cạn, núi có thể mòn, nhng chân lý đó không bao giờ thay đổi" Đó làlời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh Vì vậy, nhân dân Phúc Thành cũng

nh nhân dân cả miền Bắc nói chung vừa sản xuất vừa chiến đấu cùng nhândân miền Nam thân yêu

Thực hiện lời kêu gọi của Bác Hồ "Không có gì qúy hơn độc lập tự do"với tinh thần "Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lợc", toàn dân Phúc Thànhquyết tâm thực hiện "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một ngời"

Đợt tuyển quân vào Phúc Thành cũng hoàn thành chỉ tiêu quân số trên giao,nhiều gia đình chỉ có một ngời con trai cũng tự nguyện cho con gia nhập quân

đội Anh Trần Nhu, bộ đội phục viên, xin đợc tái ngũ nhng khi giao quân thìlại thừa quân số, anh Nhu vẫn xin đi bằng đợc, một thời gian sau anh đã hy

Trang 29

sinh tại chiến trờng Quảng Trị Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nớc, Phúc Thành

đã có 1099 ngời vào bộ đội, 104 ngời đã hy sinh ở các chiến trờng Có 88

ng-ời đi thanh niên xung phong, 331 ngng-ời đi dân công, trong đó có 120 dân công

xe thồ, Phúc Thành rất vinh dự và tự hào có anh hùng lực lợng vũ trang nhândân Trần Văn Trí, có chị Nguyễn Thị Phúc là một trong 12cô gái thuộc đơn vịanh hùng của thanh niên xung phong ở Truồng Bồn - Phúc Thành có hai bà

mẹ Việt Nam Anh hùng đã cống hiến ngời con duy nhất cho công cuộc chống

Mỹ cứu nớc là bà Nguyễn Thị Quý và Nguyễn Thị Ban

Trong thời gian chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ,Phúc Thành là căn cứ đóng quân và làm việc của nhiều đơn vị quân đội và cơquan nhà nớc S đoàn Nguyễn Quốc Trị, đơn vị tên lửa, các chuyên gia quân

sự của Liên Xô, bệnh viện quân y 19, cơ quan UBND huyện Yên Thành, ờng Đảng Lê Hồng Phong của tỉnh, 2 kho lúa, Một kho thực phẩm của nhà n-

Tr-ớc, một kho vũ khí của quân đội Phúc Thành đã có hàng trăm ngời hiến máucho thơng binh điều trị ở bệnh viên 19 Quân và dân Phúc Thành đã ra sứcbảo vệ, giúp đỡ mọi mặt cho các cơ quan và đơn vị quân đội, không hề xẩy ramất tài sản, không có một sự xích mích nào gây ra vớng mằc giữa địa phơng

và các cơ quan, đơn vị đóng quân

Phúc Thành đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là một vùng căn cứ củakháng chiến chống Mỹ cứu nớc

Với thắng lợi vĩ đại sự nghiệp chống Mỹ cứu nớc trong niềm vui mừng

to lớn miền nam hoàn toàn giải phóng, đất nớc Việt Nam thống nhất, Đảng bộ

và nhân dân Phúc Thành nổ lực vơn lên thực hiện lời di chúc thiêng liêng củachủ tịch Hồ Chí Minh

có nhiều đình, đền, trớc kia có đình làng Diệu, đình làng Hơng Nay chỉ còn

đình hơng, có câu ghi ở cột đình: "Chính hoà triệu cơ, Bảo Thái kiến ấy" (nămChính Hoà xây nền (1680), năm Bảo Thái lập làn (1721), và "Minh mệnh BốcTrúc, Khải Định trùng tu" (Năm Minh mệnh bắt đầu xây dựng (1840) nămKhải Định tu sửa lại (1917)

Trang 30

Đình Hơng là một ngôi đình chạm trổ rất kỳ công là nơi diễn ra cáchoạt động sinh hoạt văn hoá nh họp làng, lễ hội và cứ 3 năm một lần vào cácnăm Tý, Ngọ, Mão tổ chức lễ yến lão mừng thọ các (nam) từ 60 tuổi trở lên.

Đình Hơng là ngôi đình có giá trị lịch sử văn hóa lâu đời 9gần 200năm) Khi yên bình là nơi họp làng, tổ chức yến lão, khi có giặc ngoại xâm,trong cả thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ, có nhiều cơ quan, trờng học khắpnơi trong tỉnh đã sơ tán về đây, tại ngôi đình này là nơi c trú và hoạt độngthuận lợi lại đợc nhân dân địa phơng hết lòng cu mang, giúp đỡ

Ngoài đền miếu còn có chùa lớn nh chùa Diệu, có s chủ trì ở làngPhúc Thọ có chùa Hơng, ở làng Vũ Kỳ có chùa Thiên Tạo, ở đây có tợng gỗ 3

ông phật, có giống thuồng luồng, có Hang Tiền, Hang Lúa Phúc Thành cómột họ nhỏ thiên chúa giáo ở Chòm Yên Nam, nhà thờ xây dựng xong từ năm

1912, nay mới tu sửa lại

Làng có đền của làng, xóm có đền của xóm, nên trong xã có rất nhiều

đền: Đền Cả, đền Hoàng, đền Phủ Thờ, đền Hồ, đền Thái Bão, đền Đệ Tam,

đền Quan, đến Tràng Lậm, Hòn Giang, đèn Cây Mít, đền Canh C, đền Nhà

Bà, đền cây Bứa …" Nay đang giữ đợc 2 đền lớn: Đền Phủ Thờ, đền ĐứcHoàng

* Đền Phủ Thờ (Đền thờ liêm quận công Trần Đăng Dinh)

Đền ở gần đầm sen Diệu ốc, đợc xây dựng năm 1691, gồm đền Thợng,

đền Trung, đền Hạ Cổng đền là một hệ thống kiến trúc tam quan (3 cửa vào

ra, một cửa chính, hai cửa phụ

Xây đắp công phu Trong đền có bia đá, l hơng, con nghê, con phổngbẳng đá đợc chạm khắc độc đáo Đây là đền thời liêm quận công Trần ĐăngDịnh, đợc Bộ văn hoá xếp hạng "di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật" năm1992

"Liêm quận công họ Trần, ngời xã An Lạc, còn nhỏ nhà nghèo, tínhvẫn trung trực, thẳng thắn, gặp việc can ngay, nhân dân ai cũng sợ, tiếng tămlừng lẫy, dân đợc nhờ ơn, lập miếu phụng thờ …"." [16; 121]

* Đền Đức Hoàng

Dựa theo căn cứ bản thợng khải của Tổng quan triều đề nghị vơng triềuphong sắc cũng nh lời tơng truyền, đền Đức Hoàng đợc xây dựng trong thờiTrần (1288) Đầu tiên đền đợc lập thờ hai vị thần Cao Sơn, Cao Các Đến thời

Tự Đức (1852) mới phong thêm sắc "Hoàng Long chi thần" thờ vị thần HoàngTá Thốn (còn gọi là Đức Thánh Cả) Sau dân đông lại xây dựng thêm một am

từ đầu nguồn Bàu ác lấy thắng cảnh đầm sen sơn thủy hữu tình để lu mãi về

Trang 31

sau Nhân dân tôn truyền gọi là đền Đức Hoàng Đền Đức Hoàng gồm có 3toà:

- Thợng cung xây dựng năm ất Sửu (1505) niên hiệu Đoan KhánhTrung điện xây dựng năm Nhâm Ngọ (1882) thời Tự Đức

- Hạ điện xây dựng năm Bính Tý (1936) thời Bảo Đại

Theo quốc sử cũng nh "Nhân vật chí " Nghệ Tĩnh ghi lại thì hồi đómột số làng xã ở Nghệ An lập đền thờ vọng ông Hoàng Tá Thốn tức Sát Hải

đại lãi tớng quân Ông có công lao trong cuộc kháng chiến chống quânNguyên nh trận Thủy chiến đại thắng mấy vạn quân lơng của Ô Mã Nhi trên

Trang 32

Chơng 2

Di tích lịch sử - văn hóa đền Đức Hoàng

2.1 Khái niệm về di tích lịch sử - văn hóa

Trong kho tàng văn hóa của nhân loại nói chung và Việt Nam ta nóiriêng, di tích lịch sử văn hóa chiếm tuyệt đại đa số và chính sự tồn tại của các

di tích lịch sử - văn hóa đã làm phong phú thêm đời sống của nhân loại Ditích lịch sử văn hóa chứa đựng biết bao tinh hoa trí tuệ, tài năng, giá trị vănhóa nghệ thuật cần đợc bảo tồn, khai thác, sử dụng nhằm phục vụ cho sự tiến

bộ của xã hội Tầm quan trọng trong việc giữ gìn bảo vệ khai thác sử dụngcác di sản văn hóa trong việc phát triển sáng tạo xây dựng cuộc sống mới, LêNin đã chỉ ra rằng:

"Phải tiếp thu toàn bộ nền văn hóa do chế độ t bản chủ nghĩa xã hội,phải tiếp thu toàn bộ nền khoa học kỹ thuật, tất cả những kiến thức, tất cảnhững kiến thức, tất cả nghệ thuật, không vì cái gì đó chúng ta không thể xâydựng cuộc sống xã hội cộng đồng mới đợc" [20;132]

Vậy di tích lịch sử - văn hóa là gì? Vì sao có tầm quan trọng ?

Về tên gọi chung là di tích lịch sử - văn hóa, trớc hết bởi vì di tích đợctạo ra do con ngời (tập thể hay cá nhân) trong quá trình hoạt động sáng tạolịch sử mà hình tành nên Văn hóa ở đây bao gồm cả văn hóa vật thể và vănhoá phi vật thể Về tên gọi chung, từ xa xa nhiều quốc gia trên thế giới đềugọi di tích lịch sử văn hóa là dấu tích, vết tích còn lại

Theo hiến chơng Vơnigiơ năm 1964 khái niệm về di tích lịch sử vănhóa bao gồm: "Những công trình xây dựng, những khiu di tích ở đô thị, hay ởnông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt…" cả những côngtrình bình thờng, qua thời gian đã có ý nghĩa về văn hóa" [5; 92]

ở Philíppin, theo luật về giữ gìn bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa đợccông bố ngày 18/6/1966, di tích lịch sử - văn hóa đợc gọi là di sản văn hóa vàquy định nh sau:

"Di tích lịch sử - văn hóa là các lâu đài, thánh đờng, tài liệu và vật thể

cổ đợc xếp hạng là cổ vật …" hay các phong cảnh lịch sử và cải tiến bản lịch

sử tự nhiên có giá trị đến mỗi quốc gia…" " [5; 100]

ở Nhật Bản, luật số 214 ngày 1/7/1975 về việc bảo vệ di sản văn hóa,các di tích lịch sử - văn hóa đợc gọi chung là di sản văn hóa vật chất,di sảnvăn hóa phi vật chất có quy định về di tích lịch sử - văn hóa nh sau:

Trang 33

"Những nhà cửa, các tác phẩm nghê thuật, đợc khắc…" những tài liệu

cổ và những sản phẩm văn hóa vật thể khác đều có một giá trị lịch sử và nghệthuật cao của đất nớc Nghệ thuật và kỹ thuật sử dụng trong sân khấu, âmnhạc đều cho đất nớc một giá trị lịch sử, nghệ thuật đợc gọi là di sản vănhóa phi vật thể những phong tục tập quán về ăn, mặc, ở, sinh hoạt, nhữngtín ngỡng, tôn giáo, hội hè …" những cuộc trình diễn dân gian, y phục, dụngcụ,nhà ở…".tất cả đề đợc gọi là di sản văn hoá " [5; 120 - 121]

ở nớc Nga, trong đạo luật gìn giữ và sử dụng các di tích, di vật lịch sử

đợc công bố 1976 quy định về di tích lịch sử văn hoá nh sau:

"Các di tích, di vật lịch sử là những tòa nhà, các công trình xây dựng,nhữnh nơi kỷ niệm và các đồ vật có liên quan đến những sự kiện lịch sử trọng

đại trong cuộc sống nhân dân , có liên quan đến sự phát triển xã hội …".có liênquan đến cuộc đời hoạt động chính trị lỗi lạc của các nhà hoạt động nhà nớc

và quân sự, các anh hùng nhân dân, những nhà hoạt động khoa học và vănhoá nghệ thuật"

ở nớc cộng hoà Ai Cập, luật số 117 về việc bảo vệ các cổ vật ban hànhngày 8-6-1983 thì di tích lịch sử - văn hoá đợc định nghĩa nh sau :

"Là cổ vật mọi động sản, bất động sản đợc làm ra từ các nền văn minhkhác nhau, hoặc một sáng tạo nghệ thuật, khoa học, văn hoá hoặc tôn giáocủa thời đại tiền sử, hoặc các thời kỳ kế triếp nhau của lịch sử và ngợc trở lên

100 năm …" ng toàn bộ lịch sử cũng đều đợc coi là cổ vật, các di hài ngời vành

động vật cùng niên đại và thời kỳ ấy …"." [7; 62]

ở nớc ta theo ngợc dòng lịch sử dân tộc chúng ta đợc biết : Hoạt độngbảo vệ di sản văn hoá mà cụ thể là các di tích lịch sử-văn hoá đã có từ lâu đời.Ngay từ dới các triều đại Lý - Trần - Lê - Nguyễn …".việc gìn giữ, bảo vệ, xâydựng các di tích lịch sử văn hoá dã đợc chính quyền trung ơng và địa phơngquan tâm chú ý Chẳng hạn bên triều đại nhà Lý, trực tớng nhà vua đã tiếnhành phê chuẩn phân loại các ngôi chùa thành các hạng: Tiểu danh lam, trungdanh lam và đại danh lam Đối với đình - đền, nghè miếu đợc phân loại và cósắc phong :Thợng đẳng thần ;Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần Bên cạch đócác tài liệu nh Thần phã , sắc phong …" ợc xem nh những "văn bản pháp quy"đ

đặc biệt nhà nớc phong kiến sử dụng để đạt các di tích lịch sử - văn hoá dới sựbảo hộ của nhà nớc

Dới triều đại nhà Lê nên cụ thể là triều đại Lê thánh Tông -trong bộluật Hồng Đức có điều 422 ghi rõ : Việc trừng phạt những kẻ ăn cắp, pháchuông đồng cổ…"

Trang 34

Sau cách mạng tháng 8-1945 thành công, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đạtnền móng cho sự nghiệp bảo tồn di tích lịch sử-văn hoá bằng việc ký và banhành sắc liệnh số 65 ngày 23-11-1945.Sắ lệnh trên chỉ rõ:

"Di tích lịch sử văn hoá là tài sản của nhân dân, nghiêm cấm việc pháhuỷ các Đình -Đền , chùa, miếu …"

Năm 1984 theo pháp luật bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hoá vàdanh lam thắng cảnh đợc công bố ngày 4-4-1984 ghi rõ :

"Di tính lịch sử - văn hoá là những công trình xây dựng địa điểm, đồvật tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật, cũng nh

có giá trị văn hoá khác ,hoặc liên quan đến sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quátrình dựng nớc và giữ nớc, là công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế

sự nghiệp anh hùng dân tộc, danh nhân đất nớc, là công trình, địa điểm gắnvới sự kiện tiêu biểu của thời kỳ cách mạng - kháng chiến, là địa điểm có giátrị về mặt khảo cổ học, là quần thể các công trình kiến trúc, hoặc công trìnhkiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc nghệ thuật của một hoặcnhiều giai đoạn lịch sử, danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc

địa điểm vì sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm và sự kếthợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹtiêu biểu [29]

Từ những văn bản quy định về di tích lịch sử - văn hóa đã đợc trích dẫntrên, qua tìm hiểu khảo sát và nghiên cứu, chúng tôi thấy đền Đức Hoàng ở xãPhúc Thành, huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An là một di tích lịch sử - văn hóa

có giá trị tiêu biểu cần đợc nghiên cứu, bảo vệ và phát huy tác dụng

2.1.1 Di tích lịch sử - văn hóa đền Đức Hoàng trong quá trình lịch sử 2.1.2 Nguồn gốc, tên gọi, địa điểm phân bố

- Nguồn gốc tên gọi di tích

Việc thờ cúng tổ tiên và các bậc tiền bối có công với đất nớc là một tínngỡng có từ ngàn xa của dân tộc Việt Nam, khắp trên đất nớc ta có biết baonhiêu đền thờ - nhà thờ đã đợc xây dựng để thờ tự các vị anh hùng dân tộc,

có nhiều đóng góp cho sự phát triển của xã hội …" xuất phát từ quan niệm "Sự

tử nh sự sinh, sự vong nh sự tồn", nghĩa là :Thờ phụng sau khi đã mất, cũng

nh phụng dỡng chăm sóc khi còn sống Từ xa nhân dân ta quan niệm khi cònsống các vị đã có công lao đánh giặc, bảo vệ dân làng, nhng khi mất rồi vẩnhiển linh phù hộ bảo vệ dân làng Chính vì vậy nhân dân xã Phúc Thành - YênThành nói riêng và khắp nhiều nơi trên đất nớc ta đều tự chọn cho dân làngmình một vị thần tiêu biểu để thò phụng và mong đợc phù hộ cho dân làng

Trang 35

Trớc đây để dựng đền thờ một vị thần nào đó dân làng phải trình lên nhà nớcphong kiến, sau đó nhà vua ra sắc phong cho hớng dựng đền để thờ phụng Và

từ đó dân làng xem vị thần đó là vị Thành Hoàng của dân làng mình Ngày xatrong di tích đền Đức Hoàng còn có sắc phong của các triều vua dới chế độphong kiến (xem phần phụ lục), trong đó có sắc phong dới thời vua Tự Đứcnăm thứ 33 (1880) có ghi rõ :

"Sắc Nghệ An tĩnh, Yên Thành huyện, Giai Lạc xã, Diệu ốc thôn tòngtiền phụng sự hiệu linh Đôn tịnh hùng tuấn trác vị Cao Sơn các thợng đẳng,bảo thuận trung chính thuần uý, trừng trạm Hoàng Long chi thần…"."

Nghĩa là : Đồng ý giao cho thôn Diệu ốc, xã Giai Lạc, huyện YênThành, tỉnh Nghệ An theo nh trớc đây đợc thờ phụng vị thần Hoàng Long (tớc

vị của Hoàng Tá Thốn, ngời có công đánh giặc Nguyên ở thế kỷ XIII)

Theo các nhà nghiên cứu về văn hóa tâm linh cho biết : "Thế giới tâmlinh là thế giới của cái thiêng liêng, mà ở đó cả cộng đồng tôn thờ và cố kếtlại với nhau trên cái thiêng liêng ấy [5,42] Trong sách "Lễ ký" có đoạn viết

về thần, định nghĩa nh sau : "Ngời ta chỉ chết thể xác còn lại tinh anh, tinhthần Nếu là ngời bình thờng thì tinh thần đó tan biết vào không trung, nếu màkhi ngời còn sống có nhiều tài ba công đức thì tinh thần đó là thành thần, mãimãi có tác động phù trợ ngời sống, nên ngời sống tin vào thờ phụng thần"[6,82]

ở Việt Nam nói chung, Nghệ An, Yên Thành nói riêng từ xa đến nay

đều có việc lập đền thờ để thờ các vị thần linh và xem đó nh Thành Hoàngcủa làng mình Dân gian thờng có câu :

"Trống làng nào làng nấy đánh

Thánh làng nào làng ấy thờ"

ở phần trên đã nói về việc coi các thần nh là Thành Hoàng của mỗilàng Vậy Thành Hoàng là gì ?

Sách "Trung Quốc thành bí văn hóa " viết :

"Thành Hoàng tức là thành hào Hào có nớc gọi là trì, không có nớc gọi

là Hoàng Đắp đất làm thành, đào hào làm Hoàng" [17; 92] Vậy ThànhHoàng là vị thần bảo vệ thành lũ, có nguồn gốc từ bên Trung Quốc Nhng khigiao lu, lan toả truyền vào Việt Nam, thì Thành Hoàng đều trở thành các vịthần bảo hộ, phù hộ cho làng, nên không có thành trì mà chỉ có những luỹ trexanh Đó chính là Thành Hoàng làng đợc quan niệm của ngời dân nhân thểhoá vào một vị danh nhân nào đó Chẳng hạn nh các vị thần : Lí Nhật Quang,

Trang 36

Hoàng Tá Thốn, Mai Hắc Đế…".Từ đó cúng tế thờ phụng theo sắc phong củanhà vua và xem đó là Thành Hoàng của mình.

Theo Nguyễn Duy Hinh cho rằng "Thành Hoàng làng của ngời Việt làmột vị thần đợc dân làng tôn thờ từ trớc, sau đó xin vua ra sắc phong tớc vơngvới chức danh Thành Hoàng" [17;94] Nh vậy Thành Hoàng làng thuộc về thếgiới tâm linh, có ảnh hởng và xuất pháp từ văn hóa tâm linh của ngời TrungQuốc Đó chính là các vị thần bảo vệ thành luỹ Nhng đối với Việt Nam ta,quan niệm về Thành Hoàng đã đợc nhân thể hoá Đó chính là các danh nhân,các "danh tớng lơng thần" mà khi còn sống là những ngời có tài cao, đứctrọng, có công lao đánh giặc, dựng nớc, sau khi mất đợc tôn làm ThànhHoàng, phụng thờ và che chẻ phù hộ cho dân làng Nh vậy Thành Hoàng củangời Việt Nam là biểu hiện của lịch sử, của phong tục, của truyền thống đạo lí

"uống nớc nhớ nguồn"

Nh vậy nguồn gốc của đền Đức Hoàng là do xuất phát từ nhu cầu vănhoá tâm linh của nhân dân xã Phúc Thành (trớc đây là xã Giai Lạc) nói riêng

và của nhân dân ta nói chung Đó cũng chính là đạo lí, tình cảm của con cháu

đối với tổ tiên, của hộ thế đối với các bậc tiền nhân, là nét đẹp văn hoá từngàn đời của dân tộc Việt Nam

* Tên gọi di tích

Căn cứ vào các sắc phong của di tích đã đợc dịch hiện còn giữ lại khobảo tàng Nghệ an cho biết : vị hiện thần của nhân vật Hoàng Tá Thốn có têngọi là : " …" Hoàng Long chi thần"

Lần theo các sắc phong của các triều vua từ vua Cảnh Hng năm thứ 44(1784) cho đến sắc phong dới thời vua Thiệu Trị năm thứ 3 (1843), suốt trongquá trình đó các sắc phong không hề ghi vị hiệu Haong Long chi thần (vị hiệucủa Hoanhg Tá Tốn) mà có ghi: "Cao Sơn cao các chi thần"

Nh vậy nguồn gốc ban đầu của di tích đền Đức Hoàng đợc xây dựngkhông phải thờ Hoàng Tú Thốn mà thờ Cao sơn cao các chi thần (xem phầnnhân vật đợc thờ) Mãi đến sắc phong dới thời vua Tự Đức thứ 6 (1852) có ghi

"Sắc Hoàng Long chi thần nguyên tặng Dực bảo…"."

Đến đây chúng ta có thể khẳng định rằng dới thời Nguyễn nhân dânlàng Diệu ốc - xã Giai Lạc - huyện Yên Thành mới xin triều đình cho thờHoàng Tá Thốn- tớc vị đợc ghi trong sắc phong là Hoàng Long cai thần, còntên gọi đền Đức Hoàng đã có từ trớc chỉ thờ Cao sơn cao các Tên gọi ĐứcHoàng có nghĩa là tôn kính, tôn vinh các vị thần Còn tên gọi Hoàng Long từ

Trang 37

(tức đền Hoàng Long chỉ về sau khi có sự phê chuẩn của triều vua Tự Đứcnăm thứ 6 (1852) cho dân làng Diệu ốc - xã Giai Lạc thờ Hoàng Tá Thốn

Vì vậy từ xa tới nay tên thờng gọi của di tích này có hai tên gọi

- Tên gọi nôm là Đền Đức Hoàng

- Tên chứ là: Hoàng Long Từ (Đền Hoàng Long cũng có nghĩa là đềnthờ Hoàng Tá Thốn, vì theo vị hiệu trong sắc phong thần của các triều vua cóghi: "Hoàng long ch thần"

* Địa điểm phân bố của di tích đền Đức Hoàng

Dới thời Nguyễn, đền Đức Hoàng thuộc địa phận làng Diệu ốc- xã YênLạc, huyện Yên Đồng Thành, sau đó dới triều vua Tự Đức lại đổi ra là xã GiaiLạc thuộc tổng Quan Hoá - huyện Yên Thành - phủ Diễn Châu

Sau cách mạng tháng tám 1945 đơn vị cấp Tổng đợc bãi bỏ, lúc này xãGiai Lạc đợc đổi thành đơn vị hành chính có tên gọi là xã Phúc Thành -huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An

Hiện nay di tích đền Đức Hoàng thuộc xóm Hồng Phong thuộc Diệu

ốc - xã Phúc Thành - Huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An

Qua khảo sát vị trí địa lý, tên gọi của đơn vị hành chính qua các thời kỳlịch sử của vùng đất có di tích đền Đức Hoàng ta thấy: Trong quá trình lịch sửvùng đất có di tích có thay đổi về địa danh từ Yên Lạc đến Giai Lạc, nhng vịtrí của di tích không hề thay đổi

* Đờng đi đến tham quan di tích :

Hết gạo thì có gạo buôn Đông Thành"

Tác giả "Nghệ An thập nhị huyện" đã vịnh Đông Thành một bài thơ

Trang 38

Ngô Trí Hợp tác giả "Đông Thành phong thổ ký" đã cho rằng ĐôngThành có tám cảnh đẹp, dân gian còn gọi là: Đông Thành bát cảnh, viết vềnhững cảnh đẹp đó nh sau:

"Tổ quốc giang sơn quy nhãn để

Tân niên phong cảnh nhập thi trung

Diễn Châu cổ lũy quần chiêm tống

Cao xá long cơng nhất lộ hùng

Thứu lính xuân văn tinh diệc vũ

Phùng giang thu nguyệt lãng không

Dạ sơn linh tích lu thần miếu

Bích hãi quy phàm lão văn phong

Diệu ốc liên đàm ba ảnh lộng

Thiên oai thiết cảnh thủy trình thông

Địa đa thắng cảnh kim do cổ

Điểm xuyết thùy gian tự tác đồng"

Dịch nghĩa:

Non sông nớc cũ đã thu về trong tầm mắt

Xuân về phong cảnh tóm vào trong một bài thơ

Đáng kể hơn cả là thành cổ Diễn Châu

Thể hiện tính hùng tráng cho cả một vùng lá gò

Rồng cao xá

Mây xuân trên núi thiếu lúc tạnh cũng nh khi ma

Trăng thu trên sóng sông Bùng rực rỡ cả bầu trời

Dấu thiêng núi Mộ Dạ còn đểlại ở ngôi thần miếu

Gío chiều thổi lồng lộng khi buồn về nơi cửa bích

Đầm sen Diệu ốc sóng nớc chập chờn hoa ảnh

Cảng sắt Thiên vi đờng, giao thông thủy vẫn thông

Xa cũng nh nay đất này có nhiều thắng cảnh

Huyện Đông Thành ai tô điểm đẹp làm sao

Trong chuyến hành hơng về thăm Đông Thành (nay là Diễn Châu -YênThành) du khách đợc tham quan nhiều di tích - lịch sử - văn hoá, nhiều danhthắng nh đã nêu trên, với Đông Thành bát cảnh, đừng quên một trong támcảnh đẹp đó là Hồ Diệu ốc Hồ Diệu ốc ngày nay thuộc xã Phúc Thành -

Trang 39

huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, cũng chính là địa danh có di tích đền ĐứcHoàng Tại đây di tích lịch sử - văn hoá và thắng cảnh lồng vào nhau tạo nênmột danh lam thắng cảnh nổi tiếng từ xa tới nay Về thăm đền Đức Hoàng và

đầm sen Diệu ốc, nếu du khách xuất phát từ thành phố Vinh, trung tâm kinh

tế chính trị của tỉnh Nghệ an, theo quốc lộ 1A (hớng Vinh - Hà Nội) đến ngã

ba Cầu Bùng (xã Diễn Ký) rẽ tay trái đi theo tỉnh lộ 38 về nhân dân xã YênThành Tại đây cán bộ trung tâm văn học huyện sẽ hớng dẫn du khách vềthăm di tích Từ UBND Huyện đến cầu sinh rẽ phải đi theo đờng liên hơng.Qua cầu xi măng vào xã Văn Thành, không chừng 4 km là đến di tích Di tíchcách trung tâm thành phố Vinh khoảng chừng 70 km, cách UBND huyện YênThành khoảng chừng khoảng 7 km Đến thăm di tích đền Đức Hoàng vàthắng cảnh Hồ Sen Diệu ốc đi bằng phơng tiện ô tô - xe máy đều thuận lợi

2.1.3 Quá trình xây dựng, trùng tu, tôn tạo

Ngày nay, qua khảo sát di tích, khảo sát một số tài liệu viết về di tíchcũng nh chuyện kể một số cụ cao tuổi trong làng, bớc đầu có thể khẳng

định :

- Không hề có một số tài liệu nào ghi chép cụ thể về niên đại xây dựng

di tích một cách cụ thể và đầy đủ

- Các công trình kiến trúc của di tích từ tòa Hạ điện cho đến tòa Trung

điện - thờng điện còn lại đến ngày nay không phải đợc xây dựng trong cùngmột thời gian

Các bộ phận kiến trúc nêu trên đã có sự thay đổi, sửa chữa trong quátrình tồn tại

Mặc dù hiện nay không có tài liệu ghi chép cụ thể về niên đại xâydựng, tu sửa và số lần tu sửa của di tích Nhng căn cứ vào việc bố trí mặt bằngkiến trúc của di tích, căn cứ phong cách kiến trúc - nghệ thuật trang trí trong

di tích có thể khẳng định rằng: Toàn bộ các công trình kiến trúc còn lại đếnngày nay cơ bản mang dấu ấn kiến trúc thời Nguyễn Theo truyền thuyết dângian cho biết, di tích đền Đức Hoàng có niên đại xây dựng dới thời Trần(1225- 1400) Buổi đầu xây dựng mới chỉ là một cái miếu thờ nhỏ

Ngày nay qua so sánh, đối chiếu và khảo sát một số sắc phong của đền,

đặc biệt là một số chữ Hán đợc khắc trên bộ phận kiến trúc của di tích, có thểnhận định rằng: Đền Đức Hoàng đợc xây dựng từ rất lâu Bởi thứ nhất theotruyền thuyết dân gian cho rằng, đợc xây dựng dới thời Trần Nhng không cótài liệu, văn bản nào ghi chép cụ thể

Ngày đăng: 18/12/2013, 22:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Báo cáo kết quả tổ chức lễ hội đền Đức Hoàng năm 2006 của UBND huyện Yên Thành, Trung tâm VHTT số 09 BC / VHTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả tổ chức lễ hội đền Đức Hoàng năm 2006 củaUBND huyện Yên Thành
[3]. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, NBX Đồng Tháp [4]. Phan Huy Chú (1995), Lịch triều hiến chơng loại chí (Tập 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục", NBX Đồng Tháp[4]. Phan Huy Chú (1995), "Lịch triều hiến chơng loại chí
Tác giả: Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, NBX Đồng Tháp [4]. Phan Huy Chú
Năm: 1995
[5]. Nguyễn Đăng Duy (1999), Giáo trình công tác bảo tồn di tích, Tr- ờng Đại học Văn hoá Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình công tác bảo tồn di tích
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Năm: 1999
[6]. Nguyên Đăng Duy (1998), Văn hoá tâm linh, NXB văn hoá - Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá tâm linh
Tác giả: Nguyên Đăng Duy
Nhà XB: NXB văn hoá - HàNéi
Năm: 1998
[7]. Trịnh Thị Minh Đức, Bảo tồn di tích lịch sử, Văn Hoá trờng Đại học Văn hoá Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử
[9]. Đại Nam Nhất thống chí (1970) Tập 2, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam Nhất thống chí (1970) Tập 2
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
[10]. Ninh Viết Giao (1993), Kho tàng truyện cổ tích dân gian xứ Nghệ - NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích dân gian xứ Nghệ
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 1993
[11]. Ninh Viết Giao (2000), Tục thờ thần và thần tích Nghệ An, NXB Sở Văn hoá thông tin Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục thờ thần và thần tích Nghệ An
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: NXBSở Văn hoá thông tin Nghệ An
Năm: 2000
[12]. Ninh Viết Giao (1995), Diễn Châu địa chí văn hoá làng xã, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn Châu địa chí văn hoá làng xã
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: NXBNghệ An
Năm: 1995
[13]. Ninh Viết Giao (2004), Văn bia Nghệ An, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bia Nghệ An
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2004
[14]. Ninh Viết Giao (2004), Yên Thành địa chí và làng xã , NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yên Thành địa chí và làng xã
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: NXB NghệAn
Năm: 2004
[15]. Ninh Viết Giao- Thanh Tâm (1986), Nghệ Tĩnh trong lòng tổ quốc Việt Nam, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghệ Tĩnh trong lòng tổ quốcViệt Nam
Tác giả: Ninh Viết Giao- Thanh Tâm
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 1986
[17]. Nguyễn Duy Hinh (1996), Tín ngỡng thành hoàng làng Việt Nam- NXB KHXH - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tín ngỡng thành hoàng làng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: NXB KHXH - Hà Nội
Năm: 1996
[18]. Nguyễn Đức Kiếm (1995), Hồ Sơ di tích Quỳnh Tụ - Quỳnh Lu ở Bảo tàng Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Sơ di tích Quỳnh Tụ
Tác giả: Nguyễn Đức Kiếm
Năm: 1995
[19]. Nguyễn Đức Kiếm, Một số vấn đề quan tâm trong việc bảo vệ và phát huy di tích lịch sử - văn hoá , Tạp chí văn hoá Nghệ An số 4/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề quan tâm trong việc bảo vệ vàphát huy di tích lịch sử - văn hoá
[20]. LêNin toàn tập (1977), tập 36, Bản dịch, NXB Tiến bộ [21].Ngô Sĩ Liên, Đại việt sử ký toàn th (tập 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: LêNin toàn tập (1977), tập 36", Bản dịch, NXB Tiến bộ [21].Ngô Sĩ Liên
Tác giả: LêNin toàn tập
Nhà XB: NXB Tiến bộ [21].Ngô Sĩ Liên
Năm: 1977
[25]. Vũ Tự Lập (1998), Văn hoá c dân đồng bằng Sông Cửu Long, NXB Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá c dân đồng bằng Sông Cửu Long
Tác giả: Vũ Tự Lập
Nhà XB: NXB Văn hoá
Năm: 1998
[26]. Hoàng Thục Lan, Cao Sơn - Cao Các tôn thần sự tích, bản chữHán chép tay, Th viện Nghệ An , ký hiệu A37 N.A Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao Sơn - Cao Các tôn thần sự tích, bản chữ"Hán chép tay
[27]. PGS- TS Hoàng Nam 1999, Niên biểu Việt Nam, NXB Dân tộc Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên biểu Việt Nam
Nhà XB: NXB Dân tộc HàNéi
[28]. Hiểu Ngọc (1995), Từ điển văn hoá cổ truyền Việt Nam, NXB thế giới - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn hoá cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Hiểu Ngọc
Nhà XB: NXB thếgiới - Hà Nội
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w