1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu cuộc chiến tranh của mĩ ở apganixtan (7-10-2001 22-12-2001)

134 436 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Cuộc Chiến Tranh Của Mĩ Ở Apganixtan (7-10-2001 22-12-2001)
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2001
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 565 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, những công trìnhnghiên cứu trên, thực sự có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn, đem lại mộtlối nhìn mới, một cách đánh giá đúng về vai trò của làng xã trong tiếntrình phát t

Trang 1

A Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài.

1.1 Trong hệ thống các làng cổ xứ Thanh, Phủ Lý (Kẻ Rỵ) là một làngquê chứa đựng rõ nét bản chất của nền văn hóa dân tộc và tiêu biểu trên mọiphơng diện Làng có lịch sử hình thành từ rất sớm (khoảng thế kỉ VII) và pháttriển rực rỡ vào thế kỷ X - thế kỷ bản lề nối tiếp giữa hai thời kỳ hoàn toànkhác biệt Trớc thế kỷ X là đêm dài tối tăm của hơn một ngàn năm bị đô hộcủa các triều đại phơng Bắc, sau thế kỷ X, là kỷ nguyên độc lập tự chủ lâu dàicủa dân tộc Đây cũng là thời điểm ghi dấu ấn đặc biệt: Phủ Lý trở thành mộttrung tâm chính trị - văn hóa quan trọng của quận Cửu Chân, nơi dừng chânghé thăm của nhiều vị vua Đinh - Tiền Lê - Lý Không chỉ vậy, làng còn nổitiếng với truyền thống học tập khoa bảng, lễ hội dân gian độc đáo cùng nhữngphong tục tập quán thuần hậu Mảnh đất này còn tự hào là quê hơng của nhiềunhà đại khoa, tiêu biểu trong số đó là Lê Văn Hu - cây đại thủ bút thời Trần -nhà sử học đầu tiên của nớc ta, Lê Bá Quát - học trò xuất sắc của thầy giáoChu Văn An, trạng nguyên Đào Tiêu Dới các triều đại phong kiến, Phủ Lýluôn là tụ điểm lịch sử - văn hóa quan trọng, có vị trí nhất định trong côngcuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc của xứ Thanh Bởi vậy nghiên cứu,tìm hiểu một làng quê giàu truyền thống nh Phủ Lý có tác dụng rất lớn, nhằmkhôi phục và phát huy bản sắc văn hóa làng xã, khơi dậy lòng tự hào của mỗimột c dân sống trong cộng đồng làng Trên cơ sở đó, có thể đáp ứng yêu cầucủa việc xây dựng nông thôn mới văn minh hiện đại song vẫn bảo lu đợcnhững giá trị văn hóa lâu đời

1.2 Thực hiện đề tài này, chúng tôi muốn tìm hiểu đời sống kinh tế,văn hóa và xã hội của làng quê Kẻ Rỵ Bớc đầu làm rõ sự hình thành và pháttriển của làng, cùng những đóng góp lớn lao trong quá trình đi lên của lịch sử

xứ Thanh Đây là một khâu quan trọng nhằm thúc đẩy sự phát triển về mọimặt ở nông thôn, góp phần đa sự nghiệp công nghiệp hóa của nớc ta đi đếnthắng lợi

1.3 Tuy nhiên trong xu thế phát triển chung của nhân loại hiện nay,làng quê Việt Nam nói chung và Phủ Lý nói riêng, lại đang đứng trớc nhữngthử thách quyết liệt giữa truyền thống và đổi mới, dân tộc và hiện đại Đổi mớisong vẫn phải bảo lu và gìn giữ đợc bản sắc văn hoá dân tộc Đó là một yêu

Trang 2

cầu hết sức quan trọng đòi hỏi sự quan tâm đúng mức không chỉ của các cấpchính quyền ở Trung ơng và địa phơng, mà còn đối với ý thức của từng ngờidân sống trong cộng đồng làng xã Trong quá trình đổi mới đó, làng Phủ Lýcần phải có "sự gạn đục khơi trong", bảo tồn, gìn giữ và phát huy những yếu

tố cổ truyền Yếu tố nào đang bị mai một trớc ảnh hởng của xu hớng ngoại lai,

đô thị hóa và tác động của nền kinh tế thị trờng là vấn đề đang đợc các nhàkhoa học xã hội đặc biệt quan tâm Cố vấn Phạm Văn Đồng đã nói: "Về cáilàng trong lịch sử nớc ta thì có biết bao chuyện lý thú đáng nói mà các nhà sửhọc, xã hội học đang dày công tìm tòi và nghiên cứu nhằm rút ra những bàihọc có giá trị hiện thực cho ngày nay" [24; 65] Chính bởi vậy, việc đi sâu tìmhiểu nghiên cứu làng Phủ Lý là một việc làm cần thiết, không những có tác

động tích cực đối với việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa đặc thùcủa làng, mà còn giúp cho các thế hệ ngời dân Phủ Lý nói riêng và xứ Thanhnói chung thêm hiểu biết và gắn bó với quê hơng Từ đó, có những việc làmthiết thực để xây dựng Thanh Hóa ngày một giàu đẹp hơn

Với những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài "Lịch sử - vănhoá làng Phủ Lý (Kẻ Rỵ), xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa(từ thế kỷ X đến năm 1945)" làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Làng xã Việt Nam - một thực thể xã hội - một đối tợng của khoa học, từlâu đã trở thành mối quan tâm nghiên cứu của các nhà sử học, dân tộc học,xã hội học trong và ngoài nớc Kết quả là, cho đến nay đã có nhiều công trìnhviết về làng đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau trong phạm vi phát triểnchung của làng và đạt đợc nhiều thành tựu to lớn:

- Việt Nam phong tục (1990) của Phan Kế Bính, Nxb Tổng Hợp

- Xã thôn Việt Nam (1959) của Nguyễn Hồng Phong, Nxb Văn-Sử-Địa.

- Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (2 tập),Viện Sử học, Nxb KHXH,

Hà Nội

- Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ (1984)

Nxb KHXH, Hà Nội

- Tìm hiểu làng Việt (1990) của Diệp Đình Hoa, Nxb KHXH, Hà Nội.

- Làng Việt Nam - một số vấn đề về kinh tế - xã hội (1992) của

Phan Đại Doãn, Nxb KHXH, Nxb Mũi Cà Mau

Trang 3

- Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ (1993) của Nguyễn Quang

Ngọc, Hội Sử học Việt Nam, Hà Nội

- Làng xóm Việt Nam (2005) của Toan ánh (1992), Nxb Trẻ, TP

lý tự nhiên, kinh tế - xã hội, những nét văn hóa truyền thống tiêu biểu của làngViệt Nam nói chung Riêng làng Việt ở Bắc Trung Bộ, mà cụ thể là làng ở xứThanh, do nhiều nguyên nhân khách quan mà cha đợc các nhà khoa học đặcbiệt quan tâm, tìm hiểu một cách có hệ thống Tuy nhiên, những công trìnhnghiên cứu trên, thực sự có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn, đem lại mộtlối nhìn mới, một cách đánh giá đúng về vai trò của làng xã trong tiếntrình phát triển của cách mạng Việt Nam, giúp cho tác giả có những nhận địnhtổng quan về quá trình hình thành và phát triển của làng Việt qua các giai

đoạn lịch sử Trên cơ sở đó, tác giả có thêm nguồn t liệu khái quát để tìm ranét khu biệt của làng xứ Thanh so với làng ở Bắc Bộ và một số khu vực khác

Nghiên cứu về làng xứ Thanh nói chung và Phủ Lý (Kẻ Rỵ) nói riêng,

từ lâu đã thu hút đợc sự quan tâm của giới sử học địa phơng Cho đến nay đã

có nhiều công trình nghiên cứu đợc công bố nh:

Năm 1988, cuốn "Kẻ Rỵ - Kẻ Chè" của tác giả Lê Huy Trâm xuất bản,

mở đầu cho thời kì nghiên cứu truyền thống văn hóa làng trong tỉnh Cuốnsách giới thiệu khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Kẻ

Rỵ - Kẻ Chè, các nghề thủ công, những dấu tích văn hóa dân gian truyềnthống, cùng những thành tựu bớc đầu của nền văn hóa mới XHCN Mặc dùchỉ có giá trị nh một tài liệu địa chí, nhng cuốn sách đã cung cấp thêm nhiều tliệu về lịch sử, văn hóa - xã hội giúp chúng tôi định hình đợc sự phát triểncủa làng Phủ Lý qua mỗi chặng đờng lịch sử

Năm 1990, Sở Văn hóa thông tin đã mở Hội thảo "Văn hóa làng xứ Thanh" và xuất bản tập kỷ yếu Tập kỷ yếu "Văn hóa làng xứ Thanh" tập hợp

nhiều bài viết về làng có giá trị Trong đó có bài viết của tác giả Lê Huy Trâm

Trang 4

"Hội làng trong văn hóa làng" (tr.181) đề cập khái quát đến hội Rỵ của làngPhủ Lý

Năm 1993, Trờng Cao đẳng S phạm Thanh Hóa mở Hội thảo khoa học

về Lê Văn Hu và xuất bản tập kỷ yếu "Lê Văn Hu - công trình nghiên cứu danh nhân Thanh Hóa" Tập kỷ yếu tập trung nhiều bài viết về quê hơng Kẻ

Rỵ, dòng họ Lê, các mối quan hệ thân tộc, quan hệ xã hội của Lê Văn Hu,cùng với truyền thống Nho học, văn hóa Phật giáo Các bài viết đợc trình bày

cụ thể, mang tính khoa học và có giá trị cao về mặt thực tiễn, đã cung cấpthêm t liệu cho tác giả trong quá trình điền dã, nghiên cứu đề tài làng Phủ Lý

Trong những năm tiếp theo, đã xuất hiện một số công trình khảo sát

truyền thống văn hóa làng của xứ Thanh, tiêu biểu là cuốn "Văn hóa làng và làng văn hóa xứ Thanh" của Hoàng Anh Nhân, "Khảo sát văn hóa làng xứ Thanh" của Hoàng Anh Nhân và Lê Huy Trâm, cùng một số cuốn Địa chí của

các địa phơng trong tỉnh nh Thọ Xuân, Yên Định, Hoằng Hóa, Quảng Thọ Những nguồn t liệu này đã cung cấp thêm cho tác giả vốn hiểu biết về đờisống văn hóa vật chất và tinh thần của c dân các làng xứ Thanh Là cơ sở đểtác giả tìm ra đợc nét tiêu biểu của làng Phủ Lý so với làng ở các địa phơngkhác trong tỉnh

Năm 2001, BCH Đảng bộ huyện Thiệu Hóa xuất bản cuốn "Lịch sử

Đảng bộ huyện Thiệu Hóa (1926 - 1999)" Cuốn sách tập trung đi sâu vào tìm

hiểu quá trình đấu tranh cách mạng của nhân dân Thiệu Hóa từ khi Đảng ra

đời và những thành tích bớc đầu trong công cuộc đổi mới Trong đó phần đầugiới thiệu vài nét về địa lý tự nhiên, con ngời và văn hóa truyền thống củaThiệu Hóa

Ngoài ra còn có bài viết: "Ai về Kẻ Rỵ" (trang 59 - 72) của tác giả Hoàng Tuấn Phổ đăng trên cuốn "Thanh Hóa di tích và thắng cảnh" của Nxb Thanh Hóa (2000) Cuốn "Danh nhân Thanh Hóa" của Ban Nghiên cứu và

Biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2005), đề cập tới một số danh nhân ở làng Phủ

Lý nh Lê Lơng, Lê Văn Hu, Lê Bá Quát, Lê Bá Giác

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên chủ yếu trình bày kháiquát diện mạo văn hóa vật chất và tinh thần, những nhân vật tiêu biểu của cáclàng quê xứ Thanh và Phủ Lý Tuy nhiên, trong phạm vi không gian và thờigian mà đề tài xác định thì từ trớc đến nay cha có một công trình nào nghiêncứu một cách có hệ thống và đầy đủ Mặc dù vậy, những tài liệu mà chúng tôi

Trang 5

vừa trình bày thực sự là nguồn t liệu quý, dù ít ỏi, song đó là cơ sở giúp chúngtôi thực hiện và hoàn thành đề tài này.

3 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu.

Đỗ, họ Lê, họ Phạm, họ Trần, họ Trơng, cùng một số Văn bia: Bia chùa Hơng

Nghiêm, bia Đông Sơn văn từ bi ký, bia mộ Lê Lơng, bia mộ Lê Văn Hu, bức

đại tự và câu đối trong đền thờ Lê Văn Hu, nhà thờ họ Trơng Đặc biệt là tài

liệu Địa bạ xã Phủ Lý, viết năm Minh Mạng thứ 11 (1830) và sao lại vào năm

Tự Đức thứ 16 (1863), bằng chữ Hán gồm có 82 trang, đợc chúng tôi phiên

âm và dịch sang tiếng Việt Đây là nguồn t liệu chủ yếu để luận văn khai thác

và trình bày có hệ thống tình hình ruộng đất và kinh tế của xã Phủ Lý vào thế

kỷ XIX

3.1.2 Tài liệu nghiên cứu:

Các tài liệu nghiên cứu mà chúng tôi tham khảo đợc nh: Thần tích thần sắc làng Phủ Lý (bản chép tay, lu tại Viện thông tin KHXH Hà Nội), Bảng tra thần tích theo địa danh làng xã của Viện nghiên cứu Hán Nôm, cuốn

-Kẻ Rỵ- -Kẻ Chè của tác giả Lê Huy Trâm, Từ điển nhân vật lịch sử của Nguyễn Quốc Thắng và Nguyễn Bá Thế, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm, Việt Nam văn hóa sử cơng của Đào Duy Anh

3.1.3 Các tài liệu khác:

Ngoài các tài liệu trên chúng tôi còn tham khảo thêm các công trình

chuyên khảo về làng nh Xã thôn Việt Nam của Nguyễn Hồng Phong, Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (2 tập) của Viện sử học, Tìm hiểu làng Việt của Diệp Đình Hoa, Làng Việt Nam - một số vấn đề về kinh tế - xã hội của Phan

Đại Doãn, Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ của Trần Từ, Khảo sát văn hóa làng xứ Thanh của Lê Huy Trâm, Hoàng Anh

Nhân Bên cạnh đó, chúng tôi còn khai thác một số tài liệu kỷ yếu có liên

quan nh: Kỷ yếu Hội thảo khoa học (1993) "Lê Văn Hu và công trình nghiên cứu danh nhân Thanh Hóa", Kỷ yếu Hội thảo khoa học (2003) "Thanh Hóa

Trang 6

thời kỳ 1802 - 1930", Kỷ yếu Hội thảo (1997) "Văn hóa truyền thống các tỉnh Bắc Trung Bộ", Kỷ yếu Hội thảo (1990) "Văn hóa làng xứ Thanh", "Hơng ớc Thanh Hóa" của Vũ Quang Trung, Vũ Ngọc Khánh, "Lịch sử Đảng bộ huyện Thiệu Hóa (1926 - 1999)" của BCH Đảng bộ huyện Thiệu Hóa Đồng thời tham khảo thêm nguồn t liệu địa chí trong tỉnh nh: Địa chí Thanh Hóa (quyển 1- 2), Địa chí Thọ Xuân, Địa chí Hoằng Hóa, Địa chí Quảng Thọ

3.1.4 Tài liệu điền dã:

Chúng tôi chủ yếu tìm hiểu, khảo cứu, điền dã tại làng Phủ Lý bao gồmnhà thờ họ Trơng, Từ đờng của một số dòng họ Trần, họ Phạm, họ NguyễnXuân, đền thờ Lê Văn Hu, chùa Hơng Nghiêm, bia mộ Lê Lơng, lăng và bia

mộ Lê Văn Hu, bia Đông Sơn văn từ bi ký, chuông chùa Hơng Nghiêm, giếng

cổ, hai cột đá treo chuông Đồng thời còn tiến hành gặp gỡ, trao đổi với các cụgià cao tuổi trong làng nh tộc trởng Nguyễn Xuân Quảng, tộc trởng Trần VănKhanh, cụ Trơng Hữu Hinh, ông Trơng Trọng Sơng, ông Trần Văn Kim, ôngPhạm Văn Lan, bà Lê Thị Huê và khảo sát một số làng lân cận, có liên quan

để bổ sung thêm t liệu cho đề tài nghiên cứu

3.2 Phơng pháp nghiên cứu.

3.2.1 Su tầm tài liệu:

Để có nguồn t liệu cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành su tầm,tham khảo và tích lũy tài liệu chủ yếu tại phòng Địa chí - Th viện Tổng hợptỉnh Thanh Hóa, Th viện khoa Lịch sử - Trờng Đại học KHXH&NV, Th việncủa Viện Thông tin KHXH; Th viện Viện Hán Nôm, Trung tâm Lutrữ Quốc gia I - Hà Nội Sau đó sao chép gia phả, địa bạ, câu đối, rập chép bia

ký Nghiên cứu thực địa tại nhà thờ họ Trơng, chụp ảnh nhà thờ họ Trơng và

từ đờng của một số dòng họ khác, chụp ảnh ngôi nhà trên 100 tuổi Đồng thờitiến hành điều tra cơ bản, điền dã dân tộc học các dòng họ trong làng, phỏngvấn các bô lão địa phơng

3.2.2 Xử lý t liệu:

Thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng chủ yếu phơng pháp lịch sử và

ph-ơng pháp lôgic để trình bày một cách có hệ thống và chặt chẽ quá trình hìnhthành và phát triển của làng Phủ Lý qua các chặng đờng lịch sử Bên cạnh đó,chúng tôi còn sử dụng phơng pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu cácnguồn t liệu khác nhau để xác minh tính chính xác của các số liệu, sự kiện

Trang 7

Phơng pháp điền dã, điều tra xã hội học, dân tộc học tại địa điểm làm

đề tài và một số vùng có liên quan, giúp chúng tôi có điều kiện quan sát địahình, gặp gỡ, ghi chép những lời kể của các cụ già cao tuổi Từ đó phân tích,

đánh giá nêu lên mối liên hệ giữa các dòng họ, các tổ chức, đơn vị cấu thànhnên làng, văn hóa truyền thống giữa các làng, nhằm rút ra những kết luận chânthực, khách quan

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.

4.1 Đối tợng nghiên cứu:

Lịch sử - văn hóa làng là một đề tài hấp dẫn và lý thú, song hết sứcphức tạp, đòi hỏi phải có quá trình nghiên cứu công phu, tỉ mỉ và lâu dài Dovậy, với nguồn t liệu hiện có, luận văn chủ yếu tìm hiểu, nghiên cứu về cácvấn đề sau:

- Khái quát những điều kiện địa lý tự nhiên, dân c và lịch sử hìnhthành, phát triển của làng

- Tình hình sở hữu ruộng đất ở Phủ Lý dới thời Minh Mạng, và sự pháttriển kinh tế nông - công - thơng nghiệp của Phủ Lý

- Những nét cơ bản về bộ máy quản lý làng xã và các đơn vị của làng

tr-ớc năm 1945

- Những nét văn hóa truyền thống tiêu biểu của Phủ Lý nh chùa, đền,văn chỉ, giếng cổ, Quán học, bia mộ, tín ngỡng, tôn giáo, lễ hội, phong tục tậpquán, các lễ tết thờ cúng trong năm và truyền thống học tập, khoa bảng

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Giới hạn thời gian: Phôi thai từ thế kỷ VII (thời thuộc Đờng), hình

thành và phát triển thịnh vợng trên cơ sở của một cộng đồng làng hoàn chỉnh

từ thế kỷ X đến năm 1945

- Giới hạn không gian: Nghiên cứu tại làng Phủ Lý (Kẻ Rỵ), xã Thiệu

Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa Đồng thời điền dã thêm một sốlàng có liên quan tới đề tài nh, làng Trà Đông (xã Thiệu Trung), làng HoàChúng (xã Quảng Thọ)

5 Đóng góp khoa học của đề tài.

Luận văn cơ bản dựng lại quá trình hình thành và phát triển của làngPhủ Lý trên vùng đất cổ Thiệu Hóa So với các làng xã khác trong huyệnThiệu Hóa, đây là một làng quê tiêu biểu, giàu truyền thống văn hóa tốt đẹp

Trang 8

Bởi vậy, nghiên cứu làng sẽ góp phần khơi dậy lòng tự hào dân tộc sâu sắc củamỗi ngời dân Phủ Lý Thông qua đó, góp phần giáo dục t tởng hớng về cộinguồn, phát huy truyền thống yêu nớc, yêu làng và ý thức trách nhiệm củamỗi ngời dân Phủ Lý đối với làng - nớc trong việc xây dựng nông thôn mớihiện đại song không mất đi những giá trị văn hóa lâu đời.

Bằng những nguồn t liệu từ địa phơng, chúng tôi hy vọng luận văn sẽ làmột bộ phận trong công tác điều tra cơ bản của chính quyền tỉnh ThanhHóa, góp phần xây dựng bộ địa chí của huyện, làm cơ sở cho việc hoạch địnhcác chính sách về kinh tế, văn hóa, xã hội của chính quyền địa phơng trongthời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nớc

Luận văn sẽ làm phong phú thêm bộ sử địa phơng, cung cấp thêmnguồn t liệu trong việc dạy học phần lịch sử địa phơng ở các trờng phổ thông

xứ Thanh

Luận văn hoàn thành góp phần vào việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy disản văn hóa làng với những di tích lịch sử đã đợc xếp hạng Qua đó, giáo dụcsâu sắc tới thế hệ trẻ từ chỗ tự hào, biết ơn tới nâng niu, trân trọng để từ đónhân lên ý thức chung của một cộng đồng làng xã trong việc duy trì và giữ gìnnguyên gốc những nét văn hóa truyền thống đặc trng Đây chính là một trongnhững động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp nông thôn ở nớc ta hiện nay

6 Bố cục của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungluận văn gồm có 3 chơng:

Chơng 1: Địa lý tự nhiên, dân c và quá trình hình thành, phát triển của làng Phủ Lý.

Chơng 2: Tình hình kinh tế và cơ cấu tổ chức của làng Phủ Lý

Chơng 3: Văn hóa truyền thống làng Phủ Lý.

Trang 9

ông để lại với niềm tự hào sâu sắc Chính nơi đây đã hun đúc và sản sinh ranhững ngời con u tú cho quê hơng qua các triều đại phong kiến: sử gia LêVăn Hu - cây đại thủ bút thời Trần, tác giả của bộ "Đại Việt sử ký" đầu tiêncủa nớc Đại Việt - ngời mở đầu cho nền sử học nớc ta, trạng nguyên ĐàoTiêu, danh tài Lê Bá Quát

Làng Phủ Lý ngày nay thuộc xã Thiệu Trung nằm ở phía cực đông củahuyện Thiệu Hóa, bên phía hữu ngạn sông Chu Nếu đi ngợc lên dọc theoquốc lộ 45, làng nằm ở vị trí đầu huyện Thiệu Hóa, cách trung tâm huyện cha

đến 2 km, còn xuôi theo quốc lộ 45 về phía đông, làng cách địa bàn Đông Sơn1,5 km và cách thành phố Thanh Hóa 13 km Nh vậy, về vị trí địa lý, làng lànơi tiếp giáp giữa huyện Đông Sơn và thị trấn Vạn Hà Từ xa, đây là miền

đồng bằng màu mỡ, phì nhiêu do đợc bồi đắp hàng năm của phù sa sông Chu

So với các làng xã khác trong huyện, Phủ Lý có điểm đặc biệt: xa rừng

rú, xa núi non có tổng diện tích tự nhiên là 259,07 ha, trong đó đất canh tác là175,74 ha, đất thổ c là 80,23 ha, đất sông hồ là 3,10 ha

Phía bắc của làng giáp xã Thiệu Đô, phía nam giáp xã Đông Khê, phíatây giáp hai xã Thiệu Lý và Đông Hoàng, phía đông giáp làng Trà Đông Con

đờng tỉnh lộ 45 chạy trên bờ kênh Bắc từ Kẻ Bôn (xã Đông Thanh) lên đếnlàng Trà Thợng (xã Thiệu Đô) làm thành địa giới tự nhiên của xã về phía đôngbắc Phía tây và phía nam của làng là cánh đồng lúa hai vụ bát ngát chia ranhgiới với các xã Thiệu Lý (Thiệu Hóa), Đông Hoàng, Đông Khê (ĐôngSơn)

Trang 10

Mặc dù trải qua ngàn năm lịch sử nhng cho đến nay Phủ Lý vẫn còndáng vẻ của một làng quê mang nhiều nét cổ xa Những ngôi nhà với mái ngóirêu phong đậm màu thời gian là dấu ấn đặc trng cho bất cứ ai lần đầu đặt chân

đến đây Không còn cổng làng hàng đêm đóng kín, không còn đình làng đểghi dấu nét sinh hoạt văn hóa thuần khiết của ngời nông dân Cây đa, giếng n-

ớc cũng chỉ còn là hình ảnh đọng lại trong kí ức của các cụ già cao tuổi.Những con đờng đất đã đợc thay thế bằng hệ thống đờng bê tông hiện đại - làkết quả của nền kinh tế thị trờng thời mở cửa Tuy nhiên, những dấu vết xa thìvẫn còn, đủ để hậu thế chúng ta có thể hình dung ra sự sầm uất, thịnh vợngmột thời của làng

Phủ Lý hôm nay cũng nằm trong bối cảnh chung của sự đổi thay ở cáclàng quê Việt Nam song về cơ bản không khác xa nhiều lắm

Dọc theo quốc lộ 45, qua thị trấn Đông Sơn độ 6 km là con kênh Bắc(sông Nông Giang) áp sát mạn đờng, uốn lợn quanh co Chúng ta sẽ bắt gặpcây cầu mang tên Đông Quang, nh mời mọc bất cứ ai có định ghé thăm Dòngsông Nông Giang êm đềm, thơ mộng, chảy hiền hòa không chỉ đem lại bầukhông khí tự nhiên cho những c dân nơi đây mà còn là nơi cung cấp nguồn n-

ớc tới tiêu chủ yếu cho cả xã

Cầu Đông Quang nối liền quốc lộ 45 với địa phận của làng Trà Đông(Kẻ Chè) Trong lịch sử, Trà Đông nổi tiếng bởi sản phẩm đúc đồng Ngàynay làng vẫn phát huy u thế của một làng nghề truyền thống Sản phẩm củalàng hầu hết có mặt ở khắp các huyện trong tỉnh, đến nhiều tỉnh khác trênkhắp đất nớc và sang cả đất bạn Lào Từ xa, Trà Đông đã có mối quan hệ gắn

bó khăng khít với Phủ Lý không chỉ về mặt kinh tế, mà còn có sự giao l u vănhóa phong phú

Theo trục đờng chính của xã Thiệu Trung, từ làng Trà Đông đi vàokhoảng 150m, là sông nhà Lê Ngày nay, sông nhà Lê không còn mênh mông

nh xa, nguồn nớc cũng không đủ dồi dào để cung cấp cho cuộc sống sinh hoạtcủa ngời dân, thậm chí có đoạn đã lấp gần cạn nhng dòng sông vẫn tồn tại nhmuốn chở che, ôm ấp lấy làng với một dáng vẻ riêng

Sông nhà Lê là con sông của lịch sử, bởi lẽ xét về mặt thời gian, sông

đ-ợc đào từ thời Tiền Lê Do vậy, sông là nơi chứng kiến và ghi dấu những bớcthăng trầm của lịch sử xứ Thanh và dân tộc Con sông đã ngăn đôi hai làng vềhai phía tả, hữu ngạn Làng Phủ Lý nằm ở phía hữu ngạn sông Lê, một làng

Trang 11

quê yên bình với những cánh đồng lúa màu mỡ, tốt tơi cùng những rặng trexanh phủ xuống lớp ngói của những ngôi nhà cổ

Trong cái chung của làng quê Thiệu Hóa, làng Phủ Lý mang nét đặc sắcriêng, ít thấy ở các làng quê khác trong giai đoạn hiện nay khi mà sự lai căng,tô vẽ của văn hóa thị trờng đang có nguy cơ tràn ngập vào các làng xã

Với vị trí địa lý tơng đối thuận lợi, nên ngay từ sớm Phủ Lý đã có điềukiện giao lu buôn bán với các vùng miền trong tỉnh Từ đó chọn lọc và kết tinhnhững nét văn hóa độc đáo trong quá trình hội nhập với văn hóa của các làngxã xung quanh

1.1.2 Địa hình, đất đai.

Đối với quá trình định c lâu dài của con ngời thì địa hình, đất đai là mộttrong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự ổn định và phát triển củamỗi một cộng đồng dân c

Là một bộ phận của đồng bằng Thanh Hóa, đồng bằng Thiệu Hóa đợccấu tạo bởi phù sa hiện đại trải dài trên một bề rộng nghiêng dần từ tây bắc vềphía đông nam Các rìa phía bắc và tây bắc là các dải đất cao từ 8m đến 15m

đợc cấu tạo bằng phù sa cổ Đồi núi cùng với địa hình dốc nghiêng đã tạo ra

sự thuận lợi trong việc xây dựng các công trình thủy nông tự chảy hoặc làmcho nớc dễ tiêu rút Nhiều khu vực do quá trình hình thành phải trải qua thờigian dài nâng lên hoặc lún xuống, phù sa sông Mã và sông Chu không bồi đắpkịp nên đã tạo ra nhiều vùng thấp trũng Trải qua hàng nghìn năm, nhân dânThiệu Hóa bỏ biết bao công sức để tạo nên hàng trăm km đê đại hà, đê quai,

đê con trạch dọc theo các triền sông

Trên cái nền của địa hình xứ Thanh, địa hình của xã Thiệu Trung tơng

đối bằng phẳng và có độ dốc nhỏ theo hớng tây bắc - đông nam, là điều kiệnthuận lợi cho ngời dân có thể phát huy tối đa u thế của đất để phát triển kinh

tế nông nghiệp Hơn thế nữa, con ngời Phủ Lý chăm chỉ, cần cù với sự kiếntạo của bàn tay và sức lao động dồi dào đã khiến cho vùng đất này sớm trởthành một vùng đồng đất phì nhiêu, mầu mỡ với một cơ cấu kinh tế đa dạng

Từ Phủ Lý Bắc qua Phủ Lý Trung đến Phủ Lý Nam là những cánh đồng rộnglớn mà tên gọi vọng nên những âm tiết xa xa, cũng đã thể hiện đợc một phần

Trang 12

địa hình, đất đai của làng quê này: Cồn Bằng, Mả Địch, Đồng Trà, Cồn Giơi,Cồn Cáo, Mả Giòm, Rọc Căm, Cồn Giáng chúng tôi đã thống kê có tới hơn

80 tên gọi khác nhau trên những xứ đồng bao bọc xung quanh làng

Cách đây cha đến 200 năm, diện tích canh tác của làng vẫn chỉ chiếmmột tỷ lệ khiêm tốn so với diện tích canh tác ngày nay Các đống cây lớn, cácbãi rậm cồn hoang vẫn còn rải rác, xóm làng còn tha thớt và số nóc nhà tronglàng cũng không nhiều Cho đến trớc Cách mạng tháng Tám không xa, cảnhquan này còn rất rõ, in sâu vào trí nhớ của các cụ già cao tuổi ở làng Theo lời

kể thì xa kia làng chỉ có một con đờng độc đạo, quanh co, xung quanh làng cólũy tre bao bọc, muốn vào làng phải đi quanh trên bờ sông Lê qua Quán Học

đến Mã Quang có một con đờng đi qua đình làng thì mới vào làng đợc Đếnthời nhà Nguyễn, do dân c đông đúc, việc giao lu buôn bán giữa làng Phủ Lý

và Trà Đông trở nên cần thiết nên chính quyền cấp xã kêu gọi nhân dân đónggóp công sức mở thêm một con đờng từ giữa làng ra thẳng bờ sông nhà Lê

Theo các cụ già cho biết, địa thế làng có hình con thuyền rồng Đầurồng gối phía tây bắc, đuôi rồng gối phía đông nam tạo nên một cảnh sắchuyền bí, nên thơ, quanh năm cây lá tốt tơi, trời đất, sông nớc hiền hòa Mộtvùng đất còn lu giữ đậm đà những nét cổ xa mà mỗi ngời dân nơi đây đều rất

đỗi tự hào

1.1.3 Sông ngòi.

Thiệu Hóa là một trong những huyện ở xứ Thanh có hệ thống sông ngòiphong phú và đa dạng Ngoài các con sông lớn nh sông Mã, sông Chu, sôngCầu Chày, còn có hệ thống sông đào nhà Lê, sông Nông Giang len lỏi qua địaphận của nhiều làng xã trong huyện, tạo nên một mạng lới sông dày đặc rấtthuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt của c dân nông nghiệp Ngay trên địa bàncủa Phủ Lý - xã Thiệu Trung đã có hai con sông đào chảy qua, đó là sông nhà

Lê và sông Nông Giang, ảnh hởng trực tiếp tới sự đời sống kinh tế và tinh thầncủa ngời dân nơi đây ngay từ buổi đầu lập làng

Cách Phủ Lý không xa về phía tây là hệ thống sông Chu Trong lịch sử,con sông này đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của

c dân Thiệu Hóa nói chung và Phủ Lý nói riêng Đây là con sông lớn thứ haicủa xứ Thanh bắt nguồn từ Sầm Nứa (Lào) ở độ cao 1000m, chảy vào ThanhHóa ở huyện Thờng Xuân, chảy qua các huyện Thọ Xuân, Thiệu Hóa rồinhập vào sông Mã ở Ngã Ba Đầu (làng Giàng, xã Thiệu Khánh) Diện tích lu

Trang 13

vực cũng tới 3000km2 và mật độ sông suối cũng tăng hơn nhờ băng qua khuvực ma nhiều Lợng nớc sông Chu chiếm khoảng 1/4 lợng nớc sông Mã Nớc

lũ trên sông Chu cũng xảy ra khá mạnh Toàn bộ sông Chu dài 352km, trong

đó phần chảy trên đất Việt Nam là 145km

Làng Phủ Lý nằm ở phía hữu ngạn sông Chu Từ xa, làng đợc hìnhthành do phù sa sông Chu bồi đắp và chắc chắn đây là vùng đất mà con ngờibiết đến từ rất sớm do vị trí địa lý và địa hình, đất đai khá thuận lợi cho việctrồng cây lúa nớc Tuy nhiên thời kì đầu, dân c còn tha thớt, chỉ tập trung phíaNgã Ba Đầu Cho đến thế kỷ XIV, bộ mặt đôi bờ sông Chu bắt đầu thay đổi

C dân từ các nơi về đây khai phá ruộng đồng, chinh phục đầm lầy và xây dựngxóm làng, khiến cho cuộc sống trở nên phồn thịnh nhanh chóng Trên đôi bờsông Chu đã hình thành các làng quê nông nghiệp, làng nghề, các thị tứ, cácvùng kinh tế, các điểm giao thông quan trọng với cảnh trên bến dới thuyền,

đông vui sầm uất

Dọc theo chiều dài của làng là sông Nhà Lê Lịch sử của con sông này

đợc sử sách ghi lại nh sau: năm 982, sau khi đánh thắng quân Chiêm Thành ởphía nam, Lê Hoàn đã cho đào một hệ thống sông nối liền sông Mã, sông Chu

và các sông khác từ núi Đồng Cổ đến sông Bà Hòa vừa tạo nên một mạng l ớigiao thông thủy bộ, vừa phục vụ tới tiêu cho sản xuất nông nghiệp Về sự kiệnnày sử cũ cho biết: "năm 983 khi vua Lê Đại Hành đi đánh nớc Chiêm, quanúi Đồng Cổ đến sông Bà Hòa, đờng núi hiểm trở khó đi, ngời ngựa mỏi mệt,

đờng biển thì sóng to khó đi lại, mới sai ngời đào đờng kênh, đến đây song,thuyền bè đi lại đều đợc tiện lợi " [44; 169] Do vậy con sông đào này đợcluôn là sông Nhà Lê Khởi thủy từ thôn Đồng Cổ (thuộc làng Đan Nê, xã YênThọ, huyện Yên Định ngày nay), sông nhà Lê vợt qua sông Chu chảy về cáchuyện Thọ Xuân, Yên Định, Thiệu Hóa và len lỏi trong những cánh đồng ởNghệ An Từ bến nớc Hậu Hiền bên bờ sông Chu, sông nhà Lê ngoằnngoèo đi qua các xã Thiệu Tâm, Thiệu Vận, Thiệu Lý, Thiệu Trung, ĐôngThanh Đến địa phận xã Thiệu Trung, sông nhà Lê từ phía bắc tiến vào giữaxã, ngăn đôi Kẻ Rỵ - Kẻ Chè theo hai triền tả ngạn và hữu ngạn sông Lê Từthời xa, cuộc sống của c dân trên các bến sông Lê đã khá sầm uất Truyềnthuyết kể lại rằng có một lần vua Lê về qua Trời tối quá, quân lính lấy nớcsông nấu pha trà cho vua Nớc trà ngon, thơm hơn hẳn mọi lần Vua khen nớc

Trang 14

ngọt thơm và ban cho hai chữ "Hơng Giang" Từ đó đoạn sông qua xã ThiệuTrung, còn có tên riêng là Hơng Giang.

Dới thời Lê Hoàn, sông nhà Lê là công trình thủy lợi có quy mô lớn đầutiên trong lịch sử nớc ta Ngoài việc phục vụ giao thông quốc phòng, còn cótác dụng to lớn đối với sản xuất nông nghiệp Đồng thời hệ thống đê phòng lũlụt ven sông cũng đã xuất hiện "những tên làng Bối Lý (sau đó thành Phủ Lý)phản ánh những con đê phòng lụt bảo vệ mùa màng của nhân dân địa phơng"[82; 58]

Từ sông nhà Lê, thuyền bè ở Phủ Lý có thể ngợc dòng ra sông Chu,sông Mã để lên vùng rừng núi thợng nguồn hoặc xuôi dòng ra biển cả vàoNghệ An và các miền đất khác

Bên cạnh sông đào nhà Lê đã đi vào truyền thuyết còn có dòng NôngGiang Bắt nguồn từ đập Bái Thợng (thực dân Pháp đào vào những năm đầuthế kỷ XX ) chảy qua nhiều huyện, xã trong vùng làm cho đời sống kinh tế,văn hóa của ngời dân nơi đây thực sự đổi thay Đặc biệt đối với làng quê Phủ

Lý, sông Nông Giang lại càng có ý nghĩa hơn, bởi nó không chỉ có vai tròquan trọng đối với sự phát triển kinh tế nông nghiệp, mà còn là tuyến đờnggiao thông thủy rất thuận lợi cho việc buôn bán các mặt hàng nông- lâm sảngiữa miền xuôi lên miền núi và ngợc lại

Nh vậy, có thể nói rằng ngay từ rất sớm thiên nhiên đã ban tặng chovùng đất Thiệu Hóa nói chung và Phủ Lý nói riêng một mạng lới sông ngòiphân bố hầu khắp các xã trong huyện Hệ thống sông đào cùng với hệ thốngsông tự nhiên không chỉ tạo thành một mạng lới giao thông đờng thủy thuậnlợi từ Bắc vào Nam, mà còn có tác động rất lớn đối với việc định c lâu dài củacon ngời

Giao thông đờng bộ qua Phủ Lý là những tuyến đờng liên hơng, liênhuyện Từ làng Phủ Lý theo quốc lộ 45 ngợc lên là có thể đến các xã tronghuyện và lên đến các huyện miền núi hoặc xuôi xuống là về đến Kẻ Bôn (xã

Đông Thanh), qua thị trấn Đông Sơn là về đến thành phố Thanh Hóa, đây làTrung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của cả tỉnh

Ngoài ra, Phủ Lý còn có hệ thống đờng liên thôn đã đợc mở rộng phục

vụ thiết thực cho sự nghiệp phát triển kinh tế văn hóa xã hội và sinh hoạt chongời dân Thiệu Trung Hệ thống kênh mơng tới tiêu cho cả xã dài 12km, đào

Trang 15

đắp 46.680m3 đất để làm giao thông nội đồng không những là điều kiện thuậnlợi cho việc đa cơ giới vào sản xuất nâng cao chất lợng sản xuất kinh tế nôngnghiệp và các ngành nghề khác, mà còn là cơ sở để ngành nông nghiệp đủ sứcchống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, thực hiện thâm canh tăng vụ.

1.1.4 Khí hậu

Xã Thiệu Trung nằm ở vùng khí hậu đồng bằng, theo phân vùng của khíhậu tỉnh Thanh Hóa, thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa có nền nhiệt độ cao vớihai mùa chính: mùa hè khí hậu nóng ẩm, chịu ảnh hởng của gió tây khô nóngbắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9 âm lịch Mùa này khí hậu có 4 hiện tợng đanxen nhau và sự mạnh yếu của từng thời kỳ khác nhau đó là gió lào - nóng, hạnhán, giông bão và lụt lội

Nhiệt độ trung bình mùa nóng thờng 280c, ngày nắng nóng lên tới 35

-370c Vào những ngày này, buổi chiều thờng có gió tây, gió xoáy và mangtheo ma rào giúp cho vụ chiêm phát triển Thời kỳ gió tây xuất hiện từ tháng 3

âm lịch đến tháng 5, chậm nhất là đầu tháng 6 Cùng thời gian này thờng xuấthiện gió tây nam mà nhân dân địa phơng gọi là gió Lào Gặp những ngày giótây nam nhiệt độ lên tới 38 - 390c Tổng số giờ nắng trong năm 1658 giờ,tháng có số giờ nắng nhiều nhất là tháng 7 (217 giờ), tháng có số giờ nắng ítnhất là tháng 2 (49 giờ), số ngày trung bình không có nắng trong năm là 83,5ngày, cơ bản có lợi cho vật nuôi và cây trồng nhng thiên tai nhất là bão lụt vàkhô hạn luôn là mối đe dọa cho sản xuất nông nghiệp và đời sống con ngời.Chỉ cần có lợng ma từ 200 đến 300 mm là đủ gây úng lụt cho cho 1/3 diệntích toàn huyện

Mùa lạnh: bắt đầu từ cuối tháng 9 đến tháng 3 năm sau Đầu mùa cócác trận gió mùa đông bắc xuất hiện nên thờng kèm ma to gió lớn Vào tháng

10, có gió lạnh heo khô Nhiệt độ trung bình trên dới 160c Vào giữa mùa rétnhiệt độ mới xuống thấp có khi khoảng 7 - 80c Trong những đợt rét đậm, vẫnxuất hiện các ngày nắng ấm

Nhận xét về khí hậu của khu vực, sách Đại nam nhất thống chí đã viết:

"tháng giêng và tháng hai gió đông bắc khí trời hơi lạnh Tháng ba và tháng tgió đông nam, khí nóng bắt đầu sinh Tháng năm và tháng sáu gió nồm thổimạnh phần nhiều nóng nực Tháng bảy tháng tám thờng có gió tây nam, thỉnhthoảng ma rào hoặc ma lũ hoặc có bão Khoảng thu sang đông, sau khi sấm

Trang 16

rạp Tháng một và tháng chạp gió bấc trời rét Cuối tiết đại hàn khí trời sangxuân, sấm bắt đầu dậy" [78; 213].

Nhờ có sự thuận lợi về vị trí địa, điều kiện tự nhiên phong phú, mạng lớisông ngòi đa dạng cộng thêm sự cần cù chăm chỉ, óc sáng tạo không ngừngcủa con ngời Phủ Lý đã làm cho vùng đất này sớm trở thành vùng phát triểntrù phú, dân c đông đúc, có vị trí quan trọng đối với lịch sử của xứ Thanh

1.2 Dân c và lịch sử hình thành, phát triển làng Phủ Lý 1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của làng.

"Làng xã là một cộng đồng có tính chất dân tộc học, xã hội học và tínngỡng Nó hình thành trong quá trình liên hiệp tự nguyện giữa ngời dân lao

động trên con đờng chinh phục những vùng đất gieo trồng"[79; 11] Chính bởivậy, khi tìm hiểu một làng xã cổ truyền với những giá trị văn hóa truyền thốngmang tính đặc thù của làng thì đòi hỏi ngời nghiên cứu phải tìm về nguồn gốc

xa xa của nó Ngay từ buổi đầu lập làng, c dân đã bắt đầu gây dựng đời sốngvật chất ổn định để từ đó tạo nên một cộng đồng làng xã có đời sống văn hóaphong phú cùng với một kết cấu xã hội hoàn chỉnh

Phủ Lý là một làng quê có thời gian hình thành từ sớm Trải qua quátrình lịch sử lâu dài với nhiều lý do khác nhau mà nguồn tài liệu viết về làng

đã bị thất lạc Tuy nhiên căn cứ vào dấu vết hiện còn cùng với một số dữ liệuthông sử, gia phả, văn bia, địa danh, đã giúp chúng tôi rất nhiều vào việc tìm

về nguồn gốc xa xa của làng

Hầu hết các nguồn tài liệu đều cho biết thế kỷ X, làng đã là một Trungtâm chính trị - văn hóa của quận Cửu Chân Vậy làng thành lập từ bao giờ? Đểxác định một cách tơng đối thời gian thành lập làng, chúng tôi đã phải dựa vàonhiều nguồn t liệu khác nhau

Dựa vào kết quả khảo cổ học, làng nằm trong một vùng đất cổ Cách

đây khoảng 30- 40 vạn năm, các dấu vết của ngời nguyên thủy- ngời vợn đã

đ-ợc phát hiện tại di chỉ núi Đọ nằm trong địa phận hai xã Thiệu Tân và ThiệuKhánh, bên hữu ngạn bờ sông Chu Từ làng Phủ Lý có thể nhìn thấy hòn núinày Tại đây, ngời vợn nguyên thủy đã sinh sống, ghè vỡ đá để chế tác công

cụ lao động

Trang 17

Vào thời đại đồng thau, lu vực sông Mã, sông Chu đã trở thành trungtâm c trú của ngời Việt cổ trên đất Thanh Hóa Bằng sức lao động sáng tạo,bằng mồ hôi và tinh thần quật cờng, c dân bản địa đã biến đầm lầy, cồn hoangthành những vùng đất màu mỡ để xây dựng những xóm làng đầu tiên Đó làtiền đề để họ sáng tạo nên văn hóa Đông Sơn nổi tiếng Đóng góp một phầnvào thành tựu đó, chắc hẳn không thể thiếu vai trò của những c dân Việt cổPhủ Lý Những nông cụ lao động đợc tìm thấy ở Thiệu Dơng nh rìu đồng, lỡicày đồng, lỡi cày cánh bớm, liềm đồng, chứng tỏ một nền nông nghiệp dùngcày bằng kim loại đã ra đời và phát triển Đồng thời, các nhà khảo cổ còn tìmthấy nhiều xơng và đầu trâu, cùng những dấu vết của nền nhà, bếp đun Nhvậy, đến thời điểm này, trâu bò đã trở thành một vật nuôi quen thuộc trongmỗi gia đình, không chỉ đem lại cho con ngời một nguồn lơng thực, thựcphẩm đáng kể mà còn là nguồn sức kéo quan trọng đối với nghề trồng lúa nớc.

Những kết quả khảo cổ đã khẳng định: Phủ Lý (Kẻ Rỵ) nằm trên mộtvùng đất cổ Các di chỉ núi Đọ - Thiệu Tân, Thiệu Dơng, nơi để lại nhiều dấuvết của ngời Việt cổ trong qua trình khai phá và chinh phục đồng lầy đều nằmtrên vùng đất Thiệu Hóa và cách Kẻ Rỵ không xa Chứng tỏ, bấy giờ Kẻ Rỵ

đã có con ngời sinh sống theo hình thức nhóm họp lại thành một vài tụ điểmdân c Rất có thể chính họ là chủ nhân của nền văn hóa Đông Sơn? Chắc chắn

họ cũng đóng góp một phần công sức của mình vào công cuộc mở rộng đất

đai, xây dựng xóm làng trong buổi bình minh của lịch sử dân tộc

Trong lịch sử của cuộc đấu tranh chống lại sự đô hộ của các triều đạiphong kiến phơng Bắc, nhân dân khắp nơi trên đất xứ Thanh đều nổi dậy hởngứng cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trng (40 - 42), tham gia tiêu biểu có nữ tớng

An nội Lê Thị Hoa và Đô Dơng ở làng Giàng (Thiệu Hóa) Tuy nhiên,phải đến "khởi nghĩa bà Triệu (248) thì Thanh Hóa mới thực sự rõ sức mạnhquật cờng của mình Nổi lê từ quận Quân An - thủ phủ quân sự của nhà Ngô,quân bà Triệu tiến về T Phố - thủ phủ chính trị của nhà Ngô Cả một vùngrộng lớn đã nổi dậy hởng ứng mà hậu cứ vững chắc là Ngàn Na Kẻ Rỵ cáchlàng Giàng độ 10 cây số chắc chắn cũng nằm trong vùng ảnh hởng của cuộckhởi nghĩa này" [38; 68]

Nhà Đờng thành lập (năm 618), vùng Kẻ Rủn nổi lên nhân vật Lê Cốc(hiệu là Lê Ngọc), thái thú quận Cửu Chân đã chống lại nhà Đờng, xây dựngkinh đô Trờng Xuân và tự xng là hoàng đế Cuối thời Đờng, trung tâm T Phố

Trang 18

đã nổi lên những thủ lĩnh ngời Việt hùng cứ ở hơng thôn để phát triển thànhnhững hào trởng cự tộc có ảnh hởng lớn trong vùng nh Dơng Đình Nghệ ở D-

ơng Xá (làng Giàng - Thiệu Dơng) Đến thời vua Đinh mở nớc thì Kẻ Rỵ nổilên với nhân vật Lê Lơng (giáp Bối Lý)

Xét về mặt tên gọi của làng, ban đầu có tên gọi là Kẻ Rỵ Đối chiếu vớimột số công trình nghiên cứu về địa danh "Kẻ" của các nhà dân tộc học, xãhội học thì quá trình dựng nớc của các vua Hùng đợc xác định theo truyềnthuyết và th tịch cổ vào khoảng 2000 năm TCN đã mở rộng địa bàn c trú vàtiếp tục đẩy mạnh công cuộc chinh phục đồng bằng Thanh Hóa, tơng ứng vớithời kỳ văn hóa Đông Sơn rực rỡ Vào giai đoạn này, ngời Việt cổ trên đấtThanh Hóa đã tràn xuống định c bên bờ các dòng sông lớn Cuộc sống trở nênphong phú, dân c đông đúc Lúc này địa danh hành chính cơ sở Việt cổ có từ

"Kẻ" đã xuất hiện và phân bổ khắp các vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ "Kẻchính là tiền thân của làng sau này, cũng là làng Việt cổ, hình thành trên cơ sởgiải thể các công xã nông thôn hay những tổ chức tơng tự của thời nguyênthủy" [65;150] Nh vậy, ở Thanh Hóa những làng quê có tên nôm là "Kẻ" xuấthiện khá nhiều và lẽ dĩ nhiên đều đợc hiểu là một vùng đất cổ kính có niên đạikhá sớm khoảng trớc thế kỷ X

Nằm trên một mảnh đất cổ cách địa điểm khảo cổ "Cồn Chân Tiên"(thuộc xã Thiệu Khánh ) không xa là làng Phủ Lý Thời vua Hùng có tên nôm

là Kẻ Rỵ đã đợc hình thành trong bối cảnh lịch sử chung của vùng đất này

"Kẻ Rỵ nằm trong một vùng của các Kẻ: Kẻ Chè, Kẻ Bôn, Kẻ Go, Kẻ Chẻo,

Kẻ Láng, Kẻ Rủn, Kẻ Mơ, Kẻ Chòm, Kẻ Trịnh, Kẻ Giàng Cha có vùng nàotrong tỉnh Thanh tập trung dày đặc các Kẻ nh ở đây" [38; 67]

Theo các cụ già cao tuổi trong làng thì tên gọi "Rỵ" cũng không phảingẫu nhiên mà có Căn cứ vào nghề bện thừng nơi đây, "Rỵ" đợc dùng đặt tênlàng, do trớc kia đây là một vùng đồng đất, cây cối rậm rạp, hoang vu và córất nhiều loại cây nhợ mọc tự nhiên, nên ngời xa đã dùng các loại cây này làmthừng và đặt tên làng là Rỵ Bên cạnh ý kiến của các bô lão, một số nhànghiên cứu ngôn ngữ học cũng cho rằng "Rỵ là một tiếng trong vốn từ cổ củatiếng Việt, có nghĩa là dây kéo tiếng Rỵ có thể đã biến âm thành Rợ, Dợhoặc Nhợ và cùng có nghĩa là dây, mối" [38; 89] Cho tới nay, cha có nguồntài liệu nào khẳng định thời điểm nghề bện thừng ra đời Tuy nhiên, căn cứ

Trang 19

vào các nguồn dữ liệu trên, nghề bện thừng rất có thể đợc phôi thai cùng vớiquá trình hình thành làng

Đến thế kỷ thứ X, một tên gọi mới mang ý nghĩa hành chính ra đời:giáp Bối Lý Căn cứ vào cứ liệu thông sử, từ khi đất nớc giành đợc quyền tựchủ, Khúc Hạo đã cho đổi hơng thành giáp, đặt mỗi giáp một quản giáp vàmột phó tri giáp để trông coi việc đánh thuế Nh vậy, sự kiện này lý giải đợcphần nào lý do đổi tên làng Đồng thời cho thấy sự phát triển không ngừng vềquy mô diện tích và dân số, là cơ sở để làng trở thành một đơn vị hành chínhtrên cấp xã (tơng đơng với cấp hơng) Theo văn bia chùa Hơng Nghiêm "năm

1091, Lý Thờng Kiệt đi Thanh Hóa trả ruộng Ông lập bia đá chia ruộng chohai giáp: Từ nửa đầm A Lôi trở lên cho giáp Bối Lý, một nửa đầm A Lôi trởxuống chia cho giáp Viên Đàm" Hai giáp ấy nay đã thay đổi, nhng đất có thểtìm đợc Nếu xét trên bản đồ Thanh Hóa ngày nay, chúng ta có thể thấy rằngbên cạnh làng Phủ Lý có những làng Nhân Lý, Mỹ Lý Nh vậy, chắc chắn 3làng ấy khi xa chỉ là một và thuộc giáp Bối Lý, sau đó mới chia ra Bên cạnhphía tây của làng Phủ Lý, ta lại thấy có hai làng liền nhau, đó là làng ViênQuang và Hổ Đàm nên cũng có thể đoán đợc đó là những làng thuộc giápViên Đàm cũ mà phân tách ra

Địa danh "Bối Lý" cũng đợc nhà nghiên cứu cho rằng "bối" là âm kháccủa "bái", với Thanh Hóa thì từ "bải" khác từ "bái" Đất bồi đắp gọi là bái (bãisông), đất cao tự nhiên gọi là bái" [12; 59] Nh vậy, nơi họ Lê lập nghiệp làmột vùng đất cao ráo có nhiều các loại cây tự nhiên dùng để làm thừng Có lẽvì vậy mà tên gọi của làng đã thay đổi cho phù hợp với địa thế tự nhiên cũng

nh xuất phát từ mong muốn của chính những ngời dân nơi đây Suy cho cùngtên làng Rỵ, sau đó là giáp Bối Lý, có thể đều đợc gọi theo sản phẩm của nghềthủ công bện thừng Kẻ Rỵ

Giáp Bối Lý ra đời từ thời nhà Đinh và duy trì cho đến thời nhà Lê thì

đợc đổi thành làng Phủ Lý Từ sự suy đoán có chứng cứ, theo văn bia chùa

H-ơng Nghiêm thì đến thời Lê, giáp Bối Lý đợc phân tách thành 3 làng: Phủ Lý,Nhân Lý, Mỹ Lý Tuy nhiên, sự lựa chọn tên gọi của làng là Phủ Lý cũng có ýnghĩa nhất định Theo chúng tôi, bấy giờ các bậc tiền nhân muốn chứng tỏ đây

là một vùng đất quan trọng, là nơi nổi tiếng với sự đỗ đạt của nhiều bậc đạikhoa, là tâm điểm của cả xứ Thanh nên đã đặt tên là Phủ Lý Ngoài ý nghĩa

Trang 20

cao cả đó, họ còn muốn thay đổi tên cho mĩ miều, đẹp đẽ, xứng đáng là mộtvùng đất giàu truyền thống khoa bảng.

Căn cứ vào những dấu vết hiện còn, những câu chuyện dân gian truyềnmiệng, những điều ghi lại trong gia phả tộc phả, khoán ớc thì từ trớc thế kỷthứ X, cuộc sống ở đây đã sầm uất, thịnh vợng Sách Thơ văn Lý - Trần cóghi: "ông tổ của Lê Lơng sống vào khoảng thời Đờng" Văn bia chùa HơngNghiêm cũng ghi rõ: Tổ tiên của Thiền s (tức Đạo Dung) là Trấn quốc Bộc xạ

Lê Công thuộc dòng họ lớn ở quận Cửu Chân, Châu ái nớc Việt" Các dữ liệu

đó đã cho biết về "gia thế giàu thịnh" của Lê Lơng, cũng nh ít nhiều cung cấpthêm vài giả định về những buổi đầu trên đất Kẻ Rỵ Đến thế kỷ thứ X, Lê L -

ơng là một cự tộc ở đất Cửu Chân Từ đó, có thể khẳng định dòng họ Lê mà

tr-ớc Lê Lơng, phải là những ngời có thế lực, quyền hành và có nhiều công tíchvới nhân dân Vậy trớc Lê Lơng, dòng họ này có nhân vật nào, họ có vị trí vàvai trò gì trong lịch sử dân tộc? Để lý giải điều này, chúng tôi đã dựa vàonhững cứ liệu thông sử, văn bia, t liệu địa phơng tìm nguồn gốc dòng họ Lêthời kì trớc thế kỷ X, cũng đồng nghĩa với việc tìm hiểu lịch sử làng Phủ Lýtrong buổi đầu hình thành

Dới thời Bắc thuộc, nớc ta chịu sự đô hộ của các triều đại phong kiếnphơng Bắc Cho đến cuối thời nhà Tùy, thái thú Cửu Chân là Lê Cốc - hiệu là

Lê Ngọc (thuộc một dòng họ Lê vốn có gốc từ đời Tấn Vĩnh Gia bên TrungQuốc) Lê Cốc sang làm quan ở Cửu Chân, lấy vợ ngời gốc Việt, sinh đợc 3con trai và 1 con gái Khi Lơng Tiêu xng đế diệt Tùy, Lê Ngọc không chịunên đã cùng các con trai, con gái chia binh đắp thành trì ở Đông Phố (ĐồngPho- Đông Hòa) chống lại nhà Lơng trong 3 năm trời Nhà Đờng diệt LơngTiêu, Lê Ngọc tiếp tục chống nhà Đờng và ông chết hai năm sau đó Lê Ngọccùng các con đợc thờ làm thành hoàng nhiều nơi trên đất Thanh Lê Ngọc đợctôn xng là Cao Hoàng và đợc thờ ở nghè Sâm (làng Viên Khê, xã Đông Anh)

Bia cổ Trờng Xuân có tên là "Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo an Đạo ờng chi bi minh" là tấm bia cổ nhất trong Viện Bảo tàng lịch sử nớc ta, bia do

tr-Lê Ngọc dựng năm 618 ở làng Trờng Xuân, xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn,

kể việc ông tự xng là hoàng đế để chống lại nhà Lơng và việc lập kinh đô ờng Xuân

Tr-Nh vậy, viễn tổ họ Lê ở Kẻ Rỵ đã gắn bó với mảnh đất Cửu Chân từ thế

kỷ thứ VII Đó là cơ sở để đến hậu duệ của ông là Lê Lơng (thế kỷ X) vẫn là

Trang 21

nhà đại cự tộc ở đất Châu ái Đồng thời chính ông cũng là ngời khai sángcho vùng đất Kẻ Rỵ khiến cho vùng đất này trở thành một trung tâm chính trị

- văn hóa của quận Cửu Chân, một tụ điểm lịch sử có vị trí quan trọng lúc bấygiờ Giáp Bối Lý đã đợc cả nớc biết đến với Lê Lơng Ông đợc Đinh TiênHoàng và Lê Đại Hành ban chức Bộc xạ tớng quốc Quang lộc đại phu, caiquản cả vùng đất Cửu Chân với quyền hành Đô quốc tịch sứ quán Cửu Chân

"Lê gia chính phả" ghi lại sinh hoạt của nhà hào phú Lê Lơng: "Trong nhàchứa hàng trăm lẫm thóc, nuôi 3000 môn khách Những năm mất mùa đóikém, Lê Lơng mở kho thóc chẩn tế cho dân trong vùng" Sau khi Đinh TiênHoàng lên ngôi biết ông là ngời có đạo nghĩa, xuống chiếu mời ông về kinh,phong tớc Kim tử Quang bộc đại phu, làm Đô đốc dịch sứ quân Cửu Chân,Châu ái Đất ban nửa cõi để hởng lộc đời đời con cháu trông coi Nửa cõi đất

mà Đinh Tiên Hoàng phong cho Lê Lơng với địa giới "đông từ Phân Dịch,nam tới Vũ Long, tây từ đỉnh núi Ma la, bắc từ chân lèn Kim Cốc, đời đời concháu đợc quyền trông coi"[58; 596] Phần đất ấy rộng khoảng 500 dặm vuôngbao gồm các huyện Đông Sơn, Thiệu Hóa, Quảng Xơng

Sự mở rộng diện tích đất đai do đợc nhà vua ban cấp, cho thấy rằngdòng họ Lê ở Kẻ Rỵ là một dòng họ đại cự tộc và có thế lực lớn ở đấtChâu ái Chính bởi vậy, Kẻ Rỵ cũng chịu ảnh hởng tích cực bởi tên tuổi của

Lê Lơng Cuộc sống nơi đây nhộn nhịp sôi nổi hẳn lên, thu hút các vị vua

đứng đầu nớc ta từ thời Đinh đến thời Lý và thời Lê sau này nữa Theo văn biaChùa Hơng Nghiêm, "Lê gia chính phả" và các dấu vết còn lại, thì khi

"Đinh Tiên Hoàng về Thanh Hóa đã vời Lê Lơng đến hành tại (có lẽ đất DơngXá) và giao cho chức đô dịch sứ quận Cửu Chân Lê Hoàn đi tuần giang đếnGiang Ngũ Huyện (có lẽ là Ngã Ba Bông) cũng ghé lên thăm Kẻ Rỵ để giaotiếp chức này cho Lê Lơng, vua Lý Thái Tông cũng ghé thăm cảnh chùa HơngNghiêm và truyền cho tu sửa chùa này Sau này các vua nhà Lê đi đánh phơngNam hoặc trên đờng về Lam Kinh tế tổ, đều ghé qua đây bằng thuyền ngự đitrên sông Chu Vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành thắng trận trở vềdâng công ở Lam Kinh đã ghé vào Kẻ Rỵ, đóng quân lại, đắp Bàn Hát để mởhội vui chiến thắng cùng nhân dân Dấu vết Bàn Hát đến nay vẫn còn Chínhtrên khúc sông nhà Lê chảy qua Kẻ Rỵ cũng đợc vua ban hai chữ "HơngGiang" vì nớc sông này pha trà sen ngát lên mùi thơm kỳ diệu, khiến nhà vuavô cùng khoan khoái" [38; 69]

Trang 22

Ngoài việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, Lê Lơng còn bỏ tiền củatrong nhà mở mang phát triển Phật giáo và xây dựng ba ngôi chùa lớn: HơngNghiêm, Trinh Nghiêm và Minh Nghiêm Sự kiện này cho thấy, Lê Lơng làngời rất tôn sùng Đạo phật và dòng họ Lê của ông nối đời theo Đạo phật Điều

đó khẳng định Đạo phật với những giáo lý phù hợp (làm thiện, từ bi, cứu khổ,cứu nạn ) thổi một luồng gió mới đến cộng đồng làng xóm nơi đây Khi đãbén rễ vào làng xã, Phật giáo kịp thời dung hòa với những tín ngỡng dân gian,góp phần tạo thành hệ t tởng của những ngời nông dân sống quây quần, đùmbọc trong làng quê này

Hiện nay trong nhà thờ Lê Văn Hu còn đôi câu đối đề cập tới hai chữ

Tố Vơng Đó là tớc hiệu của Lê Ngọc mà nhân dân đã vinh phong và họ Lê ở

Kẻ Rỵ vẫn hớng về nguồn gốc ân đức ấy:

Vân nhng khí tật vi Thợng công chi phong Viễn tổ nghi thị Tố Vơng chi tớc.

Trên cơ sở kết hợp, đối chiếu các nguồn tài liệu khác nhau, cũng nh căn

cứ vào vị trí địa lý, địa danh của làng, thì thời gian làng bắt đầu hình thànhvào khoảng thế kỷ VII Có thể bấy giờ, làng chỉ là nơi định c của số ít c dân

đến sinh sống và trên thực tế tuy không nổi tiếng song họ đã lập đợc làng Cho

đến khi dòng họ Lê Lơng tìm đợc nơi định c mới, với thế lực sẵn có của mình,lại dựa trên cơ sở hoạt động kinh tế của chính c dân nơi đây mà phát triểnkhiến làng trở nên nổi tiếng, thu hút các dòng họ khác về đây sinh sống Lê L-

ơng cùng với c dân nơi đây, gây dựng cải tạo vùng đất cũ rộng và trù phú hơn,dân số tăng nhiều hơn Do vậy, phơng ngôn của làng có câu "đất họ Lê, nghề

họ Vũ" là để khẳng định công lao to lớn của dòng họ Lê Lơng trong quá trìnhtạo dựng nên làng

Theo các cụ già trong làng cho biết, địa giới hành chính của làng ngàynay đã khác xa Trong buổi đầu hình thành, làng nằm về phía Cồn Mảng, MảChoòng cách Phủ Lý ngày nay khoảng độ nửa cây số Cồn Mảng vàMả Choòng là hai khu đất riêng nhng liên tiếp nhau Trên Cồn Mảng hiện naycòn nhiều ngôi mộ cha xác định Tại Mả Choòng dới lớp đất sâu khoảng 1m,

c dân canh tác hiện vẫn đào đợc những bình lọ cổ, những vỉa gạch hồ

Trải qua thời gian với nhiều biến động của lịch sử, những c dân tronglàng dần dần chuyển c về phía đông, bám sát vào mạn bờ sông Hơng Giang

Trang 23

Sự chuyển c này hoàn toàn mang tính chất tự nhiên, theo quy luật sinh tồn vàphát triển của con ngời Do vị trí thuận lợi của bến sông, đất đai lại màu mỡ,phì nhiêu, dễ canh tác là những điều kiện lý tởng cho cuộc sống định c lâu dàicủa mỗi một cá nhân sống trong cộng đồng làng xã Tuy nhiên, sự chuyển cnày diễn ra khi nào? Theo nhà nghiên cứu Lê Huy Trâm thì "việc từ bỏ nềnlàng cũ để đến nơi làng mới này chỉ có thể diễn ra từ nửa sau đời Lý" [38; 70].

Quá trình thay đổi địa điểm định c đã mang lại những hệ quả tốt đẹp

Đó là sự khởi sắc của một cộng đồng dân c đông đúc với nền kinh tế ổn định

và một sự nghiệp nho học phát triển Chính nơi đây, thời Trần, cậu bé Lê Văn

Hu đã chào đời và tiếp đó là một loạt các nho sĩ đỗ đạt qua các triều đại phongkiến Đó là minh chứng cho sự lựa chọn sáng suốt của các bậc tiền nhân, cũng

nh khẳng định sự lao động sáng tạo không ngừng của c dân Phủ Lý

Nh vậy, qua các triều đại từ thời Đinh cho đến suốt thời kì nhà Lý,chính trên mảnh đất quê hơng, Lê Lơng và con cháu của ông cùng với nhândân Kẻ Rỵ khai phá ruộng đồng, mở mang diện tích, xây dựng xóm làng vàthúc đẩy phát triển kinh tế nông, thủ công nghiệp Vì vậy, trong bối cảnhchung của lịch sử dân tộc ở thế kỷ X - XV, thì Kẻ Rỵ sớm trở thành một tụ

điểm lịch sử của xứ Thanh, góp phần quan trọng vào việc xây dựng kỷ nguyên

độc lập tự chủ lâu dài của dân tộc với nền văn minh Đại Việt huy hoàng

Đầu thời Trần, đất này đột nhiên khởi sắc với sự đỗ đạt của Lê Văn Hu(hậu duệ đời thứ 7 của Lê Lơng)- vị tiến sĩ khai khoa đầu tiên ở Châu ái, một

sử gia đầu tiên của nớc Đại Việt, làm rạng danh không chỉ cho dòng họ Lê ở

đất Kẻ Rỵ mà còn cho xứ Thanh - dân tộc Cuối thời Trần, đất này lại nổi lênvới tên tuổi của danh tài Lê Bá Quát và con trai Lê Bá Giác Tiếp đó, một loạtcác tiến sĩ lần lợt xuất hiện Theo "Bản xã tiên hiền" có 12 vị đỗ đại khoa: LêVăn Hu, Đào Tiêu, Lê Tớng Công, Lê Bá Quát, Lê Bá Giác, Nguyễn Cự Công,

Lê Cự Công, Trần Lê Hiệu, Trần Cự Công, Vũ Kiêm, Trần Văn Mỹ

Trải qua các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm nhân dân Phủ Lýgóp phần không nhỏ vào thắng lợi chung của quốc gia Đại Việt Sang thời Lê,giáp Bối Lý đổi thành làng Phủ Lý, trực thuộc thuộc huyện Thụy Nguyên -phủ Thiệu Thiên trong Thanh Hóa thừa tuyên

Dới ngọn cờ phục quốc của vị anh hùng Lê Lợi trên đất Lam Sơn, nhândân Phủ Lý đã tham gia chiến đấu cùng nghĩa quân Lam Sơn chống lại quân

Trang 24

Minh Lê Cảnh Xớc truyền là con cháu Lê Bá Quát cũng có mặt trong trậnchiến chống quân Minh Ông giữ chức Thị Lang trong nội phủ Lê Thái Tổ.

Đến thời Lê trung hng, bên cạnh Kẻ Rỵ, Kẻ Chè nổi lên với hàng loạtquận công Họ Lê ở Trà Đông là có nhiều quận công nhất Sau này họ Trần ở

Kẻ Rỵ cũng có nhiều ngời làm quan và nổi tiếng nh ông Mỹ Hào, Mỹ Tế Ông

Mỹ Tế có tài cỡi ngựa, múa đao thời Lê đợc phong Thiên hộ đô tiết tớng quân,sau theo Tây Sơn đợc phong Phù binh hộ bộ dới triều Thái Đức

Đến đầu thời Nguyễn, làng Phủ Lý (xã Phủ Lý) thuộc tổng Vận Quy,huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoa Tên làng Phủ Lý đợc duytrì cho đến thời Nguyễn - năm Thành Thái thứ 12 (1900) Sau đó, ngoài lý do

đông dân, đất đai mở rộng còn là do uy thế của Thống Năng bấy giờ là Đôthống Đại thần nhà Nguyễn dùng thế lực của mình chia cắt làng Phủ Lý

ra làm 3 làng nhỏ với nhiều xóm và ngõ để dễ cai quản và cai trị Từ đó lịch sửcủa làng bớc sang một trang mới

Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lợc nớc ta (1858), nhân dân cả nớc đấutranh và một lòng hởng ứng chiếu Cần Vơng của vua Hàm Nghi Phong tràoCần Vơng ở Phủ Lý tuy không nổi bật nh các nơi khác, song tinh thần đấutranh thì không ngừng nở rộ và chỉ chờ có ngời lãnh đạo tâm huyết, phongtrào sẽ có một sức chiến đấu quật khởi Trong làng có ông quản bộc họNguyễn, ông Bát Khai họ Trần cũng khởi xớng chiếu Cần Vơng nhng lạikhông tập hợp đợc sức mạnh quần chúng do những ngời này đều có mục đíchmợn tiếng để giành thế lực riêng nên kết quả của phong trào Cần Vơng khôngcao Tuy nhiên cũng có nhiều ngời hăng hái tham gia đánh Tây nhng do lãnh

đạo không tốt nên họ cũng về nhà làm ăn

Thời kì này trong làng nổi lên nhân vật Thống Năng, là một tên tay saicho giặc Pháp và triều đình Huế Thống Năng tên thật là Phạm Thế Năng,xuất thân nghèo hèn, cha mẹ mất sớm nên thờng có hành vi trộm cắp tronglàng Vì sợ làng trừng trị vì tội ăn cắp nên cu Năng đã sang làng Thọ Hạc đi ởcho một gia đình giàu Sau nhận tiền đăng lính đợc tuyển vào hầu hạ các quanlớn tỉnh Công sứ Bô (công sứ Thanh Hóa, sau làm toàn quyền Đông Dơng)thấy Năng khỏe mạnh nên dùng làm tay sai, thăng lên chức Cai Năng, đợcchuyển sang coi tù Đợc tên Bô che chở, lại đợc Khải Định tin cẩn cất nhắclên làm chức phòng thành ở kinh đô Huế Do có công với Khải Định, PhạmThế Năng đợc phong chức Đô thống đại thần, quyền trên mọi ngời nên đợc

Trang 25

gọi là quan Đô Năng Trong con mắt của ngời dân Phủ Lý bấy giờ ThốngNăng là một tên giết ngời ghê gớm và tàn bạo, một tên tay sai điển hình củagiặc Pháp Do áp lực của Thống Năng nên phong trào Cần Vơng và các phongtrào yêu nớc khác ở Phủ Lý và một số làng lân cận không thể có điều kiệnphát triển lên đợc Phải đến Cách mạng tháng Tám trong không khí sục sôicủa cả nớc, dới ngọn cờ lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nhân dân Phủ Lý vàTrà Đông đã nổi lên trong khí thế cách mạng của cả huyện, cả tỉnh Các đội

du kích võ trang đợc thành lập cùng với nhân dân đấu tranh mạnh mẽ Chínhquyền thực dân phong kiến sụp đổ nhanh chóng Cách mạng thắng lợi vớinhững mốc son ghi dấu chiến công

Ngày mùng 6 tháng giêng năm 1946, xã Tây Hồ ra đời bao gồm 6 thôn

Mỹ Lý, Nguyệt Lãng, Trà Đông và 3 làng Phủ Lý (Bắc, Trung, Nam), lấy tênnhà đại ái quốc Phan Chu Trinh đặt làm tên xã với mong muốn biểu thị lòngyêu nớc sâu sắc của mình, quyết chống Pháp đến cùng để bảo vệ nền độc lập

tự do vừa mới giành lại đợc Hởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ kính yêu, cácphong trào lập hũ gạo cứu đói, tăng gia sản xuất, bình dân học vụ, đợc phát

động khắp nơi và đều có sự tham gia nhiệt tình từ phía quần chúng nhân dân

Thực dân Pháp nổ súng xâm lợc nớc ta lần thứ hai (23.9.1945), nhândân Phủ Lý cùng với tỉnh Thanh quyết tâm đồng lòng tham gia phong tràochống giặc Pháp Thanh niên của làng cùng với thanh niên trong tỉnh nô nứclên đờng "Nam tiến" theo tiếng gọi của tổ quốc thân yêu Nhiều làng khángchiến đã hình thành với các hào giao thông tự vệ, dân quân ngày đêm tậpluyện sẵn sàng chiến đấu

Trong không khí ấy xã Minh Quang ra đời (tháng 10 năm 1947), hợpnhất các xã nhỏ thành xã lớn Xã Minh Quang lớn gồm hai xã nhỏ là Tây Hồ

và Minh Quang Một ủy ban hành chính ra đời cùng với mặt trận Liên Việtlãnh đạo nhân dân vừa sản xuất, vừa chiến đấu để giành đợc mục đích cao cả:

độc lập tự do cho dân tộc

Tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp, xã Thiệu Trung có 47 ngời là

bộ đội cụ Hồ, 1 liệt sỹ, 150 thanh niên xung phong và hơn 1000 dân công tiếpviện cho chiến dịch Điện Biên Phủ, làm nên trang sử vàng cho lịch sử dân tộc

Hòa bình lập lại, miền Bắc đợc giải phóng nên có điều kiện bắt tay vàohàn gắn vết thơng chiến tranh, kiến thiết đất nớc và bắt đầu công cuộc xây

Trang 26

dựng XHCN và tiếp tục làm nhiệm vụ giải phóng miền Nam Trong hoàn cảnh

đó xã Thiệu Trung ra đời bao gồm 4 làng Bắc, Trung, Nam và Trà Đông

Hơn hai mơi năm kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, nhân dân Phủ Lý dớingọn cờ lãnh đạo của Đảng quang vinh đã cống hiến sức ngời, sức của cùngvới cả nớc tham gia thế trận chiến tranh nhân dân với quyết tâm dù khó khăn

đến đâu cũng phải giành cho đợc độc lập dân tộc Những năm tháng ấy, xãThiệu Trung đã có 363 ngời nhập ngũ, 160 thanh niên xung phong, 240 dâncông hỏa tuyến, 87 liệt sĩ, 33 thơng binh Vẻ vang nhất là nhân dân ThiệuTrung đã bắn rơi 1 máy bay F4H của giặc Mỹ bằng súng 12,7 ly (năm1975) Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Thiệu Trung vinh dự trở thành quêhơng thứ hai của tỉnh Thanh Khi tiếng súng chống chiến tranh phá hoại củagiặc Mỹ rộ lên thì các cơ quan cấp tỉnh cũng khẩn trơng chuyển về ThiệuTrung Mảnh đất này còn vinh dự đợc đón các đồng chí lãnh đạo đảng và nhànớc về công tác: đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí Đỗ Mời

Qua các cuộc đấu tranh chống lại thế lực ngoại xâm và nội phản, Phủ

Lý từng bớc đi lên, từng bớc đấu tranh, vững vàng đơng đầu với mọi khókhăn Có lúc gay go, quyết liệt bởi thế và lực hai bên chênh lệch nhau, song cólúc lại nhẹ nhàng trong cuộc đấu tranh giữa các rào cản tâm lý, tự mình rũ bỏ

sự bảo thủ trì trệ để kịp vơn lên với phong trào cách mạng chung của cả nớc.Trải qua các thời kỳ lịch sử kể từ khi làng mới thành lập cho tới nay, Phủ Lý

đều ghi dấu những mốc son lịch sử, kết nối truyền thống cho các thế hệ maisau vững bớc đấu tranh, bảo vệ đất nớc

Nh đã trình bày, sau cải cách ruộng đất, tên xã Thiệu Trung đợc khaisinh trực thuộc huyện Thiệu Hóa Đến năm 1977 thực hiện chủ trơng của

Đảng đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội theo hớng sản xuất lớnXHCN, không ngừng nâng cao đời sống cho nhân dân, trong đó có việcxây dựng và tăng cờng cấp huyện, ngày 5 - 7 - 1977, Hội đồng chính phủ đã

ra quyết định số 177/CP giải thể huyện Thiệu Hóa với nội dung nh sau:

- Sáp nhập 15 xã của huyện Thiệu Hóa (phía tả ngạn sông Chu) vàoYên Định thành huyện mới lấy tên là huyện Thiệu Yên

- Sáp nhập 16 xã của huyện Thiệu Hóa (phía hữu ngạn sông Chu) vàohuyện Đông Sơn thành huyện mới lấy tên là Đông Thiệu, sau đổi là huyện

Đông Sơn

Làng Phủ Lý (xã Thiệu Trung) thuộc huyện Đông Sơn

Trang 27

Thực hiện Nghị định của chính phủ số 72/CP ngày 18/11/1996, tách hainửa Thiệu Hóa của huyện Đông Sơn và huyện Thiệu Yên nhập lại thànhhuyện Thiệu Hóa nh trớc gồm 31 xã với 17.344,50 ha diện tích tự nhiên.

Ngày nay đến Thiệu Trung, chúng ta ít nghe thấy tên làng xa, mà thayvào đó là tên gọi của thôn và xã Tuy nhiên trong tâm thức của ngời dân nơi

đây thì làng Phủ Lý vẫn còn hiện hữu với tên gọi của từng thôn song song vớitên gọi của từng làng: thôn Phủ Lý Trung, thôn Phủ Lý Nam và thôn Phủ LýBắc Xã Thiệu Trung chia Phủ Lý làm 4 thôn: thôn 1 thuộc Phủ Lý Bắc, thôn

2 thuộc Phủ Lý Trung, thôn 3 - 4 thuộc Phủ Lý Nam, còn thôn 5 và thôn 6thuộc làng Trà Đông (Kẻ Chè)

Nh vậy, nằm trong hệ thống các làng cổ xứ Thanh, Phủ Lý (Kẻ Rỵ) đợchình thành từ rất sớm Trải qua quá trình định c lâu dài của các dòng họ với sựgóp sức của c dân nơi đây, vùng đất này sớm trở thành một vùng có truyềnthống văn hóa đặc trng với đặc điểm kinh tế, văn hóa đa dạng (vừa là làngkhoa bảng, vừa là làng kinh tế nông - công - thơng nghiệp) Đặc trng này gópphần rất lớn vào hệ thống những giá trị văn hóa tốt đẹp trên mảnh đất quý h-

ơng mà Phan Huy Chú đã từng nhận xét: "Thanh Hóa núi sông rất đẹp, là mộtchỗ đất có cảnh đẹp, nơi xung yếu, các triều đại trớc vẫn gọi là một trấn quantrọng Đến triều Lê lại là đất căn bản với non sông tơi tốt chung đúc nên sinh

ra nhiều bậc vơng tớng, khí tinh hoa tụ họp lại, nảy ra nhiều văn nho Bởi vì

đất thiêng thì ngời giỏi nên nảy ra những bậc phi thờng" [16; 39]

1.2.2 Dân c.

Các kết quả nghiên cứu của ngành khảo cổ học cho biết, Thiệu Hóathuộc vùng đất cổ xa của xứ Thanh Ngay từ rất sớm đã có ngời tiền sử sinhsống Trải qua quá trình tiến hóa lâu dài với sự ổn định nơi c trú, c dân Việt cổ

đã kiến tạo và xây dựng thêm những vùng đất mới

Làng Phủ Lý thời thuộc Đờng đã có con ngời định c theo hình thứcnhóm họp thành một vài tụ điểm dân c Căn cứ vào nguồn tài liệu th tịch

"quận Cửu Chân là quận lớn thứ hai (sau Giao Chỉ) với 35.743 hộ, tổng cộng166.013 nhân khẩu, trung bình mỗi hộ có 4 - 5 ngời" [58; 558] Thực ra đâychỉ là số liệu ghi chép của bọn đô hộ, còn trên thực tế con số đó có thể caohơn rất nhiều Cho đến thế kỷ X, dới triều Đinh - Tiền Lê, theo "Lê gia chínhphả" thì trong nhà Lê Lơng chứa hơn trăm lẫm thóc có tới 3000 ngời ra vào ănuống mỗi ngày Điều này đồng nghĩa với việc khẳng định số dân tụ c trênmảnh Kẻ Rỵ lúc này đã lên tới hơn 3000 ngời

Trang 28

Trải qua các triều đại phong kiến, sự tăng hay giảm dân số ở làng không

đợc sử sách ghi chép lại Đến triều Nguyễn, dới thời vua Minh Mạng thứ 11(năm 1830), dựa vào nguồn tài liệu địa bạ xã Phủ Lý, chúng tôi thống kê đợc

có 160 hộ gia đình Căn cứ vào số ruộng sở hữu cá nhân trên từng xứ đồng thìbình quân mỗi chủ sở hữu đợc sở hữu từ 3 đến 5 mẫu ruộng Trên cơ sở đó, cóthể khẳng định rằng, ngời sở hữu ruộng là đại diện cho một gia đình lớn (gia

đình nhiều thế hệ) Mỗi gia đình có từ 10 - 15 khẩu Nh vậy, với 160 hộ thì sốkhẩu khoảng trên 1500 ngời

Cho đến trớc Cách mạng tháng Tám năm 1945, dân số làng Phủ Lýkhoảng trên 2000 ngời Đến năm 1984, toàn xã Thiệu Trung (gồm có làng Phủ

Lý và làng Trà Đông) có 784 hộ với tổng là 3681 nhân khẩu Năm 1988 là

4016 nhân khẩu, trong đó làng Phủ Lý khoảng 2600 nhân khẩu (chiếm 64,7%dân số toàn xã) Theo số liệu thống kê về chỉ báo gia đình năm 2005, dân sốxã Thiệu Trung là 5605 ngời, trong đó số nam và số nữ ở độ tuổi từ 15 - 35 đ-

ợc cụ thể qua bảng sau:

Xã Thiệu Trung có tổng số hộ là 1305 với tổng số nhân khẩu toàn xã là

5605, trong đó số nam ở độ tuổi 15- 35 là 912 khẩu chiếm 16,4%, nữ 872khẩu chiếm 15,6% Trong tổng số khẩu toàn xã thì số khẩu ở các thôn 1,2,3,4(Phủ Lý) là 3696 khẩu chiếm tới 65,9% dân số và số khẩu nam ở độ tuổi

15 - 35 là 639 ngời chiếm 17,3% và số nữ là 567 ngời chiếm 15,3% Nh vậy,

so với làng Trà Đông (thôn 5 và 6) thì dân số ở Phủ Lý đông hơn, số nam, nữ

ở độ tuổi thanh niên chiếm tỷ lệ cao hơn Điều này có tác động lớn tới sự pháttriển kinh tế của làng Tuy nhiên, cơ cấu giới tính chênh lệch giữa nam và nữ

Trang 29

trong làng là không đáng kể và tỷ lệ tăng dân số cũng chỉ ở mức trung bình từ0,46 - 0,50 %

Dựa theo các chỉ báo về gia đình chúng tôi còn đợc biết, trong tổng số

833 hộ phân bố ở các thôn 1,2,3,4 thì số hộ gia đình hạt nhân là 637 hộ chiếm76,5% và số hộ gia đình truyền thống là 160 hộ chiếm 19,2% tổng số hộgia đình ở Phủ Lý Sự chênh lệch này là kết quả tự nhiên của cuộc sống gia

đình, là xu thế chung của xã hội Việt Nam Tuy nhiên, số liệu trên cho thấygia đình truyền thống ở Phủ Lý vẫn chiếm số đông (19,2%) Trong cộng đồnglàng xã nói chung, một gia đình có nhiều thế hệ cùng sinh sống vẫn là môhình lý tởng nói lên sự đoàn kết, đầm ấm, hạnh phúc của mọi thành viên sốngtrong ngôi nhà ấy Theo số liệu thống kê, thì sự phân bố số hộ gia đình hạtnhân và truyền thống ở các thôn thuộc Phủ Lý tơng đối đều nhau

Hầu hết các hộ gia đình đều lấy kinh tế nông nghiệp làm chủ đạo Dovậy, ngời phụ nữ giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là "tay hòm chìa khóa" tronggia đình, còn ngời đàn ông giữ vai trò quyết định song họ cũng thờng xuyêntham gia phụ giúp những công việc đồng áng, cùng chia sẻ sự khó khăn vớicác thành viên khác

Dân c làng Phủ Lý sinh sống theo từng cụm và phân bố chặt theo từngdòng họ Theo tài liệu điền dã thì ở Phủ Lý Bắc chủ yếu dòng họ Phạm; Phủ

Lý Nam- họ Trần, họ Nguyễn; Phủ Lý Trung- họ Trơng và họ Lê Ngoài racòn có nhiều dòng họ từ nơi khác đến sinh sống xen kẽ, quần tụ theo từngcụm, từng nhóm nhng hoàn toàn không tách biệt mà liên kết chặt chẽ với nhautheo "tình làng nghĩa xóm", "tối lửa tắt đèn" có nhau, tạo nên một cộng đồnglàng xã khép kín với một truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa làng

* Tiểu kết.

Nằm trong khu vực đồng bằng châu thổ xứ Thanh, nên ngay từ sớm Phủ

Lý đã có điều kiện tự nhiên tơng đối thuận lợi để c dân ổn định cuộc sốngnông nghiệp và phát triển kinh tế đa ngành

Với vị trí tiếp giáp giữa huyện Đông Sơn và trung tâm huyện ThiệuHóa, Phủ Lý đợc xem là nơi giao lu và tiếp nhận văn hóa giữa hai địa phơngtrên Đó là cơ sở để Phủ Lý chọn lọc và kết tinh nét văn hóa đặc sắc cho mình

Địa hình đất đai là cơ sở quan trọng để khẳng định sự định c của conngời sớm hay muộn Làng Phủ Lý nằm trên nền địa hình ổn định Đây là một

Trang 30

trong những điều kiện để làng quê này đợc hình thành sớm và nhanh chóngphát triển thành một cộng đồng dân c đông đúc, sầm uất vào thế kỷ X.

Sông ngòi, khí hậu là những yếu tố quan trọng tác động rất lớn tới sựhình thành và phát triển của các làng Việt So với các làng quê khác ở xứThanh, làng Phủ Lý có hệ thống sông ngòi khá phong phú Ngoài sông Chu,còn có sông nhà Lê và sông Nông Giang, khiến cho cuộc sống nơi đây thêmtrù phú, cây cối tốt tơi Hơn nữa, lại nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới vớiviệc phân chia thành các mùa rõ rệt nên Phủ Lý có điều kiện tăng năng suấtcây trồng, mở rộng diện tích canh tác, đa lại giá trị sản xuất cao, góp phần ổn

định cuộc sống lâu dài

Căn cứ vào nguồn tài liệu th tịch, văn bia, kết hợp với nguồn t liệu địaphơng thì làng Phủ Lý có thời gian hình thành từ sớm - thế kỷ VII và pháttriển rực rỡ vào thế kỷ X Thời kì này, Phủ Lý không chỉ là một trung tâmchính trị mà còn là một tụ điểm văn hóa nổi tiếng, là nơi đợc nhiều vị vua ghéthăm và khen ngợi Đó là nền tảng để các thời kì tiếp theo làng quê này có

điều kiện sát cánh cùng với lịch sử dân tộc trong cuộc đấu tranh chống giặcngoại xâm, bảo vệ đất nớc Qua các triều đại phong kiến, Phủ Lý còn tự hào là

đất khoa bảng, nơi sản sinh ra các bậc hiền tài cho đất nớc, tạo nên một nétvăn hóa đặc trng trong quá trình hình thành và phát triển của làng

Chơng 2 Tình hình kinh tế và cơ cấu tổ chức của làng Phủ Lý

2.1 Tình hình kinh tế.

Lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam ngay từ buổi sơ khai ban đầu

đã gắn liền với lịch sử phát triển của nghề trồng lúa và quá trình đấu tranhdựng nớc của dân tộc cũng chính là quá trình đấu tranh để phát triển sản xuất

Trang 31

nông nghiệp Trong những giai đoạn đầu, tổ tiên chúng ta đã lấy cây lúa nớclàm loại cây trồng chính để khai phá đất hoang mở thêm diện tích trồng trọt,biến những đầm lầy, rừng rậm thành những đồng lúa phì nhiêu Vì vậy, ngay

từ rất sớm, kinh tế nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng, có ý nghĩa to lớn,cung cấp một nguồn lơng thực thực phẩm dồi dào cùng những trang thiết bịcần thiết để dân tộc Việt Nam có thể đánh tan mọi kẻ thù xâm lợc Trong quátrình đó, việc chọn nông nghiệp làm ngành kinh tế chủ đạo là hoàn toàn phùhợp với hoàn cảnh, yêu cầu của đất nớc qua từng thời kỳ lịch sử

Trên cơ sở một nền nông nghiệp lúa nớc, thủ công nghiệp ra đời và dầnchiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Tuy nhỏ bé yếu ớttrong khuôn khổ của một nền kinh tế làng xã nhng thủ công nghiệp đã nhanhchóng phát huy khả năng và tác dụng, dần trở thành một ngành quan trọng,góp phần đảm bảo mọi nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống của cộng đồng c dân

Sự tác động qua lại giữa nông - thủ công nghiệp, tạo cơ sở cho kinh tế thơngnghiệp ra đời Do vậy có thể nói, đặc điểm nổi bật trong quá trình phát triểnkinh tế - văn hóa của các làng xã ở nông thôn nói chung và Phủ Lý nói riêngchính là sự kết hợp hài hòa giữa nông nghiệp, thủ công nghiệp và thơngnghiệp Đây là những kết cấu kinh tế quan trọng đối với mỗi làng quê, bởi nókhông chỉ góp phần ổn định cuộc sống của ngời dân mà còn tạo nên mối giao

lu kinh tế - văn hóa giữa các làng, các vùng miền xứ Thanh

2.1.1 Tình hình ruộng đất và nghề nông cổ truyền ở Phủ Lý.

2.1.1.1 Tình hình sở hữu ruộng đất dới thời Minh Mạng.

Việt Nam nằm trong khu vực phát sinh của nền nông nghiệp lúa nớc

Do đó, ruộng đất có vai trò quan trọng hơn bất cứ loại t liệu sản xuất nàokhác Chính bởi vậy, dới chế độ phong kiến, mỗi khi có sự thay đổi về vị trítriều đại, các ông vua mới bao giờ cũng đặt vấn đề ruộng đất lên hàng đầu vớinhững quyết sách tối u nhằm đảm bảo một cách hiệu quả nhất sự ổn định về

đời sống kinh tế - xã hội cho các tầng lớp nhân dân

Về lịch sử chế độ ruộng đất Việt Nam, ngay ở những thời kỳ đầu, hầu

nh toàn bộ ruộng đất khai phá đợc đều nằm trong phạm vi quản lý của côngxã Công xã có trách nhiệm phân chia bình đẳng số ruộng đất này cho cácthành viên với t cách là ngời đại diện cho các đơn vị sản xuất nhỏ là các gia

đình Ngoài số ruộng đất đã phân chia thì công xã vẫn giữ lại một bộ phận để

Trang 32

sản xuất chung phục vụ cho các chi phí công cộng nh làm thủy lợi, đào kênhmơng và các lao động công ích khác.

Trải qua các thời kỳ tiếp theo, tình hình ruộng đất có sự phân hóa rõ rệt.Ngoài bộ phận ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nớc, ruộng đất cônglàng xã thì ruộng đất t đã hình thành và ngày càng chiếm vị trí quan trọng đốivới sự phát triển kinh tế nông nghiệp

Quá trình phân hóa ruộng đất công, t qua các thời kỳ lịch sử cho thấy

"ruộng đất t đã xuất hiện ở nớc ta từ rất lâu đời, tuy luôn có xu hớng phát triểnnhng đã phải đấu tranh liên tục và gay gắt với ruộng công để cho đến tận giữathế kỷ XIX mới vợt hẳn đợc nó" [17; 38] Do vậy, có thể nói ruộng đất t ở nớc

ta phát triển trong một thế phức tạp và tính chất t hữu cũng bị hạn chế đi rấtnhiều

Trong xu thế phát triển chung của chế độ ruộng đất Việt Nam, tình hìnhruộng đất của làng Phủ Lý cũng có những thay đổi đáng kể Tuy nhiên,

sự thay đổi này lại không theo đúng nh tình trạng ruộng đất chung của cả nớc

ở thế kỷ XIX Điều đáng nói là ruộng đất công của làng lại chiếm u thế hoàntoàn so với ruộng đất thuộc sở hữu t nhân

Cuốn địa bạ xã Phủ Lý mà chúng tôi phiên âm và dịch sang tiếng Việt

là từ cuốn địa bạ lu giữ tại Trung tâm Lu trữ Quốc gia I, mang kí hiệu C22gồm có 82 trang, đợc viết vào năm Minh Mạng thứ 11 (1830) và sao lại vàonăm Tự Đức thứ 16 (1863) Địa bạ xã Phủ Lý nằm trong bộ su tập địa bạ củatổng Vận Quy, huyện Đông Sơn, nội trấn Thanh Hoa (Xem phụ lục 4)

Theo số liệu địa bạ, các loại ruộng đất ở Phủ Lý phân bố nh sau:

Trang 33

(Nguồn: Địa bạ xã Phủ Lý )

Từ bảng số liệu trên cho thấy với tổng diện tích toàn xã là2070m.7s.13th 0t, đợc phân bố theo nhiều loại hình ruộng đất với các chứcnăng khác nhau gồm có ruộng công, ruộng t, đất thổ c, đất cấm, đất chợ, đất

đền từ phật tự

Trong đó:

- Ruộng công là 1324m 3s 5th 7t chiếm tới 63,96% tổng diện tích

- Ruộng t là 677m 6s 5th 0t chiếm 32,70%

- Ruộng đất thực trng chiếm tới 87,92% diện tích

Nh vậy so với nhiều nơi trong cả nớc vào thế kỷ XIX, ruộng đất Phủ Lýkhá nhiều và tơng đối ổn định Ruộng đất công chiếm u thế và có vai trò quantrọng đối với cuộc sống của c dân nông nghiệp

Bên cạnh đó, còn tồn tại một loại ruộng mà tính chất và mục đích sửdụng của nó đã làm ảnh hởng tới sự phát triển kinh tế nông nghiệp, đó làruộng đất hoang hóa Hầu nh ở tất cả các làng xã xứ Thanh đều có loại ruộng

đất này và chủ yếu nằm ở bộ phận công điền Xã Phủ Lý nằm trong tổng VậnQuy - huyện Đông Sơn, là huyện có diện tích ruộng đất hoang hóa chiếm tỷ lệcao với 25,4% diện tích trồng trọt [42; 207] cũng góp phần vào tỷ lệ loạiruộng đất hoang hóa ở đây là 7m 2s 3th 2t So với nhiều xã khác trong tỉnhvào thế kỷ XIX, thì con số này lại đáng kể, bởi lẽ nh xã Nga Châu, tổng Đông

An - huyện Nga Sơn thì không hề có diện tích đất lu hoang nào, trong khi đómột xã khác cũng nằm trong tổng Đông An là Thạch Quật thì lại có tới73,02% đất lu hoang [42; 257] Từ sự so sánh đó cho thấy tùy theo từng nơi vàphụ thuộc vào nhiều yếu tố nh đất đai, khí hậu, địa hình, chế độ thủy văn màchất lợng đất khác nhau Đây là những nguyên nhân làm cho diện tích đấthoang hóa ở Thanh Hóa vào thế kỷ XIX chiếm tỷ lệ cao so với các nơi khác.Phủ Lý là một vùng đất có quá trình lịch sử hình thành từ lâu đời lại nằmtrong tiểu vùng đồng bằng châu thổ của các con sông lớn nh sông Mã, sôngChu, với bàn tay kiến tạo, sự cần cù chăm chỉ của con ngời nên đất đai nơi đây

Trang 34

sớm đợc ổn định, đó là điều kiện thuận lợi để c dân nông nghiệp nhanh chóngbắt tay vào sản xuất và phát triển kinh tế.

* Ruộng đất công.

Ruộng đất công ở nớc ta xuất hiện từ lâu đời Dới thời Lý- Trần nó mangtên là "quan điền bản xã", dới thời Lê mang tên là "xã dân công điền" Quacác tài liệu lịch sử thế kỷ XIX, thì loại ruộng đất này đợc gọi là công điềncông thổ Đây là loại ruộng thuộc sở hữu của nhà nớc đợc làng xã phân chiacho các thành viên cày cấy sử dụng dới hình thức đồng quân cấp tác

Theo địa bạ Gia Long 4 (1805), tổng diện tích công làng xã ở nhiều địaphơng còn chiếm tỷ lệ 50, 60% Nh vậy, cho đến nửa đầu thế kỷ XIX trong xuthế phát triển chung của tình hình ruộng đất trên cả nớc là "lấn công vi t" thì

số liệu trên cho thấy không phải bất cứ làng xã nào cũng diễn ra tình trạng nhvậy và bảng số liệu phân bố ruộng đất xã Phủ Lý cũng đã cho chúng ta thấy rõthực trạng đó

- Công điền:

+ Ruộng khen thởng:

Loại ruộng này là 625m 2s.14th 4t, chiếm tới 46,4% diện tích công

điền toàn xã Nhìn vào số liệu này, có thể thấy đợc nét văn hóa đặc trng củaPhủ Lý vào giữa thế kỷ XIX và xa hơn nữa là từ thế kỷ XIII, đó là truyềnthống hiếu học, truyền thống đỗ đạt của các nhà khoa bảng qua các triều đạiphong kiến Xuất phát từ mong muốn chung cho lợi ích của một tập thể, cónhiều ngời làm rạng danh cho dòng họ, làng xã mà làng đặt ra loại ruộng khenthởng

Về bản chất và mục đích của loại ruộng này nh vừa trình bày ở trên,ngoài dùng vào việc khuyến khích khả năng học tập của các con em, còn đểkhen thởng cho những ngời có công với địa phơng, làng xã, cũng nh có nhữngthành tích đặc biệt đối với đất nớc Việc làng Phủ Lý dành hẳn một khoảnruộng lớn cho mục đích lâu dài của cộng đồng c dân, cho thấy mặc dù dới thờiphong kiến quan hệ ruộng đất có nhiều bất cập và phức tạp nhng việc giữ gìn

và phát huy truyền thống tốt đẹp vốn có của làng luôn trở thành một trongnhững mục tiêu phấn đấu Phủ lý trong suốt thời kỳ phong kiến, đã góp phầnbồi đắp vào truyền thống văn hóa chung của dân tộc

+ Ruộng bổng lộc (còn gọi là ruộng lộc điền):

Trang 35

Trong lịch sử xứ Thanh, làng Phủ Lý (thuộc huyện Đông Sơn xa) nổitiếng có truyền thống lâu đời về học hành khoa cử, nơi sản sinh ra nhiều nhàkhoa bảng, nhiều vị quan có phẩm chất, tài năng, góp phần quan trọng vào sựnghiệp phát triển văn hóa dân tộc Trong "Bản xã tiên hiền" ghi 12 vị đại khoa

đỗ đạt từ thời Trần đến thời Nguyễn, sách "Các nhà khoa bảng Việt Nam" củaNgô Đức Thọ thống kê có 8 vị Những con số trên đã khẳng định dới các triều

đại phong kiến Phủ Lý có trên dới 10 vị làm quan trong bộ máy chính quyền ởTrung ơng và địa phơng Họ đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc xâydựng phát triển đất nớc trên các lĩnh vực khác nhau Chính bởi vậy, trên mảnh

đất vinh hiển này, làng Phủ Lý đã giành một khoản ruộng lớn với diện tích là517m 8s 8th 8t, chiếm 38,5% tổng số công điền toàn xã, để làm ruộng bổnglộc cấp cho các vị quan của làng Hình thức cấp này có từ thời Lý - Trần và

đến thời Lê thì phát triển cao hơn một bớc và hoàn thiện từ năm Hồng Đức thứ

8 (1477) với phép quân điền "đối tợng đợc cấp ruộng khẩu phần là quan từngũ phẩm trở xuống, dân đinh từ 18 tuổi trở lên, quan lại từ tứ phẩm trở lênnếu cha đợc cấp đủ lộc điền thì cũng đợc nhận thêm khẩu phần theo thứ tự từ7,5 phần đến 11 phần Đây là hình thức cấp lộc điền theo định kỳ và số ruộng

đất cấp thêm này đợc miễn thuế" [58 ; 659]

Dữ liệu trên cho thấy tầm quan trọng của ruộng bổng lộc và chỉ ở làng xãnào có ngời làm quan từ tứ phẩm trở lên thì loại ruộng này mới tồn tại

+ Ruộng lễ hội:

Đây là loại ruộng phổ biến trong hầu hết các làng Việt Xuất phát từtruyền thống văn hóa làng, trong đó hội làng đóng vai trò quan trọng đối với

đời sống tinh thần của từng c dân mà làng đặt ra loại ruộng này Hội làng Phủ

Lý mang những giá trị văn hóa đặc trng, độc đáo Vì vậy, đòi hỏi sự công phu,

tỉ mỉ và nghiêm túc của những ngời thực hiện Chi phí cho sinh hoạt văn hóacộng đồng này đợc lấy từ hoa lợi thu đợc trên các thửa ruộng công củalàng Đó là lí do làng dành 107m 3s 4th 5t để phục vụ cho những dịp sinhhoạt mang tính chất cộng đồng này Mặc dù số diện tích loại ruộng này chỉchiếm 7,9% tổng công điền nhng lại thực sự có ý nghĩa đối với sự phát triểnvăn hóa - tinh thần của từng c dân trong xã

+ Ruộng dự phòng:

Ngoài việc phân chia ruộng đất cho các dân đinh trong làng, cũng nhdành các loại ruộng theo những mục đích khác nhau, thì làng còn giữ lại một

Trang 36

số ruộng dự phòng Loại ruộng này không đặc biệt song lại rất cần thiết trongcác trờng hợp làng tăng thêm số đinh, hoặc đột xuất có những binh lính thamgia chiến trận trở về quê hơng Số ruộng dự phòng theo địa bạ là 19m 5s 0th.0t, chiếm 1,4% diện tích công điền

- Công thổ:

Nếu công điền là ruộng canh tác của làng xã, thì công thổ là đất đaithuộc quyền quản lý của làng Theo thống kê từ nguồn địa bạ xã Phủ Lý gồm

có các loại công thổ với số diện tích của từng loại nh sau:

Bảng 3: Các loại công thổ của xã Phủ Lý dới thời Minh Mạng

3 Đất đền từ phật tự 1m 7s 3th 4t

5 Đất chôn cất trẻ con 2s 9th 1t

6 Đất dành cho ngời quá cố 5s 11th 1t

xa khỏi nơi dân c ở Theo quan niệm của ngời dân trong làng thì đất cấm là

Trang 37

nơi ngự trị của các vị thần linh Do vậy, việc giữ gìn loại đất này rất quantrọng.

Trong tổng số đất công của làng thì đất hoang chiếm diện tích là 7m.2s 3th 2t, là loại đất không cày cấy đợc do cằn cỗi, hoặc quanh năm úng lụt.Với sự góp sức cải tạo của con ngời cũng không làm thay đổi đợc chất lợng

đất Tuy nhiên, đất hoang hóa ở Phủ Lý chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ là 0,3 %

so với diện tích toàn xã

Đất đền từ, phật tự là loại công thổ mà làng dành riêng để xây dựng

đền, chùa phục vụ vào mục đích tín ngỡng cho nhân dân trong làng Theo địabạ số đất này là 1m 7s 3th 4t, đợc phân bố ở các vị trí khác nhau với diệntích cụ thể nh sau:

- Đất đền thờ Đơng cảnh thành hoàng xứ Đồng Nhân: 3 sào

- Đại Hành: 1sào 5 thớc

- Đất đền thờ Thiên Thần: 1 sào 10 thớc

- Đất đền thờ Thái Tể thần từ: 1 sào 7 thớc 4 tấc

- Đất đền thờ Bạch Y Long: 2 sào

- Đất chùa Hơng Nghiêm: 8 sào

Ngoài các loại đất trên, còn có đất làm chợ với diện tích là 1mẫu 1sào

ở mỗi làng quê, chợ đóng vai trò quan trọng trong việc trao đổi, mua bánhàng hóa Đây là một hoạt động kinh tế song lại mang nét văn hóa đặc trngcho từng làng Thông thờng chợ đợc xây dựng ở những nơi thuận tiện cho việc

đi lại, trao đổi hàng hóa Việc làng dành một số đất để làm chợ là phù hợpvới nền kinh tế hàng hóa mở rộng cũng nh đáp ứng đợc nhu cầu của chính cdân trong làng

Đất bãi tha ma là một trong những dấu hiệu để nhận biết một làng Việt

cổ truyền Với quan niệm "có sinh có tử", "cát bụi lại trở về với cát bụi" nênhầu hết các làng Việt đều có loại đất này Làng Phủ Lý cũng vậy, theo địa bạ

đất này đợc chia thành hai loại:

- Đất chôn cất trẻ con: 2s 9th 1t

- Đất chôn cất ngời quá cố: 5s 11th 1t

Việc phân chia từng phần đất để chôn cất ngời theo tuổi tác là quy địnhmang tính khắt khe nhng lại thể hiện tính nhân văn và sự quan tâm đặc biệtcủa làng đối với thế giới bên kia của những ngời đã khuất

* Ruộng đất thuộc sở hữu t nhân.

Trang 38

Ruộng đất t là loại hình ruộng đất phổ biến và phức tạp nhất trong chế

độ ruộng đất ở Việt Nam dới các triều đại phong kiến Cùng với thời gian và

sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, loại hình ruộng đất này ngày càngmang tính chất t hữu đậm nét, đặc biệt là ở những thế kỷ XVIII - XIX Bộphận chính của ruộng t là loại t điền có trong tay các cá nhân và chịu thuếtheo lệ ruộng t

Trong số ruộng t, ngay từ đầu phải kể đến điền trang Điền trang xuấthiện từ thế kỷ X và phát triển mạnh dới thời Trần Làng Phủ Lý - điểm nghiêncứu của đề tài, có lịch sử hình thành cùng với loại ruộng t, tồn tại dới hìnhthức điền trang Vào thế kỷ X, điền trang của Lê Lơng ở Phủ Lý có 110 lẫm

và nuôi hơn 3000 môn khách, số ruộng đất đợc phong lên tới 500 dặm vuông.Tuy nhiên đến thế kỷ XI, thì quyền sử dụng rộng rãi ruộng đất này đã bị thuhẹp lại rất nhiều Cho nên mới xảy ra sự kiện vào năm Tân Mùi (1091) "haiphò kỳ lang họ Thiều, họ Tô mới tâu xin lại khoảnh ruộng đất của tổ tiên làquan Bộc xạ Lê Lơng Vua xét lời tâu bèn trả lại giáp Bối Lý cho thuộc về họhàng Lê công" Từ khi đợc giao trả lại cho họ Lê đã biến nó thành t trang Cho

đến cuối thời Trần, với số ruộng đất lớn đợc trả lại từ thời Lý, thì dòng họ Lê ở

đây vẫn phát huy khả năng cũng nh thế lực của mình trở thành một dòng họ sởhữu đất đai với số lợng lớn, tiếng tăm nổi tiếng khắp vùng

Trải qua các thời kỳ lịch sử, Phủ Lý cũng nằm trong diễn biến chungcủa tình hình ruộng đất Việt Nam, nhng có điểm khác biệt Cho đến thế kỷXIX, ruộng công của xã vẫn hoàn toàn chiếm u thế, trong khi đó ruộng t chỉchiếm một nửa so với ruộng công Điều này hoàn toàn ngợc lại với tình hìnhruộng đất của cả nớc khi mà tình trạng "lấn công vi t" đang khá phổ biến

Theo địa bạ xã Phủ Lý thì số ruộng t có diện tích là 677m 6s 0th 5tchiếm 32,71% ruộng đất toàn xã Số ruộng t này chủ yếu đợc phân bố trên các

xứ đồng nh sau:

Bảng 4: Tình hình phân bố ruộng đất sở hữu t nhân trên các xứ đồng

Trang 39

STT Tên xứ đồng Tổng số chủ sở hữu Sở hữu từ 1 - 3 mẫu Sở hữu từ

đồng có chủ sở hữu ít nhất là Từ Nhân với số chủ là 4, trong đó có 3 chủ sởhữu từ 1- 3 mẫu và chỉ có một chủ sở hữu 3- 5 mẫu ruộng

Trên 14 xứ đồng có tổng số chủ sở hữu là 160 chủ, trong đó có tới 143chủ sở hữu từ 3- 5 mẫu chiếm 89,4 % số lợng, 16 chủ sở hữu từ 1- 3 mẫuchiếm 10% số lợng và chỉ có một chủ sở hữu ở mức cao nhất từ 5- 7 mẫu, đó

là trờng hợp chủ Lê Khắc Thứ với diện tích sở hữu là 6m 8s, chiếm 0,6% số ợng Nếu so sánh chủ sở hữu ở một số nơi khác nh Thái Bình, Nga Sơn (ThanhHóa) chúng ta sẽ thấy mức chênh lệch là khá lớn Cụ thể một chủ sở hữu ởThái Bình có tới 100 mẫu ruộng nhng một chủ khác nh ở Đông An, Nga Sơnthì chỉ có 8 thớc Sự chênh lệch này khá phổ biến trong quá trình phân chia đất

l-đai ở các làng xã, Phủ Lý cũng không phải là trờng hợp ngoại lệ

Trang 40

Tuy nhiên, qua địa bạ Phủ Lý thì sự chênh lệch giữa ngời ít ruộng vàngời nhiều ruộng là tơng đối đều, hay mức độ sở hữu về ruộng đất giữa cácchủ trong xã cũng không cách biệt nhau là mấy.

Căn cứ vào nguồn địa bạ, với sự thống kê chi tiết số chủ sở hữu trên cácthửa ruộng chúng tôi thấy có nhiều chủ sở hữu từ 2 đến 3 thửa ruộng trên cùngmột xứ đồng hoặc trên các xứ đồng khác nhau Nếu cộng chung các thửaruộng của một chủ lại thì có tất cả là 13 chủ đợc sở hữu ở mức thấp nhất là 4mẫu và cao nhất là gần 12 mẫu ruộng Cụ thể nh sau:

- Chủ Trần Quang Đà sở hữu 4m 7s 5th diện tích đất mầu

Đặc biệt có trờng hợp chủ Trần Nhân Hậu sở hữu tới 3 thửa ruộng trên

3 xứ đồng khác nhau với tổng diện tích là 11m 4s 2th

Các chủ sở hữu còn lại đều có số ruộng đất thấp nhất cũng là 6m 1s vàcao nhất là 8m 1s

Nh vậy, chỉ với 13 chủ sở hữu đã có tổng diện tích sở hữu là 109m 6s.0th 4t chiếm tới 16,1% tổng số ruộng t và chiếm 5,26% tổng diện tích

Ngoài ra còn phải kể đến bộ phận chức dịch trong xã Xã Phủ Lý có sốchức dịch là 6 ngời, đây là bộ phận đóng vai trò quan trọng và tham gia trựctiếp vào quá trình phân chia ruộng công - t cho các thành viên trong xã củamình Do vậy, hầu hết họ đều đợc hởng số ruộng đất khá nhiều Tuy nhiên,không phải bất cứ chức dịch nào cũng có số ruộng đất theo quy định Chúng ta

sẽ thấy rõ hơn số ruộng đất của bộ phận này đợc quyền sở hữu qua sự thống

Ngày đăng: 18/12/2013, 22:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hoá sử cơng, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cơng
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thôngtin
Năm: 1992
[2]. Nguyễn Văn ánh (2004), Truyền thống Lịch sử và văn hóa làng Võ Liệt, Trờng Đại học Vinh, Nghệ An. (Luận văn Thạc sĩ KH Lịch sử) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống Lịch sử và văn hóa làng Võ Liệt
Tác giả: Nguyễn Văn ánh
Năm: 2004
[3]. Toan ánh (2005), Làng xóm Việt Nam, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xóm Việt Nam
Tác giả: Toan ánh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2005
[4]. Ban Biên tập lịch sử Nông nghiệp Việt Nam (1994), Lịch sử nông nghiệp Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nông nghiệpViệt Nam
Tác giả: Ban Biên tập lịch sử Nông nghiệp Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
[5]. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thiệu Hoá (2000), Lịch sử Đảng bộ huyện Thiệu Hoá (1926 - 1999), Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyệnThiệu Hoá
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thiệu Hoá
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
[6]. Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (1990), Lịch sử Thanh Hoá (Tập 1), Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sửThanh Hoá
Tác giả: Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1990
[7]. Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (1994), Lịch sử Thanh Hoá (Tập 2), Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sửThanh Hoá
Tác giả: Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1994
[8]. Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (2002), Lịch sử Thanh Hoá (Tập 3), Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sửThanh Hoá
Tác giả: Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2002
[9]. Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (1999), Nghề thủ công truyền thống Thanh Hoá (Tập 1), Nxb Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề thủ côngtruyền thống Thanh Hoá
Tác giả: Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: Nxb Thanh Hoá
Năm: 1999
[10]. Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (2000), Tên làng xãThanh Hoá (Tập 1), Nxb Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên làng xã"Thanh Hoá
Tác giả: Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: Nxb Thanh Hoá
Năm: 2000
[11]. Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (2005), Danh nhân Thanh Hoá, Nxb Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhânThanh Hoá
Tác giả: Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: Nxb Thanh Hoá
Năm: 2005
[12]. Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Thanh Hoá (2000), Thanh Hoá di tích và thắng cảnh, Nxb Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Hoá di tích và thắngcảnh
Tác giả: Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Thanh Hoá
Nhà XB: Nxb Thanh Hoá
Năm: 2000
[13]. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục (1990), Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ ChÝ Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố HồChÝ Minh
Năm: 1990
[14]. Cục Thống kê tỉnh Thanh Hoá (2004), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Thanh Hoá
Nhà XB: Nxb Thốngkê
Năm: 2004
[15]. CH.Robequain, Tỉnh Thanh Hoá, Ty Văn hoá Thanh Hoá ấn hành (Bản dịch, năm 2005 - lu tại phòng Địa chí, Th viện Khoa học Tổng hợp tỉnh Thanh Hãa) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉnh Thanh Hoá
[16]. Phan Huy Chú (1960), Lịch triều hiến chơng loại chí (Tập1), Nxb Sử học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chơng loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1960
[17]. Phan Đại Doãn (1992), Làng Việt Nam - một số vấn đề kinh tế, xã hội, Nxb KHXH, Nxb Mũi Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng Việt Nam - một số vấn đề kinh tế, xã hội
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1992
[18]. Đảng bộ xã Thiệu Trung (2005), Báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ khãa 24 trình đại hội Đảng bộ Thiệu Trung lần thứ 25 (nhiệm kỳ 2005 - 2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của BCH Đảng bộkhãa 24 trình đại hội Đảng bộ Thiệu Trung lần thứ 25
Tác giả: Đảng bộ xã Thiệu Trung
Năm: 2005
[19]. Đảng ủy - HĐND - UBND xã Quảng Thọ (2000), Địa chí văn hóa Quảng Thọ, Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hóa QuảngThọ
Tác giả: Đảng ủy - HĐND - UBND xã Quảng Thọ
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2000
[20]. Bùi Huy Đáp (1978), Lúa Việt Nam trong vùng lúa Nam và Đông Nam Châu á, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lúa Việt Nam trong vùng lúa Nam và Đông NamChâu á
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1978

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Sự phân bố nhân khẩu ở các thôn (số liệu năm 2005) - Tìm hiểu cuộc chiến tranh của mĩ ở apganixtan (7-10-2001   22-12-2001)
Bảng 1 Sự phân bố nhân khẩu ở các thôn (số liệu năm 2005) (Trang 34)
Bảng 2: Tình hình phân bố ruộng đất ở xã Phủ Lý. - Tìm hiểu cuộc chiến tranh của mĩ ở apganixtan (7-10-2001   22-12-2001)
Bảng 2 Tình hình phân bố ruộng đất ở xã Phủ Lý (Trang 39)
Bảng số liệu trên cho thấy có tới 6 loại công thổ với tổng diện tích là 21m. 7s 0th. 1t - Tìm hiểu cuộc chiến tranh của mĩ ở apganixtan (7-10-2001   22-12-2001)
Bảng s ố liệu trên cho thấy có tới 6 loại công thổ với tổng diện tích là 21m. 7s 0th. 1t (Trang 44)
Bảng 5: Ruộng đất thuộc sở hữu của bộ phận chức dịch trong xã Phủ Lý. - Tìm hiểu cuộc chiến tranh của mĩ ở apganixtan (7-10-2001   22-12-2001)
Bảng 5 Ruộng đất thuộc sở hữu của bộ phận chức dịch trong xã Phủ Lý (Trang 49)
Bảng 9: Các đạo sắc phong dành cho thành hoàng Đào Tiêu - Tìm hiểu cuộc chiến tranh của mĩ ở apganixtan (7-10-2001   22-12-2001)
Bảng 9 Các đạo sắc phong dành cho thành hoàng Đào Tiêu (Trang 83)
Bảng 10: Hớng nhà - Tìm hiểu cuộc chiến tranh của mĩ ở apganixtan (7-10-2001   22-12-2001)
Bảng 10 Hớng nhà (Trang 105)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w