Đây là dịp để nhân dân tỏ lòng thành kính với lãnh tụ khởinghĩa Lam Sơn và tôn vinh sự hi sinh cao cả của Lê Lai, trong dân gian có câu “Hăm mốt Lê Lai - Hăm hai Lê Lợi” đã nhắc đến cho
Trang 1A Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Xứ Thanh một mảnh đất từng nổi tiếng là địa linh - nhân - kiệt, không chỉ
là một trong những cái nôi của văn hoá dân tộc mà còn là cái nôi của nhữngbậc đế vơng, những bậc kiệt xuất
Trong số những danh tớng ở đất Thanh Hoá, Lê Lai đợc xem là bậc kiệtxuất nhất ở xứ Thanh Nói đến Lê Lai là nói đến vị anh hùng dân tộc dám hysinh vì nghĩa lớn, tên tuổi của ông không chỉ gắn liền với khởi nghĩa Lam Sơn
mà còn là tấm gơng tiêu biểu cho con cháu ngàn đời noi theo
Là một ngời sinh ra và lớn lên trên quê hơng của khởi nghĩa Lam Sơn, đợcbiết đến Lê Lai qua các chuyện kể và bài học lịch sử Tôi rất vinh dự là mộtsinh viên từng học dới mái trờng mang tên vị anh hùng dân tộc trờng THPT LêLai
Do đó tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu đền thờ Trung Túc Vơng Lê Lai ởNgọc Lặc (Thanh Hoá)” làm khoá luận tốt nghiệp của mình Với đề tài này tôi
hi vọng có điều kiện đi sâu tìm hiểu về đền thờ nhân vật nổi tiếng này cũng
nh tìm hiểu về lễ hội đền hàng năm nhằm nâng cao kiến thức và góp phầnthêm yêu mến quê hơng
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Lê Lai là một vị danh tớng của khởi nghĩa Lam Sơn Ông ngã xuống khicuộc khởi nghĩa đang ở trong giai đoạn khó khăn gian khổ nhất Nhắc đếnkhởi nghĩa Lam Sơn là ngời ta nhớ ngay đến công lao to lớn của vị anh hùngdân tộc Lê Lai
Để tởng nhớ công lao của ông nhân dân đã lập đền thờ ông trên quê hơng
mà ông đã sinh ra Cho đến nay có nhiều công trình nghiên cứu về đền thờ
ông cũng nh vai trò của ông trong khởi nghĩa Lam Sơn
Sớm nhất là những ghi chép của tác giả “Lam sơn thực lục” [15] Ngô SĩLiên, ghi lại việc Lê Lai đã liều mình hi sinh bản thân để cứu thoát Lê Lợi vànghĩa quân Lam Sơn
Trong tác phẩm “Đại việt sử kí toàn th” của Ngô Sỹ Liên [18] “ Đại việt
sử kí” của Lê Quý Đôn [9], “Lịch chiều hiến trơng loại chí” của Phan HuyChú [5], Lê Lai đã đợc nhắc đến với tấm gơng tiêu biểu đã hi sinh thân mìnhvì công cuộc Bình Ngô ở thế kỉ XV
Trang 2Riêng lễ hội đền hàng năm đợc nhắc đến trong cuốn “Di tích Lịch SửLam Sơn” (Nhà xuất bản Thanh Hóa 2001).
Nói đến nhân vật Lê Lai có nhiều sách khác cũng viết “Đại nam nhấtthống trí” (tập 2) [22], phần viết về tỉnh Thanh Hoá mục nhân vật đã nói đếnviệc Lê Lai dũng cảm hi sinh “Dịch Bào Thế Quốc”, cứu nguy cho Lê Lợi vàkhởi nghĩa Lam Sơn trong một tình thế hiểm nghèo
Cuốn “Khởi nghĩa Lam Sơn” [20] của Phan Huy Lê và Phan Đại Doãn
đã đi sâu nghiên cứu về khởi nghĩa Lam Sơn và đặc biệt chú ý đến việc Lê Lai
tự nguyện chết thay Lê Lợi vào thời điểm nguy nan nhất của cuộc khởi nghĩa
Sách “Địa chí Thanh Hoá’’ (tập1) [6] phần khảo cứu về vùng đất NgọcLặc đã giới thiệu về nhân vật Lê Lai và khu di tích lịch sử đền thờ ông ở xãKiên Thọ (Ngọc Lặc)
Trong các loại sách viết “Danh nhân Việt Nam” [4,113], “Dũng tớngLam Sơn”, “Danh nhân Thanh Hoá’’ [16,29], Lê Lai là một nhân vật đợc nhắc
đến nhiều nhất bên cạnh các công thần khai quốc của triều Lê
Trong các sách giới thiệu về “Đất Lam Sơn” [28], “Lê Lợi anh hùngdân tộc” [13] , “Di tích Lam Sơn” [1], tên tuổi của Lê Lai cùng với khu di tích
đền thờ cũng đợc đề cập đến nh một phần trong tổng thể khu di tích Lam Kinh
và lễ hội ở đất Lam Sơn
Hàng năm theo truyền thống lễ hội Lam Kinh thờng đợc tổ chức vào22/08 âm lịch Đây là dịp để nhân dân tỏ lòng thành kính với lãnh tụ khởinghĩa Lam Sơn và tôn vinh sự hi sinh cao cả của Lê Lai, trong dân gian có câu
“Hăm mốt Lê Lai - Hăm hai Lê Lợi” đã nhắc đến cho các thế hệ về đóng gópcủa Lê Lai đối với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Nhìn chung đã có nhiều công trình nghiên cứu về khởi nghĩa Lam Sơn,
đề cập đến nhân vật Lê Lai và đền thờ của ông Tuy nhiên tất cả các tài liệuchỉ tập chung vào việc Lê Lai dũng cảm hi sinh nh thế nào còn những vấn đềkhác thì ít đề cập đến nh lễ hội đền, kiến trúc
3 Mục tiêu, nhiệm vụ, nghiên cứu
Với đề tài “Tìm hiểu đền thờ Trung Túc Vơng Lê Lai ở Ngọc Lặc(Thanh Hoá)”, tôi không có tham vọng giải quyết tất cả vấn đề mà thông qua
đề tài này để giới thiệu một cách khái quát về quê hơng, lễ hội, đền thờ vàqua đó nêu lên đóng góp của ông trong khởi nghĩa Lam Sơn
4 Đối tợng phạm vi nghiên cứu
Trang 31 Đối tợng nghiên cứu của đề tài đợc tập trung vào việc nghiên cứu lễhội đền Lê Lai, các vấn đề có liên quan đến vai trò của ông và dòng họ, gia
đình đối với khởi nghĩa Lam Sơn
2 Phạm vi nghiên cứu của khoá luận, đợc giới hạn trong vùng đất địabàn của khởi nghĩa Lam Sơn quê hơng Lê Lai Vấn đề lễ hội đền và vai trò của
ông với khởi nghĩa Lam Sơn đặc biệt đợc chú ý Những vấn đề liên quan đếnkhởi nghĩa Lam Sơn còn tranh luận không thuộc phạm vi nghiên cứu đề tài
5 Đóng góp của đề tài
Đóng góp của đề tài là ở chỗ, nghiên cứu về đền thờ Trung Túc Vơng
Lê Lai trong bối cảnh vùng đất Lam Sơn - Kiên Thọ - Ngọc Lặc - Thanh Hoá
và đóng góp của ông và gia đình đối với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợilãnh đạo
Tìm hiểu về Lê Lai và đền thờ ông cũng là thiết thực tìm hiểu lịch sử
địa phơng góp phần giáo dục lòng tự hào dân tộc, quê hơng đất nớc
6 Bố cục của khoá luận gồm các phần
Phần mở đầu: Giới thiệu lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, phạm vinghiên cứu, đóng góp của đề tài và các vấn đề có liên quan đến khoá luận
Phần nội dung của khoá luận gồm các chơng
Chơng 1 Khái quát về điều kiện tự nhiện, truyền thống lịch sử văn hoáhuyện Ngọc Lặc
Chơng 2 Đền thờ Trung Túc Vơng Lê Lai
Chơng 3 Lễ hội và giá trị lễ hội đền thờ Trung Túc Vơng Lê Lai
Ngoài ra còn có kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 4Phía Bắc giáp huyện miền núi Cẩm Thuỷ và Bá Thớc
Phía Nam giáp huyện miền núi Thờng Xuân
Phía Tây - Tây Nam giáp huyện miền núi Lang Chánh
Phía Đông giáp huyện đồng bằng Thọ Xuân và Yên Định
Điạ hình Ngọc Lặc phức tạp và đa dạng Do nằm ở đồi núi phía tâytỉnh Thanh Hoá thuộc vị trí tiếp giáp hai vùng châu thổ, miền núi Địa hìnhNgọc Lặc đợc tạo nên bởi các dãy núi đá vôi và núi đất theo hớng đông bắctạo nên các thung lũng và chia ra hai mùa rõ rệt: Vùng núi cao và vùng núithấp, vùng núi cao chiếm 56.2% diện tích của toàn huyện, vùng núi thấpchiếm 43.8% Nằm giữa các dãy núi và các thung lũng tạo nên các cánh đồngnhỏ hẹp thuận lợi cho việc làm nông nghiệp và canh tác các loại cây hoa màukhác Ngọc Lặc là gạch nối giữa vùng châu thổ và miền núi tỉnh Thanh Hoá,giàu tiềm năng kinh tế, có vị thế chiến lợc hiểm yếu trong cuộc kháng chiếnchống ngoại xâm của dân tộc
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Ngọc Lặc địa hình chủ yếu đợc tạo nên bởi các dãy núi đá vôi chính
Trang 5Hàng, hang Chùa, hang Bàn Bù… Tất cả tạo nên một cảnh quan xanh tơi mát
mẻ thuận lợi cho du lịch và đặc biệt với các dãy núi đá vôi đã cung cấp nguồnnguyên liệu, vật liệu cho xây dựng và phát triển công nghiệp xi măng, phục vụ
đời sống của nhân dân và tiến hành xây dựng nền công nghiệp hoá của huyện
Có thể nói: Với địa thế nh vậy Ngọc Lặc đợc xem là vùng đất có đầy
đủ các yếu tố để phát triển kinh tế nông nghiệp lâm nghiệp, công nghiệp vàtiểu thủ công nghiệt cũng nh các nghành dịch vụ và du lịch Theo dự kiến thủphủ của miền tây Thanh Hoá sẽ là Ngọc Lặc, với u thế là nằm ở vị thế trungtâm của mời một huyện miền núi Thanh Hoá và trong tơng lai Ngọc Lặc sẽ là
điểm thu hút đầu t phát triển công nghiệp du lịch và các ngành kinh tế quantrọng khác
Về hệ thống sông ngòi: Ngọc Lặc có ba con sông lớn chảy qua đó là:sông Cầu Chày, sông Hép và sông Âm Ngoài ra còn có nhiều khe suối, hồ
đập đảm bảo một phần tới tiêu canh tác Với một mạng lới sông ngoài nh thế,
đó không chỉ là nguồn nớc dồi dào cung cấp cho đời sống sinh hoạt và sảnxuất nông nghiệp của nhân dân trong huyện mà còn là nguồn nớc phục vụ chophát triển cây công nghiệp và thuỷ điện của huyện Ngọc Lặc
Về khí hậu: Ngọc Lặc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậutrong một năm đợc chia cơ bản làm hai mùa rõ rệt, mùa ma và mùa khô, mùa
ma từ tháng t đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độtrung bình 240C, nhiệt độ thấp là 230C, nhiệt độ cao khoảng 340C, lợng mabình quân là 200mm Bình thờng hằng năm có tới 70 - 80 ngày sơng mù, ítchịu ảnh hởng nặng của các cơn bão lớn Tuy vậy ở đây vẫn thờng xuyên sảy
ra lũ lụt và hạn hán ảnh hởng đến cuộc sống của nhân dân
Hệ thống giao thông: Ngọc Lặc có hệ thống giao thông nông thônphát triển, thuận tiện cho việc đi lại trong huyện đến các làng xã vùng cao.Giao thông vận tải của huyện chủ yếu trên hai con đờng chính đờng sông và
đờng bộ, đờng sông trên 3 con sông lớn: sông Âm, sông Cầu Chày và sôngHép Về đờng bộ, Ngọc Lặc có đờng Hồ Chí Minh chạy qua từ Kiên Thọ đếnQuang Trung với chiều dài 31km, có đờng quốc lộ 15A đoạn đờng chạy qua
có chiêù dài 35km nối liền trung tâm thành phố Thanh Hoá qua các huyện
Đông Sơn, Triệu Sơn, Thọ Xuân rồi từ Ngọc Lặc đi Lang Chánh, Bá Thớc vànối liền với các huyện Mờng Lát, Quan Sơn, Quan Hoá và qua tỉnh Hoà Bình.Ngoài ra còn có các tuyến đờng liên huyện, liên xã, liên thôn, song nhìn
Trang 6chung các tuyến đờng liên xã liên thôn còn rất khó khăn cho giao thông đi lạivì ở đây chủ yếu là đờng đất, nhiều khe suối, dốc cao ghồ ghề Các hệ thốngsông cầu còn thô sơ nên đến mùa ma đi lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc
đi lại của nhân dân
Có thể nói vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên nh trên đã góp phần cho sựphát triển kinh tế văn hoá xã hội của nhân dân huyện Ngọc Lặc
1.1.3 Tình hình kinh tế - xã hội
1.1.3.1 Tình hình kinh tế
Ngọc Lặc là một huyện miền núi của miền Tây Thanh Hoá, kinh tếcủa Ngọc Lặc từ trớc cách mạng Tháng Tám 1945 chủ yếu là nền kinh tếtruyền thống với các loại hình kinh tế nơng rẫy, trồng lúa nớc, kết hợp với cácnghề thủ công, săn bắt, hái lợm và chăn nuôi Nên trong thời kỳ này nhìnchung nền kinh tế mang tính chất tự cấp tự túc lạc hậu và thô sơ Mặc dù cóphát triển nghành thủ công nghiệp nhng rất kém chủ yếu chỉ là các ngành dệt,
đan lát làm ra sản phẩm chủ yếu để phục vụ cuộc sống hàng ngày của từng gia
Từ năm 1986 trở đi cùng với quá trình đổi mới của đất nớc, chuyểnnền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hànghoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng dới sự quản lý của nhà n-
ớc theo định hớng XHCN Nhờ đó mà nền kinh tế của huyện Ngọc Lặc đã cóbớc chuyển biến mới Có thể thấy Ngọc Lặc trong những năm vừa qua tốc độtăng trởng kinh tế của huyện khá ổn định và tăng trởng đồng đều ở tất cả cáclĩnh vực Cụ thể là thực hiện kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, trong bối cảnh đấtnớc có nhiều thuận lợi và thời cơ lớn để thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh
tế - xã hội Các cấp uỷ, chính quyền ở địa phơng đã phối hợp với các bannghành của huyện triển khai nhiều biện pháp kinh tế cụ thể Nhờ vậy mà nềnkinh tế xã hội của huyện Ngọc Lặc ổn định và phát triển đạt đợc nhiều thànhtựu kinh tế: Tốc độ tăng trởng GDP giai đoạn 2005 đạt 12.4%, bình quân thunhập đầu ngời là 380.000/năm, cơ cấu chuyển dịch theo hớng tích cực, tỷ
Trang 7trọng lâm nghiệp, nông nghiệp giảm còn công nghiệp, thủ công nghiệp tăng rõrệt Trong thời kỳ đổi mới Ngọc Lặc đã đạt đợc nhiều thành tích và huyệnNgọc Lặc đã vinh dự đợc Chủ tịch nớc trao tặng huân chơng lao động Thủ t-ớng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt cho quy hoạch xây dựng đô thịmiền Tây của tỉnh địa điểm sẽ là Ngọc Lặc Có thể khẳng định trong tơng lainơi đây sẽ trở thành trung tâm kinh tế văn hoá của các huyện miền Tây xứThanh
1.1.3.2 Tình hình xã hội
Theo số liệu thống kê tổng hợp dân số của phòng thống kê UBNDhuyện Ngọc Lặc (31/12/2004) dân số là 137.242 ngời trong đó ngời Mờngchiếm 68.5%, dân tộc Kinh chiếm 29.6%, dân tộc Dao chiếm 1.01%, dân tộcThái 0.76%, các dân tộc khác là 0.13%
Ngọc Lặc là huyện miền núi có trên 5 dân tộc anh em cùng sinh sống,
họ sống quan hệ gần gủi gắn bó chặt chẽ với nhau và chính điều đó đã xâydựng nên truyền thống lịch sử của huyện Ngọc Lặc Trong quá trình giao luvăn hóa giữa các dân tộc đã tạo nên cho văn hoá Ngọc Lặc có sự đa dạngphong phú trong một sự thống nhất
ở đây ngời Mờng chiếm số lợng khá đông đảo, họ sống từ buổi bìnhcủa lịch sử dân tộc và có mặt hầu hết trên khu vực địa bàn của huyện, riêngngời Kinh thì tập trung ít chủ yếu di c từ miền xuôi lên và sống tập trung ở cáctrung tâm huyện lị, thị trấn, thị tứ dọc các trục đờng giao thông Có thể nóiNgọc Lặc là nơi hội tụ các dân tộc anh em ở đây bao gồm rất nhiều nhómdân tộc sinh sống, chính vì thế đã tạo nên một xã hội phát triển với nhiều màusắc, chủ yếu có 3 nhóm dân tộc cơ bản sau:
Trớc hết là nhóm Việt - Mờng: Nhóm Việt - Mờng có 3 thành phầndân tộc chính đó là dân tộc Mờng, dân tộc Kinh, dân tộc Thổ
Thứ hai: Nhóm Tày - Thái: Ngời Thái có nguồn gốc ở phía Nam sôngDơng Tử - Trung Quốc rồi tràn về vùng Tây Bắc Việt Nam khoảng thế kỷ XIII
- XIV, ngời Thái từ Tây Bắc tràn xuống lu vực sông Mã, một bộ phận quaLào và qua Hoà Bình vào Thanh Hoá, Nghệ An Ngời Thái họ có mặt ở ThanhHoá từ rất sớm khoảng cuối thế kỷ thứ XIV đến đầu thế kỷ XV, phân bố ở hầuhết các huyện miền núi và các vùng lân cận, có một số huyện có ngời Tháichiếm số đông nh: Mờng Lát, Quan Hoá, Quan Sơn, ở Ngọc Lặc ngời Thái di
c đến đây khoảng từ thế kỷ XIX với số dân chiếm 0.76%
Trang 8Thứ ba là nhóm Dao - Hơ Mông: Ngời Dao ở Ngọc Lặc có nguồn gốc
từ Quảng Đông - Quảng Tây Trung Quốc di c vào thế kỷ XII - XIII, có mặt ởThanh Hoá từ thế kỷ XVIII, ngời Dao di c đến Ngọc Lặc từ năm 1904 c trúthành ba bản: bản Tân Thành thuộc xã Thạch Lập, bản Hạ Sơn thuộc xã NgọcKhê, bản Phùng Sơn thuộc xã Phù Giáo
Ngoài các dân tộc Mờng, Kinh, Dao, Thái trong cộng đồng c dân,Ngọc Lặc còn có một số dân tộc khác đến c trú và cùng sinh sống tại đây Cácdân tộc ấy họ vẫn giữ đợc bản sắc của dân tộc mình nhng trong họ vẫn mang
ảnh hởng màu sắc văn hoá ở địa phơng mà họ c trú Các dân tộc sống xen kẽvới nhau theo từng địa bàn c trú, cũng có những dân tộc sống độc lập thànhmột làng, nhng không tách biệt với dân tộc khác mà sống gần gủi gắn bó Chonên họ có sự giao lu tiếp xúc văn hoá ngay từ những ngày đầu mới đến sinhsống, sự ảnh hởng văn hoá qua lại giữa các dân tộc là một nét đặc điểm nổibật, ngoài nét riêng đó họ còn có những nét văn hoá mang đậm dấu ấn miềnnúi Ngọc Lặc Đó là cơ sở để tạo ra một cộng đồng đoàn kết với nhau đểchống lại thiên tai, trị thuỷ, thuỷ lợi, chống lại giặc ngoại xâm và xây dựngbảo vệ truyền thống văn hoá của dân tộc
đổi về đơn vị hành chính
Thời dựng nớc, Ngọc Lặc thuộc vùng đất bộ Cửu Chân, một trong 15
bộ thuộc vơng quốc Văn Lang của các vua Hùng
Đến đầu Công Nguyên Ngọc Lặc là vùng đất thuộc huyện Đô Lung Tài liệu th tịch cổ cho biết vào thời Hán vùng đất này thuộc huyện VôBiên quận Cửu Chân
Đến thời Tùy - Đờng vùng đất Ngọc Lặc thuộc huyện Di Phong rồiTrờng Lâm Chữ “Lâm” tạo nên ấn tợng về một vùng núi Cho đến thời Đinh,Tiền Lê, Lý địa danh này không có sự thay đổi
Thời Trần - Hồ: Đã thành lập đơn vị hành chính lấy tên là Nga Lạc
(t-ơng đ(t-ơng với huyện Ngọc Lặc và một phần đất Thọ Xuân)
Trang 9Thời Thục - Minh: Đã nhập huyện Lỗi Giang vào huyện Nga Lạc
(t-ơng đ(t-ơng với huyện Ngọc Lặc và Cẩm Thuỷ ngày nay)
Thời Lê năm Quang Thuận thứ 10 (1469) Ngọc Lặc thuộc huyện
L-ơng Giang phủ Thừa Thiên
Đến thời Nguyễn tên Nga Lạc không còn nữa mà là phần đất củahuyện Thụy Nguyên đơn vị tổng Ngọc Lặc thuộc huyện Thụy Nguyên
Cho tới đầu thế kỷ XX, vua Thành Thái thứ 12 (1900) đã cắt tổngNgọc Lặc (Mờng Rặc) và các xã thuộc tổng Yên Trờng và tổng Quảng Thi(huyện Thuỵ Nguyên) lập ra một châu mới là châu Ngọc Lặc gồm 4 tổng:Tổng Ngọc (Ngọc Khê), Tổng Khê (Vân An), Tổng Cốc (Cốc Xã) và TổngHạt (Hạt Cao), cả huyện còn có 17 Mờng
Sau cách mạng Tháng Tám 1945 thành công cùng với sự biến chuyểncủa cả dân tộc, châu Ngọc Lặc cũng có nhiều biến chuyển hành chính to lớn
Đặc biệt châu Ngọc Lặc đổi tên thành Ngọc Lặc vẫn giữ nguyên địa danh
Ngày mùng 05/07/1977 theo quyết định số 177/CP của hội đồngChính Phủ Ngọc Lặc và Lang Chánh sát nhập lại gọi là Lơng Ngọc
Ngày 30/08/1892 theo quyết định số 149/HDBT của Hội Đồng Bộ ởng chia Lơng Ngọc thành hai huyện Lang Chánh và Ngọc Lặc giữ nguyên
Tr-địa giới Ngọc Lặc nh khi mới thành lập(1900) Từ đó đến nay Ngọc Lặc có
địa giới ổn định với 21 xã và 3 thị trấn
1.2.1.2 Truyền thống đấu tranh
Trong suốt quá trình lịch sử từ trớc đến nay cùng với bề dày lịch sửcủa dân tộc, ngời dân Ngọc Lặc luôn có truyền thống đoàn kết cần cù, chịu th-
ơng, chịu khó, dũng cảm kiên cờng trong sản xuất và chiến đấu nhất là khi cógiặc ngoại xâm
Dới thời phong kiến ngời dân Ngọc Lặc phải sống trong chế độ
lang đạo hà khắc, chính sự thống trị áp bức bóc lột đó ngời dân đã bền bỉchống lại chế độ lang đạo ngự trị trong Mờng
Trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm thế kỷ XV, giặc Minhtàn bạo đã chiếm đóng miền Bắc Đại Việt Lê Lợi đã dựa vào vùng đất LamSơn, dựa vào lòng dân giơng cao ngọn cờ khởi nghĩa Nhiều ngời con u tú củaNgọc Lặc đã tham gia ngay từ những ngày đầu mới nhen nhóm, trong sử sáchcòn ghi lại những tên tuổi những ngời có công đầu góp phần làm rạng danhcho dân tộc nh: Anh hùng giải phóng dân tộc Lê Lai, đại quan lang Lê Hiễn,
Trang 10Lê Hu, Đinh Bồ, Đinh Liệt, Lê Lô, Lê Lộ, Lê Lâm… Trong cuộc kháng chiếnnày nhân dân Ngọc Lặc cùng với nhân dân cả nớc đã đa cuộc kháng chiến đi
đến thắng lợi cuối cùng
Giáo s Vũ Ngọc Khánh nghiêm cứu về truyền thuyết Lam Sơn cónhận xét rằng: “Vùng đất này là vùng huyền thoại về khởi nghĩa Lam Sơn.Huyền thoại và cổ tích nh những vùng văn hoá lan xa dần quanh một tâmchính là hình tợng nhà lãnh tụ họ Lê kính mến” ở Ngọc Lặc hiện nay còn lutruyền rất nhiều câu chuyện dân gian về khởi nghĩa Lam Sơn
Tại xã Phúc Thịnh ở làng Miềng, có một bãi rộng gọi là Bãi Lạnh câuchuyện đợc nhiều ngời nhắc đến ngời phụ nữ xấu số Hồ Ly Phu Nhân đợc kểtrong tác phẩm “Đất Lam Sơn” Cũng câu chuyện bị giặc Minh đuổi, Lê Lợichạy vào đây nấp ở một hốc cây to sau khi chôn cất vội vàng một thân ma vôchủ giặc kéo vào sục sạo Có một tên lấy giáo đâm vào gốc cây trúng đùi ông,
Lê Lợi lấy áo lau sạch máu nên chúng không tìm thấy gì Chúng lại thả chóngao đánh hơi, một con cáo trăng trong hốc nhảy ra, lũ cho ngao tranh nhau
đuổi bắt, giặc bực bội mắng chó - Đem chúng mày săn vơng chứ phải săn cáo
đâu…rồi chúng chém chó và bỏ đi Lê Lợi thoát nạn nên ông gọi mảnh đấthoang vu có ngời xấu số kia là “Bãi Lạnh” cánh đồng giặc giết chó ngao gọi là
“Cánh đồng chó” Loại cây có hốc nói trên trong Mờng gọi là cây xé Bà conngời Mờng ở đây không bao giờ chặt cây hay hạ loại cây này về làm củi.Riêng hai họ Phạm và Bùi ở các xã Kiên Thọ, Nguyệt ấn không bao giờ săncáo trắng cả Có ngời gặp cáo trắng chết còn đa về làm ma
Có thể nói tinh thần và hào khí của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã để lạimột dấu ấn không thể phai mờ trong mỗi ngời dân Ngọc Lặc Tinh thần ấy đã
đợc hun đúc và nhân lên trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ
Vào giữa thế kỷ XIX thực dân Pháp nổ súng xâm lợc nớc ta dới sựlãnh đạo của vua tôi nhà Nguyễn nớc ta nhanh chóng bị rơi vào ách đô hộ củathực dân Pháp nhng nhân dân khắp nơi vẫn sôi sục tinh thần đánh giặc
Hởng ứng chiếu Cần Vơng của vua Hàm Nghi (1885) đồng bào cácdân tộc Ngọc Lặc đã giấy lên phong trào chống giặc Pháp mãnh liệt Nhândân đã cùng với nghĩa quân Hà Văn Mao và Cầm Bá Thớc phối hợp chiến đấu
đã đánh lui nhiều cuộc tiến công của quân thù vào căn cứ khởi nghĩa Đà Cầm
Trang 11ngời con của Ngọc Lặc đã tham gia trận đánh mở màn ở đập Bái Thợng (ThọXuân)
Mặc dù phong trào Cần Vơng chống Pháp ở Thanh Hoá cũng nh cả
n-ớc bị quân thù đàn áp đẫm máu và thất bại Nhng ngọn lửa chống Pháp vẫn
âm ỉ cháy và nhân dân Ngọc Lặc cùng với nhân dân tỉnh Thanh vẫn tiếp tục ởng ứng các phong trào giải phóng dân tộc
h-Đến đầu những năm 30 của thế kỷ XX, khi ánh sáng của Đảng soi ờng thì đồng bào các dân tộc Ngọc Lặc đã đi theo con đờng cách mạng vô sản
đ-đánh đuổi thực dân phong kiến giành lại độc lập cho đất nớc
Đảng Cộng Sản ra đời 03/02/1930, sự kiện lịch sử quan trọng ấy đã
đánh dấu bớc ngoặt lớn trong phong trào giải phóng dân tộc của nớc ta Cũng
từ đây các địa phơng nhanh chóng thành lập Đảng bộ để đáp ứng yều cầu lịch
sử đòi hỏi trên quê hơng mình Ngày 29/07/1930 Đảng bộ Thanh Hoá đợcthành lập từ đây đồng bào dân tộc Ngọc Lặc đã theo Đảng và vùng dậy đấutranh chống giặc xâm lợc
Ngọn đuốc soi đờng của Đảng đã dẫn dắt đồng bào các dân tộc NgọcLặc tham gia phong trào đòi dân sinh, dân chủ thời kỳ 1936 -1939, tham giaphong trào phản đế cứu quốc thời kỳ 1940 - 1941 thổi bùng lên ngọn lửa chiếnkhu Ngọc Trạo đã đợc thành lập cách Ngọc Lặc 15km về phía Đông, tháng10/1941 địch tập kích chiến khu Ngọc Trạo các chiến sỹ của ta đã chuyển đến
đất Ngọc Lặc dới sự che chở của quần chúng nhân dân các xã: Lộc Thịnh, CaoThịnh, KiênThọ, nhân dân đợc tuyên truyền giác ngộ cách mạng Do đóphong trào vẫn đợc giữ vững duy trì và phát triển, các tổ chức cách mạng đợcthành lập nh: “Hội Việt Minh” xã Phúc Thành đợc thành lập thành 4/1945 tiếpsau đó là “Hội tơng tê ái hữu” Qua thực tế phong trào ngày càng khẳng định
đợc sự lớn mạnh của hội Việt Minh cả về số lợng và chất lợng đây là lực lợngnòng cốt đóng vai trò lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong huyện giành chínhquyền
Ngày 15/08/1945 khi Nhật chính thức đầu hàng đồng minh mở ra kỷnguyên độc tự do và CNXH, lệnh khởi nghĩa đợc truyền đi khắp cả nớc Ngày19/08/1945 đã có 9 huyện miền xuôi đã dành đợc chính quyền Tại Ngọc Lặc
đến ngày 23/08/1945 chính quyền đã giành về tay nhân dân và chính quyềnmới của nhân dân đợc ra đời
Trang 12Sau khi giành đợc chính quyền thực dân Pháp tiếp tục quay trở lại xâmlợc nớc ta một lần nữa Nhân dân Ngọc Lặc tiếp tục đấu tranh giữ vững chínhquyền, năm 1949 chi bộ Đảng đầu tiên đã đợc thành lập ở Ngọc Lặc, năm
1950 huyện uỷ lâm thời Ngọc Lặc đã tiến hành đại hội Đảng bộ lần thứ nhấtbầu ra ban chấp hành huyện uỷ mới lãnh đạo nhân dân Ngọc Lặc tiếp tục đấutranh chống bọn Việt Gian phản động
Sau khi đất nớc độc lập thống nhất đi lên CNXH, Đảng bộ và nhândân Ngọc Lặc tiến hành công cuộc phát triển kinh tế, xã hội xây dựng lại quêhơng sau chiến tranh Bằng sức phấn đấu của mình ngời dân Ngọc Lặc đã tạo
ra những giá trị mới làm biến đổi bộ mặt quê hơng
Những năm tháng xây dựng đất nớc trong thời kì đổi mới, nhân dânNgọc Lặc đã đẩy mạnh việc phát triển kinh tế dựa trên kế hoạch có sẵn NgọcLặc là mảnh đất giàu truyền thống yêu nớc cách mạnh, trải qua thời kì dựng n-
ớc và giữ nớc, qua các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhân dân NgọcLặc đã có nhiều đóng góp to lớn góp phần tô điểm cho trang sử hào hùng củadân tộc Cùng với nhiều thăng trầm và biến cố của lịch sử nhân dân Ngọc Lặcvẫn đoàn kết tơng thân tơng ái trong cuộc sống, siêng năng cần cù trong lao
động, kiên cờng bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm Đó là nhngtinh thần cao qúi cho lớp thế hệ con cháu hôm nay và mai sau noi theo
1.2.2 Truyền thống văn hoá
Nói đến truyền thống văn hoá là nói đến nét đặc trng phong tục, tậpquán riêng của mỗi đất nớc, mỗi vùng miền và của mỗi làng mỗi xã Nếu nhcác vùng miền khác mang đậm sắc thái của văn hoá biển hay văn hoá phậtgiáo, nho giáo, đạo giáo thì đất Ngọc Lặc lại có một truyền thống văn hoáriêng đó là mang đậm truyền thống vă hoá của dân tộc Mờng Có thể khẳng
định một điều chắc chắn rằng ở Ngọc Lặc không có sự xâm nhập của văn hoánho giáo hay phật giáo mà nét nổi trội là mang đậm nét văn hoá của ngời M-ờng
Đến với Ngọc Lặc là đến với một nền truyền thống văn hoá phong phú
đa dạng đa sắc màu, vừa mang tính cộng đồng dân tộc cao lại vừa có tính bản
địa độc đáo, dân tộc Mờng ở Ngọc Lặc có tập quán phong tục ăn, mặc, ở,quan hệ ứng sử giao tiếp, hoa văn thổ cẩm, trang phục đến các làn điệu dân ca,dân vũ, truyện kể, trò diễn đều mang đậm một nét riêng rất dễ nhận biết
Trang 131.2.2.1 Văn hoá vật chất
* Đời sống sản xuất:
Ngọc Lặc là một huyện miền núi, c dân chủ yếu là đồng bào dân tộc ờng, địa bàn c trú của họ chủ yếu tập trung ở những nơi thung lũng và vùngbán sơn địa, nơi có những cánh đồng nhỏ hẹp bên cạnh những con sông nhữngkhe suối có thể làm đợc thuỷ lợi Vì thế mà đời sống sản xuất của c dân làkinh tế lúa nớc, ở đây có những cánh đồng có nớc quanh năm nhng cũng cónhững cánh đồng chỉ có một vụ nhờ vào nguồn nớc ma, việc canh tác lúa nớcphải phụ thuộc vào thiên nhiên, thời tiết
Bên cạnh nền kinh tế lúa nớc còn có nền kinh tế nơng rẫy, ngời Mờng c trú
ở vùng địa hình bán sơn địa, do đó ngoài việc làm lúa nớc họ còn kết hợp kinh
tế nơng rẫy Hoa màu trồng trên nơng rẫy chủ yếu là lúa và các loại ngô, bôngvải, ngoài ra còn trồng xen lẫn các loại khoai sắn, đậu đũa, vừng, da, bầubí Nơng rẫy là nơi cung cấp nguồn thức ăn phong phú cho đồng bào Mờngnơi đây
Có thể nói nghề canh tác nơng rẫy mặc dù không phải là nghề sản xuấtchính nhng nó cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống vănhoá của ngời Mờng Ngọc Lặc
Nghề chăn nuôi: Đây là một nghề phụ trong gia đình của đồng bào ờng, xong đây là một nghề không thể thiếu đối với c dân nơi đây Họ nuôi chủyếu các vật nuôi nh trâu, bò, lợn, gà, vịt
Nghề thủ công: Bên cạnh nghề trồng trọt, chăn nuôi các nghề thủ công
ở Ngọc Lặc cũng tơng đối phát triển, nổi bật là nghề đan lát, dệt, thêu thùa: Nghề đan lát: Đây là một nghề phổ biến của ngời Mờng Ngọc Lặc trớccũng nh hiện nay, đến bất kì gia đình nào chúng ta cũng thấy có nghề đan lát
Từ dụng cụ để vận chuyển nh: Thúng, sọt, bồ đựng thóc, nia, dần, sàng và cácloại dụng cụ để đánh bắt cá nh giỏ, nơm, đó, dậm
Nghề dệt: Nếu nghề đan lát thờng dành cho đàn ông thì nghề dệt dànhcho phụ nữ ở đây nghề dệt trở thành một nghề sản xuất quan trọng trong đờisống của nhân dân ở Ngọc Lặc nghề dệt thủ công truyền thống của ngời M-ờng làm ra chủ yếu phục vụ cho nhu cầu sử dụng trong gia đình nh: Váy, áo,quần, khăn đội đầu
Trang 14Nghề hái lợm và săn bắt: Cũng nh nhiều dân tộc khác, do c trú trên địahình có điều kiện tự nhiên u đãi với các sản vật trên rừng, dới sông nh chimchóc, ếch, nhái, muông thú và các loại côn trùng đó là nguồn sản phẩm cungcấp đáng kể cho đời sống hàng ngày của đồng bào nơi đây.
Về hái lợm: Ngời Mờng Ngọc Lặc có nhiều kinh nghiệm trong việc hái
lợm, họ nắm vững chu kì sinh trởng của các loại cây trong rừng nên hiểu rõthời vụ hái lợm của từng loại rau rừng, măng, nấm, các loại củ quả, hạt rừng
Có thể nói sản phẩm từ rừng đôi khi còn là hàng hoá trao đổi trong buôn bánhàng ngày của c dân nơi đây
Về săn bắt: Đây cũng là một nghề góp phần tăng thêm khẩu phần thức
ăn giàu chất đạm trong bữa ăn hàng ngày Săn bắt vừa có tác dụng cải thiện
đời sống sinh hoạt vừa là thú vui tao nhã là nét đẹp trong phong cách của ngời
đàn ông, ngoài ra nó cũng là sở thích riêng của ngời đàn ông Mờng Ngọc Lặc
Có thể nói các hình thức săn bắt hái lợm là nghề truyền thống đợctruyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, thành công của nghề chính là kinhnghiệm đợc tích luỹ qua nhiều đời ngời
* Về ăn uống:
Về thức ăn:
Là địa bàn c trú chủ yếu của dân tộc Mờng nên lơng thực, thực phẩm từ
xa xa là các loại củ trong thiên nhiên Đây là thức ăn chính nuôi sống con
ng-ời, từ khi có giống lúa ngời Mờng ở Ngọc Lặc cũng nh các dân tộc khác ởmiền núi đều lấy lúa gạo làm nguồn thức ăn chính Nhng khác với ngời kinh,ngời Mờng thích ăn cơm nếp với muối đồ, dùng cơm nếp làm lơng thực chủyếu trong đời sống hàng ngày Ngoài gạo nếp là chính, ngời Mờng còn dùnggạo tẻ, ngô, khoai, sắn, đậu và các loại sản vật nh rau rừng, rau trồng, thịt cá,tôm, cua, ếch Với gạo nếp, ngời Mờng có thể chế biến bằng nhiều cách nhcơm nếp đồ, cơm lam và chế biến các loại bánh nh bánh trng, bánh ít, bánhú
Ngoài món cơm nếp đồ, ngời Mờng còn có các loại món canh Ngời ờng dùng từ canh để chỉ chung món ăn từ sản phẩm gồm thịt cá, rau xào, rauluộc Ngời Mờng Ngọc Lặc có hai loại canh độc đáo là:
Canh uôi: Dùng gạo giã nhỏ nấu với cá hoặc thịt hay ốc
Canh đắng: Dùng lòng gà, lòng lợn, các loại thịt nấu với lá chân chim( lá
đắng) một loại lá rừng có vị đắng rất ngon, khi nấu phải thêm củ xả, mẻ, ớt
Trang 15Đây là món ăn a thích của đồng bào Mờng, đến nay nó trở thành món ăn phổbiến trong nhà hàng của ngời kinh
Chúng ta có thể thấy rằng, trong các bữa ăn của ngời Mờng không thểthiếu đợc các món ăn từ rau chủ yếu từ rau rừng, các loại lá hoa quả, cây non,các loại củ, vỏ, mầm cây Ngoài món ăn thịt cá thông thờng đồng bào Mờngthích ăn những loại động vật lỡng c nh ếch nhái, chảo chàng, các loại côntrùng nh châu chấu, dế mèn, trứng kiên, bọ xít
Về đồ uống: Ngoài đồ ăn phong phú, ngời Mờng còn có đồ uống Trong
đời sống hàng ngày của ngời Mờng Ngọc Lặc thờng có câu “Con đẻ túi kha,
ôông rá chén ráo” nghĩa là “Con nít đùi gà, ngời già chén rợu” Uống rợu làmột nét đẹp văn hoá dặc sắc của ngời Mờng đặc biệt đợc ngời đàn ông Mờngrất quan tâm, đó vừa là niềm vui giải trí khi có bạn, có khách đến chơi Có thểnói, trong bữa cơm tiếp khách của ngời Mờng không có rợu coi nh thất lễ, cóchén rợu mới thể hiện đợc tình cảm đậm đà của chủ nhà đối với khách
Có thể nói văn hoá ăn uống là một nét đẹp trong sinh hoạt đời sốnghàng ngày của ngời Mờng Ngọc Lặc
* Về nhà ở và trang phục:
Về ở: ở của ngời Mừơng chủ yếu là nhà sàn trong đó xen lẫn các ngôinhà đất của ngời Kinh khi họ lên đây sinh sống những nếp nhà sàn thờng đợcdựng trên các sờn đồi dới chân núi hay trong các thung lũng nhỏ hẹp, ngôi nhàsàn của ngời Mờng dù to dù nhỏ hầu nh không thể tách khỏi không gian baobọc của ngôi nhà Nhà sàn có hai tầng chính, bớc lên hết cầu thang đến sàn làtầng một, từ sàn lên trên cách khoảng 2m là tầng thứ hai gác này thờng dùng
để cất lơng thực và đồ đạc, còn sàn dới là nơi cất dụng cụ lao động và nơi đểcột trâu cùng các loại gia súc khác
Về trang phục: Chúng ta có thể nhận thấy rằng, mỗi dân tộc có một nétsắc thái văn hoá riêng trong trang phục ăn mặc của mình Trang phục của dântộc Mờng Ngọc Lặc tuy giản dị nhng về bố cục và đồ án hoa văn chứa đựngnhiều giá trị văn hoá Trang phục ngời Mờng là áo Khóm, cổ chui có một nútkhuy cài trên vai cổ, mầu áo thờng dùng có màu xanh lơ, màu hồng, màutrắng Váy Mờng, thân váy thờng màu đen, trên cạp váy có trang trí hoa vănvới nhiều hoạ tiết hoa văn khác nhau Bên cạnh đó còn có chiếc khăn đội đầuvới nhiều loại màu sắc trắng hoặc đen không có hoa văn Đây là nét khác biệtgiữa trang phục ngời Mờng Ngọc Lặc với ngời Mờng Hoà Bình
Trang 161.2.2.2 Văn hoá tinh thần
Đối với nhiều dân tộc trên đất nớc Việt Nam và ngời Mờng trên cả nớcnói chung thì ngời Mờng Ngọc Lặc cũng theo đa thần giáo và tin theo thuyếtvạn vật hữu linh Có thể thấy các yếu tố phật giáo tuy có xâm nhập vào cộng
đồng dân tộc Mờng Ngọc Lặc nhng rất mờ nhạt chỉ mang tính chất gián tiếp.Nếu nh hình ảnh cây đa với mái chùa cổ kính đã quen thuộc và ăn sâu vàotiềm thức của ngời Kinh thì nó lại trở nên xa lạ với ngời Mờng Tín ngỡng đạophật cha có điều kiện phát triển trên mảnh đất này và con ngời Ngọc Lặc ở
đây chỉ có đền thờ các vị anh hùng dân tộc, đôi khi đền thờ ở đây ngời dân gọi
là “Đền - Chùa” trên thực tế thì không có chùa vì không có s sải không có ợng phật và đạo giáo hầu nh không có dấu vết ở đất này ở đây tín ngỡng dângian là yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất trong đời sống tôn giáo tín ngỡngcủa ngời Mờng Ngọc Lặc Ngời Mờng thờng thờ cúng chủ yếu tổ tiên, thờthần bếp, thổ công, mo nớc, mo làng, thờ động vật, thực vật Trong tất cả cáctín ngỡng đó điển hình nhất là tín ngỡng thờ cúng tổ tiên Ngời Mờng quanniệm cái chết không phải là vĩnh viễn chấm dứt sự tồn tại của linh hồn mà cáichết là sợ tiếp tục cuộc sống Chính vì lòng tin đó mà ngời ta hình thành tínngỡng thờ cúng tổ tiên Trong tục lệ của ngời Mờng nổi lên hai tục lệ quantrọng đó là cới hỏi và tục lệ tang ma
Đối với tục lệ cới hỏi: Để dẫn đến kết hôn phải trải qua 7 bớc
Bớc 1: Đánh tiếng, thờng có một ông mối mang gánh bánh khoảng 20cái bánh trng vuông bằng nắm tay, không có nhân mang đến nhà gái để hỏithăm gợi ý đến việc tìm vợ cho cháu nhà mình
Bớc 2: Dạm ngỏ, đến đây không phải ông mối nữa mà thay bằng một
ông mơ là ngời hiểu biết về phong tục tập quán có năng khiếu nói năng, giỏithơ ca Khi đến nhà gái mang một gánh bánh trng không nhân cùng với trầucau, lần này ông mơ xin ý kiến chính thức
Bớc 3: Lễ hỏi, ông mơ đi cùng 3 đến 4 thanh niên cha vợ mang theo 3
đến 4 gánh gồm các loại bánh trng, bánh dày, trầu cau, 3 chai rợu
Bớc 4: Ra mặt rể, lần này cô dâu mời chú rể đến trình diện với họ hangbên nhà gái khấn ma trình ma nhà gái nhận mặt con rể Lễ vật gồm một gánhbánh, một khiêng cơm, một khiêng lợn luộc, một gói trầu cau, một con trâu
Bớc 5: Đi lễ tết, trong thời gian thử thách 3 năm có ngời đến 7 năm,trong những năm thử thách này mỗi năm chú rể phải đi tết 2 lần
Trang 17Bớc 6: Xin cới, có thể xin cới nhân dịp tết cơm mới, cũng có thể điriêng lễ bằng một gánh bánh do một thanh niên gánh đi cùng một ông mơ đếnxin cới
Bớc 7: Lễ nạp tài và tổ chức lễ cới
Về tục lệ tang ma: Tục lệ tang ma của ngời Mờng diễn ra các nghi thức
nh làm vía kéo si nghĩa là một ngời già đã quá yếu xét thấy không thể sống
đ-ợc ngời ta làm vía trớc khi chết ngời Mờng gọi là vía kéo si Để làm vía ngời
ta phải làm xong quan tài, sửa xong, lau chùi sạch sẽ, lấy một mảnh gỗ từ chỗquan tài để làm mâm vía Khi ngời già tắt thở thì để thi hài nằm yên tại chỗ,mắc màn cho thi hài chờ khâm liệm và báo cáo với trởng làng để thông báocho mọi ngời Diễn biến của đám tang nh sau: Trớc khi nhập qua tài, làm mộtmâm cơm vía mời vía ngời chết ăn để đi, lúc đó mọi ngời cha đợc khóc Cúngvía xong ngời con trai cả đứng phía trốc quan tài dậm chân 3 cái, mồm kêu to
“Bố ời về lấy quần áo mà đi thôi” lúc đó cả nhà mới đợc khóc và đánh một hồitrống ba hồi chín tiếng báo làng Quan tài để trong nhà cúng 3 ngày có gia
đình 7 đến 8 ngày, sau 3 ngày kết thúc chiều hôm đó cúng cơm họ hàng vàcông việc đã xong
Trong lĩnh vực văn hoá dân gian, đặc biệt là trong lĩnh vực văn học dângian, văn học dân gian Mờng là một kho tàng phong phú đồ sộ bao gồm nhiềuthể loại truyện cổ dân gian, tục ngữ, dân ca Mờng
Qua đó chúng tacó thể hiểu rõ hơn nữa về truyền thống văn hoá của dântộc Mờng Ngọc Lặc Có thể nói những đặc trng văn hoá đó góp phần làm nênbản sắc văn hoá dân tộc Mờng Ngọc Lặc đồng thời góp một phần
nhỏ vào bản sắc văn hoá Việt Nam
Trang 18Thôn Dựng Tú ngày nay thuộc làng Thành Sơn xã Kiên Thọ phía Bắccủa thôn giáp với làng Thé xã Nguyệt ấn (Ngọc Lặc), phía Đông giáp với làngKhe Ngang xã Minh Sơn, phía Tây nam giáp với lang Bào của xã Phúc Thịnh,phía Đông Nam giáp với làng Cham của xã Xuân Lam - Xuân Thiên (ThọXuân) Chính vị trí này đã tạo điều kiện cho ngời dân trong làng tham giacuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Thôn Dựng Tú còn đợc gọi là làng Tép Làng Tép là tên gọi nôm hàngngày của ngời dân còn thôn Dựng Tú là tên gọi hành chính lúc bấy giờ Tênlàng Tép có lẽ là gọi theo nghĩa đen bởi đây là một vùng đất trũng, xungquanh có núi bao bọc nên sau nhng cơn ma nguồn nớc đều đổ từ vách núixuống tạo thành cánh đồng trũng Cánh đồng này có rất nhiều tép nên ngờidân thờng mang rổ đi xúc tép … chính vì vậy mà làng đợc gọi là làng Tép.Ngoài ra còn có truyền thuyết kể lại rằng khi Lê Lợi đi qua đây xuống rửachân thấy tép bám đầy chân nên ông gọi là làng Tép Còn Dựng Tú đây làcách gọi theo nghĩa biểu trng, bởi trong Hán cổ “ Tú ” nghĩa là tinh hoa của
đất trời, “ Dựng ” nghĩa là ôm ấp Bởi thế thôn Dựng Tú mang ý nghĩa là chỉ
về một làng một địa danh theo quan niệm của ngời dân đã ôm ấp khí thiêng vàsinh ra vị nhân tài cho đất nớc
Cũng theo quan niệm của ngời xa những vùng sông nớc và sơn cớc ờng là tụ điểm sản sinh ra vị nhân tài cho đất nớc Chúng ta biết đến ngôi chùaTiên Sơn ở Sơn Cớc Từ Sơn Bắc Ninh là nơi cất tiếng khóc chào đời của vua
th-Lý Công Uẩn ngời khơi dựng triều th-Lý thì Lam Sơn cũng là nơi sản sinh ra vịanh hùng Lê Lợi lãnh tụ nhân tài của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn … Còn Dựng
Trang 19Tú nơi tụ họp giữa vùng nớc trũng đợc bao quanh bởi những dãy núi đã sinh rangời anh hùng dân tộc Lê Lai
Với địa hình đan xen giữa đồi núi và đồng bằng trũng nhiều cánh
đồng bậc thang Không có con sông nào chảy qua chỉ có một vài con suối vàhón nhỏ tạo nên hệ thống tới tiêu … Vì vậy nên kinh tế của thôn Dựng Túvẩn chủ yếu là nông nghiệp lúa nớc và lâm nghiệp Ngoài ra c dân Mờng ởDựng Tú còn duy trì nghề chài lới để phục vụ cuộc sống hàng ngày Trongnhững năm tháng gần đây tận dụng lợi thế của vùng bán sơn địa Dựng Tú cònphát triển thêm nghè trồng cây công nghiệp đặc biệt là cây mía Tất cả tạo ramột cảnh quan môi trờng đẹp và bí ẩn không khí tỉnh lặng trầm t nh hồnthiêng sông núi ngàn năm còn vọng mãi
Thôn Dựng Tú cách đây mấy chục năm là địa bàn c trú chủ yếu củangời Mờng Nhng trong những năm gần đây thì ngời Kinh đã di chuyển lên
đây sinh sống nên c dân ở đây có cả ngời Mờng và ngời Kinh Cũng nh c dânvùng Ngọc Lặc nói chung trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh lâu dài c dânthôn Dựng Tú luôn đoàn kết với nhau kiên cờng anh dũng trong đấu tranh đãgóp phần tạo nên một sức mạnh làm nên chiến thắng oanh liệt của cuộc khởinghĩa Lam Sơn
Làng Dựng Tú của Lê Lai ở sát cạnh làng Nh áng của Lê Lợi Chínhmối quan hệ láng giềng thân cận này là cơ sở để Lê Lai hiểu thêm về Lê Lợi
từ khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn cha bùng nổ Những cơ sở này là nhân tố để
Lê Lai và con cháu gắn bó với ngọn cờ khởi nghĩa của nghĩa quân Lam Sơn
và sẵn sàng hi sinh vì Bình Định Vơng
2.1.1.2 Gia đình và dòng họ
Gia đình, dòng họ Lê Lai làm phụ đạo ở thôn Dựng Tú cha của Lê Lai
là Lê Kiều, Mẹ là bà Lê Thị Kiệu Theo kí ức của nhân dân trong làng thì bà
Lê Thị Kiệu là một ngời phụ nữ đảm đang, từ tốn, đôn hậu, giàu đức hi sinh bà
đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho chồng con tham gia khởi nghĩa Lam Sơn
Bà sinh đợc 2 ngời con trai trởng là Lê Lạn thứ là Lê Lai Cả 2 đềutham gia vào khởi nghĩa Lam Sơn và lập đợc nhiều chiến công hiển hách đặcbiệt là Lê Lai Tài liệu th tịch cũ ghi chép về Lê Lai: Lê Lai tính cơng trựcdung mạo khác thờng chí khí cao cả lẫm liệt lo việc hậu cần cho vua Lê rấtchu đáo So với dân bản lúc bấy giờ Lê Lai là ngời có học hành có chức sắc ở
địa phơng, là ngời có uy tín có quan hệ rộng rãi trong vùng
Trang 20Tất cả tài liệu từ trớc đến nay đều khẳng định Lê Lai là ngời Mờnghiện nay thôn Dựng Tú của Lê Lai vẫn nằm trong địa bàn của ngời MờngNgọc Lặc
Do uy tín của Lê Lai nhất là việc cả gia đình Lê Lai tham gia vào khởinghĩa Lam Sơn, ở thôn Dựng Tú nói riêng xã Kiên Thọ nói chung đều cónhiều ngời đứng lên ủng hộ Theo gia phả họ Lê để lại cho biết: vợ Lê Lai là
bà Lê Thị Đạo năm sinh năm mất gia phả không cho biết rõ, bà là ngời cócông nuôi chồng dạy dỗ con cháu theo chí lớn của bố Trong lịch sử Việt Nam
bà là một trong những ngời phụ nữ anh hùng đã có chồng có con hy sinh vì đấtnớc tên tuổi bà xứng đáng đợc lu danh cùng với tên tuổi của Lê Lai Bà sinh đ-
ợc 3 ngời con trai là: Lê Lô, Lê Lộ, Lê Lâm cả 3 ngời đều tham gia khởi nghĩaLam Sơn và là những tứơng quân tài giỏi góp phần làm nên chiến thắng củanghĩa quân Lam Sơn
Kế thừa thành quả đóng góp to lớn của Lê Lai và gia đình cho đất
n-ớc, dòng họ Lê Lai ngày càng phát triển mạnh mẽ Cuốn gia phả họ Lê Lai
đ-ợc lu giữ ngày nay nh một ngọc phả quý giá đã ghi chép đầy đủ chính xác cẩnthận dòng họ Lê Lai từ đời thứ nhất đến đời thứ 16 Con cháu dòng họ Lê Laihiện đang c nghiệp ở khắp nơi trong cả nớc từ Thanh Hoá, Hà Nội, Thái Bình
… Tất cả đều góp phần vào công cuộc xây dựng bảo vệ tổ quốc trong mọi thờikì lịch sử Sự phát triển mạnh mẽ ấy càng tạo ra cơ sở bền vững cho sự pháttriển của dòng họ và vị thế anh hùng dân tộc Lê Lai càng đợc nâng cao
Gia đình Lê Lai có đóng góp to lớn trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Lê Lai và gia đình ông là cả một nhà trung nghĩa vì nớc quên mình đã trởthành một biểu tợng cao đẹp rực rỡ nhất của lòng yêu nớc vì đất nớc của nhândân Thanh Hoá trong cuộc chiến đấu chống quân Minh ở đầu thế kỉ XV
Lê Lai có một ngời anh trai là Lê Lạn, theo vua Thái Tổ khởi binh và
có nhiều công lao Năm ất Tỵ ( 1425) đánh ở Cù Khả Lu ông bị hy sinh sautruy tặng là “Thái Phó Hiệp Trung Hầu”, gia tặng là “Hiệp Quận Công”
Lê Lai còn có 3 ngời con trai con trai trởng là Lê Lô, con thứ là Lê Lộcon út là Lê Lâm đều có tài năng và trở thành dũng tớng của khởi nghĩa LamSơn Theo tấm gơng chiến đấu của cha cả 3 ngời con trai của Lê Lai đều thamgia khởi nghĩa và chiến đấu dũng cảm là những tớng tài và lập nhiều công lớngóp phần tạo nên chiến thắng của cuộc khởi nghĩa
Trang 21Lê Lô, năm ât Tỵ ( 1425) vây thành Nghệ An cùng các tớng chia
đánh các nơi và bị chết trận Năm Thuận Thiên thứ nhất (1428) đã tặng ôngchức “Thiếu Uý”, đến năm Hồng Đức 15 (1484) tặng “Kiên Tiết Hầu” về sautặng là “Kiến Quận Công ”
Lê Lộ từ năm Tân Sửu ( 1421) sau trận đánh ở sách Bà Lầm ải KìnhLộng đã dẫn phục binh đánh bại Trần Trí thăng là “Tả Chung Quan Tổng
Đốc Ch Quân Sự” Đến năm Giáp Thìn (1424) đi theo vua đánh Châu Trà Lân
ở Bồ Lạp phá đợc quân Dã Phơng Chính và Sử Hiệu đợc thăng là Thái Bảo.Thánh 10 năm ấy trong chiến trận đánh nhau với giặc bị trúng tên và chết.Năm Thuận Thiên thứ nhất (1428) đã ban tặng là “Thái Uý” Đến năm Hồng
Đức thứ 15 (1484) tặng là “Chiêu Công Hầu” về sau ra tặng là “Chiêu QuậnCông”
Lê Lâm theo vua đi bình định giăc Ngô lập đợc công tích năm ThuậnThiên thứ nhất ban chiếu trao cho chức “Thứ Th Quân Thiết Đột” Trongnhững ngời theo vua khó nhọc từ Lũng Nhai lập nên công trạng Lê Lâm đứnghàng thứ ba đợc trao hàm “Trung Lơng Đại Phu Câu Kiệm Vệ Tớng Quân, tớcthơng trí tự suy trung đông đức hiệp mu bảo chính công thần”
Năm thứ 3 (1430) làm tiên phong đi đánh Ai Lao đuổi theo phá giặc
đuổi đến động Hồng Di bị trúng tên mà chết tặng là “Thiếu Uý”
Đầu năm Quang Thuận (1460) vì con là Lê Niệm có công phò lập vuaThánh tông nên gia tặng cho Lê Lâm là đô đốc Năm Hồng Đúc 15 (1484)tặng là “Trung Lễ Hầu” gia tặng là “Thái Uý Trung Quốc Công” ban thuỵ là
“Uy Vũ ”
Trong gia đình phụ đạo Lê Lai ngoài năm ngời: Lê Lạn, Lê Lai, Lê L,
Lê Lộ, Lê Lâm tham gia khởi nghĩa lập nhiều công trạng và hy sinh anh dũng,
ở đây còn đề cập tới sự đóng góp thầm lặng của 1 ngời phụ nữ bà Lê Thị Đạo
vợ của Lê Lai Mặc dù trong hầu hết tài liệu không đề cập công lao của Bà
nh-ng ở thôn Dựnh-ng Tú và huyện Ngọc Lặc nh-ngày nay còn đợc lu truyền nhiều câuchuyện kể về bà Bà Lê Thị Đạo hiệu là A Thiện là ngời phụ nữ có tấm lòngcao cả đảm đang chung thuỷ tận tuỵ một lòng hy sinh vì chồng con vì dân tộc
Bà không chỉ làm tròn nghĩa vụ của một ngời phụ nữ trong gia đình mà cònlàm tròn nghĩa vụ của một ngời phụ nữ hậu phơng trong kháng chiến Đặc biệtsau khi Lê Lai hi sinh ba ngời con đều hớng theo kháng chiến và ngã xuống vìdân tộc Với lòng yêu nớc và ý chí căm thù giặc cháy bỏng bà đem sức lực
Trang 22nhỏ bé của mình để đi kêu gọi nhân dân đóng góp nhân lực nhân tài cho cuộckháng chiến Chính hậu phơng vững chắc cuả ngời phụ nữ ấy đã tiếp thêm sứcmạnh ý chí cho chồng con tham gia kháng chiến đóng góp một phần vào cuộckhởi nghĩa Lam Sơn Việc dựng đền thờ bà bên cạnh Lê Lai đã thể hiện ngỡng
mộ của nhân dân đối với bà
Kế thừa tấm gơng sáng ngời của ông cha, con cháu của dòng họ LêLai đã lần lợt tham gia vào công cuộc xây dựng phát triển của triều Lê và lậpnhiều kì tích tiêu biểu là ba ngời con của Lê Lộ là: Tích, Tung, Dũng đều cónhiều công trạng đợc phong hầu Nhng nổi danh hơn cả trong triều Lê Sơ là
Lê Niệm là con trai của Lê Lâm và là cháu nội của Lê Lai, từ bé Lê Niệm đãthông minh chí khí hơn ngời văn võ hơn ngời ông là quan cận thần của nhà Lêbên cạnh võ tớng phục vụ triều Lê cho đến đời Lê Thánh Tông Ngày 16/ 11năm Canh Dần (1470) chính Lỗ Đại Tớng Quân phụ chính Thái S Đinh Liệtcùng chính Lỗ phó Thái Bảo Lê Niệm đem 10 vạn quân đi đờng biển vào namthu phục Chiêm Thành và dành thắng lợi toàn vẹn Đáp lại tấm lòng của LêNiệm trong bức trớng mừng công Thái S Đinh Liệt đợc phong tớc cao nhấtThái S Đinh Liệt đã phúc đáp Thái Tĩnh Quốc Công T Mã Thái Bảo Lê Niệmrằng:
“ Ta với ông ngời hồi sinh hoả
Phật hoàng đàm đạo dễ đâu quên
Ta với cha ngơi là chiến hữu
Ta với ngời cùng trận tuyến Trà bàn nghiêng đổ nớc ghi tên Tình sâu nghĩa nặng ba đời nối Hải yến đại bàng vững canh thâu ”
Đồng thời Thái S Đinh Liệt cũng đánh giá Thái Phó Tĩnh Quốc Côngcận thần T Mã Thái Bảo Lê Niệm rằng
“ Con ngời có học thức Giữ truyền thống cha ông Mẫn cảm trong công việc Bảo chính chống nguỵ tà”
Đến tháng 3 năm Hồng Đức thứ 16 (1485) Lê Niệm mất tặng là “Thái
Uý ” truy là “Trinh Uy ” [28,163 ]
Trang 23Nh vậy gia đình dòng họ Lê Lai đã có rất nhiều đóng góp cho côngcuộc khởi nghĩa Lam Sơn xây dựng cơ nghiệp triều Lê Sơ nêu cao những tấmlòng yêu nớc chói ngời
Đúng nh lời đánh giá công trạng của vua Lê Thánh Tông trong bài chếvăn phong tớc cho Lê Niệm năm 1460 rằng: “ huống chi một nhà trung nghĩathơng ông ngơi cha ngơi vì nớc mà bỏ mình ” [9,5]
2.1.2 Lê Lai với khởi nghĩa Lam Sơn.
2.1.2.1 Vài nét về khởi nghĩa Lam Sơn.
Sau khi cuộc kháng chiến chống quân Minh của nhà Hồ thất bại, cáccuộc kháng chiến chống quân Minh trên đất nớc ta tạm thời lắng xuống
Từ năm 1416 phong trào khởi nghĩa chống quân xâm lợc nhà Minhbắt đầu bùng nổ ở nhiều nơi Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợilãnh đạo Lê Lợi là ngời làng Cham nay thuộc xã Xuân Lam huyện Thọ Xuântỉnh Thanh Hoá Dòng họ Lê đến dựng nghiệp ở vùng núi Kiên Thọ- Lam Sơn
từ cuối đời Trần Cho đến đầu thế kỉ XV thì Lê Lợi đã trở thành một hào trởng
có uy tín và thế lực mạnh trong vùng, văn bia Vĩnh Lăng cho biết: Ông tổ họ
Lê một ngày đi chơi núi Lam Sơn thấy có đàn chim bay lợn dới chân núi vẻ
nh đông ngời tụ họp nên cho rằng đây là đất tốt liền dời nhà đến, đợc ba nămthì thành sản nghiệp Con cháu ngày một đông, tôi tớ ngày một nhiều, cuộc
mở nớc dựng nớc thực sự gây nên từ đây
Sách Hoàng Lê Ngọc Phả ghi rằng: Lê Lợi là một ngời thiên tử tuấn túkhác thờng, tinh thần và dáng ngời tinh anh mạnh mẽ, mắt sáng, miệng rộng,mũi cao, mặt có nốt ruồi, tiếng nói nh chuông, bớc đi nh hổ kẻ thức giả đềubiết là kẻ phi thờng Là một ngời có chí lớn, một kẻ phi thờng, biết mình cóthể đi xa và phải đi xa nên ông “Chuyên tâm đọc sách thao lợc” và “Dốc sạchcủa cải đãi khách khứa rất hậu, đón mời ngời trốn tránh thu nạp ngời chống
đối giặc Minh ngấm ngầm nuôi giấu những kẻ mu trí”
Sau một thời gian ngấm ngầm chuẩn bị thu nạp anh tài, tháng hai nămBính Tuất (1416) Lê Lợi tổ chức hội thề Lũng Nhai chính thức phát động cuộckhởi nghĩa chống quân Minh [20,236-237]
Sau một thời gian ngấm ngầm chuẩn bị thu nạp anh tài, tháng hai nămBính Tuất (1416) Lê Lợi tổ chức hội thề Lũng Nhai chính thức phát động cuộckhởi nghĩa chống quân Minh Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bắt đầu từ đây cùngvới sự lãnh đạo khéo léo của Lê Lợi đã đa cuộc kháng chiến kéo dài hơn 10
Trang 24năm đi đến thắng lợi hoàn toàn Thắng lợi đó là sự đóng góp của 277 vị côngthần dới chế độ vua tôi xây dựng nên nớc Đại Việt kéo dài hơn 3 thế kỷ ghivào trang sử vẻ vang của hàng nghìn năm dựng nớc và giữ nớc
Trong hội thề lũng nhai Lê Lợi đã chính thức đọc bài văn thề nh sau:
Hiệu thổ địa hoàng kỳ, kỵ
Ban quốc ch sứ danh Lam Sơn xuyên, thợng trung hạ đẳng chủ tônlinh thần phục nguyện phủ thuỳ chiến giáp, viết: Hữu bằng tự viễn phơng lai,giao lạc chỉ tính, tất tấu cáo lễ dả
T bản quốc phụ đạo chính thần Lê Lợi giữ Lê Lai chí Trơng chiếnthập bát nhân đẳng, tính sinh tuy hữu lỡng ban biệt chỉ, nghĩa kết thị đồngnhất tổ liên chi: Nh vinh hiển chi phận tuy thù, nguyện đồng tính chi tình bất
dị, thảng hoặc bằng đảng xâm chiếm, l trần, lợc Hồ, quá quan vi hạt nh kỳ LêLợi dữ Lê Lai Chí trơng chiến thập bát danh nhân tinh lực đồng tâm ngự thu
địa phơng đắc an c lẫn cánh sinh tứ câu đồng, bất vong đạn thệ, thần đẳngphục quyền
Thiên địa cập ch tôn kính thần chứng giám, giáng kỳ bách tớng tựthân vu gia, tông giễu tứ tính đồng đắc an ninh, điệp mộc
Thiên lộc nhợc thần Lê Lợi dữ Lê Lai, chí tờng chiến thập bát danhnhân đẳng, sinh ý thù đồ, âu cấu hiện tại, anh tế sơ vong bất hữu hiệp tâm xãvong đoan thể, thần phục nguyện
Thiên địa cập chủ tôn linh thần giáng chi bách ơng, tự thân vi gia tôngdiệu hạm thu chu diệt, luận chí
Thiên hình Cẩn
Tấu cáo [20, 201-202]
Dịch: “văn thề”
Trang 25Thiên khánh năm đầu sắc thuế đóng ở Bính Thân, tháng 2 Kỷ Mãosóc vợt qua 12 ngày Canh dần, A nam, Lộ Khả Lam tôi phụ đạo chính tên là
Lê Lợi cùng bạn Lê Lai, Lê Thận, Lê Văn Linh, Lê Văn An, Trịnh Khả, TrơngLôi, Lê Liệu, Bùi Quốc Hng, Lê Nanh, Lê Kiêm, Võ Uy, Nguyễn Trãi, LuNhân Chú, Trịnh Võ, Phạm Lôi, Lê Lý, Đinh Lan, Trơng Chiến kính cẩn dâng
lễ sinh huyết hết lòng mình
Tấu cáo lên
Hiện thiên thợng đế
Hậu thế địa hoàng
Và các tôn linh thần thợng, trung, hạ đẳng, các danh lam núi sôngtrong nớc cúi xin rủ lòng chứng giám rằng:
Có bạn từ phơng xa đến kết giao vui vẻ, cốt lấy điều tín cho nên làm lễtâu cáo này vậy
Nay ở nớc tôi, phụ đạo chính tôi là Lê Lợi cùng bọn Lê Lai đến TrơngChiến mời tám ngời, dòng họ tuy có hai bề khác gốc, nghiã kết xem nh một tổliền cành, dù rằng phận sang giàu có khác nhng coi tình cùng họ không xa.Thảng nh giặc Minh xâm chiếm cùng nhà Trần bắt họ Hồ qua ải làm hại nếubọn tôi là Lê Lợi và Lê Lai đến Trơng Chiến mời tám ngời dốc sức cùng lònggìn giữ địa phơng để trông coi đợc an ủi, sống chết cùng nhau, không quên lờithề thì bọn tôi cúi xin
Trời đất và các tôn linh thần giáng ban xuống trăm phúc lành từ bảnthân đến gia đình, tổ tông xa, con cháu gần đều đợc an ninh, dày hớng lộc trời,nếu bọn tôi là Lê Lợi và Lê Lai đến Trơng Chiến mời tám ngời, đi theo đờngkhác chỉ lo trớc mắt cách mặt lãng quên không cùng hiệp lòng bỏ mất lời thềthốt thì bọn tôi cúi xin
Trời đất và các tôn linh thần giáng xuống trăm tai vạ từ bản thân đếngia đình, tổ tông xa con cháu gần đều chịu chu diệt đúng nh hình phạt củatrời, kính
Tấu cáo[20,264]
Với 19 ngời tham gia hội thề Lũng Nhai đã thể hiện sự tập trung cao
độ của mọi tầng lớp trong xã hội, là hình ảnh thu nhỏ của khối đoàn kết nhândân Từ thủ lĩnh Lê Lợi thuộc tầng lớp (Quý tộc) Bùi Quốc Hng, Nguyễn Trãithuộc tầng lớp quan lại cũ và một số sĩ phu là Lê Văn Linh còn 15 ngời còn lại
Trang 26thuộc tầng lớp bình dân trong đó thành phần xuất thân là nông dân chiếm đa
số Đây là hạt nhân đầu tiên của bộ chỉ huy Lam Sơn
Từ những hạt nhân của hội thề Lũng Nhai anh hùng hào kiệt khắp nơidần dần quy tụ về Lam Sơn, nguyện thề đấu tranh cứu nớc dới ngọn cờ nhânnghĩa của vị thủ lĩnh Lê Lợi
Không chỉ là anh em nội ngoại ở Nội Cham, ngoại chủ ở lơng LamSơn mà nhân dân Thanh Hoá từ miền núi đến miến xuôi đều nô nức kéo vềLam Sơn tụ nghĩa, đặc biệt là các huyện Thọ Xuân, Ngọc Lặc, Đông Sơn Tiêubiểu nhất phải kể tới gia đình phụ đạo Lê Lai ở thôn Dựng Tú (Kiên Thọ -Ngọc Lặc)
Không chỉ ảnh hởng lớn trong địa bàn Thanh Hoá, cuộc khởi nghĩaLam Sơn con có sức thu hút mạnh mẽ nhân tài từ mọi miền đất nớc nh:Nguyễn Trãi, Nguyễn Xí, ở Chơng Mỹ (Hà Tây), Chấn Trại ở Thanh Trì,Phạm Văn Xảo ở vung kinh đô (Hà Nội), cha con Lu Trung, Lu Nhân Chú vàcon rể là Phạm Cuông ở Đại Từ (Bắc Thái) lần lợt về tụ nghĩa Lam Sơn
Trong những năm 1416 -1417 cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đợc chuẩn bịrất khẩn trơng, từ sau hội thề Lũng Nhai năm 1416 Lê Lợi cùng với nhiều ngờicộng sự đầu tiên đã dốc toàn bộ lực lợng vào việc chiêu mộ quân sĩ và nghiêncứu kế hoạch đấu tranh với quân thù Ngày 10 tháng Chạp năm Đinh Dậu(1417), “Hội đồng mu lợc” đổi thành “Hội đồng mu lợc tối cao” số ngời thamgia tăng từ 9 lên 13 ngời
Từ lâu biết Lê Lợi là một ngời có danh tiếng và uy tín rộng rãi, bọn ớng Minh nh: Trơng Phụ, Trần Tri, Mã Kì đã chú ý theo dõi và tìm cáchmua chuộc Cuối năm 1417 tên việt gian Lơng Nhữ Hốt ngời xã Chão Vịnhhuyện Cổ Đăng (Hoằng Hoá) đã mật báo của quân Minh rằng:
t-“Chúa Lam Sơn chiêu vong nạp bạn, đãi ngộ quân lính rất hậu chí nókhông phải nhỏ! Nếu Giao long đợc gặp mây ma thì tất không phải là vậttrong ao, nên sớm trừ đi để đàn áp, hòng dập tắt cuộc khởi nghĩa từ trongtrứng nớc”
Nhận thấy rõ âm mu của địch và sự lớn mạnh của nghĩa quân, điềukiện khởi nghĩa đã chín muồi Lê Lợi liền hội họp bộ tham mu quyết định khởinghĩa
Ngày 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất (07/02/1418) trong không khí tngbừng náo nhiệt của ngày tết cổ truyền tại căn cứ Lam Sơn, Lê Lợi cùng toàn
Trang 27bộ nghĩa quân dựng cờ khởi nghĩa Lê Lợi tự xng là “Bình Định Vơng” truyềnhịch đi khắp nơi kêu gọi nhân dân cùng đứng lên giết giặc cứu nớc
Từ núi Lam Sơn, ngọn lửa khởi nghĩa do Lê Lợi thắp sáng đã trở thànhngọn lửa tiêu biểu cho truyền thống lịch sử yêu nớc bất khuất và chính ngọn
cờ đoàn kết dân tộc cùng đứng lên giành độc lập
Lam Sơn bắt đầu từ hội thề Lũng Nhai năm 1416 với 19 ngời anhhùng bây giờ đã hợp thành một lực lợng đông đảo gồm 51 tớng văn võ, 200thiết bị, 200 dũng sĩ, 14 thớt voi …tất cả độ 2000 ngời [20] Nếu so với lực l-ợng quân Minh lúc đó có hơn 4 vạn 5 nghìn tên voi ngựa có hàng trăm con thìlực lợng của ta quả là nhỏ bé Nhng trong lực lợng nhỏ bé ban đầu đó chứa
đựng một sức mạnh tiềm tàng vô hạn và một khả năng chiến thắng Đó là vìnghĩa quân có chính nghĩa có tinh thần đấu tranh ngoan cờng, có bộ tham mulãnh đạo kiên quyết và tài giỏi có thể lãnh đạo đợc toàn dân
Từ sau hội thề Lũng Nhai năm Bính Thân, lá cờ khởi nghĩa Lam Sơn
đợc chính thức phất lên, Lê Lợi đã tập hợp đơc một lực lợng nhất định cầm cựvới giặc Tuy nhiên những năm đầu nghĩa quân Lam Sơn gặp muôn vàn khókhăn “Sách Lam Sơn Thực Lục” viết:
Năm 1418, năm Mậu Tuất, tháng 4 mồng 9 giặc tiến công Lam Sơn,
Lê Lợi rút về Lạc Thuỷ bố trí phục binh chờ chúng đến Trận này tớng LêThạch, Đinh Bồ, Lê Ngân, Lê Lý, Trơng Lôi đã chiến thắng oanh liệt chém đ-
ợc ba ngàn quân giặc, sang ngày 16 tên phản bội là ái đa đờng cho giặc, đi lốitắt đánh nghĩa quân bị thiệt hại nặng Vợ con Lê Lợi bị bắt Lê Lợi phải rút vềnúi Chí Linh ẩn náu rất cực khổ hết lơng ba tháng liền Giặc rút đi Lê Lợi tậphơp lại lực lợng còn có hơn trăm ngời đóng ở Mờng Khau để củng cố lực lợng,
ít lâu sau quay ra phản công đánh các trận ở Mờng Một, Mờng Nanh thu đợcthắng lợi, giặc bị thiệt hại phải rút đi Quân ta đánh trận ở Nghĩa Canh bắt đợctên chỉ huy là Nguyễn Sao chém ba nghìn đầu Lê Thạch đánh nhau với giặc ởgiáp giói Ai Lao bị tử trận
Năm 1420, ta bố trí phục ở bến Bổng thu đợc thắng lọi lớn, thấy địch
bỏ chạy các tớng khinh địch đuổi theo Lê Lợi ngăn lại không đợc nên ta bịthiệt hại nặng nề phải rút về Mờng Nanh rồi sang Mờng Thôi
Có tên phản bội là Cầm Lạ đua đờng cho bọn giặc là Lý Bôn, PhơngChính đến đánh ta ở Mờng Thôi, Lê Lợi sai bọn Trơng Lôi, Lê Bí, Lê Triệnmai phục ơ Bồ Mộng, rồi đánh tan giặc ở Bồ Thị Long, Lý Bôn, Phơng Chính
Trang 28chạy thoát thân Quân ta đuổi theo rồi đánh ở sách Bà Lãm (Lôi Giang) bọn t ớng giặc là Tạ Phơng, Hoàng Thanh bỏ đồn Nga Lạc rút về trại Quan Du quân
-ta tiến đánh Quan Du ép và quấy rối Từ đó thế giặc càng suy quân -ta nô nứchởng ứng, nhng chúng ta cũng bị thiệt hại các tớng: Đinh Lễ, Lê Triện, Đinh
Năm 1412 năm Nhâm Dần:
Giặc Ngô và quân Ai Lao phối hợp đánh ta thua ở Quan Du phải rút
về Sách Khôi giặc đuổi theo, Lê Lợi đốc thúc tớng sĩ liều chết giết đợc tớnggiặc là Phùng Chứ, Mã Kì, Trần Chi tháo chạy thoát thân, ta lại trở về núi ChíLinh, nhng lơng thực vẫn cạn kiệt, phải làm thịt voi ngựa mà ăn, quân ta nhiềulần bỏ trốn…
Năm 1424 tức năm Giáp Thân:
Quân ta đánh úp đồi Gia Căng, rồi kéo vào Nghệ An theo kế hoạchcủa Nguyễn Chích từ đây khởi nghĩa Lam Sơn phát triển trên địa bàn mới.Trong quá trình hoạt động ở địa bàn rừng núi Thanh Hoá, thanh thế của cuộckhởi nghĩa ngày càng lớn mạnh Nghĩa quân Lam sơn bớc đầu giành đợc một
số thắng lợi lớn, tuy nhiên đây cũng là năm tháng gian nan vất vả nhất củacuộc khởi nghĩa Lam Sơn trên địa bàn miền núi Thanh Hoá
Trong cuộc khởi nghĩa này Lê Lai và Lê Lợi luôn sát cánh bên nhau,vậy mối quan hệ giữa Lê Lai và Lê Lợi nh thế nào Theo t liệu dân gian chorằng Lê Lai không phải họ Lê mà là họ Nguyễn vì có công cứu chúa nên đựocphong họ vua đã từ lâu trong các công trình nghiên cứu về khởi nghĩa LamSơn từ trớc đến nay chỉ tập trung đến việc Lê Lai liều mình cứu chúa Lê Lợi
và thái độ của Lê Lợi đối với Lê Lai trớc hành động cao cả này, thì cha cócông trình nào nghiên cứu về mối quan hệ giữa Lê Lai và Lê Lợi
Trớc khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ, dòng họ Lê đã có uy tínrất lớn trong vùng Lam Sơn - Kiên Thọ và các vùng lân cận khác uy thế này làmột trong những yếu tố để Lê Lợi tập hợp lực lợng
Trang 29Trớc khi là thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Lê Lợi là hào trởng
“dấu mình ở Lam Sơn làm nghề cày cấy…dốc hết của hậu đãi tân khách”[20] Uy tí của Lê Lợi đã ảnh hởng rất lớn trong vùng
Trớc khi đến với khởi nghĩa Lam Sơn Lê Lai cũng là một ngời có uytín và thế lực ở vùng Kiên Thọ Dòng họ Lê Lai đời đời làm phụ đạo ở vùngMờng Dựng Tú là ngời có học hành, gia tộc có mối quan hệ rộng, hơn nữaDựng Tú và Lam Sơn cận kề nhau nên Lê Lai đã sớm có mối quan hệ sớm với
Lê Lợi
Mối quan hệ Lê Lai và Lê lợi trớc hết là mối quan hệ láng giềng giữanhững ngời ở trại Nh áng (Lam Sơn) và sách Dựng Tú (Kiên Thọ) Đây làmối quan hệ láng giềng truyền thống giữa những ngời cùng lao động sản xuấtlàm ăn sinh sống trên một địa bàn hẹp Do nhu cầu đoàn kết chống giặc ngoạixâm và nhu cầu giao tiếp văn hoá nên mối liên hệ này hoàn toàn tự nhiên, tạo
điêù kiện để Lê Lai có mối quan hệ với Lê Lợi với t cách là những ngời đứng
đầu khu vực
Mối quan hệ giữa Lê Lai với vị chủ trại Nh áng trớc khi phát độngcuộc khởi nghĩa chống quân xâm lợc nhà Minh là mối quan hệ về văn hoá tộcngời một vùng văn hoá Việt - Mờng
Vị tổ họ Lê buổi đầu mở đất khai khẩn trên địa bàn của ngời Mờngvùng Kiên Thọ - Dựng Tú ngày nay, sau đó mới rời về Lam Sơn, mối quan hệgiữa họ Lê với ngời Mờng vùng Kiên Thọ có từ lâu Phải chăng mối quan hệnày là cơ sở để một cô gái Mờng về làm dâu ở trại Nh áng?
Chắc chắn rằng sau khi mối lơng duyên của vị tổ trại Nh áng với côgái Mờng thành công thì mối quan hệ này ngày càng có điều kiện để pháttriển Lê Lai là ngời Mờng gốc ở Dựng Tú, thân mẫu của Lê Lợi cũng là ngờiMờng Mối liên hệ dân tộc này cùng đã góp phần cho mối quan hệ giữa LêLợi và Lê Lai có điều kiện phát triển, là cơ sở để Lê Lai hiểu thêm về Lê Lợiqua cách nhìn của dân tộc mình và Lê Lợi cũng có thêm niềm tin ở ngời bạnláng giềng chất phát thật thà qua cách nhìn từ thân mẫu mình
Tài liệu chính sử không cho biết về mối quan hệ giữa Lê Lai và Lê Lợitrớc khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, nhng tài liệu ở xã Kiên Thọ và những ghichép ít ỏi trong gia phả họ Lê Lai [7] ở Dựng Tú và Hoàng Lê Ngọc Phả [8]
đã góp phần cho biết thêm về mối quan hệ giữa Lê Lai và Lê Lợi
Trang 30Tài liệu dân gian ở Kiên Thọ và Lam Sơn cho biết khi còn là chủ trại
Nh áng Lê Lợi đã quan tâm và nhiều lần đến Dựng Tú gặp Lê Lai Trong quátrình thăm dò thuyết phục cho Lê Lai nuôi ý chí giết giặc cứu nớc cứu dân
Truyền thuyết dân gian ở Dựng Tú kể lại rằng: Gò Sánh ở gần sáchDựng Tú là nơi Lê Lai thờng gặp gỡ trao đồi đàm đạo với Lê Lợi về việc dấybinh khởi nghĩa
Từ chỗ tin theo Lê Lợi, Lê Lai đã cùng với Lê Lợi mu trí việc đánhgiặc cứu nớc Gia phả dòng họ Lê Lai cho biết trong thời gian chuẩn bị chocuộc khởi nghĩa tập hợp nhân tài Lê Lợi đã đề nghị với Lê Lai rằng: Lê Laiphải là ngời đầu tiên tham gia quân Lam Sơn để thu hút các hào kiệt bốn ph-
ơng về Lam Sơn tụ nghĩa
Các nguồn tài liệu sử sách ghi chép về khởi nghĩa Lam Sơn đều chobiết rằng: Trớc khi khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ, vùng đất Lam Sơn là nơi tụnghĩa của nhiều bậc anh tài Cho đến khi Lê Lợi tổ chức hội thề Lũng Nhai đã
Lê Lai đến vào giờ Thìn ngay 06/02/ất Mùi (1415)
Đinh Liệt đến vào giờ Dậu ngày 08/02 ất Mùi (1415)
Nguyễn Thận vào giờ Thìn ngày 09/02/ất Mùi (1415)
Nh vậy Lê Lai đã đến trại Nh áng của Lê Lợi trớc một năm khi LêLợi chính thức làm lễ thề phát động khởi nghĩa Điều quan trọng là ở chỗ LêLai là ngời đầu tiên sau mới đến các anh tài nh: Đinh Liệt, Nguyễn Thận
Có nhiều ngời đến với khởi nghĩa Lam Sơn t rất sớm, nhng cũng cónhững ngời đến trại Nh áng rồi lại ra đi sau mới trở lại, truyền thuyết LamSơn đã nói đến việc Nguyễn Trãi đến Lam Sơn rồi lại ra đi sau đó mới trở lạidâng sách “Bình Ngô Sách” Nhng Lê Lai thì khác với bản tính thật thà chấtphác và tin tởng ở Lê Lợi, Lê Lai đi cùng với Lê Lợi bí mật kế hoạch xâydựng cho việc chính thức phát động khởi nghĩa
Trong một năm trớc khi Lê Lợi tổ chức hội thề Lũng Nhai, Lê Lai đãcùng Lê Lợi đã bàn bạc định hớng khởi nghĩa, thu nạp nhân tài, tích luỹ lơngthực
Trang 31Ngọc phả họ Đinh cho biết: Sau khi đến trại Nh áng Lê Lợi đã cùngvới Lê lai, Đinh Liệt, Nguyễn Thận bàn đờng lối Bình Ngô cứu nớc Lê Lai,
Đinh Liệt, Nguyễn Thận đã tôn Lê Lợi làm “Lam Sơn động Chủ” địa điểm
mà Lê Lợi cùng Lê Lai, đinh Liệt, Nguyễn Thận thờng xuyên bàn bạc là ở vịtrí dới gốc cây đa cổ thụ
Để xúc tiến việc giấy binh trong năm 1415, Lê Lợi đã thành lập “Hội
đồng mu lợc” để mu lợc khởi nghĩa…với t cách là thành viên của hội đồng mulợc, Lê Lai đã tham gia tích cực cho việc chuẩn bị khởi nghĩa nh tìm nơi tổchức hội thề chuẩn bị hội thề …Tại hội thề Lũng Nhai sau Lê Lợi, Lê Lai làngời thứ hai có vai trò quan trọng
Nh vậy Lê Lai đã có mặt bên cạnh Lê Lợi ngay trong những ngày
“trứng nớc”đầu tiên của quá trình chuẩn bị gian nan cho cuộc khởi nghĩa LamSơn Lê Lai là một trong số 19 ngời đã tham gia dự hội thề Lũng Nhai tổ chứcvào mùa xuân năm 1416 ở hội thề này tên của Lê Lai đợc xếp sau ngay têncủa Lê Lợi [28] Sự có mặt của Lê Lai ở hội thề Lũng Nhai với vị trí thứ haisau Lê Lợi đã lôi kéo đợc lực lợng ngời Mờng vốn là lực lợng chủ yếu ở đâytham gia khởi nghĩa Lam Sơn Đây là một vấn đề hết sức quan trọng
Thực chất hội thề Lũng Nhai chính thức là buổi lễ ra mắt dới dạng thật
đặc biệt của bộ chỉ huy quân sự Lam Sơn Từ đây công việc chuẩn bị cho khởinghĩa Lam Sơn đợc tiến hành có tổ chức chặt chẽ hơn hẳn thời kỳ trớc đó
Đến năm 1418, cờ khởi nghĩa cứu nớc cứu dân đã phấp phới tung bay
ở Lam Sơn, bấy giờ Lê Lợi tự xng là “Bình Định Vơng” và trao chức cho tấtcả các tớng trong bộ chỉ huy quân sự Lam Sơn, Lê Lai đợc phong tớc Quannội hầu chức tổng quản trong phủ đô tổng quản [9;156], Quan nội hầu là tớc
vị cao nhất mà Lê Lợi đã phong cho các tớng dới quyền Tổng quản là chức
đứng đầu còn phủ đô tổng quản là cơ quan trực thuộc bộ chỉ huy chịu tráchnhiệm về hậu cần xây dựng đại bản doanh và bảo vệ Bình định Vơng Lê Lợicùng các tớng trong bộ chỉ huy Sử cũ chép rằng: Lê Lai lo việc hậu cần chovua Lê Thái Tổ thật chu đáo công trạng thật rõ ràng là vì vậy
Nhằm mục đích gây lòng tin tởng, ý chí chiến đấu cho sỹ tớng nghĩaquân Lê Lai và Đinh Liệt đợc cử đi tìm nơi tổ chức hội thề Vì thế trong nhật
kí của Đinh Liệt viết ngày 12-14 tháng 9 năm ất Mùi (1415) nh sau:
“Ta với Lê Lai đạp linh sơn
Đêm ngày hang dọc chẳng hơi thâm
Trang 32Hiểm trở sơn cùng và thuỷ tận
Lâm nguy chỉ tàm tạm dung thân”
2.1.2.2 Vai trò của Lê Lai trong khởi nghĩa Lam Sơn.
Ngay khi khởi nghĩa Lam Sơn vừa bùng nổ, quân Minh đã tập hợp lựclợng để đàn áp Từ thành Tây Đô (Thanh Hoá) chúng đánh thẳng vào LamSơn, Lê Lợi đành phải rút về Mờng Một (Lang Chánh) Từ Lam Sơn giặc ồ ạt
đánh vào Mờng Một với hi vọng là sẽ tiêu diệt hết lực lợng của Lê Lợi tại đây
Lê Lợi buộc phải rút về Lạc Thuỷ, chúng tìm cách trả thù Lê Lợi bằngcách đào mồ mả của tổ tiên Lê Lợi đặt trên thuyền neo ở giữa sông canh gácthật nghiêm ngặt Nhng các tớng Trịnh Khả và Bùi Bị đã dùng mu lấy lại đợchài cốt của tổ tiên Lê Lợi đem về Lam Sơn Giặc tức tối đánh vào Lam Sơn lầnthứ hai và lần này lực lợng của Lê Lợi tiêu hao không nhỏ Vợ con và nhiềungời khác trong gia tộc Lê Lợi bị bắt Nghĩa quân Lam Sơn đành phải rút lênnúi Chí Linh để cũng cố và xây dựng lực lợng [15,21-28]
Trong những ngày đầu gian nan này Lê Lai đã sát cánh cùng Lê Lợichiến đấu và cùng Lê Lợi chia sẽ khó khăn với ý chí kiên cờng
Núi Chí Linh hay Linh Sơn là một ngọn núi hiểm trở ở miền thợngsông Lơng, xa là Mờng Giao Lão và Yên Nhân nay thuộc xã Giao An LangChánh
Vào đầu thế kỉ XV Lang Chánh là một châu của tỉnh Thanh Hoá giápgianh với Ai Lao (CHDCND Lào) Núi Chí Linh thuộc dãy núi Phu Kinh gồmnhiều ngọn núi cao trên dới 1000m thuộc phía Tây Thanh Hoá kéo dài vàchiếm một khu vực rộng thuộc hai huyện Lang Chánh và Thờng Xuân
Nguyễn Mộng Nguyên ngời đỗ thái học sĩ cùng khoa với Nguyễn Trãi
đã mô tả vùng đất này trong bài phú núi Chí Linh với hình thái hiểm trở:
Một dải quanh co bao bọc, không thể hình trạng Cũng thật trời dành mà đất dấu bí hiểm muôn vànKhông nh động Hoa L là nơi chật hẹp
Khó cho đội vũ lâm đủ chỗ bày dànNghìn trợng đá cao kể cũng kém than chốn hiểmLng trời vách đứng, xem tày bách nhị cửa quanNúi bày ngọn giáo, cây dựng cờ phân
Cung điện tờng son tô một vẻ
Cỏ cây nh quân họp bao đàn
Trang 33Khen quả núi khéo chăm lo chức vụ
Sắp cơ ngơi để đón rớc xe loan
Muốn dỡng sức mà chờ cơ hội
Quyết biến gan để giật hung tàn
Rà cách phợng nhằm nơi ẩn náuUốn khúc sông qua buổi gian nan [14,278]
Rút lên núi Chí Linh nghĩa quân định dựa vào địa thế cực kì hiểm yếucủa vùng này để thủ hiểm, tạm tránh đuổi cuộc truy kích của địch nhng quânMinh quyết bao vây núi chí Linh Sau hơn hai tháng giằng co giặc đã rút khỏinúi Chí Linh và nghĩa quân Lê Lợi lại trở về Lam Sơn Chỉ một thời gian ngắnsau khi về Lam Sơn tinh thần cũng nh sức mạnh chiến đấu của nghĩa quân đợcphục hồi Để khích lệ quân sĩ Lê Lợi quyết định tổ chức hai trận đánh ở MờngMột và Mờng Nanh Cả hai trận đánh ấy nghĩa quân Lam Sơn đều giành đợcthắng lợi lớn, Nghĩa quân Lam Sơn đã chống trả lần nữa nhng do cả thế và lực
đều không cân xứng nên một lần nữa nghĩa quân phải rút lên núi Chí Linh[3,28] ở đây hiện nay còn lu giữ nhiều truyền thuyết và sự tích về cuộc khởinghĩa Lam Sơn
Biết rõ Lê Lợi và nghĩa quân đã rút về núi Chí Linh, quân Minh đãkhép chặt vòng vây nghiệt ngã hơn trớc nhiều Mọi ngã đờng ra vào Chí Linh
đều bị phong toả, ngày đêm quân thù lùng sục khắp hang cùng ngõ hẻm,nghĩa quân rơi vào thế vô cùng hiểm nghèo: “Lơng thực ít tuyệt đờng đi vềLinh Sơn, Mờng Cốc… quân lính chịu khổ đã rất vất vả hàng mời ngày liền,phải đào củ nâu cầm hơi tìm mật ong làm nớc uống ngời ngựa đói khổ” [20,4]Chí Linh Lê Lợi và nghĩa quân khốn khổ bộn bề Quân số ngày càng thiếuthốn lơng thực, bệnh tật bắt đầu hoành hành chí khí có phần nao núng Còn ởLam Sơn mồ mả cha ông Lê Lợi cùng vợ con bị đào bới ngời trong gia đình bịgiặc bắt hoặc phiêu tán… Trớc tình hình ngày càng nguy cấp, sự tồn vong củanghĩa quân Lam Sơn đang trong tình trạng ngàn cân treo sợi tóc Lê Lợi cùngcác đồng chí trong bộ tham mu của mình đã cùng nhau bàn kế sách để giảinguy bảo toàn lực lợng
Tuy vậy trong tình hình lúc bấy giờ, con đờng sống duy nhất của LamSơn chỉ có thể là tìm cách đánh lạc hớng sự chú ý của giặc để rồi rút khỏi núiChí Linh một cách an toàn mà thôi Đây là việc rất khó khăn, bởi lẽ muốn
đánh lạc hớng thành công Lam Sơn phải chấp nhận một tổn thất lớn nhất định
Trang 34và ai sẽ là ngời chấp nhận hi sinh để mở lối an toàn cho Lê Lợi và cho toàn bộlực lợng của Lam Sơn? trong tình thế cấp bách nhà vua hỏi các tớng:
“Ai giám đổi áo, thay ta đem quân ra đánh giặc, xng danh hiệu của tabắt trớc Kỷ Tín (Kỷ Tín là một tớng khi bị Hạng Vũ vây ở Huỳnh Dơng tìnhthế nguy cấp, Kỷ Tín đóng giả làm Hán Cao Tổ ra cửa thành và xng là Hán V-
ơng xin đầu hàng Quân Sở xúm lại xem Hán Vơng thừa cơ lẻn thoát, sau KỷTín bị Hạng Vũ giết chết) đời Hán để Ta có thể dấu tiếng nghỉ binh tập hợplực lợng tớng sĩ mu tính cuộc nổi dậy về sau”
Lê Lai đứng dậy khẳng khái nói:
“Tôi xin đi, sau này lấy đợc nớc thì nghĩ đến công lao của tôi khiếncho con cháu muôn đời đợc nhờ ơn nớc đó là nguyện vọng của tôi”
Nhà vua rất cảm động và nói:
“Bây giờ nguy hiểm thế này nếu ngồi giữ mảnh đất nguy hiểm, vua tôi
đều bị tiêu diệt, sợ sẽ vô ích nếu theo kế hoạch này may ra có thể thoát đợc
Kẻ trung thần chết vì nớc nào có tiếc gì” Nhà vua bái trời mà khấn rằng:
“Lê Lai có công đổi áo sau này tôi và con cháu tôi cùng con cháu cáctớng tá công thần nếu không nhớ đến công lao ấy thì xin cung điện biến thànhnúi rừng, ấn báu thành cục đồng, gơm thần biến thành dao cùn”[9,156-157]
Lê Lai liền cải trang làm Lê Lợi, lĩnh 500 quân và hai con voi chiến tựxng là “Chúa Lam Sơn” kéo ra anh dũng tập kích địch Quân Minh tập trungquân bao vây quyết bắt bằng đợc thủ lĩnh của nghĩa quân Cuộc chiến đấudiễn ra vô cùng ác liệt, đội quân cảm tử cùng Lê Lai chiến đấu tới hơi thở cuốicùng khi đã kiệt sức ông bị giặc bắt Giặc Minh bắt đợc Lê Lai tởng là Lê Lợibèn rút quân về và sau đó sử Lê Lai bằng những hình phạt cực kì tàn ác Tiếcthơng cho sự hi sinh cao cả của Lê Lai tớng Đinh Liệt đã cảm tác rằng:
“Kỷ tình tằng tái hiện
Lê Lai nguyên thế thiên
Tử trung hoàn sinh địa
Đại nam sử vĩnh truyềnNiệm hà trời sinh hoả
Tử nhân đệ nhất kiên
Từ Lũng Nhai minh thệ Niệm nhị khoá đào viênXng Vơng nguyên đán tết