1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu đặc điểm mối quan hệ thương mại của nhật bản với một số nước đông nam á ở thế kỉ XVI XVII

100 739 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu đặc điểm mối quan hệ thương mại của nhật bản với một số nước đông nam á ở thế kỷ xvi - xvii
Tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc
Người hướng dẫn Th.S. Hoàng Đăng Long
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử thế giới
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 451,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiểnnhiên Nhật Bản không thể không chịu tác động của nên văn minh vĩ đại này.Nhng chính sự ngăn cách về địa lý giữa Nhật Bản - Trung Quốc đã tạo nênnhững điều kiện khách quan khiến Nhật

Trang 1

trờng đại học vinh

Khoa lịch sử

-*** -Nguyễn Thị Bích Ngọc

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Tìm hiểu đặc điểm mối quan hệ thơng mại của nhật bản với một số nớc đông nam á ở

Trang 2

Th.S.Hoàng Đăng Long Kính Gửi tới Thầy Cô lời chúc sức khoẻ, thành

đạt và hạnh phúc !

Vinh, ngày 05 tháng 05 năm 2006

Sinh viên

Nguyễn Thị Bích Ngọc

Trang 3

Danh mục các chữ viết tắt

ĐHKHXH - NV: Đại học khoa học xã hội - Nhân văn

ĐHQGHN : Đại học Quốc gia Hà Nội

Ch ơng I Nhật bản và đông nam á trong bối cảnh chính trị - kinh

tế của hai khu vực đông bắc á - Đông nam á

11

1.1 Nhật Bản với truyền thống giao thơng quốc tế. 11

1.1.1 “Đất nớc mặt trời mọc” và tầm nhìn hớng biển 11 1.1.2 Tác động của điều kiện chính trị - kinh tế - xã hội trong nớc đến việc

phát triển thơng mại Nhật Bản

14

1.1.3 Nhu cầu phát triển thơng mại với các quốc gia đông nam á 26

1.2 Đông Nam á trong mối giao thơng với Nhật Bản. 31 1.2.1 Đông Nam á - Nhật Bản trong lịch sử: Những mối liên hệ truyền 31

Trang 4

1.3.1 Quá trình xâm nhập và ảnh hởng của nó đến đời sống kinh tế -

Chính trị ở Nhật Bản và Đông Nam á của các cờng quốc phơng Tây

44

1.3.2 “ Con đờng tơ lụa trên biển” và vị thế của tuyến đờng thơng mại

Nhật Bản - Đông Nam á- Phơng Tây

52

Ch ơng II Quan hệ thơng mại của Nhật Bản với một số nớc Đông

Nam á ở thế kỷ XVI - XVII.

54

2.1 Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam á trong và sau thời kỳ

“ Châu ấn thuyền”.

54

2.1.1 Quá trình thâm nhập vào thị trờng khu vực 54 2.1.2 Hoạt động của ngời Nhật và sự hình thành phố Nhật 62 2.1.3 Nhật Bản với hệ thống thơng mại Đông Nam á 67

2.1.4 Nhật Bản với Đông Nam á sau thời kỳ “Châu ấn thuyền” 71

2.2 Quan hệ của thơng mại của Nhật Bản với Đại Việt thế kỷ XVI -

XVII.

74

Ch ơng III Những chuyển biến trong kinh tế thơng mại Đông Nam

á thế kỷ XV - XVII: Sự Hng thịnh và suy tàn của một thời kỳ

th-ơng mại.

94

3.1.Cảng thị là sự phát triển vợt trội của nền kinh tế Đông Nam á 94

3.3 Vai trò của Trung Quốc trong hệ thống thơng mại 104 3.4 Vai trò của Nhật Bản trong hệ thống thơng mại 107 3.5 Sự hng thịnh và suy tàn của các khu định c ngời ngoại kiều 110 3.6 Sự kết nối hệ thống thơng mại Đông - Tây trong thời đại thơng mại

Trang 5

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Từ trớc, đặc biệt là sau cải cách Minh Trị (1868), cho đến nay Nhật Bảnnổi lên nh một tâm điểm chú ý của các dân tộc phơng Đông lẫn phơng Tây.Trong quá trình tìm hiểu về Nhật Bản, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng: Xãhội Nhật Bản mang những nét riêng đặc biệt, vừa là xã hội phơng Đông truyềnthống lại mang dáng vẻ của xã hội Tây Âu ở hai mô thức: Chính trị và lãnh

địa phong kiến Không phải ngẫu nhiên mà ngay C.Mác trong tác phẩm “T

bản” kiệt xuất của mình cũng đã chỉ rõ rằng: “Nhật Bản có nét đặc sắc nhất

của nền sản xuất phong kiến giống nh Tây  u trung đại Trên nhiều phơng

diện, Nhật Bản đã để lại một hình ảnh của châu  u thời trung cổ, trung thực

hơn là những quyển lịch sử đầy rẫy những thiên kiến t sản xuất bản ở châu  u thời bấy giờ” Nhà xã hội học ngời Đức MaxWeber cũng khẳng định: “Sự thiết lập chế độ phong kiến với đúng nghĩa của nó chỉ có ở châu  u và Nhật Bản mà thôi” Nhng ở góc độ khác, nhiều nhà nghiên cứu đứng trên khía cạnh

lịch sử - văn hoá truyền thống lại khẳng định con đờng phát triển của Nhật

Bản không hoàn toàn giống nh các nớc Tây Âu “xã hội Nhật Bản luôn chịu

nhiều ảnh hởng văn hoá từ đại lục Trung Hoa và là xã hội nông nghiệp trồng lúa nớc” [14; 18]

Từ các cách tiếp cận đa chiều đó , trong quá trình tự tìm hiểu, lịch sửphong kiến Nhật Bản thực sự có sức thu hút lạ kỳ cho bản thân Trên góc độnghiên cứu để đánh giá, lịch sử phong kiến Nhật Bản là mảng đề tài rất thú vịcho những ngời làm công tác nghiên cứu khoa học

Cũng trong khía cạnh này, trên phơng diện nhằm làm lý giải cho sự

“thần kỳ” Nhật Bản, ngời ta đã đánh giá rất cao sự thành công của cải cách

Minh Trị, coi đó là khâu đột phá để Nhật Bản chuyển mình phát triển, trong

đó yếu tố kinh tế luôn đóng vai trò tiên quyết Đi tìm nguồn gốc sâu xa của

nó, ngời ta đã nghiên cứu sâu sắc lịch sử Nhật Bản thời Tokugawa (thời kỳ

tr-ớc cải cách Minh Trị) với những điều kiện chính trị - kinh tế và xã hội vốn có

Chính sách đóng cửa (sakaku) của Nhật Bản có ảnh hởng nh thế nào đến sự

phát triển của Nhật Bản? Tìm hiểu mối quan hệ thơng mại của Nhật Bản trongthời kỳ này cũng là một cách lý giải cho mối quan hệ kinh tế với chính sách

đóng cửa của Nhật Bản thời Tokugawa Những toan tính của các nớc châu Âu

bị chính sách đóng cửa làm cho thất bại Nhật Bản thoát khỏi tình trạng trì trệcủa xã hội tiền t bản, tiền công nghiệp nhanh chóng phát triển thành cờngquốc kinh tế Đó là sự góp phần lý giải một cách khoa học thành công của cảicách ở nguồn gốc sâu xa của nó

Trang 6

1.2 Trở lại một khía cạnh của vấn đề trên, ta thấy: Nhật Bản là mộtquốc đảo nằm tơng đối biệt lập ở ngoài khơi lục địa châu á Nhng trong tiếntrình phát triển của lịch sử nớc này, Nhật Bản lại luôn có mối liên hệ thờngxuyên với môi trờng lịch sử - văn hoá khu vực Trong lịch sử, văn minh TrungHoa có sức lan toả và ảnh hởng mạnh mẽ đến khu vực Đông Bắc á Hiểnnhiên Nhật Bản không thể không chịu tác động của nên văn minh vĩ đại này.Nhng chính sự ngăn cách về địa lý giữa Nhật Bản - Trung Quốc đã tạo nênnhững điều kiện khách quan khiến Nhật Bản ít chịu ảnh hởng trực tiếp vàmạnh mẽ của văn minh Trung Hoa nh Triều Tiên, Việt Nam, mà đón nhận nềnvăn hoá xoay quanh trục văn minh Trung Hoa từ việc đồng hoá và hiệu chỉnhcác nền văn hoá “Trung Hoa hoá”, đặc biệt là của các nớc trong khu vực ĐôngNam á Nhật Bản - Đông Nam á đã có mối liên hệ lịch sử truyền thống từthời sơ sử, cùng có một nền tảng văn hoá nông nghiệp trồng lúa nớc và cùng

đón nhận nhiều ảnh hởng của văn minh Trung Hoa, có quá trình giao lu kinh

tế - văn hoá qua “chế độ nạp cống” đối với Trung Hoa thiên triều Thế kỷ XIV

“con đờng tơ lụa trên biển” đợc mở ra và bắt đầu đóng vai trò chủ đạo trong

việc kết nối thế giới Đông - Tây qua buôn bán hàng hải Từ thế kỷ XVI trở đi,trớc sự hiện diện của các cờng quốc phơng Tây do hệ quả của những cuộcphát kiến địa lý, quan hệ truyền thống giữa các quốc gia ở khu vực châu á bịxáo trộn mà nguyên nhân chủ yếu là do sức hấp dẫn của thị trờng mỗi nớctrong quan hệ thơng mại Rõ ràng là, từ thế kỷ XVI, khi con đờng thông thơngquốc tế và hệ thông buôn bán giữa các châu lục đã đợc mở ra thì nhân tố quốc

tế luôn là yếu tố thờng trực tác động đến số phận của từng dân tộc Chủ nghĩa

t bản phơng Tây đã thổi vào nền kinh tế châu á một luồng sinh khí mới, mở

ra khả năng dự nhập cùng vận hội lớn cho các dân tộc châu á nhập cuộc

Đ-ơng đại, Đông Nam á là một khu vực còn chìm đắm trong đêm trờng của chế

độ phong kiến lỗi thời, lạc hậu Nhng tuy rằng có sự khủng hoảng về chính trị,nền kinh tế một số nớc châu á lại có sự khởi sắc, đặc biệt là kinh tế ngoại th-

ơng Tất cả những điều trên tạo nên sự hng thịnh của một thời đại thơng mạichâu á thời trung đại

1.3 Hoà chung vào dòng chảy của thời đại thơng mại biển Đông, quan

hệ Nhật Bản - Đại Việt đợc nảy nở Trong số các quốc gia Đông Nam á , ĐạiViệt đợc xem là mục tiêu quan trọng trên con đờng tiến xuống phía Nam của

chính quyền Nhật Bản Là những đầu mối quan trọng trên “con đờng tơ lụa

biển”, quan hệ thơng mại Nhật Bản - Đại Việt đợc thiết lập và tồn tại khá vững

chắc trong hai thế kỷ XVI, XVII ở cả hai khu vực Đàng Trong, Đàng Ngoài

Theo PGS.Nguyễn Văn Hồng “Quan hệ của Nhật Bản -Việt Nam trong tiến

Trang 7

trình lịch sử là mối quan hệ phát triển theo quy luật tự thân” [9; 35], quy luật

đó vận động qua một quá trình lịch sử và về cơ bản nó đặt cơ sở cho mối quan

hệ Việt - Nhật trong thời kỳ hiện đại

Với những lý do trên, việc tìm hiểu quan hệ thơng mại Nhật Bản

-Đông Nam á trong thời đại thơng mại châu á thế kỷ XVI, XVII để rút ra đặc

điểm, nhận xét là một vấn đề khoa học và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Nó khôngchỉ giúp chúng ta hiểu thêm về lịch sử quan hệ thơng mại Nhật Bản - ĐôngNam á nói chung mà cả quan hệ Nhật Bản - Việt Nam nói riêng trong mộtthời đại thơng mại sống động

Là những sinh viên ngành S phạm Lịch sử chúng tôi cho rằng, việc tìmhiểu thêm những nguồn kiến thức mới là vô cùng quan trọng Điều đó khôngchỉ làm tăng thêm sự hiểu biết của bản thân mà còn có ý nghĩa thực tiễn tolớn, nhằm để đạt đợc hiệu quả cao trong dạy học kíên thức lịch sử thế giới

Nhật Bản và Đông Nam á trung đại Chúng tôi quyết định chọn đề tài “ Tìm

hiểu đặc điểm mối quan hệ thơng mại của Nhật Bản và Đông Nam á thế kỷ XVI, XVII” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp Đại học.

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trên bình diện cá biệt, lịch sử Nhật Bản cũng nh Đông Nam á phongkiến là mảng đề tài lớn rất đợc các nhà nghiên cứu trong nớc và thế giới lutâm Tuy nhiên để nghiên cứu về quan hệ giữa Nhật Bản và Đông Nam á đặcbiệt là quan hệ thơng mại thời phong kiến thì vẫn còn là một vấn đề tơng đốimới mẻ

ở Việt Nam, trớc đây tại một số công trình nghiên cứu của các sử gia

cũng đã có nhắc đến một vài mối quan hệ này trong các bộ sử lớn nh: “Đại

Việt sử ký toàn th”, “Việt sử thông giám cơng mục”, “Đại Nam thực lục”

Thế kỷ XVII, Lê Quý Đôn nổi bật trong lịch sử bang giao của dân tộc

nh một “vị đại sứ thông minh và khéo léo” Trong các chuyến đi sứ của nớc

Nam ta, đã làm cho giới đại thần các nớc phải khâm phục về tài đối đáp vàqua đó, cũng đã ghi chép cẩn thận những điều mắt thấy tai nghe, tác phẩm

quan trọng nhất có thể kể đến là “Kiến văn tiểu lục” đã có một cái nhìn tơng

đối cụ thể

Đầu thế kỷ XX, nhà chí sỹ yêu nớc Phan Bội Châu đã nghiên cứu nhiều

về Nhật Bản Những tác phẩm của cụ viết lên với mục đích tranh thủ sự đồng

tình của chính phủ để cầu viện giúp Việt Nam chống Pháp trên tinh thần “anh

cả da vàng”, những nớc “đồng văn, đồng chủng, đồng châu” Về cơ bản, đã có

một cách nhìn khái quát về sự tơng đồng giữa nền văn hoá hai nớc Việt Nhật

Trang 8

-Sau phong trào Đông Du, vì nhiều lý do khác nhau, công việc nghiêncứu về Nhật Bản cha thực sự phát triển Một sự kiện trong quan hệ đối ngoại

đã có tác động to lớn đến công tác nghiên cứu về Nhật Bản ở Việt Nam, đó làvào năm 1973, chính phủ Nhật Bản và Việt Nam chính thức thiết lập quan hệngoại giao Từ đó, quan hệ hai nớc ngày càng mở rộng trên nhiều lĩnh vựcchính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học công nghệ Điều đó đặt ra mộtyêu cầu bức xúc trong việc tổ chức, đẩy mạnh việc nghiên cứu Nhật Bản học ởViệt Nam và Việt Nam học ở Nhật Bản Sau 1986, dới tác động của chínhsách đổi mới, sự nghiên cứu Nhật Bản ở Việt Nam đã có nhiều hng khởi.Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản thuộc Trung tâm KHXH & NV Quốc gia, rồi

bộ môn Nhật Bản học thuộc khoa Đông phơng học trờng ĐH KHXH & NV,

ĐHQG Hà Nội và Tp HCM đợc thành lập từ những năm 90, Đại học Ngoại

th-ơng, Đại học Ngoại ngữ, Học viện Quan hệ quốc tế cũng có bộ môn hay bộphận đào tạo tiếng Nhật và nghiên cứu về Nhật Bản

Gần đây, chúng ta đã có sự nghiên cứu sâu sắc hơn về Nhật Bản - ĐôngNam á với một số bài viết vừa mới công bố trên các tạp chí Nghiên cứu Lịch

sử, Nghiên cứu Nhật Bản, Nghiên cứu Đông Nam á, Nghiên cứu Nhật Bản và

Đông Nam á, của các tác giả: Đỗ Bang, Đỗ Quỳnh Nga, Tống Trung Tín,Trịnh Tiến Nhuận Đã có một cái nhìn tơng đối mới mẻ về quan hệ thơngmại với Nhật Bản - Đông Nam á nói chung và Việt Nam nói riêng, đặc biệt

trong thời kỳ “Châu ấn thuyền”

Một tín hiệu đáng mừng cho ngành nghiên cứu Nhật Bản học ở ViệtNam là trên diễn đàn nghiên cứu đã xuất hiện nhiều gơng mặt trẻ say mê vớicông tác nghiên cứu và đã đạt đợc nhiều thành công đáng ghi nhận, nổi bật lànhững công trình nghiên cứu của TS Nguyễn Văn Kim, trong nhiều công

trình nh: “Chính sách đóng cửa Nhật Bản thời kỳ Tokugawa Nguyên nhân va

hệ quả” (Nxb Thế giới, Hà Nội, 2000) ; “Nhật Bản với châu á những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế xã hội” (Nxb ĐHQG Hà Nội 2003);

Quyển giáo trình chuyên đề “Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam á ở thế

kỷ XV -XVII” (Nxb ĐHQG Hà Nội, 2003) đã trên cơ sở tham khảo và tổng hợp

đợc nhiều kết quả nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nớc để đa ra một cáchgiải thích sâu sắc về nguyên nhân bên trong và bên ngoài và tính chất củachính sách đóng cửa cuả Mạc Phủ Tokugawa; cũng nh có một cái nhìn toàndiện, thấu đáo hơn về lịch sử Nhật Bản qua mối liên hệ lịch sử truyền thốngcủa Nhật Bản với khu vực Đông Nam á và châu á Cuốn giáo trình chuyên đề

“Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam á ở thế kỷ XV - XVII” đã đề cập đến

quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam á ở thế kỷ XVI - XVII và đã có đi sâu

Trang 9

phân tích về quan hệ thơng mại trong thời kỳ này Có thể nói, những côngtrình khoa học của TS Nguyễn Vãn Kim đã ra mắt bạn đọc nh một thành quảcủa thế hệ các nhà Nhật Bản học trẻ tuổi của Việt Nam

Đối với các công trình nớc ngoài, chủ yếu là tài liệu Hán Ngữ, NhậtNgữ và Hàn Ngữ hiện nay đợc lu giữ cẩn trọng trong các kho lu trữ Trong

số đó có một số công trình tiêu biểu của các tác giả lớn nh:

Iwao Seiichi với “Nghiên cứu phố Nhật ở Nam Dơng” (Nxb Iwanami Shoten, 1996) ; “Thuyền châu ấn và phố Nhật Bản”: (Nxb Hakusendo; Tokyo,

Ngoài ra, với sự phối hợp của cả phía Việt Nam và Nhật Bản, chúng ta

đã mở đợc nhiều Hội thảo khoa học nghiên cứu về Nhật Bản, châu á nóichung, có thể kể đến là:

- Năm 1997, Nxb KHXH, Hà Nội cho xuất bản cuốn “Đô thị cổ Hội

An” của Uỷ ban quốc gia Hội thảo Quốc tế về Đô thị cổ Hội An

- Tháng 12/1999, Trung tâm nghiên cứu văn hoá và giao lu văn hoá ,

Đại học quốc gia Hà Nội phối hợp với Viện nghiên cứu quốc, Đại học Chiêu

Hoà, Nhật Bản tổ chức cuộc hội thảo khoa học “Quan hệ Việt - Nhật thế kỷ

XV - XVII qua giao lu gốm sứ”

- Tháng 3/2003, trờng Đại học KHXH & NV, Đại học quốc gia Hà Nội

tổ chức Kỷ yếu hội thảo khoa học “Đông á - Đông Nam á; Những vấn đề

lịch sử và hiện tại”, các nhà khoa học đã có bài viết nh:

+ Phan Huy Lê : “Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản thế kỷ XV - XVII trong

bối cảnh lịch sử thế giới và khu vực”

+ Momo Kishiro: “Đại Việt và thơng mại ở biển Đông từ thế kỷ X đến

thế kỷ XV”

+ Nguyễn Vân Kim: “Hệ thống thơng mại ở biển Đông”

+ Nhậm Đức Thành: “Nhật Bản và Đông Nam á”

v.v

Trang 10

Điều đó đã cho phép chúng ta có thể kế thừa những thành quả nghiêncứu của các tác giả cả về nội dung lẫn phơng pháp Tuy nhiên do thời gian vàkhả năng hạn chế về ngoại ngữ nên tác giả chỉ tiếp cận đợc một số nguồn tàiliệu trong nớc và nớc ngoài đã dịch sang tiếng Việt

Tìm hiểu về đặc điểm mối quan hệ thơng mại của Nhật Bản với ĐôngNam á ở thế kỷ XV - XVII là một vấn đề tơng đối mới và khó Hiện nay vẫncha có một công trình nghiên cứu chuyên khảo nào ra mắt bạn đọc đề cập đến

đề tài này Tất nhiên với năng lực và trình độ của một sinh viên, chắc chắn sẽcòn nhiều khiếm khuyết Mặc dù vậy, chung tôi vẫn mạnh dạn chọn và thựchiện đề tài này với mong muốn góp phần bé nhỏ vào công tác nghiên cứu vềquan hệ thơng mại Nhật Bản với Đông Nam á

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Ngày nay, mối quan hệ Nhật Bản - Đông Nam á diễn ra trên diện rộngvới nhiều mức độ sâu sắc hơn Tuy niên ở vào thế kỷ XVI - XVII, mối quan hệ

đó chủ yếu tập trung ở việc trao đổi buôn bán kinh tế (quan hệ ngoại thơng)

Đó là đối tợng và cũng là phạm vi nghiên cứu mà chúng tôi tập trung trong đềtài này

Do có sự hạn chế về thời gian, năng lực cũng nh trong phạm vi của mộtkhoá luận tốt nghiệp Đại học, chúng tôi chỉ tập trung giải quyết về mối quan

hệ thơng mại của Nhật Bản với Đông Nam á ở thế kỷ XVI - XVII với vấn đề

then chốt là tìm hiểu quan hệ thơng mại trong và sau thời kỳ “Châu ấn

thuyền” với:

- Quá trình thâm nhập vào thị trờng khu vực

- Hoạt động của ngời Nhật và sự hình thành phố Nhật

- Nhật Bản với hệ thống thơng mại ở Đông Nam á

Bằng việc cố gắng trở lại với bối cảnh xã hội Nhật Bản và khu vực

Đông Nam á thế kỷ XVI - XVII, khoá luận cũng mong muốn làm sáng tỏnhững nội dung cơ bản trong quan hệ kinh tế bang giao giữa Nhật Bản - ĐôngNam á, đặc biệt là một số quốc gia có mối liên hệ mật thiết nh: Siam,Philippines, Đại Việt xem xét sự khác biệt cũng nh đặc tính chung của mốiquan hệ đó với toàn thể khu vực Từ đó, mạnh dạn rút ra một số đặc điểm tiêubiểu trong mối quan hệ thơng mại này trong sự tác động của nó đến sự chuyển

biến kinh tế trong “thời đại hoàng kim của hệ thống thơng mại châu á”

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu

4.1 Để thực hiện đề tài này, chúng tôi dựa vào những nguồn tài liệu

đáng tin cậy từ các sách thuộc Nxb Chính trị quốc gia, Nxb ĐHQGHN, NxbVăn Hoá -Thông tin; các bài viết đăng trên các tạp chí Xa và Nay, tạp chí

Trang 11

Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Nhật Bản, Nghiên cứu Đông Nam á, Nghiêncứu Nhật Bản và Đông Bắc á Do trình độ ngoại ngữ còn hạn chế chúng tôichỉ sử dụng các tài liệu đã đợc dịch sang tiếng Việt

4.2 Chắt lọc mọi thông tin từ lịch sử là cách nghiên cứu tối u Tuynhiên cần phải biết vận dụng các phơng pháp đúng đắn, phù hợp Để đạt đợcmục đích nghiên cứu và đảm bảo yêu cầu của việc thực hiện khoá luận, trớchết chúng tôi dựa vào cơ sở phơng pháp luận sử học Macxit Tức là nhận xét

đánh giá sự kiện, hiện tợng, các quá trình lịch sử theo quan điểm duy vật biệnchứng Đồng thời vận dụng phơng pháp lịch sử và phơng pháp lôgic trình bàycác sự kiện, hiện tợng trong mối quan hệ nhân - quả, đúng nh nó tồn tại, tổnghợp, khái quát hoá, trừu tợng hoá trên cơ sở những sự kiện rõ ràng, chính xác

Ngoài ra do đặc trng nghiên cứu về quan hệ thơng mại, để có nhữngcách nhìn đúng đắn, những sự kiện chính xác, chúng tôi còn thu thập tài liệu

và sử dụng phơng pháp thống kê, so sánh Để có thể đi đến những nhận thứcchân thực về mối quan hệ giữa Nhật Bản với các nớc Đông Nam á ở thế kỷXVI - XVII, chúng tôi luôn cố gắng với cách tiếp cận tổng thể, áp dụng nhữngphơng pháp nghiên cứu liên ngành và phơng pháp hệ thống cấu trúc vào việcxem xét những mối liên hệ chung riêng trong từng vấn đề đợc đa ra trình bày

và phân tích

5 Bố cục của khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dungchính của khoá luận gồm có 3 chơng, cụ thể nh sau:

Chơng 1: Nhật Bản và Đông Nam á trong bối cảnh chính trị, kinh tế

của hai khu vực Đông Bắc á và Đông Nam á

Chơng 2: Quan hệ thơng mại của Nhật Bản với một số nớc Đông Nam

á ở thế kỷ XVI - XVII

Chơng 3: Những chuyển biến trong kinh tế thơng mại Đông Nam á thế

kỷ XV - XVII: Sự hng thịnh và suy tàn của một thời kỳ thơng mại

Trang 12

B Nội dung Chơng I

Nhật Bản và Đông Nam á trong bối cảnh chính kinh tế của hai khu vực Đông Bắc á và Đông Nam á

trị-1.1 Nhật Bản với truyền thống giao thơng quốc tế

Là một quốc đảo, nhng ngay từ những trang sử đầu tiên, Nhật Bản đã và

luôn là một bộ phận gắn liền với môi trờng văn hóa Châu á “Sớm có t duy về

biển”, bên cạnh môi liên hệ lịch sử và văn hóa, Nhật Bản cũng đã sớm thiết

lập đợc quan hệ thơng mại hàng hải với nhiều quốc gia láng giềng châu á.Chịu sự chi phối mạnh mẽ của tính chất quốc đảo, cùng những điều kiện chínhtrị và kinh tế trong nớc và khu vực, ngời Nhật Bản đã sớm lựa chọn cho mình

những “đối tác thơng mại” để rồi dần dần khẳng định một chân lý: Với Nhật

Bản, hội nhập là nguyên lý phát triển và bằng con đờng đó, Nhật Bản đã mauchóng trở thành cờng quốc

1.1.1 “Đất nớc mặt trời mọc” và tầm nhìn hớng biển.

Đã từ lâu, ngời ta biết đến Nhật Bản với những cái tên rất thơ mộng: Từ

xứ xở Phù Tang trong thần thoại đến “Nippon - xứ sở của mặt trời”, "đất nớc

mặt trời mọc” hay “xứ sở của hoa anh đào” Vị trí địa lý của Nhật Bản đã tạo

cho đất nớc này những nét riêng độc đáo

Nhật Bản ở góc đông bắc của Thái Bình Dơng và thuộc miền cực đôngcủa lục địa châu á Đất nớc này là một quần thể đảo với hơn 36.000 hòn đảolớn nhỏ quây quần xung quanh bốn đảo lớn.Tổng diện tích tự nhiên gần377.000 km2 và 29.000 km bờ biển Chỉ số duyên hải ISCL ≈ 13 (1) So sánhvới Việt Nam ISCL là 106, Đông Nam á là 5 và Trung Quốc là 500, có thể

thấy Nhật Bản có u thế vợt trội về tính chất biển, đợc thiên nhiên ban tặngmột thứ vô cùng quý báu là biển cả Biển Nhật Bản với những dòng hải lumạnh và ấm, không chỉ tạo nên những vùng đánh bắt hải sản phong phú màcòn là đờng giao thông tự nhiên nối liền các đảo bên trong Nhật Bản và giữa

(1) Chỉ số duyên hải đợc tính bằng công thức: A/L ( Tổng diện tích tự nhiên chia cho tổng chiều dài ờng bờ biển) ở Nhật Bản  13, Việt Nam  106, Trung Quốc  500 Có nghĩa là 1 km đờng bờ biển chỉ che phủ tơng ứng với mỗi nớc là 13 km 2 , 106 km 2 hay 500 km 2 diện tích lục địa Theo đó chỉ số duyên hải càng thấp thì tác động của biển tới đời sống kinh tế - xã hội - văn hoá càng mạnh.

Trang 13

đ-Nhật Bản với các nớc láng giềng đ-Nhật Bản đã sớm quen cuộc sống sông nớc

và tài đi biển của họ nổi tiếng khắp châu á Chính môi trờng biển này đã tạo

cho ngời Nhật những khả năng phát triển về kinh tế Bởi “ Biển cả là môi

tr-ờng kinh tế mở, dễ thay đổi, khó kiểm tra và áp đặt chính sách”.[19;67] Bốn

bề giáp biển , từ xa xa, ngời Nhật đã dựa vào biển để lấy nguồn thức ăn cátôm, giao thông đi lại trên biển trở thành một nhu cầu, một thói quen để nốiliền quần thể c dân giữa các đảo Có tầm nhìn hớng biển, có kỷ thuật vợt biển

để đi đến các vùng cần giao lu Chủ động, năng động, nhanh nhạy thành tốchất của dân tộc Nhật trên con đờng tìm kiếm các mối giao lu [9;47]

Nh vậy có thể thấy rằng, môi trờng biển đã tạo cho nớc Nhật tính năng

động trong phát triển, mở rộng giao lu kinh tế và văn hóa từ bên ngoài Đặcbiệt là vùng Tây Nam có u thế lớn về biển với các đảo Hirado, Fukuoka,Nagasaki, trở thành những trung tâm buôn bán quan trọng và là bến xuất

phát chủ yếu của các thuyền buôn Nhật Bản thời kỳ “Châu ấn

thuyền”(1592-1635)

Ngoài đặc tính biển, đảo chi phối lịch sử Nhật Bản, chúng ta không thể

không đề cập đến điều kiện tự nhiên, "phong thổ” đầy khắc nghiệt của nớc

Nhật Với 3/4 diện tích tự nhiên là đồi núi, Nhật Bản không có đồng bằngchâu thổ, ngay nh đồng bằng Kanto (Quan Đông) và Kansan (Quan Tây) thìthực chất chỉ là những thung lũng lớn đợc tạo thành bởi nham thạch của núilửa Khí hậu lại không đồng nhất, không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.Thiên tai khắc nghiệt với sự hoành hành thờng xuyên của động đất, lũ quét,sóng thần, bão biển và núi lửa đã tạo cho đời sống kinh tế Nhật Bản gặp rấtnhiều khó khăn Ngời ta cho rằng Nhật Bản là nớc nghèo Cái nghèo đó đợc

cảm nhận sâu sắc ngay từ khi đặt chân đến, “ngời ta phải sống quanh năm là

nhờ vào rể (củ), cây có thể tìm đợc trên sờn đồi, và ngay cả các gia đình sang trọng, khá giả cũng chỉ tạm đủ ăn, họ cũng phải chịu đựng cảnh túng thiếu và thèm muốn [13;59] Chỉ dựa vào điều kiện trong nớc nh thế, Nhật

Bản khó để tồn tại chứ cha nói đến việc phát triển Thế nên, tìm kiếm để pháttriển thành đặc tính của văn hóa Nhật

Tuy nhiên, cách cảm nhận về cái “nghèo” của nớc Nhật chỉ nh thế cha hẳn

đã đầy đủ Không phải ngẫu nhiên mà chính A.Valignano - một giáo sĩ ngời

Bồ Đào Nha đã bắt gặp sự "lạ lùng” của đất nớc có tên là "Zipangu”- nơi chứa

đầy vàng và nguồn của cải đó không bao giờ cạn kiệt, để rồi cùng với công

việc truyền giáo, ông đã sống ở Nhật suốt 8 năm và cuối cùng nhận ra: “không

thể nói Nhật Bản là một nớc nghèo trên nhiều vùng lãnh thổ có những mỏ bạc lớn, nhiều mỏ bạc đợc cho là có giá trị không kém gì ở Peru hoặc một số

Trang 14

mỏ ở Tây Ban Nha” Ngời Tây Ban Nha cũng gọi Nhật Bản là “các đảo bạc”.

Có nghĩa là "tiềm năng của nớc này hoàn toàn không nghèo”[13;61].

Gạn lọc đi những lời lẽ dới con mắt thực dân, chúng ta cũng phải côngnhận một sự thật rằng: Trớc thế kỷ XVIII, khi mà bạc và đồng của nớc Nhậtcha bị khai thác kiệt quệ thì nơi đây tập trung khá nhiều những mỏ bạc, mỏ

đồng, mỏ sắt lớn, có cả thiếc, sunphat và cả vàng, mặc dù trữ lợng vàng là

không lớn, chủ yếu là “vàng cám” Vậy thì rõ ràng về tự nhiên, tính đến thời

điểm trớc thế kỷ XVIII, Nhật Bản “là nớc giàu chứ cha hẳn là nghèo”[13;61].

Sự có mặt của các mỏ bạc lớn đó là phơng tiện quan trọng để tiến hành mua

bán và trao đổi hàng hóa Và trên thực tế, sức hút của “đảo bạc" này đã khiến

cho các nớc phơng Tây tìm đến làm đối tác thơng mại Trung Quốc, Triều

Tiên, Đông Nam á cũng trở thành “bạn hàng”quan trọng của Nhật Mặt trái

của vấn đề này là do hoạt động thơng mại diễn ra quá sôi nổi, mà chính phủ

không thể kiểm soát đợc việc khai thác, dẫn đến hiện tợng “chảy máu bạc” ở

Nhật Mạc phủ đã phải đóng cửa cấm thông thơng và đến thế kỷ XVIII, các

mỏ bạc, mỏ đồng đó hầu nh đã bị khai thác kiệt quệ

Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên của nớc Nhật chính là nhằm tìm chiếcchìa khóa mở ra cánh cửa Nhật Bản, không gì khác hơn là một cách hiểu, cách

làm theo quan điểm của Sakaiya Tachi: “phong thổ” là một trong những căn

nguyên tạo nên cái đặc sắc của xã hội Nhật” [45;20].

1.1.2 Tác động của điều kiện chính trị-kinh tế-xã hội trong nớc đến việc phát triển thơng mại Nhật Bản.

Trong lịch sử chính trị Nhật Bản, cuối thế kỷ VI đầu thế kỷ VII là thời kỳchuyển mình sang xã hội phong kiến Đóng vai trò quan trọng là cuộc cảicách của Thiên hoàng Taica Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình theo kiểuTrung Hoa trong cải cách đã không đem lại những kết quả nh chính quyềnNhật Bản mong muốn Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, chiều sâu văn hóacũng nh tổ chức quý tộc - thị tộc hãy còn sâu đậm trong xã hội Nhật Bản tạo

ra độ chênh lớn so với các chính sách chung mà nhà nớc ban hành Việc tìm ramột cơ chế xã hội mới có ý nghĩa sống còn đối với nền chính trị Nhật Bản

Sau cải cách Taica, xã hội Nhật Bản càng chuyển động với vận tốc lớn ,

sự hiện diện của đẳng cấp võ sĩ trên vũ đài chính trị là hệ quả của cả một quátrình phát triển lâu dài qua nhiều thế kỷ, mà suy cho cùng là từ những cuộcchiến tranh giành giật đất đai Cuộc chiến tranh Gempei kéo dài 5 năm (1180-1185) với sự thắng lợi của dòng họ Minamoto đã đa đến việc thiết lập chế độMạc phủ đầu tiên ở Nhật Bản - Mạc phủ Kamakurai

Trang 15

Nh vậy, từ cuối thế kỷ XII lịch sử Nhật Bản bớc sang một trang mới vớinền thống trị của đẳng cấp võ sĩ Cuối thế kỷ XV trở đi, Nhật Bản luôn chìm

đắm trong những cuộc chiến tranh giành quyền lực phức tạp và quyết liệt giữanhững lực lợng cát cứ của các lãnh chúa địa phơng Thực tế đó đòi hỏi phải có

sự thống nhất đất nớc về mặt quyền lực để đa xã hội phát triển 40 năm cuốithế kỷ XVI là thời kỳ thiết lập tái thống nhất ở Nhật Bản với vai trò của ba nhà

quân sự - chính trị lỗi lạc, lịch sử xng danh là “tam kiệt”:

tranh tái thiết thống nhất, các Daimyo đã lần lợt thi hành những chính sách

nhằm ổn định và phát triển đất nớc Một thực tế xảy ra ở Nhật Bản là: Trongkhi những cuộc chiến tranh liên miên xảy ra thì những tòa thành vẫn đợc xâydựng, thành thị mọc lên ngày càng nhiều Thực ra, hiện tợng này cũng không

quá khó để giải thích Bởi “từ chiến tranh, nảy sinh nhu cầu phát triển kinh

tế: từ nội hiện, những ngời đứng đâù đất nớc buộc phải có một cái nhìn “trọng thị ” hơn đối với kinh tế hàng hóa và vị thế của tiền tệ” Ngời ta học đợc kinh

nghiệm rằng: “tiền bạc đã thắng chiến tranh” Sẽ không quá để nói rằng,

“chiến tranh một mặt nào đó đã kích thích và đẩy mạnh phát triển sản xuất,

phát triển tiền tệ, quan hệ thơng mại trong nớc và quốc tế; chiến tranh hay những đòi hỏi và quy luật nghiệt ngã của chiến tranh cũng làm đảo lộn trật tự xã hội cũ, xác lập những mối quan hệ mới” [22;148] Chiến tranh thúc đẩy sản

xuất phát triển và khi thống nhất, nền kinh tế lại có điều kiện để phát triển trêncơ sở của một chế độ đo lờng, thuế quan và thị trờng nội địa chung

Từ 1603 Ieyasu đợc Thiên hoàng phong cho danh hiệu “Chinh Di đại tớng

quân”, chế độ Mạc phủ Tokugawa chính thức đợc thành lập Trong suốt mấy

thế kỷ cầm quyền, dòng họ Tokugawa đã thiết lập ở Nhật Bản một chế độchính trị ổn định, an ninh và đợc coi là thời kỳ đỉnh cao của chế độ phong kiến

Nhật Bản Điểm nổi bật trong chế độ chính trị này là cơ chế “chính quyền

kép” hay “song trùng lãnh đạo” theo hệ thống Teno-Shogun ở Nhật Bản kéo

dài liên tục trong 683 năm (1185-1868) Chế độ chính trị ở thế kỷ XVI - XVII

mà chúng ta đang nghiên cứu nằm gọn trong cơ chế này Từ việc thông qua nónhằm làm nổi rõ về đặc điểm chính trị của Nhật Bản cũng nh sự tác động củacơ chế đó đến tình hình kinh tế - xã hội Nhật Bản

Trang 16

Nhìn lại lịch sử ta thấy, cơ chế hai chính quyền song song tồn tại hay còn

gọi là “lỡng đầu chế” không chỉ riêng ở Nhật Bản mà đã từng xuất hiện sớm

trong lịch sử thế giới Ngời ta đã từng biết đến trong lịch sử Hi Lạp cổ đại, nhànớc Sparta (thế kỷ IX-VI TCN) đợc điều hành bởi hai vua Trên danh nghĩahai vua có quyền lực ngang nhau và cùng đồng thời tồn tại với t cách là thànhviên của Hội đồng trởng lão - cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nớc Haygần hơn trong lịch sử Việt Nam, việc cùng nắm quyền của Hai Bà Trng sau

cuộc “khởi nghĩa vạch thời đại” vào đầu những năm 40 Sau này là chính

quyền vua Lê - chúa Trịnh thế kỷ XVI - XVIII ở Đàng Ngoài Tất nhiên việc

đa ra so sánh chỉ mang tính chất tơng đối vì giữa chúng gần nh có những biểuhiện tơng đồng về hình thức nhng lại khác nhau về thời gian và điều kiện xuấthiện, về bản chất, chức năng, cơ chế vận hành và đặc biệt là những hệ quả lịch

sử - xã hội mà mỗi thiết chế đem lại [18;76] Nói nh thế để khẳng định rằng,

cơ chế Teno-Shogun là một chế độ điển hình kiểu Nhật Bản và trong lịch sử

chỉ có ở riêng Nhật Bản mà thôi!

Việc duy trì quyền lực Thiên hoàng là một cách nhìn khôn ngoan của Mạcphủ, là sự tính toán cẩn trọng trong các bớc đi chính trị Đất nớc luôn bị chiacắt bởi các lực lợng cát cứ thì vị thế thiêng liêng, quyền lực của Thiên hoàng,

dù chỉ là h vị, là điều kiện cần để dung hòa các xung đột xã hội Thiên hoàngchỉ mang ý nghĩa tợng trng và giữ vai trò là trung tâm hội tụ của sức mạnhtruyền thống, là biểu tợng cho sự trờng tồn và thống nhất dân tộc

Trong khi chúng ta nhấn mạnh đến mối quan hệ chính trị khăng khít giữaMạc phủ - Thiên hoàng thì sẽ là thiếu sót nếu không thấy rằng: mối quan hệ

đó còn đồng thời chịu tác động mạnh mẽ của cơ chế Bakuhan - taisei (Mạc

phiên thể chế) đợc dựng lên từ sau năm 1600 Cơ chế vận hành cho mối quan

hệ chính trị ba cực gồm : Thiên hoàng (Teno - Tokyo), với Tớng quân (Shogun

- Edo) và các lãnh chúa (Daimyo-Han) rất tế nhị, phức tạp mà không hề có sự

đứt gãy nào Về bản chất, mối quan hệ tay ba đó vừa là sự phụ thuộc lẫn nhauvừa mang tính chất chi phối theo chiều dọc giữa các thành tố tạo nên quyền

lực Trong đó Bakuhan - taisei đợc coi là xơng sống của cơ chế chính trị này.

Để thêm một bớc nữa thâu tóm quyền lực tập trung vào chính quyền trung

-ơng và cụ thể hóa các quan hệ xã hội, Mạc phủ Tokugawa ban hành bộ Luật

Gia Vũ (Buke shohatto), đạo luật về các nhà quân sự Trong đó chế độ

Sankin-kotai đợc luật lệ hóa, xây dựng nên mối quan hệ “tôn chủ - bồi thần” rất điển

hình trong lịch sử Nhật Bản Điều cần chú ý là, từ trong chế độ cai trị đó đãnảy sinh nhiều hệ quả kinh tế - xã hội và tác động rất lớn đến tình hình pháttriển ngoại thơng Nhật Bản ở thời kỳ lịch sử này

Trang 17

Sankin-kotai thực chất là chế độ con tin đã không còn là điều mới mẽ trong

lịch sử quân sự - chính trị Châu á Ieyasu cũng từng là nạn nhân của chế độnày, bằng nhãn quan của một nhà chình trị dày dạn kinh nghiệm, ông rất hiểu

rõ sức mạnh của các lãnh chúa Ông đã tỏ ra hết sức thận trọng trong các b ớc

đi chính trị, khôn khéo để thiết lập một chính quyền vững mạnh từ cơ sở là các

lãnh chúa địa phơng Sankin-kotai đợc các lãnh chúa thực hiện một cách

nghiêm chỉnh Ban đầu còn là tình cảm thiêng liêng, sau trở nên bắt buộc vàthành tiêu chí đánh giá lòng trung thành của họ

Các lãnh chúa khi về Edo đợc quy định theo lịch trình và những tuyến

đờng cụ thể Cùng với Sankin-kotai, các tuyến đờng giao thông đợc mở mang.

Có 5 tuyến chính: Tokaido (Đông hải đạo), Nakasendo (Trung sơn đạo),

Nikkodochu (Nhật quang đạo trung), Oshudochu (á châu đạo trung) và Koshudochu (Giáp châu đạo trung) Tất cả đều bắt nguồn từ Nihon bashi (Cầu

Nhật Bản) Đây là đầu mối giao thông, trung tâm thơng nghiệp của Edo vàtoàn bộ Nhật Bản Trên mỗi tuyến đờng, Mạc phủ đặt những trạm nghỉ chân

(1603, tuyến Tokaido đã xây dựng đợc 33 trạm nghỉ (shukueke) đến 1632 lập

thêm 20 trạm nữa) Chức năng chung là nơi nghỉ ngơi, chữa bệnh, cung cấpdịch vụ đi lại, thông tin, giải trí để phục vụ nhu cầu cho ngời đi lại Điều

đáng chú ý là trên mỗi trạm đều ít nhiều tổ chức hoạt động kinh doanh ở đóngời ta thờng bán những vật phẩm thiết yếu cùng với những đặc sản địa ph-

ơng “Tại các trạm lớn, hoạt động của hệ thống dịch vụ luôn đợc tổ chức hoàn

hảo” [18;315] Mặt khác, theo truyền thống Nhật Bản, trong các chuyến về

Edo, lãnh chúa bao giờ cũng mang quà biếu Tớng quân Quà biếu thờng lànhững vật phẩm rất có giá trị nh: tơ lụa, bạc, gốm sứ, ngựa quý Theo một số

nhà nghiên cứu, số lợng quà biếu của các địa phơng là rất lớn Vì vậy, “do

Mạc phủ không thể sự dụng hết số quà biếu này nên chúng đã đợc đa ra thị ờng qua một số thơng nhân” Ngoài ra trong một số lãnh chúa, khi đến sinh

tr-sống cùng gia đình ở Edo lâu dài, đã chuyên chở theo những sản phẩm của địaphơng : rợu sake, cá, nớc chấm, gốm Hizen, kimono, tơ lụa, đồ sơn Nhữngsản phẩm này đợc các lãnh chúa và thị dân ở Edo hết sức a chuộng Một

khung cảnh vận chuyển, trao đổi hàng hóa diễn ra tấp nập trên mỗi kỳ

Sankin-kotai Điều đó để khẳng định rằng : cùng với sự phát triển của kinh tế thơng

nghiệp, những nhu cầu tiêu dùng và trao đổi vật tặng thông qua chế độ

Sankin-kotai đã tác động đến kinh tế địa phơng và thu hút một lực lợng lao

động lớn chuyên sản xuất, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm trên các thị trờnglớn của Nhật Bản

Trang 18

Tuy nhiên, hệ quả quan trọng nhất mà chế độ Sankin-kotai để lại cho xã

hội Nhật Bản cũng nh khả năng phát triển kinh tế thơng nghiệp là vai trò ngàycàng lớn của thơng nhân Cụ thể của vấn đề này sẽ đợc làm rõ ở phần tác độngcủa điệu kiện xã hội trong nớc, chúng tôi chỉ có thể khẳng định rằng : Chính

Sankin-kotai đã làm giảm tiềm lực kinh tế to lớn của các lãnh chúa phong kiến

buộc họ phụ thuộc sâu hơn vào tầng lớp thơng nhân Thực tế là “để có tiền các

Daimyo phải bán thóc để chi trả cho cuộc sống ở thành thị và nh vậy mặc

nhiên họ trở thành “nạn nhân” của giới thơng gia” Ogyu Sorai - nhà chính trị nho giáo ở Nhật đã ví cuộc sống của các Daimyo ở Edo nh của “những ngời

trong quán trọ, họ sống không bằng thu nhập của chính mình mà tất cả phải mua bằng tiền” Dù một cách lặng lẽ, Sankin-kotai đã tạo nên động lực để tiến

hành quá trình đô thị hóa của Nhật Bản, nó đã phá vỡ tính biệt lập của các địaphơng làm cho hoạt động của nông thôn cũng trở nên năng động hơn với cácluồng di c và hình thành hệ thống chợ, các làng thôn và lãnh địa đều bị cuốnvào nền kinh tế thơng nghiệp.Chuyên gia kinh tế Nhật Bản William B Hauser

cho rằng: “Đóng góp nổi bật của Sankin-kotai là tạo nên động lực cho sự phát

triển của kinh tế tiền tệ ở Nhật Bản Nó đã gián tiếp khuyến khích sự phát triển của mạng lới giao thông giữa các thành thị, giữa thành thị với nông thôn tạo ra mạng lới giao thông thờng xuyên cả bằng đờng thủy và đờng bộ”

Rõ ràng ta thấy, Sankin-kotai đã để lại hệ quả nhiều mặt đối với nền

kinh tế và xã hội Nhật Bản, đã tạo ra những nhân tố phát triển mới nằm ngoài

sự suy tính và mục tiêu của chính quyền trung ơng

Trong khuôn khổ của nền chính trị phong kiến và chịu ảnh hởng của môitrờng văn hóa Trung Hoa, nhng chính quyền Mạc phủ đã tự tạo lập đợc mộtnền chính trị vững mạnh, độc lập, tự chủ và không có quan hệ thần thuộc vớiTrung Hoa phong kiến Yếu tố này cũng tạo nên tính chủ động trong quan hệ

đối ngoại về kinh tế và chính trị của Nhật Bản

Tuy nhiên, trong điều kiện của nền chính trị thế giới đang biến đổi mạnh

mẽ Sự dần thiết lập của CNTB phơng Tây và tác động vào Nhật Bản đã buộcchính quyền Tokugawa cần có những đối sách thích hợp Mở cửa, đóng cửarồi lại mở cửa là một chính sách đối ngoại độc đáo của Nhật Bản Đây là một

cách ứng xử “kiểu Nhật Bản” nhằm tạo ra môi trờng ổn định và hòa bình để

phát triển đất nớc Cấm ngoại thơng nhng vẫn điều tiết quan hệ với bốn nớcTriều Tiên, Trung Quốc, Ryukyu và Hà Lan là một chính sách khôn khéo của

Nhật Bản, ngời ta gọi đó là thời kỳ “đóng cửa mà không cài then”, xã hội Nhật

Bản vẫn có điều kiện để phát triển vững chắc

Trang 19

Về kinh tế, cải cách Taica đã đa đến sự xuất hiện chế độ kinh tế trang

viên ở Nhật Bản Trải qua nhiều thế kỷ tồn tại (từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XIV),cùng với sự phát triển của chủ nghĩa gia trởng, quá trình t hữu hóa và tập trungruộng đất mạnh mẽ, kinh tế tiền tệ đã là tác nhân chính yếu phá vỡ cơ sở tồntại của chế độ kinh tế trang viên để chuyển sang một cấu trúc xã hội mới : chế

độ kinh tế lãnh địa, vạch mốc mở đầu cho một thời kỳ “phong kiến hoàn hảo

ở Nhật Bản” Kinh tế lãnh địa xuất hiện ở Nhật Bản là kết quả của cơ chế

phân phong ruộng đất của Mạc phủ đối với tầng lớp Samurai tạo thành những tầng lớp Daimyo có thế lực Họ chiếm ruộng đất và lập ra những lãnh địa riêng để cai quản trong phạm vi quyền lực ở Han của mình Điều đặc biệt,

trong cơ chế lãnh địa này đã đẻ ra những cơ sở để phát triển một nền kinh tếhàng hóa năng động và dần chiếm u thế Dới tác động của thơng nghiệp, cùngvới một số kỷ thuật của ngời phơng Tây đợc áp dụng, nông nghiệp Nhật Bản

đã có bớc tiến quan trọng Trớc hết là việc tăng diện tích canh tác Theo tính

toán, thế kỷ X, ở Nhật Bản có 860.000 ha đất canh tác, đến giữa thế kỷ XV là 950.000 ha; năm 1600 là 1640.000 ha và đến 1720, con số này lên tới 2.970.000 ha [14;173] Trong đó, diện tích tăng chủ yếu là vào khoảng 100

năm từ 1550 đến 1650 Điều đó đã dẫn đến một hệ quả tất yếu là sự tăng vọt

về hệ thống thủy lợi tới tiêu và đẩy năng suất nông nghiệp lên cao Đó là sựphát triển tự nhiên trong điều kiện đất nớc hòa bình, cộng với kỷ thuật tiến bộ

và những chính sách khuyến khích nông nghiệp của Nhà nớc

Từ trong nền nông nghiệp, những khu chuyên canh, khu chế biến đặc sản

ra đời, đóng vai trò cung cấp nguyên liệu cho các công xởng thủ công hoặctrực tiếp làm ra mặt hàng đáp ứng yêu cầu của xã hội Kinh tế nông nghiệpmang tính chất thơng mại đã tạo ra một chu trình mới cho sản xuất nôngnghiệp, thúc đẩy nhanh chóng quá trình tạo ra sản phẩm hàng hóa

Thế kỷ XVII, thủ công nghiệp và thơng nghiệp đã tách khỏi nông nghiệp

và trở thành hai ngành kinh tế độc lập Đối với thủ công nghiệp, nh Mác từng

đề cập: ban đầu các công trờng thủ công không phải đợc hình thành trên cáigọi là nghề thủ công thành thị, mà là nghề phụ ở nông thôn Thủ công nghiệp

đã ra đời và phát triển song hành cùng nông nghiệp Từ nghề phụ, thủ côngnghiệp đã tách khỏi nông nghiệp và thành ngành kinh tế độc lập, có nhữngthành tựu to lớn đóng góp vào sự phát triển kinh tế đất nớc Gốm sứ là mặthàng thủ công không chỉ nổi tiếng ở Trung Quốc mà còn cả ở Nhật Bản GốmHizen trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng trong quan hệ thơng mại Thời Edo, mặc dù nền kinh tế Nhật Bản vẫn mang nhiều đặc tính phong kiến

và chia sẻ những giá trị của một nền nông nghiệp phơng Đông nhng trên một

Trang 20

số phơng diện, đặc biệt là trong lĩnh vực thơng nghiệp, đã có sự phát triển vợttrội so với các quốc gia khác ở châu á đơng đại.

Cuối thế kỷ XII, nền thơng nghiệp Nhật Bản đã cho ra đời một hình thức

kinh tế mang tính chất phờng hội (za) hoạt động tơng đối có hiệu quả Tuy

nhiên, cùng với yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế trong và ngoài

n-ớc, sang thế kỷ XVI - XVII, hình thức này không còn phù hợp nữa mà một

hình thức mới ra đời, đó là nakama (hiệp hội những ngời kinh doanh) Tuy

vẫn nằm trong khuôn khổ của nền kinh tế phong kiến, nhng tổ chức này đã tạo

ra một cơ chế năng động và đa dạng cho sự phát triển thơng nghiệp Nhật Bản

Đây cũng đợc coi là cơ sở tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức “Zaibatsu” ở

Nhật Bản thời hiện đại [18;296] Sang thế kỷ XVII, nền kinh tế tiền tệ ra đời,cùng với sự phát triển, nó đã góp phần làm thơng mại hóa các quan hệ xã hội

Cuộc đấu tranh của các nhà kinh tế Nho giáo trớc “hiện tợng" này không làm

giảm sự xâm nhập mạnh mẽ của nền kinh tế thơng nghiệp tiền tệ Có thể thấyrằng, những tinh túy trong văn hóa đô thị mà các nhà kinh tế trọng nông NhậtBản coi thờng lại đang hiện hữu sáng chói nhất trong các thế kỷ liền kề với thế

kỷ XVII Biểu hiện của nó là thành thị ra đời, phát triển cùng với sự gia tăng

về dân số, quá trình đô thị hóa nông thôn diễn ra một cách mạnh mẽ

Có thể rút ra rằng, trong khuôn khổ của xã hội phơng Đông, mặc dùnền kinh tế nông nghiệp vẫn đợc coi là nền tảng nhng từ giữa thế kỷ XVII trở

đi, kinh tế công thơng nghiệp ngày càng chiếm vị trí chủ đạo và trở thành tác

nhân chính yếu định hớng sự phát triển chung “Cái bàn tính là một thứ thay

thế cho thanh gơm để tạo nên sự giàu có và ảnh hởng” [30;244].

Nội thơng phát triển nhờ nhu cầu trong nớc tăng lên Chính điều đó đã vừa làtiền đề vừa là động lực, là yếu tố kích thích cho ngoại thơng phát triển Dới tác

động của nhu cầu trong nớc cùng với sự biến đổi của tình hình khu vực, nhằm

để tăng cờng kiểm soát hoạt động thơng mại, Mạc phủ ban hành chính sách

“Châu ấn thuyền”, tồn tại hơn bốn thập niên cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII

(1592 - 1635) Đây đợc xem là thời kỳ phát triển cao nhất của kinh tế ngoạithơng Nhật Bản

Về xã hội: Trật tự chính của xã hội Nhật Bản đợc dựa vào dòng dõi và

kế thừa, cộng thêm nhiều biểu hiện rõ rệt bề ngoài về quần áo, ăn nói và cáchxã giao Một hệ thống 4 tầng lớp đợc chấp nhận căn cứ theo hệ thống truyềnthống của Trung Quốc Về đại thể, đợc chính thức chia thành 4 tầng lớp: Võ

sỹ, nông dân, thợ thủ công và ngời buôn bán (Sỹ, Nông, Công, Thơng) Sangthế kỷ XVI, XVII xã hội Nhật Bản có sự biến đổi Hai trong số những biến đổi

Trang 21

đó là sự ra đời của tầng lớp "thơng nhân chuyên nghiệp" và quá trình đô thị

hoá

Về thơng nhân: Chính sách Sakin-kotai đã gây mầm cho sự xuất hiện

của một tầng lớp thơng nhân mới, chuyên sống vào sự bốc lột đẳng cấp võ sỹ.Vì rằng, "hơn một nửa thu nhập hàng năm của các lãnh chúa phải chi phí chocuộc sống ở Eđo và họ phải vay tiền của thơng nhân Do vậy mà thơng nhân ở

Eđo đợc gọi là những kẻ hút lơng của Samurai để tích tụ thêm của cải cho chính mình và đẩy các Daimyo vào tình trạng khánh kiệt"

Quá trình phát triển của kinh tế tiền tệ đã làm biến đổi Samurai thành tầng lớp tiêu thụ ở thành thị Nhu cầu của Daimyo phải có tiền mặt để trang

trải nhiều chi phí Chính yêu cầu về chính trị đã tạo nên mô hình cho kinh tếphát triển; và theo đó vai trò của thơng nhân đợc tăng lên Thơng nhân NhậtBản có nhiều loại nhng đều gắn với hoạt động thơng mại và buôn bán tiền tệ

Sự trỗi dậy của tầng lớp thơng nhân vừa là hệ quả của sự phát triển tự nhiêntheo sự vận động của quy luật kinh tế, vừa chịu tác động, chi phối sâu sắc củachế độ chính trị thời bấy giờ

Thế kỷ XVII là thời kỳ đô thị hoá cha từng thấy trong lịch sử Nhật Bản,khiến cho dân số đô thị tăng lên 4 - 5 lần Thành thị là môi trờng nuôi dỡngnền kinh tế thị trờng ủng hộ sự phát triển của tiền tệ ở các thế kỷ này thànhthị đã vơn lên giữ vai trò chủ đạo trong các hoạt động kinh tế và là nơi hìnhthành, phát triển của các khuynh hớng t tởng mới Thành thị chiếm vị trí thiếtyếu trong sự phát triển của Nhật Bản: là trung tâm kinh tế văn hoá, là diệnmạo tiêu biểu của một quốc gia, là sự thể hiện sinh động của trình độ văn

minh Osaka, Nagasaky, Edo là những thành thị ven biển thoát ra để vơn tới

nhiều không gian rộng lớn, kiến dựng ở nơi có những trục đờng giao thông

tiếp giáp với vùng cửa sông cảng biển Thế kỷ XVII, Osaka trở thành "thủ đô

thơng nghiệp" với sự gia tăng của phố phờng tỷ lệ thuận với dân số Năm

1665, Osaka có 947 phố phờng với 268.700 dân; năm 1698 lên 601 phố phờng

và 351.700 dân; đến 1779 con số này đạt tới 620 phố phờng và 404.700 dân

Đó là môi trờng thuận lợi cho nền kinh tế đạt đợc sự tăng trởng vợt bậc

Đây là thời kỳ phát triển sống động của thành thị Nhật Bản "đó là sản

phẩm của một thời kỳ lịch sử tao loạn và hệ quả của quá trình chính trị hớng tới sự thống nhất dân tộc" [22; 157]

Về văn hóa - t tởng:Trong khi biện giải cho sự phát triển "thần kỳ" của

nền kinh tế Nhật Bản thời hiện đại, ngời ta đã đa ra và coi đó nh một yếu tốmang tích chất quyết định, đó là yếu tố con ngời

Trang 22

ở đây, dới gốc độ văn hoá t tởng, chúng tôi xem xét nó nh một nhântạo nên truyền thống cũng nh khả năng phát triển giao thơng quốc tế của NhậtBản Nhân tố con ngời mà cụ thể là phẩm chất của họ cũng nh đặc tính vănhoá trong mỗi quốc gia sẽ tác động mạnh đến sự hng thịnh hay lại thành trởlực cho sự phát triển xã hội.

Ngời Nhật Bản có lối ứng xử truyền thống và xác định đâu là đỉnh caorồi cố chí học theo (khác với ngời Việt Nam là trớc những ảnh hởng của vănhoá ngoại lai, thờng bắt đầu bằng sự hoài nghi, sau đó buộc phải chấp nhận vàtìm cách cải biến theo chuẩn mực của mình [7;63] Có lẽ vì vậy, ngời Nhật

Bản tiếp nhận cái mới, cái tiến bộ, phù hợp với mình và "sẵn sàng quay lng"

lại với cái lỗi thời Việc bỏ văn minh Trung Hoa để đến với văn minh phơngTây là một minh chứng

Ngời Nhật Bản "rất thông minh, ham học hỏi, có khả năng kiềm chế

tuyệt vời, sự hoà nhập của họ trong cộng đồng, tính chấp nhận kỷ luật của họ

đều giống nh mẫu hình châu âu"[13;70] Ngời Nhật Bản lại đầy kiêu hãnh và

khôn ngoan nên họ không cho phép ngời nớc ngoài thống trị họ Tuy chịu ảnhhởng mạnh mẽ của văn minh Trung Hoa nhng cha bao giờ có quan hệ thầnthuộc đối với hoàng đế Trung Hoa (nh Việt Nam) Điều đó tạo nên tính độclập và năng động trong quan hệ quốc tế Phẩm chất đó, hẳn là đợc tạo nên bởimột yếu tố quan trọng là: ở Nhật Bản không bao giờ độc tôn t tởng, mặc dùngay trong thời điểm chế độ phong kiến có xu hớng tập quyền nhất Tôn giáo

chính của Nhật Bản là Thần Đạo (Shinto), có sự du nhập vào Phật giáo, Nho

giáo và ngay cả Thiên chúa giáo cũng phát triển mạnh Hiện tợng này cũng tác

động nhất định đến tính chất "mở" của quốc đảo này

Về vấn đề Thiên chúa giáo, sự mộ đạo của ngời dân Nhật Bản gây nênmột sự đảo lộn lớn trong quan hệ xã hội Xã hội phong kiến theo Thiên chúagiáo đã là một sự thách đố đối với hệ thống chính trị Vấn đề Thiên chúa giáocũng đã ảnh hởng lớn trong quan hệ thơng mại của Nhật Bản Mạc Phủ ra lệnhcấm đạo, hạn chế quan hệ thơng mại với phơng Tây, đó cũng là một trong

những nguồn gốc của chính sách "Châu ấn thuyền" và chuyển quan hệ thơng

mại sang các nớc Đông Nam á

Tôn giáo, chính trị, lòng tự tôn dân tộc đã hoà quyện vào nhau và làm

nên cái gọi là "tinh thần Nhật Bản" Tinh thần đó đợc thể hiện rất mạnh mẽ từ

sâu thẳm truyền thống văn hoá của một đất nớc sớm có ý thức tự chủ trongviệc lĩnh hội những giá trị, tri thức từ những nền văn hoá khác lạ, trội vợt bên

ngoài Nh đánh giá của PGS Nguyễn Văn Hồng: "Trên vùng đất mà tài

nguyên thiên nhiên không giàu có này đã tạo nên thói quen chấp nhận thách

Trang 23

đố của cuộc sống để tồn tại và phát triển Có lẽ từ gốc độ này ngời ta cũng có thể hiểu đợc ngời Nhật Bản luôn chủ động trong ứng xử và tạo nên tố chất trí tuệ năng động của ngời Nhật Khi họ thấy thiếu, họ chủ động vợt biển đi học,

mà ngay cả khi họ đã thành điểm đến cho các dân tộc châu á lục địa, ta hầu

nh cũng thấy họ ứng xử một cách chủ động, thực tế Hội lu thời đại cũng chủ

động mà lan toả cũng chủ động Họ nhận thức rõ về mình và xử lý các mối quan hệ trên góc độ độc lập, tự cờng dân tộc một cách đáng kính nể"

1.1.3 Nhu cầu phát triển thơng mại với các quốc gia Đông Nam á

Là một quốc đảo tơng đối biệt lập với lục địa châu á, nhng trong tiếntrình phát triển lâu dài, Nhật Bản luôn gắn bó chặt chẽ với môi trờng lịch sử vàvăn hoá Đông Nam á Bên cạnh những liên hệ về lịch sử - văn hoá, Nhật Bảnsớm thiết lập đợc quan hệ kinh tế với nhiều nớc láng giềng và trong khu vực,

đặc biệt là Trung Quốc và Triều Tiên Từ thời cổ đại, đặc biệt là vào thời kỳ

Nara (710 - 794) và Heiran (794 - 858) do ý thức đợc trình độ phát triển và

tầm vóc của văn minh Trung Hoa, triều đình Nhật Bản đã phải cử nhiều sứ

đoàn, các nhà s và tri thức trẻ sang nhà Đờng (618 - 907) học tập Những kinh

nghiệm của Trung Hoa đợc truyền vào Nhật Bản Đến thời kỳ Kamakura,

Muromachi, nhiều đoàn thuyền buôn của các dòng họ có thế lực, cơ sở tôn

giáo và thơng nhân Nhật Bản đã đến các thơng cảng Trung Quốc và TriềuTiên để giao lu văn hoá và tiến hành hoạt động thơng mại Trong thế kỷ XVnhờ đạt đợc sự thống nhất về chính trị, có năng lực quản lý, Ryukyu tiếp tụccủng cố quan hệ thân thuộc đối với nhà Minh (Trung Quốc) và Nhật Bản.Quan hệ thơng mại giữa các quốc gia có khởi sắc, Ryukyu trở tàn cầu nối choNhật Bản và Đông Nam á

Từ cuối thế kỷ XV, xã hội Đông Nam á luôn diễn ra những biến loạnchính trị nghiêm trọng ở Nhật Bản nội chiến diễn ra, trật tự xã hội bị xáotrộn Mạc Phủ Murômachi với t cách là chính quyền Trung ơng, đã không thểkiểm soát chặt chẽ đất nớc đợc nữa Nhân cơ hội đó, ở vùng duyên hải phíaTây Nhật Bản đã hình thành nhiều toán, thậm chí là các đoàn cớp biển Cớp

biển (Wako) ở Nhật Bản trở thành một nghề, chúng đợc tổ chức trang bị vũ khí

và hoạt động rất táo bạo không những trong phạm vi "biển Nhật Bản" (Nihon

kai) mà còn mở rộng địa bàn cớp phá ở cả khu vực biển Triều Tiên, miền Nam

Trung Hoa và từng bớc tiến xuống vùng biển Đông Nam á Nguyên nhân củatình trạng này là do: Về khách quan, bờ biển Ryukyu có nhiều khu vực dễ ẩnnáu và con đờng thông thơng sang biển Triều Tiên khá tiện lợi Về chủ quan,ngoài những căn nguyên về chính trị, xã hội, cần lu ý đến một thực tế là nạn c-

Trang 24

ớp bóc cũng còn bắt nguồn từ điều kiện kinh tế của Nhật Bản thời bấy giờ Dotình trạng khan hiếm hàng hoá, không đủ khả năng tài chính và lợng hàng cầnthiết để có thể trao đổi hoặc mua về những thơng phẩm có giá trị cao của thịtrờng khu vực, biện pháp cớp bóc nhằm để bù lấp cho sự thiếu hụt đó Chínhsách đóng cửa của nhà Minh (1549) càng làm gia tăng hơn hoạt động buôn lậu

và cớp biển

Đối với chính quyền phong kiến Trung Hoa, trớc tình trạng các đoàn

c-ớp biển ngày càng hoạt động công khai, đợc tổ chức quy mô lớn, sau nhiều lầnyêu cầu Nhật Bản cùng phối hợp tiểu trừ hải tặc nhng không đạt kết quả, nhàMinh (1368 - 1644) đã tỏ ra rất thận trọng trong quan hệ với Nhật Bản Từnăm 1371, triều đình Nam Kinh bắt đầu có chủ trơng hạn chế quan hệ thơngmại và cuối cùng, vào năm 1557 Trung Quốc đã chính thức chấm dứt quan hệvới Nhật Bản Đối với Triều Tiên sau những cuộc xung đột quân sự, thực chất

là cuộc chiến tranh xâm lợc (do tham vọng của giới cầm quyền Nhật Bản, bấtthành) và do những hậu quả nghiêm trọng của nạn cớp biển, mặc dù đã cónhững cố gắng để làm dịu tình hình khu vực nhng Nhật Bản vẫn cha thể bình

thờng hoá quan hệ với chính quyền Choson Triều Tiên vẫn lo ngại trớc những

mu tính của Nhạt Bản trong vấn đề chủ quyền lãnh thổ và khả năng chiếm lĩnh

thị trờng khu vực Vì vậy, cũng nh nhà Minh, Vơng triều Choson chủ trơng thực hiện chính sách "bế quan toả cảng" đối với Nhật Bản Chịu tác động của

chính sách hạn chế thơng mại đó, để vừa có thể duy trì hoạt động thơng mại,

đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nớc, chính quyền Nhật Bản đã lu tâm đến khuvực Đông Nam á trong chiến lợc thơng mại của mình

Việc mở rộng không gian hoạt động kinh tế xuống khu vực phía Nam làmột thách thức mới đối với chính quyền Nhật Bản So với Trung Quốc vàTriều Tiên thì Đông Nam á là khu vực kinh tế mới Việc thâm nhâp vào ĐôngNam á nhằm để thiết lập mối quan hệ kinh tế và cũng thiết lập mối quan hệbang giao với các quốc gia trong khu vực Chủ trơng mở rộng quan hệ quốc tế,hớng về khu vực thị trờng phía Nam của chính quyền Toyotomi, Hideyoshi vàTokugawa là một sự lựa chọn có tính toán kỹ lỡng trên cả hai phơng diện kinh

tế và an ninh quốc gia

Về kinh tế, vào thế kỷ XVI - XVII, Đông Nam á là một khu vực giàutiềm năng, thị trờng mới đồng thời là nơi hội tụ của hai trung tâm kinh tế

Đông Bắc á và Đông Nam á Do vậy, để khuyến khích sự phát triển củanhiều ngành sản xuất trong nớc, phá vỡ thế độc quyền của thơng nhân TrungHoa và châu Âu đối với thị trờng Nhật Bản chính quyền Edo đã chủ trơng phảithực sự hội nhập vào hệ thống thơng mại khu vực

Trang 25

Có sự tham gia của thơng nhân khu vực và các đoàn thuyền buôn châu

Âu, hàng hoá của nhiều quốc gia Đông Nam á đã đợc đa đến thị trờng ĐôngBắc á Để giành quyền chủ động trong việc điều hành quan hệ kinh tế đốingoại, giới cầm quyền Nhật Bản chủ trơng thực hiện chế độ Châu ấn thuyền

(Shuin sen) Đây là một biện pháp nhằm kiểm soát thuyền buôn đợc tham gia

vào các quan hệ buôn bán quốc tế, số lợng và chủng loại hàng hoá xuất - nhậpkhẩu, đồng thời qua đó ngăn chặn tình trạng buôn lậu Việc thực hiện chế độ

Châu ấn thuyền còn là nhằm khẳng định chủ quyền của Nhật Bản trong quan

hệ quốc tế Châu ấn thuyền (tàu thuyền có mang dấu đỏ) có nguồn gốc từ chế

độ Tenyuji - bune thời Ashikaga (1336 - 1573), chế độ này chỉ cấp giấy phép

cho thơng thuyền Nhật Bản đến buôn bán với các quốc gia Đông Bắc á Sang

thời kỳ Mạc Phủ, Châu ấn thuyền đợc sử dụng rộng rãi hơn Nguyên tắc của

Châu ấn thuyền là: Chỉ có Tớng quân mới có quyền cấp, dấu đỏ chỉ có giá trị

1 lần, sau khi chủ tàu về nộp lại cho cơ quan quản lý Hình thức viết đợc bố trí

cụ thể: chiều ngang 1 thớc 8 tấc 1 phân(58,3cm), chiều dọc 1 thớc 3 tấc 2 phân ( 44cm) Đợc cấp vào ngày cát nhật (11/11) và (9/9): là những ngày may

Thời kỳ Châu ấn thuyền, trung bình hàng năm Nhật Bản cử ra nớc

ngoài 14 chuyến tàu với tổng số thành viên tham gia lên tới 80.000 ngời, vàothời gian đó, Nhật Bản có quan hệ buôn bán với khoảng 18 khu vực lãnh thổ

địa bàn chủ yếu là các nớc Đông Nam á 18 nớc, khu vực là: Chi chen,

Tacasangun, Ma Cao, An Nam, Luzon, Misaiya, Bruni, Moroku Trong đó,

Việt Nam đến các các khu vực với tên gọi : An Nam, Thuận Hoá, Cochi,

Kachian (Đàng Trong) Ton kinh (Đàng Ngoài) và Cam pa (Đàng Trong)

Nhà Đông phơng học ngời Pháp Noel Peri cho rằng chỉ riêng năm 1606,

số giấy phép đợc cấp đủ là 19 - 20 chiếc, con số đã tăng lên 22 hoặc 23 chiếcvào năm 1607, khoảng 19 chiếc vào năm 1608, 12 chiếc năm 1609, 9 chiếcvào năm 1610 và số giấy phép đã giảm xuống 6 chiếc năm 1611 và chỉ còn 2chiếc 1612 Nhng đến 1613, số giấy phép đợc cấp lại tăng lên 9 chiếc, 16chiếc năm 1614 và 1615 Mặc nhiên, những số liệu nêu trên chỉ là tơng đốitrong khi đó số thuyền buôn Châu ấn và cả những thuyên không có giấy phép

đến Đông Nam á buôn bán hẳn là vợt xa những ghi chép chính thức của chínhquyền Nhng một điều qua nghiên cứu đợc rút ra là, số lợng giấy phép đợc cấp

Trang 26

ngày càng có xu hớng giảm xuống Nguyên nhân không phải do tình hìnhbuôn bán giảm sút mà vì các thơng gia chỉ tập trung cập bến vào những thơngcảng, khu vực có thể thu lợi nhuận rất nhiều Từ 1607 họ không còn tới

Chichen, Misaya, Brunei hay Malacca nữa mà thay vào đó họ chuyên chủ hơn

vào những nơi nh Cochi, Luzon, Cambodia, vì đây là những địa điểm trung

chuyển hàng hoá Trung Hoa

Theo tính toán của các chuyên gia thơng mại Nhật Bản, trong vòng 30năm (1604 - 1634) chính quyền Edo đã cấp 356 giấy phép cho thuyền Châu

ấn Trong số đó, khu vực Đông Nam á có 331 giấy phép chiếm 93,5%, riêngViệt Nam đã có 130 giấy phép chiếm 36,51%  1/3 tổng số giấy phép đợccấp cho khu vực Đông Nam á

Mặt hàng xuất khẩu chính của thuyền buôn Châu ấn là: bạc, đồng, sắt,

lu huỳnh và một số sản phẩm thủ công Trong khi đó những loại hàng hoáNhật Bản nhập về từ Đông Nam á là: tơ lụa, vải bông, da hơu, da cá sấu, gỗnhuộm vải, thiếc, đờng và một số loại lâm thuỷ sản khác

Trong đó những mặt hàng nhập khẩu của Nhật Bản, tơ sống chiếm tỷtrọng lớn nhất Đây là mặt hàng cần thiết nhất đối với ngời Nhật Bản "vì

không có tơ lụa thì không có Kimono, không có Kimono thì những buổi tế lễ,

hội hè sẽ không còn ý nghĩa nữa" [10; 71] Qua nhiều năm chỉ riêng tơ sống

nhập từ Đông Nam á đã đạt giá trị từ 140.000 - 200.000 Catties, chiếm tới 50

- 70% tổng số tơ nhập vào Nhật Bản Theo báo cáo của giáo sĩ Valentin CarVallho năm 1912, thơng nhân Nhật Bản, Trung Quốc và Tây Ban Nha đã nhập

vào Nhật Bản 4.875 picul tơ sống và Bồ Đào Nha nhập vào 1282 picul từ thị

trờng Đông Nam á và Trung Quốc

Đối với mặt hàng xuất khẩu, Nhật Bản xuất đi nhiều nhất là bạc Vào

thời Châu ấn thuyền (1592 - 1635) ta cho rằng thuyền buôn Nhật Bản đã đem

đến Đông Nam á và thị trờng thế giới một khối lợng bạc lớn, lên đến con số

khổng lồ: 130.000 - 160.000 kg, tơng đơng với 30 - 40% tổng số bạc thế giới Ngời ta gọi đó là hiện tợng "chảy máu bạc" Đây cũng là một trong những

nguyên nhân khiến chính quyền Nhật Bản buộc phải chấm dứt chế độ Châu ấn

và thực thi toả quốc (Sakoku) Chế độ Châu ấn thuyền đợc xác lập và khẳng

định vai trò và chủ quyền của nhà nớc về kinh tế đối ngoại và đem lại choNhật Bản nhiều lợi ích kinh tế Theo nhà nghiên cứu Nhật Bản Iwaoseichi,mỗi chuyến thuyền Châu ấn thờng đem về cho Nhật Bản một khối lợng hàng

hoá khoảng 500 kanme Hoạt động của thuyền Châu ấn luôn thu lãi rất cao có

khi lên đến 100%

Trang 27

Trớc những thách thức về an ninh quốc gia, tránh sự xâm hập của Thiênchúa giáo, chính quyền Nhật Bản ngày càng thực thi những biện pháp kiểmsoát nghiêm ngặt Quan hệ thơng mại chính thức bị hạn chế, nhng những hoạt

động buôn bán phi chính thức vẫn tiếp tục diễn ra nửa sau thế kỷ XVII

1.2 Đông Nam á trong mối quan hệ giao thơng với Nhật Bản

1.2.1 Đông Nam á Nhật Bản trong lịch sử - những mối liên hệ truyền thống

Không phải ngẫu nhiên mà khi nghiên cứu về các nền văn minh, giớikhoa học cho rằng nên xếp văn minh Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam vào

chung một ngọn nguồn thuộc về vùng thế giới "Trung Hoa hoá" và là những bớc "đồng văn" Dĩ nhiên, cách nhìn nhận ấy còn phiến diện và có phần khiên cỡng, nhng rõ ràng không phải là không có lý Bởi lẽ, ngời ta đã xem xét "Cái

nôi của văn hoá Đông Nam á trong mối quan hệ chung với lịch sử và truyền thống giữa các khu vực Đông Bắc á nói riêng và châu á nói chung".

Theo đó, tìm hiểu về lịch sử Nhật Bản và Đông Nam á không thể đặtchúng ra riêng biệt mà đòi hỏi chúng ta phải chú ý đến các mối quan hệ lịch

sử - văn hoá để từ đó thấy đợc những nhân tố tích cực, có cơ sở bền vững cho

sự phát triển lâu dài Nhật Bản - Đông Nam á đều chịu ảnh hởng của nền vănminh Trung Hoa với Nho giáo và nền văn minh ấn Độ với Phật giáo

Trớc tiên, chúng tôi xem xét chung dới góc độ mối liên hệ của thời tiền

sử, sơ sử bằng con đờng truyền bá lúa nớc:

Trong bài viết của mình [9] PGS Nguyễn Văn Hồng đã đa ra ý kiến củaPGS.TS P.I.Borixcopxki đề cập đến vấn đề mối liên hệ truyền thống của Việt

- Nhật, khi nghiên cứu nền văn hoá Di sinh (Yayoi) (300 TCN - 300SCN) ông

đã liên hệ ở những dấu tích văn hoá ở miền Bắc Lào và Việt Nam hay miền

Nam Trung Quốc "Các yếu tố riêng biệt của nền văn hoá hậu kỳ thời đá mới

ở Nhật Bản cũng thể hiện những điểm giống với các lãnh thổ khác nhất là miền nam Trung Quốc và Đông Dơng Từ sơ kỳ thời đại đồ đá mới ở miền Tây nớc Nhật thể hiện những mối liên hệ văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn ở Việt Nam", "trong thời đại đồ đá mới ở Nhật Bản cũng nh ở bán đảo Sakhalin và quần đảo Kurile, có những loại rìu mặt bằng hình bầu dục đợc mài qua loa ở lỡi Những chiếc rìu này giống nh những chiếc rìu của nền văn hoá Hoà Bình

I - III Loại rìu và thạch bôn đợc mài một mặt giống nh những chiếc rìu ở Bắc Sơn II" [18,21]

Trong các chuyến khảo sát ở Việt Nam, các chuyên gia khảo cổ học củaNhật Bản cũng cho rằng: một số rìu đá tìm thấy ở di chỉ Tràng Kênh (HảiPhòng) có kỹ thuật chế tác rất gần với những chiếc rìu có dáng hình tơng tự

Trang 28

tìm đợc ở Okinawa (Nhật Bản) Thêm vào đó, tục ăn trầu, xăm mình, ở nhà

sàn trong truyền thống văn hoá Nhật Bản là những minh chứng sinh động vềmối liên hệ mật thiết giữa văn hoá Nhật Bản với văn hoá Đông Nam á Hẳn là

từ ngàn năm trớc đây đã từng tồn tại "một dải văn hoá của c dân thuộc ngữ hệ

Nam Đảo ở ven biển và các đảo ở gần bờ thuộc biển Đông và vùng biển Tây Nam Thái Bình Dơng [18;22].

-Các nhà khoa học cũng đã đề cập đến vấn đề lúa nớc đã vào Nhật Bản

vào thời kỳ Yayoi từ con đờng Trung Quốc hay qua Triều Tiên có gốc từ Đông Nam á vào khoảng 1000 - 3000 năm TCN (thời kỳ văn hoá Jomon (Thằng

Văn) GS.Vĩnh Sính trong tập nghiên cứu về "Việt Nam và Nhật Bản" đa ragiả thuyết : Phải chăng là ngời Việt? (ông muốn nói tới ngời Bách Việt vùngTriết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông) và chứng minh giả thuyết ấy về vùnglúa nớc mêng mông mà Triết Giang (Trung Quốc) là đỉnh cực Bắc và vănminh lúa nớc ở Nhật đợc truyền vào từ vùng c dân Bách Việt (Phúc Kiến,Quảng Đông cho đến Bắc Việt Nam trên bán đảo Đông Dơng)

Gordon Luce đã gọi lúa nớc "là sản phẩm quan trọng nhất của Đông

Nam á" và là "một trong những khám phá kinh tế vĩ đại trong lịch sử loài ời" Bán đảo Đông Dơng tiên phong trong việc canh tác lúa nớc ở châu thổ

ng-sông Hồng của Bắc Kỳ, gây ra sự bùng nổ dân số, phải thiên di sang các khuvực lãnh thổ khác và thành lập ra các trung tâm mới canh tác lúa nớc [8,34].Nhật Bản đợc coi là vùng cuối cùng gia nhập vào vòng trồng lúa của châu á.Ngời Nhật Bản đã biết canh tác nhiều loại lúa khác nhau Trong khoảng thờigian đó, ở một số khu vực trên lãnh thổ Việt Nam và Trung Quốc, nhờ cải tạogiống và áp dụng kỹ thuật cấy, nhân dân đã trồng đợc 2 vụ lúa Vào thế kỷ V,Việt Nam đợc ghi nhận là quốc gia biết đến kỹ thuật canh tác 2 vụ / 1 năm

sớm nhất và cũng chính từ Việt Nam, giống lúa ngắn ngày "Champa" đã đợc

gieo trồng ở vùng đồng bằng hạ lu sông Dơng Tử từ đầu thế kỷ XI, thời kỳ đợc

gọi là "cuộc cách mạng xanh của nhà Tống"

Đến thế kỷ XI - XIV, giống lúa Chiêm thuộc giai đoạn cuối hệ Bengalcũng đợc du nhập vào Nhật Bản Đầu thế kỷ XVII, Nhật Bản đã có 177 giốnglúa và đến giữa thế kỷ XIX số giống lúa đã tăng lên 2.326 loại [18; 34]

Nhật Bản - Đông Nam á đều là những quốc gia chịu ảnh hởng của vănhoá Trung Hoa, xoay quanh trục văn minh Nho giáo Trung Hoa Lịch sử cácquốc gia này cũng mang những nét tơng đồng đáng chú ý Nói riêng về ViệtNam, lịch sử đã ghi nhận những chiến thắng quân Mông Nguyên của Nhật

Bản và Việt Nam vào những năm 80 của thế kỷ XIII nh "cuộc chiến đấu chia

lửa của hai dân tộc" [9; 47] Để rồi sau đó, dựa trên tiêu chí "đồng văn, đồng

Trang 29

chủng, đồng châu", các chí sỹ yêu nớc Việt Nam tìm đến Nhật Bản với vai trò

"anh cả da vàng" cầu viện cứu nớc

Ngoài ra xét về quan hệ thơng mại, Nhật Bản và Đông Nam á đều lànhững quốc gia có mối bang giao quốc tế từ sớm, đều là những thị trờng khuvực có tính mở và năng động Từ thế kỷ II, việc buôn bán bằng đờng biển ở

Đông Nam á trở nên tấp nập Nhiều thuyền đã lui tới khu vực này để mua gia

vị, hơng liệu

Có thể thấy rằng, các dân tộc ở Đông Nam á và Nhật Bản tuy có nhiều

điểm khác biệt về điều kiện tự nhiên, thành phần tộc ngời, quá trình hìnhthành dân tộc nhng lại cùng chia sẽ những điều kiện chung của nền kinh tếnông nghiệp trồng lúa nớc và cùng liền kề với đế chế Trung Hoa, nên cónhững mối liên hệ lịch sử văn hoá tạo tiền đề cho việc phát triển mối quan hệbang giao cũng nh quan hệ thơng mại

1.2.2 Vai trò của vơng quốc Ryukyu (Lu Cầu) thế kỷ XIV - XVI

Ngời ta đã từng biết Ryukyu (Lu Cầu) tức tỉnh Okinawa của Nhật Bản ngày nay là một "vơng quốc biển", sớm có quan hệ thơng mại với nhiều quốc

gia trong khu vực Đông Bắc á và Đông Nam á Trong vòng gần 2 thế kỷ, từ

năm 1372 đến 1570, Ryukyu đã du nhập mạnh mẽ vào hoạt động buôn bán ở

châu á và đã góp phần làm nên sự phồn thịnh của kinh tế khu vực Trongkhoảng thời gian đó, hàng trăm thuyền buôn bán từ Ryukyu đã đến các thơng

cảng ở Đông Nam á nh: Ayuthaya, Patani, Malacca, Sumatra, Java Đồng

thời vơng quốc này cũng có nhiều đoàn thuyền đến giao thơng với TrungQuốc, Triều Tiên và Nhật Bản

Về mặt tự nhiên, Ryukyu là một vơng quốc nhỏ hẹp, không thật phongphú về mặt tài nguyên, đất canh tác ít ỏi Tuy nhiên, do nằm ở vị trí giao lộtrên hệ thống thơng mại giữa hai khu vực Đông Bắc á và Đông Nam á, nênRyukyu đã thu nhận đợc nhiều ảnh hởng tích cực và sớm hoà nhập vào hệthống kinh tế này Sang thế kỷ XIV, do đón nhận những điều kiện thuận lợitrong quan hệ quốc tế và có một chính sách đối ngoại năng động nên Ryukyu

đã trở thành một cờng quốc thơng mại trong khu vực

Quan hệ truyền thống của Ryukyu chủ yếu thực hiện đối với khu vực

Đông Bắc á, đặc biệt là hai quốc gia mà Ryukyu có mối quan hệ thân thuộc

là Trung Quốc và Nhật Bản Quan hệ giữa Ryukyu với Trung Quốc đợc khởi

đầu vào năm 1372 bằng việc nhà Minh cử phái bộ sang Chuzan yêu cầu quốc

vơng này phải chịu sự thuần phục và thực hiện chế độ cống nạp Mối quan hệnày trên thực tế làm lợi cho cả hai bên Trung Quốc vừa tăng cờng đợc thế lựccủa hoàng đế và cũng có ý nghĩa trong việc giải quyết những vấn đề đối nội

Trang 30

phức tạp Tập trung đối phó với tàn quân nhà Nguyên cùng nhiều thế lựcphong kiến có khuynh hớng cát cứ khác, nhà Minh cần lu huỳnh, ngựa chiến

và ngựa thồ đợc cung cấp bởi Ryukyu Còn Ryukyu đã "đợc hởng nhiều lợi

ích từ quan hệ ngoại thơng phát triển cũng nh biết bao tặng vật từ một nền văn minh có trình độ cao" [20; 59] Ryukyu đợc nhà Minh cung cấp cho

thuyền đi biển và mọi h hỏng từ phía chuyến đi đều đợc Trung Quốc giúp đỡsữa chữa Qua 54 năm (1385 - 1439) nhà Minh đã cấp cho Ryukyu 30 thuyền

đi biển, nhiều thuyền có trọng tải khá lớn, có thể chở đợc thuỷ thủ đoàn lên tới

350 ngời Nhờ đó mà các thơng nhân Ryukyu mới có thể thâm nhập và vơn

đến những thơng cảng xa ở Đông Nam á

Quan hệ buôn bán với Đông Nam á thực tế từ thế kỷ XV bắt đầu nhộn

nhịp, các thuyền buôn và thờng đồng thời là "sứ thuyền" của Ryukyu đều khởi hành từ Naha, trung tâm kinh tế của Ryukyu để đến Phúc Kiến rồi sau đó men

theo dải bờ biển miền Nam Trung Hoa xuống Đông Nam á Do điều kiện ờng xá xa xôi, kỹ thuật hàng hải lúc đó mà mỗi chuyến đi đến cực nam của

đ-Đông Nam á thờng kéo dài từ 4 - 5 tháng và thờng phải lựa theo con nớc và

điều kiện gió mùa để tránh gặp rủi ro, gió mùa Đông - Bắc thổi từ tháng 8 âmlịch còn gió mùa Tây Nam thì thổi từ tháng 3 đến tháng 7 theo lịch trăng Do

đó, mùa đi biển thuận lợi là vào tháng 3 hoặc tháng 4 năm sau Dới tác độngcủa điều kiện gió mùa, các hoạt động ngoại giao và buôn bán của Ryukyucũng phải vận động trong khuôn khổ của quy luật tự nhiên đó

Tuy nhiên, không vì thế mà quan hệ thơng mại của Ryukyu bị hạn chế

Do theo đuổi chính sách đóng cửa, nhà Minh đã sử dụng Ryukyu nh là cầu nốitrung gian thơng mại giữa Trung Quốc với các nớc để tránh rơi vào một tìnhthế quá cô lập về kinh tế và đối ngoại Nhật Bản trong chiến lợc kinh tế củamình cũng đã sử dụng Ryukyu, với vai trò trung gian thuyền buôn củaRyukyu đến giao thơng với Chơng Châu, Phúc Châu (Trung Quốc), Hakata,

Hyogo và Saikai (Nhật Bản), Pusan (Triều Tiên) đồng thời cũng đến Đại Việt; Ayutthaya, Putani (Thái Lan); Java, Sunda (Inđônêsia), Palembang,

Sumatra (Malaysia); Mallacca và nhiều nớc khác

Hàng hoá mà các thuyền buôn Ryukyu mang đến Đông Nam á gồm

các loại : Lu huỳnh, gốm sứ, lụa, satin, tiền đồng, sắt, thuốc chữa bệnh củaTrung Quốc, kiếm, thơng áo giáp, tranh tờng, quạt, đồ sơn mài và đồng vàngcủa Nhật Bản Trên các "đoàn thuyền trở về phơng Bắc, thơng nhân Ryukyuluôn đem về : Hồ tiêu, dầu lô hội, sừng tê, ngà voi, trầm, san hô, thuỷ ngân, datrăn, da cá sấu, động vật quý hiếm, gỗ đinh hơng, gỗ nhuộm vải, nhạc cụ vàsản phẩm thủ công khác của Đông Nam á và Nam á Nhiều sản phẩm đợc a

Trang 31

chuộng ở thị trờng Đông Bắc á và bán với giá thu lãi đến 1500 lần Từ đầu thế

kỷ XV, thuyền buôn Nhật Bản đã đem theo những hàng hoá nh: Đồng, lu

huỳnh, kiếm đến cảng Nahu của Ryukyu để mua về các sản vật của Đông Nam á "sản vât phơng Nam nhập về Ryukyu (Nhật Bản) chủ yếu là từ Ryukyu" Ryukyu trở thành "ngời thơng nhân lớn" đóng vai trò trung chuyển

hàng hoá

Trong số các quốc gia Đông Nam á, Siam đợc coi là trung điểm củacác đoàn thơng thuyền và sứ thần Ryukyu Năm 1409 chính thức thiết lậpquan hệ, từ 1358 – 1570 tổng số thuyền của Ryukyu đến Siam có thể lên đến

150 chiếc [20; 61] Quan hệ thơng mại với Siam đợc thiết lập sớm nhất đồngthời cũng duy trì thờng xuyên và lâu dài nhất trong tất cả các quốc gia Đông

Nam á Khảo cứu thông tin trong “Lịch sử đại bảo án” (Rakidaihoan) qua

công trình của A.Kobata và M.Matsuda chúng ta thấy cuốn sách đã tập trunggiới thiệu những văn bản viết về mối quan hệ của Ryukyu với các quốc gia ở

Đông Nam á trong thời gian từ 1425 - 1570 Trong đó, thuyền Siam đếnRyukyu có 6 chuyến từ (1480 - 1481) Năm 1431 đón nhận hai thuyền từ

Palembang; 5 chuyền từ Malacca (1469 - 1481) chính quyền Shuri đã cử 53

chuyến đến Siam (1425 - 1470); 6 chuyến đến Java (1430 - 1442) ; 8 chuyến

đến Rulembang (1428 - 1440_ chuyến đến Malacca (1463 - 1511); 3 chuyến

đến Sumatra (1463 - 1467và 1468) ; 8 chuyến đến Patani (1515 - 1543) Trên cơ sở kết quả khảo cứu Rekidihoan và một số nguồn t liệu khác, nhà nghiên cứu Nhật Bản Takarakurayoshi đã đa ra bảng thống kê sau:

Số lợng các sứ đoàn ngoại thơng Ryukyu đến Đông Nam á

Nguồn : Tacara Kurayoshi - Vơng quốc Ryukyu và thơng mại quốc tế, theo :

J.Kneiner, Sources of Ryukyuan History and culture in European Collections

Qua xem xét nội dung và mục đích của mỗi chuyến đi, có thể thấy các

đoàn thuyền của Ryukyu đến Đông Nam á luôn đảm đơng đồng thời 2 tráchnhiệm: ngoại giao và kinh tế Nên hàng hóa đợc mang theo đều có hai loại:Dùng để buôn bán và dùng để làm quà biếu Đối với Đại Việt, cũng theo

Rekidaihoan , chính quyền Shuri chỉ cử duy nhất một phái đoàn ngoại giao

đến An Nam vào năm 1509 mang theo 10.000 cân lu huỳnh làm quà biếu, xin

đặt quan hệ với nhà Lê

Trang 32

Sau một thời kì có những quan hệ giao thơng mật thiết với một số quốcgia và khu vực lãnh thổ Đông Nam á, đến cuối thế kỉ XVI quan hệ của vơngquốc Ryukyu với các nớc trong khu vực bắt đầu suy giảm Đến 1611, cácthuyền buôn Ryukyu không còn khả năng tiến xuống vùng biển phiá Nam đợcnữa Nguyên nhân cơ bản của tình trạng đó cần phải xem xét từ nhiều khíacạnh trong nớc và quốc tế Mặc dầu Ryukyu vẫn duy trì đợc sự phát triển nhất

định về kinh tế nhng tình hình chính trị của vơng quốc bắt đầu có những dấuhiệu bất ổn định Sau một thời kỳ phát triển phồn thịnh, đến cuối thế kỉ XVInền kinh tế của vơng quốc đã có một số biểu hiện suy thoái Đất nớc thiếunguồn lao động, chịu sự phụ thuộc về chính trị với Trung Quốc và Nhật Bản

Về kinh tế, Ryukyu là một quốc đảo, không có nền sản xuất hàng hóa thực sựphát triển ngõ hầu có thể làm cơ sở cho hoạt động thơng mại quốc tế Chonên, trớc sức cạnh tranh của các cờng quốc kinh tế, Ryukyu đã sớm mất đi vịthế kinh tế của mình Sự thâm nhập ngày càng mạnh mẽ của thơng nhânTrung Hoa và Nhật Bản đến vùng biển phía Nam (khu vực Đông Nam á)cũng khiến Ryukyu mất đi những lợi ích thơng mại Những thay đổi đó khiếncho vai trò trung gian thơng mại của Ryukyu giữa hai khu vực Đông Bắc á và

Đông Nam á trở nên mờ nhạt

Bị tách khỏi một thị trờng kinh tế thơng mại sôi động, phải quay về vớithế giới Đông Bắc á, vị thế kinh tế suy giảm nên Ryukyu cũng mất dần đi vịthế độc lập về ngoại giao Và cuối cùng, dới những âm mu và tham vọngquyền lực, Ryukyu bị Nhật Bản thôn tính và trở thành một đảo trong lãnh thổNhật Bản vào cuối thế kỷ XVIII

Nh vậy, qua gần hai thế kỷ, tận dụng điều kiện quốc tế thuận lợi cùngvới năng lực quản lý và tính chủ động sáng tạo, Ryukyu đã vơn lên trở thành

một “đối tác” thơng mại quan trọng trong hệ thống thơng mại châu á.

Ryukyu đã đóng vai trò trung gian kinh tế cho Trung Quốc và Nhật Bản đếnvới khu vực Đông Nam á, và cũng chuẩn bị những tiền đề quan trọng cho việcthiết lập một hệ thống thơng mại giữa Nhật Bản và Đông Nam á vào thế kỷXVI - XVII

“Có thể khẳng định rằng, thơng nhân Ryukyu đã đóng vai trò rất có ý

nghĩa trong sự hng thịnh của các trung tâm kinh tế lớn ở Đông Nam á thế kỷ

XV - XVI” [21;59]

1.2.3 “Nhân tố Trung Hoa”

Vào thế kỷ XV - XVII, quan hệ thơng mại quốc tế của Nhật Bản luônchịu sự tác động của tình hình chính trị khu vực.Trung Hoa đợc coi là một thịtrờng truyền thống và có vị trí quan trong nhất của nền thơng mại Nhật Bản

Trang 33

Nên dù chính quyền Bắc Kinh đã có chủ trơng hạn chế thơng mại với NhậtBản thì Trung Hoa vẫn giữ vai trò nhất định đối với nền kinh tế thơng mại ởthế kỷ XVI - XVII Vai trò đó đợc thể hiện chủ yếu ở các mặt sau đây:

Thứ nhất, Trung Hoa là thị trờng truyền thống trong quan hệ thơng mạicủa cả Nhật Bản lẫn Đông Nam á

Thứ hai, nh một yếu tố ngoại sinh, Trung Hoa đóng vai trò tiền đề đểNhật Bản chuyển hớng quan hệ thơng mại đến khu vực Đông Nam á

ở góc độ thứ nhất, chúng ta thấy rằng : Ngay từ buổi đầu xác lập chế độphong kiến, các triều đại Trung Hoa đã chú ý đến việc khuếch trơng thế lực và

đã tiến hành hai phơng thức : Chiến tranh xâm lợc và thực hiện nền “kinh tế

v-ơng quyền” với “chế độ nạp cống” Trên thực tế “chế độ nạp cống” này đã có

mối quan hệ với việc buôn bán giữa các quốc gia thần thuộc Trung Hoa Theo

GS Momoki Shiro (Trờng ĐH Osaka, Nhật Bản ) thì “mạng lới buôn bán ở

Đông á và khu vực biển Đông đã đợc kết nối một cách chặt chẽ với hệ thống quan hệ thần thuộc đối với Trung Quốc” Theo đó, tất cả các sứ đoàn đến

Trung Quốc đều đợc coi là những sứ bộ của quốc gia ch hầu “Thực tế thì

những chuyến đi nh vậy thờng có tính hai mặt mà nguồn lợi luôn ở về phía các nớc ch hầu” Vì quà tặng nhận đợc thông thờng nh tơ lụa, gốm sứ và các

loại sản vật đặc biệt khác của Trung Quốc thờng có giá trị cao hơn nhiều.Ngoài ra, trong thành viên sứ đoàn còn có cả thơng nhân độc lập đợc phépbuôn bán ở kinh đô Trung Hoa cũng nh tại những địa điểm đến buôn bán cố

định khác Nh vậy, họ có thể thu đợc những nguồn lợi rất lớn Tất cả điều đócho thấy, vị trí thần thuộc tự nó cũng có sức hấp dẫn riêng đến những quốc gia

xa xôi không có nhu cầu về chính trị nhng vẫn cử sứ bộ đến Trung Quốc vớimục tiêu chủ yếu là tìm cơ hội buôn bán Mặt thứ hai, bản thân các hoàng đế -

mà không chỉ các hoàng đế, ngay cả các cận thần, quan lại triều đình và quanlại cấp thấp ở địa phơng cũng triệt để lợi dụng cơ hội đó để thực hiện các họat

động buôn bán phi chính thức Chế độ cống nạp đó cũng cho phép các phái

đoàn ngoại giao Trung Quốc đến các quốc gia ch hầu để thực hiện việc buônbán Hệ thống thơng mại qua quan hệ bang giao có tầm quan trọng đến mức

mà ngay cả hoàng đế Vĩnh Lạc của nhà Minh cũng đã sử dụng nó để thiết lập

sự độc quyền của triều đình về thơng mại Có thể thấy, thời Đờng - Nguyênchế độ cống nạp đã trở thành nền tảng cho việc xây một hệ thống mang tính

phổ biến về thơng mại đặt dới sự quản lý của chính quyền Trung ơng Từ "chế

độ nạp cống” đã hình thành một mạng lới “giao hảo” của một số quốc gia khu

vực Đông Nam á Chính sách “Đại Việt sử ký toàn th” đã chép : Thơng nhân

Java, Lopbari (miền trung Thái Lan ngày nay) và Xiêm La (Ayuthaya) đã đến

Trang 34

buôn bán với Vân Đồn vào 1149 và 1184 Ngời Việt buôn bán ở Campuchiavào cuối thế kỷ X, ở Java vào giữa thế kỷ XIV (Theo Hall : [8;173;246]).Vùng Nghệ Tĩnh là một khu vực buôn bán giàu có của ngời Chàm, ngời Hoa,ngời Khơme hội tụ về.

ở góc độ thứ hai, nh đã từng đề cập ở phần trớc, do tác động bởi chínhsách đóng cửa của Trung Hoa Nhật Bản đã tìm xuống phơng Nam để thỏamãn nhu cầu buôn bán

Trở lại vấn đề, năm 1557 nhà Minh ra lệnh cấm thơng nhân TrungQuốc buôn bán với Nhật Bản Quyết định này đa ra nhằm để phòng thủ đất n-

ớc trớc những âm mu và tham vọng của Nhật Bản đối với vùng lãnh thổ châu

á rộng lớn và đầy tiềm năng của thị trờng khu vực Nhà Minh theo đuổi mộtchính sách đối ngoại hết sức thận trọng

Nhng với u thế của quốc gia có tiềm lực kinh tế và truyền thống buônbán lâu đời, hoạt động thơng mại vẫn diễn ra mạnh mẽ trong giới thơng giaTrung Quốc hớng về thị trờng Đông Nam á Các biện pháp ngăn chăn củatriều đình Bắc Kinh tỏ ra không có hiệu lực thiết thực Trớc hiện trạng đó, từnăm 1567 trở đi nhà Minh đã phải nới lỏng chính sách hạn chế ngoại thơng,cho phép Hoa thơng đợc giao lu buôn bán Tuy nhiên vẫn phong tỏa quan hệgiao lu với Nhật Bản Điều này đã tác động rất lớn đến tình hình buôn bán vớiNhật Bản (chính quyền Bắc Kinh nghiêm cấm xuất khẩu các mặt hàng NhậtBản đang cần nh muối kali, đồng và sắt, là nguyên liệu thiết yếu để chế tạo vũkhí và thiết bị quân sự )

Để kiểm soát hoạt động buôn bán và nhằm khẳng định mối quan hệ

chính thức với các nớc, nhà Minh đã ban hành chế độ cấp giấy phép (wen

-yin) cho thuyền buôn ra nớc ngoài Thuyền Trung Hoa đã đến giao thơng tại

những địa điểm nh : Bontum, Siam, Palembang, Java, Malacca, Campuchia,

Sunda, Vân Đồn, Hội Thong, Phục Lễ, Phố Hiến, Thanh Hà, Hội An, Nớc Mặn cho đến cuối thế kỷ XVI, hoạt động của Hoa thơng phát triển rất thịnh

đạt

Đứng trớc tình hình đó, giới cầm quyền Nhật Bản cũng đã ban hành chế

độ “Châu ấn thuyền”, cấp giấy phép cho các thơng gia hớng về vùng biển phía

Nam để hoạt động buôn bán Đông Nam á trở thành khu vực hội tụ của nhiềuvùng buôn bán : từ Trung Quốc, từ Nhật Bản, từ Tây Nam á và các thuyềnbuôn phơng Tây

Trong khi nghiên cứu về quan hệ thơng mại của Nhật Bản và Đông

Nam á, chúng ta không thể bỏ qua “nhân tố Trung Hoa” với vai trò là nớc

trung gian thơng mại Có thể xem xét Trung Quốc, Đông Nam á, Nhật Bản

Trang 35

nh là ba điểm của một chu trình vòng tròn thơng mại, trong đó : Trung Quốc

đợc xem là trung gian giữa Nhật Bản với Đông Nam á và Đông Nam á cũng

đợc xem là trung gian giữa Trung Quốc và Nhật Bản Thực thi chính sách cấm

hải (hai chin) ở Trung Quốc và tỏa quốc (sakoku) ở Nhật Bản, trong khi nhu

cầu về giao thơng thơng vẫn không ngừng đợc tăng lên, Đông Nam á nghiễmnhiên trở thành cầu nối, chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trên con đờng giao th-

đợc duy trì Hàng năm có khoảng 30 thuyền buôn Trung Hoa (có khi lên đến

60 thuyền) từ các thơng cảng Đông Nam á và cả từ Trung Quốc đến Nhật

Bản Năm 1639, năm mà chính sách “tỏa quốc” (Sakoku) của Nhật Bản chính

thức thức đợc thực hiện, vẫn có tới 93 thuyền đến Nhật Bản và hai năm sau,năm 1641 số thuyền đến Nagasaki đã tăng lên đến 97 chiếc Giá trị hàng hàng

hóa buôn bán với thơng nhân Trung Hoa đạt khoảng 9.500 kan (35625 kg) nhng đến năm 1646 đã vợt lên đến 17.000 kan Số lợng tơ sống buôn bán với

Hoa thơng, bao gồm cả số tơ nhập về từ Đông Nam á, vào năm 1640 là

90.000 catties, đến 5 năm sau lên đến 130 000 catties.

Hàng hóa mà các thuyền buôn từ Đông Nam á (của thơng nhân TrungHoa và Đông Nam á) đa đến Nhật Bản là các loại lâm, thổ, hải sản Năm

1658, thuyền buôn từ Siam đến Nagasaki đã chở theo 160 000 kin (96 tấn) gỗ

sappan; 26,2550 kin (16 tấn) hạt tiêu; 2670 bộ da hơu và 3400 bộ gia cá sấu.

Các thuyền buôn Trung Hoa đến Nhật Bản vào tháng 6 hoặc tháng7, đến

Đông Nam á vào khoảng tháng Giêng hoặc tháng 2 và từ Nhật Bản một sốthuyền này tiến thẳng xuống Đông Nam á

Theo số liệu thống kê của Yoneo Ishii, từ năm 1674 đến 1724 có tất cả

2002 chiếc thuyền buôn từ Trung Quốc và 283 chiếc thuyền buôn từ ĐôngNam á đến Nhật Bản Cũng trong thời gian này, số thuyền từ Siam,Campuchia, và quần đảo Malaysia đến Nhật Bản là 190 chiếc trên tổng số

283 thuyền đến Nhật Bản Cũng cần phải chú ý rằng, hầu hết thuyền buônTrung Hoa đến Nhật Bản trớc 1683(1) là từ vùng Đài Loan nơi chính quyền họTrịnh đóng giữ chứ không từ lục địa Trung Hoa Số liệu thống kê cũng chothấy, có đến 30 - 40 % số thuyền buôn Trung Hoa đến Nhật Bản là từ các nớc

1() Thời điểm nhà Thanh nắm đợc quyền kiểm soát Đài Loan

Trang 36

Đông Nam á vì thuyền buôn từ lục địa khó có thể quan hệ trực tiếp với nớcnày.

Năm 1684, sau khi nhà Thanh nắm đợc quyền kiểm soát Đài Loan, đã

đồng thời bãi bỏ chính sách cấm hải Hoạt động thơng mại diễn ra sôi độnghơn Hàng hóa vẫn đợc luân chuyển đến từ Trung Quốc đến Đông Nam á lênNhật Bản và ngợc lại Thị trờng Đông Nam á vẫn rất hấp dẫn cho các thơnggia Nhật Bản và Trung Quốc Số hàng hóa nhập vào của Nhật Bản từ ĐôngNam á qua các thơng gia không ngừng tăng lên Số hàng Nhật Bản xuất ra

chủ yếu là đồng, sắt, lu huỳnh, bạc, hải sản cũng tăng lên, trong đó lợng

đồng tăng cao nhât Trong số đó có khoảng 50% lợng đồng chở về TrungQuốc số còn lại đợc Hoa thơng đem đến thị trờng Đông Nam á Ví dụ, trong

tổng số 3.345.000 catties đồng xuất khẩu vào năm 1687 thì có tới 2.960.000

catties, tức là khoảng 75% đồng Nhật Bản đợc đem đến Đài Loan, Đàng

Trong, Campuchia, Thái Lan, Patani và Batavia

Nh vậy, với t cách là những thị trờng rộng lớn giàu tiềm năng, cả TrungQuốc và Đông Nam á đều giữ một vị trí hết sức quan trọng trong chính sách

đối ngoại của Nhật Bản Trung Quốc với vai trò là cầu nối làm tăng khả năngphát triển quan hệ buôn bàn giữa Đông Nam á với Nhật Bản ở thế kỷ XVI -XVII

1.3 Nhật Bản và Đông Nam á trớc sự xâm nhập của các cờng quốc phơng Tây.

1.3.1 Quá trình xâm nhập và ảnh hởng của nó đến đời sống kinh tế chính trị ở Nhật Bản và Đông Nam á của các cờng quốc phơng Tây.

-Trên bình diện quốc tế, những cuộc phát kiến địa lý ở thế kỷ XV - XVII

đã đa lại hai hệ quả quan trọng : Một là mở đầu cho quá trình tích lũy nguyênthủy t bản, chủ nghĩa t bản manh nha ra đời và dần xác lập quan hệ kinh tế;hai là mở đờng cho các cờng quốc phơng Tây tìm sang phơng Đông vì nhữnglợi ích kinh tế khổng lồ Cũng ở thời điểm thế kỷ XV chế độ phong kiến châu

á bắt đầu bớc vào giai đoạn khủng hoảng Sự xâm nhập của các cờng quốcphơng Tây có phần thuận lợi hơn

Đối với Nhật Bản:

Ngày 23.09.1543, ba thơng nhân Bồ Đào Nha là Antonio da Mota,Francico Zeimeto và Antonio Peixoto trên đờng từ Ayutthaya, thủ đô của v-

ơng quốc Siam đến Trung Hoa đã bị bão thổi dạt vào Tenegashima Một cách

định mệnh, ba thơng nhân đó đẫ trở thành những “sứ giả” châu Âu đầu tiên

đặt chân đến miền đất xa lạ này Quan hệ buôn bán đợc thiết lập ngay sau hainăm, những chuyến tàu buôn châu Âu đã ghé vào hải phận Nhật Bản

Trang 37

So với Bồ Đào Nha thì Tây Ban Nha là nớc đến Nhật Bản muộn hơn.Năm 1582 lần đầu tiên tàu buôn Tây Ban Nha đã đến đợc Kyushu, Nhật Bản.Theo chân ngời Bồ, các nớc phơng Tây khác cũng đổ xô hớng về phơng

Đông, đặc biệt là vùng Đông Bắc á và Đông Nam á Năm 1600, cùng vớiviệc Tokugawa Ieyasu dành đợc quyền lực thực tế ở Nhật Bản, một chiếc tàubuôn Hà Lan mang tên Lief de bị đắm ở bờ biển Bungo Hoa tiêu của chiếctàu này là một ngời Anh - William Adams dạt vào đất Nhật và đợc Ieyasu tiếp

đãi tử tế Nh một dự báo kém may mắn cho Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha,năm 1602, công ty Đông ấn Hà Lan (Vereenigde Oost Indische Compagnie,VOC) ra đời và đã thiết lập đợc mạng lới buôn bán khắp Nhật Bản, cạnh tranhquyết liệt với Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha Hơn nữa, ngời Hà Lan lại đợc chínhquyền Edo hậu thuẫn Anh cũng là quốc gia hết sức quan tâm đến việc thiếtlập và mở rộng quan hệ kinh tế với phơng Đông Năm 1600, công ty Đông ấnAnh đợc thành lập và đến 1613 tàu buôn của Anh đã thiết lập cơ sở thơng mại

ở Nagasaki - thơng cảng quốc tế lớn nhất của Nhật Bản Pháp, Đan Mạchcũng hớng trọng tâm thơng mại đến hai thị trờng lớn ở Đông Bắc á là TrungQuốc và Nhật Bản Quá trình thâm nhập vào thị trờng Nhật Bản của các cờngquốc phơng Tây trải qua tơng đối ngắn Một phần do chính sách khuyến th-

ơng của Nhật Bản, do điều kiện địa lý thuận tiện trong giao thông hàng hải.Mặt khác do nhu cầu tìm kiếm hàng hóa lớn vì những nguồn lợi hứa hẹn thu

đợc đã làm cho giới thơng nhân quyết tâm khám phá về vùng đất có tên là

“Zipangu” chứa đầy vàng bạc.

Đã có nhiều nớc phơng Tây đặt quan hệ thợng mại với Nhật Bản và trênthực tế những chuyến tàu buôn trao đổi hàng hóa đã diễn ra Nhng đáng lutâm nhất là của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Hà Lan, mà quan hệ giữa họvới Nhật Bản đã để lại nhiều hệ quả có tác động nhất định đến thơng mạiNhật Bản - Đông Nam á

Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chú ý đến ba mặt cơ bản sau :Thứ nhất, quá trình mở rộng buôn bán đi kèm với việc truyền bá đạo Kitogiáo Đây là một vấn đề nhức nhối, đầy nhạy cảm trong đời sống chính trị ởnhiều quốc gia châu á không riêng gì Nhật Bản Buổi đầu vào thời Oda

Nobunaga, sự truyền giáo đợc tiến hành tơng đối “thuận buồm xuôi gió” Các

giáo sĩ phơng Tây đợc chính quyền trung ơng ủng hộ, đặc biệt là cá nhân OdaNobunaga Điều này không khó để giải thích trong điều kiện chính trị nớcNhật lúc đó Bản thân Nobunaga hiểu đợc mối quan hệ giữa truyền giáo vàngoại thơng nên đã lợi dụng nó nhằm phục vụ cho mục đích kinh tế và chínhtrị của mình Thông qua việc phát triển ngoại thơng, quân đội của ông đợc

Trang 38

cung cấp nhiều loại vũ khí lợi hại và có khả năng đánh bại mọi kẻ thù nguyhiểm Hơn nữa, trong thời gian này sự xuống cấp của Phật giáo đã làm chongời dân có cảm tình với Thiên chúa giáo Những ngời Nhật Bản đầu tiên đợctruyền giáo là những ngời nông dân nghèo ở miền Tây, nơi mà cuộc sống khókhăn hơn nhiều so với các tỉnh gần kinh đô Họ đã tìm đợc nguồn an ủi từgiáo lý Thiên chúa.

Tuy nhiên, thời gian đó không kéo dài đợc bao lâu Cuối thế kỷ XVI,chính quyền Nhật Bản ra sắc lênh cấm đạo Thiên chúa Sự thay đổi trongchính sách tôn giáo rõ ràng cũng mang tính chất chính trị Đằng sau sự truyềngiáo là cả một âm mu phản loạn chống triều đình, đợc biểu hiện bằng việc cácgiáo sĩ đã kích động cho những lãnh chúa miền Tây nổi dậy phản đối Mạcphủ

Nhng do mối quan hệ chặt chẽ giữa tôn giáo - ngoại thơng nên thời kỳ

đầu việc cấm đạo tuy có diễn ra nghiêm khắc nhng không quá dữ dội Cũng

có quan điểm cho rằng do ngời đứng đầu chính quyền là Hideyoshi luôn giữthái độ sáng suốt và khoan dung Sang thời kỳ nắm quyền của TokugawaIeyasu, vấn đề cấm đạo trở nên nhức nhối hơn Mâu thuẫn giữa hai dòngtruyền giáo : dòng Tên của Tây Ban Nha và dòng Francican của Bồ Đào Nhatrong việc tranh giành tín đồ đã làm cho xã hội căng thẳng Các giáo sỹ khôngcòn giữ thái độ từ tốn khoan dung mà tiến hành giảng đạo bất hợp pháp, phảnnguyên tắc của chính quyền Lần này, Ieyasu đã sử dụng biện pháp cơngquyết tuyệt đối bằng việc năm 1615 ra lệnh trục xuất các nhà truyền đạo vàcấm đạo “Gia - tô” tại Nhật Bản Và sao đó, năm 1618, một cuộc tàn sát giáodân trên diện rộng đã xảy ra Tình hình đó vẫn kéo dài cho đến 1639, Mạc

phủ buộc phải thi hành chính sách đóng cửa (sakoku) nhằm mục đích giữ gìn

an ninh quốc gia

Trong cuộc tiếp xúc, xung đột Đông - Tây, đạo Thiên chúa đã đợc sửdụng, chào đón nhng rồi chính tôn giáo này cũng đã bị tẩy trừ ra khỏi NhậtBản bởi sự hiện diện của nó đợc coi là gắn kết chặt chẽ với những nguy cơ đedọa tới khuynh hớng thống nhất và an ninh của Nhật Bản

Chính sách đóng cửa của Nhật Bản trên thực tế đã ảnh hởng rất lớn đếnquan hệ thơng mại Chính quyền cấm buôn bán với ngời Tây Ban Nha, Bồ

Đào Nha và chỉ giữ lại quan hệ có kiểm soát với 4 nớc là Triều Tiên, TrungQuốc, Hà Lan, Ryukyu và khu vực Đông Nam á Vai trò của ngời Hà Lanngày càng tăng lên

Nhìn chung so với các nớc phơng Tây khác, số phận của Hà Lan cóphần may mắn hơn Phần dó ngời Hà Lan đã cung cấp vũ khí cho Ieyasu đánh

Trang 39

thắng kẻ thù, phần nữa ngời Hà Lan không theo Cơ đốc giáo (2) nên đã chiếmcảm tình của giới cầm quyền Nhật Bản Ngời Hà Lan cùng với VOC là tácnhân trung gian quan trọng trong mối giao thơng giữa Nhật Bản với ĐôngNam á.

Thứ hai, ngời Nhật Bản đã tiếp thu đợc nền học vấn và kỹ thuật phơngTây một cách khéo léo, linh hoạt Nh đã từng đề cập, ngời Nhật Bản có tốchất thông minh, ham học hỏi và luôn chủ động sáng tạo để tiếp thu cái mới

Từ thế kỷ XVI, dới ảnh hởng của khóa học kỹ thuật phơng Tây, võ nghệ cao

cờng và kỹ thuật điều luyện của Samurai trong việc sử dụng gơm, cung, nỏ

không còn là yếu tố căn bản quyết định thành bại của cuộc chiến tranh nữa.Súng trở thành vũ khí cực kỳ lợi hại trong tay các chiến binh Yếu tố này

đóng vai trò quan trọng trong cuộc tái thiết thống nhất đất nớc của các lãnhchúa Từ đó, ngời Nhật Bản biết học cách chế tạo súng, cách đóng tàu đi biểncủa ngời phơng Tây Đầu thế kỷ XVII, dới sự giám sát của một ngời Anh làWillam Adam, chiếc tàu theo kiểu hoàn toàn châu Âu đầu tiên đợc đóng ởNhật Bản Về sau ngời Nhật đóng đợc nhiều con tàu nh vậy Điều đó cải thiện

đợc giao thông hàng hải và kinh nghiệm đi biển của thơng nhân Nhật Bản, họmới có thể cập bến ở những thơng cảng xa xôi ở Đông Nam á

Nền học vấn phơng Tây cũng đợc truyền bá vào Nhật Bản, làm giấy lênmột trào lu văn hóa mới : Văn hóa thị dân Dòng văn hóa này đã có tác độngnhất định trong việc làm biến đổi kết cấu xã hội và những quan niệm cũ, tạo

điều kiện cho phong trào “Hà Lan học” nở rộ sau này.

ở mặt thứ ba, chúng tôi xem xét sự tác động qua quá trình thâm nhập

đó ở vai trò là tác nhân thơng mại trung gian Cũng có thể nhìn yếu tố này

th-ơng tự đối với Trung Quốc và Ryukyu trong quan hệ với Nhật Bản và ĐôngNam á Chúng ta biết, đối với các nớc châu Âu, mục tiêu đầu tiên và cuốicùng cao nhất ở phơng Đông vẫn là nguồn lợi về kinh tế Từ việc đạt đợc quan

hệ ngoại giao, các cơ sở thơng mại trên lãnh thổ Đông Nam á, Nhật Bản,

th-ơng nhân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp …bắt đầu tiến hành cácbắt đầu tiến hành cáchoạt động buôn bán

Thời gian nửa cuối thế kỷ XVI, thuyền buôn của hai nớc Tây Ban Nha

và Bồ Đào Nha đến buôn bán ở Nhật Bản Trong chu trình từ Goa, Macao đếnNhật Bản, các thuyền buôn thờng ghé lại Đông Nam á để cất thêm hàng, mua

về tơ lụa, các loại lâm, hải sản để bán trên thị trờng Nhật Bản Lợi nhuận thu

đợc là rất lớn, thờng lên đến 70 - 80% thậm chí là 100% Ngời Bồ Đào Nha,

2() Ngời Hà Lan theo đạo Tin lành

Trang 40

Tây Ban Nha cũng mua bạc, vàng để xuất sang thị trờng Đông Nam á vànhận đợc những món lợi rất cao.

Sang thế kỷ XVII, trớc nhiều biến động của tình hình chính trị trong

n-ớc Mạc phủ ban hành chính sách đóng cửa với ngời phơng Tây và chỉ cho HàLan buôn bán Đây là một chính sách khôn khéo, bởi vì Bồ Đào Nha và TâyBan Ban Nha vào thế kỷ XVI - XVII đã bị liệt vào hàng những n ớc lạc hậu ởTây Âu Hà Lan lại thuộc vào hàng những nớc có nền vắn hóa phát triển cao ởchâu Âu, thậm chí trong nhiều lĩnh vực khoa học - kỹ thuật giữ vị trí hàng đầu

từ sức mạnh quyền lực của nền cộng hòa non trẻ Khi thơng nhân Bồ Đào Nha

và một số nớc khác bị gạt ra khỏi thị trờng Nhật Bản, toàn quyền Hà Lan ởBatavia đã yêu cầu công ty Đông ấn cử ngay thuyền buôn đến Đàng Ngoài,

Đàng Trong, Campuchia, Siam để dành lấy nguồn hàng và vị thế trongquan hệ buôn bán với Nhật Bản ở Nagasaki, ngời Hà Lan đã cho xây dựngthơng quán tại Deshima để tiến hành buôn bán Song song với quá trình xâmnhập trên, các thơng điếm Hà Lan đã đợc thành lập ở nhiều nớc châu á Tạikhu vực châu á, thơng điếm của Hà Lan ở Batavia (Inđônêsia) và Formosa(Đài Loan) đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong quan hệ giữa Hà Lan vàNhật Bản

Hai trong những mặt hàng xuất khẩu chính của Nhật Bản đợc tàu buôn

Hà Lan chuyển xuống khu vực phía Nam là gốm sứ và tiền vàng Mặt hàng

mà thơng nhân Hà Lan đen bán tại Nhật Bản đợc sản xuất từ rất nhiều khuvực khác nhau : châu Âu, châu Phi, Trung Đông và châu á Sản phẩm trao

đổi bao gồm tơ sống, lụa bông, lông thú, đồng hồ, thuốc, ống nhòm, nhung

h-ơu, da cá sấu, sâm, sừng tê, trầm, hồ tiêu, kẽm, thiếc, sắt thỏi, ngọc, gơng,thủy tinh pha lê, dày dép, kim khâu [14;116]

Trong điều kiện có nhiều thuận lợi đó Hà Lan đã hầu nh làm chủ đợcthị trờng Nhật Bản Hàng năm, thơng nhân nớc này có thể thu đợc nguồn lợi

từ 400.000 đến 500.000 gulden nhng có năm thu tới khoảng 1.000.000

gulden Thu nhập của VOC ở Nhật Bản đã vợt trội hơn bất cứ một cơ sở thơng

mại nào của Hà Lan ở châu á

Ngời phơng Tây mở rộng hoạt động buôn bán với Nhật Bản ở các thơngcảng lớn là Nagasaki, số lợng tàu thuyền đến buốn bán trung bình trên 7 chiếc/ năm (Hà Lan nhiều nhất, trung bình 7,312 chiếc / năm) và lợi nhuận mà họthu đợc từ thị trờng Nhật Bản luôn đạt trên 50% tổng giá trị thơng mại với ph-

ơng Đông Ví dụ : Từ 1641 - 1649 là 49%

Từ 1650 - 1659 là 68%

Từ 1660 - 1669 là71%

Ngày đăng: 18/12/2013, 22:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn ánh (2003), ảnh hởng của văn hoá phơng Tây ở Nhật Bản (thời kỳ 1543 - 1867), kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đông á - Đông Nam á:Những vấn đề lịch sử hiện tại”, Trờng ĐH KHXH & NV, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: ảnh hởng của văn hoá phơng Tây ở Nhật Bản (thời kỳ 1543 - 1867), "kỷ yếu Hội thảo khoa học “"Đông á - Đông Nam á: "Những vấn đề lịch sử hiện tại
Tác giả: Nguyễn Văn ánh
Năm: 2003
2. Đỗ Bang, Đỗ Quỳnh Nga (2002), Ngoại thơng Đàng Ngoài thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1914 - 1635), Nghiên cứu lịch sử, số 6/2002, Tr. 30 - 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại thơng Đàng Ngoài thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1914 - 1635)
Tác giả: Đỗ Bang, Đỗ Quỳnh Nga
Năm: 2002
4. Đô thị cổ Hội An (1991), UBQG Hội thảo quốc tế về đô thị cổ Hội An, Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị cổ Hội An (
Tác giả: Đô thị cổ Hội An
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1991
7. Vũ Minh Giang(2003), So sánh văn hoá Đông Bắc á và Đông Nam á. Trờng hợp Việt Nam và Nhật Bản, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Đông á -Đông Nam á: những vấn đề lịch sử và hiện tại” trờng ĐHKHXH & NV,§HQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh văn hoá Đông Bắc á và Đông Nam "á. Trờng hợp Việt Nam và Nhật Bản," Kỷ yếu hội thảo khoa học “Đông á - Đông Nam á: những vấn đề lịch sử và hiện tại
Tác giả: Vũ Minh Giang
Năm: 2003
9. Nguyễn Văn Hồng, Tính chủ động và lực hấp dẫn Nhật Bản trong lịch sử quan hệ Nhật - Việt,Kỷ yếu hội thảo khoa học “Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam: Những vấn đề lịch sử và hiện tại”, Trờng ĐHKHXH & NV,§HQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chủ động và lực hấp dẫn Nhật Bản trong lịch sử quan hệ Nhật - Việt,"Kỷ yếu hội thảo khoa học “Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam: Những vấn đề lịch sử và hiện tại
10. Phạm Hoàng Hng, Châu ấn thuyền trong thời đại thơng mại trên biển ở châu á thế kỷ XVI - XVIII, kỷ yếu hội thảo khoa học: “Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam: Những vấn đề lịch sử và hiện tại” trờng ĐHKHXH & NV,§HQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châu ấn thuyền trong thời đại thơng mại trên biển ở châu á thế kỷ XVI - XVIII", kỷ yếu hội thảo khoa học: “Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam: Những vấn đề lịch sử và hiện tại
11. Nguyễn Thừa Hỷ (1993), Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XVII - XVIII- XIX, Hội thảo sử học Việt Nam, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XVII - XVIII- XIX
Tác giả: Nguyễn Thừa Hỷ
Năm: 1993
12. Nguyễn Văn Kim (1997), Vị thế của tầng lớp Samurai ở Nhật Bản thời kỳ Tokugawa, Nghiên cứu Nhật Bản số 1 (9) 1997, Tr. 22- 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị thế của tầng lớp Samurai ở Nhật Bản thời kỳ Tokugawa
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Năm: 1997
13. Nguyễn Văn Kim (1998), Nhật Bản cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII qua con mắt của giáo sỹ Allesam clro Valiofnono (Từ sự phân tích tác phẩm “The Japanese and The Jesuit” của TS. J.F Moran) , Nghiên cứu lịch sử số 2, (297) 1998, Tr.56 - 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII qua con mắt của giáo sỹ Allesam clro Valiofnono" (Từ sự phân tích tác phẩm “The Japanese and The Jesuit
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Năm: 1998
14. Nguyễn Văn Kim (2000), Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa - Nguyên nhân và hệ quả, Nxb Thế giới, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa - Nguyên nhân và hệ quả
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2000
15. Nguyễn Văn Kim (2000), Những chuyển biến kinh tế - xã hội ở Nhật Bản thời kỳ Tokugawa, trong “Một số chuyên đề lịch sử thế giới” Nxb§HQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chuyển biến kinh tế - xã hội ở Nhật Bản thời kỳ Tokugawa", trong “Một số chuyên đề lịch sử thế giới
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Nhà XB: Nxb §HQG HN
Năm: 2000
16. Nguyễn Văn Kim (2002), Nhật Bản với những mối liên hệ lịch sử truyền thống, Nghiên cứu Lịch sử số 4. 2002, Tr.58 - 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản với những mối liên hệ lịch sử truyền thống
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Năm: 2002
17. Nguyễn Văn Kim (3/2003), Hệ thống buôn bán ở biển Đông, kỷ yếu hội thảo khoa học “Đông á - Đông Nam á: Những vấn đề lịch sử và hiện tại, Trêng §HKHXH & NV, §HQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống buôn bán ở biển Đông
18. Nguyễn Văn Kim (2003), Nhật Bản với châu á , những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế - xã hội, Nxb ĐHQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản với châu á , những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế - xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Nhà XB: Nxb ĐHQG HN
Năm: 2003
19. Nguyễn Văn Kim (2003), Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam á thÕ kû XV - XVII, Nxb §HQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam á thÕ kû XV - XVII
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Nhà XB: Nxb §HQGHN
Năm: 2003
20. Nguyễn Văn Kim (2003), Quan hệ của vơng quốc Ryukyu với Đông Nam á thế kỷ XV - XVI, Nghiên cứu lịch sử số 3/2003. tr.57 - 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ của vơng quốc Ryukyu với Đông Nam á thế kỷ XV - XVI
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Năm: 2003
21. Nguyễn Văn Kim (2003), Ryukyu trong quan hệ với Nhật Bản và Trung Quốc thế kỷ XVII - XVII. Nghiên cứu lịch sử số 4/2003. Tr.58 - 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ryukyu trong quan hệ với Nhật Bản và Trung Quốc thế kỷ XVII - XVII
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Năm: 2003
22. Nguyễn Văn Kim (2003), Thành Edo và những đặc điểm phát triển của thành thị Nhật Bản thời cận thế”, Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Đông á -Đông Nam á: Những vấn đề lịch sử và hiện đại”, Trờng ĐHKH XH & NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành Edo và những đặc điểm phát triển của thành thị Nhật Bản thời cận thế"”, Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Đông á - Đông Nam á: Những vấn đề lịch sử và hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Năm: 2003
23. Nguyễn Văn Kim (2004), Quan hệ của vơng quốc R yukyu với Đại Việt thế kỷ XVI - XVII qua một số nguồn sử liệu, Nghiên cứu Nhật Bản - Đông Bắc á số 5 (53) 2004, Tr. 62- 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ của vơng quốc R yukyu với Đại Việt thế kỷ XVI - XVII qua một số nguồn sử liệu
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Năm: 2004
24. Nguyễn Văn Kim (2005), Ngoại thơng đàng ngoài và mối quan hệ Việt - Nhật thế kỷ XVII, Nghiên cứu lịch sử số 4/2005, Tr.19 - 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại thơng đàng ngoài và mối quan hệ Việt - Nhật thế kỷ XVII
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Điểm đến của thuyền Châu ấn ở Đông Nam á (1604-1635) - Tìm hiểu đặc điểm mối quan hệ thương mại của nhật bản với một số nước đông nam á ở thế kỉ XVI   XVII
Bảng 1.1. Điểm đến của thuyền Châu ấn ở Đông Nam á (1604-1635) (Trang 59)
Bảng 1.2   Số lợng ngời Nhật sinh sống ở Manila biến đổi theo thời gian - Tìm hiểu đặc điểm mối quan hệ thương mại của nhật bản với một số nước đông nam á ở thế kỉ XVI   XVII
Bảng 1.2 Số lợng ngời Nhật sinh sống ở Manila biến đổi theo thời gian (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w