Là một ngời con đợc sinh ratrên mảnh đất giàu truyền thống, thực hiện đề tài này mong muốn của tôi làgóp phần lu giữ, bảo tồn nét đẹp văn hóa của quê hơng.Xuất phát từ những lí do chủ yế
Trang 1Trờng đại học vinh khoa lịch sử
Trang 2Trờng đại học vinh khoa lịch sử
Giáo viên hớng dẫn: GVC ThS Hoàng quốc tuấn
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Huệ
Lớp: 47B 3 - Lịch sử (2006 - 2010)
Vinh - 2010
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học: “Tìm hiểu di tích đền Đào
Động xã An Lễ - Quỳnh Phụ - Thái Bình”, tôi đã đợc sự quan tâm giúp đỡ, chỉbảo tận tình của thầy giáo hớng dẫn: GVC ThS Hoàng Quốc Tuấn Bên cạnh
đó, sự động viên khích lệ của gia đình và bạn bè cũng là nguồn động lực lớngiúp tôi hoàn thành khóa luận
Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hớng dẫn:GVC ThS Hoàng Quốc Tuấn cùng các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử - Tr -ờng Đại học Vinh Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã
động viên tôi trong suốt thời gian làm khóa luận
Mặc dù đã có cố gắng rất nhiều nhng do điều kiện thời gian cũng nhtrình độ còn hạn chế, khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy,rất mong đợc sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2010
Tác giả
Trang 4MụC LụC
Trang
A Mở ĐầU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của đề tài 5
6 Bố cục của khoá luận 6
B NộI DUNG 7
Chơng 1: Khái quát về xã An Lễ - Quỳnh Phụ - Thái Bình 7
1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 7
1.2 Tình hình kinh tế, xã hội 9
1.2.1 Kinh tế 9
1.2.2 Xã hội 11
1.3 Truyền thống lịch sử, văn hoá 13
1.3.1 Truyền thống lịch sử 13
1.3.2 Truyền thống văn hoá 17
Chơng 2: Di tích đền Đào Động 23
2.1 Nguồn gốc lịch sử 23
2.2 Đối tợng thờ tự 28
2.3 Đặc điểm kiến trúc, điêu khắc 35
2.3.1 Khái quát chung về kiến trúc, điêu khắc 35
2.3.2 Một số kiến trúc tiêu biểu 39
2.4 Hệ thống thờ tự 49
Chơng 3: Lễ hội truyền thống và các giá trị lịch sử - văn hoá 57
3.1 Lễ hội đền Đào Động 57
3.1.1 Lễ hội tháng giêng 57
Trang 53.1.2 Lễ hội tháng tám 60
3.1.2.1 Phần Lễ 62
3.1.2.2 Phần Hội 64
3.2 Các giá trị lịch sử, văn hoá, du lịch 72
3.2.1 Giái trị lịch sử 72
3.2.2 Giá trị văn hoá 73
3.2.3 Giá trị du lịch 79
3.3 Hiện trạng và công tác bảo tồn 79
3.3.1 Hiện trạng 79
3.3.2 Công tác bảo tồn 81
3.3.3 Một số đề xuất, kiến nghị 84
c kết luận 89
Tài liệu tham khảo 92 Phụ lục
Trang 6A Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Có những cái lớn lao đợc bắt nguồn từ những điều nhỏ bé, bình dịnhất Từ những dòng sông có thể hòa chảy thành một biển lớn, từ những chồicây có thể mọc thành những cánh rừng Văn hóa cũng vậy, để tạo thành bảnsắc văn hóa, một kho tàng văn hóa của dân tộc, xa hơn nữa là kho tàng vănhóa chung của nhân loại thì cần phải có sự đóng góp, tích tụ của nhiều nétvăn hóa khác nhau Nếu xét về phơng diện lịch sử văn hóa dân tộc thì ViệtNam là một quốc gia đa dân tộc, các dân tộc sinh sống trên khắp nẻo đất n ớcmang những sắc thái văn hóa riêng, góp phần làm phong phú, đa dạng vănhóa dân tộc Nếu xét về văn hóa vùng thì mỗi vùng miền lại có những đặc tr -
ng riêng, phản ánh rõ bản sắc văn hóa nguồn cuội mà không thể lẫn vào nhau
đợc
Có thể nói văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền là đóa hoa muônsắc màu, ngát hơng thơm tô điểm cho nền văn hóa Việt Nam Tuy mỗi dântộc, mỗi vùng miền lại có những đặc trng văn hóa khác nhau nhng lại thốngnhất trong một nền văn hóa chung Do vậy, có nhiều ý kiến nhận xét: Văn hóaViệt Nam thống nhất trong sự đa dạng
Đền Đào Động thuộc xã An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình cũng có thể coi
nh một bông hoa nhỏ trong khu vờn văn hóa rực rỡ sắc màu ấy Chảy trôi cùngdòng thời gian, biến chuyển theo những biến động của lịch sử, ngôi đền nằmkhiêm nhờng bên dòng sông cổ đầy ắp huyền thoại đã trở thành niềm tự hàocủa những ngời con quê lúa Ngôi đền chứa đựng một kho tàng văn hóa đồ sộ
về mặt lịch sử, văn hóa tâm linh và giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật
Cũng nh bao ngời con sinh ra và lớn lên trên quê hơng “năm tấn”, tôirất tự hào về di tích lịch sử, văn hóa này Ngôi đền có tự bao giờ, lịch sử hìnhthành và phát triển của ngôi đền nh thế nào, nhân vật thờ tự trong đền là ai
đã trở thành những câu hỏi mà từ lâu tôi muốn đi tìm lời giải đáp Là sinh viênkhoa lịch sử, chuyên ngành văn hóa, may mắn hơn khi tôi đợc làm khóa luận
nên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: Tìm hiểu di tích đền Đào Động, xã An Lễ,“
Quỳnh Phụ Thái Bình ” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp với mong muốn
có điều kiện đi sâu tìm hiểu di tích này
Việc đi sâu nghiên cứu đề tài này không chỉ đa lại những đóng góp vềmặt lý luận khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn Từ đề tài nhỏ nàygiúp mọi ngời có cái nhìn toàn diện hơn, đầy đủ hơn về bản sắc văn hóa làng
Trang 7quê ở xã An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình, giúp mọi ngời hiểu rõ hơn đời sốngtinh thần, tâm linh, đạo đức của con ngời nơi đây Mặt khác cung cấp cho mọingời có cái nhìn sâu sắc và toàn diện về ngôi đền Là một ngời con đợc sinh ratrên mảnh đất giàu truyền thống, thực hiện đề tài này mong muốn của tôi làgóp phần lu giữ, bảo tồn nét đẹp văn hóa của quê hơng.
Xuất phát từ những lí do chủ yếu trên, tôi chọn và nghiên cứu đề
tài Tìm hiểu di tích đền Đào Động, xã An Lễ, Quỳnh Phụ Thái Bình “ ” làmkhóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Thái Bình là vùng đất “Địa linh nhân kiệt” vốn có bề dày hàng ngànnăm văn hiến Nhiều di tích lịch sử - văn hóa đợc nhà nớc xếp hạng quốc gia
Đền Đào Động là điểm hẹn du lịch tâm linh của khách thập phơng trong vàngoài tỉnh, cùng với chùa Keo (huyện Vũ Th), khu quần thể nhà Trần (HuyệnHng Hà), đền Đào Động là một khu di tích lịch sử văn hóa từ lâu đã trở thành
đề tài thu hút đợc sự quan tâm, tìm hiểu của nhiều nhà nghiên cứu Trớc sự uylinh, vẻ đẹp trầm mặc cổ kính của ngôi đền cùng với sự li kỳ, hấp dẫn về nhânvật thờ tự mà nhiều bài viết, các công trình nghiên cứu đã ra đời
Trớc cách mạng tháng 8, có ba tác phẩm nhắc tới ngôi đền Đó là “Đạinam nhất thống chí” (Nhà xuất bản Thuận Hóa), “Thái Bình phong vật chí”(Dơng Quảng Hàm) và “Thái Bình phong vật phú” (Phạm Văn Thụ) Cả ba tácphẩm trên cung cấp cho chúng ta thông tin về vị “thủy thần làng Đào Động,tổng Vọng Lỗ, huyện Phụ Dực”
Năm 1986, đền Đào Động đợc Bộ Văn hóa công nhận là di tích kiếntrúc nghệ thuật cấp Quốc gia Từ đây, nhiều tác giả mạnh tay đặt bút nghiêncứu về ngôi đền này một cách hệ thống hơn, một mặt nhằm góp phần bảo lunhững giá trị văn hóa truyền thống, mặt khác nhằm giới thiệu, quảng bá cho
Nếu cuốn "Lễ hội cổ truyền" miêu tả chi tiết về tục đua thuyền mà cha
đề cập đến giá trị kiến trúc nghệ thuật thì đến năm 1999, Bảo tàng Thái Bình
Trang 8đã xuất bản cuốn sách "Di tích lịch sử văn hoá Thái Bình" tập hợp các danhlam thắng cảnh, di tích của vùng quê lúa Trong đó, tác giả Vũ Đức Thơm đãkhảo tả bao quát về kiến trúc nghệ thuật của đền Đào Động.
Ngoài ra, trên các tạp chí hay trong một số cuốn sách khác có nói vềngôi đền nhng cũng cha đợc hệ thống
Đến năm 2004, Đinh Đăng Tuý đã cho ra đời công trình giới thiệu về
đền gồm 3 phần:
Phần 1: Đền Đồng Bằng, một kiến trúc kì vĩ, một truyền thuyết anh hùng.Phần 2: Giới thiệu và chú giải các văn tự Hán Nôm cổ
Phần 3: Đền Đồng Bằng, các giai thoại và truyền thuyết dân gian
Có thể nói rằng đây là công trình nghiên cứu, giới thiệu đầy đủ nhất, chitiết nhất về ngôi đền từ trớc tới nay Song việc xét về cơ sở khoa học và độchính xác thì phần nào còn hạn chế Bởi lẽ tác giả su tầm, biên soạn cuốn sáchdựa trên sự tích góp những mẩu chuyện dân gian truyền ngôn, đôi khi tác giảquá thiên về cái "tôi" cá nhân mà làm mất đi tính khách quan cho công trìnhnghiên cứu của mình
Nh vậy, đã nhiều công trình nghiên cứu về đền Đào Động, song cáccông trình còn rải rác, cha có hệ thống và cha đánh giá đợc toàn diện về tầmvóc, giá trị của ngôi đền Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu trên cũng đãcung cấp cho tôi một số t liệu quan trọng để tôi hoàn thành đề tài này Tiếpthu có chọn lọc và kế thừa những thành quả nghiên cứu của các thế hệ đi trớc,với khoá luận này, tôi hi vọng sẽ góp phần nghiên cứu đền Đào Động mộtcách có hệ thống, toàn diện về quá trình hình thành, kiến trúc nghệ thuật vàcác hoạt động lễ hội, đồng thời chỉ ra đợc giá trị to lớn của ngôi đền trong khotàng văn hoá chung của dân tộc
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu:
Đối tợng nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu di tích đền Đào Động, xã An
Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trớc hết, khoá luận đề cập một cách khái quát về điều kiện tự nhiên,truyền thống lịch sử, văn hoá của mảnh đất An Lễ anh hùng - nơi bảo lu giá trịvăn hoá tâm linh đền Đào Động
Trang 9Trọng tâm nghiên cứu của khoá luận là tìm hiểu về di tích đền Đào
Động ở khía cạnh: Nguồn gốc lịch sử, đối tợng thờ tự, đặc điểm kiến trúc điêukhắc và hệ thống thờ tự, lễ hội truyền thống
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
Ngoài ta, tôi còn kết hợp với công tác đi thực tế điền giã, trực tiếp thamquan, ghi chép về đền Đào Động Đồng thời trong quá trình đi thực tế điềngiã, tôi còn lắng nghe và ghi chép những lời giới thiệu của những ngời trongban quản lí di tích, những lời kể của các ông thủ từ
Các nguồn t liệu mà tôi thu thập đợc là cơ sở để tôi hoàn thành đề tàinghiên cứu này
5 Đóng góp của đề tài
Thực hiện đề tài này, tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việcnghiên cứu đền Đào Động một cách có hệ thống và toàn diện Trong khoáluận này, tôi đã nêu đợc khái quát vị trí và vai trò của mảnh đất và con ngời
An Lễ Trọng tâm nghiên cứu của khoá luận là đi sâu tìm hiểu về di tích đền
Đào Động ở các khía cạnh: nguồn gốc lịch sử, đối tợng thờ tự, đặc điểm kiếntrúc điêu khắc, hệ thống thờ tự và lễ hội truyền thống của ngôi đền
Qua khoá luận, tôi cũng mạnh dạn đa ra một số ý kiến đóng góp củabản thân về vấn đề tên gọi của đền, về nghiệp tu bổ và tôn tạo di tích Hi vọng
Trang 10rằng những đóng góp trên sẽ có ý nghĩa thiết thực nhằm góp phần bảo tồn vàphát huy các giá trị lịch sử - văn hoá trên mảnh đất An Lễ địa linh.
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung chính của khoá luận đợc trình bày trong ba chơng
Chơng 3 Lễ hội truyền thống và các giá trị lịch sử - văn hoá
Trang 11B Nội dung Chơng 1 Khái quát vễ xã An Lễ - Quỳnh Phụ - Thái Bình
1.1 Ví trí địa lý và điều kiện tự nhiên
* Ví trí địa lý:
An Lễ là một xã nông nghiệp nằm ở phía Đông Nam huyện Quỳnh Phụ,cách trung tâm văn hoá chính trị huyện 10 km, cách thị xã Thái Bình 20 km vềphía Đông Bắc Có đờng quốc lộ 10 chạy qua chính giữa xã, nối liền các tỉnh
từ Nam Định ra Hải Phòng, rất thuận tiện cho việc đi lại, giao lu buôn bán vàphát triển kinh tế với nhiều tiềm năng
An Lễ có ví trị địa lí tiếp giáp với 4 xã:
Phía Đông: Giáp xã An Vũ
Phía Nam: Giáp xã An Vũ
Phía Tây: Giáp xã An Vinh và Đông Hải
Phía Bắc: Giáp xã An Quý
Các xã tiếp giáp An Lễ đều là những xã có tiềm năng phát triển kinh tếlớn với các ngành nghề thủ công truyền thống Điều đó tạo điều kiện giao lu,buôn bán, trao đổi sản phẩm và học hỏi kinh nghiệm giữa các xã
* Điều kiện tự nhiên:
Các tài liệu khảo cổ học, thần phả và dân gian truyền lại cho biết miền
đất này xa xa là bãi biển Nhờ phù sa sông Hồng bồi đắp mà đất đai cao dầnlên, tạo thành các vùng cao gọi là đống, vùng trũng thành đầm lầy
Các đống cao có cây mọc thành rừng, trong rừng có nhiều thú dữ Tậptục đánh bệt đuổi hổ trong dân gian nhằm diễn tả lại cảnh ngời đi bắt cá bị hổ
vồ cho ta biết điều đó Vùng đầm lầy có lúa nớc, tôm cá Dân c sống tụ c trêncác cồn đống cao, làm nghề lợm lúa nớc và đơm bắt tôm cá Song nghề lợmlúa nớc và đơm cá không ổn định, ngời dân đã biết lợi dụng nớc thuỷ triều lênxuống để cấy lúa nớc tại các vùng đất tốt (đất lạc), sau này gọi là lạc điền.Còn c dân ở vùng đầm lầy chiêm trũng 4 bề sông nớc mênh mông thì lênh
đênh trên sông nớc làm nghề chài lới kiếm kế sinh nhai Các tụ điểm dân chình thành trên các cồn đống cao mang tính cộng đồng xã hội Họ đặt tên gọicho các đống cao mà họ sinh sống theo đặc điểm địa hình, tên ngời đến đầutiên hoặc ngời đứng đầu ở An Lễ, hiện nay còn cồn đống cao nh đống Phan,
đống Hng, đống He, đầm Ông, đầm Bà
Trang 12Trong các làng ở xã An Lễ ngời ta đã tìm thấy hằng trăm tiêu bản gạchhình lỡi búa, mặt trong khắc nổi hoa văn trám lồng, rất nhiều mảnh gốm xốpvới hoa văn kẻ vạch thuộc nhóm gốm Đờng Cồ Vơn khỏi Đào Động về phíaBắc từ 2 đến 5 km, tìm thấy nhiều mộ Hán ở các xã An Quý, An Thái, tại làng
Ô Cách, xã Quỳnh Xá Bảo tàng Thái Bình tìm đợc hàng trăm mũi tên đồng, 2mũi giáo đồng, 2 lục lạc đồng, nhiều rìu đồng đợc các chuyên gia khảo cổ xếpvào nhóm đồ đồng Đông Sơn muộn Qua các phát hiện trên đây có thể nói
Đào Động là một làng cổ, nằm trong khu vực đất cổ phía bắc Thái Bình, đợchình thành cách chúng ta ngày nay khoảng 2000 năm hoặc trên dới 2000 nămmột chút
Về khí hậu:
An Lễ có khí hậu nhiệt đới gió mùa, 4 mùa phân chia rõ rệt trong năm,nhiệt độ trung bình 24 0C lợng ma bình quân 2000 mm Với khí hậu ôn hoà nênmùa nào thứ ấy, An Lễ cung cấp đủ các nhu yếu phẩm cần thiết cho ngời dântrong vùng và cung cấp một nguồn thực phẩm dồi dào cho các vùng lân cận
Về sông ngòi:
An Lễ đợc mệnh danh là mảnh đất " Cửu long quần thực ", bởi nó là tụ
điểm của các dòng sông lớn nhỏ ngày đêm uốn khúc chảy quanh, cung cấp
n-ớc phục vụ sản xuất nông nghiệp Ngày thờng các con sông này một mặt cungcấp nớc tới, mặt khác là con đờng giao thông toả đi các vùng Vào ngày lễ hội,các con sông trở thành không gian linh thiêng để ngời dân thực hiện các nghi
lễ tôn giáo Nhiều con sông đã đi vào huyền thoại với các chặng đua gay cấncủa các trai làng nh sông Vĩnh, sông Diêm Riêng làng Đào Động đã là tâm
điểm của các sông thuộc hạ lu sông Thái Bình
Phía Bắc: Có sông Luộc, sông Vĩnh
Phía Đông: Có Sông Hoá, sông Vĩnh Bảo
Phía Nam: Có sông Diêm, sông Cô
Phía Tây: Có sông Đại Lẫm, sông Tiên Hng
Về hệ thống giao thông:
Ngày nay, hầu hết các con đờng vào làng từ thôn cùng ngõ hẻm đến ờng cái to đều đợc tu bổ, xây bằng đá gạch hoặc rải đá to rộng, sạch đẹp Đặcbiệt An Lễ nằm cạnh tuyến đờng quốc lộ 10 chạy qua, nối liền 2 tỉnh Nam
đ-Định và Hải Phòng nên đây đợc coi là một u thế lớn
Tuyến đờng chính này là đầu mối giao thông quan trọng thuận lợi choviệc giao lu, trao đổi giữa các tỉnh trong cả nớc Thêm vào đó, tuyến đờng này
Trang 13chính là tuyến đờng huyết mạch dẫn đa du khách vào vãn cảnh đền Do vậy
mà con đờng này đóng góp một phần không nhỏ cho sự khai thác tiềm năng
du lịch, kinh tế của vùng
Có thể nói, An Lễ là đất "địa linh", "thiên thời, địa lợi, nhân hoà".Chính ví trị địa lý, điều kiện tự nhiên nh trên là u thế để An Lễ phát huy cáctiềm năng, thế mạnh của vùng Trên mảnh đất "địa linh" này đã quây tụ một
hệ thống đền miếu linh thiêng đồ sộ, có niên đại lâu năm Đây là một u thếlớn, giúp An Lễ thu hút đợc nhiều du khách thập phơng, tạo điều kiện cho sựphát triển kinh tế du lịch tâm linh của vùng
Trong buổi đầu, ngời dân mới chỉ biết lợm những bông lúa nớc, đánhbắt cá tự nhiên Nhng do đời sống bấp bênh, ngời dân đã biết thuần hoá giốnglúa nớc tự nhiên thành giống lúa chịu úng hạn Các giống lúa nớc cũng vì thế
mà đợc ra đời Vụ mùa là vụ chính với nhiều giống lúa Ngoài một số giốnglúa thơm, dẻo, cấy theo mùa vụ, có có giống lúa hom cổ đợc cấy quanh năm ởnhững nơi úng trũng
Từ lịch sử truyền thống xa xa ấy, dới chế độ xã hội chủ nghĩa nằm trong
sự phát triển của nông nghiệp tỉnh Thái Bình, xã An Lễ đang ngày càng hoànthiện cơ cấu nông nghiệp, xây dựng quan hệ sản xuất mới với cơ sở vật chất
kỹ thuật bớc đầu đợc xây dựng
Với tính chất tự cung tự cấp, gắn liền với nông nghiệp, thủ công nghiệpxã An Lễ có vai trò rất lớn trong sự phát triển kinh tế của toàn xã Lợi dụngvùng đất úng trũng ngời dân trồng cói làm chiếu, dẫn đến hình thành nghề làmchiếu truyền thống Bên cạnh đó xã An Lễ còn có các ngành nghề thủ côngnghiệp nh đan, xe đay, mộc, nung nồi, ấm đất, làm gạch, làm ngói
Trang 14Ngày nay ngời dân An Lễ cần cù, hăng hái trong lao động sản xuất, xâydựng quê hơng, đất nớc nên đời sống của ngời dân không ngừng đợc cải thiện.
Theo báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhội, an ninh, quốc phòng ở An Lễ, tính đến đầu năm 2009, diện tích tự nhiêntoàn xã là 502, 0 ha, diện tích đát nông nghiệp là 364, 6 ha Diện tích đất canhtác là 315 ha Diện tích đất nông nghiệp bình quân 468, 8m2/ ngời, thu nhậpbình quân 10, 36 triệu đồng/ngời/năm Toàn xã có 400 hộ buôn bán, trong đó
có 120 hộ buôn bán ổn đỉnh, doanh số cao còn lại 280 hộ vừa và nhỏ
Sự phát triển đồng đều giữa các ngành nghề đã đem đến sự cân bằngtrong cơ cấu kinh tế Cụ thể:
Nông nghiệp chiếm 39, 5%
Tiểu thủ công nghiệp chiếm 28, 0%
Thơng mại, dịch vụ, du lịch chiếm 32, 5%
Nhìn chung, An Lễ có đầy đủ các điều kiện về tự nhiên và con ngời đểphát triển nền kinh tế đa dạng và ổn định Nhân dân An Lễ sống chan hoà,giản dị, luôn kiên cờng, bất khuất trớc thiên tai, dịch hoạ, cần cù, siêng năngtrong lao động sản xuất, đoàn kết, yêu thơng nhau, giúp đỡ nhau vơn lên trongcuộc sống Ngời dân trong quá trình hội nhập một mặt kế thừa, giữ gìn và pháthuy truyền thống, những kinh nghiệm của cha ông đã để lại, mặt khác tiếp thunhững tinh hoa văn hoá mới để xây dựng cuộc sống của địa phơng ngày càngphát triển đa dạng và phong phú
Trang 15cả hơn bây giờ bội phần, cá he còn vào tận bến sông, vì thế còn có địa danh
đống He truyền đến ngày nay
Trên hai địa bàn c trú đầu tiên là xóm Đào và xóm Lãng của Đào Động,lúc đầu dân c còn tha thớt Đến giữa thiên niên kỷ thứ nhất thì dân các miền
về đây sinh tụ khá đông đúc, bớc đầu hình thành hơng Đào Động
Từ đầu triều Lý (1010) với chính sách khuyến nông của Vơng Triều,dân trang Đào Động, An Lễ có bớc vơn mình chuyển hẳn từ ng nghiệp sangnông nghiệp Ngời dân vì thế sống định c trong các xóm làng, dần hình thànhquan hệ láng giềng và quan hệ huyết thống trong khuôn viên luỹ tre làng
Cho đến nay, An Lễ đã nhiều lần thay đổi tên gọi và địa giới hànhchính Trong cuốn “Địa danh Thái Bình xa và nay” do Sở Văn hoá thông tinThái Bình xuất bản tháng 3 năm 2005 cho biết: “Trớc cách mạng tháng8/1945, các làng Đào Động (còn có tên Đồng Bằng), Đồng Hng (làng Rễ),Giới Phúc (làng Bởi) thuộc tổng Vọng Lỗ, huyện Phụ Dực, phủ Thái Bình Saucách mạng tháng Tám, 3 làng đều thuộc Tân Tiến, huyện Phụ Dực
Năm 1955, xã Tân Tiến tách thành nhiều xã trong đó Đào Động, ĐồngHng, Giới Phúc lập thành xã An Lễ
Năm 1990, xã An Lễ chia thành 8 xóm
Ngày 4/4/2003, UBND tỉnh ra quyết định số 87/20003/QĐ -UB thànhlập các thôn
1 Thôn Đồng Phúc (xóm 1, 2 giới Phúc), có 130, 5 ha diện tích tựnhiên và 1634 khẩu
2 Thôn Đào Động (xóm 3 Đào Động), có 78, 5 ha diện tích tự nhiên và
1058 khẩu
3 Thôn Đồng Bằng (xóm 4, 5 Đào Động), có 156, 2 ha diện tích tựnhiên và 2032 khẩu
4 Thôn Hng Hoà (xóm 6, 7, 8 Đông Hng, Giới Phúc), có 136, 8 ha diệntích tự nhiên và 1554 khẩu
Tổng cộng xã An Lễ có 4 thôn với 502, 0 ha diện tích tự nhiên và 6 278nhân khẩu” [15, 349]
Ngời dân An Lễ sống chan hoà, tình cảm, cùng đoàn kết xây dựng quêhơng giàu đẹp Trong quá trình phát triển, ngời dân luôn có ý thức giữ gìn vàphát huy những giá trị truyền thống của cha ông; ngời ngời, nhà nhà nêu caotinh thần đoàn kết, chung tay, góp sức xây dựng một xã hội hội giàu đẹp, phát
Trang 16triển bền vững trên quê hơng mình Do vậy, có thể nói, tình hình xã hội của
An Lễ là tấm gơng phản ánh đời sống của ngời dân nơi đây
1.3 Truyền thống lịch sử - văn hoá
1.3.1 Truyền thống lịch sử
Trong suốt chiều dài của lịch sử, An Lễ đã cùng nhân dân Thái Bìnhviết lên những trang sử hào hùng của dân tộc Đặc biệt, trong hai cuộc khángchiến trờng kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân An Lễ đã huy
động sức ngời, sức của, góp phần chung lng đấu cật vào cuộc chiến với tinhthần: "Mỗi ngời dân là một chiến sỹ, mỗi làng xóm là một pháo đài" Truyềnthống yêu nớc, chống ngoại xâm kiên cờng, bất khuất ấy chính là bản anhhùng ca đợc các thế hệ trớc tạo dựng lên và thế hệ đi sau có nhiệm vụ bớc tiếpnhững trang sử hào hùng ấy
Hôm nay và mai sau, truyền thống yêu nớc sẽ mãi mãi là tấm gơngsáng, là bài ca bất hủ, nh một ngọn lửa hừng hực cháy không bao giờ tắt
Truyền thống yêu nớc, đấu tranh chống giặc ngoại xâm của ngời dân
An Lễ đợc hun đúc từ những buổi đầu c dân về đây lập làng, lập xóm Đầutriều Lý (1010) với chính sách khuyến nông của vơng triều, dân trang Đào
Động có bớc vơn mình, chuyển hẳn ng nghiệp sang nông nghiệp Sự kiệnchính biến: Quách Bốc đánh chiếm kinh thành Thăng Long, gia đình Trần Lý,Trần Thủ Độ, Trần Tự Khánh, Trần Liễu mộ hơng dùng Long Hng (TháiBình), Thiên Trờng (Nam Định) cất quân đánh dẹp, rớc Lý Cao Tổn về kinh
Đến năm 1211 phù Lý Huệ Tôn lên ngôi, thanh thế họ Trần càng mạnh Đểchuẩn bị cho việc lớn, Trần Thị Dung mở ấp ở vùng Khuông Phù, Phù Ngự(xã Liên Hiệp, Bắc Hng Hà), Trần Liễu về thị nhậm tại vùng Hà Côi (Phụ Ph-ợng) A Sào cách Đạo Động 6 km, xa là bản doanh của Phụng Kiều vơng TrầnLiễu, ông đã xây dựng 4 trang: Đào Động - Lộng Khê - Tô Đê - A Sào ven l uvực sông Hoá, sông Vĩnh thành 4 trung tâm kinh tế phồn thịnh đợc coi là " Tứ
cố cảnh triều Lý "
Từ giữa thế kỷ XIII, Đào Động là điểm son đợc Trần Hng Đạo cực kỳquan tâm Sách "Ngàn năm đất và ngời Thái Bình" chép: "Theo lệnh của Quốccông Tiết Chế Trần Hng Đạo, tớng Yết Kiêu đã đa cả đội quân thuỷ lừng danhdới trớng về chia đóng ở Ngã ba Nông (xã Điệp Nông, Hng Hà) ở các bến bãicủa sông Khúc (đoạn sông Luộc chảy từ địa phận Hng Hà sang Quỳnh Phụ) cách Hải Thị không bao xa để chuẩn bị "làm thanh viện, đồng thời chặn đánh
Trang 17quân tiếp viện của quân Nguyên" Xuôi dòng Luộc - Hoá sâu hơn nữa về phía
Đông lại có cả một khu căn cứ lớn của nhà Trần: " Đào Động, Lông Khê, Tô
Đê, A Sào - Phụ Phợng, Lý Triều tứ cố cảnh" Bốn nơi có cảnh sắc phongquang, dân c trù mật, thế đất cao ráo đều đợc xây dựng thành nơi tập trungquân lơng quan trọng A Sào với một bên là sông Luộc, một bên là sông Hoá,nơi điền trang xa của phụng Kiền Vơng Trần Liễu (cha Trần Hng Đạo) Mặtphía Bắc đại bản doanh có tiền đồn Lộng Khê (xã An Khê, Qùynh Phụ) đợcgiao cho Phạm Ngũ Lão -vị tớng nổi tiếng quê làng ủng (Hải Hng) cai quản vàdùng làm nơi luyện tập của cả hai đạo binh thuỷ và bộ" [12, 174]
Hiện nay, trên địa bàn xã An Lễ vẫn còn di tích miếu Ông (miếu GiápLục) thờ điện tiền tớng quân Phạm Ngũ Lão và quận chúa - phu nhân AnhNguyên Trần Thị Thái Tơng tuyền bà quê làng Đào Động, đợc Trần Hng Đạonhận làm con nuôi, sau gả cho tớng quân Phạm Ngũ Lão Bài vị của tớngNguyễn Chế Nghiã cũng đợc tìm thấy tại đây Bức bài vị ghi "Trần Triều phòmã Đô uý Nguyễn Chế Nghĩa" Tơng truyền tớng quân Phạm Ngũ Lão đợcgiao coi luyện quân thuỷ, đô uý Nguyễn Chế Nghĩa coi luyện quân bộ Các
điểm tập trung quân ngày xa của các binh tớng thời Trần nay vẫn còn nguyêndấu tích đó là: Đình Dất (đình Sinh), đền Bến, đình Bơi, đầm Bà đều là bến
đóng quân về và tiễn quân đi
Năm 1320, điện suý Phạm Ngũ Lão mất, tiếp đến Đô uý Nguyễn ChếNghĩa qua đời, các tớng nhà Trần từng có mặt ở căn cứ Đào Động đều đợc dânlập đền miếu thờ phụng Đào Động xa kia từng đợc mệnh danh là "Bức thành
đồng" trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Xuôi bãi Vật (cầu Vật)
100 m là khu đầm Bà chạy dài qua làng Đào Động bao quanh làng Giới Phúc,vơn tới Đống Tâm (Đại Điền, An Vũ) qua làng Lạc cổ xã An Dục Đầm Bà làmột khu dầm lầy sú vẹt, lau, lác mọc ngút ngàn Khu thực ấp quân lơng của bàHoa Đào Anh Nguyên quận chúa Trần Thị Thái và cũng là nơi neo đỗ, dấuthuyền của dại quân nhà Trần Cạnh cầu Vật bây giờ, thời trớc là một dải đấtcao ráo, quân sỹ nhà Trần chọn làm sới Vật, nơi luyện tập võ thuật của quânThánh Dực do Trần Hng Đạo quản lĩnh, tớng quân Phạm Ngũ Lão trực tiếpchỉ huy Sau này, thực dân Pháp mở quốc lộ 10, làm cầu qua sông đặt tên làcầu Vật và cầu Vật có tên từ đấy
Đến niên hiệu Trùng Hng (1285), thời vua Trần Nhân Tôn đến các triềuAnh Tôn (1293-1314), Minh Tôn (1314-1329) sau đại thắng trận Bạch Đằng(mùa hè 1288), để tri ân dân binh Đào Động đã nhờng cơm, sẻ áo nuôi quân,
Trang 18nhà nhà là trại lính, xóm xóm là quân doanh, Trần Triều phò mã Đô UýNguyễn Chế Nghĩa và điện tiền tớng quân Phạm Ngũ Lão cùng vua Trần đã utiên hỗ trợ việc khẩn điền Nhiều binh sĩ trong quân doanh ở lại làm dâu, rể, đ-
a thân nhân về đây dựng xây quê mới, khai khẩn đất hoang Một khu đất giànhriêng cho quân tớng thời Trần khai khẩn, cải tạo và trồng lúa gọi là cánh đồngQuan và đồng Quan còn đến ngày nay Từ đó, đồng ruộng ngày càng mở rộng,không còn đất hoang Họ đã cùng ngời dân An Lễ lập nên các trang Đào,Lãng, Cúi, Dất, sau đó phát triển thêm các khu: Trung, Cầu, Đông, Đoài Từ
đây làng Đào Động trở thành " Đào Động bát trang " một làng giàu có, nổitiếng của lộ An Tiêm Các làng Giới Phúc, làng Đồng Phúc cũng ngày một
đông đúc
Trong suốt 20 năm chống giặc Minh xâm lợc, Đào Động, là căn cứ lớncủa tớng Phạm Bôi quê ở xã An Bài Nhân dân lúc ấy cùng các ông Phạm Ru,Phạm Châu, Phạm Quý, Phạm Lu giữ cửa sông Vĩnh, đánh nhau với quânMinh Năm 1417, gần 100 trai làng đã theo thủ lĩnh Phạm Bôi vào Lam Sơn(Thanh Hoá) tụ nghĩa, dự lễ thề Lũng Nhai, theo Bình Định Vơng Lê Lợi 10năm đánh đuổi giặc Minh
Câu thành ngữ truyền miệng "Trai Đào Động" cũng đợc nhân dân phát
ra từ đây Nói đến trai Đào Động ý chỉ sự uy linh, sức mạnh và tinh thần dũngcảm của trai làng
Dới triều Mạc Mậu Hợp, Đào Động và Tô Xuyên là hai tiền đồn quantrọng của phòng tuyến Đông Quynh (chạy từ Quỳnh Phụ sang Hng Hà) của bộthợng th Vũ ảm
Trong phong trào Cần Vơng chống Pháp (thế kỷ XIX), có gần 100 dânbinh Đào Động đã giúp Đội chuẩn xây đồn Cổ Tiết (An Vinh) để giữ phíaTây làng xã, cùng Đội Duẩn xây dựng đồn Vũ Hạ (An Vũ) để giữa phía
Đông làng và nhiều lần đánh trả quân tuần tiễu nguỵ quyền các đồn QuỳnhCôi, Thuỵ Anh
Dới ngọn cờ của Đảng cộng sản Việt Nam, ngay từ những năm 1938,
Đào Động đã có sơ sở cách mạng
Năm 1950 quân viễn chinh Pháp sử dụng khu đình Chợ làng Đào Độnglàm phủ lỵ huyện Phụ Dực, đóng bốt tại cầu Nghìn (An Bài), ngã t môi (AnBài), Đình Chợ, cầu Vật (Đào Động) với quân số trên 1000 lính Pháp, Nguỵ.Quân dân Đào Động bám đất chiến đấu đến cùng
Trang 19Ngày 23/6/1954, du kích xã đã cùng bộ đội tiểu đoàn 64, đại đoàn
Đồng Bằng hạ bốt cầu Vật, làm quân địch phải chạy về Kiến An
Trong kháng chiến chống Mỹ, hàng trăm thanh niên Đào Động lớp lớptòng quân Tại địa phơng trung đội trực chiến của thôn đã kết hợp với bộ độihuyện chiến đấu bảo vệ cầu Vật trên quốc lộ 10 Ngày 20/8/1969 đã bắn rơimáy bay phản lực của Mỹ Với thành tích đó, đơn vị đợc Quốc hội tặng Huânchơng chiến thắng hạng II
1.3.2 Truyền thống văn hoá
Nhân dân An Lễ trong lao động sản xuất, trong đấu tranh với thiênnhiên, với địch hoạ đã xây dựng đợc tình yêu thơng đùm bọc, sự đoàn kết thuỷchung Nhờ những đức tính tốt đẹp đó, nhân dân An Lễ mới chiến thắng đợcthiên nhiên, cùng nhân dân trong vùng trị thuỷ đợc sông Hoá, sông Luộc, đào
đợc sông Diêm Hộ đời nhà Mạc, xây dựng làng xã trù phú, chiến thắng đợcgiặc ngoại xâm, đấu tranh chống áp bức bóc lột, đạt kết quả Sự đoàn kết ấy đ-
ợc thể hiện rõ nét nhất trong cộng đồng làng xã là sự giao chạ của làng Đào
Động với làng Nuồi (Thanh Miện - Hải Dơng) vào dịp lễ hội
Tơng truyền, thời Trần có 2 tiểu tớng, một ngời là tâm phúc của YếtKiêu (quê Ninh Giang - Hải Dơng), một là ngời túc hạ tin cậy của Phạm NgũLão Trải qua những phen sống chết có nhau, cùng vào sinh ra tử, xông phatrận mạc, họ cùng kết nghĩa anh em, tình thân hơn máu mủ ruột già Khi chiếntranh kết thúc, họ phải trở về quê hơng Trong buổi chia tay, hai ngời đã thểrằng khi về làng sẽ khai cơ lập nghiệp, xây dựng xóm làng trù phú và hàngnăm hai làng sẽ tổ chức giao chạ, thi bơi thuyền để kỷ niệm những ngày cỡithuyền theo vua đánh giặc Khi trở về quê họ giữ đúng lời hẹn ớc ấy Ngời về
Đào Động lập đền thờ Phạm Ngũ Lão, ngời về làng Nuồi lập đền thờ YếtKiêu Hai ngời đại diện 2 làng thờng xuyên đến thăm viếng lẫn nhau Mộttrăm năm sau, một số con cháu họ Đinh từ Đào Động chuyển c lên ở làngNuồi nay phát triển trên 3000 khẩu Hàng năm, con cháu họ Đinh từ làngNuồi (Thanh Miện - Hải Dơng) vẫn về lễ hội và dự thi đua thuyền
Cũng từ xa xa ấy, ở An Lễ hàng năm có nhiều lễ hội, trong lễ hội có các
bộ môn cổ truyền nh hội vật, hội bơi trải ở làng Đào Động, các trò đánh đu,
đuổi cuốc, múa lân và trò làm nhọ mặt ở làng Giới Phúc Trớc năm 1945, xã
có 3 làng: làng Đào Động (còn gọi Đồng Bằng), làng Giới Phúc (còn gọi làlàng Di Phúc hay làng Bởi), làng Đồng Ông (còn gọi là làng Đồng)
Trang 20Riêng làng Giới Phúc, nếu xét về phong tục, tập quán sinh hoạt văn hoáthì đã có một số lợng phong phú các tập tục dân gian đã trở thành truyềnthống đó là tục đuổi cuốc, tục văn tế vặn con tràng, phong tục chia trầu cau,tục cúng cơm mới, xôi mới, trò múa lân
Tục đuổi cuốc đợc đờng Độ Giám (chức quan coi quân pháp trongquân đội) khởi xớng Tơng truyền: Sau khi giúp vua Hùng đánh thắng giặctrên tám cửa biển nớc Nam, Vĩnh Công Đại Vơng xin vua Hùng cho về khaikhẩn tại quê nhà, tức là Trang Động Đào Trong trớng có quan Đô giám họ Đ-ờng xin về khai phá vùng Đông Bắc trang Động Đào, lập nên thôn Đông, vìthế ông trở thành thành thành hoàng của làng Khu vực thôn Đông có hai mặtgiáp đầm trũng, có rất nhiều chim cuốc sinh sống Cứ vào dịp tháng 3 đầumùa hè là dịp chim cuốc gọi bạn, báo hè sang khắp xóm làng
Đờng Đô Giám khởi xớng tục đuổi cuốc nhằm mục đích tập dợt sự hợpsức để tạo ra sức mạnh cộng đồng, chống lại thú dữ, hoả hoạn, giặc giã Nócũng mô phỏng cách những c dân đầu tiên đến làng Giới Phúc đánh đuổi thúdữ, khai khẩn đất hoang Tục đuổi cuốc đợc tổ chức hàng năm, cứ vào giờNgọ ngày 10/3 âm lịch làng Giới Phúc đợc chia thành 5 giáp: Giáp Đông,Giáp Tây, Giáp Nam, Giáp Trung và Giáp Bắc Các giáp cử ngời tham giadùng thanh la, trống, vung xoong, nồi đánh liên hồi, dồn cuốc về giáp Trung.Ngời của giáp nào bắt đợc cuốc đầu tiên thì làng có thởng và năm đó đợc coi
là năm làm ăn may mắn, phát tài của cả giáp Sau đó mọi ngời xông vào tranhnhau giằng xé con cuốc bắt đợc, giáp nào nhận đợc phần đầu thì đợc coi là gặpmay Các giáp mang phần giành đợc về sơ chế và mang ra đình Hơng hộidùng kim chỉ khâu con cuốc trở lại hình hài bình thờng, trịnh trọng đặt lênmâm cúng tế
Ngay từ tháng 8, tháng 9 âm lịch, các giáp đã cử ng ời chọn nuôi và vỗbéo một con lợn Đến ngày làng nào đám, ngả lợn chia phần: mỗi xuất đinh
đợc chia một phần thịt Cách chia phần nh sau: lợn ngả ra, lọc hết xơng, xâuvào lạt tre, luồn vào một cây sào treo ở sân đình sao cho các phần có trọng l -ợng và nạc, mỡ bằng nhau Cứ theo sổ đinh đọc tên, đến l ợt ai thì lên nhậnphần Vì các xâu thịt đợc luồn vào sào tre nên không ai đợc chọn phần ngonhơn mà lấy Nếu năm nay đọc từ đầu sổ đinh trở xuống thì sang năm lại đọc
từ cuối sổ đinh đọc lên Đây là cách chia phần khoa học và tạo sự công bằng.Lòng thủ, chân giò, xơng của con lợn mổ ra, đợc nấu nớng, sắp cỗ mời
Trang 21những ngời tham gia đuổi cuốc và những chức dịch trong giáp ra đình thừalộc
Khi làng vào tế, các giáp cử ra một đội đinh tráng, đợc uống rợu ban,giả làm đàn chim cuốc, phục ở sân đình theo sau cuốc đầu đàn vỗ cánh bay vềphơng đông, tây, hay phơng nào theo lời văn xớng tế Trống phách, thanh la,thúc liên hồi tạo nên khí thế sôi động
Tục tế vặn con tràng: Khi làng mở hội ngày 10/3, lúc chủ tế, xớng tếlàng cử một ngời có đức cao vọng trọng dùng "con tràng" đợc đẽo gọt khéoléo bằng tre, vặn xoắn vào nhau trớc bàn thờ tế Theo di ngôn cổ nhân để lại,
đầm Bà có căn chứ thuỷ quân của nhà Trần, do vậy rất nhiều dây thừng, dâychão để neo đậu chiến thuyền Một bộ phận c dân đợc dạy nghề và phân côngchuyên làm nghề đánh thừng, chão phục vụ việc quân Ông tổ nghề đánhthừng đợc tôn vinh làm tổ nghề, đợc thờ bài vị tại đình làng Tục vặn con tràng
là mô phỏng, ghi nhớ lại công lao của ngời có công truyền nghề đánh thừng,vặn chão của làng
Phong tục chia trầu cau: từ xa xa, mặc dù lễ giáo phong kiến còn rấtnặng nề, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, nhng ngời làng Đồng Phúc đã cónhững tiến bộ nhất định Trong quá trình lao động sản xuất, trai gái trong làngphải lòng nhau, nếu môn đăng hậu đối, đợc cha mẹ đôi bên làm lễ dạm hỏi Lễvật là những sản phẩm rất đời thờng, chỉ mang tính ớc lệ nh trầu, cau Quy
định của làng tiến bộ nhân văn ở chỗ những cặp trai gái dù có nghèo hèn vẫn
có thể xây dựng gia đình với nhau Sau lễ dạm hỏi, cha mẹ đôi bên mang theomột quả sau, một lá trầu đến tận nhà gặp các bậc cao niên, bà con trong thôn
để báo cáo việc hứa hôn của con cái Kể từ đó, đôi trai gái coi nh đã có nơi, cóchốn, cả làng cùng tôn trọng việc dạm hỏi của hai bên gia đình
Tục cúng cơm mới, xôi mới: những c dân đầu tiên của làng Đồng Phúc
là những ngời sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nớc, do vậy từ xa xa
ng-ời Đồng Phúc đã tôn cây lúa lên thành "thần lúa" Hàng vụ, khi công việc thuhoạch mùa màng đã tạm ổn, ngời Đồng Phúc xay giã những hạt thóc đầu tiên,chọn ra phần ngon nhất, nấu nồi cơm mới nhất để cúng "thần lúa" và cúng giatiên Thờng thì mùa vụ, những giống lúa nếp thơm nhất đợc cấy để nấu xôicúng" thần lúa" và gia tiên để cầu cho năm sau, mùa sau ma thuận gió hoà,mùa màng tơi tốt
Tục cúng cơm mới, xôi mới mang đậm nét nền văn minh lúa nớc,không những thể hiện khát vọng mùa màng no ấm mà còn cho thấy ngời Đồng
Trang 22Phúc luôn sống thuỷ chung, có tình có nghĩa, biết tri ân những ngời mang lạinhững điều tốt đẹp cho mình
Trò múa lân: Trò múa này mô phỏng cảnh th hùng giữa những con vật
đợc ngời xa cho là cao quý nhất: long, li, quy, phợng Trong trò múa lân ngời
xa mô phỏng các sinh hoạt cộng đồng thông qua việc tự chọn cho mình mộtcon vật cao quý trong " tứ linh " để thể hiện Đặc sắc là các tích long mã vờncầu, ly - phợng tranh hùng, Võ Tòng đả hổ Trò múa lân đợc tổ chức khi làng
có việc lớn, đợc múa tại sân đình, trong các nhà đám Theo thời gian, trò múalân đợc mai một cho đến năm 1981, xóm Bởi đã khôi phục và lu giữ đến ngàynay Kỹ xảo làm các con vật hoá linh cũng ngày một tinh xảo hơn, tuy nhiên
kỹ thuật múa thì đã phần nào bị mai một
ở làng Đào Động có hội vật đợc lu truyền, bảo lu từ thời Trần cho đếntận ngày nay Xới vật sát gần cầu Vật bây giờ có cả một tiến trình lịch sử vàrất vinh quang Bãi vật của tớng sĩ nhà Trần xa, nay trở thành bãi vật của trailàng Đào Động Khi chiến tranh chống quân Nguyên kết thúc, các tớng giảingũ ở lại làng nh Đức đồng ông Trần Nhân Huệ (tức Trần Thánh D), Đô uýNguyễn Chế Nghĩa và tớng quân Phạm Ngũ Lão đã khích lệ phong trào vật võ
ở Đào Động Các siêu đô vật ở các nơi ít ai địch nổi và câu thành ngữ "trai
Đào Động" một lần nữa đợc truyền lại cho mãi đến nay
Vật, bơi trải, đánh đu, đuổi cuốc, múa lân vừa là bộ môn luyện tập thểthao, vừa là phơng pháp ôn luyện binh đao, khoẻ để sẳn sàng chiến đấu chốnggiặc ngoại xâm, đồng thời cũng tạo ra khí thế hăng say trong lao động sảnxuất Lễ hội đã trở thành truyền thống của các làng ở An Lễ Lễ hội hàng năm
đợc tổ chức vào các ngày 10 tháng giêng âm lịch và từ 20/8 đến 26 /8 Lễ hộitháng tám không biết từ khi nào đã thành câu ca:
"Dù ai buôn xa bán xa Hai mơi tháng tám giỗ Cha thì về
Trang 23Vơng Trần Quốc Tuấn cùng các danh tớng Phạm Ngũ Lão, quận chúa phunhân Anh Nguyên Trần Thị Thái Đô uý Nguyễn Chế Nghĩa, các Hoàng thânquốc thích nhà Trần có công lao chống giặc Nguyên Mông và khai lập nên 8trang Đào Động
Ngày nay, trên mảnh đất xã An Lễ, các di tích và những địa danh cũng
nh các lễ hội trong năm còn mãi lu truyền Những truyền thống tốt đẹp trênthể hiện tinh thần dựng nớc gắn liền với giữ nớc Cùng với nhân dân cả nớcnhân dân An Lễ qua nhiều thế hệ, bằng mồ hôi và công sức của mình đã làm
ra những của cải vật chất, văn hoá và không ngừng tham gia chiến đấu bảo vệ
Tổ quốc Nhng do truyền thống ấy đợc xây dựng trong chế độ xã hội phongkiến và đế quốc Pháp thống trị nên bên cạnh mặt tốt đẹp không tránh đợcnhững hạn chế, thậm chí những tiêu cực cần đấu tranh của chế độ phong kiếnthực dân Do t tởng tiểu nông, đầu óc t hữu, cục bộ, vì không biết chữ, cả thời
kỳ dài sống trong tối tăm, nô lệ, dới chế độ phong kiến, nhân dân An Lễkhông tránh khỏi sự mê hoặc, cám giỗ, tin vào thần thánh và sự mê tín dị
đoan, các hủ tục lạc hậu khác chi phối
Tuy nhiên, chúng ta cần khẳng định rằng truyền thống văn hoá ấy đãgóp phần không nhỏ và sự đa dạng trong kho tàng văn hoá của dân tộc Trongthời đại ngày nay, cùng với sự phát triển toàn diện của xã hội, nhân dân An Lễ
đã ngày càng củng cố xây dựng cho mình một nền văn hoá đậm đà bản sắcdân tộc Bên cạnh đó tiếp tục trau dồi, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa vănhoá bên ngoài để góp phần làm phong phú hơn văn hoá Việt
Trang 24lu mờ dẫn đến mất đi tên gọi cổ xa Tuy nhiên, với một công trình nghiên cứukhoa học thì việc xác định cho đúng tên gọi của di tích là việc làm cần thiết và
có ý nghĩa lớn
Đền Đào Động cho đến nay có nhiều tên gọi khác nhau, đền ĐồngBằng, đền Đức Vua Cha, đền Bát Hải Động Đình, đền Đức Vua Các tên gọinày đợc lu truyền trong dân gian và trong các tài liệu thành văn đều khôngthống nhất Vậy để hiểu cho đúng tên gọi của đền, chúng ta sẽ tìm hiểu nghĩacủa các tên gọi nêu trên
Trên bản đồ địa chính Việt Nam xuất bản năm 1975, bắt đầu ghi địadanh làng Đồng Bằng thuộc huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình và ngôi đền lớnnhất của ngôi làng cũng đợc truyền ngôn với tên là đền Đồng Bằng
Vào thời Trần, Đào Động nằm trong trung tâm căn cứ lu vực sông Hóacủa quốc công tiết chế Hng Đạo Đại Vơng, khi trấn giữ khu vực sông Luộc,sông Hóa Trần Quốc Tuấn đã đến nơi này vãn cảnh, bái yết ngôi đền Đào
Động Lúc đó ngôi đền còn nhỏ bé, ông nhận thấy nơi đây là một thế mạnh củavùng Đào Động, đặc biệt là trong giao thông thủy chiến Vì vậy Hng Đạo Đạo
Đại Vơng đã sai tớng Phạm Ngũ Lão và phò mã Đô úy Nguyễn Chế Nghĩa, ớng quân Trần Nhân Huệ về đây đắp thành lũy, lập căn cứ ở trang Đào, trangLãng của Đào Động Đây là hậu cứ chống quân Nguyên xâm lợc vững nh thành
t-đồng, nên làng Đào Động còn có tên gọi là “Đồng Bình” có nghĩa là bức chắnbằng kim loại trên phòng tuyến chống quân xâm lợc Nguyên Vì không căn cứvào tự dạng và nội dung chữ, các quan chức thời hiện đại (1975) do chữ “Bình”(Tức là “bức chắn”) đồng nghĩa với chữ “Bình” (có nghĩa là “Đồng Bằng”) nênchữa tên làng mới là Đồng Bằng (có nghĩa nôm là làng ở Đồng Bằng) Cứ nh
Trang 25vậy, theo sự chảy trôi của dòng thời gian và cùng với sự truyền ngôn của dângian, ngôi đền mang tên Đồng Bằng
Ngoài tên gọi Đồng Bằng, đền còn đợc ghi vào biển kẻ, bảng văn vớitên gọi khác Trên bảng văn cổng chính đền đề bốn chữ Hán: “Bát Hải Động
Đình”; trên bản sao thần tích của đền có dòng chữ ghi ở bìa nh sau: “Bát Hải
Động Đình ngọc phả lục” Cho đến nay, cũng có nhiều ngời giải thích sai lệch
về tên gọi này “Bát Hải” có nghĩa là tám biển, ý muốn chỉ chiến công củaVĩnh Công xa, đánh tan giặc trên tám cửa biển nớc Nam, sau khi chiến thắnglại đợc vua Hùng giao cho trọng trách gìn giữ và khai khẩn, xây dựng tám cửabiển nớc Nam “Động” có nghĩa là 1 đơn vị hành chính cấp thấp dới thời Lý -Trần “Đình” vốn dĩ có nghĩa là “dừng”, là nơi nghỉ của triều thần hoặc nhàVua khi đi kinh lý Khái niệm này xuất hiện thời nhà Lý thế kỉ XII Sau này,
đình mới có nghĩa là nơi cộng đồng, nơi thờ thành hoàng của một làng, mộtkhu vực c dân trong một địa vực hành chính Với cách hiểu trên, thì “Bát Hải
Động Đình” cần phải hiểu theo 2 nghĩa:
- Nghĩa thứ nhất: Là nơi dừng chân của nhà Vua hoặc các triều thần vềkinh lý tại tám động (trang) vùng cửa biển
- Nghĩa thứ hai: Là nơi thờ cộng đồng - các vị tiên công của tám động(trang) vùng cửa biển Hay là ngôi đình chung của tám động (trang) vùng cửabiển
Nh vậy tên gọi “Bát Hải Động Đình” là thần hiệu chính thống, là têngọi từ thời cổ xa của đền để chỉ Vĩnh Công xa Chính tên gọi này phần nàocho chúng ta nhận biết đợc nhân vật đợc thờ tại đền là ai
Bên cạnh đó, đền còn tồn tại một tên gọi khác Tại trớc cổng đền vàdốc cầu Vật (trên quốc lộ 10) có hai tấm biển bê tông đề “Đền Đức Vua” Têngọi này có từ thế kỉ XIII thời nhà Trần, khi mà Hng Đạo Đại Vơng qua đời(20/08/1300), bài vị của ngài đợc lập thờ bên cạnh bài vị Vĩnh Công thì trongdân gian bắt đầu xuất hiện tên gọi “đền Đức Vua” nhằm thể hiện sự tôn kínhcủa ngời dân với vị anh hùng dân tộc này
Tiểu kết: Tên đền Đồng Bằng đã thành địa danh trong danh mục các ditích lịch sử văn hóa của nhà nớc và trong rất nhiều tài liệu thành văn khác.Trong dân gian, tên gọi đền Đồng Bằng đã trở thành câu cửa miệng, khi nhắctới thì ai cũng biết Tuy nhiên tên gốc của đền là “Đào Động” thì ít ai biết đến.Hoặc nếu có biết thì cũng không hiểu một cách rõ ràng, hiểu đúng nghĩa ban
Trang 26đầu Do vậy, tôi nghĩ rằng cần phải trả lại cho di tích tên cổ xa nhất là đền
Đào Động để tên di tích có ý nghĩa nh lịch sử vốn có của nó
* Quá trình xây dựng và tu bổ ngôi đền
Đền Đào Động là di sản văn hóa của tỉnh Thái Bình, là niềm tự hào củangời dân An Lễ Tọa lạc bên dòng sông Diêm thơ mộng, ngôi đền có bề dàylịch sử này chứa đựng cả một bảo tàng kiến trúc gỗ đồ sộ, độc đáo Những đ -ờng nét hoa văn khắc, chạm trổ tinh tế, những hoành phi câu đối sơn son thếpvàng làm cho ngôi đền vừa toát lên sự thanh tao, thoát tục, vừa trầm mặc, cổkính
Tồn tại song song với những biến đổi của lịch sử, trải qua các triều đại,
sự tàn phá của thiên nhiên, giặc giã hoành hành, ngôi đền đã đợc tu sửa, kiếntạo nhiều lần song giá trị và ý nghĩa lịch sử của ngôi đền không vì thế màgiảm đi, mà sự hiện đại hòa vào cái cổ kính đã làm tăng thêm sự độc đáo,phong phú cho ngôi đền
Trong quyển “Từ điển di tích văn hóa Việt Nam” đợc tổng hợp t liệu
từ các th tịch Hán Nôm cổ cho biết đền Đào Động xa chỉ là một cái miếunhỏ, tên Đào Động ở “thôn Đào Động, tổng Vọng Lỗ, huyện Phụ Dực” [18,194]
Tơng truyền, vào đời vua Hùng Vơng thứ 18, nớc nhà bị giặc ngoạibang xâm lấn Triều đình đã phải lập đàn triệu linh sơn tú khí về giúp sức dẹpgiặc Thủy thần làng Đào Động đã ra phò Vua dẹp tan giặc, và có công đầutrong việc trấn giữ tám cửa biển phía Tây Đất nớc trở lại thái bình, từ đó vùng
đất này đã trở thành nơi địa linh đợc ngời dân cả nớc ngỡng vọng Sau khi ôngmất vua đã cho tiền sửa sang phủ đệ thành đền cho dân thờ phụng Thời nhà
Lý, vua Lý Thái Tông năm Thiên Thành thứ 4, khi đi kinh lý về vùng duyênhải đã đến thăm quần thể di tích của đền, vua khen Đào Động đứng đầu trong
“Tứ cố danh thắng” Sách “Ngàn năm đất và ngời Thái Bình” viết: “Đào
Động, Lộng Khê, Tô Đê, A Sào - Phụ Phợng, Lý triều tứ cố cảnh” “Bốn nơi
có cảnh sắc phong quang, dân c trù mật, thế đất cao ráo, từng đợc xem là bốncảnh đẹp dới triều Lý” [12, 174] Thời vua Lý Nhân Tông năm ThiênThuận thứ 5 (1132) vua tái phong cho Vĩnh Công, cho xây dựng và mở mang
đền sở Theo tơng truyền thì khi ấy đền mở rộng đến cung Đệ Nhất hiện nay
Thời nhà Trần Đào Động là nơi tập trung binh sỹ, rèn luyện binh đaocủa vua tôi nhà Trần Trong dân gian còn lu truyền câu ca:
An Lễ là đất địa linh
“
Trang 27Là nơi rèn tớng, luyện binh nhà Trần”
Nh vậy, ngôi đền nổi tiếng linh thiêng đã gắn với những chiến công củaVua tôi nhà Trần bởi giá trị tâm linh, cố kết cộng đồng lớn Ngời xa kể lại đểyên lòng dân, tại đây Trần Hng Đạo đã cho đúc 2 đồng tiền, vua lễ xong vàgieo đài thì trăm lần đều thuận âm dơng, có nghĩa là “trên thuận ý trời, dớithuận lòng dân” Vì thế mà sau chiến thắng quân Nguyên, Trần Hng Đạo đã
về tế tại đền để cảm tạ Vĩnh Công đã âm phù chiến thắng và chu cấp tiền bạccho dân xây dựng, mở rộng đền Đào Động Thời Trần ngôi đền lộng lẫy, uynghi Khi vãn cảnh thăm đền, Điện tiền Phạm Ngũ Lão vịnh thơ ngợi khen
“Đây cõi thần tiên nhất nớc nhà”
Thời Lê vào Quang Thuận niên (1461) Vua Lê Thánh Tông kinh lí về
Đào Động sắc phong “Vĩnh Công đại vơng thợng đẳng thần”, lúc này đền đã
có đủ 5 cung để thờ Vĩnh Công đại vơng và 4 ban công đồng tứ phủ mới đợccấy vào
Đến thời Nguyễn năm Đinh Sửu (1817), đại công thần Nguyễn VănThành là tổng trấn Bắc Kì đã về đền tạ lễ Năm Khải Định thập niên (1925)nhà vua sắc phong cho Vĩnh Công, cho mở mang đền phủ, mở rộng các cungthờ Cung đệ tam, cung đệ tứ, và nghi môn cũng đợc xây dựng từ thời đó Năm
1941, Vua Bảo Đại qua biểu tấu của tri phủ Thái Bình đã phê huân công choVĩnh Công:
Sinh vi danh t
Vạn cổ phơng danh nhật hựu thục Nhị bảo xả Thục an xã tắc
Tụng nhiên tán lĩnh linh nguyên huân”
(Tạm dịch: Ngời đợc thờ phụng ở đền này sống là danh tớng, thác đihóa thần, để lại vạn năm danh thơm, dân mãi mãi tri ân công lao rực rỡ ấy)
Năm Thành Thái Kỷ Sửu (1889), đợc sự đỡ đầu của thái tử thiếu bảo
Năm Khải Định thứ 9 (1925) có sự bảo lãnh của Uỷ viên hội đồng tỉnh TháiBình, nghị viện dân biểu Bắc Kỳ, một điền chủ lớn phủ Kiến Xơng là PhạmLuận đã sửa toà cấm điện từ kiến trúc hồi văn thành phợng đình chồng diêm
cổ các
Tuy nhiên, trận bão tháng 9 năm 1983 đã làm đổ tòa phợng đình Tháng
8 năm 1984, Bảo tàng Thái Bình kết hợp với UBND xã An Lễ đã phục hồi lạitòa cấm này theo phong cách hồi văn mái chảy nh trớc năm 1926
Trang 28Toàn bộ khu di tích của đền gồm 20 520m2, riêng khu nội tự rộng6000m2, tổng thần điền là 18 mẫu Đền chính đợc thiết kế theo kiểu “tiền nhị -hậu đinh” nh một lâu đài thời trung cổ gồm 13 tòa, 66 gian liên hợp chặt chẽtạo thành quần thể kiến trúc độc đáo, bề thế, khép kín Qua thời gian giặc dãtới nay, mặc dù mặt bằng di tích bị thu hẹp song không gian kiến trúc vẫn trảirộng và đặc biệt tại đây còn lu giữ đợc nhiều đồ tế khí có giá trị nh: cuốn th,hoành phi, câu đối, đại tự, bài vị Trực thuộc ngôi đền chính còn có cả mộtquần thể di tích gồm hàng chục ngôi đền, miếu nh đền Công Đồng thờ quanlớn Điều Thất, đền Sinh thờ Mẫu Quốc Thái, đền Bến thờ quan lớn Đệ Bát
Từ khi đợc bộ Văn hóa cấp bằng công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia(năm 1986) đền Đào Động đã đợc Đảng, chính quyền địa phơng cùng các dukhách đóng góp, tôn tạo, tu sửa di tích ngày càng uy nghi, tráng lệ Điển hình
là dự án của tổng cục du lịch trị giá 11 tỷ đồng hỗ trợ làm kè ven bờ sôngDiêm dài 1km, mở rộng đờng nối từ quốc lộ 10 vào đền dài 2, 2km với mặt đ-ờng to, rộng làm cho giao thông thuận tiện khi vào đền Bên cạnh đó còn xâydựng thêm bãi đỗ xe rộng thêm 2000m2 và khu vờn hoa, sân dạo rộng1.500m2 Mở mang khuôn viên đền chính lên 400m2 giúp cho việc tế rớc thuận
vậy, để góp phần vào việc giữ gìn, tu bổ và phát huy các giá trị văn hóa - lịch
sử của ngôi đền, các cấp lãnh đạo cùng toàn thể nhân dân đã có sự đầu t thích
đáng làm cho ngôi đền ngày càng khang trang hơn, to rộng hơn về quy môbên ngoài nhng vẫn giữ đợc nét cổ xa, uy nghi trầm mặc của ngôi đền Chính
sự ra tay chung sức xây dựng ngôi đền đã củng cố và phát huy ý thức cố kếtcộng đồng và bảo lu đợc các giá trị văn hóa
2.2 Đối tợng thờ tự
* Các vị thần đợc thờ ở làng Đào Động
Với quan niệm “Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấythờ” nên mỗi làng đều có vị thần bảo hộ riêng cho mình ở Việt Nam, hầu hếtlàng nào cũng có đền, đình, miếu Thờng thì mỗi làng đều có từ 3 vị thànhhoàng đến 6, 7 vị thành hoàng tùy thuộc vào làng đó lớn hay nhỏ, có baonhiêu nhóm dân c, từ bao nhiêu quê gốc khác nhau chuyển đến, cộng với dângốc để có số lợng thần tơng ứng đợc thờ Thí dụ một làng có dòng dân từ khuvực ven ngoại thành Hà Nội về thờng thờ Linh Lang đại vơng, dân từ Tây Sơn
về thờng thờ Tản Viên sơn thánh Có đợc sự phong phú, hòa trộn giữa việc
Trang 29thờ thần trong phạm vi một làng nh vậy là do con ngời có tâm lý “Uống nớcnhớ nguồn”, luôn tin tởng và hớng về vị thần bảo hộ cho mình Điều đó đã insâu vào tâm linh con ngời cho nên dù đi đâu con ngời cũng không quên gốc gác
và luôn có ý thức giữ gìn, tôn thờ vị thần đó Do vậy từ hội nhập dân c tới hộinhập cộng đồng thần linh cũng là điều phổ biến, dễ hiểu
Song ở làng Đào Động thì việc phân định nguồn gốc quá trình hìnhthành, bổ sung, hoàn thiện các thần phức tạp hơn nhiều Một làng nho nhỏ mà
có tới 8 đình, 3 chùa, đấy là cha kể tới các miếu làng, miếu xóm, điện tại gia
Đại lợc chúng tôi có thể chia đợc 3 dòng thần đợc thờ ở làng Đào Động nhsau:
1 - Thờ các vị thủy thần: Gồm Vĩnh Công đại Vơng, Bát hải động đình
và 9 quan trấn nam thủy quan (từ đệ nhất tới đệ cửu) Trong bài “Xuân nhậptảo ru” viết vào cuối thế kỉ XIII Phạm Ngũ Lão đã ghi lạc khoản “Hồ từ thập
vị lễ ngoạn úy tớng công” (Tức là: Điện súy tớng công họ Phạm triều Trần vãncảnh đền thờ 10 vị) Nh vậy có thể nói ít nhất vào năm 1299 đền đã thờ 10 vịtrong đó có 9 vị thủy quan trấn Nam phối thờ chung với thuỷ thần sông Vĩnh -Vĩnh Công Đại vơng Đến nay, các vị Trấn Nam thuỷ quan đều đợc chia vềphủ đệ nằm rải rác khắp khu vực sông Luộc, sông Hóa, sông Đào Động thuộc
3 huyện: Đông Hng, Quỳnh Phụ thuộc Thái Bình và Ninh Giang thuộc Hải
21 đến 25 tháng 8 âm lịch hàng năm
3 - Làng thờ các vị thần trong hệ thống tứ phủ: Thời Lê Trung Hng đền
Đào Động hội nhập thêm phủ thánh Mẫu, phủ Tôn Ông, phủ chầu Bà, phủQuan Hoàng, lầu Cô, lầu Cậu và có ban thờ Quế Hoa công chúa, Quỳnh Hoa
Trang 30công chúa (con gái của quốc công tiết chế Trần Hng Đạo) Các chùa Đồng
H-ng, chùa ĐôH-ng, chùa Đoài lập thêm điện mẫu thờ Liễu Hạnh
Có thể nói hệ thống các thần đợc thờ ở Đào Động phong phú và cónhiều biến chuyển, đổi thay cùng dòng thời gian Hiện tợng chuyển hóa cáchthức thờ, thêm thần vào, tách thần ra, hội nhập thêm đã diễn ra liên tục và đếnthế kỉ XVIII mới ổn định và và hoàn chỉnh nh ngày nay Sự biến động trongnghi thức thờ phụng cũng là sự biến động về lịch sử tín ngỡng, từ đơn thần đến
đa thần, từ đơn giản đến phức tạp tiến tới sự chuẩn mực thần điện Việt Nam
- mà làng Đào Động là một trong những trung tâm hội nhập khôn khéo nhất,hoàn thiện nhất, tự mình phát huy hiệu quả tín ngỡng thuần Việt trên một địabàn rộng lớn, gần nh toả kín Đồng Bằng Bắc Bộ
Ngôi đền chính hiện nay đợc thờ thuỷ thần sông Vĩnh - Vĩnh Công đạivơng Sự xuất hiện của ngài trong cuộc sống tâm linh của ngời dân tiến tới sựthờ phụng là cả một câu chuyện ly kỳ, hấp dẫn nh một huyền thoại Sau đâychúng ta sẽ tìm hiểu về tiểu sử thần Vĩnh Công Đại Vơng
* Tiểu sử thần Vĩnh Công Đại Vơng
Sử cũ có nói đền Đào Động xa kia thuộc tổng Vọng Lỗ, huyện Phụ Dựcthờ thủy thần Vĩnh Công đại vơng, tơng truyền là thái tử Long cung giángsinh ở Đào Động phù vua Hùng Duệ Vơng dẹp loạn, sau hiển thánh đợc dânlàng thờ Phàm trong vùng có hạn hán, hoàng trùng, dịch bệnh dân đến kêucầu, đều rất linh nghiệm
Sách “Thái Bình phong vật phú” cũng chép tơng tự
Theo thần tích, vào đời vua Hùng Duệ Vơng, tại trang An Cố, tổng BìnhLãng, huyện Thụy Vân (sau đổi là Thụy Anh - nay là huyện Thái Thụy) có mộtngời tên là Phạm Công tinh tờng nho, y, lý, số làm nghề dạy học, cắt thuốc, lấy
vợ ngời làng Mai Diêm (nay là xã Thụy Hà - Thái Thụy) họ Trần, tên Lu.(Cũng có dị bản cho rằng tên 2 nhân vật này là ông Phạm Danh Túc và bà TrầnThị Ngoạn) Nhà ấy vợ chồng thích làm việc thiện, các việc góp tiền, đúcchuông, tô tợng, sửa chùa không bao giờ là không cúng tiến, luôn giúp ngờinghèo, cho cơm kẻ đói, sinh sống hòa thuận Chỉ hiềm nỗi ngoài 40 tuổi mà cha
có con nên tâm trạng nhiều lúc rất buồn Ông bà thờng đi lễ các đền phủ lớnhọăc chu du các danh lam cổ tích và hết lòng chăm lo việc phúc
Một hôm ông bà vãn cảnh trang Đào Động, bỗng gặp một cô gái đếnvái lạy tha rằng: “Con là kẻ tha hơng, cha mẹ mất sớm không nơi nơng tựa.Nay gặp ông bà hiền đức xin động lòng thơng cho con đợc về hầu hạ” Phạm
Trang 31Công, Trần Thị thấy thiếu nữ t chất thông minh, nói năng phải đạo liền nhậnlàm con nuôi và đặt tên là Quý Nơng
Quý Nơng càng lớn càng xinh đẹp, đoan trang, hiền thục, công dungngôn hạnh nhng đến 18 tuổi vẫn không nhận lời đính ớc của ai Một lần QuýNơng ra tắm ở cửa biển, trời đang trong xanh bỗng nhiên trở gió, ma bão ầm
ầm, chớp giật sấm rền và có một con Giao Long thân dài 8 thớc hiện hình ômcuốn lấy nàng Lát sau trời quang mây tạnh, Quý Nơng thấy vậy hốt hoảngkinh sợ vội trở về nhà Rồi cô gái có mang, ở nghén 13 tháng, đến kì mãnnguyệt khai hoa, thẹn nỗi không chồng mà chửa, Quý Nơng ra biển, trở dạsinh đẻ một mình Trong một đêm ma gió nàng sinh ra một cái bọc kì lạ, ngạcnhiên và sợ hãi nàng ôm cái bọc thả xuống biển Hôm đó là ngày 10 thánggiêng năm Đinh Tị, bọc thiêng gặp lúc triều dâng theo dòng nớc trôi về trang
Đào Động
Thời bấy giờ ở trang Đào Động có một ông già nghèo khó, đức hạnh tên
là Nguyễn Danh Minh (Nguyễn Minh) làm nghề đánh cá bên sông Đêm ấybuông vó đã sang giờ Tí mà không bắt đơc con cá nào Mãi quá nửa đêm kéo
vó thấy nặng quá, cố kéo lên thì thấy một bọc đỏ nh máu, ông già sợ quá dungsào đẩy ra, lát sau cất lên lại gặp bào thiêng, già Nguyễn Minh vái lạy, khấnnguyện rồi lấy dao rạch bọc ấy ra thì thấy ở trong bọc ngoi ra 3 con Hoàng Xà(nửa rồng nửa rắn, vẩy vàng màu đỏ) Con rắn thứ nhất bơi thẳng lên bờ, chuivào một giếng nớc tự nhiên ở Đào Động rồi mất tích trong đó Con rắn thứ nhìxuôi sông Đào Động về ngự tại trang Thanh Do, con rắn thứ ba chạy về khúcsông Hoa Diêm - nơi mà bà Quý Nơng sinh ra bọc ấy
Lúc ấy phụ lão nhân dân trong trang Đào Động thấy vậy sợ hãi và chorằng chắc là thủy thần xuất thế nên làm lễ bái tạ ở khúc sông ấy và khấnrằng: “nếu là thủy thần xuất thế anh linh thì dân xin làm thần tử và thiết lập
Trang 32giả nhà trời cỡi mây hạ đàn bảo rằng “Giặc ấy là giặc to nhng đã có Hoàngthiên giúp, đã sai 3 vị thủy thần giáng sinh Một vị ở trang Hoa Diêm huyệnThụy Anh, một vị ở trang Thanh Do, một vị ở trang Đào Động nhng còn ẩnmình là rắn xin vua sai sứ giả đến những trang ấy triệu thì rắn biến làm ngời
để cùng đức Sơn Thánh đi bình giặc ấy”
Đức vua tỉnh dậy một mặt sai sứ giả đi triệu Tản Viên Sơn Thánh, mộtmặt cử sứ giả xuống vùng biển về Đào Động trang để vời đức thủy thần Sứgiả vừa tới đầu trang ấp thì thấy gió thét ma gào, sấm chớp vang trời, nớc cửasông Vĩnh gầm lên, nớc sông tam kì cuộn sóng và một vị thủy thần cỡi sóngdữ nói lớn: “Ta là thủy thần sông Vĩnh, tự là Vĩnh Công chờ sứ giả ở đây” Sứgiả vui mừng khôn xiết rớc thần về kinh đô Vĩnh Công triệu hơng lão, traitráng Đào Động chọn lấy 9 chàng trai khỏe mạnh nhất sung làm gia thần thủtúc, lại cùng sứ giả xuôi xuống Thanh Do, Mai Diêm đón hai em là đệ nhị linh
xà và đệ tam linh xà về kinh bái yết Vua Vua Duệ thấy 3 ông thân ngời, đầucá, dáng vóc nh rồng, tiếng nói nh sấm, lực địch vạn ngời, bàn mu tính kế nhthần thì cả mừng Vua sai đức Sơn Thánh đem quân đến Sơn Đầu, sai 3 vị thủythần đến Hải đảo 3 vị thủy thần lĩnh 20 vạn quân và 1000 viên tớng cùng đứcSơn Thánh bái tạ vua rồi tiễn đi Vua phong thần Tản Viên là tiền quân lo
đánh các đạo sơn lâm, Vĩnh Công làm trung quân và nhị vị linh xà làm hậuquân lo việc lấy quân vùng biển Sơn Nam và ái Châu để đánh vùng ven biển
Thần Vĩnh Công làng Đào Động và nhị vị linh xà đi đến đâu các loài ba
ba, thuồng luồng và muôn trùng thủy tộc đều theo sóng cồn cùng kéo ra đảo,chỉ đánh vài trận quân Thục phải quy hàng Phía rừng núi, thần Tản Viên cũnggiành chiến thắng lớn Hai ông làm biểu tiếp báo về kinh Vua cho hai đạoquân đợc ca khúc khải hoàn
Trong lễ mừng công, Vua Duệ Vơng phong đức Vĩnh Công là Thợng
Đẳng công thần, Vĩnh Công cùng các em vái tạ ơn vua không nhận chức tớc,chỉ xin xá hết tô, binh, tạp dịch cho dân trang Đào Động để trả nghĩa tìnhmảnh đất và con ngời đã gắn bó với ông Vua Hùng chuẩn tấu, thần VĩnhCông về Đào Động tổ chức yến tiệc linh đình khao thởng nam phụ, lão ấu, th-ởng công cho 9 gia thần thủ túc làng Đào Động theo ông xông pha trận mạc
Từ đó ông và dân làng Đào Động tình nh cha con Vĩnh Công dạy dân cấy lúatrồng dâu, chăm tằm dệt lới, dân Đào Động ngày càng no đủ, xóm dới làngtrên luôn tiếng hát hò
Trang 33Lu lại Đào trang vài tháng, Vĩnh Công trở về phụng dỡng song thân ítlâu sau song thân qua đời Vĩnh Công lo việc tang lễ chu đáo, chịu tang 3 năm.Sau ngày đoạn tang thần lại về Đào Động trang ở với dỡng phụ, thọ trên trămtuổi
Một hôm, Vĩnh Công mời hơng lão đến nhà dặn rằng: “Ta cùng các vị
là dân lân dân ấp, ăn ở với nhau tình nh ruột thịt, nghĩa nh cha con nay ta vângmệnh phải về hầu Vua Cha Long Vơng Nếu có nhớ đến ta thì lấy nhà ta đâylàm miếu sở, ngày ta đi làm ngày giỗ” Dặn xong bỗng trời đất tối sầm, sấmchớp dữ dội, lát sau trời quang mây tạnh, nhân dân trông vào chỗ ngồi của ôngthì ông đã hóa rồi, chỉ còn lại áo xiêm của thần Hôm ấy là ngày 25/08/nămMậu Thìn Nhân dân thấy thế làm lạ, dâng biểu tâu vua Vua ban phong mỹ
tự, Chấn Tam Kỳ giang linh ứng Vĩnh Công Đại Vơng Bát Hải Động Đình, lạicấp cho dân Đào Động 400 quan tiền lo việc tang lễ, tu sửa lều tranh của thầnVĩnh Công thành miếu điện, hạ sắc miễn thuế cho dân lấy lộc ấy thờ thần vàlấy ngày 10 tháng giêng là ngày sinh nhật ngài, ngày 25 tháng 8 là ngày hóanhật ngài
Từ cuối thế kỉ XIII, đền Đào Động còn là nơi tởng niệm Hng Đạo VơngTrần Quốc Tuấn cùng các danh tớng hoàng thân quốc thích nhà Trần có cônglớn trong 3 lần đại phá quân Nguyên Mông lập nên tám trang Đào Động xa
* Tiểu kết:
Câu chuyện đợm màu huyền thoại ấy nửa tin nửa ngờ, nhng đã lutruyền biết bao thế hệ, đợc thăng hoa trong tâm thức ngời đời Hình ảnh VĩnhCông chính là sự hội tụ, đan xen của nhiều yếu tố: Yếu tố thần thoại và yếu tốlịch sử Sự đan cài giữa huyền tích và lịch sử về vị thần đền Đào Động là lẽ đ -
ơng nhiên, cốt lõi lịch sử mà ngời ta không thể chối bỏ đó chính là vùng Đào
Động xa kia là địa bàn sông nớc, c dân lấy ng trờng làm nền tảng kinh tế Vìvậy trong ý thức của họ mang đậm phong cách văn hóa biển, văn hóa sông n-
ớc là thờ thủy thần C dân nơi đây lênh đênh trên vạn chài sông Vĩnh kiếm kếsinh nhai nên đã tôn thờ vị thần của sông, là ngời bảo hộ cho dân làng là lẽ đ-
ơng nhiên Trong tâm thức của ngời đời hình ảnh Vĩnh Công thăng hoa và trởthành biểu tợng tinh thần không thể thiếu trong đời sống của ng dân
Trời cao có đức ngọc hoàng
“
ở dới đất bằng có Đức Vua Cha”
Trang 34Bên cạnh đó, câu chuyện còn là biểu tợng của tinh thần dựng nớc và giữnớc của dân tộc Việt cách ngày nay trên 2000 năm, một thời đại có thật trongquốc sử
2.3 Đặc điểm kiến trúc - điêu khắc
2.3.1 Khái quát chung về kiến trúc, điêu khắc
* Vị trí địa lý đền Đào Động
Đào Động xa chỉ là cồn đống, bốn bề sông nớc mênh mông, do vậyngôi đền của làng cũng đợc bao bọc bởi các con sông Thời cổ đại, giao thôngchủ yếu dùng thuyền “Đông chu, Bắc mã” cho nên với vị trí tâm điểm của cáccon sông là điều kiện thuận lợi để khách lễ hớng về đền Đền Đào Động nằmgiữa khu vực sông Hóa và sông Đại Lẫm, ngợc lên phía Bắc gặp sông Luộc ởkhu vực Tuần Tranh (Ninh Giang); ngợc về phía tây 18km là cửa Hải Thị tiếpvào sông Hồng Hà; xuôi về phía đông 7km sẽ gặp sông Thái Bình tại cầu Xe.Theo sông Hóa có đờng ra cửa sông Thái Bình, theo sông Đại Lẫm hợp vớisông Diêm đổ ra cửa Trần (tức cảng Diêm Điền) Từ kinh thành có thể theosông Hồng vào cửa Hải Thị về sông Đại Lẫm Từ Đông Bắc theo sông TháiBình xuống ngã ba cầu Xe xuống Tuần Tranh và sông Hóa để đến Đào Động
đều thuận lợi Từ mạn biển có thể theo cửa Thái Bình qua sông Hóa hoặc cửaDiêm Điền qua sông Diêm đều có thể đến tận sân đền
Năm 1910, Pháp mở quốc lộ 10 từ Ninh Bình qua Nam Định sang thị xãThái Bình, đi thị xã Kiến An và thành phố Hải Phòng Tuyến đờng quốc lộ này
đã tạo điều kiện thuận lợi nối Đào Động với nhiều miền đất nớc Đền Đào
Động tọa lạc cạnh cầu Vật, sát đờng quốc lộ; cách thị xã Thái Bình 20km; cáchthành phố Hải Phòng 70km và cách thị xã Kiến An 59km
Nếu xét vị trí địa lý của đền theo thuyết phong thủy cổ truyền thì đến tậnbây giờ thế đất tọa lạc của đền vẫn là một thế đất đẹp, biểu tợng cho sự bềnvững và hng thịnh Theo thuyết phong thủy, chọn thế đất trớc mặt phải “thủy
đáo tiền đờng” phía sau “kim quy án hậu”, tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ
Đền Đào Động có “Thủy đáo tiền đờng” là dòng sông Diêm (xa là sôngVĩnh) chảy trớc cửa đền, dòng nớc trong xanh, mềm mại, uốn lợn Đống ĐồngHng nổi lên nh một quả đồi trên biển lúa tựa nh một con rùa vàng án ngữ phíahậu của đền Đây chính là biểu tợng của “Kim quy án hậu” trong thuật phongthủy
Trang 35“Tả Thanh Long” là khu đầm Bà, chạy dài dọc địa giới phía đông Đào
Động nh hình một con rồng xanh mềm mại ôm ấp lấy đền “Hữu Bạch Hổ” là
Thu phong viễn tống hạc thanh lai
Lu quang điện hạ thiên tùng thụ Quả cảnh thần tiên nhất thủ tài ”Dịch thơ:
Xuân đến lung linh rợp trời hoa
“
Hạc về để tiễn gió thu xa
Dới bóng trời cây đền rực rỡ
Đáng chốn thần tiên nhất nớc nhà ”
Nh vậy, đền tọa lạc trên một vị trí có linh khí trời đất hội tụ, “Đángchốn thần tiên nhất nớc nhà” Mọi tinh hoa của đất trời kết tinh và thăng hoalàm tăng thêm tính linh thiêng và huyền bí cho ngôi đền
Đền Đào Động với vị trí cách quốc lộ 10 không quá xa, đủ cho dukhách muôn phơng có thể xuống xe đi tản bộ vào đền, cũng không quá gầnquốc lộ để không bị chịu ảnh hởng tiếng ồn ào của dòng xe xuôi ngợc, giữ đợckhông khí thanh u, nghiêm cẩn cho đền Một lần nữa ta khẳng định: đền Đào
Động xây dựng có tiếp thu thuyết phong thủy truyền thống của đạo giáo và đó
là thế đất đứng đầu trong lựa chọn xây dựng gia trạch, miếu mạo
* Tổng thể kiến trúc đền Đào Động
Trong bài Hồ từ viết vào cuối thế kỉ XIII, quan Điện tiền Phạm NgũLão khi đi lễ và tham quan đền Đào Động, xúc động trớc vờn đào, điện thánh,Phạm tớng công đã phác họa đền Đào Động qua những vần thơ tuyệt bút Đó
là cảnh buổi sớm mùa xuân, hoa lá rung rinh, đã xa rồi tiếng hạc mùa thu giólạnh Trong đền rực sáng, trời tụ khí thiêng Trong chốn thần tiên đây là nơi
đẹp nhất
Phạm Ngũ Lão là bậc văn võ song toàn, giỏi thi phú Bài thơ vịnh cảnh
đền có thể đôi phần cờng điệu song nếu nh đền Đào Động không phải là nơi
đẹp nhất cõi tiên thì cũng là một ngôi đền lớn, phong cảnh đẹp mới khiến ông
có đợc cảm xúc viết lên những lời vàng ngọc ấy
Trang 36Giữa đời Lê Trung Hng, đền có đợc tu bổ, mở rộng, nhng không có vănbia nào chép lại Song chỉ cần hiện diện công trình tôn tạo năm 1899 cũng đãkhẳng định đợc tầm vóc của di tích này
Trong bài văn chầu viết từ năm 1940 đã khảo tả cảnh đền hồi đầu thế kỉ
nh sau:
Phủ Thái Ninh về miền Phụ Dực
“
Danh tiếng đồn náo nức gần xa
Đào Động đền phủ nguy nga Tối linh tối thợng mấy tòa uy nghi
Đôi bên ngựa đứng voi quỳ Nhởn nhơ phợng múa, long ni chầu vào
Nọ chim hót, nọ hoa chào Một vùng cổ thụ ngất cao nh thành Bốn bề sông lợn bao quanh
Bồng lai tiên cảnh nh tranh họa đồ ”Cho đến nay, chốn “Bồng lai tiên cảnh nh tranh họa đồ” ấy vẫn cònnguyên cảnh sắc xa Đền Đào Động với tổng diện tích là 20.520m2, diện tíchnội tự là 6000m2, tổng thần điện là 18 mẫu đợc thiết kế theo kiểu “tiền nhị hậu
đinh” nh một lâu đài trung cổ gồm 13 tòa, 66 gian liên hợp chặt chẽ
Quần thể kiến trúc đền chia thành 4 tiểu khu, phía trớc là 3 tòa Đại tiềnmôn, tả hữu gồm 6 tòa nhà lính (dành cho lính về gác trong hội đền) phía sau
là 2 tòa của thủ tự và nhân viên trị sự Ba khu vực trên bao quanh 7 cung thờthánh nh khuôn viên chữ “quốc” lấy tâm tòa Trung Môn và Cấm Điện làmtrục thần đạo Đền xây dựng đối xứng từng vì, từng tòa Khu vực trung tâm thìcao đẹp, khu vực ngoại biên và hành lang khiêm nhờng liên kết thành một tổhợp kiến trúc chặt chẽ làm nổi bật điểm sáng nơi thờ tự
Toàn bộ kiến trúc khu đền chính chỉ có tòa Bái Đình (cung thờ Công
Đồng) và cung Cấm là có hệ thống cửa ra đóng vào mở, còn các cung khác chỉ
có lối cửa mạch phía hồi đi xuống sân hành lang Không gian trong đền hầu nhthông suốt, khách lễ có thể đi qua từng cửa từ thấp đến cao, từ cửa trình Cô,trình Cậu rồi vào cửa Công Đồng, qua tứ phủ Quan Hoàng, rồi lên cửa Chầu
bà, Tôn Ông đến nơi thâm nghiêm nhất là Cửa Mẫu và điện Vua Cha Khách lễ
có thể vào cửa tả, ra cửa hữu, vào cổng Đông, ra cổng Tây, thuận đờng sông đitiếp các đền đài xung quanh đền thờ chính Việc phân cung là căn cứ vào cấutrúc bộ mái, còn trên mặt nền là một mặt thảm phẳng tiện lợi cho việc đi lại, lễ
Trang 37bái thông giữa các tòa, tạo điều kiên cho khách thăm quan từ một điểm có thểphóng tầm nhìn bao quát đợc toàn bộ kiến trúc nội tự
Tổng thể kiến trúc đền đồ sộ, đợc bố trí khoa học Theo thuyết phongthủy, thế đất của đền biểu thị cho sự bền vững và phồn thịnh Trớc mặt “Thủy
đáo tiền đờng”, phía sau “kim quy án hậu”, “Tả Thanh Long, hữu bạch hổ”
Vị trí địa lí linh thiêng nh vậy cung với cách bài trí trong đền đã làm tôn thêm
sự thanh toát, h ảo nhng cũng hết sức bề thế, uy nghiêm của thần điện mà các
- Hai cổng Đông Môn và Tây Môn
Đi từ dốc cầu Vật, theo 300m đờng rải nhựa ven sông Đại Lẫm, đi hết
đoạn đờng râm mát bóng cây ta gặp 1 sân lớn, giữa đào hồ tròn đờng kính16m, nớc trong xanh, xa gọi là Ao Rồng, xung quanh đợc xây gạch, giữa hồ
đắp núi ngũ nhạc Bốn mặt trồng cây cảnh hoa 4 mùa Theo lệ xa, khách thậpphơng dùng nớc hồ rửa mặt, tẩy trần cho sạch sẽ trớc khi vào bái vọng ĐứcVua Cha Đứng ở đó ta có thể thấy đợc tòa Nghi Môn bề thế, cổng đền là mộtcông trình kiến trúc hoành tráng kiểu Đại Môn của cung đình nhà Nguyễn
Cổng Đông và Tây tuy gọi là cổng, song kiến trúc 2 tòa phụ này khá đơngiản Đó là 2 cột trụ vuông, trên đắp trụ đấu vuông 2 tầng Cánh gà 1 bên ănvào tờng sân đền, một bên bắt vào hồi hành lang, phía trong phát triển thànhcửa cuốn tò vò, trên trán xây 1 biển văn, đỉnh đắp văn hiệu, thành biên dới soichỉ mớ thành một bảng văn Trụ cột cổng soi chỉ kép, dới đắp tảng vuông, 2 mặttrớc sau cẩn câu đối chữ Hán Bảng văn cổng phía Đông đề 2 chữ lớn “TảMôn”, cổng phía Tây đề 2 chữ “Hữu Môn” Cả hai cửa đều lắp 2 cánh gỗ kiểuthợng sơ hạ mật, dới bng kín, sơn son, trên chạy song con bài Khách sắp lễ th-ờng qua cửa này, còn khách tham quan vãn cảnh đi theo cửa Đại Tiền Môn
- Đại Tiền Môn
Gọi là cổng, song Đại Tiền Môn là 3 ngôi lầu lớn trải dài 24m, lòngrộng 2m, trung môn cao 8m, tả môn và hữu môn cao 6m Riêng 2 cột đồng trụgóc cánh gà cao tới 5,6m, gơng tảng thắt cổ bồng cao 1,08m; mỗi mặt rộng
Trang 381,2m Phần quả găng cao tới 0,8m, vơn rộng 0,6m Lồng đèn cao tới 1,1m,rộng 0 9m Thân trụ cao 2,4m, bề mặt mỗi chiều rộng 1m tạo dáng đứng vữngchãi, bề thế không đâu bằng
Tòa Trung Môn hùng dũng nh cổng tòa thành lớn, tầng thợng xây kiểumôn đình 3 tòa, 10 mái, cao 3m, dài 3m, lòng rộng 1,2m Mái tầng thợng đắpngạc long ngậm dại bờ, góc bờ cánh đắp nghê hí cầu, đao chạy chỉ kép Cả 3tòa đều bổ trụ đấu, cửa uốn vòm Bảng văn tầng thợng đắp 2 chữ lớn “ThuậnThiên”, bảng văn tầng cửa dới đắp 4 chữ lớn: “Bát Hải Động Đình” bằng Hán
tự Đây là thần hiệu của đền
Phần thân cổng xây bằng 4 cột trụ lớn: cao 5m, bản rộng 0,6m trênchạy bao lơn hoa, dới cuốn vòm trổ, tổng cộng 2,4m cao 3m, đủ tầm cao khi r-
ớc kiệu không cần phải xuống đòn
Hai bên cổng chính là câu đối chữ Hán:
Tứ thiên niên quốc tục, th
“ ợng thần Bát Hải Long phi truyền dị tích Thập Bát hiệu Hùng triều xuất thế Đào giang hổ lợc trấn linh thanh”
(Dịch ý: Lịch sử 4000 năm nớc Việt, lu truyền mãi mãi đền thờ vua BátHải với cảnh đẹp lạ thờng Đó là nơi thờ ngời anh hùng thời Hùng Vơng thứ
18 có công đánh giặc tại 8 cửa biển còn vang dội uy danh)
Nghi Môn có tới 252 Hán tự nh một bản tóm tắt giới thiệu về đền trớckhi đa chúng ta vào thăm nội tự nổi tiếng kì vĩ của di tích đền Đào Động
Hai tòa Tả môn, Hữu môn cách trung môn 1, 35m (ngăn bằng 2 tợngphù điêu võ sĩ kim cơng) đợc xây theo kiểu cổng thành lũy, trên có lầu canh,dới có tờng vây bọc Bốn góc xây cột trụ bản rộng 0, 8m, cửa cuốn vòm, đóngcánh then bài thợng sơ hạ mật
Hai bức cánh gà (tờng hoa) nối từ tả, hữu môn ra trụ biểu cũng uy nghi
bề thế nh bức tờng thành, có độ cao tới 2, 8m nửa trên chia thành 5 ô vuông,trổ 5 ô tròn, phía dới trát vữa, quét vôi màu ghi Với lối kiến trúc nh trên, nghimôn đền Đào Động mang dáng dấp cổ của ngôi đền truyền thống Đây là tòacổng lớn nhất trong các công trình nghệ thuật kiến trúc cổ trên đất Thái Bình
và cũng là một trong những tòa cổng hoành tráng hiếm có trong các đền, miếuViệt Nam
Qua nghi môn, là khoảng sân chính của nội tự Đây là một khu sânrộng, lát gạch vuông to từ cổ, là nơi đại tế, là nơi diễn ra những đêm chèotrong lễ hội cổ xa
Trang 39ở hai góc sân rộng có hai bệ thờ lộ thiên thờ quan Hổ Theo thần tíchVĩnh Công Đại Vơng và Tản Viên sơn thánh đều là tớng của vua Hùng TảnViên lĩnh ấn tiền quân, Vĩnh Công đảm nhận vai trò của trung quân Hai tớnghợp sức cầm quân đánh Thục, tình thân nh huynh đệ Ngời vùng biển luôn nhớ
về quê gốc núi rừng, dân Đào Động đã lập một ban thờ trớc hiên trái hồi Đông
để thờ mãnh hổ, biểu tợng sức mạnh của chúa Sơn lâm
Truyền thuyết đã lí giải vì sao ở trớc cửa đền ngự ban thờ Hổ nhngchúng ta thấy rằng thờ quan Hổ từ lâu đã trở thành biểu tợng thờ tự trong cácthần điện Hổ linh đã đợc thần thánh thu nạp, giáo hóa theo chính đạo thànhlính canh cửa, đồng thời là sứ giả của thởng thiện, phạt ác Thờ quan hổ là một
thềm đá cổ, ta bớc vào khu nội tự chính của đền Khu điện thờ đền Đào Độnggồm 7 công trình kiến trúc lớn, bố cục liên hoàn
* Tòa đại sảnh
Hiên trớc: Bẩy chạm long vân, tứ quý hóa rồng Bẩy cột hiên tiền thửatoàn bằng đá phiến, đấu thợng soi hai tầng, tảng chạm mặt hổ phù Toàn bộ hệthống nền thềm tam cấp đợc lát bằng 45 tấm đá xẻ bản rộng với diện tích mỗitấm là 0, 4m x 1,2m ghép sít mạch Ngỡng cửa, bao ngạch cửa liền tảng đá dàikín mỗi gian, cao 0,5m, bản dầy 0,2m xoi gọt đúng nh ngỡng ngạch gỗ, xoi vỏmăng, chỉ mớ, chạm hoa cúc, hoa sen, vân mây
Hai cánh giáp hồi xây tờng gạch, trổ cửa sổ chữ thọ 12 cột hiên tiền,hậu bằng đá đợc chạm long phi, long giáng hoặc khắc câu đối
Tòa đại sảnh gồm 5 gian đồ sộ, dài 19m, kiến trúc đao tầu chéo góc.Dại bờ đắp nổi hoa chanh, hồi nóc xây trụ đấu, đắp ngạc long, bờ cánh soi 2tầng chỉ mớ, góc hồi đắp lân, li Đao cất 3 tầng gồm long phục, rồng chầu, ph-ợng mớm
Giờng chạm văn mây, lá lật, đấu chạm hoa sen, 12 đầu d chạm đầurồng Đại sảnh là nơi diễn ra đại tế trong những ngày khai hội cổ xa Đây làmột công trình kiến trúc đời Nguyễn, mang nét đặc trng của kiến trúc thế kỉXIX Nhận biết đợc niên đại xây dựng tòa đại sảnh là do đôi câu đối ở cột đághi rõ:
Khải Định xuất thập niên tu tập
“
Hùng Triều thiên vạn cổ anh linh”
Vế trên của câu đối chỉ rõ niên đại kiến tạo cung Đệ Tam và cung ĐạiBái, vào đời vua Khải Định, năm thứ 10 Hoàng lịch (1925) Vế sau của câu
Trang 40đối giải thích vì sao xây dựng công trình này, đó là để ghi nhớ một trang sửhiển hách, một nhân vật anh hùng từ thời Hùng triều mà ngàn vạn năm saucòn vang danh, đợc ngời đời ngỡng vọng
Bớc vào Cung Đại Bái, khách lễ sẽ choáng ngợp trớc những tầng tầnglớp lớp hoành phi, cuốn th, câu đối, cửa võng, y môn rực rỡ vàng son, chạmkhắc tinh sảo đạt tới độ hoàn mĩ đến từng chi tiết Dọc hàng cột quân lậu lắp 3tòa cửa võng lớn Gian trung tâm cửa dài 3m, diềm cao chia thành 2 phần: tráncửa và diềm võng, diềm võng lại chia thành 3 mảng: thân, võng và diềm Tránvõng gắn trên mặt xà trung chạm lỡng long chầu nguyệt Thân chia thành 5 ôchạm tùng, trúc, cúc, mai Dạ cá chạm lỡng phợng chầu đỉnh Trên thân đỉnhchạm hình chữ vạn Hai diềm chạm mai lão, trúc lão hóa rồng: Gốc trúc thành
đầu rồng, rễ trúc, rễ mai kết thành râu, thành tóc, thành bờm, lá trúc thànhvuốt, hoa mai thành mây, thân lão, mai lão cúc uốn khúc thành thân rồng uốnlợn làm thành đờng biên cửa võng Chính giữa cung là tấm hoành phi cỡ lớn
đề: “Phúc du đồng” (Dịch ý: Đây là nơi mọi ngời cùng mong phúc kéo dàimãi mãi) Tiếp đó là đôi câu đối cổ:
Phụ Dực Hùng triều Đào Lãng ân l
Thái Bình Thục lỗ động thiên uy trấn hải chi Nam”
(Tạm dịch: Đất Phụ Dực thời Hùng triều có ngời anh hùng, phát tích ở
Đào Lãng -Đất Đào Động, phía Bắc sông Vĩnh mà muôn đời lu ân đức
Tỉnh Thái Bình, có đền thờ đấng tiên liệt, có công phá tan giặc Thụctrên biển nớc Nam, uy vũ lẫy lừng thiên cổ)
Đây là câu đối kiến tạo thời Nguyễn, đời vua Bảo Đại, khi ấy đã có địadanh tỉnh Thái Bình, huyện Phụ Dực Câu đối một lần nữa đề cao vai trò củaVĩnh Công và coi Vĩnh Công nh một anh hùng lịch sử thực sự của dân tộc
Hai tòa võng đôi bên gian trung tâm đối xứng nhau cũng đợc chạmkhắc hoa văn tinh xảo Trán chạm lỡng phợng triều th, riềm ngoài chạm văntriện, cài đào thụ, mai lão hóa rồng Chính giữa diềm võng chạm mặt hổ phù
So với gian trung tâm, 2 gian kế bên tuy diện tích nhỏ hơn nhng xét về kiếntrúc, nghệ thuật chạm khắc, trang trí thì cũng đồ sộ không thua kém
Tất cả 3 tòa cửa võng đều sơn son thếp vàng, toàn bộ cột cái, cột quân(làm bằng gỗ lim) đều treo câu đối khảm trai cân đối
Nhận xét: Với những hoành phi, câu đối, cửa võng, y môn đợc chạmkhắc cầu kì, bằng đủ nghệ thuật chạm rỗng, chạm bong, khắc nổi, sơn sonthếp vàng đã đạt đến trình độ tuyệt mĩ của nghệ thuật, kết hợp với cách bài trí