Tây á cũng chính lànơi xuất hiện ba tôn giáo lớn là đạo Do Thái, đạo Cơ đốc và đạo Ixlam,trong đó đạo Cơ đốc và đạo Ixlam trở thành các tôn giáo thế giới có ảnh h -ởng đến đời sống văn h
Trang 1` Trờng đại học vinh Khoa lịch sử
- -Khoá luận tốt nghiệp đại học
Tìm hiểu đặc điểm của các tôn giáo bản
địa ấn độ trong sự đối sánh với các
tôn giáo lớn ở tây á
Giáo viên hớng dẫn: GVC-ThS Phan Hoàng Minh
Sinh viên thực hiện: Hoàng Thị Hoà
Lớp: 47 a - Lịch sử
Vinh - 2010
Trang 2đều có một mẫu số chung là tính hớng thiện.
Đất nớc ấn Độ bao la, huyền bí và quyến rũ là quê hơng của nhữngtôn giáo lớn: Bàlamôn giáo, Phật giáo, Hinđu giáo, trong đó Phật giáo trởthành tôn giáo thế giới Tuy không cùng phát sinh trong một khoảng thờigian cũng nh sắc thái tín ngỡng, nhng vẫn để lại những nét xuyên suốt của
ba tôn giáo này, đó là: thuyết luân hồi, nhân quả và nghiệp báo
Tây á ngày nay thờng gọi là khu vực Trung Đông, là nơi xuất hiện rấtsớm nhiều quốc gia với các nền văn minh nổi tiếng, văn minh Tây á là sựtổng hợp, hội tụ của nhiều nền văn minh trong vùng Tây á cũng chính lànơi xuất hiện ba tôn giáo lớn là đạo Do Thái, đạo Cơ đốc và đạo Ixlam,trong đó đạo Cơ đốc và đạo Ixlam trở thành các tôn giáo thế giới có ảnh h -ởng đến đời sống văn hóa tinh thần của c dân nhiều nớc Cả ba tôn giáo đãxây dựng cho mình một hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi hoàn chỉnh,một mặt phản ánh bi quan chán nản của quần chúng lao khổ trông chờ vàocác thế lực siêu nhiên, vào đấng cứu thế để giải phóng họ Mặt khác cũngthể hiện tính thiện, tính hòa bình Ba tôn giáo này ra đời ở Tây á, nơi có
điều kiện tự nhiên khá thuận lợi truyền thống văn hóa dân tộc hình thànhsớm Do đó, cả ba tôn giáo khác xa nhau về mặt thời gian và ra đời trongnhững hoàn cảnh lịch sử khác nhau nhng đều có những nét tơng đồng Haynói cách khác, giữa ba tôn giáo trong quá trình xây dựng và phát triển đã
có sự kế thừa, tiếp thu nhau trên những lĩnh vực nh giáo lý, giáo luật, lễnghi
Trang 3Nghiên cứu các tôn giáo lớn ở ấn Độ và Tây á là vấn đề hấp dẫn, lôicuốn nhiều học giả trên thế giới và trong nớc, vì tôn giáo đã và đang giữvai trò không nhỏ trong đời sống văn hóa tinh thần của c dân các dân tộctrên thế giới.
Tìm hiểu các tôn giáo bản địa ấn Độ cũng nh các tôn giáo lớn ở Tây
á thời cổ trung đại sẽ thấy đợc ở từng khu vực, từng trung tâm tôn giáo sự
ra đời và phát triển của các tôn giáo sau có sự tiếp thu, kế thừa của nhữngtôn giáo ra đời trớc đó, từ đó thấy đợc những nét tơng đồng của các tôngiáo từng khu vực Đồng thời ta cũng thấy đợc sự khác biệt giữa tôn giáo
ấn Độ so với tôn giáo Tây á
Từ nhận thức trên, là sinh viên ngành Lịch sử, chúng tôi chọn đề tài:
“Tìm hiểu đặc điểm của các tôn giáo bản địa ấn Độ trong sự đối sánh với các tôn giáo lớn ở Tây á” làm khóa luận tốt nghiệp Hi vọng rằng thực
hiện đề tài này sẽ giúp bản thân nhận thức đầy đủ thấu đáo hơn về ba tôngiáo lớn ở Tây á cũng nh các tôn giáo bản địa ở ấn Độ, đồng thời gópthêm chút ít t liệu tham khảo cho những ngời quan tâm đến mảng đề tàinày
2 Lịch sử vấn đề
Các vấn đề tôn giáo nói chung và tôn giáo ở ấn Độ, Tây á nói riêng
đã đợc nhiều học giả trong và ngoài nớc từ lâu quan tâm nghiên cứu và đãcho ra nhiều công trình có giá trị Trong số hàng loạt công trình đó cókhông ít những tác phẩm chứa đựng những nội dung đề cập đến các khíacạnh khác nhau, với những mức độ khác nhau về các tôn giáo ở ấn Độ,Tây á, xin đơn cử những ấn phẩm sau:
- Tác phẩm Mời tôn giáo lớn trên thế giới, Nxb Chính trị quốc gia, HàNội, 1999, tác giả Hoàng Tâm Xuyên đã dành một dung lợng đáng kể củacông trình viết về nội dung của Bàlamôn giáo, Phật giáo, Hinđu giáo, DoThái giáo, Cơ đốc giáo, Ixlam giáo
- Trong cuốn Các tôn giáo, Nxb thế giới, Hà Nội, 1999, (NguyễnMạnh Hào dịch), tác giả Paul Poupard đã đề cập đến quá trình hình thànhphát triển và ảnh hởng của các tôn giáo lớn trên thế giới đối với đời sốngtâm linh của các dân tộc
- Trong cuốn: Các tôn giáo trên thế giới và Việt Nam, Nxb Văn hóaThông tin, Hà Nội, 2006, tác giả Mai Thanh Hải đã đề cập đến sự hìnhthành, phát triển của các tôn giáo trên thế giới và Việt Nam., trong đó cũng
có một dung lợng lớn nghiên cứu về các tôn giáo ở ấn Độ, Tây á
- Trong cuốn Almanach, Những nền văn minh thế giới, NXB Văn hóaThông tin Hà Nội, 2000, của hơn 100 tác giả biên soạn là một công trình
Trang 4tổng hợp về nhiều lĩnh vực của văn minh nhân loại, trong đó nghiên cứu vềnhững nét đặc sắc của các tôn giáo lớn trên thế giới.
- Trong cuốn Lí luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam củagiáo s Đặng Nghiêm Vạn một mặt ông nêu rõ tình hình tôn giáo ở ViệtNam, mặt khác cung cấp rất nhiều lí luận sắc bén, khoa học về tôn giáo nh:
đối tợng của tôn giáo, yếu tố cấu thành tôn giáo, nhu cầu, vai trò và diễnbiến của tôn giáo trong đời sống
Bên cạnh những tác phẩm nói trên còn có nhiều sách báo, tạp chí nói
về các tôn giáo bản địa ấn Độ và ba tôn giáo lớn ở Tây á nhng do điềukiện không cho phép chúng tôi su tầm, tập hợp hết đợc
Trên cơ sở tiếp nhận, xử lí, kế thừa của các học giả đi trớc, chúng tôitiến hành giải quyết những vấn đề do đề tài đặt ra
3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tợng: Bàlamôn giáo, Phật giáo, Hinđu giáo trong sự đối sánh với
Do Thái giáo, Cơ đốc giáo, Ixlam giáo
- Phạm vi không gian: ấn Độ, Tây á
- Phạm vi thời gian: thời kì cổ trung đại
5.Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận gồm 3 chơng:
Chơng 1: Tổng quan về các tôn giáo lớn ở ấn Độ và Tây á thời cổ
trung đại
Chơng 2: Đặc điểm các tôn giáo bản địa ấn Độ.
Chơng 3: Đặc điểm các tôn giáo bản địa ấn Độ trong sự đối sánh với
các tôn giáo lớn ở Tây á
Trang 5Chơng 1:
Tổng quan về các tôn giáo lớn ở ấn Độ và Tây á
thời cổ Trung đại 1.1 Tổng quan về lịch sử ấn Độ thời cổ Trung đại
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
ấn Độ là một bán đảo hình tam giác lớn, một “tiểu lục địa” ở Nam
á, bị ngăn cách với thế giới bên ngoài bởi ấn Độ Dơng và dãy núiHimalaya hùng vĩ nhất thế giới Phía bắc, ấn Độ giáp Trung Quốc, Nêpan,Butan, phía Đông - bắc giáp Miến Điện, phía Tây bắc có Apganixtan, phíaTây là biển Arap, phía Đông là vịnh Bengan Mỏm cực Nam đỉnh cao củatam giác ấn Độ chìa ra ấn Độ Dơng, nh vậy đại bộ phận lãnh thổ ấn Độ ởmiền Trung và miền Nam bị bao bọc bởi ấn Độ Dơng
Địa hình của ấn Độ rất đa dạng và đợc chia làm ba khu vực rõ rệt:Vùng núi Himalaya, vùng đồng bằng sông ấn - Hằng và cao nguyên
Đêcan
Khu vực phía Bắc là vùng núi Himalaya và phụ cận Dãy Himalaya
là biên giới tự nhiên giữa ấn Độ và Trung Quốc Hệ thống núi Himalayagồm ba dãy trùng điệp, các đoạn giữa là ba thung lũng dài rộng chạy songsong với nhau Trong số các thung lũng đó Casơmia ở cực Bắc ấn Độ lànổi tiếng nhất, từ lâu đợc mệnh danh là “thiên đờng của hạ giới” Hệ thốngnúi Himalaya chạy theo vòng cung dài hơn 2000 km, trong đó có trên 40ngọn núi cao hơn 7000 m quanh năm tuyết phủ Bản thân tên gọi Himalayatheo tiếng Phạn là “nơi ngự trị của tuyết” Himalaya nh một bức tờng thiênnhiên ngăn chặn các luồng gió lạnh ở phía Bắc xuống và các luồng khôngkhí ẩm từ phía Nam lên Bởi vậy về mùa đông ấn Độ có nhiệt độ cao hơncác nớc khác cùng vĩ tuyến, còn mùa hè thì ma rất nhiều Phía NamCasơmia có miền Pengiap có nghĩa là “xứ sở năm con sông” Từ Pengiap,sông Giammu và sông Hằng xuôi chảy về Đông Nam
Khu vực tiếp theo chạy từ vùng núi trên đến giáp cao nguyên
Đêcan Đó là vùng đồng bằng sông ấn - Hằng, dải đồng bằng vào loại lớnnhất thế giới Vùng đồng bằng này đợc bồi đắp phù sa và nớc tới của haidòng sông ấn và sông Hằng
Sông ấn dài trên 3000 km, bắt nguồn từ dãy Himalaya qua Casơmia,dọc theo Tây Bắc bán đảo Dòng sông chảy mạnh đổ vào biển Arập, tạo rachâu thổ rộng 8000 km2 Đồng bằng dọc sông ấn dài đến 2900 km Nguồnnớc của sông này là băng và tuyết ở Caracôrum, Hinducuc Mùa đông, lu l-ợng nhỏ và băng cha tan Mùa hè, có gió mang ma lớn và tuyết tan nên
đồng bằng thờng bị lũ lụt Do khí hậu ở đây khô, nớc dễ bốc hơi, do biến
Trang 6thiên địa lý, chia cắt của bình nguyên nên nhìn chung vùng đồng bằngsông ấn khó phát triển nông nghiệp nếu không có hoạt động thuỷ lợi củacon ngời.
Sông Hằng ở Đông Bắc ấn Độ, dài gần 3000 km, đoạn hạ lu hợp vớisông Bramaputra và cùng với sông này tạo thành đồng bằng châu thổ bao
la Lợng ma ở vùng này rất cao, kết hợp với băng tan làm sông luôn đầy
n-ớc Lợng phù sa ở hạ lu dày từ 600 - 800 m Với đất đai màu mỡ và khí hậunóng ẩm, đồng bằng sống ấn - Hằng là vựa lúa và nơi phát triển các loạicây lơng thực chủ yếu của ấn Độ
Vùng phía Nam còn lại là cao nguyên Đêcan Cao nguyên giống nhlòng chảo tạo thành bởi hai dãy núi lớn ở hai mặt: Dãy Gát Tây và Gát
Đông Về cơ bản, đất đai của Đêcan không có giá trị lớn về nông nghiệp,tuy dọc bờ biển có những dải đồng bằng tơng đối màu mỡ
Về c dân, ngời xây dựng nên nền văn minh cổ xa nhất ở ấn Độ ven
bờ sông ấn là ngời Đaviđa Ngày nay những ngời Đaviđa chủ yếu c trú ởmiền nam bán đảo ấn Độ Khoảng 2000 năm TCN đến 1500 năm TCN cónhiều tộc ngời Arian tràn vào xâm nhập và ở lại bán đảo ấn Sau này, trongquá trình lịch sử còn nhiều tộc ngời khác nh ngời Hi Lạp, Hung Nô, Arập,Mông Cổ, xâm nhập ấn Độ, do đó c dân ở đây có sự pha trộn khá nhiềudòng máu
Nền văn minh ấn Độ thời cổ đại gồm cả vùng đất ở các nớc ấn Độ,Pakixtan, Nêpan, Bănglađet ngày nay
1.1.2 Các thời kỳ phát triển của lịch sử ấn Độ thời cổ trung đại
Từ khi bớc vào xã hội có nhà nớc cho đến khi bị thực dân Anh chinhphục, lịch sử ấn Độ có thể chia ra các giai đoạn sau:
- Thời kỳ văn minh lu vực sông ấn (khoảng 3000 năm đến 1500TCN):
Đây là thời kỳ ngời Đravida đã xây dựng nên những nền văn minh
đầu tiên ở lu vực sông ấn Trớc kia ngời ta cũng không biết nhiều về giai
đoạn lịch sử này Mãi đến năm 1920, nhờ phát hiện ra dấu tích hai thànhphố cổ ở Harappa và Môhenjô Đarô ngời ta mới biết về nó ở đây, qua các
di vật khảo cổ ngời ta có thể suy ra phần nào sự phát triển kinh tế, văn hóa,
và đây là thời kỳ đã xuất hiện bộ máy nhà nớc Còn về lịch sử tơng đối cụthể của nó thì cha biết Ngời ta tạm đặt cho nó cái tên là nền văn hóaHarappa - Môhenjô Đarô Có ngời gọi đây là nền văn minh sông ấn
- Thời kỳ Vêđa (khoảng 1500 TCN đến thế kỷ VI TCN):
Đây là thời kỳ những bộ lạc du mục ngời Aria từ Trung á tràn vàoxâm nhập Bắc ấn Thời kỳ này đợc phản ánh trong bộ kinh Vêđa nên đợc
Trang 7gọi là thời kỳ Vêđa Đây là thời kỳ có hai vấn đề quan trọng ảnh hởng lâudài đến lịch sử ấn Độ sau này: đó là vấn đề đẳng cấp (Vacna) và đạoBàlamôn.
- Giai đoạn từ thế kỷ VI TCN đến thế kỷ XII:
Từ thế kỷ VI TCN, ấn Độ mới có sử sách ghi chép Lúc đó, ở miềnBắc ấn có tới 16 nớc, trong đó vơng quốc Magađa ở hạ lu sông Hằng là nớchùng mạnh nhất Năm 327 TCN, ấn Độ bị đội quân của Alêchxăngđrơ xâmlợc trong một thời gian ngắn
- ấn Độ từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIX:
Trong giai đoạn này, ấn Độ bị ngời Apganixtan theo đạo Hồi xâmnhập, sau đó thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII lại bị ngời Mông Cổ xâm lợc.Ngời Mông Cổ đã lập ra ở đây triều Môgôn Đến giữa thế kỷ XIX, ấn Độ
bị Anh xâm lợc đến năm 1950 mới giành đợc độc lập
Trong giai đoạn cổ trung đại này, một trong những hiện tợng làmnên nét đặc sắc cho lịch sử ấn Độ chính là một bức tranh toàn cảnh về sự
đa dạng các tôn giáo: Đó là Bàlamôn giáo, đạo Phật, đạo Xích, Hinđu giáo,Hồi giáo mà chính nó là một nhân tố gắn liền với lịch sử ấn Độ, nh mộtnhà nghiên cứu đã nói : Các tôn giáo tự chúng không làm ra lịch sử nhngxã hội ấn đã phát triển trớc hết là nhờ những biến đổi tôn giáo liên tục chứkhông phải do bạo lực [3; 231]
1.1.3 Khái quát các tôn giáo bản địa ở ấn Độ
ấn Độ là nơi sản sinh ra rất nhiều tôn giáo nh đạo Bàlamôn, đạoPhật, đạo Hinđu Ngoài ra, còn có một số tôn giáo nh đạo Jain, đạo Xích
- Đạo Bàlamôn ra đời vào khoảng thế kỷ XV TCN, trong hoàn cảnh
đang có sự bất bình đẳng rất sâu sắc về đẳng cấp và đạo này chứng minhcho sự hợp lý của tình trạng bất bình đẳng đó
Trong thời kỳ đầu của thời kỳ Vêđa, quan niệm về tín ngỡng của
ng-ời ấn Độ còn mang nhiều dấu vết của ngng-ời nguyên thuỷ Họ tin rằng vạnvật đều có linh hồn nên họ sùng bái rất nhiều thứ, sùng bái các hiện tợng tựnhiên, ngời chết và nhiều loài động vật
Đến những thế kỷ đầu của thiên kỷ I TCN, do sự phát triển của xãhội có giai cấp và do sự không bình đẳng về đẳng cấp ngày càng sâu sắc, từcác hình thức tín ngỡng dân gian dần dần đã tập hợp thành một tôn giáolớn gọi là đạo Bàlamôn Nh vậy, đạo Bàlamôn là một tôn giáo không cóngời sáng lập, không có tổ chức giáo luật chặt chẽ
Đạo Bàlamôn là một tôn giáo đa thần, trong đó cao nhất là thầnBrama Đó là vị thần sáng tạo thế giới Tuy vậy, có nơi cho thần Siva, vịthần phá hoại là thần cao nhất, có nơi lại cho thần Visnu, thần bảo vệ, thần
Trang 8ánh sáng, thần bốn mùa, thần làm cho nớc sông Hằng dâng lên và làm matới cho ruộng đồng tơi tốt là vị thần cao nhất Do vậy, đến những thế kỷ
đầu CN, đạo Bàlamôn chia làm hai phái là phái thờ thần Siva và phái thờthần Visnu Để thống nhất các phái đó, đạo Bàlamôn nêu ra quan niệmthần sáng tạo Brama, thần phá hoại Siva và thần bảo vệ Visnu, tuy ba nhngvốn là một
Ngoài ra, nhiều động vật nh voi, khỉ và nhất là bò cũng là những đốitợng sùng bái của đạo Bàlamôn
Trong giáo lý của đạo Bàlamôn có một nội dung rất quan trọng, đó làthuyết luân hồi Đạo Bàlamôn giải thích rằng linh hồn của con ngời là một
bộ phận của Brama và Brama là một tồn tại vĩnh hằng, cho nên con ngờituy có sống, có chết nhng linh hồn thì còn mãi mãi và sẽ luân hồi trongnhiều kiếp sinh vật khác nhau Những ngời giữ đúng luật lệ của tôn giáo vàcác quy tắc mà thần đã định sẵn cho mình thì kiếp sau sẽ đợc đầu thai làmchó lợn và những động vật bẩn thỉu
Về mặt xã hội, đạo Bàlamôn là cộng cụ đắc lực bảo vệ chế độ đẳngcấp ở ấn Độ
Trớc khi đạo Bàlamôn ra đời, trong quá trình tan rã của chế độ côngxã nguyên thuỷ của ngời Arian, chế độ đẳng cấp đã xuất hiện rồi Đó làchế độ chia c dân tự do thành bốn đẳng cấp: Brama, Ksatơrya, Vaisya,Suđra
Nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của chế độ đẳng cấp là do sự phânhoá giai cấp, sự phân công về nghề nghiệp và sự phân biệt về bộ tộc Nhngcác tăng lữ Balamôn thì dùng uy lực của thần linh để giải thích hiện tợngxã hội ấy
Đạo Bàlamôn đã truyền bá rộng rãi ở ấn Độ trong nhiều thế kỷ Đếnkhoảng thế kỷ VI TCN ở ấn Độ xuất hiện một tôn giáo mới là đạo Phật
Đạo Balamôn bị suy thoái trong một thời gian dài
- Đạo Phật: Ra đời khoảng thế kỷ VI TCN ở vùng phía Tây Bắc ấn
Độ, giáp Nêpan do Hoàng tử Siddharta Gautama sáng lập, hiệu là SakiaMunita (Thích Ca Mâu Ni)
Truyền thuyết kể rằng, Hoàng hậu Maria nằm mơ thấy con voi trăngsáu ngà đi vào sờn bên phải khiến bà có mang, bà sinh ra hoàng tử trên đ-ờng về quê ngoại, trong rừng Lumbini (năm 563 TCN) Trởng thành trongcung vua yên bề gia thất nhng hoàng tử luôn nghĩ đến nỗi khổ đau của conngời, bèn xuất gia đi tìm chân lý, sau sáu năm khổ hạnh trong rừng sâu, vớitấm lòng từ bi và kiên trì suy nghĩ, Ngời đã giác ngộ tìm ra nguyên nhân
Trang 9sâu xa và phơng cách diệt trừ nỗi khổ trần thế, trở thành Đức Phật (Budha:
Đấng giác ngộ)
Giáo lý đạo Phật nằm trong quan niệm vô ngã, vô thờng, mọi sự đều
có sinh, có diệt, đều trải qua quá trình sinh - trụ - dị - diệt Vận dụng vàocuộc sống, đạo Phật nêu lên bốn chân lý gọi là “Tứ diệu đế”: khổ đế, tập
đế, diệt đế, đạo đế
Giáo lý đạo Phật là một hệ thống nguyên tắc đạo đức học, quan niệmrằng hoạt động của con ngời ở kiếp này để lại cho kiếp sau, số phận conngời ở kiếp này là kết quả của kiếp trớc (nhân quả luân hồi) nên đề caolòng từ bi bác ái làm điều thiện trong cuộc sống hàng ngày để đi tới giácngộ, đợc siêu thoát nơi cõi Niết Bàn đạo Phật chủ trơng khoan dung vàbình đẳng giữa ngời với ngời, không tán thành chế độ phân biệt đẳng cấp
Sự phát triển của đạo Phật ở ấn Độ:
Sau khi Phật tịch, đạo Phật đợc truyền bá nhanh chóng ở miền Bắc
ấn Độ Để soạn thảo giáo lý quy chế và chấn chỉnh về tổ chức, từ thế kỷ
VI - III TCN, đạo Phật đã triệu tập ba cuộc Đại hội ở nớc Magađa, quốcgia lớn nhất ở ấn Độ lúc bấy giờ Từ nửa sau thế kỷ III TCN, tức là sau Đạihội lần thứ III, đạo Phật trớc tiên đợc truyền bá sang Xrilanca, sau đótruyền đến các nớc khác nh Mianma, Thái Lan, Inđônêxia,
Đến khoảng năm 100 sau CN, đạo Phật triệu tập Đại hội lần thứ t tạinớc Cusan ở Tây Bắc ấn Độ Đại hội này thông qua giáo lý của đạo Phậtcải cách và phái Phật giáo cũ gọi là phái Tiểu Thừa, sự khác nhau chủ yếugiữa hai phái biểu hiện ở các mặt sau đây:
Phái Tiểu Thừa (Hinayana) nghĩa là “cỗ xe nhỏ” hoặc “con đờngcứu với hẹp” cho rằng chỉ có những ngời xuất gia đi tu mới đợc cứu vớt
Phái Đại Thừa (Mahayana) nghĩa là “cỗ xe lớn” hoặc “con đờng cứuvớt rộng” thì cho rằng không phải chỉ những ngời tu hành mà cả những ng-
ời trần tục quy y theo Phật cũng đợc cứu vớt
Phái Tiểu Thừa cho rằng chỉ có Phật Thích Ca là Phật duy nhất việccứu vớt chúng sinh chỉ có Phật mới làm đợc, những ngời thờng không thểthành Phật
Phái Đại Thừa cho rằng Phật Thích Ca là Phật cao nhất, nhng ngoàiPhật Thích Ca còn có nhiều Phật khác nh Phật Adiđà, Phật Dilặc, Phật ĐạiDợc S Phật Adiđà hiện đang giáo hoá ở cõi cực lạc Tây phơng Phật Di lặc
là vị Phật tơng lai sẽ nối nghiệp Phật Thích Ca để giáo hoá ở cõi cực lạcphơng Tây Phật Di lặc là vị Phật tơng lai sẽ nối nghiệp Phật Thích Ca đểgiáo hoá cõi đời này sách Phật gọi là cõi Sabà (Saha) nghĩa là nơi khó chịu
đựng Phật Dợc s ở cõi tĩnh lu ly ở phía Đông thế giới chúng ta Phật Dợc
Trang 10s thờng cứu giúp chúng sinh tai qua nạn khỏi Hơn nữa, phái Đại Thừa chorằng ai cũng có thể thành Phật và thực tế đã có nhiều ngời đã đạt đến cõiPhật Đó là các Bồ Tát nh Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm, Địa Tạng Tuy
đã thành phật nhng các Bồ Tát không lên cõi Niết Bàn mà tự nguyện ở lạitrần để cứu độ chúng sinh
Phái Tiểu thừa quan niệm Niết Bàn là cảnh giới yên tĩnh gắn liền vớigiác ngộ sáng suốt, không làm phiền não đau khổ Phật Thích Ca đã đạt
đến cảnh giới Niết Bàn vào năm 35 tuổi, sau đó Phật vẫn tiếp tục sống vàhoạt động 45 năm nữa
Phái Đại Thừa thì quan niệm Niết Bàn là thế giới của các Phật giáo
nh Thiên đờng của các tôn giáo khác Đồng thời với quan niệm đó phái ĐạiThừa còn tạo ra Địa ngục nơi đày đọa những kẻ tội lỗi, phái Đại thừa còn
đề cao vai trò của tầng lớp tăng ni, coi họ là kẻ trung gian giữa tín đồ và BồTát Từ đó, tợng Phật đợc tạc, đúc rất nhiều, nghi thức cúng bái càng phứctạp, hơng hoa cũng đợc sử dụng trong khi cúng Phật
Sau Đại hội Phật giáo lần thứ t, các nhà s càng khuyến khích ra nớcngoài truyền đạo, do đó đạo Phật càng truyền bá mạnh mẽ sang Trung á
và Trung Quốc Những thế kỷ tiếp theo sau đó đạo Phật suy dần ở ấn Độnhng lại đợc phát triển phần lớn ở châu á và trở thành quốc giáo của một
số nớc nh Xrilanca, Mianma, Thái Lan, Campuchia, Lào
- Đạo Hinđu (ấn Độ giáo) sau một thời gian hng thịnh, đến khoảngthế kỷ VII đạo Phật bị suy sụp ở ấn Độ Nhân tình hình đó, đạo Bàlamôndần dần phục hng đến khoảng thế kỷ VIII - IX đạo Bàlamôn đã bổ sungthêm nhiều yếu tố mới về đối tợng sùng bái, về kinh điển về nghi thức tế lễ Từ đó, đạo Bàlamôn đợc gọi là đạo Hinđu, trớc đây ta gọi là ấn Độ giáo
Đối tợng sùng bái chủ yếu của đạo Hinđu vẫn là ba thần Brama, Siva
và Visnu Ngoài các vị thần nói trên các loài động vật nh khỉ, bò, rắn, hổ,cá sấu chim công, vẹt, chuột cũng là các thần đạo Hinđu, trong đó đợctôn sùng hơn cả là thần khỉ và thần bò
Đạo Hinđu cũng chú trọng thuyết luân hồi cho rằng con ngời sau khichết, linh hồn sẽ đầu thai nhiều lần Mỗi lần đầu thai nh vậy con ngời sẽsung sớng hơn hay khổ cực hơn kiếp trớc là tuỳ thuộc vào những việc làmcủa kiếp trớc tức là quả báo
Kinh Thánh của đạo Hiđu ngoài các tập Vêđa và Ubanisat còn cóMahasata, Bhagavad Gita, Ramayana và Burana Mahasata, BhagavadGita, Ramayana là những tập trờng ca còn Burana là tập truyện cổ nói về
sự sáng tạo, sự biến chuyển và sự suy diệt của thế giới Đạo Hinđu cũnghết sức coi trọng sự phân chia đẳng cấp Đến thời kỳ này do sự phát triển
Trang 11của các ngành nghề, trên cơ sở bốn đẳng cấp cũ (Vasana) xuất hiện rấtnhiều đẳng cấp nhỏ mới gọi là Jati.
Ngày nay ở ấn Độ có khoảng 84 % c dân theo đạo Hinđu
Ngoài ấn Độ, đa số dân Nêpan, ở đảo Bali ở Inđônêxia, gần 20 %dân Bănglađét và Xrilanca vẫn theo đạo Hinđu ở nớc ta một số bộ phận
đồng bào Chăm cũng có tín đồ của đạo này, nhng đó là một thứ đạoBàlamôn - Hinđu đã sửa đổi nhiều Đạo Hinđu dù có số đông tín đồ nhng
là tôn giáo của ngời ấn, không trở thành tôn giáo thế giới
- Đạo Jain (Jainisme, Kyna):
Theo truyền thuyết ngời sáng lập đạo Jain là một ngời xuất thân từ
đẳng cấp Ksatơruy ở ngoại ô thành Vaixali thuộc tỉnh Biha ngày nay Saukhi đắc đạo, ông đợc các tín đồ gọi là Mihariva nghĩa là “đại anh hùng”
Về niên đại có thuyết nói ông sinh năm 599 và chết năm 527 TCN, cóthuyết nói ông sinh năm 549 và chết năm 477 TCN
Năm Mihariva 30 tuổi, cha mẹ ông vì lòng tin tôn giáo đã nhịn ăn tự
tử Buồn rầu vì việc đó ông từ bỏ gia đình và đã bỏ mọi tiện nghi kể cảquần áo, đi lang thang tu hành khổ hạnh ở mìên Tây Bengan Sau 13 năm,
ông đợc các tín đồ của mình tôn là “Jina” nghĩa là khắc phục mong muốn
và gọi tôn giáo do ông sáng lập ra là đạo Jain
Đạo Jain chủ trơng không thờ Thợng đế vì họ cho rằng vũ trụ khôngphải do một đấng hoá công nào sáng tạo ra, nhng lại thờ tất cả các thầnthánh trong huyền thoại Đồng thời, họ cũng cho rằng vạn vật đều có linhhồn hoàn hảo nhất mới chấm dứt đợc vòng luân hồi, giải thoát vĩnh viễn và
đợc tồn tại một cách sung sớng ở Niết Bàn
Giới luật của đạo Jain
Giới luật của đạo Jain cũng gồm có 5 điều chủ yếu:
- Không đợc giết bất cứ một sinh vật nào
nó, đồng thời cũng chống lại chế độ đẳng cấp
Trang 12Đến khoảng thế kỷ I TCN, đạo Jain chia thành hai phái: pháiSvetambara là phái áo trắng và phái Đigambara cũng mặc quần áo bình th-ờng, chỉ có các đạo sĩ của họ thì hoàn toàn không mặc áo kể cả khi ra đ-ờng.
Đền thờ của đạo Jain mang tính chất quần thể, thờng gồm nhiều ngôi
đền giống nhau Trong đền có rất nhiều cột, có đền có tới 1000 cột Đặcbiệt những cột ấy đều làm bằng đá cẩm thạch trắng và đợc chạm khắc rất
đẹp và mỗi cột có vẻ khác nhau
Do đạo Jain là một tôn giáo khắt khe và có phần kỳ quặc nên truyềnbá không đợc rộng rãi Tuy vậy đạo Jain vẫn tồn tại suốt chiều dài lịch sử
và ngày nay có tín đồ chiếm khoảng 0,7 % dân số ấn độ tập trung chủ yếu
ở miền Tây và Tây Nam đất nớc này
- Đạo Xích (Sikh)
Từ thế kỷ VIII, đạo Phật hoàn toàn sụp đổ, đạo Hindu trở thành đạochủ yếu ở ấn Độ Cùng vào thời kỳ này, đạo Hồi bắt đầu tràn vào ấn Độ và
từ thế kỷ XIII về sau trở thành tôn giáo thế lực ở quốc gia này
Dựa trên giáo lí của đạo Hinđu và đạo Hồi, đến cuối thế kỷ XV đầuthế kỷ XVI, ở ấn Độ xuất hiện một giáo phái mới gọi là đạo Xích Chữ
“Sish” vốn bắt nguồn từ chữ Sishya nghĩa là "đệ tử" Ngời sáng lập ra đạoXích là Nanac Dep (1469- 1538)
Đạo Xích chỉ tin vào một vị thần tối cao duy nhất, chống việc thờ cáctợng thần Họ phản đối sự cuồng tín của đạo Hinđu và đạo Hồi, khônghành hơng đến các con sông nh đạo Hinđu
Về mặt xã hội, đạo Xích chống lại chế độ đẳng cấp thực hiện sựkhoan dung và yêu mến mọi ngời, coi trọng sự mến khách, sẵn sàng giúp
đỡ những ngời đến nơng náu trong đền thờ của họ
Đến thế kỷ XVII, giáo sĩ Gôbinxinh bổ sung cho đạo xích yếu tố vũtrang để đối phó với nạn khủng bố ngời theo đạo Xích Nhờ đó tên củanam tín đồ đạo Xích có thêm chữ xinh Đồng thời giáo sĩ Gobinxinh quy
định 5 đặc điểm của tín đồ đạo Xích là:
- Không cắt tóc, không cạo râu
- Luôn mang theo lợc chải đầu bằng gỗ hoặc ngà
- Mặc quần ngắn
- Đeo vòng tay bằng sắt
- Mang kiếm ngắn hoặc gơm
Ngày nay tín đồ của đạo Xích chiếm khoảng 2% dân số ấn Độ Họ
đòi tách bang Punjap khỏi ấn Độ để thành lập một nớc độc lập làkhalixtan
Trang 131.2 Tổng quan về Tây á thời cổ trung đại
1.2.1 Vị trí địa lí của vùng Tây á
Tây á là một vùng đất rộng nằm ở phía Tây Châu á, từ lãnh thổApganixtan trở về phía Tây đến bờ đông Địa Trung Hải Khu vực này gồmlãnh thổ các quốc gia ảrập là Thổ Nhĩ Kỳ (ngời gốc Tuốc, thiên di từTrung á), Ixaren (ngời Hêbôrơ, túc Do Thái), Iran (ngời Ba T), Apganixtan(ngời Trung á) Trớc đây, miền Tây á thờng đợc để chỉ ba vùng đất làTiểu á (lãnh thổ của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), Tiền á (dải đất dọc bờ đông
Địa Trung Hải, gồm lãnh thổ Xiri, LiBăng, Gioocđani, Ixaren ngày nay, ỡng Hà ngày nay là Irắc, bán đảo Arập, Iran và ápganixtan Tây á lànơi tiếp xúc với ba châu lục á, âu, Phi nằm trên đờng giao lu buôn bánbằng đờng bộ và đờng thuỷ giữa các nớc phơng Đông và phơng Tây Con
L-đờng buôn bán trên bộ gọi là con L-đờng tơ lụa, hay còn gọi là con L-đờng lạc
đà Con đờng thuỷ chính là con đờng đi từ Địa Trung Hải qua kênh đàoXuyê và Biển Đỏ thông ra ấn Độ Dơng tạo ra tiểu chủng trung gian, mangtrong mình cả ba yếu tố của ba đại chủng: da trắng, da vàng, da đen Đạidiện cho tiểu chủng trung gian là ngời Sêmit cổ xa Thời cổ xa, ngời Sêmithình thành ra các nhóm tộc ngời khác nh aramen, tổ tiên của ngời Xume,ngời Accat ở Lỡng Hà, ngời Axiri, cũng từ ngời Sêmit hình thành ra ngờiHêbơrơ (tức Do Thái), ngời Môabit, Êđômit
1.2.2 Vài nét về quốc gia vốn là quê hơng của ba tôn giáo ở Tây á Palextin
Palextin là quốc gia cổ đại của ngời Do Thái, đó là một vùng caonguyên có nhiều núi hẹp và dài nằm giữa Xiri và Ai Cập, phía Đông giápbiển Chết và sông Giuốcđanh, phía tây giáp Địa Trung Hải Bề dài từ Namlên Bắc ớc chừng 225km, bề rộng từ Đông sang Tây ớc chừng dới 100km.Miền đất đó xa kia gọi là Canaen, về sau có ngời Philixtin ở đảo Cơret đếnxâm lợc và định c ở đây mới đổi tên thành Palextin
Địa hình Palextin đợc chia thành ba miền : duyên hải, cao nguyên
và thung lũng Giuốcđanh, trong đó miền thung lũng Giuốcđanh là quantrọng hơn cả
Khoảng giữa thế kỷ thứ I TCN, tộc ngời Sêmit ở Tây bộ Châu á lụctục thiên di đến bờ đông Địa Trung Hải, trong đó có một chi nhánh gọi làngời Canaen đầu tiên định c tại miền đất phía Tây biển Chết và sôngGiuốcđanh Đến giữa thiên niên kỷ thứ III TCN ngời Canaen đã từ chế độcông xã thị tộc tiến lên xây dựng nhà nớc đầu tiên của họ, có tổ chức chínhtrị của họ là thành bang Dân c ở đây sống về nghề nông trên cơ sở tổ chứccông xã nông thôn, nhng đồng thời cũng duy trì khá lâu nghề chăn nuôi
Trang 14Do vị trí địa lí nằm ở giữa Ai Cập và lu vực sông Lỡng Hà, nên ngờiCanaen đã học đợc rất sớm văn tự, lịch pháp và công nghệ của hai miềntrung tâm văn hoá cổ đại đó.
Giống nh tình hình ở lu vực Lỡng Hà, miền bờ biển đông Địa TrungHải cũng là nơi có nhiều bộ tộc hỗn hợp lâu dài rồi đồng hoá với nhau.Vào cuối thiên niên kỷ thứ II TCN có một bộ tộc du mục khác của ngờiSêmit gọi là ngời Hêbơrơ ( ngời ta qụen gọi là ngời Do Thái) có tiếng nóigần giống với ngời Canaen, từ bên kia sông Giuốcđanh tràn vào lãnh thổcủa ngời Canaen Ban đầu ngời Hêbơrơ cùng chung sống với ngời Canaennhng về sau đã dần dần thay thế ngời Canaen làm chủ trên mảnh đất này
Họ chuyển sang sống định c, làm nghề nông và chăn nuôi
Do vị trí địa lí của nó, từ thời cổ đại, lãnh thổ Palextin đợc coi là ngã
t giao lu của nhiều nền văn minh khác nhau Lịch sử các dân tộc sống ởvùng này đã trải qua nhiều thăng trầm và biến đổi to lớn Đế quốc Palextin
đã lần lợt bị các đế quốc Ba T, Hy Lạp, La Mã và sau đó là đế quốc ảrậpHồi giáo chinh phục thống trị
La Mã
La Mã (Rôma) là tên một quốc gia cổ đại mà nơi phát nguyên là bán
đảo Italia Đây là một bán đảo dài và hẹp ở Nam Âu hình chiếc võng vơn
ra Địa Trung Hải, diện tích khoảng 300 nghìn km, phía bắc có dãy núiAnpơ ngăn cách Italia với Châu Âu, phía Nam có đảo Xixin, phía Tây có
đảo Coocxơ và đảo Xacđennhơ
Sau khi làm bá chủ bán đảo Italia, La Mã còn xâm chiếm bên ngoàithành lập một đế quốc độc lập rộng lớn bao gồm đất đai của ba châu á,
âu, phi nằm bao quanh Địa Trung Hải
C dân chủ yếu cũng chính là thành phần c dân có mặt sớm nhất ởbán đảo Italia, trong đó bộ phận sống ở vùng Latiuan gọi là ngời La tinh,
về sau một nhánh của ngời La tinh đã dựng lên thành La Mã ở bên bờ sôngTibơrơ, từ đó đợc gọi là ngời La Mã
Từ thế kỷ I TCN, hoàng đế La Mã Angustus đã chinh phục đợc đại
bộ phận đất đai ven bờ Địa Trung Hải bao gồm châu Âu, Tây á và Bắc Phixây dựng nên đế quốc La Mã thống nhất và lớn mạnh Nhng đế quốc nàycho dù ở thời kì hng thịnh nhất cũng không phải là "thái bình thịnh thế", vìtrong đế quốc này mâu thuẫn giai cấp và dân tộc trở nên sâu sắc Các cuộckhởi nghĩa nô lệ và cuộc khởi nghĩa các dân tộc bị dẹp ở chỗ này lại bùnglên ở chỗ khác lâm vào tình trạng suy vi và tan rã
Vùng Palextin cách La Mã rất xa, vùng này từ hai mơi thế kỷ TCN
đã bị chiếm đóng giày xéo của ngời Acmêni, ngời Xích và ngời Ai Cập
Trang 15Thế kỷ XV TCN, ngời Hêbơrơ bắt đầu tiến sâu vào "mảnh đất Canaen tơi
đẹp" hơn thế các thợ dân Canaen và ngời Phênixi đã tiến hành các cuộcchiến tranh liên miên Thế kỷ III TCN, ngời Hêbơrơ, ngời Aicập đã chinhphục khu vực này, nhng sự thống trị của nó về sau lại thuộc Phênixi, đếquốc Ai Cập bị diệt vong nhanh chóng Bắt đầu từ thế kỷ III TCN trở đi,ngời Yasu, Babilon, Ba T lần lợt làm chủ Canaen, khiến cho dân tộc DoThái vùng đó nhiều lần bị tiến công và áp bức Thế kỷ III TCN, khu vựcnày lại trải qua sự thống trị của đế quốc Hy Lạp Sau cùng, thế kỷ I TCN,Palextin đã trở thành một bộ phận của đế quốc La Mã Những thế kỷ cận
kề công nguyên, chế độ chiếm hữu nô lệ ở La Mã bắt đầu suy vi, nền chínhtrị trở nên thối nát, quần chúng nhân dân bị áp bức vô cùng thậm tệ, nhất là
ở những vùng bị đế quốc La Mã chinh phục (đặc biệt là vùng Palextin ởTây á) Quần chúng nô lệ bị áp bức thậm tệ, họ khát khao đợc giải phóngkhỏi ách thống trị tàn bạo của quý tộc chủ nô, nhng hoàn toàn bất lực vìkhông thể tìm ra con đờng đấu tranh thích hợp nên họ cũng mong muốn cómột vị chúa rộng lợng cứu vớt và giải phóng họ khỏi kiếp khổ cực Hơnnữa, từ thế kỷ XII TCN ở vùng này đã xuất hiện và tồn tại đạo Do Thái vớichủ trơng sống hòa bình, bình đẳng, bác ái Đó là điều kiện cho đạo Cơ
đốc xuất hiện và đợc truyền bá nhanh chóng vào đế quốc La Mã
Nh vậy, mặc dù đạo Cơ đốc lúc đầu đợc ra đời ở Palextin nhng nói
đến Cơ đốc thì ngời ta sẽ nhắc tới quê hơng của nó là La Mã bởi vì nó đợctruyền bá và phát triển mạnh mẽ ở La Mã
Bán đảo Arập
Arập là một bán đảo lớn ở Tây Nam châu á tiếp xúc với châu Phi nằm trên con đờng nối liền với các châu Âu, á, Phi về cả đờng thủy và đ-ờng bộ Phía Tây bán đảo là vùng Hêgiazơ có những vùng núi cao trên200m, phía Nam là một vùng đất trù phú có ma và gió mùa nên nhiều dân
-c tụ tập lập nên những vơng quố-c nổi tiếng trong lị-ch sử Phía Bắ-c bán đảo
là những sa mạc rộng lớn gây nhiều trở ngại cho thung lũng bên ngoài
So với các khu vực xung quanh nh Ai Cập, Lỡng Hà, trình độ pháttriển xã hội ở bán đảo Arập có chậm hơn Trên bán đảo Arập gồm phần lớn
là những vùng đất hoang dã khô cằn và những cao nguyên mênh mông
đang biến dần thành sa mạc Chỉ có hai vùng Yêmen (ở Tây Nam bán đảo)
và Hêgiazơ (phía Tây bán đảo) là có điều kiện thuận lợi cho sự phát triểnkinh tế Vì vậy, ở hai vùng này từ thế kỉ X đến thế kỉ VI TCN đã xuất hiệnnhiều nhà nớc cổ đại và nhiều thành phố quan trọng nh Mecca, Yatơrip
Ngoài Yêmen và Hêgiazơ, các vùng còn lại của bán đảo Arập phầnlớn là sa mạc và bãi cỏ vì vậy c dân ở những nơi này chủ yếu làm nghề
Trang 16chăn nuôi Cho đến đầu thế kỷ VII, c dân ở đây vẫn đang sống trong giai
đoạn công xã nguyên thủy Tuy vậy sự phân hóa giàu nghèo trong các bộlạc đã diễn ra khá rõ rệt Quý tộc thị tộc, bộ lạc thờng dành lấy những bãi
cỏ tốt nhất và những vùng đất có thể trồng trọt đợc
Nh vậy, đến cuối thế kỷ VI đầu thế kỷ VII trên bán đảo Arập có nơi
đã thành lập nhà nớc, có nơi thì đang đứng trớc ngỡng cửa của xã hội cógiai cấp, còn có nơi chậm tiến nhất, công xã nguyên thủy cũng đang tronggiai đoạn tan rã
Từ thế kỷ VII, do có vị trí quan trọng về mặt thông thơng từ phơngTây sang phơng Đông, Arập đã trở thành đối tợng tranh giành giữaBidantium và Ba T Cuộc chiến diễn ra liên tục hàng chục năm Năm 572,
Ba T chiếm đợc vùng Yêmen, do vậy khống chế đợc con đờng buôn bán từYêmen qua miền Tây Arập đến Xiri và kiểm soát đợc con đờng đi lại giữavùng Địa Trung Hải, ấn Độ - Ba T, bắt buộc các đội buôn từ ấn Độ đếnBidăngxơ phải đi qua Iran, cấm đi qua ngã đờng Yêmen
Tình hình đó làm cho việc buôn bán Arập kém hẳn xuống Những bộlạc trớc kia làm nghề chở hàng thuê và bảo vệ các đội buôn bán, nay không
có việc làm, nên mỗi ngày một nghèo Quý tộc các thành phố lớn phảigiảm bớt việc buôn bán và chuyển sang kinh doanh Nghề cho vay nợ lãicủa họ chính là những thành viên của các bộ lạc, bị bần cùng hóa Đểchống lại sự nổi dậy của nô lệ và dân nghèo, quý tộc ở các thị tộc, bộ lạcthấy cần phải liên kết với nhau trong việc bảo vệ quyền lợi thơng nghiệpnữa Dân du mục cũng muốn phá vỡ phạm vi bộ lạc nhỏ hẹp để đi tìmnhững bãi cỏ mới Vậy là đầu thế kỷ VII, trên bán đảo Arập không những
đã có cơ sở để bớc sang xã hội có giai cấp và nhà nớc mà còn có yêu cầuliên hợp lại thành một quốc gia thống nhất
Chính trong điều kiện lịch sử đó, đạo Ixlam - một tôn giáo mới chủtrơng thờ một vị thần, chủ trơng tất cả mọi ngời không phân biệt bộ lạc đều
là anh em đã ra đời và đóng vai trò hạt nhân trong việc thống nhất bán đảoArập Quý tộc thị tộc, bộ lạc Arập cũng tìm thấy ở tôn giáo mới một thủ
đoạn để chinh phục nhân dân và thống nhất bán đảo Arập
1.2.3 Khái quát các tôn giáo lớn ở Tây á
1.2.3.1 Tôn giáo ở Lỡng Hà
C dân ở Tây á thời cổ đại nói chung và Lỡng Hà nói riêng thờ rấtnhiều thần nh thần tự nhiên, thần động đất, thần thực vật, linh hồn ngờichết…Hơn nữa, trớc khi thành lập quốc gia thống nhất, Lỡng Hà gồmnhiều thành bang, mỗi thành bang có những thần riêng nên đối tợng sùngbái của dân c Lỡng Hà rất phức tạp, vị trí của các thần trớc sau thờng khác
Trang 17nhau Có thần thuộc lực lợng tự nhiên mà c dân vùng Lỡng Hà tôn thờ chủyếu gồm có:
Thần Anu là thần trời Dần dần Anu đợc quan niệm là Cha và là Vuacủa các thần
Thần Enlin là thần đất, cũng đợc quan niệm là chúa tể của trời đất.Thần Ea là thần nớc, con trởng của thân Anu, đồng thời là cha củathần Macđúc
Mặt trời, mặt trăng và tinh tú cũng đợc coi là các vị thần, vì vậy thầnMacđúc còn đợc gọi là thần sao Mộc, thần Ixta thì còn đợc gọi là thần SaoKim
Thần mặt trời Samat đợc quan niệm là con của thần Mặt trăng xin vìngời Xume cho rằng ngày là do đêm sinh ra Về sau, thần Samat đợc coi làthần t pháp và là thần bảo hộ các Vua Thần Babilon thần Macđúc, cháucủa thần Anu con trởng của thần Ea trở thành chúa tể của các thần Vì vậycâu đầu tiên của bộ luật Hammurabi viết:
“ Thần Anu vĩ đại…cùng với thần Enlin, chúa tể của trời đất quyết
định vận mệnh của đất nớc ban cho Macđúc, con đờng của thần Ea quyềnthống trị cả nhân loại…”
Ngoài những thần chủ yếu nói trên còn có nhiều thần khác nh thầnsấm sét ma lụt Ađát, nữ thần sinh đẻ và số mệnh Nintu, Thần nông nghiệpUrat, thần trí tuệ Tutu, thần chiến tranh Dababa, thần Ôn dịch Ira…
Việc thờ ngời chết cũng đợc coi trọng Vì vậy, ngời Lỡng Hà rất chú
ý đến lễ mai táng Họ quan niệm rằng con ngời sau khi chết cũng có cuộcsống gần giống nh ở trần thế, do đó những ngời giàu có khi mai táng thờngchôn theo nô lệ và những thứ quý giá và đợc xây dựng những lăng mộ lớn.Những ngời bình thờng cũng đợc khâm niệm trong những quan tài bằng
đất đất sét
Tàn d của việc sùng bái các dã thú đợc biểu hiện ở việc thể hiện hìnhtợng các thần: thần Mac đúc đợc thể hiện bằng con quái vật nửa rắn, nửachim dữ, thần Nêgan, vua của âm phủ đợc thể hiện thành một quái vật mặtngời nhng lại có sừng bò trên lng, có lông, cánh, có mình của s tử và cóbốn chân
Do sự phát triển của tôn giáo, tầng lớp thầy cúng thịnh hành ởBabilon, tầng lớp này chứa thành 30 loại, trong đó thầy cúng đợc bùa chú
và đoán tơng lai đợc coi trọng nhất Thu nhập của thầy cúng rất lớn, vì dânchúng thờng đến các đền miếu dâng nhiều lễ vật
1.2.3.2 Đạo Do Thái ở Tiền á
Trang 18Ngoài khu vực Lỡng Hà, thời cổ đại ở miền Tây á còn xuất hiện mộtthứ tôn giáo đó là đạo Do Thái Vào khoảng cuối thiên niên kỉ III TCN,một bộ tộc con cháu của ngời Xêmit là Hêbơrơ (tức ngời Do Thái) tràn vàomiền Tây á cùng sinh sống với c dân bản địa vùng Canaen rồi dần dần họlàm chủ vùng đó (nằm ở bờ Đông Địa Trung Hải).
Vào khoảng thế kỷ XVII TCN, khi ngời Híchxốt đang thống trị ởmiền hạ lu Sông Nin, một bộ phận ngời Hêbơrơ đã giúp ngời Hichxốt thuthuế và áp bức ngời Ai Cập Về sau khi ngời Ai Cập lật đổ đợc nền thốngtrị của ngời Hichxốt, khôi phục lại đất nớc của họ và cũng báo thù ngờiHêbơrơ một cách tàn bạo Sau trên bốn trăm năm sống trên đất Ai Cập, ng-
ời Hêbơrơ cuối cùng không chịu nổi chính sách bạo ngợc của ngời Ai Cập,
đã nổi dậy bạo động Vào năm 1225 TCN, dới sự lãnh đạo của một thủ lĩnhquân sự là Môidơ họ đã trốn thoát khỏi Ai Cập
Sau khi trốn khỏi Ai Cập, ngời Hêbơrơ phải sống phiêu bạt đầy giantruân khổ ải nhiều năm giữa vùng sa mạc trên bán đảo Xinai Trong hoàncảnh đó họ khát khao có một sức mạnh siêu hình giúp họ vợt qua giannguy, duy trì cuộc sống Trong hoàn cảnh đó, vị thủ lĩnh quân sự là Môidơ
đã đề xớng thần Giêhôva (còn gọi là Iakhơva), vốn là thần hộ mệnh của bộlạc cũ của ngời Hêbơrơ thành vị thần tối cao Môidơ đã dẫn thành nhữngngời trong bộ lạc của mình lên núi Xinai cùng nhau ớc định Mời đều răn.Chính Mời điều răn này về sau trở thành những tín điều của đạo Do Thái,
đạo Cơ đốc và có ảnh hởng đến đạo Ixlam sau này
Khoảng vài trăm năm trớc khi Môidơ dẫn ngời bộ lạc của mình thoátkhỏi Ai Cập, tại vùng Tây biển Chết và sông Gioocđan đã có một số bộ lạccũng thuộc giống ngời Hêbơrơ cùng sinh sống với ngời Canaen Đến khingời Hêbơrơ từ Ai Cập trở về lại xâm nhập xứ Canaen và đã xảy ra chiếntranh tàn khốc và kết quả là ngời Hêbơrơ đã chinh phục bản địa rồi cuốicùng sống trà trộn với nhau tạo thành một bộ tộc mới
Trong hai thế kỉ XII, XI TCN, ngời Hi Lạp thiên di xuống phơngnam, buộc ngời Philixin (tức ngời Palextin ngày nay) trên đảo Cơrét phảivợt biển thiên di sang xứ Canaen Ngời Hêbơrơ xuất hiện một số quý tộc
có thế lực muốn thâu tóm quyền thể vào tay mình, nên họ lập ra một cơquan bạo lực để duy trì đặc quyền Vào năm 1028, một thủ lĩnh quân sự làSaun đợc quý tộc bầu lên làm Vua Nhà nớc của ngời Hêbơrơ ra đời
Ngời kế ngôi Saun là Đavit trong vòng 40 năm trị vì đã củng cốthêm nền thống trị của ngời Hêbơrơ Đavit đã chọn thành do ngời Canaendựng lên trên đồi Xiôn làm thủ đô và đặt tên là Giêrudalem và xây đền thờGiêhôva ở đó
Trang 19Dới thời trị vì của con trai Đavit là Sôlômôn vơng quốc Hêbơrơ đạt
đến cờng thịnh, nhng trong xã hội cũng nảy sinh nhiều mâu thuẫn gay gắt
và sự phân biệt giữa hai miền Nam, Bắc cũng diễn ra sâu sắc Sau khiSôlômôn chết thì vơng quốc Hêbơrơ tách ra thành hai vơng quốc nhỏ V-
ơng quốc Ixraen ở miền Bắc với thủ đô là Samari, vơng quốc Giuđê ở miềnNam với thủ đô là Giêrudalem Ta thờng gọi vơng quốc Giuđê là vơngquốc Do Thái (do dịch từ tiếng Trung Hoa cổ)
Vơng quốc Ixraen bị Atxiti thôn tính vào năm 722 TCN Vơng quốcGiuđê thì tiếp tục giữ đợc độc lập trên 130 năm nữa đến năm 586 TCN thì
bị vơng quốc Tân Babilon thôn tính rồi về sau lại bị Ba T , Hi Lạp Makêđônia, cuối cùng là La Mã xâm lợc, thống trị và bị bóc lột, áp bức hếtsức nặng nề Trong bối cảnh đó, ngời dân Giuđê (tức ngời Do Thái) khátkhao và hi vọng xuất hiện một vị tiên sứ của thần tối cao giúp họ xóa bỏmọi bất công để xây dựng nên một xã hội công bằng Trong khi đó, từ thế
-kỷ VIII TCN, trong xã hội Giuđê đã xuất hiện nhiều nhà tiên tri đề xớngviệc tin theo thiên sứ của thánh Giêhôva Vị thiên sứ đó đã xuất hiện trêntrần thế để cứu vớt làm ngời Giáo lý của những nhà tiên tri kết hợp vớimột số nghi thức tôn giáo cũ đã hình thành ra một thứ tôn giáo của ngờiGiuđê, đó là đạo Do Thái Trong khoảng một ngàn năm từ thế kỉ XII đếnthế kỉ I TCN, ngời Do Thái đã ghi chép lại những chuyện thần thoại, những
sự kiện lịch sử, những phong tục, tập quán, luật pháp cổ và Mời điều răncủa Môidơ cùng với những lời nói của các tiên tri để tập hợp lại thành kinhthánh gọi là kinh cựu ớc Trải qua nhiều lần sửa chữa, thêm bớt, kinh Cựu -
ớc trở thành cuốn kinh thánh của đạo Do Thái và là một bộ phận của kinhthánh đạo Cơ đốc sau này
Trong kinh thánh của đạo Do Thái ghi rõ Mời điều răn của thánhGiêhôva:
1 Ta là Chúa vĩnh cửu, cứu ngời khỏi kiếp lầm than, nô lệ
2 Không có chúa nào ngoài ta ra, không đợc thờ dị thần khác
3 Không gọi chúa một cách vô cớ
4 Mỗi tuần làm việc sáu ngày, còn ngày thứ bảy dành để thờ chúa
5 Hãy tôn kính cha mẹ, hãy làm cho họ vui vẻ để sống lâu
6 Chớ giết ngời
7 Chớ tà dâm
8 Chớ trộm cắp
9 Chớ nói dối, chớ vu cáo ngời khác
10 Chớ uống rợu, say rợu
Trang 20Đạo Do Thái có ảnh hởng rất lớn đối với các dân tộc ở Tây á vàchâu Âu
1.2.3.3 Đạo Cơ đốc ở Palextin (thuộc đế quốc Đông La Mã)
Thời cổ đại, lúc đầu ngời La Mã theo đa thần giáo Từ khi tiếp xúcvới văn hóa Hy Lạp, ngời La Mã tiếp thu hệ thống thần thánh của ngời HyLạp và gọi tên các vị thần theo kiểu La Mã
- Thần Dớt của Hy Lạp đợc cải biên thành thần Giupite, là vị thần tốicao
- Nữ thần Hêra (vợ của thần Dớt) đợc cải biên thành nữ thần Giunôn
- Thần Đêmêtê (thần bảo vệ mùa màng) thành thần Ngũ Cốc
- Thần Aphrôđit (thần tình yêu và sắc đẹp) thành thần Vênus
Ngoài ra ngời La Mã còn thờ thần chiến tranh gọi là Macxơ
Từ thế kỷ XII TCN, ở vùng Palextin thuộc miền Tây á đã xuất hiệnmột thứ tôn giáo lớn của ngời Hêbơrơ đó là đạo Do Thái Tôn giáo này doMôidơ sáng lập, với chủ trơng thờ thánh Giêhôva (một vị thần của bộ lạcmạnh nhất thuộc ngời Hêbơrơ thời cổ) Môidơ khuyên mọi ngời thực hiện
10 điều răn của thánh Giêhôva để đợc toát khỏi mọi sự cực khổ, bất hạnh
và sau khi chết linh hồn sẽ đợc lên chốn thiên đàng sung sớng, bình an
Đến thế kỷ cận kề công nguyên, chế độ chiếm hữu nô lệ ở La Mãbắt đầu suy vi, nền chính trị trở nên thối nát, quần chúng nhân dân bị ápbức vô cùng thậm tệ, nhất là ở những vùng bị đế quốc La Mã chinh phục
và thống trị, trong đó có Palextin ở miền Tây á Quần chúng nô lệ bị ápbức rất khát khao đợc giải phóng họ khỏi kiếp cực khổ Hơn nữa, từ thế kỷXII TCN ở vùng này đã xuất hiện và tồn tại đạo Do Thái với chủ trơngsống hòa bình, bình đẳng, bác ái Đó là điều kiện cho đạo Cơ đốc xuất hiện
và đợc truyền bá nhanh chóng vào đế quốc La Mã
Ngời sáng lập ra đạo Cơ đốc là Giêsu Crit, một ngời Do Thái, sinhvào năm thứ t TCN tại vùng Giêrudalem Tuy vậy, theo lịch Cơ đốc giáothì Giêsu ra đời đợc coi là mốc mở đầu cho kỷ nguyên dơng lịch mà tadùng ngày nay
Lúc Giêsu ra đời, Palextin là một tỉnh nằm trong lãnh thổ của đếquốc Đông La Mã Lúc đó hoạt động tôn giáo trong đó có đạo Do Thái dotầng lớp quý tộc chủ nô nắm giữ cai quản Lúc còn nhỏ, Giêsu đã từngquan niệm kinh của đạo Do Thái và hiểu đợc ngời Do Thái đang khát khao
có một vị chúa cứu thế cứu vớt họ, khi lớn lên ông tự xng mình chính là vịchúa cứu thế, ngời mà dân Do Thái mong ớc từ lâu Đồng thời, Giêsu giảithích giáo lí theo cách riêng của mình cho phù hợp hoàn cảnh lịch sử mớilúc bấy giờ Ông giải thích rằng vị thánh thiêng liêng cao cả nhất là Thợng
Trang 21đế, hay cũng gọi là Đức Chúa Cha Đó là ngời có lòng vị tha, bác ái đối vớichúng sinh, sẵn sàng xóa hết mọi tội lỗi cho nhân loại và sau khi chết linhhồn đợc giải thoát và đợc lên cõi thiên đàng, đó là vơng quốc hạnh phúccủa Chúa Nơi đó không có bất công, không có hận thù, không có áp bứcbóc lột, mọi ngời đều bình đẳng, an nhàn, sống trong hòa bình, sung sớnghạnh phúc Năm lên 30 tuổi, Giêsu đến Giêrudalem tuyên truyền t tởng đó,giáo lý của Giêsu phù hợp với nguyện vọng của quần chúng lao khổ lúc đó
và trở thành niềm an ủi tinh thần cho họ khi đang hoàn toàn bế tắc, bất lực
và tuyệt vọng Từ đó nhân dân lao động và quần chúng nô lệ nghe theo vàtin vào giáo lý của Giêsu, đồng thời tôn Giêsu làm vị giáo chủ Giêsu trởthành ngời phất ngọn cờ chống lại đạo Do Thái do tầng lớp quý tộc chủ nônắm giữ, cai quản, đồng thời t tởng của Giêsu cũng chống lại nền thống trịcủa đế quốc La Mã Mặt khác những ngời theo đạo Cơ đốc rất căm ghétchế độ bất công đơng thời, khát khao và đề cao bình đẳng, bác ái Hơn nữa,Giêsu cũng dự báo với tín đồ rằng đế quốc chiếm hữu nô lệ La Mã nhất
định sẽ bị diệt vong Vì vậy, giai cấp quý tộc chủ nô thống trị La Mã cămthù và muốn tiêu diệt đạo Cơ đốc Tầng lớp tăng lữ cao cấp của đạo DoThái, đại diện cho giai cấp quý tộc chủ nô La Mã cho rằng Giêsu là kẻ gieorắc tà giáo nên đã bài xích và kết tội ông Vào mùa xuân năm 29, khiGiêsu mới 33 tuổi quý tộc chủ nô thống trị La Mã đã hành hình Giêsubằng cách đóng đinh Giêsu trên cây chữ thập (sau này tín đồ gọi là câythánh giá)
Thời gian truyền đạo của Giêsu ngắn ngủi chỉ 3 năm và ông khôngviết sách Sau khi ông bị hành hình, những môn đồ của ông đem giáo lýcủa ông tuyên truyền rộng rãi trong dân chúng Trong số nhũng môn đồ ấy,Phao Lồ là ngời đầu tiên đem giáo lý Cơ đốc truyền ra ngoài đất Palextin.Giáo lý của Giêsu đợc nhiều ngời tin và nhanh chóng lan rộng, chẳng baolâu ở vùng Tiểu á (nay là lãnh thổ của Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, La Mã đềuxuất hiện tổ chức giáo hội của đạo Cơ đốc)
Tầng lớp đại quý tộc chủ nô La Mã rất căm ghét tín đồ Cơ đốc giáo
và quy cho họ là những kẻ phiến loạn để thẳng tay trừng trị Năm 64, tênhôn quân tàn bạo Nêrôn đã vu cáo cho tín đồ gây ra vụ hỏa hoạn ở La Mã
để tàn sát tín đồ với quy mô lớn
Mặc dù tín đồ bị hãm hại tàn khốc, song đạo Cơ đốc vẫn là nguồn an
ủi lớn về tinh thần đối với quần chúng lao khổ và nô lệ nên ngời theo đạoCơ đốc vẫn ngày càng đông
Qua trên 200 năm truyền bá, thế lực đạo Cơ đốc ngày càng bành ớng trên khắp đế quốc La Mã Đến nửa sau TKIII, trên lãnh thổ đế quốc La
Trang 22tr-Mã có hơn 1800 giáo đờng Từ Lỡng Hà ở phía Đông đến Tây Ban Nha ởphía Tây, Ai Cập ở phía Nam đến quần đảo Anh ở phía Bắc…đâu cũng có
tổ chức của tín đồ Cơ đốc giáo hoạt động ở Đông đế quốc La Mã (HyLạp, Ai Cập, Tây á, Tây Bắc ấn Độ) có tới 1/2 tổng số c dân, ở Tây đếquốc La Mã có tới 1/15 tổng số dân c là tín đồ Cơ đốc giáo Mặt khác,Giáo hội Cơ đốc là những đoàn thể vững mạnh, có tổ chức chặt chẽ, nêntập đoàn thống trị La Mã không thể coi thờng Những năm đầu TKVI, dớithời thống trị của Hoàng đế Đicơlêtianut, tín đồ Cơ đốc giáo bị tàn sát ghêgớm, hàng nghìn tín đô bị giết hại, song Cơ đốc giáo vẫn phát triển Vìvậy, sau thời trị vì của Đicơlêtianut các Hoàng đế phải nhợng bộ Cơ đốcgiáo và có xu hớng biến nó thành công cụ để củng cố uy quyền của giaicấp thống trị
- Vào năm 311, Hoàng đế Galeriut đã ra lệnh đình chỉ tàn sát tín đồCơ đốc giáo và chấp nhận địa vị bình đẳng cho Cơ đốc giáo với các tôngiáo khác
- Vào năm 313 Hoàng đế Cônxtatinut ban bố sắc lệnh Milanô xácnhận địa vị hợp pháp của đạo Cơ đốc
- Năm 325, tại Naxê (thuộc Tiểu á), Đại hội Cơ đốc giáo đầu tiên
đ-ợc triệu tập với sự có mặt của trên 300 vị giáo chủ từ các tỉnh của đế quốc
La Mã Từ đó, giáo hội Cơ đốc trở thành một bộ phận trong guồng máythống trị của quý tộc chủ nô La Mã
- Năm 337, Cônxtatinut trớc lúc chết đã chịu làm phép rửa tội Đó là
vị Hoàng đế La Mã đầu tiên theo Cơ đốc giáo Cuối TK IV, dới thời Hoàng
đế Têôđôđiut, Cơ đốc giáo đợc tôn làm quốc giáo
Nh vậy, buổi đầu đạo Cơ đốc giáo là biểu hiện sự phản kháng về tinhthần của quần chúng bị áp bức bóc lột, là niềm an ủi trớc sự bất lực vớicuộc sống hiện tại của họ Nhng về sau nó bị biến thành công cụ của giaicấp thống trị để mê hoặc nhân dân, củng cố uy quyền và địa vị thống trịcủa chúng để áp bức bóc lột quần chúng lao động
Suốt thời phong kiến, giáo hội Cơ đốc giáo là chỗ dựa vững chắcnhất của thế lực phong kiến thống trị ở châu Âu Bản thân giáo hội Cơ đốc
là một thế lực phong kiến lũng đoạn, chi phối mọi hoạt động t tởng, vănhóa, nghệ thuật, giam hãm t tởng, tình cảm con ngời trong tối tăm, dốt nát,lạc hậu, ra sức gieo rắc t tởng duy tâm thần bí Những t tởng tiến bộ, khoahọc đều bị coi là kẻ thù và thẳng tay trừng trị, tiêu diệt
Từ TK IV đến TK X, văn học Cơ đốc rất phát triển Một học giả Cơ
đốc giáo la Giêrôm đã dịch kinh cựu ớc từ tiếng Hêbơrơ (tiếng Do Thái) và
Trang 23kinh Tân ớc từ tiếng Hi Lạp ra tiếng Latinh và từ đó đợc tín đồ coi là bộkinh thánh chính thức lu truyền cho đến ngày nay.
Sự phân biệt của giáo hội Cơ đốc:
Sau khi trở thành quốc giáo, đạo Cơ đốc thành lập ra 5 trung tâm Dotổng giám mục đứng đầu đó là Cônxtantinôp ở Tiểu á, Antinôt ở Hi Lạp,Giêrudalem ở Palextin, Alêchxăngđri ở Ai Cập, và trung tâm La Mã
Sang thời kỳ trung đại, do tình hình ở 2 khu vực Đông và Tây diễn rakhác nhau nên hoạt động của giáo hội cũng khác nhau Lúc đó, giáo hoàng
La Mã có ý đồ muốn ngự trị lên toàn bộ giáo hội, gây nên sự bất đồng giữa
2 khu vực trong tổ chức giáo hội Mặt khác hai khu vực có sự khác nhautrong việc giải thích “Tam vị nhất thể” làm cho mâu thuẫn giữa hai khuvực càng căng thẳng Giáo hội phơng Đông cho rằng chúa Giêsu và thánhthần là do cả Chúa Cha sinh ra Còn giáo hội phơng Tây thì cho rằng thánhthần là do cả Chúa Cha và Chúa Con sinh ra Từ đó mâu thuẫn ngày càngcăng thẳng và vào năm 867, tổng giáo mục ở Cônxtantianôp là Phôtiuttriệu tập các giáo hội phơng Đông và tuyên bố khai trừ giáo tịch của giáohoàng La Mã là Nicôla I
Vào nửa đầu TK XI tổng giáo mục Cônxtantianôp là MikenKerulariôt và giáo hoàng La Mã là Leô I xảy ra tranh chấp quyền quản lýgiáo hội ở Nam Italia Do vậy vào năm 1054, giáo hoàng La Mã cử sứ giả
đến Cônxtantianôp vứt lên bàn thờ giáo đờng Xôphia giấy khai trừ giáotịch của tổng giáo mục của Cônxtantianôp Đáp lại, tổng giáo mụcCônxtantianôp yêu cầu Hoàng đế Badatium triệu tập hội nghị tôn giáo đểkhai trừ giáo tịch của giáo hoàng La Mã
Từ đó giáo hội Cơ đốc chính thức chia thành 2 giáo hội: Giáo hội ởphơng Tây gọi là giáo hội La Mã hay giáo hội Thiên Chúa do giáo hoàng
1.2.3.4 Đạo Ixlam ở bán đảo Arập:
Ngời sáng lập ra đạo Ixlam là Môhamet Môhamet sinh năm 570 (cótài liệu viết sinh năm 571) Tuy sinh ra từ một bộ lạc có thế lực mạnh nhất
ở Meca, song Môhamet phải sống trong cảnh cực khổ vì mồ côi cha lúc
Trang 24ch-a đầy 6 tuổi Môhch-amet phải sống với ngời bác làm nghề chăn cừu Lên tuổithanh niên, Môhamet từng làm nghề dẫn đờng cho các đoàn thơng gia đibuôn lạc đà qua sa mạc Arập Trong quá trình đó ông đợc nghe kể nhiềuchuyện về tín ngỡng, giáo lý, nghi lễ, tổ chức của các tôn giáo cổ đại xuấthiện ở miền Tây á nh đạo Do Thái, đạo Cơ đốc và nhờ trí thông minh ôngnhớ đợc tận tờng những điều đợc nghe kể về các tôn giáo Khi lớn lên,Môhamet đi làm thuê cho một ngời đàn bà góa là một thơng gia giàu cótên là Hadia Môhamet là ngời thông minh, giàu nghị lực, siêng năng, cầnmẫn nên đợc ngời đàn bà này rất quý mến Chẳng bao lâu, ngời đàn bà ấykết duyên với Môhamet khi ông ta lên 24 tuổi, còn bà ta 40 tuổi Sau cuộchôn nhân này, Môhamet có tổ ấm gia đình và có đợc sự độc lập về kinh tế.Sau khi lấy vợ, Môhamet tiếp tục buôn bán thêm một thời gian nữa Đếnnăm 610 ông bỏ nghề buôn để bắt đầu hoạt động truyền đạo Vốn là ngờithông minh Môhamet đã tiếp thu nhiều yếu tố của các tôn giáo khác ởmiền Tây á, đặc biệt là đạo Do Thái và đạo Cơ đốc rồi kết hợp với các tínngỡng mà c dân các bộ lạc ở phía Bắc bán đảo Arập tôn thờ để đề xớng ramột thứ tôn giáo mới phù hợp với hoàn cảnh trên bán đảo Arập trong cáctín ngỡng đó của ngời Arập có tín ngỡng tôn thờ thánh Taalia Trớc khi đạoIxlam xuất hiện ngời Arập tởng tợng Thánh Taalia có nhiều điểm giốngcác vị thánh của các tôn giáo cổ đại nh là Giêhôva của đạo Do Thái hoặcchúa Cha (Đức Chúa Trời) của đạo Cơ đốc Trên cơ sở đó, Môhamet đề x-ớng thánh Ala là thánh tối cao và duy nhất, đồng thời tự xng mình là sứ giảcủa thánh Ala, đồng thời kêu gọi mọi ngời tuân theo, phục tùng thánh Ala.Vì vậy, tôn giáo do Môhamet truyền bá có tên là Ixlam (tiếng Arập cónghĩa là tin theo, làm theo, phục tùng hoặc tuân theo ) Về sau ngời thuộctộc Hồi ở miền Tân Cơng Trung Quốc tiếp thu tôn giáo này rồi truyền bávào Trung Quốc, nên ngời ta quen gọi đạo Ixlam là đạo Hồi.
Về mặt tín ngỡng: đạo Ixlam cho rằng chỉ có một vị thánh duy nhấtcủa vũ trụ là Ala, ngoài ra không có thánh nào khác Thánh Ala đã sángtạo ra tất cả, trong đó có loài ngời Còn Môhamet là sứ giả của Ala và là vịtiên tri của tín đồ
Nguyên tắc của đạo Ixlam là lòng tin thánh thần, ma quỷ và kinhCôran, tin vào sứ mạng của sứ giả Môhamet Lòng tin đó đợc hình thànhtrên cơ sở uy tín của thánh Ala Điều đó chứng tỏ đạo Ixlam có tiếp thugiáo lý của đạo Do Thái và đạo Cơ đốc nên cũng có quan niệm về Thiên
đàng, điạ ngục, ngày phán xét cuối cùng, quan niệm về thần linh, ma quỷ.Ala của đạo Ixlam cũng giống nh Giêhôva của đạo Do Thái, Chúa Cha của
đạo Cơ đốc, đều là vị thợng đế Môhamet cho rằng, Môidơ sáng lập đạo Do
Trang 25Thái và đem kinh Cựu uớc, Giêsu Crit sáng lập ra đạo Cơ đốc và đem kinhTân ớc, đều là những bậc tiên tri tiền bối, còn Môhamet là bậc tiên tri cuốicùng và vĩ đại nhất, là sứ giả của thánh Ala Đạo Ixlam cũng tin vào linhhồn bất tử, sau khi chết linh hồn sẽ đợc đầu thai sống lại ở kiếp khác Ailàm đợc nhiều điều thánh Ala dạy sẽ đợc lên Thiên đàng, trái lại sẽ bị đàyxuống địa ngục.
Khác với các tôn giáo khác ở chỗ đạo Ixlam không thờ tợng thần vìquan niệm cho rằng chỉ có Ala toả khắp mọi nơi, không có hình tợng nàothể hiện đợc Do vậy, trong nhà thờ đạo Ixlam không có tranh, ảnh tợng màchỉ có một chỗ lõm trong tờng để đặt kinh Côran và trang trí bằng vài dòngchữ Arập Riêng trong đền thờ Caaba ở Meca có thờ một hòn đá đen, đợccoi là vật từ trên trời giáng xuống
Tín đồ của đạo Ixlam gọi là Muxunman tức là những ngời tin theo,phục tùng thánh Ala và sứ giả Môhamet
Về mặt xã hội: đạo Ixlam thừa nhận tồn tại chế độ nô lệ, chế độ mộtchồng, nhiều vợ, hạ thấp địa vị của phụ nữ Tuy nhiên đạo Ixlam cũng kêugọi mọi ngời đoàn kết, coi các bộ tộc Arập đều là anh em, kêu gọi mọi ng-
ời giúp đỡ ngời nghèo, đàn bà goá bụa, trẻ mồ côi
Đạo Ixlam chủ trơng phát động chiến tranh để bảo vệ và phát triểntôn giáo Ai tích cực chiến đấu sẵn sàng hi sinh bảo vệ tôn giáo, thể hiệntrung thành với thánh Ala và sứ giả của thánh đợc coi là "tử vì đạo" thì sẽ
đợc cứu vớt và sau khi chết linh hồn sẽ đợc giải thoát lên cõi thiên đàng
Về nghĩa vụ của tín đồ:
Chỉ thừa nhận có thánh Ala là tuyệt đối tin tởng vào thánh Ala.Môhamet là sứ giả của thánh Ala và vị tiên tri cuối cùng
Hàng ngày phải cầu nguyện 5 lần vào sáng, tra, chiều, tối và nửa
đêm
Hàng năm tới Ramađan (tháng 9 của đạo Ixlam, tức tháng 4 dơnglịch) phải trai giới một tháng Trong tháng này, từ lúc mặt trời mọc tới lúcmặt troi lặn, tuyệt đối không đợc ăn, uống Nhng những ngời già, ngờibệnh, phụ nữ có thai, trẻ em dới 10 tuổi thì đợc miễn
Phải nộp thuế cho đạo, phải làm việc thiện, bố trí cho ngời nghèo vàtrẻ mồ côi
Nếu ai có điều kiện, ít nhất trong đời phải hành hơng về Thánh địaMecca một lần Ngời nào hoàn thành công việc hành hơng này đợc coi là
đắc đạo và đợc trao danh hiệu “ Hadia” Những Hadia đợc cộng đồngIxlam giáo ở quê hơng Mecca rất kính nể
Trang 26Ngoài ra, đạo Ixlam còn có một số quy định nh: cấm ăn thịt heo,cấm uống rợu, không thờ các tranh, tợng thánh Đàn ông ai cũng phải lấy
vợ, ít nhất một lần, nhiều là bốn lần
Về giáo lý của Ixlam:
Trong kinh Coran, luân lý và hợp pháp hòa trộn vào một TheoMôhamet, kinh Coran là cuốn sách ghi lại những lời truyền dạy của thanhAla, tin thiên sứ, tin kinh điển, tin sứ giả, tin tiền định và tin kiếp sau
Tóm lại, khi mới ra đời Ixlam là thứ tôn giáo của giai đoạn quá độ từxã hội nguyên thủy sang xã hội có giai cấp và nhà nớc trên bán đảo Arập
Về sau khi bán đảo Arập chuyển sang chế độ phong kiến Ixlam giáo trởthành công cụ của giai cấp thống trị để mê hoặc quần chúng nhân dân lao
động, khiến họ phải phục tùng, nhẫn nhục và an phận Vì Ixlam giáo trởthành công cụ của giai cấp thống trị nên ngời đứng đầu nhà nớc cũng làngời đứng đầu về tôn giáo gọi là Calipha, tầng lớp tu sĩ trở thành tầng lớp
có đặc quyền đặc lợi
Quá trình truyền bá và bành trớng của Ixlam:
- Từ thế kỷ VII đến giữ thế kỷ VIII Đây là thời kì đạo Ixlam đợctruyền bá gắn với quá trình xâm lợc các nớc khác của nhà nớc Arập làmcho Arập trở thành một đế quốc rộng lớn: phía Đông đến tận miền Tây Bắc
ấn Độ (nay là Palaxtin), phía Tây đến Bắc Phi, phái Bắc đến tận Tây BanNha C dân những vùng bị Arập chinh phục đều cải theo đạo Ixlam, mangnhững tập tục của đạo này nh không ăn thịt chó, thịt lợn, phải khoác áo dàirộng thùng thình, phụ nữ phải trùm khăn che mặt, xây dựng thánh đờng cóvòm cao, tròn, nhọn
- Từ giữa thế kỷ VIII đến thế kỷ XI Khi triều Abat đợc thành lập,trung tâm Ixlam giáo từ Đamat (thủ đô Xyri) chuyển sang Batđa (thủ đôIrac), nằm trên ngã t đờng giao lu buôn bán của thế giới lúc bấy giờ, nêntôn giáo này có thêm nhiều yếu tố vừa mang tính cổ điển, vừa mang tínhhỗn hợp của nhiều hớng văn minh Đông - Tây - Nam - Bắc
- Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII Đây là thời kì ngời Tuốc từ Trung áthiên di về phía Tây chinh phục triều Abat và tiếp thu Ixlam giáo, làm chotôn giáo này chuyển sang ngời Tuốc Theo bớc xâm lợc của ngời Tuốc,Ixlam giáo đợc truyền bá và bành trớng mạnh mẽ Phía Tây đến tận nớc
áo, phía Đông đến Trung Quốc, phía Nam đến ấn Độ, rồi từ đó xuống tậnInđônêxia, Tây Nam Phi
Trang 27- Từ năm 1258, quân Mông Cổ xâm lợc nhiều nớc và cải theo đạoIxlam, và ảnh hởng của Ixlam giáo lại theo gót chân của ngời Mông Cổkhông ngừng mở rộng.
Ngày nay trên thế giới có khoảng 420 triệu tín đồ Ixlam giáo, trong đóphần lớn c dân các nớc Arập, Tiền á (trừ Li Băng), Thổ Nhĩ Kỳ, Iran,Apganixtan, Pakixtan, Inđônêxia, các nớc Đông Nam Âu, các nớc châuPhi Riêng Arập có 25 triệu tín đồ Ixlam giáo, ấn Độ có 50 triệu, TrungQuốc có 10 triệu, Đông Nam á có 165 triệu, chủ yếu ở Inđônêxia, ViệtNam chỉ có 50 000 tín đồ chủ yếu ở Châu Đốc (An Giang)
Ixlam giáo trở thành quốc giáo của các nớc nh Inđônêxia, Malaixia,Apganixtan, Pakixtan, Băng la đet, Iran, Irac, các nớc Arập, Thổ Nhĩ Kỳ,Xiri, Ai Cập, Marôc
Trang 28Chơng 2
Đặc điểm của các tôn giáo bản địa ấn độ
ấn Độ là quê hơng của một trong ba tôn giáo lớn của thế giới, đó là
đạo Phật Tuy nhiên trong lịch sử ấn Độ đã tồn tại ba tôn giáo là đạoBàlamôn, đạo Phật và đạo Hinđu Triết lý xuyên suốt của ba tôn giáo bản
địa là kiếp luân hồi, nhân quả và nghiệp báo
2.1 Đạo Bàlamôn
2.1.1 Hoàn cảnh ra đời của đạo Bàlamôn
Đạo Bàlamôn là một trong những tôn giáo ấn Độ cổ đại, thịnh hành
cổ xa nhất của đạo ấn Độ, lấy kinh Vêđa làm nội dung cơ bản và các vănkiện có liên quan với Vêđa làm nội dung cơ bản của nó, bởi sùng báiBrahma mà đợc đặt tên
Giữa thiên niên kỉ II TCN, ngời Arian từ dãy núi Hinđu Casơ vợt quacao nguyên Pamia đổ bộ vào lu vực sông ấn, rồi tiến hành cuộc đấu tranhtrờng kì với các dân tộc bản địa chủ yếu ở đó và cuối cùng đã chinh phục
đợc họ Ngời Arian trớc khi tiến vào ấn Độ vốn là bộ lạc du mục, tôn giáotín ngỡng chủ yếu của họ là sùng bái thần thiên nhiên và tổ linh đã đợcphân cách hoá, thực hành tế lửa Xôma (thần rợu), khi đến tuổi trởng thànhphải cử hành nghi thức nhập môn (chứng minh là dân bộ lạc chính thức),sau khi chết tiến hành hoả táng Họ định c ở lu vực sông ấn và sau khi hoàlẫn với các dân tộc bản địa ở đó, dần dần bắt đầu quá độ sang xã hội nôngnghiệp; đã hình thành đạo Vêđa thờ rất nhiều thần, mỗi thần tợng trng chomột lực lợng của tự nhiên Nh thần mặt trời, mặt trăng, thần gió, từ đó lígiải về sức mạnh kì diệu vô hình của vũ trụ Nh vậy tính đa thần giáo biểuhiện rõ nhất Song trong quá trình tôn thờ thì ngời ấn Độ quan niệm vịthần nào quan trọng nhất, thì đó là vị thần duy nhất Và bao trùm lên các vịthần là đấng sáng tạo Vì vậy, thời kỳ Vêđa có sự lng chừng giữa đa thần
và nhất thần Điều đó lí giải đặc điểm của Vêđa giáo là cái thiêng liêngduy nhất lại có sự biểu hiện đa dạng, một tôn giáo nhất thần, có thể biểuhiện đa thần
Ngời Arian là những bộ tộc du mục, vì thế ngời đàn ông giữ vị tríquan trọng cho nên trong các vị thần thì nam chiếm địa vị chính, rất ít vịthần nữ Điều này chứng tỏ chế độ phụ quyền đã tồn tại trong xã hội ấn
Độ, và có ảnh hởng tới các tục lệ, ngời con trai đến tuổi thiếu niên đợc đọcVêđa, mà đến khi già sau khi làm xong các nhiệm vụ trần tục thì vào rừngchuyên chú lễ đạo
Trang 29Thời kì Vêđa nhìn chung cuộc sống của con ngời cha quá khắc nghiệt,
số phận con ngời cha đến nỗi quá cay đắng, không lối thoát Vì thế mục
đích tôn giáo vẫn mang nặng tính chất thế tục, cuộc đời cha phải là bể khổ
Do đó ít nhiều tôn giáo Vêđa còn phóng khoáng và cha thoát khỏi nhữngtín ngỡng địa phơng Nó thực chất là những khúc hát của ngời Arian thểhiện sự lạc quan, yêu đời mặc dù sự nghèo nàn, cùng cực luôn đi cùng ngờiArian
Giữa thế kỉ X TCN, những ngời chinh phục Arian lại từ thợng lu sông
ấn đổ về phía Đông đến lu vực sông Hằng, sông Chômuna Thời kì nàynền sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp ấn Độ đã có sự phát triểnquan trọng Kinh tế phát triển làm tăng nhanh tốc độ phân hoá của xã hội
ở thời kì Vêđa, tại ấn Độ đã xuất hiện một chế độ xã hội đặc biệt gọi
là chế độ Vacna, cũng gọi là chế độ “chủng tính” ở một số nớc nh Ai Cập,Lỡng Hà cổ đại, tuy cũng có chế độ đó nhng không đâu điển hình bằng ấn
Độ Chế độ Vacna là một chế độ xã hội dựa trên sự phân biệt chủng tộc, vềdòng họ quý - tiện, về nghề nghiệp, về tôn giáo, hình thành trong quá trìnhngời Arian chinh phục và thống trị ngời ngời Đraviđa, trong quá trình phânhoá xã hội ngày càng sâu sắc giữa quý tộc và thờng dân ngời Arian
Trải qua một quá trình phát triển lâu dài trên đất ấn vào thời hậu kìVêđa, ngời Arian về cơ bản đã định c và xây dựng đợc một thể chế xã hộicủa mình Song ngời Arian đang ở trong một trình độ sản xuất thấp kémhơn ngời bản đại Đraviđa Vì thế phơng sách để củng cố địa vị thống trịcủa mình là duy trì chế độ “chủng tính”, đồng thời củng cố về mặt t tởng từtôn giáo Vêđa họ đã nâng lên tầm triết lý duy tâm thần bí Và ở một mứctrừu tợng, phức tạp hơn, xa rời cuộc sống chân thực của con ngời, đó là đạoBàlamôn
2.1.2 Những nét cơ bản của đạo Bàlamôn:
Đạo Bàlamôn về mặt giáo lí đợc đánh dấu bằng bộ “Thánh điểnBrahmana” là sách chủ yếu chú giải, diễn giải của kinh Vêđa nó đợc xâydựng trên 3 yếu tố:
Đacma (Dharma - đạo): Đây là những quy định về công việc, cáchsống, bổn phận và kỉ luật thuộc về tập cấp của mình Ngời ấn Độ nào giữtục lệ thì cứ sống trong vòng truyền thống đó, ông cha sống ra sao thì mìnhsống nh vậy, một cách thỏa mãn không ba giờ thay đổi cấp độ tập cấp Vìthế một ngời Dharama thì cứ nh quy luật tự nhiên vậy, có từ xa xa rồi.Ngoài Dharma của mỗi tập cấp còn có Dharma chung gồm những bổnphận chung cho mỗi tập cấp nh phải: sùng bái tôn trọng Bàlamôn, sùng
Trang 30kính bò cái, bổn phận đẻ con Đây chính là cách ứng xử đúng đắn, hợp đạo
đức ở đời
Varna (đẳng cấp) cho rằng mọi ngời phải tuân thủ những trật tự kiên
định của mình (Dharma) không ai đợc ganh tỵ với vị trí của mình và tuânthủ những Dharma quy định cho đẳng cấp của mình Theo đó những ngờithuộc thân phận thấp kém, bị áp bức buộc phải có ý nghĩ về sự cần thiếtphải phục tùng và tuỳ thuộc đẳng cấp trên Sự bần cùng thê lơng và vị trí đã
đợc quy định cho mỗi tập cấp, mọi con ngời trong xã hội chính là sự trừngphạt đối với những tội lỗi mà kiếp trớc họ mắc phải Cho nên mỗi ngời ở
đẳng cấp khác nhau phải chịu trách nhiệm của mình và làm tốt trách nhiệm
để đọc kinh Vêđa, ngữ pháp và các nghi lễ Phải tụng niệm, cúng bái, họchỏi hết lòng thờ Guru (thầy của mình) Sau giai đoạn trở thành đồ đệBàlamôn, ngời thanh niên bớc sang giai đoạn Grihastha (gia trởng) làm chủgia đình và phải có con trai săn sóc mình và thờ cúng tổ tiên Sau giai đoạn
có vợ có con, ngời nào nguyện thành thánh thì phải dắt vợ con ẩn trongrừng núi, vui vẻ sống đời một Vanaprasthor có ân ái với nhau thì đủ chocon thôi Và muốn đạt mức cao nhất thành thánh thì ngời Bàlamôn khi vềgià phải bỏ nốt gia đình thành một Sannyasia nghĩa là “ngời đã từ bỏ xãhội, từ bỏ mọi vinh hoa phú quý, mọi ái dục, hệ luỵ chỉ còn giữ một miếng
da sơn dơng để che mình, một chiếc gậy để chống với một cái bầu nớc đểuống Mỗi buổi sáng phải trát tro lên đầy mình, thờng uống “năm chất”của bò cái thiêng liêng và khuất thực để sống”
Nh vậy, đạo Bàlamôn cho rằng con ngời dù ở đẳng cấp nào (trừ nhữngngời ngoài đẳng cấp) thì cuối cùng cũng trở thành một đạo sĩ Bàlamôn thựcthụ và ba yếu tố: Darma, Varna, Asrama đợc coi là những quy phạm vĩnhhằng tồn tại trong xã hội
Về mặt nội dung, đạo Bàlamôn là một tôn giáo đa thần trong đó caonhất là thần Brama, là vị thần sáng tạo thế giới Song có nơi cho thần Siva,
vị thần phá hoại là cao nhất; có nơi lại cho thần Visnu, thần bảo vệ, thần
ánh sáng, thần bốn mùa, thần làm cho nớc sông Hằng dâng lên và làm matới cho đồng ruộng tơi tốt là vị thần cao nhất Vì vậy, đạo Bàlamôn có sự
Trang 31phân chia thành các phái khác nhau trong việc thờ thần Siva và Visnu Và
để thống nhất, đạo Bàlamôn quan niệm thần sáng tạo là Brama, thần pháhoại là Siva, và thần bảo tồn là Visnu Nhng ba ngôi này đều là một [tam vịnhất thể], có sự gắn bó mật thiết với nhau trong một chỉnh thể thống nhấtbiện chứng vừa đối lập vừa hoà đồng Sáng tạo để bảo tồn rồi huỷ diệt, huỷdiệt để sáng tạo rồi bảo tồn và bảo tồn để huỷ diệt rồi sáng tạo, sự chuyểnhoá chức năng đó cứ tiếp diễn trong một chu kì bất tận Vì vậy, thần huỷdiệt nhiều khi lại biểu hiện mặt sáng tạo và bảo tồn Visnu có khi kết hợpvới Siva thành một vị thần duy nhất Trong khi đó thần Brama là vị thầnsáng tạo, song trên thực tế lại thấp hơn hai vị thần kia
Ngoài ba vị thần chính đó, đạo Bàlamôn còn thờ nhiều vị thần khácnữa nh thần Voi, thần Khỉ, thần Bò, đợc nhắc nhiều trong các buổi hành lễ.Một trong những đặc điểm quan trọng trong nội dung giáo lý đạoBàlamôn là thuyết luân hồi Nếu ở giai đoạn Vêđa còn ở dạng sơ khai thì
đến giai đoạn này đã đợc hoàn thiện hơn Họ cho rằng Brama là linh hồncủa vũ trụ, là một tồn tại duy nhất và vĩnh hằng Con ngời là một bộ phậncủa Brama vì thế có sống, có chết song linh hồn con ngời đợc dời từ vỏ bọcvật chất này chuyển sang vỏ bọc vật chất khác Linh hồn mãi mãi tồn tại và
sẽ luân hồi trong nhiều kiếp sinh vật khác nhau Nhờ vậy con ngời sẽ đợchồi sinh trong một trạng thái mới Linh hồn có thể ở trạng thái cao hơnhoặc thấp hơn về chất, điều đó tuỳ thuộc vào con ngời có giữ đúng các luật
lệ của tôn giáo và các quy tắc mà thần đã định sẵn cho mỗi con ngời haykhông? Quan niệm này đã đợc sử dụng để xây dựng học thuyết về Karma(nghiệp) tức là con ngời đợc báo đáp ở cõi chết tuỳ theo hành vi lúc sinhthời của mình Việc con ngời đợc biến hoá ra sao, theo đạo Bàlamôn nóphụ thuộc vào việc ngời ta tuân thủ Dharma (đạo) nh thế nào? Và tuân thủchính xác sự sai khiến của các giáo sĩ đến mức độ nào? Vi phạm nhữngnguyên tắc đã quy định trong Dharma, Varma sẽ dẫn đến việc đầu thai làmngời khổ cực, thậm chí là những động vật bẩn thỉu, song nếu thực hiện
đúng thì sẽ trở thành ngời cao quý, con ngời sẽ giải thoát khỏi sự biến hoá
Trang 32sinh ra từ những bộ phận của thần thánh Thần Purusa (ngời khổng lồ) hisinh cơ thể để tạo nên bốn đẳng cấp trong xã hội.
Đẳng cấp Bàlamôn đợc sinh ra từ “mồm” thần, vì thế đợc ban cho tinhthần thiêng liêng chuyên lo việc tôn giáo, học và dạy kinh Vêđa nhằm bảo
đảm cho kinh Vêđa đợc lu truyền
Đẳng cấp Ksatriya, đợc sinh ra từ “tay” vì thế đợc ban cho sức mạnhchuyên sử dụng vũ khí để che chở của cải và sinh mạng con ngời, đảm bảocho chính quyền đợc đứng vững
Đẳng cấp Vaisia từ “đùi” thần mà ra, vì thế đợc giao cho việc lao
động sản xuất, chuyên lo trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán nhằm tạo ra củacải vật chất nuôi sống xã hội
Đẳng cấp Suđra từ bàn “chân” thần sinh ra cho nên đợc giao phó bổnphận hầu hạ, phục dịch ba đẳng cấp trên
Từ những quy định đó, đạo Bàlamôn cho rằng chỉ ba đẳng cấp trên
đ-ợc coi là trong sạch về mặt tôn giáo, có quyền học tập kinh Vêđa Họ đđ-ợcxem là ngời sinh ra hai lần: một lần sinh thể xác và một lần sinh tinh thần
và đợc đeo sợi dây thiêng Những ngời đó đợc gọi là Dvija (ngời hai lầnsinh) Còn đẳng cấp cuối bị xem là không trong sạch về tôn giáo Vì thếkhông thuộc những ngời Dvija mà thuộc những ngời Eka - jati (sinh mộtlần thể xác) tuy vậy họ vẫn là ngời thuộc thành phần trong đẳng cấp (outcasten) nh ngời làm hèn hạ(pariah), ngời bẩn thỉu (Intouchahbes)
Về mặt giới luật, đạo Bàlamôn thực hiện luật Manu
Luật Manu đợc biên soạn ra trong khoảng từ năm 200 TCN đến năm
200 SCN Gồm 12 phần với 2685 điều Sáu phần đầu nói về sự sáng tạo rathế giới và đẳng cấp Bàlamôn; phần 7 nói về nhà vua; phần 8, 9 nói về cácluật lệ; phần 10 nói về đẳng cấp; phần 11 nói về các nghi lễ; phần 12 nói về
sự tái sinh và cứu rỗi
Tho bộ luật quy định: u tú nhất trong mọi sinh vật là động vật, u túnhất trong loài ngời là ngời Bàlamôn Bàlamôn sinh ra sớm nhất và cónhững hiểu biết về kinh Vêđa nên cần phải thống trị toàn thế giới Vì thế
họ đợc tôn trọng nh các vị thần
Về mặt xã hội, bộ luật quy định chế độ hôn nhân rất khắt khe, nhữngcuộc hôn nhân khác chủng tính đều bị cấm đoán nếu ngời Bàlamôn cới vợhoặc chồng ngoài đẳng cấp thì họ sẽ bị đẩy ra ngoài hệ thống đẳng cấp trởthành ngời bẩn thỉu, ti tiện, và nh vậy sẽ không đợc theo đạo Bàlamôn
Điều 163 ghi “ngời đàn bà bỏ ngời chồng thấp kém của mình ăn ở với ngờicao quý hơn cũng bị đáng chê trách trong thế giới vì bị gọi là ngời tái giá”[1;1012]
Trang 33Về mặt lễ nghi tôn giáo: Nếu ngời Suđra hoặc ngời ngoài đẳng cấpnếu nghe thánh kinh sẽ bị điếc, bị đổ chì vào, nếu tụng thánh kinh sẽ bị cắtlỡi, nếu thuộc lòng kinh thánh sẽ bị chặt làm hai Còn ngời Bàlamôn phải
“nghiên cứu kinh Vêđa, sự khổ hạnh, kiến thức, sự sạch sẽ, sự kiềm chếcác khí quan cảm giác, sự suy nghĩ về tâm hồn là những dấu hiệu củaphẩm chất thiên tâm” (điều 31, chơng XII) [1;1013]
Đồng thời, Luật Manu cũng quy định các nghi lễ về ngày, tháng, nămthực hiện việc cúng thần “khi có lễ phải tẩy rửa thân thể, kiêng rợu thịt, n-
ớc thơm, đồ trang sức, đồ gia vị, kiêng đàn bà, kiêng tất cả những cái đãhoá chua, cũng nh tránh hãm hại các sinh vật” (điều 176, chơng II) hoặcnếu phạm tội trong tôn giáo thì phải “tập trung tinh thần ăn chay trong 3ngày; 1 ngày 3 lần uống nớc; đồng thời 3 lần nhắc lại bài tụng thì ngời đósạch mọi tội lỗi” (điều 41, chơng XI) [1;1013]
2.1.3 ý nghĩa xã hội của đạo Bàlamôn
Lúc đầu ngời ấn Độ theo đa thần giáo mang nhiều yếu tố của tôn giáonguyên thuỷ, đó là nhờ nhiều thần và sùng bái các hiện tợng tự nhiên, đồngthời họ sùng bái động thực vật và ngời chết Đến đầu thiên niên kỉ thứ nhấttrớc công nguyên khi xã hội ngời Arian phân hoá sâu sắc thì các tín ngỡngdân gian chuyển thành tôn giáo để phục vụ cho giai cấp thống trị, đó là đạoBàlamôn Thực chất đạo này là một thứ tôn giáo nhằm bào chữa cho tìnhtrạng bất bình đẳng trong xã hội Giáo lí của nó ra sức thuyết phục mọi ng-
ời tin rằng những nỗi đau trên đời này chỉ là tạm thời và không đáng quantâm, vì cuộc đời này là huyền ảo chỉ có Brama, đấng tối cao, chúa tể của vũtrụ là có thật Nếu ngời ta bị khổ sở thì đó là vì kiếp trớc mắc nhiều tội lỗi,
vi phạm luật Đacma (Dharma) do thần ban ra Ngời bị áp bức có thể hivọng kiếp sau sẽ đầu thai vào một Vacna cao hơn bằng cách theo đúng luật
Đacma, nghĩa là ra sức làm việc không kêu ca, phải biết an phận, biết nhẫnnhục, không ganh ghét quý tộc và ngời giàu Đó tức là cái thuyết luân hồi(Karma)) của đạo Bàlamôn mà sau này đạo Phật đã tiếp thu Đạo Bàlamôn
có vị trí rất quan trọng trong sự phát triển của đạo Hinđu Bản kinh mà
ng-ời Bàlamôn ngày nay mỗi ngày ba lần đọc tụng vẫn là bài kinh đã đợc tổtiên họ đọc tụng cách đây hơn 3000 năm, không thay đổi một câu, mộtchữ Các lễ thức cho đứa trẻ sơ sinh, đám cới, đám tang đều đợc ngời ấngiữ nguyên nh cách đây 3000 năm
Rõ ràng đạo Bàlamôn là một thứ giáo lý nhằm mục đích thủ tiêu đấutranh giai cấp, ngăn ngừa mọi sự phản kháng chế độ áp bức, bóc lột, duy trìtrật tự xã hội đơng thời
Trang 34Đạo Bàlamôn cho vạn vật trong vũ trụ là bất biến, vì thế sự phân chiagiai cấp trong xã hội cũng cố định Con ngời trong vũ trụ sống - chết theoquy luật luân hồi Những ngời thuộc đẳng cấp thấp là do phạm tội từ kiếptrớc, muốn giải thoát phải nhẫn nhục chịu đựng, nó là sự phù hợp với ýnghĩa của thần tối cao Đạo Bàlamôn thực hiện các nghi lễ, lễ luật phứctạp, khắt khe và cổ điển để tạo thành một thứ đạo ngày càng xa rời với tôngiáo nguyên thuỷ trở thành một tôn giáo trừu tợng thái quá với đời sốnghiện thực của con ngời Chính vì lẽ đó đến thế kỉ VI trớc công nguyên đạoBàlamôn mất uy thế trên bình diện thợng tầng xã hội, nhờng chỗ cho đạoPhật
Về sau trải qua nhiều lần sửa đổi, đạo Bàlamôn dần biến thành đạoHinđu, tức ấn Độ giáo, một thứ tôn giáo thịnh hành trong thời đại phongkiến ấn Độ và tồn tại mãi đến ngày nay
2.2 Đạo Phật
2.2.1 Hoàn cảnh ra đời của đạo Phật:
Đạo Phật là một trong ba tôn giáo lớn của thế giới Ra đời vào khoảngthế kỉ VI TCN ở ấn Độ, đạo Phật lu hành rộng rãi ở rất nhiều quốc gia vàkhu vực trên thế giới Trong quá trình truyền bá của mình, đạo Phật đã kếthợp với tín ngỡng, tập tục dân gian bản địa để hình thành rất nhiều tôngphái, có tác dụng vô cùng quan trọng đối với đời sống xã hội văn hoá củanhiều quốc gia
Vào giữa thiên kỉ I TCN ở ấn Độ đã xuất hiện một t tởng chống đạoBàlamôn Đạo Phật là một trong những dòng t tởng ấy Từ thế kỉ VI TCNtrở đi, do kinh tế phát triển, áp bức bóc lột tăng cờng, mâu thuẫn giai cấptrong lòng xã hội ấn Độ ngày càng sâu sắc Trong xã hội ấn Độ cổ đại, cdân bị chia thành những đẳng cấp chênh lệch nhau về địa vị xã hội, tài sản,quyền sống Một số đẳng cấp thì thâu tóm quyền lực và địa vị chính trị nhBàlamôn, Xantơria Những đẳng cấp khác thì phải lao động cực nhọc giankhổ, phải hầu hạ, phục dịch các đẳng cấp trên Cuộc đời họ bị chà đạp,khinh bỉ nhất là tầng lớp Paria Chế độ đẳng cấp đầy tội lỗi ấy đã gây rabiết bao niềm xót thơng, ngang trái, đau đớn cho đông đảo quần chúngnhân dân lao động Trong bối cảnh đó, trong xã hội ấn Độ xuất hiện những
t tởng chống lại đạo Bàlamôn và chống lại chế độ đẳng cấp T tởng đó biểu
Trang 35hiện ở một thứ giáo lý mới giải thích đời ngời bằng những cơ sở mang tínhduy vật và dần dần đợc mọi ngời tin, trở thành tôn giáo, đó là đạo Phật.Theo truyền thuyết, ngời sáng lập đạo Phật là Xítđacta Gôtama(Siddharta Gautama), sau khi thành Phật đợc đệ tử tôn xng là Xakia Muni(Thích Ca Mâu Ni) con vua Sutđôđana nớc Kapilavastu ở chân núiHimalaya, là miền đất bao gồm miền Nam nớc Nêpan và một phần cácbang Uttarơ, Pređegiơ và Biha của ấn Độ ngày nay.
Về niên đại của đạo Phật, hiện nay đang có nhiều ý kiến khác nhau
Có một số ngời cho rằng Phật sinh ra năm 563 và mất năm 483 TCN Một
số ngời khác thì cho rằng Phật sinh năm 624 và mất năm 544 TCN Tín đồ
đạo Phật giáo lấy năm 544 TCN là năm mở đầu kỉ nguyên Phật giáo
Truyền thuyết Phật giáo kể rằng: một hôm là Marya, Hoàng hậu củavua Sutđôđana nằm mơ thấy một con voi trắng vòi cắp một bông hoa sentrắng đi ba vòng xung quanh giờng rồi húc nhẹ vào sờn bên phải nh chuivào bụng bà Thế là Hoàng hậu có thai, sau mời tháng, khi gần đến ngàysinh nở bà ngỏ ý muốn về nhà cha mẹ mình ở Đêvađaha Vua Sutđôđana ralệnh cắm cờ hoa dọc hai bên đờng từ Kapilavastu đến Đêvađaha, và sai
1000 ngời hộ tống Hoàng hậu về quê ngoại Nhng khi đến rừng Lumbini(hiện nay ở trên lãnh thổ Nêpan) thấy hoa rừng nở rộ, Hoàng hậu muốndừng lại để dạo cảnh Khi đến một gốc cây cổ thụ cao, bà muốn vịn mộtcành thì cành cây tự sà xuống ngang tầm tay bà Vừa đa tay lên nắm cànhcây, bà bỗng chuyển bụng và đứa trẻ chui ra từ bên sờn phải bà Vừa mới lọtlòng mẹ, đứa trẻ đứng thẳng dậy, t thế giống nh một vị thuyết pháp từ trên
đàn bớc xuống Hôm ấy là ngày trăng tròn của tháng Năm (theo lịch ấn) Sau khi đã đa đứa trẻ về cung, một nhà hiền triết trong cung đình đãnhận thấy ở đứa trẻ những phẩm chất vĩ đại nên đoán rằng đây là một vịcứu tinh dáng thế Tin theo lời đó, vua Sutđôđana tìm cách ngăn ngừa đểXitđacta không hiến thân cho việc phục vụ tôn giáo Ông cố tình để choHoàng tử sống trong cảnh hết sức xa hoa Bốn vạn vũ nữ thờng xuyên trổmọi tài nghệ để Hoàng tử thởng thức Vốn thuộc đẳng cấp Ksatơria,Xítđácta đợc học đủ các môn võ nghệ, nhng Hoàng tử cũng tỏ ra rất khácthờng về trí tuệ Chàng làu thông mọi học thuyết của các trờng phái t tởng
ở ấn Độ lúc bấy giờ Đến tuổi kết hôn, 500 thiếu nữ xinh đẹp đợc đa đếntrình diện để Hoàng tử lựa chọn Xitđacta phải vâng lệnh vua cha thànhhôn cùng công chúa Yasôđana vào lúc 16 tuổi và sinh hạ đợc một ngời contrai đặt tên là La Hầu La Sống trong giàu sang và hạnh phúc nh vậy tởng
đã trọn vẹn
Trang 36Nhng vào năm 29 tuổi, một hôm nhân bữa yến tiệc, sau khi mọi ngời
đã say sa và im ắng, Hoàng tử rời khỏi cung điện dạo chơi và thấy một cụgià, một hôm khác Hoàng tử lại thấy một ngời ốm và lần thứ ba thấy mộtngời chết Những cảnh khổ mà loài ngời phải chịu đựng ấy đi sâu vào tâmtrí Hoàng tử Vì vậy Hoàng tử quyết tâm từ bỏ cuộc sống gia đình êm ấm
để đi tìm con đờng cứu vớt những nỗi đau khổ của loài ngời Thế là Hoàng
tử từ bỏ nhà lẻn ra đi, rời cung điện ông tiến lên phía bắc về miền núi tuyếtrồi đến một khu rừng, ông cho ngời hầu dắt ngựa về, ông lấy gơm cắt tóc,cởi áo đổi cho một ngời đi săn rồi một mình đi tìm các danh s ở vùng ấy đểhọc đạo Từ đó, ông trở thành một nhà tu hành
Sau mấy năm tu hành khổ hạnh và không ngừng suy tởng, đến năm 35tuổi vào một buổi sáng sớm mai lúc rạng đông Xitđacta Gôtama đã đắc
đạo nghĩa là ông thấu hiểu mọi lẽ của tạo hoá, nghĩ đợc cách giải quyếtbản chất của mọi sự tồn tại, nguồn gốc của mọi sự khổ đau và tìm đợc con
đờng cứu vớt cho chúng sinh Từ đó, ông tự gọi mình là Buddha mà tôngiáo quen gọi là Phật hoặc Bụt (tức “Ngời giác ngộ”, “Ngời thấu hiểu đợcchân lí”) Đắc đạo rồi thành Phật đi truyền bá t tởng của mình ở lu vựcsông Hằng cùng với các đệ tử của mình trong suốt 40 năm trời Những giáo
lí của ông truyền bá đợc giữ lại Đến 80 tuổi Phật nhập diệt
2.2.2 Những nét cơ bản của đạo Phật
- Kinh sách:
Kinh sách Phật giáo rất đa dạng và đồ sộ Tập trung vào 3 loại cơ bản:kinh tạng, luật tạng, luận tạng
+ Kinh tạng: Trình bày giáo lý của Phật giáo
+ Luật tạng: Ghi lại những quy tắc, giới luật của giới tu hành
+ Luận tạng: Những luận giải, minh chứng những quan điểm trongPhật pháp Qua đó đa học thuyết Phật giáo thâm nhập vào mọi giới mọinhà
- Những nội dung cơ bản của giáo lí đạo Phật:
Đạo Phật dạy chúng ta về đạo đức, lẽ sống hơn về mặt triết học siêuhình tự nhiên Điều mà đức Phật quan tâm nhiều nhất không phải là mộtthế giới thần linh hay một vũ trụ siêu nghiệm mà chính là đời sống thực tếcon ngời Phật thờng nhắc nhở các môn đệ: “Điều cần thiết là quên mìnhlàm điều thiện, chứ không phải nên quá bận tâm bàn luận về cõi thần thánhcao siêu, nó sẽ làm cho chúng ta rối trí”
Hạt nhân của đạo đức Phật giáo là đề cao lòng từ bi hỉ xảo của conngời đối với đồng loại Trong đời mình đức Phật đã truyền bá không mệt
Trang 37mỏi cho sự bình đẳng xã hội, chống lại những thành kiến đẳng cấp: “khôngthể có để có đẳng cấp trong giọt nớc mắt cùng mặn giống nhau”.
Lòng nhân ái của đức Phật đã mở rộng đến cả chúng sinh trở thànhlòng yêu thơng muôn loài Theo quan niệm về luân hồi, súc vật cũng lànhững anh em của con ngời Phật cũng có lúc nói đến sự đấu tranh chốnglại cái ác, nhng chủ yếu vẫn là kêu gọi làm điều thiện Vì theo Phật chỉ cótình yêu thơng mới diệt đợc hận thù
Trái với đạo Hinđu, đạo Phật phủ nhận sự tồn tại bất diệt và vĩnh viễncủa những linh hồn cá thể Hơn thế theo đạo Phật tất cả mọi sự vật trong vũtrụ và thế gian này từ thể xác đến linh hồn, vật chất và tinh thần, mọi cái
đều biến hoá, có sinh và có diệt, không có cái gì là thờng hằng
Mặt khác, đạo Phật cũng công nhận thuyết luân hồi và nghiệp báo.Giáo lí nhà Phật thờng né tránh những vấn đề bản thể luận mà đi sâu vàotriết lí nhân sinh Hòn đá tảng để xây dựng nên căn bản t tởng đạo Phật, là
lí luận về cuộc sống cực khổ của con ngời và phơng sách diệt trừ nỗi cựckhổ đó Muốn thế, mỗi con ngời phải rèn luyện sự đúng đắn trong t duy,hành động và nghiệp để vơn tới sự giác ngộ và giải thoát Theo quan điểmcủa Phật học tiêu đích cuối cùng của giải thoát là Niết bàn vừa có đâu đótrong cuộc sống trần thế này, vừa tồn tại một thế giới bên kia Giải thoát ttởng bao trùm trong giáo lí nhà Phật nói nh lời Thích Ca, nó nh vị mặn: “vịmặn của muối lan toả khắp lòng biển cả mênh mông”
Về thế giới quan của đạo Phật:
Giáo lí Phật giáo thể hiện ở chủ trơng vô giả tạo, vô ngã, vô thờng vàquy luật nhân duyên
Vô tạo giả: Đạo Phật cho rằng thế giới là thế giới vật chất, bản thân vũtrụ cũng nh các sự vật, hiện tợng trong vũ trụ (sách Phật gọi là “vạn pháp”)không phải do một đấng thần linh nào tạo ra bằng những phép màu nhiệm
mà đợc tạo nên bởi những phần vật chất nhỏ bé nhất đó gọi là “bản thể”,
“thực tớng” của sự vật hiện tợng (trong sách Phật, bản thể của vũ trụ còngọi là chân nh: chân ngã, chân tâm)
Vô ngã: Không có cái tôi, cái tôi hay linh hồn cá thể
Vô thờng: Trong vũ trụ bao la, mọi sự vật hiện tợng không đứng yên,bất biến mà luôn luôn chuyển động biến đổi theo một chu trình: thành - trụ
- hoại - không (đối với các loài vô tình) hay sinh - trụ - si - diệt (đối với cácloài hữu tình) nghĩa là trong quá trình phát sinh, phát triển (trởng thành) hhoại và tan rã Ví nh số kiếp con ngời tiến dần từ trẻ đến già rồi bệnh tật,
ốm đau rồi chết Nhng Phật giáo cũng cho rằng: chết không phải là hết,màchết là một điều kiện của một sự sinh thành mới Sinh - diệt là hai quá trình
Trang 38xảy ra đồng thời trong một sự vật hiện tợng cũng nh trong toàn bộ vũ trụrộng lớn Nói cách khác, sự thành trụ của “pháp” này, thế giới này là hoại -không của “pháp” khác, thế giới khác, quá trình đó tiếp diễn không ngừng.Quy luật nhân duyên: Đạo Phật cho rằng mọi sự vật hiện tợng trong
vũ trụ chuyển động biến đổi đều bị chi phối bởi quy luật nhân duyên (haythuyết Duyên khởi) sự vật, hiện tợng trong vũ trụ do nhân duyên mà thành(trong đó nhân là mầm tạo quả, duyên là điều kiện phơng tiện) khi nhânduyên hoà hợp là sự vật sinh, khi nhân duyên tan rã là sự vật diệt Tuỳ theo
sự kết hợp của nhân duyên mà thành các các sự vật, hiện tợng khác nhau.Tuy nhiên một sự vật, hiện tợng không phải do một nhân duyên mà donhiều nhân duyên đã có từ trớc Điều đó cũng có nhiều nghĩa là mọi sự vật,hiện tợng quan hệ mật thiết với nhau, nơng nhờ, tác động chi phối lẫnnhau, không thực thể nào tồn tại riêng biệt, độc lập
Về nhân sinh quan của Phật giáo:
Đạo Phật cho rằng con ngời không phải do Thợng đế hay một đấng thầnlinh nào sinh ra Con ngời bao gồm phần sinh lí, phần tâm lí và sự kết hợp củaNgũ uẩn
Một trong những nội dung cơ bản của giáo lí đạo Phật khi thể hiệnquan niệm về con ngời là học thuyết về khổ và con đờng cứu khổ hay còngọi là “Tứ diệu đế” nghĩa là bốn chân lí thiêng liêng hay bốn chân lí caosiêu
Khổ đế: là chân lý nói về nỗi khổ của ngời đời Phật giáo cho rằng:
“Đời là bể khổ trong đó con ngời có tám cái khổ sinh - lão - bệnh - tử”.Oán tăng hội khổ (gần kẻ mình không a)
Thụ biệt ly khổ (xa ngời mình yêu)
Sở cầu bất đắc khổ (cầu mà không đợc)
Ngũ thủ uẩn khổ (giữ lấy năm uẩn)
Đối với con ngời, ngoài khổ đau vô tận thì không còn tồn tại nàokhác Ngời ta thờng nói: chết là hết khổ Nhng đạo Phật thì lại quan niệmrằng cả cái chết cũng không phải là chấm dứt sự khổ, không phải là giảithoát mà là tiếp tục sự khổ mới Đạo Phật nói rằng: “Nớc mắt của chúngsinh nhiều hơn nớc Đại Dơng”
Tập đế: là chân lí nói về nguyên nhân của sự khổ Nguyên nhân ấy làdục vọng (lòng ham muốn) của con ngời nh: ham sống, ham quyền lực,danh vọng, ham giàu sang phú quý, ham lạc thú
Đạo Phật đã giải thích nguyên nhân sâu xa của sự khổ là do “thập nhịnhân duyên” tức là 12 nhân duyên tạo ra chu trình khép kín trong mỗi conngời (kiếp luân hồi)
Trang 39Vô minh: sự mê muội, không sáng suốt
Hành: là vọng hành, là hành động sai lầm
Thức (biết): là ý thức sai lầm về bản ngã
Danh (sắc): tức là tinh thần và vật chất
Lục nhập: là sắc, thanh, hơng, hơng, vị, xúc, pháp do lục căn (sáu giácquan: mắt, tai, mũi, lỡi, thân, ý) nhập vào cảnh vật tạo ra
Xúc: là xúc giác do giác quan cho biết
Thụ: là hởng thụ bằng cảm giác những điều sớng khổ
ái (yêu): là lòng ham muốn (ham dục vọng)
Thủ: giữ: muốn chiếm đoạt lấy sự vật ở bên ngoài về cho mình, giữ lấycho mình
mê lẫn, không sáng suốt mới sinh ra vọng tâm (những ý nghĩ sai lầm và cónhững hành động tơng ứng) Những hành động đó tạo ra “nghiệp” đặc biệt
là “nghiệp ai” mà con ngời phải chịu không dứt ra khỏi vòng luân hồi sinh
tử, cứ phải trải qua nhiều đời, nhiều kiếp chịu những khổ não
Diệt đế: là sự cần thiết phải chấm dứt nỗi khổ Diệt đế là giải thoátluận và cũng là lí tởng của đạo Phật Nếu Tập đế và Khổ đế là nguyên nhân
và kết quả của khổ não thì Diệt đế là phơng pháp diệt trừ nỗi khổ Đạo Phậtcho rằng muốn thoát khỏi bể khổ trầm luân thì phải tiêu diệt, phải loại bỏham muốn vô chừng, xa lánh mọi cám dỗ trần tục, không vấn vơng mộtchút nào với những dục vọng đời thờng Song sự tham lam, lòng ham muốncủa con ngời chỉ là cảm nhận (nguyên nhân trực tiếp) của khổ não, cònnguồn gốc sâu xa của sự khổ não, còn nguồn gốc sâu xa của sự khổ não là
sự vận hành của thập nhị nhân duyên mà khởi nguồn là vô minh Vì vậy,muốn diệt khổ phải tìm tận gốc rễ gây nên sự vận động của mời hai nhânduyên, phải bắt đầu từ sự diệt trừ vô minh Vô minh có bị diệt trừ thì trí tuệmới đợc bừng sáng, mới hiểu rõ đợc bản chất của sự tồn tại, thực tớng, vũtrụ và con ngời, không còn tham dục để không kéo theo những hành độngtạo ra “nghiệp” nữa tức là đã thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử Nói cách
Trang 40khác khi nào diệt trừ vô minh, tham dục thì hoạt động của ngũ uẩn dùnglại, khi ấy mới chấm dứt luân hồi sinh tử.
Đạo đế: là chân lý về con đờng diệt khổ - cách thức tu hành để đạt đến
sự giải thoát Ngời đã đi theo “con đờng giữa” (trung đạo) mà t tởng cơ bảnkhông nên ép xác hại thân “Con đờng giữa” mà Đức Phật tìm ra đó là “Bátchánh đạo” và “Tam học”
Bát chánh đạo gồm:
Chính kiến: Tu đạo đúng đắnChính t duy: Suy nghĩ đúng đắnChính nghiệp: Làm việc đúng đắnChính mệnh: Mu sinh đúng đắnChính tịnh kiến: Hy vọng (mong tới đúng đắn) Chính niệm: Tởng nhớ đúng đắn
Chính định: Suy nghĩ đúng đắnTam học gồm: Giới, định, tuệ là tiến trình tu hành để đạt tới sự giácngộ
Giới (hay còn gọi là biệt giải thoát): là những điều răn cấm, nhữngquy định cho ngời tu hành không phạm những lỗi lầm do thân, khẩu, ý tạora
Định: là phơng pháp giúp cho ngời tu hành không tán hoạn thân, tâm.Nhờ đó mà loại trừ đợc ý nghĩa sâu xa, sai lầm, tạo điều kiện cho trí tuệphát sáng
Tuệ: là ngời tu hành cần có trí tuệ sáng suốt để diệt trừ đợc vô minh, thamdục, nhận thức đợc chân lý cuộc sống: suy nghĩ và làm việc thiện, mu lợi chochúng sinh
Theo quan niệm của đạo Phật trong Tam học thì Giới là quan trọngnhất Vì có giữ giới thì tâm mới định, tâm có định thì tuệ mới phát sinh.Tuệ có phát sinh thì mới diệt trừ đợc vô minh, mới chấm dứt đợc nỗi khổ,mới thành Phật đợc
Quan niệm về giải thoát và Niết bàn:
Đức phật Thích Ca đã từng nói: “Trớc kia và ngày nay ta chỉ nêu ra và
lí giải về nỗi khổ đau và sự giải thoát khỏi nỗi khổ đau”, “cũng nh nớc ĐạiDơng chỉ có một vị mặn, học thuyết của ta chỉ có một mục đích là cứuvớt” Nh vậy cứu khổ và giải thoát vừa là nội dung, vừa là chủ đích củagiới thuyết đạo Phật Xuất phát từ chỗ cho rằng: con ngời chính là nguyênnhân của con ngời, con ngời quá khứ là nguyên nhân của con ngời hiện tại.Con ngời hiện tại là nguyên nhân của con ngời tơng lai Đạo Phật chủ tr-
ơng giải thoát, trở thành Phật Bản thân Phật cũng không coi mình là thần