Lý do chọn đề tài Xã Quảng Tiến, mảnh đất nằm bên cạnh dòng sông Mã anh hùng,trải qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc, đất và ngời nơi đây đã chứng kiếnbao cảnh chiến tranh tàn khốc, đau
Trang 1Phần 1 mục lục
1 Lý do chọn đề tài
Xã Quảng Tiến, mảnh đất nằm bên cạnh dòng sông Mã anh hùng,trải qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc, đất và ngời nơi đây đã chứng kiếnbao cảnh chiến tranh tàn khốc, đau thơng và mất mát Từ trong những đauthơng ấy xuất hiện tên tuổi của vị anh hùng Trần Đức (Tây Phơng TớngQuân), ngời đã góp sức đánh đuổi quân Mông Nguyên bảo vệ yên bình chothôn xóm, Đô Đốc Nguyễn Sỹ Dũng giúp vua Quang Trung đại phá quânThanh Chiến tranh đã qua đi, để tởng nhớ công lao to lớn của các vị anhhùng, với ý nghĩa đề cao văn hoá, tôn trọng lễ nghĩa truyền thống và thuầnphong mỹ tục của ngời dân, nhằm khơi dậy đạo lý “uống nớc nhớ nguồn”,
hệ thống Đình, Đền ở xã Quảng Tiến đợc nhân dân quanh năm hơng khóithờ tự, mọi ngời xem những công trình văn hoá lịch sử đó là tài sản vô giá,
là nơi họ gửi gắm niềm tin cõi tâm linh Cụm di tích lịch sử - văn hoá ở xãQuảng Tiến không chỉ là nơi lu giữ những chứng tích, huyền thoại của mộtthời vang vọng mà nó còn là biểu tợng của văn hoá tinh thần, mang giá trịtâm linh cao cả
Xuất phát từ điều kiện địa lý tự nhiên, thờng xuyên phải đối diện vớisóng to gió lớn, bão tố, trong t tởng của ngời dân Quảng Tiến ngoài việc cốgắng vợt lên trên mọi khó khăn, thách thức khắc nghiệt của tự nhiên , họcòn phải tìm cho mình một niềm tin, sức mạnh trong cõi tâm linh, làmnguồn an ủi với hy vọng cầu mong cho mỗi chuyến tàu ra khơi vào lọng đ-
ợc bình an vô sự Cũng từ tâm lý đó mà từ xa xa nhân dân Quảng Tiến đãcùng nhau tổ chức lễ hội Cầu Ng, một lễ hội cổ truyền đã tồn tại gần nghìnnăm qua, trải qua bao biến cố thăng trầm nó vẫn mang trong mình một sứcsống mãnh liệt, bền bỉ mang giá trị cao cả, là nguồn cổ vũ lớn lao trongtiềm thức của c dân miền biển
Lễ hội Cầu Ng đợc tổ chức gắn liền với cụm di tích lịch sử - văn hoátrong địa bàn xã Quảng Tiến, đây là những bằng chứng sát thực, là bảo tàngsống chứng minh cho ta thấy Quảng Tiến là vùng đất có bề dày lịch sử - vănhoá
Trải qua hàng trăm năm xây dựng và phát triển, do chiến tranh, thiênnhiên tàn phá nên nhiều tài liệu quý, nhiều hiện vật lịch sử có giá trị bị hhỏng, mất mát Điều này làm hạn chế trong cách nhìn nhận, cách đánh giá
về giá trị lịch sử của cụm di tích lịch sử tại xã Quảng Tiến Đứng trớc tìnhhình này đối với bản thân tôi là một ngời con đựơc sinh ra và lớn lên trênvùng quê Quảng Tiến, là sinh viên chuyên ngành lịch sử văn hoá tôi thiết
Trang 2nghĩ mình cần có đóng góp nho nhỏ vào việc tìm hiểu về cụm di tích lịch sử
- văn hoá và lễ hội Cầu Ng trên mảnh đất quê mình
Xuất phát từ những lý do cơ bản trên chúng tôi quyết định chọnnghiên cứu đề tài “Tìm hiểu cụm di tích lịch sử - văn hoá và lễ hội Cầu Ng
ở xã Quảng Tiến (Sầm Sơn - Thanh Hoá)”, nhằm làm rõ lịch sử xây dựng,phát triển cụm di tích – văn hóa và lễ hội Cầu Ng ở xã Quảng tiến, qua đótôn lên giá trị, ý nghĩa lịch sử văn hoá của các đối tợng này đối với đời sốngtâm linh nơi đây
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về di tích lịch sử - văn hoá và lễ hội là những vấn đề đã
đợc nghiên cứu nhiều, nhiều công trình mang quy mô quốc gia nhng bêncạnh đó cũng có nhiều công trình nhỏ mang tính địa phơng Mỗi một côngtrình nghiên cứu, một đề tài phù hợp với từng đối tợng và mục đích khácnhau nhng nhìn chung tất cả đều góp phần tạo nên cho dân tộc một khotàng đời sống văn hoá tinh thần thống nhất trong đa dạng, mỗi một vùng
đều mang nét độc đáo, đặc sắc riêng do đất và ngời quê mình làm nên Đốivới cụm di tích lịch sử văn hoá ở xã Quảng Tiến, hiện nay có một số côngtrình nghiên cứu có đề cập đến, cụ thể nh các tác phẩm :
- Tác phẩm "Thắng cảnh sầm sơn" của tác giả Hoàng Tuấn Phổ, NXBThanh Hoá 1983, đã trình bày một cách khái quát cụm di tích lịch sử –văn hoá ở xã Quảng Tiến chứ không đi vào miêu tả chi tiết các công trìnhkiến trúc này
- Luận án thạc sỹ địa lý "Hiện trạng - định hớng và giải pháp pháttriển điểm du lịch Sầm Sơn - Thanh Hoá" của tác giả Mai Duy Lục, đề cập
đến vị trí địa lý của cụm di tích, qua đó đa ra khẳng định hội thi bơi chãitrên sông Mã (Quảng Tiến) là hội thi có ý nghĩa lớn đối với ngành du lịchtại thị xã Sầm Sơn
- Công trình nghiên cứu khoa học "Đền thờ đô đốc Nguyễn Sỹ Dũng"của bảo tàng tổng hợp tỉnh Thanh Hoá đã đề cập đến nguồn gốc, nhân vậtthờ tự chính, qua đó đi vào trình bày đặc điểm kiến trúc của di tích
Ngoài ra còn một số bài viết đợc in thành báo, ấn phẩm của đội ngũnhân viên cán bộ Bảo tàng tổng hợp tỉnh Thanh Hoá, Phòng văn hoá thị xãSầm Sơn và Ban quản lý di tích lịch sử - văn hoá xã Quảng Tiến
Nh vậy, các công trình nghiên cứu trên hầu hết mới chỉ đề cập đếnmột mảng nào đó của di tích Đền thờ đô đốc Nguyễn Sỹ Dũng và đa ra
đánh giá về tiềm năng du lịch của hội thi bơi chãi, mà cha có một côngtrình nào tìm hiểu một cách tổng hợp, hệ thống, đầy đủ về cụm di tích và lễhội Cầu Ng ở xã Quảng Tiến (Sầm Sơn – Thanh Hoá) Tuy nhiên những
Trang 3tác phẩm trên đã giúp chúng tôi tiếp cận và là cơ sở khoa học để giải quyếtnhững vấn đề mà đề tài đặt ra.
Hoàn thành đề tài này chúng tôi góp phần tìm hiểu về quá trình hìnhthành, đối tợng thờ tự, đặc điểm kiến trúc của Đền thờ đô đốc Nguyễn SỹDũng, Đền làng Hới và thông qua đó đi vào trình bày cụ thể diễn biến lễ hộiCầu Ng, một nét đẹp trong đời sống tâm linh của c dân xã Quảng Tiến
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Đề tài góp phần tìm hiểu về cụm di tích lịch sử - văn hoá và lễ hộiCầu Ng ở xã Quảng Tiến (Sầm Sơn - Thanh Hoá) Từ việc khái quát điềukiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và nhất là con ngời Quảng Tiến đểlàm nổi bật lên đời sống đời sống tâm linh Qua đó làm rõ cụm di tích và lễhội cầu ng một nét đẹp văn hoá đặc trng, đặc sắc riêng biệt của một vùngquê biển và góp phần tìm hiểu tại sao trong cuộc sống nhân dân miền biểnlại coi trọng đời sống tâm linh đến thế
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khoá luận này, trớc hết đề cập một cách khái quát về điều kiện địa lý
tự nhiên, tình hình dân c và qua đó đi vào tìm hiểu cụm di tích lịch sử - vănhoá và lễ hội Cầu Ng, để làm toát lên tài năng, công lao to lớn, quan trọngcủa đối tợng mà nhân dân thờ tự, đó là Trần Đức (Tây Phơng Tớng Quân)ngời đã góp công sức chiêu mộ dân binh đánh quân Mông Nguyên, là đô
đốc Nguyễn Sỹ Dũng một danh tớng thời vua Quang Trung
Qua đây góp phần tìm hiểu thực trạng và công tác bảo tồn, trùng tu tôn tạocủa Ban quản lý và nhân dân địa phơng về cụm di tích lịch sử - văn hoácũng nh lễ hội Cầu Ng ở xã Quảng Tiến (Sầm Sơn – Thanh Hoá)
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn t liệu
Để phục vụ cho quá trình tìm hiểu nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã
su tầm, khai thác một số nguồn t liệu sau:
Nguồn tài liệu quan trọng nhất mà chúng tôi tiếp cận đầu tiên đó làtập hồ sơ chứng nhận di tích lịch sử - văn hoá của Sở văn hoá thông tin tỉnhThanh Hoá, tài liệu của Bảo tàng tổng hợp tỉnh Thanh Hoá, các tài liệu luhành và cất giữ tại Phòng văn hoá thị xã Sầm Sơn, Ban văn hoá Xã QuảngTiến
Bên cạnh việc tìm hiểu các tài liệu thành văn nh, sách, báo chúng tôicòn kết hợp với công tác đi thực tế điền dã, trực tiếp tham gia vào diễn biếncủa lễ hội, gặp gỡ Ban quản lý di tích, ghi chép những lời kể về cụm di tíchcũng nh lễ hội Cầu Ng ở xã Quảng Tiến (Sầm Sơn – Thanh Hoá)
Trang 44.2 Phơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nội dung của khoá luận này chúng tôi sử dụng phơngpháp lịch sử và logic để nghiên cứu địa bàn cũng nh đặc điểm dân c xãQuảng Tiến, để từ đó xác định đợc những mặt thuận lợi tác động đến việchình thành các di tích lịch sử - văn hoá và lễ hội truyền thống ở đây
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng một số phơng pháp khác nh:
- phơng pháp điều tra, su tầm t liệu
Trang 5Phần 2 Nội Dung
Chơng 1:
Xã Quảng Tiến (Sầm Sơn - Thanh Hoá) - Mảnh đất giàu
truyền thống lịch sử-văn hoá
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế của xã
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Xã Quảng Tiến trực thuộc địa phận thị xã Sầm Sơn - tỉnh Thanh Hoá,nằm ở toạ độ khoảng 19,44 độ vĩ Bắc đến 153,5 độ kinh Đông cách trungtâm thị xã Sầm Sơn 2km về phía Bắc diện tích toàn xã gồm có 3,3 km và
150 ha đất canh tác chia làm 11 thôn, bao gồm: Thôn Toàn Thắng, TrungThịnh, Thọ Xuân, Khang Phú, Vạn Lợi, Hải Vợng, Tân Lập, Ninh Thành,Phúc Đức, Bảo An và thôn Bình Tân
Phía Bắc xã giáp sông Mã và cửa biển Lạch Hới - địa giới phân cáchthị xã Sầm Sơn với huyện Hoằng Hoá phía Nam giáp phờng Trung Sơn,phía Đông giáp xã Quảng C, phía Tây giáp huyện Quảng Xơng
* Về địa hình đất đai, toàn xã tơng đối bằng phẳng, không có núinon Do nằm bên cạnh lu vực sông Mã - dòng sông lớn nhất của tỉnh thanhhoá, hàng ngày thuỷ triều lên xuống đã u đãi cho vùng đồng bằng ven sông
đất đai phì nhiêu, màu mỡ Bên cạnh đó, nhân dân phải tiến hành đắp đê đểngăn chặn xâm lấn của nớc mặn, bảo vệ mùa màng Do có hệ thống đê nên
địa phận xã Quảng Tiến phân chia thành hai vùng đất sản xuất Bên trong
đê là những cánh đồng trồng lúa, cây hoa màu quanh năm xanh tốt, cònngoài đê do đất bị nhiễm mặn nên chủ yếu là trồng các loại sú, vẹt Có thểnói “ lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất xã Quảng Tiến là lịch sử
đấu tranh bền bỉ để nắn sông, lấn biển, cải tạo vùng đất xình lầy thành đồngruộng xanh tơi và thôn làng trù phú” Đây là kết quả của công cuộc khaihoang ở vùng đồng bằng Thanh Hoá
*Về khí hậu: Khí hậu Quảng Tiến chịu ảnh hởng của khí hậu nhiệt
đới gió mùa, là vùng nằm bên cửa biển nên khí hậu có nhiều nét đặc thù Cóhai mùa chính là mùa ma từ tháng 4 đến tháng 9 và mùa khô rét từ tháng 10
Trang 6Ngoài những ngời dân bản địa đã sinh sống ở đây từ 800 năm trớc,cùng với quá trình phát triển của xã, những ngời dân làm nghề chài lới sốnglênh đênh trên sông nớc (dân thuỷ cơ) ban đầu đến đây neo đậu tàu thuyền
và trao đổi, mua bán hàng hoá với c dân bản địa, nhng với t tởng “an c mớilạc nghiệp”, họ đã lên bờ mua đất đai, xây dựng nhà cửa và định c lại, hoànhập sống cùng c dân bản địa Nh các hộ gia đình ở các thôn xóm ven sông,dẫn đến hiện tợng tăng dân số nhập c vào xã Quảng Tiến Cho đến nay,theo số liệu thống kê trong toàn xã có 11 thôn với 3.557 hộ gia đình, trên16.800 nhân khẩu
1.1.2.2 Kinh tế
Trong những năm tháng sau Cách mạng Tháng Tám, có thể nói vùng
đất Quảng Tiến là vùng đất nghèo khó, nhân dân đói khổ Vì thế nhiều ngời
đã bỏ quê hơng đi “tha phơng cầu thực” Tuy vậy, nhờ có sự quan tâm của
Đảng, Nhà nớc, ý chí quyết tâm của những ngời dân, cộng với điều kiện tựnhiên mang lại, đã nhanh chóng đa nền kinh tế của xã từ nền kinh tế độccanh lạc hậu, lối làm ăn manh mún, cá thể, nay đã chuyển mình phát triểntheo hớng đa ngành, đa nghề theo kết cấu: Công - nông - thơng, kết hợpgiữa truyền thống và hiện đại
Đến nay, có thể nói nhân dân QuảngTiến đã nhanh nhạy với cơ chếthị trờng, sớm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, áp dụng khoa học kỹ thuật, đadạng hoá ngành nghề, biết phân phối lao động nơi xa, nơi gần, trong tỉnh vàngoài tỉnh
Trong các ngành nghề kinh tế của xã, ngành đánh bắt cá đợc xem làngành kinh tế chủ chốt Trớc đây, c dân Quảng Tiến chủ yếu đánh bắt cáven bờ với quy mô nhỏ, vì vậy, sản lợng đánh bắt cha lớn Hiện nay, nhândân trong xã đã biết lợi dụng điều kiện thuận lợi từ nguồn lợi biển Với sự
hỗ trợ của nhà nớc, nhân dân đã đầu t đóng đợc nhiều tàu, thuyền với quymô lớn, mua sắm trang thiết bị hiện đại để tiến đến đánh bắt xa bờ Đếnnay, tổng số tàu, thuyền trong toàn xã đã lên đến 260 chiếc, với tổng côngsuất 18000 CV Trong đó, có 175 tàu trang bị hiện đại đợc cấp giấy phép
đánh bắt chung trên vịnh Bắc Bộ theo hiệp định Việt Nam - Trung Quốc, 70tàu chuyên đánh bắt mực xuất khẩu, 45 tàu làm dịch vụ thu mua hậu cầncho sản xuất, giúp tàu sản xuất bám biển dài ngày, hạn chế xăng dầu chotừng chuyến đi biển, nhờ đó sản lợng ngày càng tăng, riêng năm 2005 là
Trang 7có 12 tổ đóng tàu thuyền với hơn 100 lao động, có 20 ô tô đông lạnh làmdịch vụ vận chuyển hải sản, có 4 nhà máy cấp đông, hàng trục nhà máy sảnxuất đá lạnh phục vụ cho tàu đánh bắt xa bờ dài ngày
Trong sản xuất nông nghiệp, nông dân đã làm chủ ruộng đất ổn địnhlâu dài, chủ động đầu t sản xuất, luân chuyển mùa vụ đa năng suất lên 1200tấn/năm Hiện nay, một số diện tích đất trồng lúa đang bị thu hẹp do đầu tchuyển dịch ngành nghề sang nuôi tôm xuất khẩu
Ngoài nghề đánh bắt cá và làm nông nghiệp, những năm gần đây cáclàng nghề thủ công đang đợc khôi phục và phát triển trở lại nh: Các nghề
đan lát xuất khẩu, may thêu, mộc, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập chonhiều lao động trong xã Do đó, năng suất lao động và thu nhập hàng nămkhông ngừng tăng lên Mức tăng trởng kinh tế hiện nay của xã là 14%/năm,bình quân 8.500 000 ngời/năm Nhìn chung đời sống kinh tế của nhân dântrong xã khấm khá hơn nhiều, 97% hộ có phơng tiện nghe nhìn, 45% hộ gia
đình có xe máy, cơ sở vật chất nhà cửa kiên cố, đờng xóm đợc bê tông hoá,xanh, sạch, đẹp
1.2 Truyền thống lịch - văn hoá
quảng tiến là vùng đất lành, nơi đây đã sinh ra những con ngời cần cù tronglao động, đoàn kết, dũng cảm, kiên cờng trong đấu tranh trong mọi hoàncảnh, nhân dân quảng tiến luôn phát huy tinh thần anh dũng, xây dựng quêhơng và giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống của quê hơng, đất nớc
1.2.1 truyền thống anh hùng trong chiến tranh
C dân xã quảng tiến đã hình thành cách đây khoảng 800 năm quacác thời kỳ thăng trầm của lịch sử dân tộc, nhân dân nơi đây đã sớm hìnhthành truyền thống yêu nớc, đấu tranh chống giặc ngoại xâm
trong cuộc đấu tranh chống xâm lợc mông nguyên vào thế kỷ xiii, nhân dânquảng tiến đã góp sức lực tham gia vào đội dân binh dới sự chỉ huy của trầnquang khải góp phần chặn quân toa đô, ô mã nhi bảo vệ an toàn cho triều
đình nhà trần trong thời gian rút vào vùng đất thanh hoá
Trải qua hàng trăm năm xây dựng và bảo vệ đất nớc, năm 1789 với
sự kiện vua quang trung (nguyễn huệ) đem quân ra bắc đánh quân thanh,những chàng trai giỏi nghề sông nớc, thông thạo luồng lạch đã ra nhậpnghĩa quân quang trung, góp phần xơng máu làm nên chiến thắng rạngdanh non sông ở thế kỷ xviii
Trong những năm tháng kháng chiến chống pháp, mỹ, do có vị tríchiến lợc là cửa ngõ, đầu mối giao thông đờng thuỷ quan trọng của tỉnhthanh hoá, nơi đây đã trở thành địa điểm tập trung neo đậu của các tàuthuyền quân sự, tàu vận chuyển lơng thực thực phẩm, vật t cung cấp cho
Trang 8chiến tranh vì thế, quảng tiến nhanh chóng trở thành mục tiêu đánh phá của
kẻ thù trong hai cuộc kháng chiến đế quốc pháp và mỹ cho binh lính némbom đánh phá các cơ quan kinh tế, tàu thuyền để nhằm ngăn chặn việc vậnchuyển quân lơng, vũ khí bằng đờng biển cho các chiến trờng miền trung,miền nam
hoà chung vào nỗi đau của dân tộc, dới sự thống trị của thực dân pháp, đờisống nhân dân nơi đây hết sức khổ cực nhng với ý chí quyết tâm đánh đuổi
kẻ thù, nhân dân nơi đây nhất tề trỗi dậy đấu tranh chống thực dân pháp,
mỹ
từ những năm 1942 - 1945, quảng tiến là cái nôi hoạt động cách mạng bímật của việt minh tại sầm sơn, các cơ sở bí mật đợc xây dựng trong dân,làm chỗ dựa vững chắc cho các hoạt động của các đồng chí lãnh đạo ởtrung ơng tháng 2 năm 1942, nhân dân quảng tiến đã vinh dự đợc đón đồngchí tố hữu về trực tiếp lãnh đạo phong trào
Sau khi cách mạng tháng tám 1945 thành công, nhân dân quảng tiếncùng cả nớc bớc vào một cuộc kháng chiến trờng kì chống pháp xâm lợc d-
ới sự lãnh đạo của đảng và chính quyền địa phơng, nhân dân trong xã đã ởng ứng mạnh mẽ các phong trào “diệt giặc đói”, “diệt giặc dốt”, “diệt giặcngoại xâm”, nhanh chóng củng cố chính quyền, ổn định đời sống nhân dânchuẩn bị bớc vào cuộc kháng chiến
h-lực lợng dân quân tự vệ sớm đợc xây dựng và phát triển lớn mạnh, với 480dân quân, 240 du kích, ngày đêm rèn đúc vũ khí, đào hào giao thông, đắpluỹ rào làng, để chống giặc đổ bộ từ đờng biển tạo nên một thế trận liênhoàn chiến đấu khi giặc đến
Ngày 28/01/1949, quân pháp huy động một tàu chiến, 3 ca nô chở
200 lnh, đổ bộ vào xã quảng tiến lực lợng dân quân xã quảng tiến anh dũng
đấu tranh và đã triệt tiêu 30 tên địch, làm bị thơng nhiều tên khác trongnhiều năm quân pháp liên tục đổ bộ lên các thôn cá lập, hải thôn bắt bớ,chém giết ngời dân quảng tiến nhng chúng bị vấp phải sự kháng cự quyếtliệt của nhân dân nơi đây, nhiều ngời bị bắt và tra tấn dã man nhng họ vẫngiữ vững khí tiết của ngời việt nam với truyền thống yêu nớc và tinh thầncách mạng sục sôi, hởng ứng lời kêu gọi của trung ơng đảng và hồ chủ tịch,nhân dân quảng tiến đã tích cực ra sức phục vụ kháng chiến
trong chiến dịch điện biên phủ, xã quảng tiến đã huy động gần 1000 dâncông với hàng trăm lợt đi hoả tuyến, 15 tàu thuyền đánh cá chở 306 tấn l-
ơng thực, thực phẩm phục vụ cho chiến trờng theo nguồn t liệu của lịch sử
đảng bộ xã quảng tiến có thống kê: “trong cuộc kháng chiến chống phápvới dấu ấn oai hùng, mãi đi vào lịch sử với sự hy sinh oanh liệt của 8 liệt sỹ,
Trang 9đóng góp của 14 thơng binh, 144 thanh niên tòng quân nhập ngũ, 906 ngờitham gia dân công, 108 thanh niên xung phong, phục vụ kháng chiến chotoàn quốc không những thế, nhân dân xã quảng tiến tuy là vùng quê nghèo,nhng trong những năm chiến tranh họ đã phát huy tinh thần cần, kiệm, thắtlng buộc bụng, ngời dân chắt chiu, ủng hộ cho chính phủ 140 chỉ vàng và
đóng góp 16 tấn lơng thực nuôi quân”[15,30] mặc dù đó chỉ là những đónggóp nhỏ nhng nó đã nói lên quyết tâm đánh giặc, lòng yêu quê hơng đất n-
ớc, một truyền thống anh hùng trong mỗi con ngời việt nam nói chung vàngời dân quảng tiến nói riêng
sau chiến thắng điện biên phủ, miền bắc đợc giải phóng, hoà vào không khícủa toàn miền bắc, nhân dân quảngtiến ra sức thi đua xây dựng phát triểnkinh tế và không ngừng chi viện sức ngời, sức của cho chiến tranh miềnnam, với tinh thần “tất cả để đánh thắng giặc mỹ”
thời gian yên bình không đợc bao lâu, đến ngày 05/06/1964 đế quốc mỹ
đem quân ra đánh phá miền bắc có thể nói, trong những năm tháng quân
mỹ đánh phá miền bắc, địa bàn quảng tiến đã trở thành túi đựng bom đạncủa máy bay và pháo kích mỹ nhiều ngời dân đã chết, nhà cửa sụp đổ, kinh
tế bị tàn phá đất và ngời quảng tiến hằn lên nổi đau tang tóc, bi thơng
nh-ng với tinh thần biến đau thơnh-ng thành hành độnh-ng cách mạnh-ng, nhân dânquảng tiến đã anh dũng bắn cháy chiếc máy bay ad6 và ghi đợc nhiều chiếncông oanh liệt
Ngoài ra, lực lợng dân quân quảng tiến còn bí mật tham gia mở đờngmòn hồ chí minh trên biển nhân dân đi biển và làm nghề vận tải đã gópphần làm công tác vận chuyển lơng thực, thực phẩm, quân nhân trên biểnphục vụ cho chiến trờng với 50% tàu thuyền cộng với hơn 300 lao động đãchuyển đợc 13 tấn hàng hoá, vũ khí, đạn dợc chi viện cho chiến trờng vĩnhlinh (quảng trị) và 250 tấn hàng hoá cho bộ đội ở đảo mê (nghệ an)
Trong những năm tháng đánh mỹ, dù ở bất cứ nơi đâu trên chiến ờng miền nam hay miền bắc, xa hơn nữa là ở nớc bạn lào, campuchia,những thanh niên quảng tiến cũng hăng hái tự nguyện xung phong ra đi cónhững chàng trai tuổi đời còn trẻ, không đủ chiều cao, cân nặng nhng vẫntìm mọi cách ra chiến trờng với hy vọng cống hiến tâm huyết, máu xơngcủa mình vào sự nghiệp giải phóng đất nớc vì thế năm nào cũng có hàng lợtcác chiến sỹ lên đờng nhập ngũ, nhiều gia đình có từ 2 đến 5 con, 2 đến 3thế hệ lên đờng bảo vệ tổ quốc họ đã anh dũng, ngoan cờng mu trí trongmọi hoàn cảnh và lập công suất sắc, dù có đổ máu hy sinh nhng vẫn hănghái xả thân
Trang 10tr-Kết thúc cuộc kháng chiến chống mỹ, toàn xã có 1491 ngời con lên
đờng chiến đấu, 112 thanh niên xung phong và hơn 1000 ngời đi dân cônghoả tuyến chiến tranh ác liệt, hy sinh mất mát và đau thơng càng làm chonhân dân nơi đây thấm nhuần chân lý: “không có gì quý hơn độc lập tự do”,vì vậy đảng bộ và nhân dân xã quảng tiến luôn quyết tâm hoàn thành xuấtsắc nhiệm vụ đợc giao, góp phần vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta
Trong hoàn cảnh đất nớc hoà bình, nhân dân quảng tiến đã phát huysức mạnh cần cù, sáng tạo trong lao động, giữ vững an ninh - quốc phòng
để xây dựng một quê hơng giàu và đẹp với những cố gắng và thành tích lớnlao mà nhân dân xã quảng tiến đã đạt đợc, ngày 29/04/2006 nhân dân toànxã vinh dự tổ chức lễ đón nhận danh hiệu: “anh hùng lực lợng vũ trangnhân dân” với quyết định số 358/2005/qd/ctn của chủ tịch nớc cộng hoà xãhội chủ nghĩa việt nam đây là phần thởng cao quý của đảng và nhà nớcdành cho quê hơng quảng tiến
1.2.2 Quảng tiến là vùng đất mang đậm văn hoá biển
Những ngời dân quảng tiến từ lâu đã sống phụ thuộc, gắn kết vớibiển cả bởi vậy trong mọi suy nghĩ, sinh hoạt hàng ngày cũng mang nét rất
đặc trng của c dân miền biển, phải chăng đó chính là “sản phẩm” của vùngquê biển để tìm hiểu về văn hoá của c dân quảng tiến thì có rất nhiều khíacạnh để xem xét nhng trong phạm vi của đề tài này, tôi chỉ đi vào tìm hiểulớt qua một số nét đặc trng vò con ng#êi, v#n ho# èm thùc v# đời sống tâmlinh của c dân quảng tiến
1.2.2 Con ngời và văn hóa ẩm thực
Đến với quảng tiến ấn tợng đầu tiên mà ai cũng nhận thấy đó là vùngquê với những con ngời phóng khoáng, mạnh mẽ với giọng nói ồm ồm màtheo nhận xét của họ là những con ngời “ăn sóng nói gió” đó là sản phẩmcủa những chuyến đi biển, để nói chuyện cho nhau nghe, những ngời dân đibiển phải nói to để át đi tiếng sóng, tiếng gió ngoài khơi từ đó trở thành thóiquen và khi trở về đất liền họ vẫn giữ giọng nói đó, từ xa đến nay nó đã ănsâu bám dễ và trở thành thói quen của ngời dân quảng tiến
Những ngời đàn ông quen với công việc của biển cả, kể cả ngày hay
đêm, nắng hay ma cũng phải bám trụ ngoài khơi, vì thế họ có những làn dangăm ngăm đen, thân hình khoẻ mạnh, nhanh nhẹn và tháo vát còn phụ nữvới đức tính hy sinh cao cả vì chồng con, chắt chiu, chịu thơng chịu khó,siêng năng và cần mẫn thay chồng lo toan công việc cho gia đình
trong đời sống vật chất, ăn uống, ngời dân ở đây thiên về các món ăn thuỷ,hải sản những sản phẩm mà hàng ngày họ làm ra các loại cá, mực, tôm,cua, ghẹ, đặc sản cá thu sầm sơn đã trở thành món ăn nổi tiếng của du
Trang 11khách mọi nơi trong và ngoài nớc khi đến du lịch sầm sơn bên cạnh đó cáclàng nghề chế biến thuỷ hải sản đợc thành lập từ rất sớm, chế biến các loạimắm từ các loại cá, moi, tôm làm phong phú trong bửa ăn của ngời dânnơi đây, hình ảnh “bát nớc mắm” đã trở nên thân thuộc trong mâm cơm củangời quảng tiến và hiện nay những sản phẩm đó không chỉ phục vụ chonhân dân trong vùng mà còn đợc đem đi trao đổi, mua bán ở khắp mọi nơitrong các tỉnh bạn, trở thành đặc sản của c dân quảng tiến.
và hy vọng luôn luôn có sự theo dõi “phù hộ độ trì” của các vị thánh thần
đó
ngoài thờ các hiện tợng tự nhiên, các anh hùng dân tộc có công khai dân lậplàng, nhân dân quảng tiến cũng giống nh nhân dân trên khắp mọi miền đấtnớc việt nam đó là việc thờ cúng gia tiên, ông bà nhng có một nét độc đáo
và khác biệt của c dân ở đây là vào những ngày cúng giỗ, lễ tết trên mâm
cỗ cúng gia tiên của mỗi gia đình không thể thiếu món “cá biển” điều nàythể hiện rõ trở về với cội nguồn, cảm ơn cha ông xa đã khai sinh ra nghềbiển
Trong các hoạt động lễ hội hàng năm, khi bắt đầu vào mùa đánh cá,tất cả mọi ngời dân trong làng cùng nhau tổ chức “lễ hội cầu ng” một lễhội chỉ c dân miền biển mới có, đây chính là nét dặc trng, đặc sắc thể hiệnrất rõ trong đời sống tâm linh của c dân miền sông nớc lễ hội nhằm tỏ rỏlòng thành kính, sự biết ơn của c dân đến trời, phật, thánh, thần và qua đóthể hiện mong ớc làm sao cho tàu thuyền ra khơi vào lọng đợc an bình, chotôm cá đầy thuyền, cho lòng ngời thanh thản, tự tin trớc biển trời mênhmông
Ngoài lễ hội cầu ng ra, hàng năm cứ đến đầu năm các gia đình đều tổchức ngày “lễ cầu an” cầu cho một năm mới an lành, sung túc, tai qua nạnkhỏi và sau khi đợc ban lộc, đợc phù hộ độ trì, thì đến cuối năm đó là “lễtạ ơn”, tạ ơn trời, phật đã ban lộc, giúp đỡ nhân dân một năm an lành, yênvui
Trang 12Có một nét đặc biệt của c dân vùng này là, ngoài việc tin vào trời,phật, thánh, thần, họ còn tin vào việc “gọi hồn”của những ngời đã khuất.hiện tợng này đã tồn tại rất lâu và phổ biến trong nhân dân, điều này cũng
dễ hiểu bởi lẽ nó xuất phát từ những câu chuyện đau thơng, từ xa đã cónhiều đoàn thuyền ra đi đánh cá nhng mãi mãi không thấy họ trở về đất liềnnữa, họ đã chết vì lý do gì đó mà không ai biết đợc ngời đã mất song nỗi
đau và sự tò mò cho ngời còn sống là câu hỏi lớn, những ngời thân ở nhàkhông hiểu tại sao mà những ngời đi biển đó ra đi mà không thấy trở về cónhiều lý do đặt ra nhng không ai khẳng định đợc nguyên nhân của cái chết
từ đó họ tìm đến phơng pháp “gọi hồn” để hỏi vong linh những ngời chếtxem vì sao họ lại chết xét về mặt nào đó thì đây là hiện tợng bí ẩn, mê tín
dị đoan, nhng đôi khi trong cuộc sống có những câu hỏi con ngời ta khôngthể trả lời đợc, thì đây lại là một biện pháp hay nhằm giải toả về mặt tâm lý,
an ủi tinh thần cho những ngời đang sống
Trang 13chơng 2:
khảo tả cụm di tích lịch sử - văn hoá
ở xã quảng tiến (sầm sơn - thanh hoá)
2.1 Đền thờ đô đốc nguyễn sỹ dũng (danh tớng thời vua quang trung)
2.1.1 Vài nét về tiểu sử của nhân vật thờ tự
Đô đốc nguyễn sỹ dũng, họ tên thật là vũ văn dũng quê ở làng phù
mỹ - xã bình phú - huyện tây sơn - tỉnh bình định vào cuối thế kỷ xviii dớithời vua quang trung, ông là một trong 5 vị tớng giỏi trong cuộc khángchiến chống xâm lợc của nhà thanh trong cuốn: "các triều đại việt nam" cóviết: “vua quang trung đã sai đoàn sứ bộ do vũ văn dũng làm chánh xứsang triều kiến vua thanh càn long trong cuộc bệ kiến của sứ thần vũ văndũng ở ỷ lơng các, những yêu cầu của vua quang trung đã đợc vua thanhchấp nhận” [17,261]
Lịch sử dân tộc ta, sau ngày vua quang trung mất diễn ra hết sứcphức tạp quang toản còn ít tuổi lên nối ngôi thay cha, để tỏ rõ lòng trungquân ái quốc đô đốc dũng đã ra sức giúp vua quang toản lo việc triều chính.dới triều vua quang toản ông đã từng giữ chức đại t khấu, rồi đại t đồ và làngời có công lao trong việc chấn giữ bắc thành (hà nội)
lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ triều tây sơn diễn ra phức tạp, vua quangtoản còn ít tuổi, nguyễn ánh nhân cơ hội đó tấn công triều tây sơn và nhanhchóng triều tây sơn sụp đổ năm 1802, nguyễn ánh lên ngôi lấy hiệu gialong, sau khi lên ngôi nguyễn ánh tiến hành một cuộc khủng bố tàn khốc
đối với các lãnh tụ và những ngời thuộc phái triều đình tây sơn nguyễn ánh
ra lệnh truy nã, chém giết nhiều tớng lĩnh thời vua quang trung vì thế nhiềutớng thời tây sơn đã bị tàn sát trớc thảm cảnh đó, đô đốc vũ văn dũng đã đacon cháu ra thanh hoá ẩn dật và chọn đất lộc trung nay thuộc xã quảng tiến
- thị xã sầm sơn để lập nghiệp sinh sống để đề phòng tung tích bị bại lộ đểlại di hoạ về sau, ông đã đổi họ của mình thành họ nguyễn sỹ, lấy hiệu là c -
ơng dũng và nay trong gia phả họ nguyễn sỹ ở làng lộc trung - xă quảngtiến có ghi rõ: “thuỷ tổ là cơng dũng, cơng dũng sinh ra cơng nghị cơngnghị sinh ra hiền (con trai trởng) thờng gọi là đồ tài, con thứ là đức còn gọi
là đồ tá”[14,21]
Trang 14Sợ bị bại lộ tung tích nên trong 2 ngời cháu trai của cơng dũng, ôngcho ngời cháu đích tôn là hiền(đồ tài) sang huyện hoằng hoá lập nghiệp,còn ngời cháu thứ hai tên đức(đồ tá) ở lại đất lộc trung cùng cha và ông lậpnghiệp, và sau này lập thành dòng họ nguyễn sỹ ở làng lộc trung xã quảngtiến chính vì mối quan hệ huyết thống ấy mà nhân dân đã đúc kết thànhcâu: “quảng xơng đồ tá - hoằng hoá đồ tài”
Những năm sau ngày đất nớc thống nhất, bắc nam sum họp một nhà,dòng họ vũ văn ở làng phù mỹ - xã bình phú - huyện tây sơn - tỉnh bình
định đã theo gia phả tìm đến xã quảng tiến để nhận lại họ hàng, anh emdòng tộc điều này là minh chứng lịch sử khẳng định: nguyễn sỹ dũng haycơng dũng chính là vũ văn dũng, một viên quan đô đốc có tài trí góp phầnvào sự nghiệp đấu tranh anh hùng trong khởi nghĩa tây sơn
2.1.2 lịch sử của đền
Sau khi đô đốc nguyễn sỹ dũng mất, để tỏ lòng biết ơn đến vị tớnghết lòng “trung quân ái quốc”, đền thờ đô đốc nguyễn sỹ dũng đợc xâydựng vào những năm đầu thập niên 20 của thế kỷ xix, đây là một công trìnhlịch sử - văn hoá có giá trị cao đời sống văn hoá tâm linh và kiến trúc nghệthuật
Đến thời vua tự đức(1848 - 1883) đã ban sắc phong: “bậc thànhhoàng thợng đẳng phúc thần đại vơng” và cho phép dân làng lộc trung tônthờ theo điểm phép nhà nớc trớc đây, đền thờ đợc xây dựng trên khu đấtphía tây làng lộc trung (quảng tiến - sầm sơn) theo các cụ cao niên tronglàng cho biết: “xa kia khu đất này cây cối xum xuê, um tùm nên ngôi đền
xa nh ẩn dấu giữa một khu rừng thiêng” nhng trong thời gian giặc mỹ bắnphá miền bắc (1967), cây cối quanh đây bị chặt làm hầm chống đạn, nghinhmôn ba tầng bị bom đánh sập còn lại các cơ sở vật chất, hiện vật khác quantrọng trong đền nay vẫn còn đợc lu giữ
để phát huy ý nghĩa, tầm quan trọng của các khu di tích lịch sử - văn hoá từnăm 1976 đến nay ngôi đền đã đợc sửa sang và trả lại diện mạo nh xa, gắnvới nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tâm linh của ngời dân vùng biểnquảng tiến đến nay đền đợc công nhận là một di tích lịch sử văn hoá trọng
điểm trong quần thể di tích thắng cảnh sầm sơn đợc du khách thập phơngngỡng mộ
2.1.3 đối tợng thờ tự trong đền
Đền thờ đô đốc nguyễn sỹ dũng ở xã quảng tiến đợc nhân dân trongxã lập nên, ban đầu thờ vọng linh hồn vua quang trung (nguyễn huệ) một vịvua tài ba trong lịch sử dân tộc ta đối tợng thờ chính là đô đốc nguyễn sỹdũng một vị quan “trung quân ái quốc” nhng hiện nay đối tợng thờ tự trong
Trang 15đền đã trở nên phong phú, đa dạng hơn, đó là kết quả của t tởng hỗn dungvăn hoá và sự phong phú trong tín ngỡng tâm linh của ngời việt nói chung
và ngời dân quảng tiến nói riêng
Thực tế đô đốc nguyễn sỹ dũng là con ngời thật, là vị anh hùng dântộc có công với lịch sử nớc nhà nhân dân nghiệm thấy ông là vị anh linh,tài cao, trí lớn, đức cao trọng vọng nên sau khi ông mất nhân dân cho rằng
ông chính là thánh, là thần, là vị thần“ tối linh từ” có nghĩa là (vị thần rấtlinh thiêng) bởi vì thế mà từ lâu ngời dân làng lộc trung (quảng tiến) luônxem ông nh vị thành hoàng làng, vị phúc thần bảo hộ cho làng th#n luônche chở và phù hộ độ trì cho nhân dân trong làng đợc ấm no, hạnh phúc hiện nay ngôi điện thờ vọng vua quang trung và thần đô đốc dũng đợc đặt ởtrong 3 gian nhà chính tẩm (cung trong) nhà chính tẩm nằm khuất sâu bêntrong của ngôi đền là nơi kín đáo và linh thiêng nhất, bớc vào nhà chínhtẩm ấn tợng đầu tiên là bức đại tự sơn son thiếp vàng khắc bốn chữ hán:“chính trung thiên đức” và hai bên là đôi câu đối
đẹp có cửa mở ra vào, đóng lại, cao khoảng 1.2m, rộng 80cm bên trong tủcất một thanh gơm và sắc phong của vua quang trung chiếc tủ này đợc cấtgiữ cẩn thận, đóng kỹ càng, ngày thờng không đợc mở ra, chỉ những ngày
lễ lớn của đền, ngày giỗ của vua quang trung ngời ta mới mở ra để làm lễ
Phía dới bàn thờ thấp hơn là nơi đặt bát hơng thờ vị thần đô đốcdũng nơi thờ có đặt long cung, long ngai, bài vị đợc sơn son thiếp vàng,ngoài ra có mũ, áo, cân đai của thần
nhìn tổng quan toàn cảnh đền có 13 gian, nhng có thể nói trong toàn cảnh
đó thì hai gian nhà chính tẩm (cung trong) là nơi bí ẩn, linh thiêng nhất, tạocảm giác sợ hãi cho ngời ta khi bớc vào cung trong điều này nói lên sự tônnghiêm, kính cẩn trong việc thờ tự vi phúc thần của nhân dân trong làng và
tỏ lòng biết ơn những anh hùng dân tộc đã hy sinh vì độc lập, hoà bình củadân tộc
Đối tợng thứ hai đợc thờ trong đền là điện thờ mẫu: ngôi điện gồm 3gian nhà thoáng đãng, phía trên điện có ghi bốn chữ hán “mẫu nghi hiênhạ” về cấu trúc, cách bố trí trong điện thờ rất phong phú, với nhiều bàn thờ,
Trang 16nhiều đối tợng thờ, điều này thể hiện cho một tinh thần hoà đồng trong tínngỡng, tôn giáo, phong phú trong đời sống tâm linh của c dân quảng tiến điện thờ mẫu đợc bố trí 5 lớp bàn thờ và hai bên là những đôi câu đối cangợi đức độ, sự nhân từ của mẫu.
Bàn thờ trên cùng cao nhất: bàn thờ của “tam toà thánh mẫu”, là nơitoạ của ba mẫu, là nơi thâm nghiêm nhất mẫu toạ giữa trung tâm thánh
điện, mặc áo màu đỏ theo dân gian đó là mẫu liễu hạnh mẫu vừa hiện thâncủa thiên thần vừa mang dáng vẽ của con ngời trần gian mẫu luôn hiệnthân trừng trị kẻ xấu và ban thởng cho ngời tốt, ngoài ra sự hiện diện củamẫu là thông điệp về sự hy vọng và bảo vệ công bằng xã hội cho nhân dântrong thời buổi loạn lạc ở thế kỷ xvii, xviii, xix mẫu hớng con ngời tới tìnhyêu đôi lứa chân thành và thuỷ chung, bởi vì thế mà mẫu đợc coi là vị thầncảm thông và độ lợng mẫu đợc nhân dân nâng lên giữ ở vị trí quan trọng và
đã đợc thánh hoá trở thành một vị thánh mẫu quan trọng nhất, và ngời đờicho rằng mẫu giáng trần là phúc lớn cho muôn dân
“thánh giáng dân yên sinh phú quý
thần phù quốc thái đất vinh hoa”
Bên phải mẫu liễu hạnh là mẫu thợng ngàn (mẫu cai quản miền rừngnúi), khoác áo màu xanh mẫu đợc tạc thành hình một phụ nữ rất đẹp, phúchậu, ngồi ở t thế thiền, chân xếp bằng và hai tay chắp lại với nhau mẫu đợcnhiều ngời tôn thờ và đợc coi là hồn thiêng của sông núi, bao đời nay dẫndắt con cháu vững bớc đi lên mẫu có mặt ở khắp nơi, theo từng bớc châncủa dân chúng, khi ở miền rừng núi và lúc xuống đồng bằng để phù hộ độtrì cho nhân dân còn bên trái mẫu liễu hạnh là mẫu thoải, mẫu mặc áo màutrắng, là vị nữ thần cai quản miền sông nớc theo quan niệm dân gian việtnam, mẫu thoải có mặt khắp nơi để âm phù, mẫu thoải giúp đỡ mọi ngờimỗi khi đi qua miền sông nớc do vậy mỗi khi bớc xuống đò, qua một khúcsông rộng, ngời ta thờng lẩm nhẩm cầu khấn, xin mẫu phù hộ độ trì mỗikhi có hạn, mẫu phái tớng sỹ đi lo việc làm ma, còn khi bão lụt, mẫu lại hoáphép để gió yên, ma tạnh vì thế mà nhân dân ta xem mẫu thoải là hình ảnhhiện thân của bà mẹ hiền lành, đảm đang, suốt đời lo lắng cho con cháu
Bàn thờ thứ hai: là nơi thờ đức thánh trần (trần hng đạo) nếu mẫuliễu hạnh đợc nhân dân phong tôn làm “mẹ” thì đức thánh trần đợc dân taphong tôn là “cha”, bởi thế dân ta có câu: “tháng tám giỗ cha tháng ba giỗ
Trang 17• chầu đệ nhị: nhạc phủ với danh hiệu ngôi kiều công chúa.
• chầu đệ tam: thoải phủ với danh hiệu thuỷ điện công chúa
• chầu đệ tứ: địa phủ với danh hiệu chiêu dung công chúa
bàn thờ thứ t: thờ “ngũ vị tôn quan”, đó là năm vị quan lớn con của ngọchoàng:
• quan đệ nhất: mặc áo đỏ (quan thợng thiên) cai quản miền trời, theo thầnthoại quan là ngời làm ma làm gió, và cũng là quan lớn trong cung điệnngọc hoàng
• quan đệ nhị: mặc áo xanh lá cây (giám sát miền rừng) cai quản rừng núilâm cung, lên rừng xuống biển tâu về bát hải long vơng
• quan đệ tam: mặc áo trắng (giám sát miền biển) là con vua bát hải long
v-ơng, ra trận cầm đối đao để “vệ dân hộ quốc”
• quan đệ tứ: mặc áo vàng (giám sát miền đất) là ông quan địa linh quyềncai đất bằng, ông có trách nhiệm đi khâm sai các vùng, các dân, giữ an lànhcủa nớc việt
• quan lớn tuần tranh: mặc áo mầu xanh nớc biển, ông là quan anh hùnghào kiệt
Và cuối cùng là bàn thờ : “thần ng hải” đây chính là một nét đẹpriêng của c dân miền biển sầm sơn
Ngoài ra hai bên của điện thờ chính thì ở bên trái đặt bàn thờ ôngquan hoàng mời (ông quan địa phủ) với danh hiệu là ông nghệ an, ông làngời có công lớn trong việc chống giặc thanh và bên phải thờ ông hoàng bơ( ông quan nhạc phủ) với danh hiệu là ông bảo hà
Ra phía ngoài cửa điện thờ có thờ đôi nhà quan, đó là tợng ông quan
võ với dáng mạo hung dữ, tay cầm thanh đao còn bên kia là ông quan vănvới khuôn mặt hiền từ, có vẽ trầm t hơn
Có thể nói, đối tợng thờ tự trong Đền hết sức phong phú đa dạng,nhiên thần có, nhân thần có phải chăng đây chính là một nét đẹp trong đờisống tâm linh của những ngời dân miền biển nói riêng và ngời việt nóichung
2.1.4 đặc điểm, kiến trúc xây dựng
Đền thờ đô đốc nguyễn sỹ dũng đợc xây dựng trên một khu đất khárộng ở rìa làng lộc trung, cách cửa hới chừng 500m về phía tây từ trungtâm thị xã sầm sơn đi khoảng 2km về phía bắc là đến đền đây là vùng đấtkhá rộng, phía trớc là cánh đồng và phía sau là nơi dân c sinh sống ngôi
đền đợc xây dựng xung quanh bao bọc bởi một vờn cây xanh dân dã, nhnghết đỗi linh thiêng và huyền bí
Trang 18về quy mô cấu trúc: đền gồm có nhà tiền đờng(5 gian), nhà chính tẩm (2gian), nhà thờ mẫu (3 gian) và 3 gian nhà là nơi để chuẩn bị cho việc làm
lễ , nơi hội họp của dân trong làng
nhà tiền đờng: cao 4.60m, dài 13.55m chia thành 5 gian, gian giữa rộng2.75m, mỗi gian còn lại rộng 2.65m đợc xây dựng kết cấu vì kèo, theo kiểugiá chiêng, kẻ chuyền, kẻ bẩy, các vì kèo đợc liên kết với nhau bằng đờng
xà thợng và xà hạ riêng hai vì kèo giữa đợc cấu trúc theo kiểu chôn cột cái
để tăng thêm bề rộng của lòng nhà khoảng cách giữa hai cột cái với nhau là1.50m, cột cái đến cột quân là 0.90m, cột quân cách cột hiên là 1.30m bêntrong nội cung có sự bài trí sắp xếp nhiều đôi câu đối rất ý nghĩa, nói vềcông lao, chiến công hiển hách mà vua quang trung, đô đốc dũng làm nêntrong cuộc đại phá quân thanh
“phụng đế lệnh biên cơng trấn thủ
tây sơn triều đô đốc ra phong”
“vũ dũng kiên trung xã luỹ sơn hà lu trấn vũ
quang trung mu lợc chiến trờng nam bắc truyển phong vân”
Ngoài những đôi câu đối đó ra, bên trong nhà tiền đờng còn bài trí bộbát biểu, giá treo trống, treo chiêng, và nơi để kiệu long đình, là lộng, giáo,mác, để phục vụ cho những ngày tế, lễ hội của đền và theo các vị cao niêntrong làng cho biết: “trớc đây trong nhà tiền đờng còn có long đình sơn son,trang trí rồng phợng và một số mảng chạm khắc long-ly-quy-phợng gắn vàogiữa hai đờng xà trong những năm tháng chiến tranh do bị bom đạn mỹlàm sạt mái, nên các mảnh chạm khắc đó cũng bị h hỏng, chỉ còn lại nhữngmảnh gỗ vụn không có khả năng phục hồi”[16,10] nh vậy trong cuộckháng chiến chống mỹ, ngôi đền cũng hằn lên một vết thơng, một nỗi đauchung của toàn nhân dân trong xã
Sau nhà tiền đờng cách khoảng sân dài 5m là nhà chính tẩm, gồm 2gian (cung trong) nơi thờ vọng vua quang trung và đô đốc nguyễn sỹ dũng
có thể thấy kiến trúc nhà chính tẩm không lớn, dài 7.4m, rộng 4.7m, nênkết cấu vì kèo đơn giản
Nhng có một nét độc đáo trong ngôi đền đó là, những ngời thợ dângian đã xây dựng nên hòn núi nhân tạo với quy mô không to lắm nhng nólại rất linh thiêng và huyền kỳ bên ngoài và bên trong đựơc cài cây, lá,hoa đủ màu sắc còn hai bên cửa ra vào là hình ảnh đôi con rắn, dàikhoảng 4m đang chụm đầu vào nhau, trong t thế há miệng, chông rất hungdữ quan sát và nhìn sâu vào bên trong là 13 phong tợng, pho tợng mặc áoxanh ngồi giữa là bà chúa sơn trang cùng 12 pho tợng là 12 công chúa, hoàchung tạo nên phong cảch ngôi đền rất tự nhiên, dân dã, gần gũi và thân
Trang 19quen khiến ai đứng trớc ngôi đền cũng cảm thấy cái ấm áp trong sự hàihoà, tổng thể của núi, sông, đồng ruộng trong phong cảnh nó mang ý nghĩasâu xa của con ngời việt nam gần gũi và thân thiết, yêu chuộng thiên nhiên,hài hoà đất trời
Nhìn chung ngôi đền quy mô không to, không đồ sộ điều này rất dễhiểu, bởi đó cũng là đặc điểm chung của những ngôi đền, đình, chùa ở miềnduyên hải thanh hoá nói chung và của thị xã sầm sơn nói riêng song có thểnói đền thờ đô đốc nguyễn sỹ dũng hiện nay là một công trình lịch sử - vănhoá quan trọng, đang bồi đắp thêm cho kho tàng lịch sử văn hoá xứ thanh
2.2 Đền làng Hới
2.2.1 Vài nét về lịch sử nhân vật thờ tự
Đền làng hới hay nhân dân trong xã còn quen gọi là phủ hới, do bêncạnh ngôi đền nhân dân xã quảng tiến còn xây dựng phủ thờ mẫu đền đựơcxây dựng thờ chính là trần đức (tức tây phơng tớng quân) một vị tớng thờinhà trần và thờ mẫu liễu hạnh
2.2.1.1 Tiểu sử về nhân vật trần đức(tây phơng tớng quân)
Trần đức hay còn gọi là tây phơng tớng quân, ông quê ở làng cá lậpnay thuộc xã quảng tiến từ trẻ ông là ngời có sức khoẻ phi thờng, võ nghệtinh thông, rất giỏi về sông nớc, thông thạo luồng lạch
vào thế kỷ xiii dới thời nhà trần đất nớc lâm nguy, quân mông nguyên tiếnhành xâm lợc đại việt hởng ứng lời hiệu triệu đánh giặc giữ nớc của vuatrần, trần đức đã hăng hái đứng ra chiêu mộ binh sỹ, luyện tập dân binhchuẩn bị thời cơ ứng nghĩa đánh giặc
Trong cuộc kháng chiến vĩ đại lần thứ nhất của dân tộc đại việt, trần
đức đựơc giao nhiệm vụ chỉ huy một số trận đánh ở đạo hải dơng sau khi
đất nớc sạch bóng quân thù, trở lại xây dựng cuộc sống thanh bình với sáchlợc phòng thủ vững chắc đất nớc vua trần phong cho trần đức hiệu tây ph-
ơng tớng quân và lệnh cho ông đa quân trở về làng cá lập với kế hoạch: “tỉnh vi dân, động vi binh ” vừa lao động vừa sản xuất, xây dựng mở manglàng xóm, vừa luyện tập quân sự củng cố lực lợng, sẵn sàng chiến đấu
Quân nguyên với tham vọng bá chủ thế giới, bành trớng sức mạnh,thu phục các nớc láng giềng đến cuối tháng giêng năm ất dậu, năm mơivạn quân nguyên do thoát hoan trực tiếp chỉ huy ồ ạt tràn vào nớc ta, bằngcả hai đờng bộ và đờng thuỷ, các trận đánh diễn ra quyết liệt trên vùng biêngiới, thấy thế giặc mạnh trần hng đạo cho quân chủ lực rút lui về phía nam,
đồng thời thực hiện chiến thuật vờn không nhà trống cũng vào thời giannày tớng giặc là toa đô ở phía nam (đánh chăm pa từ năm 1258 ) nay cũngtiến công đại việt từ phía nam hòng tạo thành hai gọng kìm mạnh tiêu diệt
Trang 20quân chủ lực bắt toàn bộ tớng lĩnh của cuộc kháng chiến trớc tình thế nàytrần hng đạo quyết định cho rút quân về ninh bình, thanh hoá quân giặc từhai mặt nam, bắc đánh vào trần hng đạo bình tĩnh tổ chức cuộc hành quânchiến lợc đầy mu chí đánh lạc hớng giặc rút ra mạn đông bắc sau đó ôngcùng vua trần rong thuyền nhẹ xuôi vào nam chiếm lại đất thanh hoá, củng
cố lực lợng chuẩn bị cuộc tổng phản công
Không bắt đợc vua tôi nhà trần, thoát hoan phải rút về thăng long đợitiếp viện chúng không hiểu rằng chính trong thời gian đó trần hng đạo đãxác định đợc thời điểm tổng phản công, cho ngời liên hệ với quân dân cácvùng hiểm yếu chuẩn bị lực lợng và bàn kế hoặch đánh giặc tháng 5 năm
1285 trần hng đạo tiến quân ra bắc cắt đôi lực lợng của giặc cả nớc đợclệnh nổi lên đánh lớn, trớc sức tấn công nh vũ bão của quân ta thoát hoanhoảng hốt hạ lệnh rút lui song ở đâu chúng cũng bị quân ta phục kích đánhcho tời bời, về đến vùng vạn kiếp chúng lại rơi vào trận phục kích của quân
ta nhà trần đem quân chặn đánh, hàng vạn tên giặc bị tiêu diệt, toa đô bịchém đầu
Theo sử sách, trong cuộc chiến với quân nguyên nhiều trận đánh lớn
đã xảy ra trên đất thanh hoá, trận đánh do tớng trần nhật duật chỉ huy đánhcản toa đô ở cửa ghép và núi văn trinh trận đánh lớn thứ hai cũng do tớngtrần nhật duật chỉ huy đánh quân toa đô ở phòng tuyến kênh bố vệ naythuộc thành phố thanh hoá trận đánh lớn thứ ba tại phòng thủ hơng yênduyên (nay là vùng biển sầm sơn đến cửa hới xã quảng tiến) và phòng tuyếnphú tân, dới sự tổ chức chỉ huy của thái s trần quang khải và góp sức củatây phơng tớng quân
Nh vậy thanh hoá đã trở thành địa bàn chiến lợc, nơi đây đã diễn ranhiều cuộc chiến gay go quyết liệt nhng rất anh hùng của quân dân thanhhoá, lịch sử còn lu truyền về trận đánh ở cửa hới (quảng tíến) nhằm chặncuộc truy kích của giặc đảm bảo an toàn cho lực lợng quân đội và vua tôinhà trần rút bằng đờng biển qua cửa hới
Trong đó đóng góp của tây phơng tớng quân rất lớn, ông đã huy độnglực lợng dân binh vứt xuống đoạn sông đơ chỗ hợp lu với sông mã (lạchtrào) số lợng rất lớn rào tre đã chuẩn bị từ trớc đoàn chiến thuyền của giặc
từ sông mã theo hớng cửa hới truy đuổi đoàn thuyền chiến nhà trần đến
đoạn sông bị lấp rào, cũng vừa khi thuỷ triều rút xuống chúng bị mắc kẹt.quân ta phục sẵn hai bên bờ, bất ngờ dùng tên nỏ áp đảo hất chúng xuốngcánh đồng lầy, chia cắt chúng ra và tiêu diệt
Cuộc kháng chiến của quân dân ta dới thời trần đã kết thúc, trải qua 8thế kỉ nhng mãi mãi là niềm tự hào lớn lao của dân tộc việt nam nói chung
Trang 21và của nhân dân xã quảng tiến nói riêng ngôi đền thờ tây phơng và truyềnthuyết về ngời anh hùng dân tộc đã gắn bó với ngời dân xã quảng tiến sốngbằng nghề đánh cá đầy gian khó và nguy hiểm qua nhiều thế kỷ vị thần
đựơc nhân dân tôn sùng, nh sự đỡ đầu về tinh thần và ngoài ra câu chuyệntây phơng tớng quân đã đóng góp cho kho tàng t liệu về thời kỳ lịch sử oaihùng của nhân dân quảng tiến ở thế kỷ xiii
2.2.1.2 Truyền thuyết về mẫu liễu hạnh ở cửa hới (quảng tiến)
Tín ngỡng thờ mẫu hiện nay đợc thờ tự rộng rãi trong khắp cả nớc.ngoài phủ dày (nam định), đền sòng (bỉm sơn) xây dựng phủ tôn thờ longtrọng mẫu, ngoài ra c dân trên khắp mọi nơi cũng lập phủ, điện thờ mẫu.truyền thuyết về mẫu liễu hạnh tồn tại trong dân gian có rất nhiều, bởi mẫuliễu hạnh là nhân vật huyền thoại, nhng có tính cách của ngời trần đậm đà
và sâu sắc rất cụ thể
Theo truyền thuyết của những vị cao niên trong xã quảng tiến kể lại,
ở thế kỷ xvi sau khi giáng trần lần thứ hai, liễu hạnh đã có dịp du ngoạnkhắp nơi từ hoành sơn đến xứ lạng (lạng sơn), ngời đi qua và thấy miền phốcát thuộc trấn thanh hoá là nơi thắng cảnh địa hơn cả, xứng đáng là đất
đóng đô, vì thế liễu hạnh quyết định dừng chân lại vùng đất thanh hoá
“trải vui nam nớc dạo chơitìm đâu có cảnh đẹp vời thần tiênthanh hoá sơn thuỷ ấy miền
địa linh nhiều chỗ thần quyền là đây”.[20,18]
Trong thời gian ở trấn thanh hoá mẫu đã cùng hai ngọc nữ là hồng
n-ơng và quế nn-ơng, chu du vãn cảnh xuôi dòng sông mã tới ven bờ cửahới(quảng tiến) đến đây thấy cảnh đẹp nên thơ, hữu tình, cây cối xanh tơi,hai ven bờ thôn xóm đông đúc mẫu cho dừng thuyền bên bờ sông mã lúcnày nhân dân hai ven bờ nô nức ra bờ sông thấy một điều rất lạ, từ đâu cónhững đoàn thuyền lộng lẫy cờ hoa, bên trên là những đoàn ngời ăn mặcsang trọng, mọi ngời ngỡ rằng tiên đang hiện ra trớc mắt mình
Chợt bỗng mẫu liễu hạnh hiện linh báo cho nhân dân địa phơng xungquanh bờ sông mã (nay thuộc làng hới) rằng: mẫu vốn là tiên nữ con gáicủa ngọc hoàng bị đày xuống trần gian, nay ngao du qua đây thấy cảnh đẹpdừng lại xem, đây là phúc lớn cho dân làng sau này nhân dân trong lànghãy lập phủ thờ mẫu, sẽ đợc ngời phù hộ độ trì cho làm ăn phát đạt, lòngngời hoà thuận, quê hơng làng xóm yên bình
Và cũng từ đó (thế kỷ xvi) nhân dân làng hới xã quảng tiến lập phủthờ mẫu ban đầu do điều kiện còn đói nghèo nên phủ đợc xây dựng bằng
Trang 22ba gian nhà tranh tre nứa lá, nằm ở cạnh bờ sông mã, nay do đất lở, nớcsông lấn vào nên nhân dân phải di chuyển vào bên trong làng
Hiện nay do điều kiện đất đai chật hẹp nên phủ đợc xây dựng nằmtrong quần thể của đền làng hới, vì thế mà nhân dân quảng tiến còn quengọi đền làng hới là phủ hới
2.2.2 lịch sử của đền
Tong một trận quyết chiến chặn giặc cho binh lính nhà trần rút luikhỏi thanh hoá, tây phơng tớng quân đã anh dũng hy sinh để tởng nhớ cônglao to lớn của ngài triều đình nhà trần đã ban sắc phong thần, giao cho nhândân làng cá lập, làng hới hơng khói, thờ tự
Đến khi lê thái tổ dựng cờ khởi nghĩa nhà vua cho đem lễ vật đến
đền thờ tây phơng tớng quân để cầu mong sự phù hộ của ngài trong trậnchiến với quân minh sự cầu đợc ứng nghiệm lê thái tổ bèn phong tặng tâyphơng tớng quân “thợng đẳng thần tối linh, hiển ứng linh thông ” sau khi
đánh thắng giặc minh, đất nớc đợc thanh bình xét công âm phù của vị thầnnhà vua ban sắc phong “ nhất vị #ại vơng hiển ứng âm phù, phổ tế cơngnghị anh linh ” sắc cho nhân dân làng cá lập, làng hới trùng tu miếu điệnmột năm xuân - thu hai kỳ tế lễ
Nay trải qua gần một thiên niên kỷ, đền thờ có nhiều biến cố, bị hoảhoạn, bị sạt lở đất, nhất là qua 2 cuộc chiến tranh chống pháp và chống mỹ
để phục vụ cuộc chiến tranh của dân tộc, đền, phủ bị tháo dỡ, tợng ngài, sắcphong của các triều đại và nhiều đồ thờ khác phải sơ tán lên đền thợng (đền
độc cớc), đền cá lập
Đến năm 1990-1991 với chủ trơng của đảng, chính sách của nhà nớc
về việc bảo tồn và phát huy tác dụng di sản văn hoá dân tộc, xây dựng nềnvăn hoá việt nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc trên cơ sở hởngứng tinh thần đó ban quản lý di tích lịch sử - văn hoá xã quảng tiến vận
động nhân dân trong xã góp công góp sức xây dựng nghôi đền nhỏ, tạmthời để đa th#n về thờ tự tại làng hới bên cạnh đó nhân dân xây dựng thêmphủ thờ mẫu nằm trong khuôn viên của đền, dân làng thờ phụng trần
đức(tây phơng tớng quân) và mẫu liễu hạnh với hy vọng mong đợc che chởcho nhân dân ng nghiệp khi ra khơi, lúc vào lọng đợc bình an sau khi đền
đựơc phục hồi trở lại, nhân dân tiến hành đi su tầm, tìm lại những đạo sắcphong qua các triều đại vua đã phong th#n nhng hiện nay tại bảo tàng tổnghợp của sở văn hoá thông tin tỉnh thanh hoá chỉ còn giữ đợc 2 đạo sắcphong của thời nhà nguyễn
Vua đồng khánh 1885-1888, phong “tiền tòng sự hộ cứu dân, phongtặng dực bảo trung hng chú thần lu ký phụng sự” đến đời vua khải định
Trang 23phong “tiền tòng phụng sự phù quốc tỷ đân, gia tặng đôn tòng tôn thần, lu
ký phụng sự”
Hện nay trong xã ngoài nhân dân làng hới thờ tự tây phơng tớng quân
ở đền làng hới, còn có nhân dân làng cá lập cũng thờ tự th#n, cả hai làng
đều xem tây phơng tớng quân là thành hoàng làng của làng mình
Do không bị mất mát nên hiện nay tại đền cá lập còn lu giữ đựơc một
số sắc phong của tây phơng tớng quân qua các triều đại điều này chứngminh cho vị thành hoàng mà nhân dân quảng tiến đang thờ tự, đã tồn tại từlâu trong lịch dân tộc và ông đã góp phần tô đẹp hơn cho lịch sử đấu tranhchống giặc của nhân dân quảng tiến
một số sắc phong còn lại trong đền cá lập - xã quảng tiến
bản dịch sắc phong thời vua bảo đại
Sắc thanh hoá tỉnh, quảng xơng huyện, cá lập thôn, tòng tiền phụng
sự nguyên tặng: đôn ngng, tĩnh hậu, dực bảo trung hng đơng cảnh tây
ph-ơng thành hoàng linh ứng trung #ẳng thần hộ quốc tý dân nẫm trứ linh ứng,tiết đơng ban cấp tặng sắc chuẩn kỳ phụng sự, tứ kim phỉ thừ cảnh, mệnh đếthiệu tiền du gia, phong hàm quang thợng #ẳng thần nhng chuẩn y, cựuphụng sự dụng trí quốc khánh nhi thân tự điển khâm tai
(bảo đại thập bát niên, bát nguyệt, thập ngũ nhật)
Dịch nghĩa: sắc cho thôn cá lập, huyện quảng xơng, tỉnh thanh hoá.theo nh lệ trớc phụng thờ bậc thần đợc nguyên tặng: đôn ngng-tĩnh hậu-dựcbảo trung hng đơng cảnh tây phơng thành hoàng linh ứng trung #ẳng thần.giúp nớc, che chở cho dân, nỗi niềm nghiệm thấy linh thiêng, ứng nghiệm.vào các kỳ tiễt lễ ban cấp tặng sắc cho phép phụng thờ tới nay vua nốimệnh sáng đất nớc, nhớ về công lao của thần trứơc đây gia tặng thêm mỹ tựcho thần là hàm quang ở hàng thứ bậc thần thợng #ẳng cho phép thôn làngphụng thờ thần nh cũ dùng theo lễ lớn mà phơng pháp tế tự dõi theo phép
(duy tân tam niên, bát nguyệt, thập nhất nhật)
Dịch nghĩa: sắc cho thôn cá lập, huyện quảng xơng, tỉnh thanh hoá.phụng thờ #ơng cảnh tây phơng thành hoàng linh phù dực bảo trung hng
Trang 24đôn ngng là thần vào các kỳ tiết lễ trai ban cấp sắc cho phép phụng thờ.năm duy tân mới lên ngôi, trải ban chiếu báu ơn sâu lễ rộng thăng lên mộtbậc cho phép thôn xã trên phụng thờ thần nh cũ dùng theo lễ quốc khánh
mà phơng pháp tế tự dõi theo phép điển xa
(ngày 11 tháng 8 niên hiệu duy tân thứ 3)
2.2.3 đối tợng thờ tự trong đền
Nhắc tới đền là ta hiểu ngay đối tợng thờ tự trong đó là những vị anhhùng dân tộc có công với dân với nớc, hay những nhân vật có công khailàng mở ấp, những ông tổ của dòng họ, hay tổ s của một làng nghề nào đó.sau khi những vị này qua đời để tởng nhớ công ơn to lớn của họ đối với quêhơng, đất nớc nhân dân ở đó đã xây dựng #ền và phong thành th#n th#nhth#nh
Đối với nhân dân làng hới ở xã quảng tiến luôn xem trần đức( tây
ph-ơng tớng quân) là vị thành hoàng làng, là vị phúc thần, vị thánh rất linhthiêng, luôn che trở, phù hộ cho nhân dân trong làng trong mọi lúc, mọinơi
về cấu trúc, cách bố trí thờ tự hiện nay trong đền có phân ra hai khu, mộtbên là ngôi đền 5 gian, với phần bên trong là hậu cung hay ta thờng gọi lànội điện, là nơi thâm nghiêm nhất, nơi thờ đức thành hoàng trần đức bêntrong cùng là phần cung cấm, nơi linh thiêng, những ngày thờng không mấykhi đợc mở ra, chỉ có những ngày rằm hay mùng một hàng tháng là đợc mở
ra để nhân dân trong xã đến thắp hơng cầu phúc, xin lộc của ông và nhữngngày lễ tết lớn đợc mở cửa để ban quản lý đền lau chùi, dọn dẹp, sắp xếp lai
đồ đạc trong cung có điểm là thờng ở trong cung này thờng phụ nữ ít đợcvào hơn, mà có việc gì chủ yếu là do các vị cao tuổi hay đàn ông vào thắphơng, lau dọn điều này cho thấy vị thánh đợc thờ trong đền rất linh thiêng
và đợc nhân dân kính trọng
Trong cung có đặt một bàn thờ, trên đó đặt pho tợng đợc khoác chiếc
áo bào màu vàng đợc thêu hình rồng, hoa văn rất đẹp và lộng lẫy phía trớcpho tợng là bài vị của th#n, ngoài ra có một cái cháp nhỏ đựơc làm bằng gỗ
đặt bên trong đó là sắc phong thời vua đồng khánh và vua khải định phongthần, chiếc hộp này đợc cất giữ rất cẩn thận chỉ có những ngày lễ lớn là đợc
mở ra đọc cho nhân dân trong làng nghe trên bàn thờ còn có một bát hơnglàm bằng sành sứ hoạ tiết hoa văn rồng xanh, và nhiều đồ thờ khác nh, tam
Trang 25“ thánh đức phù trì hải lộc thônthần công bảo hộ khang lợi thắng”.
Nội dung ý muốn nói đức thánh bảo hộ, ban lộc, phù hộ độ trì chonhân dân các thôn: hải vợng, lộc trung, khang phú, vạn lợi, toàn thắng thần
đem tài sức giúp dân, giúp nớc, nên đợc nhà nớc và dân ta sắc phong là ợng #ẳng thần”
“th-“phù quốc hộ dân trung dũng tớngsắc phong thợng #ẳng tối linh thần”
Ngoài bàn thờ chính hai bên bàn thờ và hơng án có hai hàng tự khí,
có 2 lá cờ tiết mao, đây là 2 lá cờ tợng trng chức sắc của vị thần và đôi tànlộng với cán cao khoảng 4m, ở bên trên vòng tròn có bán kính khoảng 1m
đợc làm bằng vải màu vàng có thêu hoa văn, hoạ tiết đây là những đồ dùngcho những ngày lễ hội để nhân dân che ánh nắng mặt trời cho thần lúc rớckiệu ra ngoài nhất là bên trái bàn thờ có một con ngựa làm bằng gỗ đợc sơnmàu rất đẹp, theo mọi ngời đây là ngựa thần, ngài cỡi đi đánh giặc và đituần tra ngoài ra bên trong nội thất còn có nhiều đồ trang trí nh các bộ bátbiểu, bình hoa, lọc bình làm bằng gốm xứ, đây là những đồ do nhân dântrong xã công đức do đợc thần che trở, phù hộ độ trì nên nhân dân tronglàng “ăn nên làm ra”, để tỏ lòng biết ơn đến vị thần, nhân dân trong xã vàkhách thập phơng đã góp phần công đức tiền tài, vật chất để góp phần nhonhỏ vào việc tu bổ, sắm sửa các đồ vật trong đền
Có thể nói ngôi đền thờ vị thành hoàng trần đức hiện nay có chứcnăng giống nh ngôi #ình làng việt xa, ông là anh hùng lịch sử góp côngtrong việc đánh thắng quân nguyên mông giữ yên bờ cõi đất nớc và cũng là
vị thành hoàng rất linh thiêng của nhân dân làng hới xã quảng tiến ông là
đại diện tinh thần cho cả làng, là vị phúc thần luôn che trở, dìu dắt mọi ngờitrong mọi lúc mọi nơi
Nhân dân trong làng xem ngôi đền nh là ngôi nhà chung của toàn thểnhân dân, nên trong làng nếu gia đình ai đó có công việc gì, là ngời ta lại
đem lễ vật đến đền thắp hơng cầu mong thần phù hộ, giúp đỡ cho mọi việc
đợc thuận buồm xuôi gió ngay cả những việc nh con cái xây dựng gia đình,
đi xa làm ăn, đi thi cử, ngời ta cũng mong vị thành hoàng giúp đỡ đợc đi
đến nơi về đến chốn, hạnh phúc đợc trọn vẹn
Ngời việt nói chung, ngời dân quảng tiến nói riêng có một đời sốngtinh thần, tâm linh hết sức độc đáo, phong phú và đa dạng, bởi vì thế ít cómột ngôi đền nào chỉ có thờ riêng một vị thần, hay một ngôi chùa nào chỉthờ riêng phật, và phủ chỉ thờ riêng mẫu mà có thể tất cả các vị phật, thánh,mẫu cùng có mặt trong một ngôi đền, chùa, phủ với cách bố trí “ tiền phật
Trang 26hậu thánh” đây chính là sự dung hoà trong tôn giáo, đa dạng trong đời sốngtâm linh, là sự kết hợp hài hoà giữa tôn giáo ngoại lai và văn hoá bản địacủa ngời việt.
Bởi vì thế hiện nay trong khuôn viên của đền làng hới có xây dựngmột ngôi phủ 5 gian thờ chính là mẫu liễu hạnh với hệ thống thờ tự “tứphủ”, bên cạnh đó còn bố trí b#n thờ 4 mẹ con hoàng hậu nhà tống (gốctrung hoa)
Gắn với truyền thuyết nói về mẫu liễu hạnh giáng trần và đi tuần duqua đất làng hới nhân dân ở đây đã lập phủ thờ mẫu, với hy vọng đợc sựgiúp đỡ, che trở của mẫu bởi mẫu là hiện thân của lòng độ lợng, thơng yêucứu giúp con ngời
“thánh ôi linh ngự phủ trần gianmẫu nhân từ thiên cung giáng thế”
Ngời dân quảng tiến từ lâu đã mang trong mình một t tởng “phủ tanthì làng mạt” họ tin tởng vào sức mạnh vạn năng và quyền hạn vô biên củathánh mẫu, vì thế mà dù trong cuộc sống có khó khăn, nhng mọi ngời vẫngóp công, góp của, xây dựng công sức vào việc tu bổ, xây dựng phủ ngàycàng khang trang hơn phía bên trong nội điện là hệ thống bàn thờ vớinhững pho tợng rất đẹp, cùng với các đôi câu đối đợc khắc họa tiết và sơnson thiếp vàng nguy nga
“thánh giáng dân yên sinh phú quýthần phù quốc thái đất vinh hoa”
“phủ đờng hoàng thánh liêu ân
điện các nguy nga thần ban phúc”
Cách bố trí hệ thống bàn thờ: phía trên có bức đại tự “ mẫu tối linh”.mẫu liễu hạnh với t cách là mẫu thợng thiên nên mẫu đợc thờ ở vị trí trungtâm, khoác chiếc áo màu đỏ, là ngời có năng lực, quyền tối cao dân giancho rằng mẫu còn hiện thân là mẫu thợng ngàn trông coi miền rừng núi,nên bên trái mẫu thợng thiên là pho tợng mẫu thợng ngàn khoác áo màuxanh ngoài ra mẫu liễu hạnh còn hoá thân thành địa tiên thánh mẫu, là mẫucai quản miền đất, mẫu đợc khoác chiếc áo màu vàng và bên cạnh mẫu địa
là pho tợng khoác chiếc áo màu trắng là hình ảnh của mẫu thoải (cai quảnmiền sông nớc)
Có thể nói, tín ngỡng thờ tứ phủ là một tín ngỡng dân gian của ngờiviệt và là một hiện tợng sinh hoạt văn hoá mang tính tâm linh, các mẫu đợcnhân dân gán cho quyền uy khả năng siêu phàm, cứu hộ, độ trì cho muônvạn chúng sinh với những nỗi niềm và khát vọng khác nhau bởi thế nhândân khắp nơi đều lập phủ thờ mẫu
Trang 27Ngoài hệ thống thờ tứ phủ, phía dới bàn thờ các mẫu là hệ thống bànthờ gồm 4 pho tợng khoác áo màu trắng theo nhân dân nơi đây, đó là hình
ảnh của bốn mẹ con hoàng hậu nhà tống, trong hoàn cảnh đất nớc trung hoaloạn lạc, bốn mẹ con hoàng hậu nhà tống đã chạy sang nớc việt bằng đờngbiển để lánh nạn và đợc nhà s ngời việt cứu giúp, nhng vì lời thị phi củanhân dân mà sau khi cứu sống bốn mẹ con nhà tống nhà s đã tự vẫn sau cáichết của nhà s, bốn mẹ con hoàng hậu nhà tống quyết định nhảy sông tựvẫn, thi thể của bốn ngời đã trôi vào địa phận cửa cờn( nghệ an) truyềnthuyết nói rằng sau khi bốn mẹ con hoàng hậu nhà tống qua đời, ngọchoàng đã phong chức “nam hải đại thần”, có trách nhiệm cai quản 12 vùngcửa sông, cửa biển đối với nhân dân quảng tiến do chủ yếu làm nghề sôngnớc, bởi thế để mỗi chuyến ra khơi vào lọng đợc yên bình, và để thuyền bè
đợc qua cửa sông cửa lạch an toàn, thì nhân dân đã thờ tự vị “nam hải đạithần” víi hy v#ng mong đợc sự phù hộ của thần
Nh vậy đối tợng thờ tự trong phủ toàn là hiện thân của tính nữ, làmẫu là mẹ và nét đặc biệt trong mỗi điện thờ mẫu đó là hiện tợng hầu đồnghầu bóng đễ tái hiện hình ảnh của các vị thánh của đạo tứ phủ trong nghi lễnày ngời ta tin rằng linh hồn của các vị thần sẽ nhập vào ngời lên đồng, linhhồn này đợc nhân dân mời về để nghe lời cầu khẩn của ngời đi lễ , ngời lên
đồng là nữ thì gọi là “bà cốt”, còn ngời đó là nam thì gọi là “ông đồng”.qua mỗi giá đồng là một điệu múa khác nhau, phù hợp tính cách, công việccủa vị thần đó tất cả có 72 giá đồng bao gồm, giá các quan lớn, giá chầu
bà, giá các cậu, giá các cô, trong buổi lễ còn có cả kết hợp hát văn với dànnhạc đây cũng là sinh hoạt văn hoá hay diễn ra tại phủ hới với sự tham dự
đông đúc của quần chúng nhân dân trong làng, tạo nên không khí sinh hoạttôn giáo phong phú trong đời sống tâm linh của nhân dân nơi đây
Trang 28ChƯƠng 3:
lễ hội cầu ng trong đời sống tâm linh của nhân dân
x quảng tiến ( sầm sơn – thanh hoá)ã
3.1 khái quát về lễ hội
Trong từ điển tiếng việt “lễ” là một khái niệm: “chỉ những nghi thứctiến hành nhằm đánh dấu hay kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào
đó”, ví nh lễ mừng sinh nhật, lễ thành hôn, hoặc tang ma
trong lịch sử từ “lễ” có nguồn gốc từ trung quốc, ở thời nhà chu hiểu từ “lễ”
là “lễ vật” mà con em quý tộc dâng lên cúng tổ tiên, nhng sau đó mở rộng
và phát triển hơn đó là biểu hiện của phép tắc, sự phân biệt thứ bậc trongxã hội, tầng lớp trên với tầng lớp dới, ngời giàu sang với ngời nghèo khổ.nay xã hội phát triển hơn, chữ “lễ ” lại đợc phát triển rộng ra một bớc nữa.nhằm biểu hiện sự thành kính của con ngời về một đối tợng nào đó mà conngời tôn thờ nh: thần, thánh ngoài ra còn tỏ lòng thành kính của con ngời
đối với thế giới tự nhiên nh: trời, đất, mây,ma đợc thể hiện thông qua các
lễ nh: lễ cầu an, lễ cầu phúc, lễ cầu ma, lễ cầu tạnh
để hiểu rõ hơn về từ “lễ ” ta hiểu ở góc độ cặp từ “lễ hội”, ở đây từ “lễ ” đợchiểu: “chính là thái độ ứng xử của con ngời trớc thế giới tự nhiên thần bí
đầy thách đố, bí hiểm, mà năng lực con ngời không khống chế đợc” đó còn
là thái độ ứng xử của con ngời đang sống đối với những ngời đã khuất, làcác vong linh, vong hồn vì thế cho nên “lễ” nó mang tính linh thiêng vàhuyền bí, nhằm giải quyết vấn đề tâm lý cho con ngời cũng vì thế mà từ lâu
“lễ” đã trở thành “cơm ăn thức uống” không thể thiếu đợc trong đời sốngtâm linh của mỗi con ngời việt
Nếu nh ở lễ là phần đạo, phần tâm linh, linh thiêng, thì hội chính làphần đời, phần “đời rất thực” đó là một cuộc vui giành cho những con ngời