Nghiên cứu phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Tuân trong tác phẩm này không những khẳng định đợc tài năng của ông mà còn cho ta thấy đợc tấm lòng của ông đối với Hà Nội, đối với cuộc kháng c
Trang 1Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài.
Nguyễn Tuân, ngời đặt nền móng cho văn xuôi Việt Nam
hiện đại, đợc xem là bậc thầy của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam [14,203], là thầy chữ [29,256], là nghệ sĩ ngôn từ đa cái đẹp thăng hoa [1,45], là một phong cách nghệ thuật độc
đáo [4,97], là huyền thoại của một thời [21,145], là ngời đi săn tìm cái đẹp [24,165]…
Với tài hoa độc đáo, với sự uyên bác và phong cách riêng của mình, Nguyễn Tuân đã tạo đợc những nét riêng về cách sáng tạo và sử dụng ngôn ngữ, xứng đáng để nhiều ngời học
tập Chính ông đã đặt viên đá riêng vào cái mới mẻ của văn xuôi tiếng Việt ta, viên đá ấy là một hòn đá tảng [25,541].
Và vì thế, trên văn đàn Việt Nam, Nguyễn Tuân là ngời có
vị trí quan trọng Ông là cái mốc đánh dấu cho sự đổi mới thể văn xuôi tiếng Việt ra khỏi lối văn biền ngẫu Chúng ta học đợc ở ông rất nhiều về cách dùng từ, đặt câu, cách sáng tạo từ mới cũng nh tinh thần lao động khổ hạnh vì nghệ thuật
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu hoặc lớn, hoặc nhỏ về Nguyễn Tuân Đặc biệt là về loại truyện ngắn và tuỳ bút Tuy nhiên về thể loại ký các bài nghiên cứu còn rất ít Ta thấy nổi lên trên hết là tác giả Nguyễn Lai với
bài thể loại ký và Nguyễn Tuân [12], tiếp đó là Hoài Anh với
Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi [2] Các bài viết này hoặc là dừng lại
ở những kết luận chung, khái quát, hoặc là đi tìm cái đẹp
về mặt nội dung mà cha chú đến việc khai thác cái hay, cái
Trang 2đẹp trong sử dụng ngôn ngữ Vì vậy để thấy đợc phong cách độc đáo, đa tài, đa dạng vẻ của Nguyễn Tuân, chúng tôi đã chọn đề tài này Hơn thế Nguyễn Tuân là một trong chín tác gia ở trờng phổ thông nên việc lựa chọn đề tài này
là một việc làm có ý nghĩa thiết thực, giúp chúng tôi có cái nhìn toàn diện hơn về nhà văn này, tạo tiền đề cho việc
giảng dạy ở trờng phổ thông trung học Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi là một tập ký hay, nó ghi lại cuộc đấu tranh kiên cờng,
anh dũng của nhân dân Hà Nội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc vĩ đại Nghiên cứu phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Tuân trong tác phẩm này không những khẳng
định đợc tài năng của ông mà còn cho ta thấy đợc tấm lòng của ông đối với Hà Nội, đối với cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu :
Phải nói rằng cho đến bây giờ đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Tuân Hoặc lớn hoặc nhỏ về quy mô, song nhìn chung các tác giả đã khái quát lên đợc những nét đặc trng về phong cách của nhà văn tài hoa độc
đáo này Trớc một số lợng khá lớn những bài nghiên cứu, chúng tôi tạm chia ra làm hai khuynh hớng Một khuynh hớng nghiên cứu trên phơng diện văn học và một khuynh hớng nghiên cứu trên phơng diện ngôn ngữ học.
Trên phơng diện văn học, do giới hạn của đề tài chúng tôi chỉ xin đợc đa ra nhận xét khái quát nhất của Nguyễn Đăng Mạnh [16,239] về nhà văn Nguyễn Tuân Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng trớc Cách Mạng, Nguyễn Tuân là một hiện tợng phức tạp với quan điểm duy mỹ, chỉ chú ý đến cái đẹp hình
Trang 3thức Sự phức tạp ấy còn thể hiện ở chủ nghĩa “xê dịch”, ở cái “bệnh tôi” mà Nguyễn Tuân cố ném ra để chơi ngông với đời Sau Cách Mạng, ngòi bút này đã có sự chuyển biến
về phong cách Đề tài cổ không còn là linh hồn của tác phẩm của Nguyễn Tuân mà trong những trang viết của ông luôn
có sự hiện diện của cuộc sống thực tại Cái đẹp vẫn đợc ông nâng niu nhng là cái đẹp của lối sống thanh lịch, nhã nhặn Cùng với Nguyễn Đăng Mạnh là rất nhiều các nhà nghiên cứu khác nh: Vũ Ngọc Phan, Phan Cự Đệ, Tạ Ty, Nguyễn Vĩ, Trơng Chính, Vơng Chí Nhàn, Nguyễn Đình Thi, Hà Minh Đức, Ngọc Trai, Hoài Anh… Nói chung, các nhà nghiên cứu nàyđều thống nhất rằng Nguyễn Tuân là một nhà văn tài hoa độc
đáo.
Trên phơng diện ngôn ngữ học cho đến nay quả thực cha
có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên trong các bài nghiên cứu về văn học, các tác giả đã ít nhiều
đã đề cập đến Với sự tìm tòi, khám phá rất công phu đến nay ngời ta đã khái quát lên đợc những đặc trng về khái quát ngôn ngữ về nhà văn này.
Tạ Ty kết luận: toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Tuân không nhiều nhng môĩ tác phẩm đều súc tích và chứa đựng sự bắt buông, vợt thoát của ngôn ngữ đi vào thế giới riêng biệt
mà chỉ có Nguyễn Tuân mới đủ sức phung phí và sử dụng
để hình thành một kiến trúc vĩ đại Mỗi chữ Nguyễn Tuân dùng đều trở nên quý giá, Nguyễn Tuân viết mà nh điêu khắc, cần cù chạm trổ vào mặt đá qúy những hình nét trác tuyệt [28,58] Và ông còn cho rằng: nói đến Nguyễn Tuân
là nói đến một giá trị hiển nhiên là khơi sáng lại dòng thời
Trang 4gian đã chìm khuất, là nhắc nhở đến vùng trời xôn xao của thanh âm ngôn ngữ Hành trình vào tác phẩm của Nguyễn Tuân nh hành trình vào một cung điện tráng lệ đầy màu sắc diễm ảo Từng nguồn ánh sáng lung linh chiếu rọi vào mỗi dòng, mỗi chữ Thứ ánh sáng kì lạ làm mê hoặc cả gỗ đá vô tri và làm nhũn từng ý nghĩ bứt đi tự niềm cô đơn nhất
[26,57].
Có thể nói, tiêu biểu nhất trên phơng diện ngôn ngữ là bài viết của Nguyễn Lai Nguyễn Lai cho rằng: Nguyễn Tuân là một nhà văn luôn có ý thức tôn trọng, nâng niu và giữ gìn
sự phong phú, giàu có của tiếng Việt, ông đã tích luỹ cho mình một vốn từ hết sức phong phú Câu văn của Nguyễn Tuân giàu hình ảnh, giàu sắc thái biểu cảm cùng với nhịp
điệu không bị gò bó Câu văn của Nguyễn Tuân rất khó bắt mạch ngữ pháp có quy luật Nguyễn Lai thống kê: trong
số 2426 câu tuỳ bút trớc và sau Cách Mạng, câu dài khoảng
50 từ trở lên chiếm 11,8% Nguyễn Lai cho rằng: Câu dài của văn Nguyễn Tuân không chỉ góp phần khắc phục lối văn biền ngẫu mà nó còn là sự gợi mở về cách dùng tiếng Việt với những câu dài phóng khoáng nhất Nguyễn Tuân thờng biến những câu miêu tả thành những câu tình thái trong khi miêu tả Văn Nguyễn Tuân có nhiều câu dài ít chủ ngữ Các sắc thái tự nhiên đợc đa vào văn viết mà không xô bồ, rối rắm Văn Nguyễn Tuân chấm câu khá tự do, cực đoan trong việc dùng dấu phẩy, mạnh dạn dùng dấu nối để tạo những tổ hợp định danh mới Do vậy, Nguyễn Lai kết luận
rằng tiếng Việt của Nguyễn Tuân là thứ tiếng Việt tự do, nằm ngoài khuôn mẫu nhà trờng [12, 141].
Trang 5Đồng ý với Nguyễn Lai, Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: ngôn từ Nguyễn Tuân có một thứ ma lực, văn xuôi của anh giàu hình tợng, giàu nhạc điệu và chất thơ: câu văn của Nguyễn Tuân
có nhiều kiểu cấu trúc đa dạng và ông là nghệ sỹ ngôn từ biết chú trọng đến âm điệu, nhịp điệu của câu văn xuôi.
Nguyễn Tuân mới nắm đợc cái đẹp của câu văn đơn tiết.
Nh vậy, tuy các công trình nghiên cứu ngôn ngữ của Nguyễn Tuân đã thu đợc những kết quả đáng mừng song
do xuất phát từ nhiều mục đích, ở những điều kiện khác nhau nên các kết luận ít nhiều còn mang tính khái quát, cha thực sự đi sâu vào các biện pháp tu từ thể hiện trong các tác phẩm cụ thể thuộc các thể loại cụ thể
Trong luận văn này, chúng tôi muốn đề cập đến cái độc
đáo trong phong cách ngôn ngữ Nguyễn Tuân ở một tác
phẩm ký cụ thể là: Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi trên các phơng
diện: dùng từ, đặt câu, giọng điệu và đặc biệt là sự pha trộn của ngôn ngữ các thể loại khác trong ký Nguyễn Tuân.
3 Giới hạn đề tài.
3.1 Về dẫn liệu khảo sát.
Trang 6Chúng tôi tiến hành khảo sát trên 190 trang ký của Nguyễn
Tuân in trong tập ký Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi - Nxb Hà Nội
1983
3.2 Về nội dung nghiên cứu.
Trong giới hạn luận văn này, chúng tôi chỉ tiến hành tìm hiểu cách lựa chọn sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Tuân
trong cuốn Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, từ đó rút ra một số kết
luận về phong cách ngôn ngữ ký của ông
4 Mục đích, phơng pháp nghiên cứu.
4.1 Mục đích nghiên cứu.
Mục đích xuyên suốt toàn bộ đề tài này là tìm ra những
đặc điểm đặc ngôn ngữ ký của Nguyễn Tuân và rút ra một số đặc điểm riêng về ký của ông.
+ Phơng pháp đối chiếu, so sánh: Từ những số liệu có đợc chúng tôi tiến hành đối chiếu, so sánh với các tác phẩm khác của Nguyễn Tuân và của các nhà văn khác nhằm tìm ra đợc cái riêng, cái độc đáo của phong cách ngôn ngữ ký Nguyễn Tuân.
+ Phơng pháp phân tích phong cách học: Từ những ngữ liệu chúng tôi tiến hành phân tích để thấy đợc cái hay trong việc lựa chọn và sử dụng từ ngữ của Nguyễn Tuân.
5 Bố cục luận văn.
Trang 7Ngoài các phần: Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đợc triển khai bằng ba chơng:
Hiện nay, từ phong cách đợc sử dụng rất nhiều trong các
lĩnh vực của đời sống xã hội với nhiều nghĩa khác nhau Trong văn học, khái niệm này cũng còn rất nhiều cách hiểu Song nhìn chung, phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mỹ chỉ sự thống nhất tơng đối ổn định của các hệ thống hình tợng, của các phơng tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong một tác phẩm cụ thể, một trào lu văn học của một dân tộc cụ thể nào đó Các dấu hiệu của phong cách dờng nh nổi lên trên bề mặt của tác phẩm nh một thể thống nhất hữu hình và có thể tri giác đợc của tất cả các yếu tố cơ bản của hình thức nghệ thuật Trong nghĩa rộng, phong cách là nguyên tắc xuyên suốt trong việc xây dựng hình thức nghệ
Trang 8thuật, đem lại cho tác phẩm một tính chỉnh thể có thể cảm nhận đợc, một giọng điệu và một sắc thái thống nhất Phong cách bao gồm phong cách thời đại, phong cách trào lu, phong cách dân tộc, phong cách cá nhân tác giả Phong cách là tiêu chí để nhận diện, phân biệt nhà văn này với nhà văn khác, trào lu văn học này với trào lu văn học khác, thậm chí dân tộc này với dân tộc khác Cái tạo nên sự thống nhất ở mỗi nhà văn, trào lu, dân tộc thể hiện tập trung ở cách đánh giá, nhìn nhận thế giới khách quan và hệ thống bút pháp nghệ thuật phù hợp với cánh nhìn nhận ấy Đặc trng của phong cách là tính thống nhất giữa các bộ phận trong một chỉnh thê hay chính là tính cấu trúc Tính cấu trúc của phong cách biều hiện ở chỗ chỉ nhìn một bộ phận ta đoán đợc cái toàn thể, khẳng định đợc năm tháng ra đời, tác giả của nó Chính vì
vậy mà giáo s Phan Ngọc định nghĩa: Phong cách là một cấu trúc hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử và chứa đựng một giá trị lịch sử có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, một tác phẩm hay một tác giả [21, 31].
Phong cách nghệ thuật có tính bền vững nhng cũng có sự phát triển đổi mới Sự phát triển đổi mới đó diễn ra trên cơ
sở của sự kế thừa.
1.2 Ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học vì vậy văn học đợc gọi là nghệ thuật ngôn từ Ngôn ngữ nhân dân là cuội nguồn của ngôn ngữ nghệ thuật Mỗi nghệ sĩ khi sử dụng ngôn ngữ đã lấy nó ra từ kho ngôn ngữ chung
mà chọn lọc, gọt dũa qua lao động nghệ thuật chân chính
Trang 9của mình Đến lợt nó, ngôn ngữ của nhà văn lại góp phần nâng cao, làm phong phú thêm ngôn ngữ nhân dân Ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn Mỗi nhà văn lớn bao giờ cũng là một tấm g-
ơng sáng về mặt hiểu biết ngôn ngữ nhân dân, cần cù lao
động, trau dồi ngôn ngữ trong quá trình sáng tác Ngôn ngữ nghệ thuật khác với ngôn ngữ hành chính, khoa học… ở chỗ:
ngôn ngữ nghệ thuật có tính chính xác tính hàm súc, tính
đa nghĩa, tính tạo hình và tính biểu cảm [6, 186] Căn cứ
để phân biệt ngôn ngữ nghệ thuật với các hình thái ngôn ngữ khác ở chỗ ngôn ngữ nghệ thuật là thứ ngôn ngữ mang
ý nghĩa thẩm mỹ Tính hình tợng là thuộc tính bản chất nhất xuyên suốt, quy định mọi thuộc tính khác Trong mối quan hệ với văn hoá, khi đã hoá thân vào nghệ thuật, ngôn ngữ đã vợt khỏi chức năng sơ đẳng ban đầu, phát huy tối
đa tiềm năng của mình để dựng lên một bức tranh tổng hợp và sinh động về bộ mặt tinh thần của xã hội Ngôn ngữ nghệ thuật và là công cụ t duy vừa chuyển tải hình tợng nghệ thuật chủ quan của nghệ sĩ Ngôn ngữ nghệ thuật bao
giờ cũng là thứ tín hiệu giàu phẩm chất tâm lý xã hội vừa
giàu tính truyền thống vừa giàu tính hiện đại nhất Ngôn ngữ ở đây không đơn thuần chỉ là nghĩa mà trong đó là cả một kho kiến thức, một truyền thống văn hoá, một chiều sâu thẩm mỹ mà muốn chiếm lĩnh đợc nó, ngời đọc phải tự nâng mình lên một cách toàn diện Ngôn ngữ nghệ thuật bao giờ cũng là phơng tiện và chất liệu để tạo ra những mạch truyền cảm Nh vậy, ngôn ngữ nghệ thuật là thứ ngôn ngữ đợc chọn lọc từ ngôn ngữ nhân dân, là biểu hiện
Trang 10đầy đủ nhất, nổi bật nhất của ngôn ngữ văn hoá và rộng hơn ngôn ngữ toàn dân Nó có khả năng khơi gợi và đem lại cho ngời đọc sự hởng thụ thẩm mỹ dồi dào Nó mang dấu ấn của ngời tạo ra và sử dụng Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ hoạt động mở, giàu tiềm năng phái sinh các sắc thái nghĩa tâm lý Loại ngôn ngữ này kết tinh trong nó chiều dài truyền thống văn hoá dân tộc.
1.3 Phong cách ngôn ngữ.
Phong cách là quy luật thống nhất các yếu tố của một chỉnh thể nghệ thật Có bao nhiêu yếu tố cấu thành tác phẩm nghệ thuật thì có bấy nhiêu phơng diện biểu hiện phong cách nghệ thuật của nhà văn Phong cách có thể biểu hiện qua hệ thống nhân vật, qua hệ thống cảm hứng, qua
đề tài, qua hệ thống các biện pháp nghệ thuật, qua việc lựa chọn thể loại, đặc biệt là qua ngôn ngữ.
Vậy, phong cách ngôn ngữ là một khái niệm nằm trong phong cách nghệ thuật, nó thể hiện ở việc cá thể hoá ngôn ngữ của tác giả Nằm trong tính toàn vẹn của cơ cấu nghệ thuật, tác phẩm văn học bao giờ cũng là một cơ thể sinh
động có sự thống nhất của nhiều yếu tố Trong đó, yếu tố ngôn ngữ bao giờ cũng là yếu tố khởi đầu và là điểm tựa Ngôn ngữ của ngời nghệ sĩ không tự nhiên mà có Nó là thứ của cải lâu đời và quý giá do con ngời tạo ra trong cả một quá trình lịch sử, là lời ăn tiếng nói của nhân dân Ngôn ngữ vừa là tài sản riêng của nghệ sĩ vừa là tài sản của toàn dân Nó đợc tinh luyện, mang tính chuẩn mực, điển hình.
Đó là sự kết tinh, nâng cao, chọn lọc những âm thanh ta vẫn nghe, những lời ta vẫn nói, những chữ ta vẫn đọc Tuy
Trang 11nhiên, khi đứng trớc kho tài sản chung ấy, mỗi nghệ sĩ chọn cho mình những chất liệu riêng làm công cụ truyền đạt ý mình mà không ai giống ai Việc lựa chọn từ ngữ, lựa chọn cách diễn đạt hoàn toàn mang tính chủ quan, cá nhân của ngời nghệ sĩ Đối với ngời nghệ sĩ, sáng tạo văn học, đứng ở một góc độ nào đó, là quá trình điều hành, tổ chức ngôn ngữ theo một cơ cấu riêng mang tính chủ quan ở đây ngôn ngữ vừa là một phơng tiện vừa là một chất liệu cơ bản để khách quan hoá những hình tợng trong t duy của tác giả Mỗi nhà văn, do xu hớng, thị hiếu, tập quán, tâm lý xã hội, cá tính
mà hình thành nên cái giọng riêng Đối với nhà văn cái giọng riêng đó là cái quyết định sự sống còn Vì vậy mà mỗi nhà văn đều muốn tạo cho mình một giọng riêng không lặp lại ở các nhà văn khác
a chọn cho mình một lối chơi độc tấu, đứng bên trên là
trêu gẹo kẻ khác
Trang 12Vốn ngôn ngữ là của chung song việc vận dụng nó lại phụ thuộc vào bản thân mỗi nhà văn Ngôn ngữ văn chơng là thứ ngôn ngữ mang tính chủ quan của ngời nghệ sĩ Phong cách ngôn ngữ không chỉ thể hiện ở cách sử dụng từ ngữ
mà còn thể hiện ở lối diễn đạt, sử dụng chúng thế nào cho
đắc địa, thể hiện ở cách đặt câu, kết đoạn và cách sử dụng các biện pháp tu từ Tuy nhiên, ngôn ngữ riêng của mỗi nhà văn không phải là một hiện tợng riêng lẻ, tách riêng ra khỏi toàn bộ chuẩn mực ngôn ngữ của toàn dân tộc Mà ngôn ngữ riêng của nhà văn là sự đổi mới có tính hệ thống dựa trên cơ sở kế thừa và đợc mọi ngời chấp nhận Chính vì thế, những nhà văn lớn thờng là những ngời có công trong việc
đổi mới ngôn ngữ dân tộc Việc xác định phong cách ngôn ngữ của một nhà văn đòi hỏi phải khảo sát sự kế thừa và
đổi mới của nhà văn đó đối với kho ngôn ngữ dân tộc trên mọi cấp độ làm nên hệ thống ngôn ngữ
1.4 Phong cách thể loại
Cũng nh phong cách nhà văn, phong cách thể loại là nét riêng, nét khu biệt giữa thể loại này với thể loại khác Phong cách thể hiện ở chỗ mỗi thể loại văn học có một hệ thống đề tài, nhân vật, cách xây dựng văn bản, ngôn ngữ riêng Nếu thể loại sử thi nghiêng về các đề tài mang ý nghĩa lịch sử trọng đại của cộng đồng, dân tộc thì thể loại tiểu thuyết lại
đi sâu khai thác đời sống riêng t, cá nhân của con ngời Nếu trong thơ tác giả có quyền bộc lộ trực tiếp t tởng, tình cảm của mình thì trong truyện ngắn, t tởng tình cảm đó bao giờ cũng bộc lộ gián tiếp qua nhân vật Nếu tính cách nhân vật là điểm mấu chốt thể hiện chủ đề tác phẩm trong tiểu
Trang 13thuyết và truyện ngắn thì trong kịch chủ đề đợc khai thác qua mâu thuẫn và hành động kịch.
Thực ra, nếu không đi sâu vào đặc trng thể loại thì cũng khó khai thác hết những gì gọi là phong cách tác giả Cùng một chủ đề, cùng một cảm hứng nhng ứng với những thể loại khác nhau, ta có những cách thể hiện khác nhau Mỗi thể loại phù hợp với một loại đề tài, một sở trờng ngôn ngữ riêng (Nói
về ngôn ngữ thể loại, chúng tôi nhắc lại ở mục phong cách ngôn ngữ thể loại trong chơng 3)
Nh vậy, dù văn xuôi hay thơ, mỗi thể loại đều mang một nét riêng, đó chính là phong cách thể loại Chính nét phong cách đó mà khi đọc một văn bản nghệ thuật, chúng ta phân biệt đợc tác phẩm đó theo thể loại nào Tuy nhiên thể loại không đồng nhất với phong cách mà chỉ có thể loại nào có
đợc một cách nhìn mới, riêng của nó lúc đó mới có phong cách.
1.5 Phong cách nhà văn.
Trong sáng tạo nghệ thuật, cái riêng, cái độc đáo quyết
định sự tồn tại của nghệ sĩ Ai cũng muốn tạo cho mình một nét riêng, khác biệt, tuy nhiên không phải nhà văn nào cũng tạo đợc cho mình một phong cách riêng mà chỉ có những nhà văn có tài thực sự, có bản lĩnh vững vàng thì mới tạo cho mình đợc một phong cách Một tác giả chỉ có đợc phong cách riêng khi đọc một vài câu văn của ngời đó, ngời
đọc biết đợc tác giả của nó là ai, và khi cái phong cách mà tác giả ấy xây dựng nên góp phần vào truyền thống văn học, trở thành mẫu mực cho nhiều ngời noi theo và học tập Phong cách nhà văn là nét riêng, nét độc đáo để phân biệt nhà
Trang 14văn này với nhà văn khác Những nét riêng ấy là sự lặp đi lặp lại có hệ thống trên nhiều tác phẩm hoặc trên một tác phẩm của cùng một tác giả những yếu tố nghệ thuật Nét riêng đó thể hiện cách nhìn, cách cảm của mỗi nhà văn đối với thế giới khách quan và tài năng của nhà văn đó trong việc lựa chọn và sử dụng các phơng tiện biểu đạt Phong cách nhà văn chịu sự chi phối của các yếu tố nh thế giới quan, tâm lí, khí chất, và cá tính của mỗi ngời Phong cách nhà văn vừa mang những nét riêng, cá nhân vừa mang dấu ấn của dân tộc và thời đại Phong cách nhà văn một khi đã hình thành thì nó có tính bền vững và tơng đối ổn định Tuy nhiên vẫn có sự thay đổi, phát triển trong từng điều kiện nhất định.
Nh vậy, khi nghiên cứu phong cách một nhà văn chúng ta nhất thiết phải tìm ra nét riêng của nhà văn đó, phải tìm xem nhà văn đó đã kế thừa những gì ở truyền thống văn học dân tộc và họ đã có những gì đổi mới, phát triển,
đóng góp của họ cho văn học dân tộc là gì Muốn vậy, chúng ta phải tiến hành khảo sát trên nhiều tác phẩm hoặc nếu ở một tác phẩm thì phải thấy cho đợc sự lặp lại nhiều lần những yếu tố nghệ thuật Từ đó khái quát nó lên, đặt nó trong hệ các nhà văn khác mà đối chiếu, so sánh để rút ra những kết luận về phong cách.
1.6 Đặc trng thể loại ký.
Trong nghiên cứu văn học Việt Nam đơng đại, ký là một thuật ngữ dùng để gọi tên một thể loại văn học bao gồm
nhiều thể khác nh: Bút ký, hồi ký, du ký, ký chính luận,
phóng sự, tản văn Có thể nói, ký là một thể loại nằm giữa
Trang 15văn báo chí và văn học Ký gần với văn báo chí ở chỗ nó viết
về cuộc sống thực tại, về ngời thật, việc thật Ký thờng đợc viết nh là sự phản ứng trực tiếp đối với những biến cố thời
sự, trớc những vấn đề nóng bỏng đặt ra trong cuộc sống.
Về mặt truyền đạt sự kiện, ký đòi hỏi sự trung thực, chính xác Tuy vậy, ký vẫn gần với văn học ở chỗ nó có những phẩm giá nh: Tính giọng điệu, tính đa nghĩa của văn bản, câu văn trong tác phẩm ký có hồn, tạo đợc những bối cảnh, những nhân vật đặc sắc, những h cấu tài tình Thể loại này vừa
có yếu tố của truyện vừa có sự tham gia trực tiếp của t duy nghiên cứu Những yếu tố truyện thể hiện ở chỗ nó tạo ra những hình ảnh có hồn T duy nghiên cứu trong ký thể hiện
ở chỗ nó cung cấp những dữ kiện, những tri thức nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức của con ngời Sự hợp nhất giữa t duy nghệ thuật và t duy nghiên cứu là đặc trng của t duy viết
ký Trong ký, yếu tố chính luận là vai trò cốt yếu còn cốt truyện chỉ là căn cứ cho sự kiện, làm bàn đạp thực tại cho t tởng chính luận Vì vậy nên ngoài hiệu quả gây khoái cảm
mỹ học, thể loại ký còn gây cho ngời đọc những khoái thú thuần trí tuệ bằng việc cung cấp cho họ những tri thức mà
họ quan tâm, có khi chỉ là những kiến thức thoả mãn óc tò
mò thông thờng của con ngời ở thể ký, tác giả có quyền bộc
lộ trực tiếp nỗi niềm của mình [9,122] Trong thể loại ký,
chất liệu ngôn ngữ đợc sử dụng là những chi tiết hiện thực trực tiếp gắn với môi trờng xảy ra sự kiện Tính hiện thực ở
đây thiên về mặt phản ánh quá trình xảy ra theo logic tự nhiên.
Trang 16Khác với truyện ngắn, tiểu thuyết, ký không nhằm vào việc miêu tả quá trình hình thành tính cách cá nhân trong tơng quan với hoán cảnh Những câu chuyện đời t khi cha nâng lên thành vấn đề xã hội thì cũng không phải là vấn đề quan
tâm của ký Đối tợng nhận thức thẩm mỹ của ký thờng là một vấn đề, một trạng thái đạo đức, phong hoá xã hội, một trạng thái tồn tại của con ngời hoặc những vấn đề nóng bỏng của xã hội [8,7] Ký chỉ dừng lại ở những sự thực đời sống cá biệt
chứ cha xây dựng đợc hình tợng mang tính khái quát
Trong giới hạn của đề tài này, chúng tôi không nghiên cứu thể loại ký nói chung mà chỉ đi vào nghiên cứu thể bút ký trong thể loại ký.
Bút ký là một thể thuộc loại hính ký, thờng có quy mô tơng ứng với truyện ngắn nhng khác với truyện ngắn là nó không
sử dụng yếu tố h cấu trong việc phản ánh hiện thực Bút ký ghi lại những con ngời và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu nghiên cứu cũng nh cảm nghĩ của mình nhằm thể hiện một
t tởng nào đó Bút ký có thể thiên về khái quát các hiện tợng
đời sống có vấn đề hoặc thiên về chính luận ở việc khái quát các hiện tợng đời sống có vấn đề, bút ký có thể chú ý
đến việc điển hình hoá những tính cách bằng các biện pháp nghệ thuật nh xây dựng cốt truyện, sử dụng các yếu tố
liên tởng trữ tình… ở mặt chính luận, bút ký nổi lên với những hiện tợng của đời sống xã hội mà tác giả nắm bắt đ-
ợc cái thực chất bên trong và mô tả nó một cách chính xác, sinh động, có kèm theo nhận xét [6, 23].
1.7 Nguyễn Tuân với thể loại ký.
Trang 17Nguyễn Tuân là một trong số những tác giả lớn của văn học
Việt Nam, là ngời đặt nền móng cho văn xuôi tiếng Việt hiện đại [25,543] ông là một trong số ít những nhà văn
Việt Nam đã tạo đợc cho mình một phong cách riêng độc
đáo, và là ngời luôn ý thức đợc tài năng của mình, lao động
nghệ thuật một cách khổ hạnh để vun đắp thêm tài năng
đó Trên văn đàn Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân nổi lên
nh một ngôi sao sáng với những nét phong cách khá ổn định cả trớc và sau Cách mạng Sự thống nhất trong phong cách
Nguyễn Tuân chính là điều đã tạo ra một Nguyễn Tuân trong tuỳ bút [17, 27], thể loại mà Nguyễn Tuân đã lựa chọn
từ khi mới khởi nghiệp và cho đến bây giờ cha ai vợt qua đợc
ông ở thể loại này.
Nhìn chung, trớc và sau Cách mạng Nguyễn Tuân chủ yếu gắn bó với thể loại ký và sớm thành công với nó Khi gắn bó với ký, Nguyễn Tuân đã đem lại cho thể loại này một sắc thái mới, một sức phóng khoáng mới nhờ sự sắc sảo và độc
đáo trong cách nhìn ngắm cuộc đời, đặc biệt qua ngôn từ
biểu hiện Qua tập bút ký Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, ta hiểu
thêm một phần nào đó tài năng chữ nghĩa của Nguyễn Tuân Tập ký là một bằng chứng khẳng định thêm rằng
ông là bậc thầy ngôn ngữ, một nhà văn độc đáo vô song mà
mỗi dòng chữ tuôn ra đầu ngòi bút đều nh có một dấu hiệu riêng, một Nguyễn Tuân yêu thiết tha vốn từ dân tộc và luôn có ý thức làm giàu thêm kho ngôn ngữ đó [ 3, ] Với Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi Nguyễn Tuân đã làm cho ta yêu thêm Hà Nội, hay ít nhất là hiểu thêm về Hà Nội[ 2,306] Sau cách
mạng, nhà văn Nguyễn Tuân với sự lịch lãm và những hiểu
Trang 18biết sâu rộng của mình đã sớm trở thành một nhà văn chiến sĩ với những chiến công phải nói là sáng chói Sự độc
-đáo của Nguyễn Tuân bây giờ thật là đắc dụng Đứng về phía tác dụng mà xét thì những bài viết về Hà Nội đánh
mỹ của ông thuộc vào loại mà trừ phi Nguyễn Tuân không ai
làm nổi [19, 129].
Tiểu kết 1: Trong chơng này, chúng tôi đề cập đến một số vấn đề lý luận có liên quan Cụ thể là thống nhất những khái niệm nh: phong cách nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật, phong cách thể loại, phong cách ngôn ngữ, phong cách nhà văn cũng trong chơng 1 này chúng tôi đã đi đến khái quát
đặc điểm chung của thể loại ký, phân biệt nó với thể loại khác và vị trí của Nguyễn Tuân trong việc phát triển thể loại văn học này.
Trang 19Chơng 2: Đặc điểm ngôn ngữ ký Nguyễn Tuân trong
Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi.
2.1 Vốn từ vựng phong phú.
Từ ngữ là sản phẩm chung của toàn dân, nó là kết quả của một quá trình lịch sử, văn hoá lâu dài Tài năng của mỗi nhà văn thể hiện ở chỗ họ biết vận dụng vốn từ ngữ đó nh thế nào trong sáng tạo nghệ thuật của mình Đối với Nguyễn Tuân, ông đã khai thác khá triệt để vốn từ dân tộc để làm
giàu thêm vốn từ ngữ của mình Và vì thế mà ông luôn luôn cho ta một cảm giác rất giàu chữ [21, 135] Với lòng say mê
tiếng mẹ đẻ, Nguyễn Tuân luôn có ý thức tích luỹ cho mình một vốn từ phong phú Vốn ỳ đó thể hiện trên các
lĩnh vực sau:
2.1.1 Từ Hán Việt.
Nếu nh trớc Cách mạng, ta thấy một Nguyễn Tuân ngạo
ngễ, khinh bạc, luôn muốn chơi ngông với cuộc đời khi ông
tìm về với nền văn hoá cổ Thì sau Cách mạng, cùng với những anh chị em nhà văn, nhà thơ xông xáo vác ba lô vào chiến dịch Cái tôi cô đơn trớc kia của ông đã bị lôi cuốn vào không khí sôi động của những ngày kháng chiến, hoà nhập với cuộc đời lớn của đất nớc, với tập thể lớn nhân dân Con ngời cũ trong ông đã bị tiêu diệt ông không còn là một gã kiêu căng mà đối với cuộc sống, ta chỉ thấy một Nguyễn Tuân khiêm tốn, có thái độ khuất phục và thể hiện rõ sự phục thiện của mình Cách mạng tháng Tám đối với Nguyễn Tuân là một cuộc hồi sinh Và điều đó chi phối rất lớn đến phong cách của ông Nếu nh trớc đây, để tìm cho mình một nơi trú ẩn, ông đã quay về với một thời quá khứ vàng
Trang 20son, nhặt nhạnh tinh hoa còn sót lại của một thời vang bóng.
Nguyễn Tuân đã đa chúng ta về thế giới cổ xa bằng một lớp
từ cổ, khơi gợi cái linh thiêng của quá khứ đã chìm khuất nh:
phiến trát, thơ lại, án th, sinh bình, biết nhỡn liên tài, bãi lĩnh,
sở nguyện, thành phủ (Chữ ngời tử tù)
Thì bây giờ cũng với vốn từ Hán Việt giàu có của mình,
ông không dùng nó để gọi hồn sự vật nữa mà dùng nó với t cách là những thuật ngữ khoa học Bớc vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, khi toàn dân đang ngày đêm canh giữ đất trời
tổ quốc dới đạn bom khói lửa, thì với ngòi bút tài hoa của mình, Nguyễn Tuân đã chiến đấu với kẻ thù bằng những áng văn sắc sảo Một lần nữa, Nguyễn Tuân tỏ ra rất uyên bác khi sử dụng lớp từ Hán Việt Với lớp từ này, ông đã chứng tỏ mình là một ngời có hiểu biết rộng và uyên thâm trong khoa học quân sự Chẳng hạn:
Phi công, Hoa Kỳ , đích danh, địa điểm, chỉ huy, phổ biến, mục tiiêu, vị trí địa lí, cao xạ, trận địa, pháo thủ, đại bác, phản lực, dân vận, giải phóng, khẩu hiệu, truyền đơn, cứu quốc, chiến đấu, chiến lợi phẩm, tiêu ngữ, đại chiến,
(ở mặt trận Hà Nội) Chế tạo, cảnh giới, tự vệ, giải giáp, bình trị, nghi trang, phi thuật, chiến xa, phi vũ công, không lực, bại binh, …(Giải tù Mỹ qua phố Hà Nội)
Đó cũng là một điều dễ hiểu Khi lao ngòi bút của mình vào để miêu tả cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc vĩ đại của dân tộc, việc dùng vốn từ Hán Việt giúp cho Nguyễn Tuân gọi tên sự vật, sự việc một cách chính xác, khoa học – sắc thái nghĩa mà từ thuần việt không có đợc Nói nh vậy
Trang 21không có nghĩa là Nguyễn Tuân không dùng những từ cổ Trong ký của ông thỉnh thoảng ta vẫn thấy có phảng phất một chút phong vị cổ xa khi tác giả nói đến những truyền thống văn hoá, những tập tục xa kia của ngời Việt Và lúc này chính là lúc để ông dùng những từ cổ, vốn một thời đã là sở trờng riêng Nh:
Cổ kính, cổ truyền, cổ điển, thất sủng, biệt viện, vọng, tạ, thiết lĩnh, đồng phòng, điều, liệt hạng, (Nhớ Huế).
Tuy đã có sự chuyển biến cơ bản về phong cách nghệ thuật nhng con ngời cổ đôi khi vẫn hiện về trong văn ông.
Viết về bất cứ đề tài gì Nguyễn Tuân cũng có một chút hoài niệm về cái cũ, có khi cái cũ trở thành một ám ảnh nặng
nề đối với anh [5, 112] Viết về Huế nổi lửa mậu Thân,
1968 mà vẫn thấy Cả một Huế xa cũ hiện về xao xuyến, ám
ảnh, thấy rờn rợn ( ) những câu thơ trăng Huế của Hàn Mặc
Tử Trong d vang tiếng súng phong trào Thừa Thiên Huế, mở
đầu năm 1968, thấy còn xao xuyến nơi lòng mình, nào là
đò tuần hò ơ cơn gió phá, nào là mái đẩy trận ma cồn, súng
nổ mở cổng thành và sáu nhịp cầu Tràng Tiền hiện lên nh
ba cặp lông mày trắng thần lãng mạn nào đang soi vào mặt sông không mỏi (Nhớ Huế)
Chỉ một từ Hán Việt d vang cũng đủ cho ngời đọc lắng
mình hoài niệm về thời quá khứ đã qua Nguyễn Tuân đã biết vận dụng ngôn ngữ điện ảnh, ngôn ngữ hội hoạ để làm giàu thêm ngôn ngữ văn chơng của mình Cầu Tràng Tiền hiện dần nh một cảnh quay mờ ảo từ xa lại Và nét vẽ quyết
định là ba cặp lông mày trắng Quả thực có ít ngời có thể
làm nên điều kỳ diệu này Tuy không nhiều nhng từ Hán Việt
Trang 22trong Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi đã góp phần làm nên cái hay
của tác phẩm Nếuđọc ký TôHoài, ta thấy ôngcó sở trờng dùng từ Thuần Việt thì với vốn từ Hán Việt, ít có nhà văn nào vợt qua đợc Nguyễn Tuân
2.1.2 Từ vay mợn gốc âu.
Bên cạnh lớp từ Hán Việt, ký Nguyễn Tuân còn phong phú
về từ vay mợn gốc âu Đó là những từ đợc du nhập vào nớc ta
từ sau khi có cuộc giao lu văn hoá hồi đầu thế kỷ Phù hợp với thể loại ký, ngôn ngữ cũng phải mang tính thời sự, tính hiện
đại Nếu nh ở lớp từ HánViệt Nguyễn Tuân đã làm tăng thêm tính chính xác, khoa học trong ký của mình thì với những
từ vay mợn, ký Nguyễn Tuân mang tính hiện đại Từ vay mợn
ở đây có thể là tên gọi của một số sự vật, hiện tợng cũng có thể là tên gọi của ngời Chẳng hạn:
ét xăng, đô la, kaki, ra vơ bông, ôtô, com măng ca, nilon, mit tinh, xích lô, Nin Giôn, Rua Năm Bơ, Hít Le, Phát xít, Nô
en, Bia, King co bra, Zun ker, Đa Co Ta, phooc mon, Pho Ret Tan, Ri Cooc đơ, Mich Kên
2.1.3 Từ địa phơng.
Bên cạnh lớp từ Hán Việt, từ vay mợn gốc Âu, Nguyễn Tuân còn đa ngời đọc đi đến những miền quê đất Việt qua cả một lớp từ địa phơng giàu có Nếu ký Nguyễn Thi, Anh Đức khơi dậy cách nói, nối sống văn của miền Nam bằng lớp từ
địa phơng miền Nam Việt Nam, thì Nguyễn Tuân lại đa
độc giả dọc theo chiều dài đất nớc, theo chân của cuộc kháng chiến đi đến những miền đất anh hùng, nơi đang diễn ra cuộc tranh đấu đầy oanh liệt Chẳng hạn:
Trang 23Khá hung, năm ni, nh rứa, chừ, o, tít cù lèo, thiệt, lộn, vô,
đờn, thúi, coi, mu, chi, tê, rú, ri, hè, tợn, đàng, (Nhớ Huế) gợi
ta nhớ đến xứ Huế xa xôi nhng lại rất anh hùng Khi kể về Huế, ông không ngần ngại làm một con ngời xứ Huế với lớp từ
địa phơng dày đặc Ta hãy nghe một câu nhận xét của
Phải nói rằng, từ địa phơng trong Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi
đã góp phần làm cho những trang ký dễ đi sâu hơn vào lòng ngời đọc, giúp cho việc phản ánh những sự kiện đợc
sâu sát hơn, có sức thuyết phục hơn
2.1.4 Tạo từ đồng nghĩa lâm thời.
Đối với Nguyễn Tuân, chỉ sử dụng những từ có trong dân tộc không thôi thì cha đủ ông vốn là ngời luôn luôn muốn tạo cho mình một lối riêng Cho nên, bên cạnh sự kế thừa, ông
đã sáng tạo ra nhiều tổ hợp từ mới đã làm giàu thêm cho vốn
từ dân tộc Trong ký Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi ta bắt gặp rất
nhiều kết hợp lạ Có thể nói, Nguyễn Tuân là một ngời luôn
đi tìm và săn chữ đẹp Nói đến Nguyễn Tuân là nói đến
Trang 24một giá trị hiển nhiên, là khơi sáng lại dòng thời gian đã chìm khuất, là nhắc nhở đến một vùng trời xôn xao của thanh âm ngôn ngữ [28, 268] Ngày xa, Nguyễn Tuân vốn
sở đắc một kho từ vựng có giá trị tạo hình khá phong phú
mà ông thờng đem ra hoặc để khoe khoang với đời hay để khiêu khích với thiên hạ, hoặc để gật gù, nhấm nháp với rợu
giang hồ Thực ra, chỉ khi nào Nguyễn Tuân say thì chữ
nghĩa của ông mới phô ra hết màu sắc của chúng Cho nên, vấn đề đặt ra một cách hợp lý đối với ông lúc này là chuyển
cái say giang hồ, cái say hoài cổ sang cái say men nồng Cách
mạng Cuộc kháng chiến chống Mỹ lúc này có thể nói là chất men nồng đối với ông Cái tài hoa, uyên bác trớc kia giờ đợc
ông tung vào đất trời kháng chiến Ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi nhân dân, chữ nghĩa của ông lắm lúc đột nhiên kết thành những vần thơ trầm bổng Trong cuộc kháng chiến trớc, Nguyễn Tuân viết nhiều về sinh hoạt của chiến sĩ và nhân dân Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ lần này, ông không tản
c mà ở ngay trong thành phố để viết nên Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi Cái Tôi của Nguyễn Tuân lúc này đã hoà vào cái Ta
chung của toàn dân tộc Tuy nhiên, lúc cần, cũng nh trớc Cánh mạng, ngôn ngữ Nguyễn Tuân có thể xù những bộ lông Nhím gai ngạnh sắc sảo ra, không phải để thách thức với
đời mà chĩa vào kẻ thù, chiến đấu với kể thù dân tộc Ngôn ngữ Nguyễn Tuân dờng nh không giàu lắm những từ ấm cúng, đôn hậu nhng lúc cần diễn tả một cái gì phóng túng, tài hoa, hoặc giữ dội mạnh mẽ, lúc cần tố cáo, vạch mặt kẻ thù thì ngôn ngữ của ông lại giàu có, phong phú lạ thờng Những
từ vác trong kho dân tộc ra dùng cha đủ, ông sáng tạo ra một
Trang 25loại các từ đồng nghĩa lâm thời khác để chỉ ra cho đợc bộ mặt, bản chất của thằng giặc Mỹ Ta hãy nghe ông gọi những thằng giặc lái của Mỹ:
Thằng bay, giặc bay, phi công Mỹ, kẻ cớp Mỹ, giặc trời, tù dây, thần chết, thứ khắm thối Hoa Kỳ, khuôn mặt tội ác của Hoa Kỳ, kẻ cớp Mỹ vân phỉ, hổ báo thú dữ Hoa Kỳ, lũ điên rồ hiếu chiến, bọn phát xít Hoa Kỳ hợm hĩnh, quỷ sứ lâu la viễn chinh Mỹ, quỷ sứ ma vơng Hoa Kỳ, thần chết Hoa Kỳ, con ác thú Mỹ, cái đàn cái lũ thú Mỹ, bóng đen Hoa Kỳ, bầy quỷ sông phi công Mỹ, thằng phản lực Hoa Kỳ, tù Hoa Kỳ gãy cần lái
Thờng khi tập trung miêu tả một sự vật, để tránh sự lặp lại nhàm chán, nhà văn tung ra hàng loạt các từ đồng nghĩa để miêu tả một cách triệt để, tỉ mỉ Để chỉ thằng thiếu tá Níc
Kên, Nguyễn Tuân đã gọi những tên nh: Kên, viên quan t tù
Mỹ, hung thần, quan t Kên, quan t không lực Hoa Kỳ, cái bóng tối Hoa Kỳ, (Đèn điện phố phờng Hà Nội vui sáng hơn bất
cứ lúc nào).
Hay chỉ giặc Mỹ nói chung Nguyễn Tuân có: giặc Mỹ, chính quyền diều hâu Mỹ, rơm rác Hoa Kỳ, thằng Mỹ lợn lòi, con Mỹ, cục Mỹ, Hổ Hoa Kỳ,
Khi tập trung vào giặc Mỹ, ngôn ngữ Nguyễn Tuân nh có cạnh săc, đâm trúng vào tận tim của chúng, gọi rõ đúng bản chất của chúng ra để mà đánh, để mà chê bai, giễu cợt Ngòi bút của Nguyễn Tuân lúc này thực sự trở thành một vũ khí lợi hại, đâm thọc vào hang ổ kẻ thù Để gọi máy bay Mỹ ngày đêm quấy phá trời Hà Nội, Nguyễn Tuân đã gọi:
Trang 26Con thần sấm phản lực Hoa Kỳ, con đại bàng Mỹ B52, cục
Mỹ to chềnh ềnh, đầu lâu Đuy ra khổng lồ, cục Mỹ giết
ng-ời,
Nguyễn Tuân nh trút hết lòng căm thù của mình vào từ ngữ Ông đã không ngần ngại vật hoá giặc Mỹ, tạo cho ngời
đọc một sự liên tởng thú vị, từ đó mà ném ra cái cời đầy
khinh bỉ Với những từ nh cục, đống, lũ, đàn, con, .,
Nguyễn Tuân đã gợi lên cho ngời đọc những hình ảnh cụ thể Và cũng qua đó mà nói đợc thái độ, tình cảm của mình Cũng là máy bay, nhng với máy bay của không quân
Việt Nam, Nguyễn Tuân lại gọi là: Cánh bạc, mình thoi phản lực, một cách đầy trân trọng.
Việc tạo ra các tổ hợp từ mới chứng tỏ tài năng và vốn sống của Nguyễn Tuân Ông luôn có một cách nhìn mới rất riêng
về cuộc sống Những từ ngữ Nguyễn Tuân đa ra, ngoài cái nghĩa vốn có, nó còn thể hiện kinh nghiệm sống, sự từng trải của ông Không chỉ đa ra hàng loạt từ đồng nghĩa để miêu tả sự vật mà ký Nguyễn Tuân còn hấp dẫn ngời đọc bằng những định ngữ Khi nói về Hà Nội, thủ đô thiêng liêng của tổ quốc, Nguyễn Tuân không ngần ngại phong cho
nó là: Hà Nội cố đô, Hà Nội triệu phú, Hà Nội cả tin, Hà Nội
cũ, Hà Nội mới, Hà Nội thân mến, Hà Nội ngàn năm văn hiến,
Hà Nội dũng cảm, Hà Nội anh hùng, Khi nói về hoà bình,
mơ ớc đến cuộc sống hoà bình thì cái gì ông cũng gắn với
nó Ví dụ:
Chủ nhật hoà bình, cơm hoà bình, mái bếp hoà bình, pháo hoà bình (Bên ụ súng Hà Nội một đám cới phòng không).
Trang 27Nói về Huế thì có: Huế cổ điển, Huế cổ kính Đã ca ngợi
là ca ngợi hết lòng, đã nói là nói hết những đặc tính của sự
vật Khi nói về Mỹ, Nguyễn Tuân có: Giôn Xơn giặc già, Lầu năm góc hiếu chiến, Nhà trắng hiếu sát….
Có lẽ không còn từ nào, câu nào chính xác hơn, đúng bản chất bọn Mỹ hơn là những định ngữ của Nguyễn Tuân Có
đợc sự sắc cạnh đó, không phải chỉ có tài năng mà còn có cả tấm lòng yêu nớc của Nguyễn Tuân
2.1.5 Tạo ra cách nói mới.
Không những tạo ra định ngữ cho từ mà khi cần thiết, Nguyễn Tuân còn tạo ra cách nói mới, độc đáo, khác lạ Để tránh đau thơng cho cái chết của nhân dân, Nguyễn Tuân
đã nói: Ghi sổ máu với tổng thống Hoa Kỳ, biến ta từ thế bị
động thành thế chủ động Hoặc cũng có khi ông biến nỗi
đau mất mát thành một chuyện bình thờng Ngời chết trớc
lấy hậu sự của ngời chết sau thì ông gọi là vay xổi hậu sự
Cũng có lúc ta thấy Nguyễn Tuân rút gọn từ lại để tiết kiệm.
Chỉ điểm và gián điệp ông gọi là điểm điệp Thái Bình
d-ơng thì ông gọi là dd-ơng Thái Bình theo cấu trúc từ tiếng Việt Hồ hoàn kiếm thì gọi là hồ trả gơm nhằm Việt hoá từ
Hán Việt Điều đó cho ta thấy lòng yêu say mê tiếng mẹ đẻ, ý thức trau dồi ngôn ngữ và ý thứ về bản sắc dân tộc của
ông
2.1.6 Dùng từ chính xác.
Có thể nói, phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Tuân không dừng lại ở vốn từ vựng giàu có mà còn thể hiện ở chỗ ông dùng vốn từ đó một cách chính xác Từ của ông dùng diễn tả
đợc cái hồn, cái thần của sự vật Văn Nguyễn Tuân rất kỹ
Trang 28chọn từ nh mấy bà nội trợ đảm đang chọn quả ( ) Trong mỗi câu văn mỗi từ nh cựa quậy đợc chọn vào đúng chỗ nên câu văn có sức sống [23,213] Khi nói về bọn giặc Mỹ vào
đề lao, tác giả viết: Và giặc bay Mỹ thì cứ lũ lĩ đút đầu vào cái cổng đề lao Chỉ một từ lũ lĩ ta cũng mờng tợng đ-
ợc cái cảnh một đoàn tù binh Mỹ đi chậm chạp, cúi đầu
xuống, sợ sệt Có thể từ lũ lĩ là một từ mới do sự kết hợp giữa hai từ lũ lợt và lầm lĩ mà thành Ta hãy nghe ông tả tiếng thét
đả đảo đế quốc Mỹ của dân Hà Nội: Tiếng thét trong hành lang phố dài lùa rền đi hàng đợt, hàng tràng Từ lùa rền nói
lên đợc sự vang dội và sự kế tiếp nhau không ngớt của những tiếng căm thù thốt ra từ trong lòng dân Hà Nội Gọi phi công
Mỹ là giặc bay thì không có ai ngoài Nguyễn Tuân gọi đợc Bác Hồ kính yêu của chúng ta cũngchỉ gọi là giặclái, có
nghĩa là xem những phi công Mỹ là giặc, còn Nguyễn Tuân
lại gọi chúng là giặc bay,nghĩa là bất cứ ai ngồi trên máy bay
chiến đấu của Mỹ cũng đều là giặc Nh vậy là hay hơn, chính xác hơn Hay khi miêu tả tiếng nấc của Níc Kên,
Nguyễn Tuân viết: Cái tiếng nấc Hoa Kỳ của một thằng tù Kên, có nốt lại nghe ẳng lên nh bị hóc xơng ở cổ Chỉ một từ
ẳng cũng đủ để tên Níc Kên nằm ở tầm thú vật Hay khi thẻ hiện thái độ ủa mình đối với Níc Kên ông viết: Tôi cắm một
điếu thuốc Điện Biên vào mồm thằng giặc Chỉ một từ cắm
ta cũng thấy đợc lòng căm thù đến tột độ của Nguyễn Tuân Khi nói về bọn giặc Mỹ bị ta bắn rơi từ máy bay xuống, tác
giả đã dùng từ đống: mặt trận phía chùa Quốc ân ngổn ngang một đống Mỹ Từ đống đã làm cho bọn Mỹ trở thành
một thứ phế thải ô uế, đáng đổ đi
Trang 29Cần phải nói rằng, sức mạnh của ngôn ngữ không chỉ ở số lợng từ phong phú mà còn ở khả năng nhạy cảm về ngữ nghĩa của từ, ngữ điệu của câu Để có đợc điều đó, trớc hết là do yếu tố thiên bẩm mà ông trời ban phát cho mỗi nhà văn, sau nữa là do sự học hỏi, tích luỹ lâu dài, tinh thần lao
động nghệ thuật một cách nghiêm túc của mỗi nghệ sĩ Tinh thần ấy ta dễ dàng thấy đợc qua từng câu, từng chữ của Nguyễn Tuân Nguyễn Tuân đã mài sắc mình để làm
đắt cho trang văn, đã khéo léo lựa chọn và gọt dũa ngôn từ làm cho nó thêm phần sắc cạnh và bóng bẩy Đó cũng là một cách thể hiện lòng yêu dân tộc yêu ngôn ngữ mẹ đẻ của
ông Ông đã từng nói trong bài về tiếng ta: Trong năm giác quan đem ra làm công cụ kiểm nghiệm, cặp mứt soi xuống dòng ( ) Nhng cặp mắt cha đủ để lọc hết những bụi bặm còn bám theo cái tiếng vừa mới phát biều cho mình Cho nên phải dùng cả tai của mình nữa Và để pháp huy tốt cùng hiệu năng của tiếng nói mình có khi phải dùng cả năm giác quan Ngoài việc soi lại còn phải ngửi lại, nếm lại cái mình viết ra kia, trớc khi bng nó ra cho ngời khác thởng thức ( ) Có khi lại nh chính lòng bàn tay mình phải sờ lại những góc cạnh câu viêt của mình, xem lại nó có nên gồ ghề, chân chất nh thế hay là gọt nó tròn trĩa đi thì nó dễ vào lỗ tai ngời khác hơn [27, ] Nguyễn Tuân không những kĩ càng,
tỉ mẩn trong việc lựa chọn và sử dụng từ ngữ mà qua đó
ông còn thể hiện tôn trọng của mình đối với nền văn hoá nớc nhà và đối với độc giả Tinh thần lao động hết mình đó là một tấm gơng sáng cho mỗi chúng ta học tập Cũng không
phải là ngẫu nhiên khi Nguyễn Tuân tuyên bố: Mỗi khi cầm
Trang 30bút ớm thử lên tờ giấy trắng tinh khiết, tôi thấy sung sứng vô vàn, sung sớng đến chảy nớc mắt ra đến nỗi có thể tởng t- ợng rằng mình sẽ chết ngay nếu mình mất quyền viết
[27,12].
Đọc: Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, bên cạnh cái điêu luyện của
một cây bút già dặn, ta còn thấy ở Nguyễn Tuân một sức trẻ, một lòng nhiệt tình không những với cánh mạng mà còn với cả chữ nghĩa Ông yêu quý chữ nghĩa của dân gian, sử
dụng ngôn ngữ rất sống, rất tài tình Phần lớn ông dùng chữ
cũ, có sẵn của dân gian, nhng dùng đến nát nghĩa, tận dụng hết công suất và năng lợng của chữ ấy Ông đã huy
động những con chữ vào một thế trận ngôn ngữ có tập kích và thu hồi, có nghi binh và phòng ngự, và thỉnh thoảng
có anh đặc công chữ lọt vào [2,309].
2.1.7 Dùng khẩu ngữ.
Khẩu ngữ là ngôn ngữ nói thông thờng trong cuộc sống hàng ngày, nó có đặc điểm khác với phong cách viết Tuy nhiên khi đã đi vào tác phẩm nghệ thuật, nó tạo ra một màu sắc tu từ riêng Trong cách nói hàng ngày ngời ta có thể dùng những từ thông tục, thô thiển nhng khi viết thì nhà văn phải
dùng nhã ngữ hoặc cách nói giảm nhẹ Văn chơng rất kiêng với
những từ tục Tuy nhiên, mỗi tác giả đều do dụng ý nghệ thuật riêng của mình mà dùng khẩu ngữ Thông thờng trong văn Nguyễn Tuân, ta bắt gặp những từ ngữ hoa mỹ, cầu
kỳ, sang trọng nhất Thế nhng ở Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi nhà
văn lại dùng rất nhiều khẩu ngữ, những câu chửi rủa rất tục vừa khinh bỉ, vừa xách mé Điều đó gắn với cách nhìn, và
quan niệm về con ngời của ông Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi là
Trang 31tập ký đánh Mỹ, mà đã đánh giặc thì ngời ta có thể sử dụng bất kỳ loại vũ khí nào không loại từ vũ khí văn chơng Giặc Mỹ là những tên giết ngời, chúng huỷ diệt sự sống của con ngời Việt Nam, huỷ diệt cái đẹp vốn có của đất nớc Với bọn đó Nguyễn Tuân có một thái độ khinh bỉ ông xem
chúng là một loại chó sói mới, hổ mới, báo mới mới xích từ rừng nguyên sinh Hoa Kỳ lôi tuột về đây (Đêm xuân nằm ngẫm
đến bầy Hổ Mỹ) Nhìn kẻ thù ở phơng diện thú vật, Nguyễn
Tuân đã ném ra rất nhiều những lời thô bạo đối với chúng Chẳng hạn:
Cái hèn hạ của bọn này đã là chối ( ) Ném vào trung tâm
Hà Nội, tang chứng rành rành ra kia mà vẫn cứ xoen xoét leo lẻo Đến lúc hết đờng chối quanh, thì một cách thật là ngang bửa, hỗn láo quen thân.(Nô en Mỹ).
Cả một đoạn văn toàn dùng khẩu ngữ Nào là rành rành ra kia, xoen xoét leo lẻo, chối quanh, ngang bửa, hỗn láo có tác
dụng tố cáo sự hèn hạ, dối trá của bọn phi công Mỹ Giọng văn quyết liệt, lí lẽ sắc sảo đã dồn bọn Mỹ đến chân tờng Có
khi, để đập lại giọng điệu của kẻ thù ông viết: Nói chẻ hoe ra thì cái vô tình ấy đã đợc kế hoạch hoá mấy năm nay rồi bởi bọn lái súng và bọn tâm lý chiến tranh Nói chẻ hoe ra kết hợp với thì, ấy, rồi tạo nên sự hùng hồn của câu văn Ta nh thấy
nhà văn chửi thẳng vào mặt bọn Hoa Kỳ với động tác đập bàn quát mắng Trong các cuộc đối thoại với bọn Mỹ, lòng căm thù trong ông cứ hừng hực bốc lên Ông không ngần ngại
mà lôi cả gia tộc họ hàng bọn mỹ ra để chửi:
Cả lò nhà mày, cả họ nhà mày đúng là một bọn ăn cớp nhà nghề Ông nội mày, ( ) Bố mày hiện giờ còn là đô đốc ở đại
Trang 32Tây Dơng (Đèn điện phố phờng Hà Nội vui sáng hơn bất cứ lúc nào).
Hay: Trông ba cái kiểu ngời có thể vui mắt đợc ấy, có ba ngời đã nói nhỏ rằng là nên tống cổ mẹ nó ra khỏi chợ hoa
đi.(Có ba phi công Mỹ trong chợ hoa sơ tán).
Nguyễn Tuân dùng khẫu ngữ rất tài, những câu chửi tục
đợc sử dụng để tăng thêm sắc thái biểu cảm và gây ấn tợng
mạnh Có khi ông dùng những từ có sức công phá lớn nh: chết ngồi, chết mòn với ngực ứa máu tim, ăn đạn… Bao nhiêu ngôn
từ thô bạo đợc Nguyễn Tuân ném vào mặt bọn hiếu chiến.
Ông đã góp phần đánh Mỹ bằng thứ vũ khí thiết thực nhất là
ngôn từ Khi nghe tên Lạc Xon nói Tôi không đánh Hà Nội, ông
đã thốt lên: á à, câu mở đầu của ngời quan năm chỉ huy cuộc đánh phá Hà Nội kia là một câu chối cãi ( ) Thế thì ai? Ai? (Tôi định bảo: thế thì là chó à, nhng tôi đã ghìm lại).(Hà Nội ta đánh mỹ giỏi).
Nguyễn Tuân đã đa vào văn xuôi chất hài hớc đầy trí tuệ, giọng văn luôn chuyển đổi một cách tự nhiên đầycảm xúc Nói chuyện với phi công Mỹ, ông đã đập nát luận điệu giả trá của chúng và làm chúng cứng họng Có khi chỉ một
câu văn cũng đủ làm chúng bị lột tẩy: Xem ra ngời Mỹ các anh là chúa hay đùa bỗng với hai chữ Hoà Bình (Hà Nội ta
đánh Mỹ giỏi) Từ đùa bỗng đã làm nổi lên sự dã man của đế
quốc Mỹ khi lấy chiến tranh là một trò chơi Mỗi khẩu ngữ tung ra là một cơn sóng của sự giận dữ Và ngay trong văn chơng, Nguyễn Tuân đã tạo nên đợc tầm vóc của con ngời Việt Nam những ngày đánh Mỹ Đa khẩu ngữ vào văn xuôi ký
sự, Nguyễn Tuân đã tạo nên những nhịp mạnh dữ dằn để
Trang 33biểu đạt lòng căm giận sục sôi của ông và của dân tộc ta
đối với Mỹ.Ta thấy rằng trong ký của các nhà vănkhác nh: Anh
Đức, Nguyễn Thi, các tác giả rất ít dùng, thậm chí không dùng khẩu ngữ mà chỉ trong ký Nguyễn Tuân mói có cách dùng
độc đáo này Với cách dùng khẩu ngữ, Nguyễn Tuân đã làm cho văn mình trở nên vừa trữ tình, vừa trào phúng, vừa hiện thực Đồng thời làm cho văn ông vừa mềm mại, uyển chuyển, vừa gai góc, đanh thép, quyết liệt và có tính chiến đấu cao.
Tóm lại: Có một vốn từ vựng giàu có là biểu hiện đầu tiên của một nhà văn có phong cách Và để có đợc nó, đòi hỏi nhà văn phải không ngừng học tập và sáng tạo cùng với lòng yêu nớc, yêu truyền thống văn hoá dân tộc, yêu nghề đến mức say mê Có nghĩa là, ngoài cái tài ra, đòi hỏi nhà văn phải có cái tâm trong sáng Cái tâm và cái tài đó hội đủ ở nhà văn Nguyễn Tuân
2.2 Sử dụng có hiệu quả các biện pháp tu từ.
Cái làm nên sự kỳ diệu của ngôn ngữ, đó chính là các
ph-ơng tiện, các biện pháp tu từ Để đạt đợc hiệu quả giao tiếp,
nói và viết đúng cha đủ mà yêu cầu phải viết hay, nói hay Phong cách ngôn ngữ của nhà văn không chỉ thể hiện ở sự giàu có về vốn từ vựng mà nó còn thể hiện ở sự lựa chọn, sự kết hợp chúng trong các hoạt động lời nói nhằm tạo hiệu quả
tu từ Biện pháp tu từ, vì thế, nó là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt trong một hoàn cảnh cụ thể nhằm một mục
đích tu từ nhất định [10,142]
2.2.1 So sánh mới lạ, độc đáo
Trang 34So sánh là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó ngời
ta đối chiếu hai hiện tợng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri
giác mới mẻ về đối tợng Trong Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi,
Nguyễn Tuân đã sử dụng khá nhiều những hình ảnh so sánh nhằm tạo một ấn tợng mới lạ cho ngời đọc và vì thế mà làm tăng thêm sự mợt mà cho câu văn của mình Theo thống
kê ta có: trên 190 trang ký trong cuốn Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi
có 94 hình ảnh so sánh Trong đó nhiều nhất là Đèn điện Hà Nội vui sáng hơn bất cứ lúc nào có 28 hình ảnh Nguyễn
Tuân đã rất tài tình khi sử dụng lối so sánh để diễn đạt
cách nhìn nhận, khám phá của mình Trong Hà Nội ta đánh
Mỹ giỏi có nhiều hình ảnh so sánh mới lạ, gây ấn tợng Khi nói
về sức mạnh ngời Hà Nội, Nguyễn Tuân ví: Mỗi ngời Hà Nội
là một con sóng dữ (Giải tù Mỹ qua phố Hà Nội) Ví sức mạnh
của nhân dân là sóng thì đã có rất nhiều nhng ở đây lại là
sóng dữ Nó sẵn sàng nhấn chìm tất cả những thứ rác rởi gì đang cản đờng đi của nó Vì vậy, sóng dữ quyết liệt
hơn, quyết tâm hơn Nguyễn Tuân luôn tạo ra cho so sánh một sự mới lạ Những so sánh của ông có khi đem lại cho ngời
đọc một sự nhẹ nhàng thanh thoát Nói về đồng chí công
an, Nguyễn Tuân nói: Đồng chí công an giữ trật tự trên tuyến hoa phố, trông cũng mát lành nh một cành đào ta (Có
ba phi công Mỹ trong chợ Hoa sơ tán) Cũng là nói về dòng
ngời Hà Nội nhng lần này không phải là con sóng dữ mà là:
Dòng mình xếp lợt nối đuôi nhau vặn mình trờn lên nh một con trăn mình gấm đang đòi nuốt nghiến ngấu bất cứ hoa
Trang 35gì, cỏ gì, màu sắc gì Con trăn ấy không những đẹp vì
có mình gấm mà còn có một sức mạnh vô song Đó là sức mạnh của chính nghĩa, của lòng yêu nớc So sánh trong ký Nguyễn Tuân có khi đa đến cho ngời đọc một sự liên tởng
kỳ thú, tởng nh mơ hồ nhng lại rất gần gũi Chẳng hạn:
Trong gió lá reo, nghe nh có tiếng lao xao thủy triều của Hải Phòng thân cận, và Sài Gòn, Huế kết nghĩa cũng đang nỗi gió mùa khô (Nhớ Huế)
Nguyễn Tuân có một sự cảm nhận hết sức tinh tế Nghe tiếng gió reo mà nh nghe đợc tiếng vọng từ các miền quê
đang đánh giặc, nh nghe đợc sự chuyển rung của toàn cõi
đất trời Cách so sánh của Nguyễn Tuân thật ít ai có đợc,
ông đem cái cảm tự trong tâm mình ra để so sánh với sự
vật, sự việc Nói về nỗi nhớ ông nói: Thấy nhớ Huế, nhớ Sài Gòn nh là không có gì có thể làm cho mình khuây khoả đ-
ợc chín tấc lòng đó Hay: Ngời quen tôi ở cái thời ấy, nhiều ngời đã mất tích khỏi Hà Nội, nhiều ngời đã qua đi nh một cái gì không ai níu lại kịp Nguyễn Tuân đã đa nỗi đau mất ngời quen trùm lấy bầu không khí xung quanh Qua đi
nh một cái gì không níu lại kịp có nghĩa là mất vĩnh viễn,
là không còn quay trở lại so sánh của Nguyễn Tuân có khi lại hết sức sắc sảo, lột tả đợc hết bản chất của sự vật Ta hãy
nghe ông nói về tính hiếu chiến, bịp bợm của Hoa Kỳ: Nó OK liến thoắng Nh cái kiểu Giôn Xơn cầm bút chì xanh đỏ mà lia lịa viết chữ OK phê chuẩn vào danh sách mục tiêu ném bom miền Bắc cùng là Hải Phòng cùng là Hà Nội của các tớng viễn chinh Hoa Kỳ trình duyệt hàng tệp (Đêm xuân nằm ngẫm đến bầy Hỗ Mỹ) Chỉ một so sánh nhỏ cũng đủ làm rõ
Trang 36bản chất tàn ác, hiếu chiến của đế quốc Mỹ Liến thoắng
nh cầm bút phê vào danh sách mục tiêu ném bom thì quả là chẳng có sự quan liêu và độc ác nào hơn So sánh trong ký Nguyễn Tuân thờng tìm về với những cái gì gần gũi với
dân tộc Chẳng hạn: Hoa sấu trắng tròn nh một hạt dẻ, hạt nếp đầu mùa Khi đa ta về với những cái gần gũi của dân
tộc, Nguyễn Tuân cho ta thấy khả năng của tiếng Việt thật
là giàu có và nguồn tài nguyên ấy cần đợc khai thác triệt để hơn nữa
Trong Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, so sánh trở thành một biện
pháp nghệ thuật quan trọng, không thể thiếu để tạo ấn tợng thẩm mỹ mạnh mẽ cho ngời đọc So sánh trong ký của Nguyễn Tuân mang đầy màu sắc chủ quan, in đậm cá tính của ông: sâu sắc và cầu kì Qua so sánh, ta thấy đợc sức mạnh vô địch của ngời Hà Nội, thấy đợc tinh thần chiến đấu của nhân dân ta, thấy đợc sự giả dối, bịp bợm, hiếu chiến, hiếu sát, ác độc, ngu xuẩn, của kẻ thù Có những lúc ta thấy
nó là bình thờng nhng ngẫm lại mới thấy không thể thay thế bằng hình ảnh nào đẹp hơn, hay hơn đợc.
đối tợng đợc miêu tả trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn, đồng thời
Trang 37làm cho ngời nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm t, thái độ của mình
Trong Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi tuy số lợng những hình ảnh
nhân hoá không nhiều, song nó lại góp phần quan trọng làm nên cái hay, cái hấp dẫn của tác phẩm Dới con mắt của nhà văn yêu nớc Nguyễn Tuân chiếc máy bay của quân dân Hà Nội cũng mang đậm tình ngời.
Có hôm máy bay mình đánh mãi ngoài vòng xa kia, nhng cũng bay về Hà Nội lợn mấy vòng nghiêng cánh để chào thủ
đô thân mến vừa chiến thắng trong ngày (ở mặt trận Hà Nội)
Chiếc máy bay hiện lên nh một nghệ sĩ- một chiến sĩ đang thể hiện lòng yêu thơng trìu mến của mình đối với thủ đô.
Có khi Hà Nội lại đợc nhìn nh con ngời cụ thể: Hà Nội nổ súng nhng Hà Nội vẫn nở hoa Bên cạnh cái anh hùng, Hà Nội
còn là cái đẹp Có khi Nguyễn Tuân xem những vì sao
cũng là chiến sĩ: Trên trời lồng lộng những ngôi sao lúc nào cũng đúng hẹn với đêm Hà Nội thân yêu và dồn dập (ở mặt trận Hà Nội) Cũng có khi, sự nhân hoá nói nên đợc đúng
tâm trạng của ngời cầm bút Nguyễn Tuân nh thổi hồn vào tạo vật, vào hình ảnh, gán cho nó cái tâm cảm của chính
mình Mùa đông năm 1967, da trời Hà Nội thấp thỏm xanh ngắt một niềm cảnh giác Khi Hà Nội đánh Mỹ thì mọi vật
đều đánh Mỹ Cây Hà Nội trông dữ hơn năm ngoái Hình
ảnh nhân hoá trong ký Nguyễn Tuân hết sức sinh động và
hấp dẫn Ta hãy nghe ông tả máy bay của ta: Những phi đội hai chiếc của một không quân mình đang uốn cánh nối
đuôi nhau vẽ những đờng tròn bánh xe mà lăn trên vòm trời
Trang 38Hà Nội, vừa lăn xe mây vừa soi mình vào bóng mây hợp tan
đáy lòng hồ (Đèn điện phố phờng Hà Nội vui sáng hơn bất cứ lúc nào) Không chỉ là chiến sĩ, những chiếc máy bay của
không quân Việt Nam còn là nghệ sĩ, một nghệ sĩ múa
điêu luyện, điệu đà Dới ngòi bút của Nguyễn Tuân những con chim nhạn ven hồ Hoàn Kiếm cũng nh làm dáng cùng trời
đất: Nó cũng soi gơng hồ, vừa soi gơng vừa tắm đuôi, tắm bụng trắng vào nớc hồ Nó bay đủ phi thuật, là ngang sát xuống đầu bọt sóng hồ, ngoặt bay gập góc 1800 , vọt đứng ngợc lên để bổ nhào xuống (Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi).
Hình ảnh tạo vật qua ngòi bút của Nguyễn Tuân sống động
lạ thờng Ta hãy lắng nghe tiếng của những loài hoa: Chợ chiều ba mơi Tết thỉnh thoảng đợt gió nồm lùa vào phố hoa ( ) Hoa cũng nh đang thì thầm thì thào đánh hơi về sự lạ, khách lạ (Có ba phi công Mỹ đi bộ trong chợ Hoa sơ tán).
Trong ký Nguyễn Tuân, ta bắt gặp rất nhiều hình ảnh hoa.
Nó nh là một cái gì không thể thiếu đợc của ngời Hà Nội.
Những gốc hoa, chậu hoa, cành hoa, cứ mỗi xuân Phơng
Đông thì lại đúng kì hẹn trở về với những con ngời đã biết giữ gìn đất nớc và hoa quả của riêng mình (Cho giặc bay
Mỹ nó ăn một cái Tết ta) Ta gặp lại hình ảnh những ngôi sao: Những ngôi sao những cái nháy mắt kín đáo và hữu ý gửi từ xa thẳm về, nh nháy mắt bảo thầm cho mọi ngời sắp giao thừa chống Mỹ rằng( ) những nguyện vọng lớn của mình sắp bùng lên thành tia lửa của sự thật đấy (Đất cùng trời toàn cõi ta từ đây sạch bóng nó).
Trong Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, tuy ít nhng bài nào cũng có
nhân hoá Thống kê trên toàn tập ta thấy có đến hơn 80
Trang 39hình ảnh nhân hoá Việc sử dụng biện pháp nhân hoá đã làm cho câu văn thêm lung linh, sinh động Nó thể hiện cái nhìn đậm chất nghệ sĩ của Nguyễn Tuân đối với cảnh vật xung quanh Trong ký Nguyễn Tuân, ta thấy hiện lên cả một
đất nớc đang đánh giặc Từ hàng cây đến góc phố, từ những vì sao đến cả những con chim nhạn bay cạnh bờ hồ Tất cả đều là chiến sĩ nhng tất cả cũng đều là nghệ sĩ,
đều là cái đẹp đợc chọn lựa, chắt chiu.
2.2.3 Câu hỏi tu từ.
Một trong những biện pháp tu từ tạo nên hiệu quả thẩm mỹ
trong Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi là câu hỏi tu từ Đó là kiểu câu
hỏi nhng thực chất là câu khẳng định hoặc phủ định có cảm xúc Câu hỏi tu từ là loại câu hỏi không yêu cầu trả lời
mà chỉ nhằm tăng cờng tính diễn cảm của phát ngôn Câu hỏi tu từ thờng có ý nghĩa khẳng định làm cho hình tợng văn học đẹp lên, cũng có khi nó nhằm thể hiện tâm t, tình cảm, cảm xúc của ngời nói hoặc cũng có khi nó nhằm phủ
định một ý tởng Trong Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, câu hỏi tu
từ đợc sử dụng khá nhiều Qua thống kê ta thấy: trong toàn tập có đến 60 câu.
Trong ký Nguyễn Tuân, câu hỏi tu từ đợc sử dụng nh là một cách bộc lộ tình cảm, thái độ của tác giả Chẳng hạn:
Nếu không có bọn kẻ cớp vân phỉ ấy ập đến bắn phá Miền Bắc thì việc gì chúng ta phải bay nhiều nh thế, lâu nh thế
? (Vụn B 52 và hoa Hà Nội chiến thắng).
Hay cũng có lúc nó chuyển hẳn sang dạng câu tình thái:
Chao ôi, chú bé ở trung tâm thủ đô mà giám một mình
đuổi Tây mũ đỏ thì cũng là tuổi này chứ gì ! Và 7 thế kỷ
Trang 40trớc đây hoài văn hầu Trần Quốc Toản, cũng vào trạc tuổi này chứ gì? Và tất cả các em thiếu nhi thả bò chăn trâu của
61 phờng ngoại thành Hà Nội cùng là 13 trại nội thành Hà Nội theo Trần Quốc Toản dựng cờ đỏ mộ quân chống ngoại xâm, tập trận ở cánh đồng Giảng Võ, ở bi Đồng, ở bãi núi Voi thì đều cùng ở lứa tuổi này chứ gì? (ở mặt trân Hà Nội)
Để khẳng định truyền thống anh hùng của dân tộc,
Nguyễn Tuân đã sử dụng những câu hỏi để khẳng định,
để tạo sự nghi ngờ và qua đó để kết luận Do cảm xúc cá nhân đòi hỏi phải đợc bộc bạch nên câu hỏi tu từ mang màu sắc tình thái, bộc lộ cảm xúc Cũng có những lúc, câu hỏi tu
từ đợc dùng nêu lên vấn đề, xoáy sâu vào ngời đọc nh một
sự chất vấn Ta hãy nghe ông kết tội bọn Mỹ:
Tay nó nhng còn đầu nó và cái đầu hiếu chiến của đế quốc Hoa Kỳ thì sao? Cuộc sống chúng mày có bao nhiêu ng-
ời cụt, ngời thiệt mạng mày có chịu nghĩ tới không ? (ở mặt trận Hà Nội).
Cũng có khi trong ký, Nguyễn Tuân sử dụng một loạt câu hỏi
tu từ cùng một lúc nhằm thu hút cao độ sự chú ý của mọi ời:
ng-Nhng nay trở về liên bang, ba kẻ “giác ngộ” về chiến tranh
về hoà bình đó họ có còn giữ đợc tia sáng đã tới với họ từ trại giam Miền Bắc? họ có giám thực sự thể hiện cái quyền tự do
tự quyết giữa cái gọi là thế giới tự do Hoa Kỳ không? Hay là
áp lực của chính quyền hiếu chiến NicXơn đã buộc họ phải chối lại những điều họ đã chớm thấy vào lúc thập tử nhất sinh ở chiến trờng Bắc Việt Nam ? Họ ngang nhiên xếp hàng vào dòng “ Tuần hành chết chóc” hay là tham dự một cách