Tiểu luận : kinh tế chính trị mác lê ninChủ đề 5: tác động của chức năng phương tiện cất trữ đến biến động của thị trường vàng trong giai đoạn thế giới chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh
Trang 1Tiểu luận : kinh tế chính trị mác lê nin
Chủ đề 5: tác động của chức năng phương tiện cất trữ đến biến động của thị trường vàng trong giai đoạn thế giới chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế 2008
I Phần mở đầu
1 Sự cần thiết của đề tài
Từ xưa đến nay vàng vẫn luôn được coi là biểu tượng của quyền lực và của cải, luôn được lưu giữ như một khoản tiết kiệm trong mỗi gia đình Vàng tượng trưng cho vẻ đẹp, sự giàu
có thịnh vượng của mỗi con người, của mỗi quốc gia Mọi người luôn quan tâm đến vàng
vì nó là công cụ chính để bảo vệ tài sản, chống rủi ro kinh tế và biến động chính trị- hay nói cách khác vàng chính là một kênh đầu tư bảo hiểm mang độ an toàn cao Những năm gần đây, giá vàng liên tục biến đổi theo chiều hướng gia tăng, làm cho thị trường vàng Việt Nam nói riêng, thị trường vàng Thế giới nói chung trở nên sôi nổi, và sự biến động không ngừng của nó kéo theo những ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam Vàng từ lâu đã trở thành một kênh đầu tư hẫp dẫn thu hút nhiều nhà đầu tư với một số vốn khổng lồ Thị trường vàng với rất nhiều vấn đề từ vĩ mô đến vi mô của nó đã trở thành một mối quan tâm lớn, thu hút sự chú ý của rất nhiều người và khi nói đến vàng thì nói tới chức năng là phương tiện cất trữ của nó
Từ thực tế đó chúng em chọn đề tài : “tác động của chức năng phương tiện cất trữ đến biến động của thị trường vàng trong giai đoạn thế giới chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế 2008”
2 Đối tượng nghiên cứu
Chức năng phương tiên cất tác động lên thị trường vàng trong giai đoạn hậu khủng khoảng kinh tế năm 2008
3 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian : Từ năm 2008 đến nay
Đối tượng : thị trường vàng cả trong và ngoài nước
4/ phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu cùng với việc vận dụng các phương pháp luận nghiên cứu khoa học như : duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, luận văn chú trọng sử dụng tổng hợp các
Trang 2phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như : thống kê, so sánh,phân tích, tổng hợp…chú
ý bài tiểu luận có nhiều quan điểm dựa nhiều theo học học thuyết kinh tế mác –lê nin
5) giới thiệu nội dung nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu, phân tích sự tác động biến động thị trường vàng trong giai đoạn thế giới chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế 2008 để biết được tầm quan trọng của chức năng phương tiện cất trữ của tiền : vàng và hiểu rõ cách thức hoạt động của chức năng trên
để áp dụng vào thực tiễn từ đó học hỏi những biện pháp khắc phục để tránh những sai lầm trong quá khứ như cuộc khủng hoảng kinh tế trên Đặc biệt đối với sinh viên cần biết trước
để nắm rõ và sử dụng chức năng của vàng một cách hiệu quả trong cuộc sống của chúng ta
Phần nội dung :
1 Lí luận về tiền tệ của học thuyết kinh tế mác lê nin
1.1 lịch sử hình thành của tiền tệ và bản chất của tiền tệ
1.1.1 lịch sử hình thành của tiền tệ
Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển , sản xuất hàng hóa và thị trường ngày càng mở rộng, thì tình trạng có nhiều vật ngang giá chung làm cho trao đổi giữa các địa phương vấp phải khó khăn, do đó dẫn đến đòi hỏi khách quan phải hình thành vật ngang giá chung thống nhất Từ đó phải
có một hình thái làm đơn vị đo lường giá trị của các hàng hóa khi trao đổi trên thị trường Trong tiến trình lịch sử, nhân loại phát kiến các hình thái đo lường giá trị hàng hóa khác nhau,traỉ qua 4 hình thái , đi từ hình thái giản đơn của giá trị đến hình thái tiến bộ nhất là hình thái tiền tệ
Hình thái giản đơn -> hình thái mở rộng của giá trị -> hình thái chung của giá trị -> hình thái tiền tệ
Hình thái giản đơn : là hình thái đo lường giá trị dựa trên sự trao đổi đơn nhất 1 loại hàng này lấy 1 loại hàng hàng hóa khác Theo đó tỉ lệ trao đổi và hành vi trao đổi là ngẫu nhiên
Vd:
Hình thái mở rộng của giá trị : là h/thái đo lường giá trị trên sự trao đổi thường xuyên 1 loại hàng hóa đổi được với nhiều loại hàng hóa khác
Vd:
Hình thái chung của giá trị : là hình thái đo lường giá trị dựa trên việc cộng đồng chọn ra 1 hàng hóa làm vật ngang giá chung với mọi hàng hóa khác
Trang 3Hình thái tiền tệ : là hình thái đo lường giá trị dựa trên việc toàn xã hội thống nhất chọn lấy 1 loại hàng hóa đặc biệt làm vật ngang giá duy nhất cho mọi hàng hóa khác
Vd:
I.1.2 bản chất của tiền tệ
+) là hàng hóa đặc biệt
+) được xã hội chọn làm vật ngang giá chung và duy nhất
+) dùng để đo lường mọi giá trị cảu mọi hàng hóa và làm phương tiện trao đổi
Lịch sử nhân loại cho thấy : con người lựa chọn thứ hàng hóa đặc biệt làm tiền
tệ chính là : VÀNG,BẠC.
Lí do xã hội tín nhiệm vàng bạc là vật ngang giá chung duy nhất để đo lường giá trị hàng hóa:
+) giá trị kinh tế cao :: hao phí lao động xã hội của người sản xuất phải tìm kiếm, khai thác,chế tác,
+) giá trị sử dụng sử dụng cao: được sử dụng trong nhiều ngành CN, làm trang sức… với đặc tính bền vững vs tg , có thể chia nhỏ hay cô đặc ,…
Từ đây ta có thể hiểu tiền pháp định (flat money) là một loại tiền tệ không có giá trị nội tại , được gán giá trị nhờ quyền lực của nhà nước
không mang bản chất tiền
I.2 năm chức năng cơ bản của tiền tệ
+) chức năng thước đo giá trị
Mô tả : Là chức năng gốc, gắn liền với sự ra đời của tiền tệ Biểu hiện ở việc xã họi dùng tiền tệ làm đơn vị đo lường giá trị của mọi hàng hóa khác
Mọi loại tiền của nhà nước phát hành đều bị mất giá do lạm phát, nên không phải là đơn vị đo lường ổn định
Từ đó , kết luận được khi đo lường, so sánh giá trị tài sản giwuax các thời kỳ dài hạn cần quy đổi theo đơn vị là VÀNG, BẠC
+) Chức năng phương tiện cất giữ
Mô tả : chức năng này thể hiện ở việc đưa tiền ra khỏi lưu thông, và cho vào dự trữ, nhằm duy trì giá trị tài sản
Chức năng được phân loại theo chủ thể có 3 cấp độ : Dự trữ của Nhà nước, doanh nghiệp, hộ gia đình
Trang 4Chức năng này nhất thiết nhất phải gắn với vàng và bạc.
Tiền dùng để cất giữ thì phải là vàng,bạc không nên cất trữ tiền pháp định, bời vì mọi loại tiền do nhà nước phát hành đều bị mất giá do lạm phát
+) chức năng phương tiện lưu thông
Mô tả: Xã hội dùng tiền tệ làm phương tiện trung gian trong trao đổi
H-tiền tệ- H’
Tiền tệ chỉ là phương tiện trung gian trao đổi, nên việc sử dụng vàng bạc thì sé lãng phí, bất tiện, nhà nước khó kiểm soát nền kinh tế
Từ đó tiền pháp định ra đời( ngân phiếu,séc, )
+) chức năng phương tiện thanh toán
Mô tả : Chức năng này thể hiện ở việc con người sử dụng tiền để chi trả trực tiếp cho các nghĩa vụ kinh tế của mình, thay cho việc trao đổi hiện vật
Dùng tiền thay cho hiện vật dẫn tới khả năng thanh toán trả chậm, mua bán chịu Gắn liền với tín dụng thương mại Từ đó hình thành các mối quan hệ mới (chủ nợ
- con nợ ) Đây cũng là mối quan ngại và chính nó là nòng cốt dẫn tới khủng hoảng kinh tế 2008
+) chức năng tiền tệ thế giới
Mô tả : chức năng thế hiện ở việc dùng tiền để thanh toán quốc tế
Đến thế kỉ 19, tiền dùng để thanh toán quốc tế vẫn là vàng bạc
Tỉ số hối đoái hiện nay quay đổi các đồng tiền để thanh toán quốc tế Và thường các quốc gia, khu vực có nền kinh tế lớn sẽ chi phối tỉ giá này và tiền của họ sẽ được các nước khác tích trữ
Tác dụng của tỉ giá hối đoái : +) kích thích thương mại quốc tết phát triển
+) điều tiết kinh tế vĩ mô thông qua điều chỉnh tý giá hối đoái
2 Ảnh hưởng của chức năng phương tiện cất trữ đến sự biến động thị trường vàng trong giai đoạn thế giới chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế 2008
2.1 Khái quát về khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 \
10.000 tỷ USD bị cuốn trôi, 30 triệu người mất việc, 50 triệu người quay lại chuẩn dưới nghèo là cái giá phải trả cho cuộc khủng hoảng 2008
Trang 5Vào năm 2008, khủng hoảng tài chính nổ ra làm chao đảo nền kinh tế toàn cầu Sau 10 năm, người ta vẫn băn khoăn về sự thay đổi cuộc chơi, và quan trọng hơn là làm sao để tránh khỏi điều tương tự trong tương lai
Nguồn cơn cuộc khủng hoảng được nhen nhóm từ thị trường thế chấp dưới chuẩn, từ đó lây lan nhanh trên quy mô lớn, cuối cùng trở thành cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu Ban đầu chỉ là các gói cứu trợ lớn và hệ quả dẫn tới là sự tụt dốc không phanh của nền kinh tế, người ta bắt đầu hoài nghi về tính ổn định và minh bạch của hệ thống ngân hàng toàn cầu vốn rất được tin tưởng Có thể nói đây là một cuộc đại suy thoái (2008-2009) cho nền kinh tế của nhiều nước và nhiều khu vực đầu thế kỉ 21 Lý do thực sự thì rất phức tạp nhưng khái quát thì có thể cho rằng thị trường BĐS mĩ đã khởi đầu cho một chuỗi phản ứng dây chuyền khi một mắt xích trong hệ thống tài chính
bị phá vỡ Từ đó kéo theo sự tuyên bố phá sản của các ngân hàng lớn và lâu năm như : Lehman Brothers, Morgan Stanley, Citigroup, AIG, … Những hệ thống tài chính có tiếng lâm nạn như vật đã khiến toàn bộ nền kinh tế mĩ và châu âu bị tê liệt nhưng cũng vì thế mà người ta thấy những thiếu sót tiềm tàng trong việc giám sát tài chính của hệ thống ngân hàng, những gián đoạn hệ thống trên toàn thế giới mà nguyên nhân đến từ chính tính kết nối toàn cầu cuả nền kte
*) hậu quả :
Ngoài những số liệu văn tắt ở trên , khai quát tình hình chung lúc đó ta có các con số không biết nói dối :
Được xem là thảm họa kinh tế tồi tệ nhất kể từ thời kỳ Đại Khủng Hoảng, khủng hoảng tài chính năm 2008 đã tàn phá nền kinh tế thế giới một cách nặng
nề Hậu quả của nó cho tới ngày nay vẫn được xem là cuộc Đại Suy Thoái, gồm
có việc làm sụt giảm giá bất động sản, thất nghiệp tràn lan Hậu quả của nó nghiêm trọng đến mức vẫn còn những tác động nhất định đến hệ thống tài chính cho tới ngày hôm nay
Tại Mỹ, hơn 8 triệu người mất việc làm, xấp xỉ 2.5 triệu doanh nghiệp phá sản
và có tới gần 4 triệu ngôi nhà bị thu hồi trong vòng 2 năm Bất ổn về an ninh lương thực cùng với sự mất cân bằng thu nhập làm cho nhiều người cảm thấy mất niềm tin vào cơ chế
Cuộc suy thoái được công bố là chính thức kết thúc vào năm 2009, nhưng trong một thời gian dài sau đó nhiều người dân vẫn phải chịu những hậu quả nặng nề, đặc biệt là tại Mỹ Tỷ lệ thất nghiệp đạt mức 10% vào năm 2009, và chỉ mới trở lại mức như trước khủng hoảng vào năm 2016 vừa rồi
Trang 6Giảm sản xuất trên quy mô toàn cầu dẫn tới giảm lượng cầu về năng lượng và nguyên liệu khiến cho các nước xuất khẩu dầu và nguyên liệu bi giảm đáng kể nguồn thu từ xuất khẩu các yếu tố này Vì thế khủng hoảng còn lan sang cả các nước trung đông,nam mĩ,trung á,nga vốn trước đó được lợi một thời gian khá dài do giá dầu tăng nay phải chịu thiệt hại to lớn
Do mĩ, châu âu là những thị trường xuất khẩu quan trọng của nhiều nước đang phát triển (nhất là khu vực đông á) nên suy thoái đã làm giảm xuất khẩu của các thị trường trên.Đồng thời các nước phát triển là nguồn cung cấp các khoản vay ngân hàng, các khoản vay đầu tư trực tiếp và gián tiếp như các nước đang phát triển nên các nước phát triển dừng cho vay , dừng giải ngân hay rút vốn về nên các nước đang phát triển đã bị tác động tiêu cực nghiêm trọng trong đó có việt nam chúng ta Cụ thể :
Tăng trưởng kinh tế thụt lùi
Từ khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra năm 2008, Việt Nam chìm trong vòng xoáy tăng trưởng chậm khi các thị trường xuất khẩu lớn bị ảnh hưởng, sức mua trong nước giảm Cả giai đoạn này, tăng GDP luôn tháp hơn 7% và ngày càng đi xuống, đến năm 2012 chỉ còn khoảng 5,03% chưa bằng 2/3 so với mức trước khi khủng hoảng
( ae kẻ bảng ra) Lạm phát nhảy múa
Trang 7Vốn đầu tư toàn xã hội teo tóp
Sản xuất công nghiệp lao đao, tồn kho lớn
Sức mua suy yếu tiêu thụ hàng hóa khó khăn
Số doanh nghiệp khai sinh giảm
Thu hút vốn nước ngoài khó khăn
Trang 8Cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra cách đây đã hơn 1 thập kỷ, tuy nhiên hậu quả của
nó vẫn còn tồn tại đến tận bây giờ Ảnh hưởng của cuộc suy thoái vẫn hiện hữu làm cho tốc độ phục hồi của nền kinh tế toàn cầu là khá yếu khi đem ra so sánh với các dẫn chứng từ lịch sử Các khoản vay rủi ro lớn đang xuất hiện trở lại và mặc dù lãi suất mặc định là ở mức khá thấp, nhưng nó có thể thay đổi bất cứ lúc nào
Các nhà quản lý nhất mực cho rằng hệ thống tài chính toàn cầu đã cải thiện rất nhiều so với năm 2008 và các công cụ đảm bảo an toàn đã được tăng cường một cách đáng kể Do đó, nhiều người tin rằng hệ thống tài chính toàn cầu hiện nay mạnh mẽ hơn rất nhiều so với 1 thập kỷ trước
Tuy nhiên, vẫn có những lo ngại rằng hình thái khủng hoảng kinh tế như vậy có thể nào tái xuất hiện không? Câu trả lời đơn giản là có, mọi khả năng đều có thể xảy ra
Dù có bao nhiêu thay đổi được thực hiện, bao nhiêu quy định mới được thực thi chăng nữa, thì vẫn tồn tại một số vấn đề cơ bản
Hãy nhớ rằng, chính cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của các chính sách Toàn bộ các sự kiện xảy ra năm 2008 đều xuất phát từ các quyết định mà các nhà quản lý, chính trị già và các nhà hoạch định chính sách đưa ra từ nhiều năm trước đó Từ các thể chế quản lý lỏng lẻo cho đến các tác động của văn hóa doanh nghiệp, người ta có thể đổ lỗi việc gây ra cuộc Đại Suy Thoái cho bất cứ thứ gì, trừ “quá khứ”
Một thập kỷ đã trôi qua kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, nhưng người
ta vẫn không thể quên được hệ thống ngân hàng thế giới thực tế mỏng manh dễ vỡ như thế nào Có thể chính cuộc khủng hoảng này là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự ra đời của tiền tệ số mã hóa như Bitcoin, dù không thể đảm bảo 100% là chính xác
2.2 Xu thế cất trữ, tích trữ khi thế giới gặp khủng hoảng kinh tế
Khi nền kinh tế bị suy thoái và biến động mạnh theo hướng tiêu cực, đồng thời sản xuất kinh doanh bị ngưng trệ và gặp khó khăn thì lạm phát xảy ra là điều tất yếu Lẽ
dĩ nhiên , lúc đó người ta cần một kênh đầu tư an toàn để bảo toàn vốn, đưa tài sản của mình ra khỏi lưu thông là điều các nhà đầu tư ưu tiên và nghĩ tới
Trang 9Biểu đồ lạm phát của việt nam trong từng giai đoạn
Mới chỉ cách đây vài năm, vàng từng bị coi là “lỗi thời” nhưng từ khi khủng hoảng tài chính xảy ra ở Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone), các ngân hàng trung ương tỏ ra quan tâm đến loại quý kim này hơn bao giờ hết
Nhìn chung, các ngân hàng trung ương đang kiểm soát 1/5 khối lượng vàng của thế giới cho dù từ năm 1973, chế độ bản vị vàng đã bị xóa bỏ
Theo Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), các ngân hàng trung ương mua vào gần 500 tấn vàng năm 2013, mức kỷ lục kể từ năm 1964, để đa dạng hóa các nguồn dự trữ gồm ngoại tệ, công trái phiếu, cổ phiếu, bất động sản
Theo các nhà quan sát, kỷ lục của năm 2013 sẽ được vượt qua trong năm nay, sau khi trong 10 tháng đầu 2014, các nước Đông Âu đua nhau mua vàng
Nga cũng đã nhập cuộc và hiện nắm giữ số lượng vàng cao nhất kể từ năm 1993 tới nay (khoảng 1.090 tấn)
Vàng không ngừng tăng giá từ sau khủng hoảng tài chính 2008 đến cuối 2013
Với một đơn vị tiền tệ đáng tin cậy khác của châu Âu là đồng bảng Anh, thì trong năm 2013 và 2014 đơn vị tiền tệ của nước Anh cũng không hấp dẫn đối với các nhà đầu tư và điều này khiến các ngân hàng trung ương đua nhau tích trữ vàng
Trong khi đó, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng cho hay trong bảy tháng liên tiếp tính tới tháng 4/2014, không chỉ Nga mà cả Kazakhstan đã mua thêm vàng để dự trữ
Thổ Nhĩ Kỳ, Belarus và cả Azerbaidjan cũng như Hy Lạp có xu hướng tích trữ vàng
Trang 10Hiện Ngân hàng trung ương Trung Quốc (PBOC) sỏ hữu 1.000 tấn vàng, tức 1,6%
dự trữ ngoại tệ của nước này Nhưng nếu một số ý kiến cho rằng dự trữ vàng thực
tế của PBOC cao gấp 3 lần con số trên là đúng thì Trung Quốc hiện có lượng vàng
dự trữ lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Mỹ (8.000 tấn)
Đối với hầu hết đơn vị tiền tệ trên thế giới, không còn một đồng tiền nào được cột chặt vào kim loại này Nhưng theo ông Didier Bruneel - cựu nhân viên Ngân hàng trung ương Pháp (Banque de France) và là tác giả cuốn sách ''Những bí mật của vàng'' - vàng luôn là “biểu tượng của sức mạnh, sự giàu có và vẫn luôn được coi là phương tiện thanh toán sau cùng được quốc tế công nhận trong mọi trường hợp
Điều này đã được chứng minh qua rất nhiều cuộc khủng hoảng, từ khủng hoảng dầu mỏ thập niên 1970 cho tới khủng hoảng tài chính quốc tế năm 2008 Khi khủng hoảng nổ ra, giá vàng lại được đẩy cao chót vót
(có thể lược bỏ bớt các phần dẫn chứng thừa)
Lí do: khách quan : vàng là một vật nagng giá mang bản chất của tiền tệ, với giá trị kinh tế cao, kết tinh hao phí lao động xã hội cao và có giá trị sử dụng mang tính lâu dài, đa dạng
Chủ quan: người đầu tư hiểu rõ tiền gửi tiết kiệm sẽ bị sụt giảm giá trị vì lãi NH <
tỉ lệ lạm phát -> của cải bị mất dần giá trị
->nếu họ quy đổi ra vàng thì sẽ tránh hay nói chính xác là hạn chế rủi ro về lạm phát và khủng hoảng xuống mức thấp và có thể kiểm soát
Theo học thuyết kte ctri mác lenin về các chức năng của tiền tệ thì chức năng cất giữ được biểu hiện rõ nhất trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền, vàng, bạc Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hóa nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hóa lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ
Khi nhu cầu tăng thì giá của hàng hóa đó cũng tăng Vàng cũng là hàng hóa nên giá vàng biến dộng rất nhiều trong tki khủng hoảng và có xu thế chung là tăng