Các khổ thơ mở đầu và kết thúc với t cách là điểm khởi nguồn và khép lại dòng cảm xúc tâm hồn của tác giả, bản thân nó ngoài những đặc điểm riêng thì nó còn nằm trong chính thể của cả tá
Trang 1Trờng Đại học Vinh Khoa Ngữ văn
***
Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ các khổ thơ mở đầu và kết thúc trong thơ Việt nam hiện đại Khoá luận tốt nghiệp đại học Ngành ngữ văn Thầy giáo hớng dẫn : Pgs - ts phan mậu cảnh Sinh viên : nguyễn hoài thu - lớp 42e3 Khoa ngữ văn Vinh, tháng 5 năm 2006 Mục lục Trang A - mở đầu: 2
I - Lí do chọn đề tài 3
II - Mục đích và đối tợng nghiên cứu 3
III - Lịch sử vấn đề 4
IV - Phơng pháp nghiên cứu 5
V - Cái mới của đề tài 5
B - Nội dung :
Chơng I: Khái quát chung về thơ và ngôn ngữ thơ 6
Trang 2I - Thơ và Việt nam hiện đại 6
II - Ngôn ngữ thơ 11
Chơng II: Đặc điểm nội dung các khổ thơ mở đầu và kết thúc trong thơ Việt nam hiện đại 18
I - Sự thống nhất về nội dung của văn bản thơ 18
II - Đặc điểm chung về nội dung 20
III -.Đặc điểm chung về nội dung các khổ thơ mở đầu 29
IV - -.Đặc điểm chung về nội dung các khổ thơ kết thúc 36
Chơng III : Đặc điểm nghệ thuật của các khổ thơ mở đầu và kết thúc trong thơ Việt nam hiện đại 44
I - Sự phát triển của nghệ thuật thơ Việt nam hiện đại 44
II - Đặc điểm nghệ thuật 45
C - Kết luận 66
Lời nói đầu
Thơ là một hình thái văn học đầu tiên của loài ngời ở nhiều dân tộc trên thế giới, trong một thời gian dài các tác phẩm văn học đều đợc viết bằng thơ Ta cũng thấy trong cuộc sống mỗi con ngời thơ ca đã có sự gắn bó ngay
từ những năm tháng còn ấu thơ Thơ ca từ bao đời đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống tinh thần nhân loại
Bên cạnh nhu cầu sáng tác thơ, thì con ngời còn có niềm đam mê khám phá, tìm hiểu thơ Với sự đa dạng và cuốn hút của thơ ở nhiều phơng diện, nhân loại đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực mà thơ ca vẫn luôn là đề tài hấp dẫn từ các nhà phê bình lí luận đến những ngời yêu thơ
Mỗi một bài thơ là một thế giới tâm hồn bí ẩn, nhiệm màu, mà đôi khi chính tác giả cũng không ngờ đợc sự kì diệu của nó Mỗi thi sỹ khi sáng tác nên một bài thơ lại có một kiểu mở đầu và kết thúc khác nhau Việc tìm hiểu
đặc điểm ngôn ngữ các khổ thơ mở đầu và kết thúc trong các bài thơ cũng là một công việc thú vị, hứa hẹn nhiều bất ngờ
Các khổ thơ mở đầu và kết thúc với t cách là điểm khởi nguồn và khép lại dòng cảm xúc tâm hồn của tác giả, bản thân nó ngoài những đặc điểm riêng thì nó còn nằm trong chính thể của cả tác phẩm, tạo nên tính chính thể của văn bản thơ
Dựa trên lí thuyết của các nhà ngôn ngữ học, các nhà lí luận văn học và
ý kiến của các nhà thơ trong và ngoài nớc, chúng tôi xin đợc cố gắng tìm hiểu phần nào các đặc điểm của các khổ thơ mở đầu, kết thúc trong văn bản thơ Việt Nam hiện đại
Trên cơ sở một hệ thống phong phú, đa dạng, đồ sộ của thơ ca Việt nam hiện đại, việc tìm hiểu của khoá luận chỉ mới là bớc khởi đầu còn nhiều bỡ ngỡ Chúng tôi chỉ mới dừng lại ở một số khía cạnh cơ bản của nội dung, nghệ
Trang 3thuật, của một số trong vô số những vấn đề nổi bật của văn bản thơ, và thực sựcha có điều kiện để đi sâu khám phá tờng tận bản chất của vấn đề
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ,
động viên của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp Đặc biệt là sự hớngdẫn tận tình của thầy giáo PGS - TS Phan Mậu Cảnh, cùng các thầy cô giáochuyên ngành ngôn ngữ học khoa Ngữ văn, trờng Đại học Vinh Chúng tôi xinbày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới các thầy giáo cô giáo và các bạn Với năng lực có hạn, khoá luận chắc chắn còn nhiều hạn chế, thiếu sót ,rất mong nhận đợc ý kiến đóng góp chân thành và thiết thực của quý vị và cácbạn Xin chân thành cám ơn
Vinh, tháng 5 năm 2006
Nguyễn Hoài Thu
A - mở đầu
I - Lí do chọn đề tài:
1 - Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ các khổ thơ mở đầu, kết thúc trong văn
bản thơ là một việc làm phức tạp, nhng cũng đầy lí thú Đặc biệt lại đặt trongbối cảnh thơ Việt nam hiện đại lại càng đa dạng, phong phú, hứa hẹn nhiềukhám phá hấp dẫn Thơ Việt nam những năm ba mơi của thế kỷ XX cho tớinay đã có nhiều bớc biến đổi và phát triển vợt bậc về nội dung lẫn thi pháp.Tìm hiểu các mối quan hệ giữa nội dung, nghệ thuật giữa các khổ thơ mở đầu,kết thúc cũng là một việc cần thiết
2 - Xét về mặt thi pháp, mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa các khổ thơ
mở đầu, kết thúc với văn bản thơ vừa là vấn đề mang tính lịch sử, vừa mangtính hiện đại Đồng thời đó còn là phơng diện liên quan đến sáng tạo của nhàthơ và sự tiếp nhận của các thế hệ độc giả Cho nên việc tìm hiểu đề tài này cónhiều hứa hẹn, đặc biệt là với ngành ngôn ngữ học
3 - Bớc sang thế kỷ XX, cùng với sự đổi mới của lịch sử - xã hội, thì
đồng thời thơ ca cũng có những bớc phát triển vợt bậc Thơ hiện đại Việt namkhông những phá vỡ cấu trúc cơ bản của thi pháp thơ cổ điển, mà còn cónhững thành tựu mới rực rỡ với nhiều màu sắc, dáng vẻ khác nhau Xuôi theodòng chảy mạnh mẽ ấy, cách mở đầu và kết thúc trong văn bản thơ cũng cónhiều biến đổi và phát triển mới Chỉ ra những đặc điểm ấy là cần thiết, gópmột phần nhỏ vào sự nghiệp nghiên cứu thơ ca Việt nam
4 - Lịch sử nghiên cứu thơ ca của nhân loại đã có từ thời Hy Lạp cổ đại
với nhiều tên tuổi nổi tiếng, mà ngời đầu tiên phải kể đến là arixtote Bề dàynghiên cứu thơ ca ở Việt nam cũng đã có nhiều khám phá mới mẻ trên nhiềudiện mạo của văn bản thơ của nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, với nhiều tácgiả nh : Trần Đình Sử, Hà Minh Đức, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Phan Cảnh,Hữu Đạt,
5 - Đối với chơng trình dạy và học văn nói chung, việc phân tích, bình
giảng văn bản thơ không thể tách khỏi sự tìm hiểu mối quan hệ chỉnh thể giữacách mở đầu và kết thúc với toàn bộ tác phẩm cả về nội dung lẫn nghệ thuật.Lựa chọn đề tài này, chúng tôi mong muốn sẽ đợc góp một phần nhỏ cho việcnghiên cứu cũng nh việc học tập thơ văn Việt nam hiện đại trong nhà trờnghiện nay
Trang 4II - Mục đích và đối tợng nghiên cứu :
1 - Mục đích:
Tìm hiểu và hệ thống hoá toàn bộ các kết quả nghiên cứu về đặc điểmngôn ngữ các khổ thơ mở đầu và kết thúc của văn bản thơ Việt nam hiện đạicủa các tác giả sáng tác trong giai đoạn 1932 - 1975
Phân tích mối quan hệ về nội dung , nghệ thuật giữa khổ thơ mở đầu,kết thúc với nhau, và với chỉnh thể văn bản thơ Việt nam hiện đại Trên cơ sở
đó rút ra những khái quát cơ bản của cách mở đầu và kết thúc trong thơ hiện
đại Việt nam, góp phần làm rõ đặc điểm thi pháp của thơ Việt nam hiện đạigiai đoạn 1932 - 1975
2 - Đối tợng nghiên cứu :
Một số tác phẩm tiêu biểu của các tác giả nền thơ ca Việt nam hiện đại giai
đoạn 1932 - 1975
Đơn vị khảo sát là các khổ thơ mở đầu và các khổ thơ kết thúc trong văn bảnthơ
III - Lịch sử nghiên cứu
Các khổ thơ mở đầu và kết thúc là những bộ phận quan trọng của vănbản thơ, góp phần tạo nên sự cân đối, hài hoà của chỉnh thể tác phẩm Tronglịch sử nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ đã thu hút sự quan tâm của nhiềunhà lý luận ngôn ngữ, nhiều ngời yêu thơ với nhiều cách tiếp cận khácnhau Đồng thời các tác giả cũng đã đạt đợc nhiều kết quả to lớn trong nghiêncứu của mình Có thể kể đến các hớng nghiên cứu cơ bản nh:
* Hớng thứ 1 : Nghiên cứu câu thơ:
Theo hớng này, ngời nghiên cứu có thể đứng từ góc độ thể loại văn họchoặc lí luận văn học để tìm hiểu Từ thời cổ đại, nghiên cứu câu thơ đã đợcquan tâm, tiêu biểu là Arixtote Các nhà lí luận ngôn ngữ khắp nơi trên thếgiới cũng đã có rất nhiều ngời đi theo xu hớng này, ví dụ nh: Mai-a cốp-xky,Boa-Lô, Viên Mai ở Việt nam có các tên tuổi lớn nh: Hà Minh Đức, BùiVăn Nguyên, Lê Đình Kỵ
*Hớng thứ 2 : Nghiên cứu đoạn thơ
Cách tiếp cận này tuy không đợc chú ý bằng các xu hớng khác, nhng nócũng đã đóng góp những thành tựu nhất định trên con đờng khám phá nghệthuật thi ca Theo xu hớng này, các nhà nghiên cứu đa ra những quan niệm vànhững đặc điểm khác nhau trong cách phân chia đoạn thơ, và tìm hiểu mốiquan hệ giữa các đoạn thơ với toàn bộ chỉnh thể bài thơ Tiêu biểu có các tácgiả nh: Tô ma sép xki, Bùi Công Hùng, Đái Xuân Ninh,
*Hớng thứ 3: Nghiên cứu cả bài thơ
Đây là hớng nghiên cứu thu hút nhiều nhà lí luận ngôn ngữ nhất Bởi sựhứa hẹn của nó là rất lớn Theo hớng này, các tác giả có thể đứng từ nhiều góc
độ khác nhau để khám phá bản chất của thơ ca Có thể là nghiên cứu nội dungbài thơ với các hình tợng thơ, tứ thơ, chủ đề , đề tài, có thể nghiên cứu thipháp thơ và phong cách tác giả Thực ra theo hớng này cũng cần phải áp
Trang 5dụng cách phân tích cụ thể từng bộ phận của văn bản thơ Tiêu biểu có các tácgiả: Phan Ngọc, Trần Đình Sử, Nguyễn Phan Cảnh,
IV - Phơng pháp nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ các khổ thơ mở đầu
và kết thúc trong mối liên hệ lẫn nhau, và trong quan hệ với chỉnh thể văn bảnthơ Việt nam hiện đại Đối tợng nghiên cứu khá đa dạng về hình thức, phongphú về thể loại, số lợng các bài thơ khảo sát không dới 400 bài Bởi vậy, ph-
ơng pháp mà chúng tôi lựa chọn khá đa dạng, và tuỳ thuộc vào từng nội dung
cụ thể để áp dụng phơng pháp thích hợp
Cơ bản chúng tôi lựa chọn các phơng pháp sau đây :
1 - Nhóm các phơng pháp chuyên ngành :
- Phơng pháp nghiên cứu văn bản thơ dới góc độ xác suất, thống kê
- Phơng pháp nghiên cứu phân tích dới góc độ nội dung, nghệ thuật
V - Cái mới của đề tài :
Bằng những kết quả nghiên cứu của mình, hy vọng khoá luận sẽ cónhững đóng góp nhất định nh :
- Đa lại một cách nhìn tổng hợp về cách mở đầu và kết thúc trong cấutrúc văn bản thơ Việt nam hiện đại dới góc độ ngôn ngữ học
- Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của các khổ thơ mở đầu và kết thúc củavăn bản thơ Việt nam hiện đại trong mối quan hệ với chỉnh thể của văn bản
Chơng I : Thơ và ngôn ngữ thơ
I - Thơ và thơ Việt nam hiện đại :
1- Quan niệm về thơ :
Có thể nói, thơ ca là hình thức sinh hoạt văn hoá, tinh thần thân thiết
và gần gũi nhất, sớm nhất của nhân loại Từ khi con ngời bắt đầu tìm hiểu,nhận thức thế giới thì họ cũng bắt đầu hình thành nên thơ ca Nói cách khác,thơ là thể loại văn học đầu tiên đến với con ngời, đi sâu vào tâm t tình cảm củacon ngời
Thơ ca đợc nuôi dỡng, phát triển trong đời sống thờng nhật hàng ngày,trong lao động sản xuất, trong suy t chiêm nghiệm về con ngời và thế giớixung quanh, đặc biệt là thế giới tự nhiên hùng vĩ và thần bí trong buổi hồnghoang của nhận thức nhân loại Ngoài ra, những cuộc đấu tranh để sinh tồn,
Trang 6chống áp bức bóc lột, chống ngoại xâm cũng đợc đa vào thơ ca, đợc thơ caphản ánh, miêu tả một cách sinh động, phong phú và đa dạng.
Đầu tiên là những câu nói vần vè để ngời nói, ngời nghe, dễ thuộc Ví dụ
nh
"Ông Tiển ông Tiên Ông có đồng tiền Ông dắt mái tai Ông cài lng khố "
( vè ) Xuôi theo dòng chảy lịch sử đó, văn học của các dân tộc trên thế giới nóichung, của Việt nam nói riêng cũng có những đặc điểm tơng tự Thơ vẫn làhình thức văn học xuất hiện sớm nhất, gắn bó nhất với đời sống tinh thần củanhân dân, của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội
Chính vì vậy, thơ ca vẫn là hình thức văn học thu hút đợc sự quan tâmnhiều nhất của các nhà phê bình, nghiên cứu Với sự đa dạng, phong phú vềthể loại, về nội dung cũng nh nghệ thuật, thơ ca đợc nghiên cứu, tìm hiểu dớinhiều góc độ khác nhau Sẽ là rất phiến diện, hời hợt nếu chỉ tìm hiểu thơ cadới một vài phơng diện hạn hẹp
Riêng một định nghĩa về thơ cũng đã gây ra nhiều cuộc tranh luận sôinổi, hào hứng từ xa đến nay Và, cho tới thời điểm hiện giờ, có lẽ đã có hơn
300 định nghĩa về thơ đợc đa ra Mà dờng nh ý kiến nào cũng có hớng xác
đáng Thế mới biết đợc mức độ phong phú, nhiều tầng nghĩa của thơ ca nh thếnào Thơ ca đã, đang, và sẽ còn là một đề tài hấp dẫn đối với các độc giả, vớicác nhà phê bình, nghiên cứu văn học của nhiều thế hệ Bởi thế, khó có mộtchỗ đứng bao quát để xem xét thơ Vào những thế kỉ thứ I trở về trớc, tức cách
đây khoảng trên 2000 năm, Platon ( nhà triết học duy tâm) cho rằng : Thơ ca
là một hiện tợng thần bí, không giải thích đợc Còn Arixtote lại khẳng địnhrằng: " nghệ thuật là hiện tợng do con ngời tạo ra theo những quy luật kháchquan, theo những quy tắc tổ chức chặt chẽ" " Nghệ thuật"mà Arixtote nói tớichính là thơ ca ( lúc bấy giờ thuật ngữ "thơ ca" còn gắn liền với thuật ngữ
"nghệ thuật ") Mãi cho tới hai mơi thế kỷ sau, ở những năm ba mơi của thế kỷ
XX những cuộc tranh luận giữa các quan niệm về thơ vẫn cha ngã ngũ
Có ngời thì cho rằng làm thơ là quá dễ nên không coi trọng thơ Nhng
có ngời lại thiêng liêng, thần bí hoá thơ, đẩy thơ đến chỗ "bất khả luận" Thậmchí, ở phơng Tây có những trờng phái đã đẩy thơ tới các phạm trù "bóng tối",
"cơn điên", " thơ phản thơ"
Mỗi thời kỳ lịch sử đều có những đặc điểm riêng về xã hội, kéo theo đó
là hệ thống ý thức tinh thần cũng khác nhau Cơ sở hạ tầng nào thì tơng ứngvới kiến trúc thợng tầng đó, và ngợc lại Thời trung đại, ở Việt nam vào thế kỷ
XV Phan Phu Tiên từng định nghĩa về thơ: "Trong lòng có chí hớng gì ắt sẽthể hiện ra lời nói, cho nên thơ là để nói lên cái chí của mình" Định nghĩa củaPhan Phu Tiên cũng có nghĩa là" thi dĩ ngôn chí ", có nghĩa làm thơ là để nóilên ý chí của mình Đây còn là quan niệm dờng nh mang tính chất quy phạmcủa cả giai đoạn văn học trung đại Việt nam Các nhà nho quan niệm rằng:Thơ không phải là để nhận thức hay phản ánh thế giới Mà thơ là để bộc lộ ýchí, tình cảm của con ngời Chí không phải là chí chung chung, mà là các chícủa ngời quân tử, của Nho học Làm một trang nam tử thì phải nuôi chí lớn : "
Tề gia - trị quốc - bình thiên hạ" Thơ là để bày tỏ tâm t ấy Vì tính quy phạmchặt chẽ nên chỉ có ngời đợc học hành, giỏi chữ mới làm đợc thơ, mới cảmnhận đợc cái hay, cái đẹp của thơ
Cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, xã hội Việt nam có nhiều biến đổisâu sắc, đợc mở rộng giao lu với văn hoá nhiều nớc trên thế giới, nhất là vănhoá Pháp, nên văn học nói chung, thơ ca nói riêng cũng có những biến đổi lớnlao
Trang 7Đầu thế kỷ XX, trong 30 năm đầu, trên văn đàn công khai, Tản Đà nổilên nh một nhân vật kiệt xuất Ông tiếp thu những quan điểm duy tân và chorằng"có văn có ích và có văn chơi " Có thể nói Tản Đà đã mở đờng cho mộtloại thơ trữ tình kiểu mới,mà trong tơng lai gần nó hoàn toàn chiếm lĩnh bầutrời thơ ca.
Cùng với sự phát triển của phong trào thơ mới 1932 - 1945, hàng loạtcác quan niệm, định nghĩa về thơ đã xuất hiện Họ cho rằng bản chất của thơ
là linh thiêng huyền bí, là đi tìm cái đẹp và thoát ly thực tại Điều đó cũng
đồng nghĩa với việc " thi sỹ là một khách tình si, ham vẻ đẹp có muôn hìnhmuôn thể " ( Thế Lữ ), là "ngời mơ ngời say "( Chế Lan Viên ) Còn XuânDiệu thì cho rằng làm thơ đối với thi sỹ là để cho tâm hồn "treo ngợc cành cây
đẹp của lý tởng và của những khát vọng chân chính Nói đến thơ là nói đếnphơng diện tinh hoa của con ngời và tạo vật Séc - Ly (Nga) cũng khẳng địnhlàm thơ phải có sự chọn lọc và sáng tạo công phu: " Thơ ca biến mọi vật thành
đẹp và nó đem lại vẻ đẹp cho những gì xấu xí nhất"
Trong một công trình nghiên cứu về thơ, Tố Hữu đã phát biểu: " Thơ làmột điệu hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu Thơ là tiếng nói đồng ý, đồngchí, đồng tình Thơ t sản thì tìm đến lỗ tai, cái bụng t sản Thơ của ngời lao
động thì tìm đến trái tim của ngời lao động " Có thể nói đây cũng là quan
điểm chi phối thơ ca Việt nam giai đoạn 1945 - 1975 Đây là một giai đoạnthơ ca mang đậm tính chất sử thi
Quả thật thảo luận để tìm đợc một định nghĩa về thơ cho thoả đángchẳng phải dễ dàng, cũng không thể gấp gáp Hơn nữa, mỗi xã hội, mỗi giai
đoạn lịch sử khác nhau tất yếu sẽ có những nền thơ ca với những đặc điểmkhác nhau Các cách nhìn về thơ theo đó mà cũng đổi khác Nhng có một thực
tế sẽ không bao giờ thay đổi là:" ở đâu có cuộc sống thì ở đó có thơ ca " (Séc
n sép xki)
2 - Thơ ca Việt nam hiện đại
Trải qua một bề dày lịch sử phát triển nhiều thăng trầm biến đổi theo sựvận động và phát triển của xã hội, thơ ca Việt nam đến nay đã có nhiều thànhtựu đáng tự hào Đặc biệt là thơ ca Việt nam hiện đại Giai đoạn này đã đemlại cho thơ ca một phạm trù thơ hiện đại, một thi pháp thơ mới, một kiểu trữtình mới, phân biệt và thay thế cho thơ trữ tình cổ điển truyền thống Nhắc đếnthuật ngữ " thơ ca Việt nam hiện đại " cũng có nghĩa là nhìn nhận, phân loạithơ dựa theo thời gian Xét ở phơng diện này thơ Việt nam đợc chia làm ba bộphận: thơ ca dân gian, thơ trung đại và thơ hiện đại Tơng ứng với từng bộphận là các thời kỳ lịch sử và các đặc điểm thi pháp thơ mang tính đặc trngcủa thời kỳ đó
Trang 8Bất cứ thơ ca của giai đoạn nào cũng đều lấy cuộc sống, lấy thế giớiquanh mình làm điểm xuất phát Thơ là cuộc sống, với thơ hiện đại cuộc sốngkết tinh trong cá nhân con ngời ở Việt nam , thơ trung đại ( còn gọi là thơ cổ
điển), hình thành từ đời Lý - Trần, đợc hoàn thiện vào cuối thế kỷ XVIII với
sự đóng góp của các tác giả nổi tiếng nh : Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hơng,Nguyễn Du Sau đó, thơ cổ điển bị thay thế bởi phong trào Thơ mới ( 1932 -1945), mở đầu cho sự phát triển rực rỡ của thơ Việt nam hiện đại
Thơ trung đại với những quy phạm chặt chẽ chỉ đợc xem là" đắt",
"khéo" "tài" Bởi thơ giai đoạn này phải chịu sự gò ép của quá nhiều các quytắc, các luật thơ hà khắc Ngôn ngữ thơ rất hàm súc nhng chữ tôi của cá nhânhoàn toàn không có cơ hội bộc lộ Hồ Tử đời Tống từng nhận xét: " Thơ chỉxem một chữ là biết khéo hay vụng", còn Phạm Uẩn thì nói: " Câu thơ hayphải có chữ hay" Cũng vì vậy mà để cảm nhận đợc cái hay cái đẹp của thơ cổ
điển thì ngời đọc phải có một trình độ hiểu biết nhất định , nếu không nói làphải học sâu biết rộng
Hầu nh trái với thơ trung đại, thơ ca hiện đại tự do và phóng khoánghơn nhiều, tự do về cả nội dung phản ánh lẫn nghệ thuật biểu hiện Đặc biệtthơ hiện đại đã mang lại một cái nhìn mới mẻ trên nhiều phơng diện, mà nổibật là ngôn ngữ thơ
Tiên phong trong cuộc cách mạng đổi mới thơ ca là phong trào " Thơmới" (1932 - 1945) Trong một công trình nghiên cứu về thơ, Tố Hữu đã nhận
định rằng : Thơ mới đã căn bản cải tạo lại thơ trữ tình tiếng Việt từ câu thơ
điệu ngâm sang câu thơ điệu nói Thơ cổ điển mang nặng tính quy phạm, ớc
lệ, cái cá nhân bị hoà tan trong cộng đồng, bị bắt buộc phải nói tiếng nói củacộng đồng phong kiến Còn Thơ mới lại mở ra một thời đại hoàn toàn mới chothi ca- " thời đại chữ Tôi " ( Hoài Thanh- Hoài Chân ) Cái tôi cá nhân trởthành vị trí trung tâm với mọi cung bậc cảm xúc, tình cảm riêng t nhất tự donhất Các nhà thơ mới đề cao con ngời cá nhân đến tột đỉnh :
"Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm"
( Xuân Diệu )
Nhà nghiên cứu Nga V.Girmunxki cũng nhận xét về thơ lãng mạn:
" Nhà thơ lãng mạn muốn bày tỏ cho chúng ta trớc hết là về chính họ, là phơibày tâm hồn, cõi lòng họ Họ thổ lộ cho ta những chiều sâu tâm hồn xúc cảm,
sự đa dạng của cá tính Họ reo lên vì vui, họ gào lên hay khóc lên vì đau đớn
Họ kể lể, họ bảo ban, họ vạch trần với khuynh hớng rõ rệt, buộc ngời nghephục tùng cảm giác về đời sống của họ, làm cho ngời nghe thấy cái gì đanghiện ra trong trực giác trực tiếp của nhà thơ "(" Bàn về thơ cổ điển và thơ lãngmạn" ) Tiếp nối những đổi mới của thơ lãng mạn , thơ 1945 - 1975 đã cónhững bớc phát triển thêm về cả nội dung lẫn nghệ thuật, góp phần làm đadạng diện mạo thơ Việt nam hiện đại
Lịch sử xã hội Việt nam giai đoạn 1945 - 1975 có nhiều đăc điểm riêng
Đó là thời kỳ toàn bộ quân và dân Việt nam dốc hết ý chí, tinh thần và lực ợng thực hiên hai cuộc kháng chiến trờng kỳ chống Pháp và chống Mỹ xâm l-
l-ợc, bảo vệ thành quả của cách mạng Bản chất của thơ ca là phản ánh cuộcsống, cho nên thơ Việt nam hiện đại giai đoạn này có những nét riêng so với các thời kỳ trớc Toàn Đảng , toàn dân đặt ra khẩu hiệu : " tất cả cho tiềntuyến, tất cả để đánh thắng" , kể cả với lĩnh vực văn hoá văn nghệ Hồ chủtịch đã khẳng định : " văn nghệ cũng là một mặt trận mà các anh chị em vănnghệ sỹ là các chiến sỹ trên mặt trận ấy" Cho nên thơ ca giai đoạn này mang
đậm tính sử thi, tính cộng đồng Chữ Tôi của thơ ca lãng mạn trớc đó bị thaythế bằng chữ Ta của tập thể, của nhân dân Nếu thơ mới đề cao chữ " tôi " , đềcao tự do cá nhân , thì giai đoạn này thơ lại chủ yếu đi vào ca ngợi cái "ta" của
Trang 9Nếu nh Thơ mới khẳng khái tuyên bố :
" Ta là một, là riêng, là thứ nhất
Không có chi bè bạn nổi cùng ta "
( Xuân Diệu )
Thì thơ 1945 - 1975 lại tự hào khi :
" Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm cù bất cù bơ "
( Tố Hữu ) Bên cạnh sự thay đổi về nội dung thì cách thể hiện cũng có sự đổi khác Giai đoạn này thơ vừa tiếp thu những thành tựu của thơ ca truyền thống,những mới mẻ của thơ lãng mãn, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những tinhhoa của thơ ca Đông- Tây, khiến diiện mạo thơ Việt nam hiện đại mang mộtphong cách riêng khó trộn lẫn với bất kỳ một giai đoạn thơ ca nào ở một ph-
ơng diện nào đó, thơ ca thời kỳ này đã có đợc những tiếng nói riêng, hìnhthành đợc những phong cách riêng
Theo đó, cách mở đầu và kết thúc trong văn bản thơ Việt nam hiện đạicũng có những thú vị nhất định, đa dạng và phong phú hơn rất nhiều so với thơtruyền thống
Trong số 444 bài thơ đợc khảo sát, có 179 bài viết liền không chia khổ.
Các bài còn lại hầu hết là những bài có trên 4 khổ thơ, trong đó số câu của cáckhổ thơ mở đầu cũng nh các khổ kết thúc đa số là 4 câu Điều này nói lên sự
đa dạng và phong phú trong việc sử dụng số câu chữ , phần nào phản ánh dunglợng thông tin nhiều hay ít , dài hay ngắn trong mở đầu , kết thúc cũng nhtrong từng câu thơ, khổ thơ
Có khi khổ mở đầu chỉ có một cặp câu lục bát :
" Lặng nghe mẹ kể ngày xa
Chang chang cồn cát nắng tra Quảng Bình "
( Mẹ Suốt - Tố Hữu )
Có khi là hai câu:
" Xa hỏi quê ong Sao ong không nói "
( Quê ong - Khơng Hữu Dụng )Khổ kết thúc cũng vậy:
" Bé nằm ngửa mặt tròn xinhNgủ trong tiếng hát của mình dới trăng"
( Bé hát dới trăng - Tế Hanh )
Nhng cơ bản các khổ mở đầu và kết thúc có 4 câu vẫn là chiếm đa số
Điều này giúp cho bài thơ có sự cân xứng về cả mặt hình thức lẫn nội dung thểhiện Nếu mở đầu hoặc kết thúc là một hay hai câu thì yêu cầu về sự gợi mở,hàm súc cao, và phần thể hiện nội dung phải kỹ càng hơn Những cách mở vàkết nh vậy thờng thiên về gợi ( đối với khổ mở đầu), và mở rộng, bỏ ngỏ( đối với khổ kết ) là chủ yếu
Ví dụ : Cuộc đời anh hùng của mẹ Suốt đợc gợi tả bằng câu thơ mở đầu( cũng là khổ mở đầu ):
" Lặng nghe mẹ kể ngày xa
Trang 10Chang chang cồn cát nắng tra Quảng Bình "
( Mẹ Suốt - tố Hữu )Cách kết thúc mở thờng đợc các tác giả Thơ mới ( 1932 - 1945 ) sửdụng nhiều Trong bài " Ta " Chế Lan viên đã kết lại bài thơ bằng khổ chỉ cómột câu:
"Ai bảo giùm Ta có ta không? "
Bài thơ dù kết thúc nhng sự băn khoăn day dứt về chữ " ta ",về cáitôi cá nhân của tác giả thì vẫn còn vọng mãi Nó không chỉ xoáy sâu vào lòngcủa mỗi thi nhân, mà còn khiến bao thế hệ độc giả cũng cảm thấy trăn trởkhông kém
Nh vậy, thơ ca Việt nam hiện đại nói chung, cách mở đầu và kết thúcbài thơ nói riêng đã có nhiều đổi mới, mang những đặc điểm riêng của thời
đại Thơ ca Việt nam hiện đại hầu nh đã thoát khỏi thi pháp của thơ trung đại,
đặc biệt là về nội dung phản ánh và cách nhìn nhận cuộc sống ở đó thi nhân
tự do, phóng khoáng đến tối đa trong việc phản ánh thế giới và thể hiện tâm ttình cảm, cảm xúc của bản thân mà không phải chịu sự ràng buộc, gò ép củabất kỳ một yếu tố nào Đây là một sự " tháo cũi sổ lồng" hết sức cần thiết đểthơ ca Việt nam đạt đợc những bớc thành công to lớn trên cả hai phơng diệnnội dung và nghệ thuật
3 Ngôn ngữ thơ:
1 - nhận xét chung:
Từ xa đến nay, thơ ca luôn sát cánh và nâng đỡ đời sống tinh thần củanhân loại Thơ đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi con ngời, gắn bó thân thuộcvới con ngời từ những năm tháng còn ấu thơ đến khi khuất bóng Thơ mãi mãi
là một hiện tợng khiến con ngời ta say mê và quan tâm tìm hiểu Cho đến nay,vẫn cha có môt định nghĩa xác đáng về thơ, bởi thơ quá đa dạng và nhiều màusắc, muôn hình, muôn vẻ Vì vậy, nghiên cứu về thơ từ xa đến nay cũng cónhiều xu hớng khác nhau Nhng cơ bản có thể thấy hai hớng nghiên cứu : -Một xu hớng tập trung nghiên cứu thơ ca trong mối quan hệ giữa tâm lý, t t-ởng với cuộc sống khách quan và con ngời tác giả Một xu hớng khác tậptrung nghiên cứu các phơng thức tạo lập văn bản thơ Nói cách khác, một bênthiên về nghiên cứu thơ dới góc độ nội dung, t tởng, một bên lại thiên vềnghiên cứu thơ dới góc độ nghệ thuật, cấu tạo văn bản tác phẩm
Với xu hớng thứ nhất, ngời ta nhìn nhận thơ nh là sự kết tinh tuyệt vờinhất của hơng nhuỵ cuộc đời Thơ nh những viên kim cơng long lanh vĩnhcửu, dù nó đợc hình thành từ những áp lực Thơ luôn gắn liền với sự rung
động, với trí tởng tợng, với sự xúc động trực tiếp Thơ đợc toát lên từ nhữnggiây phút thăng hoa của tâm hồn giàu cảm xúc và tình yêu Nh nhà thơ TốHữu đã từng miêu tả trạng thái tinh thần của mình khi làm thơ : Mỗi khi cócái gì nghĩ ngợi chất chứa trong lòng không nói ra, không chịu đợc thì lại thấycần phải làm thơ" Nhà thơ Nga Léc - Môn - Tốp cũng khẳng định sự thănghoa của cảm xúc khi làm thơ :" Có những đêm không ngủ đợc, mắt rực sáng
và lòng tràn ngập những nhớ nhung, khi đó, tôi viết " Nh vậy thơ không chỉ làvăn chơng, mà nó còn là tinh thần, là cảm xúc, là tâm t Nó vừa khái quát vừa
cụ thể, vừa có khả năng khêu gợi sự liên tởng, tởng tợng cũng nh cảm xúc củangời đọc, ngời nghe Thơ vừa gắn với thế giới nội tâm tinh tế, đa dạng của conngời, lại vừa phản ánh đợc đời sống xã hội phong phú, đa chiều Những điều
Trang 11trong nền văn học của mỗi nớc nói riêng, cả thế giới nói chung Cuộc sốngcàng phát triển, xã hội càng văn minh hiện đại, song song với sự tìm hiểu nộidung, cảm xúc thơ thì việc chú ý đến ngôn ngữ, cấu tạo văn bản thơ càng đ ợcchú ý hơn Thơ không ngừng đợc đổi mới theo t duy, t tởng, tình cảm của conngời trong mỗi giai đoạn lịch sử, và dĩ nhiên có cả sự đổi mới về ngôn ngữ, vềcách cấu tạo văn bản của nó.
Ngay từ đầu thế kỷ XX trên thế giới đã có nhiều nhóm nghiên cứu thơtheo hớng này Những ngời đi tiên phong có thể kể đến là các nhà lí luận ngônngữ Nga Họ tập trung khai thác đặc điểm ngôn ngữ thơ, cách cấu tạo cácthành phần câu thơ, đoạn thơ, và cả chỉnh thể văn bản thơ Qua các kết quảnghiên cứu họ đã đa ra nhiều phát hiện mới mẻ, góp phần cho việc tìm hiểu vàthởng thức cái hay, cái đẹp của thơ ca
Nhng dù theo xu hớng nào, có một điều không thể phủ nhận đó là sựthống nhất và gắn bó chặt chẽ giữa nội dung và hình thức Nói cách khác giữahai xu hớng này luôn có sự hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong việc khám phá bảnchất cái hay, cái đẹp của thơ ca Nội dung phải có hình thức thích hợp, ngợclại hình thức luôn biểu thị nội dung Văn bản ngôn ngữ thơ chứa đựng trong
nó cả một thế giới từ ngữ đợc tổ chức chặt chẽ, hàm súc Mỗi từ, mỗi câu,mỗi dấu chấm, dấu phẩy đều là một mắt xích quan trọng, là một điểm sángnghệ thuật của toàn bài
Vì vậy, khi nghiên cứu thơ, chúng ta không thể tách bạch hoàn toàn giữanội dung cảm xúc với hình thức thể hiện của văn bản thơ Dù đứng ở góc độnào thì chúng ta cũng nhìn nhận văn bản thơ trong tính chỉnh thể, thống nhấtgiữa hai phơng diện kể trên
Văn bản thơ rất đa dạng và phong phú Dờng nh mỗi tác phẩm lại có mộtcách biểu hiện khác nhau Có khi chỉ là một cặp lục bát :
"Thuyền ơi có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
(Ca dao)
Có khi là hai :
"Hôm nay dới bến xuôi đò
Thơng nhau qua cửa Tò vò nhìn nhau
Anh đi đấy, anh về đâu?
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm
(Không đề - Nguyễn Bính)
Nhng có khi là cả hàng trăm, hàng ngàn câu thơ( nh truyện Kiều củaNguyễn Du ) Dù một văn bản thơ nhiều hay ít câu thơ, dài hay ngắn thì đócũng là một chỉnh thể toàn vẹn, có nghệ thuật và nội dung cụ thể Mỗi bài thơtiêu biểu cho phong cách của ngời sáng tác, là kết quả của sự lao động sángtạo nghệ thuật công phu, trăn trở Để có thể lựa chọn từng câu, từng chữkhông phải là tuỳ hứng, ngẫu nhiên, mà là cả một quá trình lao động nghệthuật nghiêm túc "Thơ là sản phẩm sáng tạo của tâm hồn và trí tuệ con ngời,
là nhu cầu trong đời sống tâm linh của mỗi ngời "( Những thế giới nghệ thuậtthơ - Trần Đình Sử)
Trong sự thống nhất của văn bản thơ, mối liên hệ giữa các khổ thơ mở đầu,kết thúc với nhau và với toàn bộ tác phẩm cũng là một yếu tố quan trọng gópphần vào sự hoàn chỉnh của toàn bài Cũng nh nét riêng của mỗi bài thơ, cách
mở đầu và kết thúc của mỗi văn bản cũng có những đặc sắc riêng, tuỳ thuộcvào nội dung và phong cách tác giả Vì thế, nh chúng tôi đã nói, tìm hiểu đặc
điểm ngôn ngữ các khổ thơ mở đầu và kết thúc hứa hẹn sẽ có những phát hiệnthú vị
Trớc những xu hớng nghiên cứu thơ hiện nay, việc chọn cách tiếp cậnthơ từ góc độ ngôn ngữ, văn bản càng ngày càng đợc nhiều ngời quan tâm
Nh GS -TS Trần Đình Sử đã khẳng định trong công trình nghiên cứu" Những
Trang 12thế giới nghệ thuật thơ"của mình:"Phê bình, phân tíchthơ hôm nay phải bắt
đầu từ văn bản, coi trọng văn bản Dĩ nhiên, văn bản không phải là tất cả
Nh-ng Nh-ngời đọc khôNh-ng thể biết một nội duNh-ng nào khác Nh-ngoài sự biểu hiện của vănbản " Đi theo xu hớng này ngoài Trần Đình Sử còn có nhiều tác giả khác nh:Bùi Công Hùng, Hữu Đạt, Nguyễn Phan Cảnh, Đây là hớng nghiên cứu cónhiều u điểm mà chúng tôi cố gắng vận dụng sao cho đúng đắn và có hiêụ quảthiết thực nhất
2 Quan niệm về câu thơ - dòng thơ:
Câu thơ, dòng thơ là đơn vị cơ sở của cấu tạo văn bản thơ Từ trớc đếnnay, cũng đã có nhiều quan niệm về câu thơ , dòng thơ đợc các nhà ngôn ngữhọc đa ra Tuy các khái niệm đợc phát biểu không trùng khit với nhau, nhng
về cơ bản các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng: câu thơ - dòng thơ là đơn
vị cơ sở của văn bản thơ
Về câu thơ, có ý kiến cho rằng : " câu thơ là phán đoán đợc thể hiệnbằng các từ ", hay " câu thơ là chuỗi từ hình nằm giữa hai dấu chấm, giữa haichữ cái hoa ", " câu thơ là đơn vị ngữ điệu độc lập " .Tác giả Bùi Công Hùngtrong cuốn " Tiếp cận nghệ thuật thơ ca " khẳng định rằng: " trong hệ thốngngôn ngữ thơ , xét về mặt ngữ nghĩa , nhiều nhà nghiên cứu lấy câu thơ làm
đơn vị cơ bản trong khi nghiên cứu bài thơ, dựa vào câu thơ để triển khainghiên cứu toàn bộ các bộ phận của bài thơ" Câu thơ vừa là đơn vị thơ vềhình thức, vừa trọn vẹn về nội dung
Còn về dòng thơ, khi nói đến khái niệm " dòng " cũng có nghĩa là ta
đang xem xét nó về mặt hình thức Thế nào thì đợc xác định là một dòng thơ?
Có thể thấy dòng thơ bao gồm một số lợng âm tiết nhất định đợc kết hợp vớinhau, phân biệt với các dòng kế cận Các âm tiết của dòng thơ nằm trên một
đờng thẳng khi viết, và có nhịp điệu nhất định khi đọc
Ví dụ :
" Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lên ngàn hàng "
( Đây mùa thu tới - Xuân Diệu )
Đây là hai dòng thơ, mỗi dòng bảy âm tiết, có nhịp 4 / 3 Nhng đây cũng làhai câu thơ
Bởi vì phần lớn các câu thơ đều trùng khít với dòng thơ Calatơrôvatrong cuốn " Thơ và nhịp điệu " đã khẳng định rằng: dòng thơ trong đa số cáctrờng hợp là trùng khít với câu thơ
"Dữ dội và dịu êm
ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể "
( Sóng - Xuân Quỳnh )Khổ thơ này bao gồm bốn dòng thơ trùng với bốn câu thơ Cũng có những tr-ờng hợp câu thơ không trùng với dòng thơ Một câu thơ có thể gômg nhiềudòng thơ hoặc ngợc lại:
Ví dụ một câu thơ gồm bốn dòng thơ:
" Sơng rơi Nặng trĩu Trên cành Dơng liễu"
( Sơng rơi - nguyễn Vĩ )
Trang 13" Đông qua Hoa thắm, lá tơi, xuân đã lại !"
( Hơng xuân - Phạm Huy Thông )
"Gà gáy sáng thơ ơi mang ánh lửa
Hãy bay đi ! Con chim kêu trớc cửa Thêm một ngày xuân đến Bình minh
Cành táo đầu hè quả ngọt rung rinh
Nh hạnh phúc đơn sơ, ớc mơ nho nhỏ
Treo trớc mắt của loài ngời ta đó:
Hoà bình Độc lập
ấm no Cho Con ngời Sung sớng
Tự do "
( Bài ca mùa xuân năm 1961 - Tố Hữu )Tuy nhiên trong thực tế, việc phân biệt giữa dòng thơ và câu thơ khôngnhiều Hơn thế nữa, dù là phân biệt với nhau nhng giữa chúng luôn luôn cómối liên hệ, gắn bó chặt chẽ với nhau trong việc thể hiện cảm xúc, t tởng củachủ thể trữ tình:
" Chào 61! Đỉnh cao muôn trợng"
( Bài ca mùa xuân năm 1961 - Tố Hữu )
" Ai chết đó ? Nhạc buồn chi lắm thế ? "
( Nhạc sầu - Huy Cận )Bởi vậy, không nên tách bạch câu thơ và dòng thơ, mà có thể gọi chungcho hai khái nệm này bằng thuật ngữ câu dòng thơ, hoặc là câu thơ Nghĩa làthống nhất cách hiểu mỗi câu thơ là một dòng thơ
3 - Đoạn thơ - khổ thơ:
3.1 - Nhận xét chung:
Để xác định đợc đoạn thơ - khổ thơ cần phải dựa vào đơn vị cơ sở của
nó là câu thơ Theo tác giả Bùi Công Hùng thì ngời ta có thể chia đoạn thơ khổ thơ theo nhiều cách Có thể bài thơ này chia kiểu này, bài khác lại chiatheo kiểu khác
-Đoạn thơ có khi đợc xác định qua dấu hiệu là sự hoàn thành ngữ
điệu-cú pháp hay sự luân phiên theo quy luật của các câu thơ có vần:
" Chẳng phải con phợng hoàng từ tro tàn tê tái Lại hồi sinh
Mà chính bàn tay ta năm ngón trở bình minh Làm lại ánh ngày khơi dòng năm tháng"
( Huy Cận)
" Con sông nhỏ tuổi thơ ta tắm Vẫn còn đây nớc chẳng đổi dòng Hoa lục bình tím ngắt cả bờ sông "
( Lê Anh Xuân ) Cũng giống nh trờng hợp câu thơ - dòng thơ, giữa đoạn thơ và khổ thơ
về cơ bản là trùng khít với nhau.Khổ thơ cũng nh dòng thơ thờng xét về mặt
Trang 14hình thức biểu hiện Khổ thơ gồm nhiều câu thơ ( dòng thơ ) có một ý tơng đối
độc lập, hoặc có một khoảng cách nhất định ( khi viết, khi in)
Ví dụ:
" Sóng gợn tràng giang buồn điệp Con thuyền xuôi mái nớc song song Thuyền về nớc lại sầu trăm ngả
và ngợc lại Ví nh bài " Tống biệt hành " của Thâm Tâm, xét về khoảng cáchkhi in thì có bốn khổ thơ Song nếu chia theo nội dung biểu hiện thì khổ thơthứ nhất đợc chia ra lam hai đoạn, khổ thứ hai và thứ ba lại là một đoạn Nóichung, việc chia khổ thơ, đoạn thơ tuỳ thuộc từng trờng hợp Hiện nay, cáchxác định phổ biến vẫn là dựa vào khoảng cách giữa các dòng thơ để xác địnhkhổ thơ
3.2 - Tiêu chí xác định khổ mở đầu và khổ kết thúc trong văn bản thơ:
Tiêu chí cho việc xác định các khổ thơ mở đầu và kết thúc trong mộtbài thơ về cơ bản là dựa trên các quan niệm về câu thơ - dòng thơ và khổ thơ -
đoạn thơ nh đã nói trên Cộng thêm với sự xác định vị trí của các khổ thơtrong bài thơ để phân biệt đâu là khổ mở đầu , đâu là khổ kết thúc
Khổ mở đầu của một văn bản thơ là khổ thơ đầu tiên trong thứ tự cáckhổ thơ tính từ trên xuống khi viết, khi in Tơng tự, khổ kết thúc là khổ có thứ
tự cuối cùng
Ngoài ra còn một tiêu chí không kém phần quan trọng nữa là dựa vàonội dung, t tởng biểu đạt của đoạn văn bản đó Khổ thơ mở đầu thờng cónhiệm vụ mở ra một vấn đề, giới thiệu một nội dung, cảm xúc sẽ đợc trình bàytrong những phần sau
Ví dụ: Trong bài thơ " Đây mùa thu tới ", Xuân Diệu đã mở đầu cho những
b-ớc đi của mùa thu tới và cảm xúc tiếc nuối, thảng thốt trb-ớc sự ra đi của thờigian của chính tác giảc :
" Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng Đây mùa thu tới ! Mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng."
Còn khổ kết thúc thơng khép lại vấn đề, nội dung cảm xúc đã đợc khơigợi trong khổ mở đầu, và đã đợc trình bày, thể hiện cụ thể trong các khổ kháccủa tác phẩm Hơn nữa, không chỉ có vai trò kết thúc, khái quát vấn đề mà khổkết còn có khả năng khơi gợi sự liên tởng, tạo những d âm cho tác phẩm khiếntác phẩm có sức hấp dẫn hơn Kết lại bài " Đây mùa thu tới " , Xuân Diệu vừakhẳng định sự lạnh lẽo, phai tàn nhng vẫn đẹp của cảnh vật lại, vừa gợi ra cho
độc giả những băn khoăn, bâng khuâng đầy ám gợi, liên tởng bằng khổ thơ:
" Mây vẩn từng không chim bay đi Khí trời u uất hận chia ly
ít nhiều thiếu nữ buồn không nói Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì."
Trang 15Nh vậy, những cái nhìn tổng quan về thơ và ngôn ngữ thơ là một cơ sởquan trọng để ta có thể định hớng đúng trong việc khảo sát, nghiên cứu đặc
điểm ngôn ngữ các khổ thơ mở đầu và kết thúc trong thơ Việt nam hiện đại.Thơ ca Việt nam hiện đại đã đem lại cho thơ Việt nam một phạm trù thơ hiện
đại, mới mẻ, một thi pháp thơ mới với nhiều thành tựu rực rỡ Trong từng câuthơ, khổ thơ với sự sáng tạo của các tác giả đã thể hiện đợc sự trởng thành vợtbậc của thơ Việt nam, kế thừa những tinh hoa của thơ ca truyền thống Câuthơ, khổ thơ là những đơn vị cơ bản của ngôn ngữ thơ, đồng thời là đối tợngtìm hiểu của đề tài này Xác định đúng các đối tợng thì mới có thể giúp choviệc khảo sát, nghiên cứu về nội dung cũng nh nghệ thuật trong các chơng sau
đợc thuận lợi và chính xác, có hiệu quả hơn
Chơng II:
Đặc điểm nội dung của các khổ thơ mở đầu và kết
thúc trong thơ Việt nam hiện đại
I Sự thống nhất về nội dung của văn bản thơ:
Thơ ca dù tồn tại dới hình thức nào cũng đợc xem là văn bản hoàn chỉnh.Văn bản thơ có thể bằng lời, bằng chữ viết Một văn bản có thể ngắn, dài tuỳtheo sự sáng tạo của ngời nghệ sỹ Nhng nhất thiết nó phải là một chỉnh thểtoàn vẹn, có sự thống nhất về nội dung thể hiện Trong công trình nghiên cứu
" Về lí luận của ngôn gnữ nghệ thuật", nhà phê bình Nga Vinôgrađôp chorằng: một tác phẩm văn học bao gồm bốn hệ thống thống nhất chặt chẽ vớinhau là hệ thống t tởng chủ đề, hệ thống hình tợng, hệ thống cấu tạo và hệthống ngôn ngữ Tác giả Bùi Công Hùng có sự đồng tinh với ý kiến của viện
sỹ Vinôgrađôp và đã phân tích chi tiết trong cuốn "tiếp cận gnhệ thuật thơ ca"của ông Trong đó tác giả viết: " xét toàn một bài thơ, một tập thơ, ta nhìn thấymột hệ thống tổng hợp của nhiều yếu tố tạo nên sự thống nhất giữa nội dung
và hình thức một cách rất chặt chẽ " nội dung của một tác phẩm thơ tập trung,cô đúc cao độ ở hình tơng của tác phẩm " Hình tợng luôn luôn tái hiện cuộcsống trong từng hiện tợng riêng biệt, nhng trong đó có sự thống nhất và quan
hệ hai chiều giữa cái chung và cái riêng nh đã tồn tại trong hiện thực " ( BùiCông Hùng - Tiếp cận gnhệ thuật thơ ca ) Điều này cũng có nghĩa là nội dungcủa tác phẩm thơ là sự thống nhất hài hoà của cái chung, cái hiện thực kháchquan cuộc sống với cái riêng t, tình cảm cảm xúc chủ quan của ngời sáng tạo.Nội dung của vâ bản thơ ca cũng nh tảng băng nổi trên mặt nớc Phần hiệnhữu đập vào mắt độc giả chỉ là bề nổi Còn ý nghĩa thực sự của nó vẫn cònchìm sâu sau bề mặt ngôn từ Trong Thơ mới 1932 - 1945 có rất nhiều bài thơ
có tứ thơ rất độc đáo, khác lạ Ngôn từ đợc sử dụng có khi rời rạc, chắp nốinhng chúng đều tập trung thể hiện một nội dung duy nhất, xuyên suốt Tiêubiểu ví nh thơ của hàn Mặc Tử Thơ của ông là sự thể hện các ý nghĩ, đuổitheo những dòng suy tởng và các bớc nhảy của sự hồi tởng, mơ mộng.Nếukhông nhìn nhận thơ Hàn Mặc Tử theo dòng suy tởng thì sẽ thấy thật rời rạc,không ăn nhập về nội dung Nhng đặt trong sự liên tởng giữa những trạng tháitâm hồn thì lại thấy rất gắn bó "Đây thôn Vĩ Dạ " là một ví dụ tiêu biểu
Nội dung của một bài thơ là một hệ thống lớn bao gồm các tiểu hệthống với nhiều quan hệ tầng bậc Một ý nghĩa nhỏ cũng trở thành một mắtxích quan trọng để dệt nên mang lới nội dung của tác phẩm Vì vậy, dù
Trang 16nghiên cứu cả văn bản hay chỉ một phầncủa nó, chúng ta nhất thiết phải lu ý
đến sự thống nhất chặt chẽ về nội dung Đây cũng là cơ sở lí luận giúp takhông lệch hớng trong nghiên cứu
Thơ Việt nam hiện đại đợc tính t sự ra đời của phong trào Thơ mới
1932 - 1945 trở về sau Trong đó lại có thể phân chia ra các giai đoạn nhỏ,
t-ơng ứng với các thời kì lịch sử khác nhau, với các đặc điểm nội dung, thi phápkhác nhau
Đối với thơ lãng mạn 1932 - 1945 , đây là " thời đại" thơ ca vơn lênkhẩng định mạnh mẽ cái tôi cá nhân Đó là thời đại mà mỗi ngời tự thấy cô
đơn lạc lõng khi đi tìm chỗ đứng cho bản thân Nếu trong thơ ca trớc đó cái tôicá nhân bi hoà tan trong cộng đồng, thì bây giờ nó khẳng khái đứng riêng lẻ,lớn tiếng khẳng định bản ngã riêng, tiếng nói riêng đầy quyết liệt Trần Đình
Sử trong cuốn " Những thế giới nghệ thuật thơ " đã viết về điều ấy: " Đó là lúccon ngời cảm thấy rõ nhất cá nhân, là lúc con ngời tự khám phá cá nhân mình,thổ lộ mình để mong tìm đồng cảm ở ngời khác " Đó là thời đại của buồn rầu,chán nản, mộng mơ, đợi chờ, mong mỏi vô định Nhà nghiên cứu ngời NgaGrimunxki cung khẳng định: " nhà thơ lãng mạn muốn bày tỏ cho chúng ta tr-
ớc hết là về chính họ, là phơi bày tâm hồn, cõi lòng họ Họ thổ lộ cho tanhững chiều sâu tâm hồn cảm xúc, sự đa dạng của cá tính Họ reo lên vì vui,
họ gào lên hay khóc lên vì đau đớn Họ kể lể, họ bảo ban, họ vạch trần vớikhuynh hớng rõ rệt, buộc ngời nghe phục tùng cảm giác về đời sống của họ,thấy cái gì đang hiện ra trong trực giác trực tiếp của nhà thơ", ( "Bàn về thơ cổ
điển và thơ lãng mạn" ) Cái tôi ở đây nằm ở vị trí trung tâm của cảm nhận.Mọi sự quan sát, đánh giá cuộc sống cung nh thế giới xung quanh đều bằngcon mắt chủ quan của chủ thể trữ tình - tác giả Hoài Thanh - Hoài Chân đã rấtnhạy cảm khi gọi đây là " thời đại chữ tôi", thời đại cái tôi tự khẳng định mình
" là một, là riêng, là thứ nhất" một cách đầy tự tin và mạnh mẽ
Bớc sang thời kì sau cách mạng tháng Tám 1945, thơ ca Việt nam hiện
đại có những bớc thay đổi căn bản Sự vận động, phát triển của thơ Việt namsau 1945 đi song song với tiến trình lịch sử của thời đại Hồ Chí Minh Cha baogiờ giữa thơ và lịch sử lại có bớc đi song hành và gắn bó nh giai đoạn này Nóvừa kế thừa những thành tựu của thơ dân tộc, lại vừa có những biến đổi khácbiệt theo xu thế của thời đại Nền thơ này đã tự phân biệt về bản chất so với tấtcả các thời kỳ trớc nó, kể cả Thơ mới bằng những đặc điểm hết sức cơ bản
Đặc biệt là về nội dung t tởng Do phát triển trong một hoàn cảnh lịch sử hếtsức đặc thù, Thơ Việt nam 1945 - 1975 nóng hổi tính thời sự Bản chất của thơ
ca là gắn với cuộc sống,với hiện thực nên thời đại lịch sử hào hùng của Dântộc ta những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹđã đợc phản ánh và ngợi
ca một cách kịp thời trong thơ ca " Cuộc sống kháng chiến đã tạo ra nguồncảm xúc lớn cho Thơ Tính lý tởng cao cả hoà cùng chất hiện thực phong phúbắt nguồn từ cuộc chiến đấu, sản xuất gian khổ nhng vô cùng anh dũng củadân tộc đã nâng thơ lên tầm cao thời đại Điều nhận thấy rõ là tâm hồn của cácnhà thơ cũng đợc đổi thay, một sự thay đổi có tính chất căn bản, nội tại" (MãGiang Lân)
Nếu nh ở thời kỳ 1932 - 1945, nhà thơ đi sâu vào khai thác cái tôi cánhân, khẳng định cá nhân với những cảm xúc riêng t nhất, thì thời kỳ 1945 -
1975 thơ ca lại quay trở lại với cái ta cộng đồng, tập thể Tuy nhiên, đó khôngphải là cái ta trong thơ Việt nam trung đại Mà đó là sự đề cao sức mạnh tậpthể trong đấu tranh cách mạng, đề cao niềm tin yêu vào sự nghiệp của quầnchúng, của toàn dân Cách mạng và khoáng chiến nh ngọn lửa soi đờng chocác nhà thơ Ngọn lửa ấy có sức mạnh hiệu triệu, dẫn đờng, có sức chiến đấu
đến tập hợp mọi lực lợng, mọi đối tợng - trong đó có các văn nghệ sỹ, hớng họvào con đờng chung của cả dân tộc đang đi Cuộc sống kháng chiến trở thành
đối tợng hàng đầu của nghệ thuật, lý tởng xã hội trở thành lý tởng nghệ thuật.Vì thế, thơ ca giai đoạn này có những cách tân mạnh mẽ về nội dung, nghệ
Trang 17thuật với các xu hớng nh: khái quát tổng hợp mở rộng dung lợng đời sống đợcphản ánh, tự do hoá hình thức thơ, mở rộng các hình tợng thơ
Xuất phát từ đặc điểm nội dung, nghệ thuật thơ cũng có những thay đổicho phù hợp Cách mở đầu và kết thúc cũng trở nên đa dạng và phong phú Vềnội dung, giữa các khổ mở đầu và kết thúc bao giờ cũng có sự liên hệ mật thiếtvới nhau, đều nằm trong sự liên hệ với toàn bài thơ, tạo thành ttính tỉnh thểcho tác phẩm
II - Đặc điểm chung về nội dung:
1 - Đối với thơ 1932 - 1945:
Nói tới nội dung thơ của giai đoạn, đề tài đợc khai thác nhiều nhất vẫn
là mảng đề tài muôn thuở - tình yêu Mỗi thi nhân đến với tình yêu trong thơbẵng những nẻo đờng khác nhau, cảm nhận khác nhau Tiêu biểu có các tácgiả nh: Xuân Diệu, Phạm Huy Thông, Lu trọng L, Nguyễn Bính, Vũ HoàngChơng, Thái Can, Hàn Mặc Tử trong số đó, Xuân Diệu là ngời cuồng nhiệtnhất, tha thiết nhất Ngay đầu đề cũng nh các khổ thơ mở đầu trong thơ XuânDiệu nguồn suối tình yêu đã chảy láng lai Kèm theo đó là lòng "khát khaogiao cảm với đời" dờng nh bao giờ cũng hừng hực cháy Hoài Thanh - HoàiChân trong cuốn " Thi nhân Việt nam " đã viết về Xuân Diệu rất tinh tế: "Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuốngquýt, muốn tận hởng cuộc đời ngắn ngủi của mình Khi vui cũng nh khi buồn,ngời đều nồng nàn tha thiết" Thi nhân luôn " vội vàng", " Giục giã", "Yêu",
"tơng t" với những khát khao "Huyền diệu" về tình yêu và những tháng ngàytuổi trẻ, mùa xuân Mở đầu bài "giục giã ", tác giả viết:
"Mau với chứ, vội vàng lên với chứ!
Em, em ơi, tình non đã già rồi,
Con chim hồng, trái tim nhỏ của tôi
Mau với chứ thời gian không đứng đợi"
Ngay từ đầu, tác giả đã dùng những lời hối thúc giục giã Cuốn theo đó
là cả tấm lòng sục sôi tận hởng, tiếc nuối mỗi thời khắc của cuộc sống Tìnhvừa "non " đấy, nhng thấm thoắt trong khoảnh khắc đã "già" rồi Em hãy
"mau với chứ, vội vàng lên với chứ"
Đến khi kết thúc bài thơ, sự giục giã vẫn tiếp diễn, thậm chí còn gấpgáp hơn, thiết tha, cuống quýt hơn bội phần:
"Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ!
Em, em ơi, tình non sắp già rồi"
Nếu ở khổ mở đầu , "tình non" đã gìa thì đến khổ cuối "tình non sắp giàrồi" Điều đó cho ta thấy tác giả quá vội vàng, tiếc nuối, vừa mới chớm mà đãthấy qua mau Sau một hồi nhình lại mới thấy thời giancó trôi chậm hơn một
tý Nhng sau những lần hò hẹn, tình tự, gặp gỡ mới thấy dù đã có hởng thụ
nh-ng vẫn cha đã đầy, vẫn thấy tình yêu mới đó đã lại "sắp già rồi" Tình yêu đốivới Xuân Diệu không bao giờ là đủ đầy, thoả mãn
Còn với Nguyễn Bính, tình yêu không đợc bộc lộ cuồng nhiệt nh thế,
mà rất đỗi e dè, chân quê, mộc mạc Đó là thứ tình yêu "xa cách", đầy "tơng
t-", "chờ nhau" Bởi thế,Nguyễn Bính thờng có những ngập ngừng, đa đẩy khi
mở đầu cho một khúc tình tự:
" Thôn Đoài ngồi nhớ thôn ĐôngMột ngời chín nhớ mời mong một ngời
Gió ma là bệnh của trời
Trang 18Tơng t là bệnh của tôi yêu nàng"
(Tơng t)
Để nói đợc chữ " Tôi yêu nàng", thi nhân đã phải viện đến "thôn Đoài",
"thôn Đông", đến gió ma trời đất Tôi - nàng ở đay vừa nh rất gần, lại vừa nhrất xa xôi, bảng lảng Đến khi kết thúc, tôi - nàng dờng nh lại xa cách hơn khicâu hỏi trăn trở vang lên ở cuối khổ thơ:
" Nhà em có một giàn giầuNhà anh có một hàng cau liên phòngThôn Đoài thì nhớ thôn ĐôngCau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?"
"Tơng t" rốt cuộc vẫn tơng t, vẫn là tình yêu không giám thổ lộ, chỉ lặng
lẽ quan sát, lặng lẽ mơ ớc, lặng lẽ nhớ nhung Chàng trai chỉ tự phân tích, tựsuy luận để rồi lặng lẽ, ngậm gùi tiếc nuối trong nỗi day dứt "cau thôn Đoàinhớ giầu không thôn nào?"
Bên cạnh những bài thơ tình chất phác của nguyễn Bính còn có nhữngbài cũng viết về đề tài này nhng lại mang một màu sắc hoàn toàn khác, thậmchí có chút gì đó mộng ảo cuồng loạn ấy là thơ tình của Hàn Mặc Tử, VũHoàng Chơng, Đinh Hùng Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?"
Với họ tình yêu, ngời yêu thờnh gắn với mộng ảo, với cái chết, vớimáu, với linh hồn:
" Trời cuối thu rồi - Em ở đâu?
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?
Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy,
Ta muốn vào thăm nắm mộ sâu"
(Gửi ngời dới mộ - Đinh Hùng)
"Em" - ngời yêu gắn với " đất lạnh", "hồn ma", "nắm mộ sâu" gợikhông khí lạnh lẽo chết chóc, rờn rợn Khổ thơ mở đầu cho một cuộc gọi làviễn du đến với ngời chết Thi nhân âu yếm hỏi han "ngời dới mộ", và kếtthúc cũng bằng những âm điệu ma quái:
"Thần chết cời trong bộ ngực điên,
Ta nghe em thở tiếng u phiền
Nỗi lòng xa dậy tan Thanh vắng
Hơi đất mê ngời - Trăng hiện lên"
Còn Hàn Mặc Tử cũng đã có hẳn một tập thơ tình với cái tên" Máucuồngvà hồn điên" Trong đó , tình gắn với "những giọt lệ ", với sự "trút linhhồn":
" Máu đã khô rồi, thơ cũng khô
Tình ta chết yểu tự bao giờ!
Từ nay trong gió-trong mây gió Lời thảm thơng rêng khắp nẻo mơ"
Xin để tang anh đến vạn ngày?
Trang 19Bên cạnh đề tài tình yêu, thơ 1932 - 1945 còn đề cập đến nhiều mảng
đề tài khác nh: sự ốm đau, cái chết,ca ngợi phong cảnh phong tục quê
h-ơng Trong số 258 bài thơ đợc khảo sát ở giai đoạn này, có tới 130 bài thơtình, 16 bài nói về cái chết, 22 bài ca ngợi con ngời và phong tục quê hơng, 18bài nói về các mùa trong năm
Trong số hơn 40 tác gia có thơ đợc lựa chọn đa vào tuyển tập thì ĐoànVăn Cừ là một trong những ngời có thơ đợc chọn nhiều nhất Nét đặc biệt củatác giả này là những sáng tác của ông đều nói vềmột chủ đề: làng quê vànhững nét sinh hoạt văn hoá truyền thống.15 bài thơ của ông là mời lăm bứctranh sinh động, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc Việt nam Đó là những nét
cổ kính mà bình dị của "làng", sự rộn ràng náo nức của "chợ tết", "tết", của
"đám hội", "đám cới mùa xuân" hay sự chân chất, giản dị của ngời nhà quê
nh "ông đội", "chú bán thuốc ú ê", Nơi chôn nhsu cắt rốn của Đoàn Văn Cừthật yên bình mà đi đâu trên khắp miền quê Việt nam cũng có thể bắt gặp :
"Làng tôi: mơi chục nóc nhà tranhMột ngọn chùa cao, một nóc đìnhMột rặng tre già vơn chót vót Một dòng sông trắng chảy vòng quanh"
( Làng )Kết thúc bài thơ là:
"Cứ thế làng tôi tháng lại năm Sống bên ruộng lúa, cạnh ao đầm Đời nh mặt nớc ao tù lắng
Gió lạ không hề thổi gợ tăm"
Đây không còn chỉ là "làng" của Nguyễn văn Cừ nữa, mà là của tâmhồn Việt nam ở đó có các thôn xóm, các ngõ rơm,có đêm trăng tát nớc, cótiếng giã gạo, có những ngày mùa nhộn nhịp, có bánh chng xanh ngày tết Mở
đầu bài thơ là bốn câu khái quát phong cảnh, và kết thúc là bốn câu phác hoạkhông khí yên bình của làng quê Cuộc sống tháng lại năm trôi đi nh mặt hồphẳng lặng, dù có chút đơn điệu nhng đó lại là nơi yêu dấu, nơi cho ta sứcmạnh tinh thần trong cuộc đời xuôi ngợc Không đâu bằng quê hơng mình,mái ấm gia đình mình Những nét sinh hoạt văn hoá của làng quê trong thơ
ông là những bức tranh thật tơi vui, nồng ấm:
"Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi Sơng hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh Trên con đờng viền trắng mép đồi xanh Ngời các ấp tng bừng ra chợ tết
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon Vài cụ già chống gậy bớc lom khom Cô yếm thắm che môi cời lặng lẽ Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ Hai ngời thôn gánh lợn chạy đi đầu Con bò vàng ngộ gnhĩnh đuổi theo sau Sơng trắng rỏ đầu cành nh giọt sữa Tia nắng tía nháy hoài trong ruọng lúa Núi uốn mình trong chiec áo the xanh Đồi thoa son nằm dới ánh bình minh"
Khổ mở đầu chính là cảnh ngời làng trên đờng đi chợ tết Mỗi ngời một
vẻ, cảnh vạt tơi vui đầy màu sắc và nh cũng nô nức theo không khí tết của conngời Đến khổ kết thúc cũng là lúc chợ tết đã vãn:
Trang 20"Chợ tng bừng nh thế tới gần đêm Khi chuông tối bên chùa văng vẳng đánh Trên con đờng đi các làng hẻo lánh, Những ngời quê lũ lợt kéo ra về ánh dơng vàng trên cỏ kéo lê thê Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ"
Chợ tan để lại chút gì đó tiếc nuối, bâng khuâng và có phần thảng thốt.Cảnh chợ tàn"lê thê", "tơi bời" khiến cho lòng thi nhân nh chùng lại, tiếc nuối
Có thể thấy "những bức tranh trong thơ Đoàn Văn Cừ không chỉ đơn sơ vài nét
nh các bức tranh xa của á đông Bức tranh nào cũng đầy rẫy sự sống và rộn rịpnhững hình sắc vui tơi Mỗi bức tranh là một thế giới linh hoạt Ngời xemtranh hoa mắt vì những nét những màu hình nh rối rít cả lại, nhng nhìn kỹ thìmàu nào nét nào cũng ngỗ nghĩnh vui vui"( Hoài Thanh - "Thi nhânViệtNam") Trong số 258 bài thơ mới khảo sát ở đây, có tới 96 bài không chiakhổ Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ xét qua nội dung chứkhông đi tìm hiểu phần đặc điểm nghệ thuật ở những bài thơ này, mạch cảmxúc chảy liền mạch từ đầu đến cuối bài Có bài chỉ 4 câu, có bài trên 90 câuvới nhiều nội dung phong phú Có khi đó là nỗi lòng "tơng t"( Trần HuyềnTrân)"Xa cách" ( Nguyễn Bính); là chút" Tình quê"( Hàn Mặc Tử), "Một giấcmơ"( Phạm Huy Thông), cảm xúc lúc đi "Chơi xuân" (Đoàn Văn Cừ), lúc
"Chiều cổ" (Lu Trọng L), lúc "Tiễn đa" (Phan Văn Dật), Thái Can trongbài"Cảnh đó, ngời đâu?" đã đa đến cho ngời đọc một chút bâng khuâng, ngơngẩn của cái tâm trạng trông cảnh nhớ ngời:
"Gặp em thơ thẩn bên vờn hạnh,
Hỏi mãi mà em chẳng trả lời
Từ đó Bắc - Nam ngời một ngả;
Bên vờn hoa hạnh bóng giăng soi"
Bài thơ này khiến cho ta mờng tợng, liên tởng đến bài "Đô thành namtrang" của Thôi Hộ(Trung quốc) Còn Lu Trọng L trong bài "Chiều cổ" lại
đem đến cho độc giả chất thơ cổ kính của không khí tiễn biệt xa:
" Chiều sơng, rừng tím , lệ muôn hàng
San sát ghe đầy bến Trúc Lang,
Cây, nớc, say theo ngời tráng sỹ
Con đò quên cả chuyến sang ngang "
Cạnh đó lại có những bài dài từ 30 câu đến 40, 90 câu ví nh "Say điem" (Vũ Hoàng Chơng), "Phan Thiết!Phan Thiết"( Hàn Măc Tử), "Khóc Tản
Đà"( Trần Huyền Trân), "Độc hành ca"(Trần Huyền Trân),"Một giấcmơ"(Phạm Huy Thông), "Đám cới mùa xuân" (Đoàn Văn Cừ), "Cái chuông
ông Trùm"( Tú Mỡ), "Chiều ma trên mộ địa"(Phan Văn Dật),
Nội dung đợc thể hiện ở các bài này viết phong phú Những bài có sốcâu ít thờng thiên về đề tài tình yêu, triết lý mơ mộng Còn các bài dung lợngcâu thơ nhiều thờng rơi vào nội dung miêu tả, tờng thuật hoặc cảm hoài, đềcập đến những vấn đề có ý nghĩa nhân sinh lớn lao Ví dụ bài "Khóc Tản Đà",tác giả vừa tỏ lòng thơng tiếcthi sỹ Tản Đà, đồng thời qua cuộc đời của Tản
Đà tác giả muốn nói tới quy luật sinh diệt, tồn tại và mất mát giữa những ngờitri kỷ, của những bậc tài cao, phận thấp Đời ngời chỉ thoáng qua nh giấcmộng"Tinh tỉnh say say", "Thân tàn một kiếp chí mòn bốn phơng"mà thôi
Hoặc nh Tú Mỡ, trong bài"Cái chuông ông Trùm", nói chuyện cáichuông bình thờng nhng đằng sau cái chuông nhỏ là cả một chuyện lớn
Trang 21thời đại nào cũng đầy rẫy Ngời ta đua chen, thi nhau chồng tiền để mua lấychức quan, để mua lấy lợi lộc từ việc làm quan Vì làm quan thì thế nàocũng"Bên danh bên lợi hai đàng vẹn hai", nên ngời ngời" Trổ hết tài trăm khéonghìn khôn", bỏ ra" bạc muôn" để mua quan, mua tớc.
Nh vậy, thơ giai đoạn 1932 - 1945 với nội dung phong phú, đa dạng
đ-ợc thể hiện qua nhiều cây bút trẻ với nhiều phong cách khác nhau Họ đềumạnh dạn bộc lộ và khẳng định cái tôi cá nhân của bản thân một cách mạnh
mẽ theo những cách thức riêng của mình Các khổ thơ mở đầu và kết thúccũng không nằm ngoài các nội dung phản ánh đó Có điều, các khổ thơ mở
đầu thờng mang ý gợi cho mạch cảm xúc Còn khổ kết bài lại thờng có hớng
mở rộng, nhấn mạnh nội dung của toàn tác phẩm Bài thơ kết thúc nhng baogiờ âm hởng của nó vẫn còn lan toả Để làm đợc điều đó, vai trò của các khổthơ đầu tiên và cuối cùng không phải là nhỏ
2 - Đối với thơ 1945 - 1975:
Đối với thơ 1945 - 1975 cũng vậy Nằm trong hệ thống đề tài chung củagiai đoạn này, thơ ca 1945 - 1975 có những nét khác so với thơ 1932 - 1945.nội dung chủ yếu của thơ ca giai đoạn này là ca ngợi quê hơng đất nớc, cangợi hai cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc Những chiến thắng, nhữngchiến công, những thành tựu đạt đợc dĩ nhiên là kết quả của sự đồng lòng nhấttrí, của cả tập thể, của toàn dân tộc
Về mặt xã hội, cách mạng thang Tám 1945 đã mở ra một kỷ nguyên
độc lập-tự do-chủ nghĩa xã hội cho dân tộc Về mặt nghệ thuật, nó đã lam thay
đổi quan niệm nghệ thuật của các nghệ sỹ một cách căn bản Với thơ văn,hàng loạt hình thợng mới xuất hiện, tính chất sử thi đợc phát triển mạnh mẽtrong các sáng tác thời kỳ này
Ngay cả tình yêu, thứ tình cảm riêng t nhất cũng đợc hoà chung với đấutranh cách mạng, cũng mang màu sắc chiến đấu:
" Th anh viết về Chỉ ghi hòm th bằng chữ số
Em làm sao biết rõ Anh ở nơi nào
Anh đang ở nơi nào súng nổAnh đang ở nơi kẻ thù gục đổ Đang ở trong niềm thơng nhớ của em"
(Em biết là anh đang ở đâu - Phạm Hổ)Những câu chuyện tình yêu tha thiết và cảm động đều là nhữngchuyệntình gắn với chiến đấu và hy sinh Trong tình yêu có tình quê hơng đấtnớc Ví nh bài " Núi Đôi " của Vũ Cao Những thi phẩm nh thế này, tình yêu
đã trở thành bất tử:
"Bảy năm về trớc,em mời bảy Anh mới đôi mơi, trẻ nhất làng Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúaBữa thì em tới, bữa anh sang"
Chàng trai và cô gái ở hai làng, chung một lốiđi giữa hai ngọn núi mà
họ vẫn đùa nhau là "núi chồng núi vợ đững song đôi" Nhng chiến tranh ập
đến, chàng trai vào bộ đội, cô gái làm liên lạc Họ tạm xa nhau nhng tình yêuvẫn luôn đậm đà, tha thiết Rồi cô gái trẻ hy sinh Chàng nhận"tin sét đánh"trên đờng hành quân ghé thăm làng Nhớ ngời yêu giờ đây chàng trai chỉ biết
Trang 22gọi tên "em", tên "Đồng chí" Và, tình yêu đó đã tiếp sức cho chàng vững ýchí trên đờngđi đánh giặc:
"Anh đi bộ đội,sao trên mũ Mãi mãi là sao sáng dẫn đờng
Em sẽ là hoa thơm trên đỉnh núi Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm"
Nếu nh tình yêu ở trong thơ mới đợc thể hiện ở nhiều cung bậc, nhiềumàu sắc và mang đậm tính chủ quan của cái tôi cá nhân, thì tình yêu trong thơsau 1945 đến 1975 lại khá thuần nhất và mang tính lý tởng Và, đây khôngphải là nội dung chủ đạo của thơ ca giai đoạn này
Qua khảo sát, ta có thể nhận thấy khá rõ giai đoạn 1945 - 1975 thơ phânnhánh thành hai bộ phận: Thơ kháng chiến và thơ xây dựng chủ nghĩa xã hội.Trong đề tài thơ kháng chiến, các tác giả đề cập tới những cuộc chiến đấu,những chiến thắng và những gơng anh dũng, những tấm lòng kiên trung, quảcảm của quân và dân ta Nhà nhà, ngời ngời đều nung nấu trong tim câu khẩuhiệu:"Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng" ở mảng đề tài này phải kể
đến các sáng tác của các tác giả nh: Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Sóng Hồng, ThuBồn, Nguyễn Đình Thi, Trần Mai Ninh, Xuân Thuỷ, còn một bộ phận lớnviết về đè tài xây dựng xã hội chủ nghĩa, các cây bút nổi bật có: Hoàng TrungThông, Huy Cận, Thanh Hải, Bàn Tài Đoàn,
Chiến tranh là gắn với gian khổ, hy sinh, chết chóc, là đổ nát, gắn vớilòng yêu quê hơng đất nớc và sự quyết tâm bảo vệ hạnh phúc, bảo vệ Tổ quốc
"Hôm qua còn theo anh
Đi ra đờng quốc lộ
" Con ơi, Bố về thăm Hà Tĩnh quê ta
đã trở thành lịch sử, bất tử, đã trở thành chân lý của thời đại
Vẫn là lối mở đầu gợi mở, lối kết thúc khái quát nhng các khổ thơ mở
và kếtcủa giai đoạn này có phần dung dị hơn so với trớc Đặc biệt làlà những
Trang 23áp mà cách mạng đã đa lại cho ngời dân Đó là niềm những niềmvui gia đình,ruộng vờn Niềm vui đợc chăm con, Đợc nghe con tập nói Niềm vui đợc cấycày, sản xuất, đợc ngắm trời sao yên ả
" Má bận bao nhiêu là việc
Nên dành cho ba
Cái hạnh phúc đa con đến trờng
Mời bảy tuổi đời co n
Ba mới có niềm vui của những ngời cha, ngời mẹ" (Hạnh phúc - Giang Nam)
Ngời cha đi bộ đội mời bảy năm ròng, chờng ấy năm cha xa con, vợ xachồng Giờ trở lại với gia đình ngời cha mới biết thế nào là hạnh phúc gia
đình Tác giả mở đầu bài thơ thật dung dị nhơng thật sâu sắc, và, kết thúc vẫn
là âm điệu ngân nga của "hạnh phúc":
Má bận đi công tác
Nên dành cho ba
Cái hạnh phúc đa con đến trờng
Cái hạnh phúc trong lành nh hơi thở của con
Cái hạnh phúc nửa ngời ba mới gặp!"
Điệp khúc "Cái hạnh phúc" cứ lặp đi lặp lại không chán Dờng nh tácgiả cứ muốn nhắc mãi từ ấy, mà mỗi lần thốt nên lời lại là một niềm hạnhphúc đợc thăng hoa Hình nh hạnh phúc có ở mọi nơi Ngay cả trong khángchiến, gian khổ là thế mà con ngời vẫn thấy đời tơi vui:
"Mái Nứa thanh thanh mấy nếp nhà
Cây xanh phủ kín lối vào ra
Trong veo dòng suối từ đâu lại
Đám Cải chân đồi loáng thoáng hoa"
( Khu nhà kháng chiến- Xuân Thuỷ)
Mở đầu bài thơ là mấy câu " giới thiệu" khái quát khung cảnh thiênnhiên nơi kháng chiến Cảnh vật quá đỗi thanh bình, có phần nên thơ Đến khổkết thúc mới thấy ấm cúng, vui vẻ của không khí sống trong chiến đấu nơi
đây:
"Tinh tơm cơm nớc dọn ra bàn
Trời lạnh sao lòng thấy ấm ran
Đĩa muối, bát canh, thêm quả ớt
Hơi cơm nghi ngút, chuyện giòn tan"
Đến đây mới thấy tinh thần lạc quan cách mạng vút cao, cũng là lúc bàithơ khép lại Đọc bài thơ này ta lại liên tởng đến bài thơ của Bác:
"Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ rau măng đã sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang"
Nhắc đến Bác Hồ, thơ ca giai đoạn này đã dành một số lợng khá lớnđểcangợi vị cha già dân tộc Đây là một hình tợng mới của thơ Việt nam hiện
đại, Mà ở đó đã có những bài thơ kiệt xuất Thơ viết về Bác giai đoạn này có:Thanh Hải (Cháu nhớ Bác Hồ), Minh Huệ ( Đêm nay Bác không ngủ), Tố Hữu(tập thơ Theo chân Bác), Hải Nh (Chúng cháu canh giấc ngủ, Bác Hồ ơi),Viễn Phơng (Viếng lăng Bác)
Trang 24Anh đội viên thức dậy
Thấy trời khuya lắm rồi
Mà sao Bác vẫn ngồi
Đêm nay Bác không ngủ"
(Đêm nay Bác không ngủ - Minh Huệ)Bác là vị lãnh tụ, Bác thao thức, không ngủ là vì lẽ gì? vì việc quân cơ,việc nớc non? Không chỉ vì điều cao cả đó Mà Bác còn là ngời cha bình dị,
đêm khuya chăm giấc ngủ cho chiến sỹ Bởi thế, Minh Huệ mới kết thúc bàithơ bằng khổ thơ:
Suốt mấy hôm rày đau tiễn đa
Đời tuôn nớc mắt, trời tuôn ma
Chiều nay con chạy về thăm Bác
Ướt lạnh vờn rau, mấy gốc dừa!
(Bác ơi - Tố Hữu)
Không chỉ con ngời mới đau xót, mà dờng nh đất trời cũng sụt sùi
th-ơng tâm Một sự trống vắng ngẩn ngơ bao trùm khi Ngời ra đi mãi mãi Đểxứng đáng với sự hy sinh của Ngời, khép lại những vần thơ thơng nhớ, Tố Hữu
đã thay lời hàng triệu ngời Việt nam hứa với Ngời:
" Nhớ đôi dép cũ nặng công ơn
Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn
Xin nguyện cùng Ngời vơn tới mãi
Vững hơn muôn ngọn dải Trờng Sơn"
Nhắc đến thơ ca giai đoạn 1945 - 1975, trong cuốn"Những thế giớinghệ thuật thơ", tác giả Trần Đình Sử có nhận xét: Đó là nền thơ của nhiều thế
hệ thi sỹ cách mạng, từ Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế LanViên, Tế Hanh, Nguyễn Xuân Sanh, Lu Trọng L, Khơng Hữu Dụng đếnNguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Chính Hữu, Quang Dũng , HồngNguyên, Hữi Loan, Trần Mai Ninh, Thôi Hữu, Vũ Cao, Trần Hữu Thung rồicả một thế hệ nhà thơ trẻ trởng thành trong khói lửa của chiến tranh nh: LêAnh Xuân, Dơng Hơng Ly, Giang Nam, Thanh Hải ,Thu Bồn, Nguyễn Khoa
Điềm, Lâm Thị Mỹ Dạ, Xuân Quỳnh, Anh Ngọc, ý Nhi, Cái tôi trong thơgiai đoạn này mang trong mình cả một hệ các cái tôi khác nhau Khác với cáitôi cá nhân của thơ mới, cái tôi cộng đồng của thơ giai đoạn này đi vào khẳng
định cái chung của mọi ngời cùng sự nghiệp, cùng số phận, cùng khổ đau, vuisớng, cùng sống, chết, vinh, nhục
Tóm lại, thơ cách mạng nói chung, thơ 1945 - 1975 nói riêng là tiếnglòng của ngời Việt nam qua hai cuộc kháng chiến thần thánh vì tự do, độc lậpdân tộc, là đời sống tâm hồn của những ngời chiến đấu, lao động để bảo vệhạnh phúc chung và riêng
III - Đặc điểm nội dung các khổ thơ mở đầu :
1 - Giới thiệu nội dung:
Trang 25Nh chúng tôi đã trình bày , khổ thơ mở đầu trong một văn bản thơ thờng
có vai trò là " ngời dẫn đờng " cho tình cảm ,cảm xúc đợc bộc bạch, giúp choviệc cảm nhận và tìm hiểu nội dung bài thơ đi đúng mạch, đúng hớng
Với sự đa dạng của các phong cách sáng tác, cùng với sự phong phú vềnội dung thể hiện trong từng giai đoạn thì cách mở đầu cũng đầy màu sắc Vềcách mở đầu giới thiệu khái quát nội dung của toàn bộ bài thơ thờng đợc cáctác giả trong giai đoạn thơ 1945 - 1975 sử dụng nhiều hơn so với thơ giai đoạn
1932 1945 Trong tổng số 156 bài thơ có chia khổ của thơ Việt nam 1945
-1975 đợc khảo sát thì có tới 83 bài có khổ thơ mở đầu theo cách giới thiệu nộidung tác phẩm Đây là một tỷ lệ khá lớn Nó phản ánh tính chất sử thi của thơ
ca giai đoạn này Đây là những vần thơ của đấu tranh anh dũng, của sự độngviên khích lệ và ca ngợi chủ nghĩa anh hùng vì cộng đồng, vì dân tộc Chonên, các thi sỹ làm thơ không chỉ để thoã mãn cảm xúc trào dâng trong lòng,
mà còn làm thơ vì mục đích chung, vì tiếng nói của Đảng, của lòng yêu quê
h-ơng đất nớc Những bài thơ không chỉ là những khúc tâm tình mà còn lànhững câu chuyện ngợi ca, cảm phục:
"Sao đâu biết Hùng đêm nay không ngủ Chứng kiến mối tình trong thơng đau Nỗi tâm sự của ngời con nớc mặn Cũng dào lên nh sóng biển dạt dào"
( Bài ca chim Chơ Rao - Thu Bồn)Bốn câu mở đầu cho " Bài ca chim Chơ Rao " là những câu thơ giớithiệu khái quát câu chuyện đầy cảm động về cuộc đời chiến đấu và hi sinh củaHùng và Rin - hai ngời con dân tộc Tây Nguyên Hùng ra đi để lại ngời vợ trẻvới tình yêu tha thiết, lòng căm thù giặc sâu cay và lòng quyết tâm chiến đấubảo vệ quê hơng xứ sở Thu Bồn đã giới thiệu " thiên sử thi nhỏ " một cách cô
đọng và thật giản dị
Có khi khổ mở đầu chỉ có hai câu thơ, nhng đó là lời khơi gợi cho cảmột sự thực khốc liệt trong chiến đấu của quân và dân ta Đó là việc nhữngchuuyến xe " vợt không gian và vợt cả thời gian " để tiếp tế cho chiến trờng
Để đảm bảo cho sự an toàn của những chuyến xe, không ít chiến sỹ, thanhniên xung phong đã ngã xuống:
" Đêm đêm ngời gác cầu đón những chuyến xe đi
Xe kéo pháo rầm rầm trên ván gỗ "
( Ngời gác cầu - Vũ Cao )
" Tôi khoác tấm áo xanh và tới trớc cửa lò
Ngời thợ cả trao cho tôi cây thông lò và ngọn lửa thở nh bão "
( Trớc cửa lò - Thanh Tùng )Không chỉ trong chiến đấu, lao động sản xuất cũng là một mặt trận.Những công nhân ngày đêm bám nhà máy, bám xởng sản xuất, lao động bằnghai Cả tiền tuyến và hậu phơng cùng ra sức thi đua chiến đấu
Mở đầu bằng việc giới thiệu nội dung nh trên thờng là kiểu mở đầu trựctiếp Ngay từ những vần thơ đầu tiên tác giả đã đi vào nội dung chính mà mìnhmuốn diễn đạt Trong thơ giai đoạn 1945 - 1975 thờng hay có kiểu mở đầunày Nó phù hợp với việc thể hiện nội dung t tởng cũng nh ngôn ngữ thơ giản
dị gần gũi với lời ăn tiếng nói của thơ ca giai đoạn 1945 - 1975(về đặc điểmnày chúng tôi sẽ trình bày trong chơng tiếp theo )
Trong thơ 1932 - 1945, số lợng các khổ thơ mở đầu bằng việc giới thiệunội dung, t tởng một cách trực tiếp ít hơn nhiều so với thơ ca kháng chiến.Tổng số 187 bài thơ chia khổ đợc khảo sát thì chỉ có 45 bài có khổ thơ mở đầu
đi vào giới thiệu nôị dung một cách trực tiếp Cách mở đầu này chủ yếu là thơcủa Đoàn Văn Cừ, Tú Mỡ, một số bài của Nguyễn Nhợc Pháp, Thái Can
Trang 26Thơ Đoàn Văn Cừ nh đã trình bày trong những phần trớc, đó là nhữngdòng thơ miêu tả và thể hiện cảm xúc trớc những bức tranh quê, của văn hoálàng quê Việt nam Tác giả đã giới thiệu các cảnh vật và con ngời nhà quêmột cách trực tiếp ngay từ những khổ thơ mở đầu Đó là những luỹ tre làng,vờn rau ao cá đơn sơ nhng thanh thoát:
" Nhà tre, mái rạ, vách bùn rơm Cửa chắn con song mở gió vờn Chum nớc ma vần bên cạnh chái, Dới giàn thiên lý toả hơng thơm."
( Nhà tranh ) Đó là những con ngời nhà quê mộc mạc, chân chất nh " Bác lái trâu", " Ông
đội ", " Chú khách bán thuốc ê "
"Mình phủ hình trong chiếc áo vàng, Trán lồng trong một chiếc khăn ngang, Chân đi đôi dép, ô kèm nách,
Tay dắt con trâu đứng cạnh đờng."
( Bác lái trâu )Còn thơ của Tú Mỡ lại là những vần thơ đả kích, châm biếm sự nhiễunhơng của xã hội đơng thời, đả kích sự đổi trắng thay đen của thế lực đồngtiền và tình trạng chạy theo danh lợi của bọn quan lại , tay sai Vì vậy ôngluôn chọn cách mở đầu bài thơ một cách trực tiếp, đi thẳng vào vấn đề cần "bàn luận ":
" Mỗi năm nhà nớc mở khoa thi Để kén trong Trung Bắc lỡng kỳ Lấy mặt sỏi sành ra giúp việc
Bổ làm tập sự ngạch quan tri "
( Gây Quan )Theo nh Tú Mỡ nói thì quan là một " giống" quý cần " gây " nh ngời tavẫn gây giống các loại cây, loài con vật vậy Đó quả là những đòn đả kích trựcdiện đầy sâu cay và cũng không kém phần chua xót
Khác với Tú Mỡ, Nguyễn Nhợc Pháp không sử dụng giọng thơ caynghiệt, cũng không đi vào phê phán hiện trạng xã hội mà lại khai thác đề tàitình yêu có pha lẫn màu sắc Phật giáo:
" Hôm nay đi chùa hơng
Hoa cỏ mờ hơi sơng Cùng thầy me em dậy,
Em vấn đầu soi gơng "
( Chùa Hơng )Các nam thanh nữ tú đi chùa vãn cảnh cầu may, cầu duyên Trong tâm
t của họ có pha chút thơ ngây, mơ mộng, hoà cùng không khí huyền bí củachùa chiền khiến cho những sự gặp gỡ càng xao động
Cách mở đầu trực tiếp đi vào nội dung chính của hai giai đoạn thơ có nhiều
điểm khác nhau nh vậy đã phản ánh một cách chính xác, sinh động đặc điểmthi pháp thơ trớc và sau kháng chiến của thơ Việt nam hiện đại
2 - Bày tỏ cảm hứng
Một điểm khác nữa mà chúng tôi đã thấy đợc khi khảo sát 347 khổ thơ
mở đầu là : Thơ 1932 - 1945 có sự bày tỏ cảm hứng và thể hiện cảm xúcmạnh mẽ hơn, bay bổng hơn so với thơ 1945 - 1975 (Về việc thể hiện cảm
Trang 27Thơ mới 1932 - 1945 là thơ của cái tôi cá nhân cá thể, là những tiếnglòng riêng t nhất, cá tính nhất của các chủ thể trữ tình.vì thế, việc bày tỏ cảmhứng cũng rất độc đáo, cá tính, mang đậm phong cách cá nhân chủ quan củamỗi nhà thơ.
Trong 189 khổ thơ mở đầu của thơ mới đợc khảo sát thì có tới 64 khổthể hiện cảm hứng chủ đạo của bài thơ Với cách biểu hiện nội dung này hầuhết các tác giả chọn kiểu mở đầu gián tiếp đặc biệt là trong những bài thơ viết
về đề tài hoài niệm, ca ngợi thiên nhiên, phong cảnh bốn mùa, đặc biệt là mùathu và mùa xuân
" Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng Đây mùa thu tới ! Mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng"
( Đây mùa thu tới - Xuân Diệu )hay:
" Cảnh vật thôi trong sơng mờ lẩn dáng, Vàng anh trên cành liễu tiếng thiết tha, Trong vờn xanh, một nụ hồng nh pha ráng,
Và, từng đàn, bớm rỡn trên giàn hoa."
( Hơng xuân - Phạm Huy Thông )Thiên nhiên là nhân tố để gợi hứng cho các tâm hồn bay bổng, chonhững cung bậc tình cảm đợc thăng hoa Và các nhà thơ đã không ngần ngạithể hiện ngay trong khổ đầu tiên của tác phẩm Để từ đó nhân vật trữ tình giãibày tâm t đang chất chứa trong lòng mình, mở đờng cho sự thể hiện nội dungtrong những phần tiếp theo càng thêm dạt dào
Cảm hứng có nhiều cung bậc và đợc nảy sinh trong nhiều hoàn cảnhkhác nhau Có khi đó là một buổi chiều bảng lảng, hiu hắt:
" Mặt trời lặn bên đình chiều lặng lẽ, Dẫy lều không gió lạnh họp nhau vào
Vài bóng tối vụt về trong cánh sẻ, Trong chòm si buông rễ đứng lao đao
.( Chợ chiều - Anh Thơ )
Có khi chỉ là một tiếng chim:
" Sáng nay tiếng chim thanh Trong gió xanh
Dìu vơng hơng ấm thoảng xuân tình"
( Màu thời gian - Đoàn Phú Tứ )hay một đêm trăng đẹp:
" Trong vờn đêm ấy nhiều trăng quá, ánh sáng tuôn đầy các lối đi
Tôi với ngời yêu qua nhẹ nhẹ
Im lìm, không dám nói năng chi."
( Trăng - Xuân Diệu )Chỉ một yếu tố nhỏ thôi của hiện thực xung quanh mình cũng có thể gợicảm hứng cho những vần thơ nổi sóng Điều cốt yếu là hồn thơ có hoà nhịp đ-
ợc với cuộc sống, với vạn vật hay không Bởi thơ ca luôn bắt nguồn từ cuộcsống, hớng tới cuộc sống và hiện thực Điều này cũng thể hiện khá rõ ràngtrong thơ ca kháng chiến 1945 - 1975 Số khổ thơ mở đầu bằng việc bày tỏcảm hứng chiếm 36 khổ trong tổng số 158 bài có chia khổ đợc thống kê Sở dĩthơ 1945 - 1975 có sự bày tỏ cảm hứng ngay từ khổ mở đầu không nhiều nh
Trang 28thơ giai đoạn trớc là vì thơ ca giai đoạn này bám sát cuộc sống, bám sát hiệnthực một cách triệt để và hào hứng Mà hiện thực trong thơ ca giai đoạn nàylại là hiện thực gắn với một thời kỳ lịch sử hào hùng cuả dân tộc Đó là nhữngnăm tháng chiến đấu và xây dựng mà mỗi ngời dân Việt nam sẽ không baogiờ quên, không bao giờ thôi nhắc nhở và biết ơn Cho nên các khổ mở đầucủa thơ giai đoạn này thờng trực tiếp đi vào giới thiệu nội dung chủ đạo củatác phẩm Ví dụ:
" Sáng nay ra trận lên Tây Bắc Hai đứa ta cùng đi đánh giặc Tay dao tay súng, gạo đầy bao Chân cứng đạp rừng gai đá sắc."
( Lên Tây Bắc - Tố Hữu )Cảm hứng đợc khơi nguồn từ mọt tiếng máy bay, một tiếng súng nổ,một tiếng xung phong, một bữa cơm đạm bạc, từ một lá th bạn gửi về
" Bữa cơm chỉ có ba ngời thôi
Mà tiếng ngâm thơ tựa suối dài
Mà tiếng cời vang rung vách núi Mặc tàu bay Mỹ lợn trên trời"
( Bữa cơm sở chỉ huy mặt trận - Lu Tùng Dơng )
" Anh viết từ năm ngoái năm nay mới đến tôi Ôi lá th ngắn ngủi sau mời hai năm trời"
( Trả lời th bạn miền Nam - Trinh Đờng )Bày tỏ cảm hứng là một trong những cách thể hiện nội dung, t tỏng củathơ ca Tuỳ theo sự lựa chọn của từng tác giả, từng giai đoạn thơ mà co nhữngthể hiện khác nhau Trongcác khổ thơ mở đầu của thơ Việt nam hiện đại còn
có một phơng thức bày tỏ nội dung khác nữa, đó là việc thể hiên cảm xúc mộtcách trực tiếp
3 - Thể hiện cảm xúc:
Có một điều cần khẳng định rằng thơ là phải có cảm xúc Cha kể đếnviệc sáng tác thơ, ngay cả đọc thơ cũng phải có cảm xúc Cảm xúc chính làlinh hồn của thơ ca
Trong một tác phẩm thơ, khi nguồn cảm hứng đã trào dâng đến đỉnh
điểm, cảm xúc của thi nhân tất sẽ đợc thể hiện mãnh liệt ngay từ những dòngthơ đầu tiên Trong thơ Việt nam hiện đại , sự thể hiện cảm xúc trực tiếp nhất ,mãnh liệt nhất của các khổ thơ mở đầu phải kể đến thơ tình của phong trào thơmới Trong tổng số 258 bài thơ mới đợc lấy làm ngữ liệu thì đã có 128 bài thơtình, thể hiện các cung bậc cảm xúc của tình yêu, trong 189 bài thơ có chiakhổ thì có tới 80 khổ thể hiện cảm xúc một cách trực tiếp Việc trực tiếp bày
tỏ cảm xúc trong thơ nói chung, trong các khổ mở đầu nói riêng hầu hết là rơivào các bài thơ tình Tình yêu là đề tài muôn thuở của thơ ca từ x a tới nay và
có lẽ là mãi mãi về sau Thơ tình thời nào cũng có, song chẳng có bài nàogiống bài nào Các tác giả của phong trào Thơ mới đặc biệt quan tâm tới chủ
đề hấp dẫn này, và đã khai thác nó bằng nhiều cách thức, thể hiện nó bằngnhiều cung bậc khác nhau Hầu nh tác giả nào của giai đoạn thơ này cũng viếtthơ tình, song ngời nổi bật nhất phải kể đến là Xuân Diệu Ông say mê tìnhyêu, mùa xuân và nâng niu tuổi trẻ Ông nuối tiếc mỗi thời khắc của cuộc đời