1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

THIẾT lập và QUẢN lý DANH mục đầu tư tối ưu TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

37 1,4K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết lập và quản lý danh mục đầu tư tối ưu trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Thúy, Đinh Thị Tiếng, Trần Thị Bích Thủy, Trần Đức Tài, Nguyễn Thị Ngọc Hiền, Võ Dương Quốc Huy, Trần Hoàng Lâm, Võ Thị Thanh Thảo, Nguyễn Minh Thiện, Nguyễn Văn Thanh
Người hướng dẫn THS. Trần Thái Trúc Lâm, THS. Nguyễn Tiến Trung
Trường học Trường Đại Học Nguyễn Tất Thành
Chuyên ngành Quản lý quỹ đầu tư
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 304,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1.LÝ THUYẾT DANH MỤC ĐẦU TƯ VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ CHƯƠNG 2 MỘT SỐ MÔ HÌNH LÝ THUYẾT ÁP DỤNG TRONG PHÂN TÍCH DANH MỤC ĐẦU TƯ CHƯƠNG 3 ÁP DỤNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH



MÔN :QUẢN LÝ QUỸ ĐẦU TƯ

ĐỀ TÀI CÔNG TY TNHH QUẢN LÝ QUỸ MANULIFE VIỆT NAM

("MANULIFE ASSET MANAGEMENT VIETNAM

COMPANY LIMITED")

GVCN : THS TRẦN THÁI TRÚC LÂM Lớp : 11CTC02

“THIẾT LẬP VÀ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU

TƯ TỐI ƯU TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG

KHOÁN VIỆT NAM”

GVCN : THS NGUYỄN TIẾN TRUNG LỚP : 11CTC02

Hồ Chí Minh - 2013

Trang 2

1 Nguyễn Thị Hồng Thúy (Nhóm trưởng)

9 Nguyễn Minh Thiện

10 Nguyễn Văn Thanh

Trang 3

Trang 4

Thị trường chứng khoán việt Nam phát triển qua một thời gian ngắn nhưng đã trải qua nhiềuthăng trầm biến động trên thị trường đã có những giai đoạn chỉ số Vnindex đạt trên 1100 điểmgiai đoạn phát triển nhất của thị trường Việt Nam từ trước tới nay và bây giờ thị trường đangdao động xung quanh mức điểm là 280, điều này chứng tỏ thị trường đã phần nào dần phảnánh thực trạng nền kinh tế Việt Nam Trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế thế giới đang lâmvào tình trạng khủng khoảng và Việt Nam không phải là ngoại lệ cũng chịu tác động xấu Do

đó làm ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường chứng khoán Việt Nam

Như ta đã biết đầu tư vào thị trường chứng khoán chứa đựng nhiều rủi ro đặc biệt trong tìnhcảnh nền kinh tế Việt Nam và thế giới đang suy thoái hiện nay thì đầu tư chứng khoán càngrủi ro hơn Tuy nhiên trên thị trường vẫn tồn tại những chứng khoán có thể kiếm lời,để biếtđược điều đó ta phải định giá đúng chứng khoán Tuy định giá đúng nhưng mỗi chứng khoánvẫn chứa đựng tiềm ẩn rủi ro và những rủi ro này ta có thể đa dạng hóa bằng cách đầu tưnhiều chứng khoán khác nhau hay nói cách khác là đa dạng hóa danh mục đầu tư

Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư là nghiệp vụ quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu

tư vào chứng khoán thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ sở tănglợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng Quản lý danh mục đầu tư là một dạng nghiệp vụ

tư vấn mang tính chất tổng hợp có kèm theo đầu tư, khách hàng uỷ thác tiền cho công ty quản

lý quỹ thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược hay nguyên tắc đã được kháchhàng chấp thuận hoặc yêu cầu

Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư là nghiệp vụ phổ biến bậc nhất ở hầu hết các thị trườngchứng khoán trên thế giới Đây là nghiệp vụ không thể thiếu của các quỹ đầu tư chứng khoán,các công ty chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán và các định chế tài chính khác vì vậy

em chọn đề tài :

“Thiết lập và quản lý danh mục đầu tư tối ưu trên thị trường chứng khoán Việt Nam”

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ……….6

1.1 LÝ THUYẾT VÀ DANH MỤC ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 6

1.1.1 Khái niệm danh mục đầu tư và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán 6

1.1.2 Đặc điểm của danh mục đầu tư chứng khoán 7

1.1.3 Chức năng quản lý danh mục đầu tư chứng khoán 7

1.1.4 Các yêu cầu đối với nhà quản lý danh mục đầu tư 7

1.1.5 Lý thuyết về sự lựa chọn tài sản đầu tư 8

1.1.5.1 Tiềm lực kinh tế hiện có của nhà đầu tư 8

1.1.5.2 Đo lường rủi ro của danh mục đầu tư………

1.1.5.2 Lợi suất (hay mức lợi tức) kỳ vọng trên một tài sản so với lợi tức mong đợi trên những tài sản khác 10

1.1.5.3 Tính lỏng của tài sản so với những tài sản khác 11

1.1.5.4 Chi phí của việc thu thập thông tin 12

1.1.6 Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản dùng phân tích chứng khoán trong danh mục đầu tư 12

1.1.6.1 Nhóm hệ số khả năng thanh toán 13

1.1.6.2 Nhóm hệ số hoạt động 14

1.1.6.3 Nhóm hệ số nợ của công ty 14

1.1.6.4 Chỉ số P/E 14

1.1.6.5 Chỉ số EPS 15

1.1.6.6 Chỉ số thu nhập Error! Bookmark not defined 1.1.7 Lý thuyết về mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận 15

1.1.8 Lý thuyết đa dạng hoá 15

1.1.9 Lý thuyết thị trường hiệu quả 17

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ MÔ HÌNH LÝ THUYẾT ÁP DỤNG TRONG PHÂN TÍCH DANH MỤC ĐẦU TƯ……… 17

2.1 Mô hình Markowitz 17

2.2 Mô hình CAPM 22

2.2.1 Các đặc tính của mô hình CAPM Error! Bookmark not defined 2.2.2 Ứng dụng của mô hình CAPM 24

2.2.2.1 Phân tích rủi ro của tài sản, danh mục 24

Trang 6

2.3 Mô hình chỉ số đơn SIM Error! Bookmark not defined 2.4 Đường thị trường vốn CML 25 2.5 Đường thị trường chứng khoán (SML)_ biểu diễn hình học của mô hình CAPM 26 2.6 Mối quan hệ giữa CML và SML 27 2.7 Hệ số Bêta 28 CHƯƠNG 3 ÁP DỤNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NA29

3.1 Số liệu 29 3.2 Giới thiệu về công ty niêm yết trong danh mục và phân tích chỉ số tài chính cơ bản của các chứng khoán 29 3.3 Lập danh mục tối ưu Error! Bookmark not defined 3.3.1 Phương pháp tính chuỗi lợi suất Error! Bookmark not defined 3.3.2 Kiểm định tính dừng chuỗi lợi suất của các cổ phiếu Error! Bookmark not

Trang 7

Đa dạng hoá danh mục đầu tư là nhu cầu của người đầu tư có trường hợp giá cảcủa mọi chứng khoán được định giá đúng nhưng mỗi chứng khoán vẫn chứa đựng rủi ro

và những rủi ro này có thể san sẻ cho các chứng khoán khác thông qua việc đa dạng hoádanh mục đầu tư

Khi các nhà đầu đồng thời đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau sự thua lỗcủa một loại chứng khoán chỉ có tác động nhỏ đến toàn bộ danh mục, thậm chí nhiều khi cóthể bù lỗ bằng lợi nhuận thu được từ các chứng khoán khác trong cùng một danh mục đó.Tuy nhiên, việc hạn chế thua lỗ bằng cách đa dạng hoá danh mục đầu tư đổi lại một cái giácủa nó

Do đó đại đa số công chúng đầu tư chọn hình thức đầu tư thứ hai là giảm thiểu hoá thua lỗbằng cách đa dạng hoá đầu tư

1.1 LÝ THUYẾT VÀ DANH MỤC ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

1.1.1 Khái niệm danh mục đầu tư và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán.

Hiểu một cách đơn giản nhất thì danh mục đầu tư là một tập hợp gồm ít nhất hai loạichứng khoán trở lên

Danh mục đầu tư chứng khoán là các khoản đầu tư của một cá nhân hay tổ chức vào việc nắm giữ một hoặc nhiều loại cổ phiếu, trái phiếu, hàng hóa, đầu tư bất động sản, tài sản tương đương tiền hoặc các tài sản khác.

Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán (gọi tắt là quản lý danh mục đầu tư) là việc xây dựngmột danh mục gồm các loại chứng khoán, tài sản đầu tư đáp ứng tốt nhất của chủ đầu tư vàsau đó thực hiện theo dõi điều chỉnh các danh mục này nhằm tối ưu hoá danh mục để đạtđược các mục tiêu đầu tư đề ra

Lập danh mục đầu tư là cho nhà đầu tư quản lý danh mục một cách kiếm lời có hiệu quảnhất, giảm thiểu rủi ro và có thể đạt được lợi nhuận cao nhất có thể

Công ty quản lý danh mục đầu tư (portfolio manager) là công ty chuyên nghiệp chịutrách nhiệm đối với danh mục đầu tư chứng khoán của các cá nhân hay các tổ chức đầu tư và

Trang 8

chứng khoán hoặc tài sản khác Bản chất của nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán

là định lượng mối quan hệ giữa rủi ro và lợi suất kỳ vọng thu được từ danh mục đó

1.1.2 Đặc điểm của danh mục đầu tư chứng khoán

Danh mục đầu tư phụ thuộc vào các yếu tố như trình độ của các nhà đầu tư, tâm lý (engại rủi ro hay không e ngại rủi ro) của mỗi nhà đầu tư, mức thuế suất của từng đối tượngnhà đầu tư, tính chất của từng nhà đầu tư và lứa tuổi của nhà đầu tư…

Trên thực tế các nhà đầu tư có trình độ và lượng tài sản cơ sở khác nhau thì mứcchấp nhận thua lỗ và tâm lý khác nhau Vì vậy các danh mục đầu tư của các nhà đầu tưkhác nhau là khác nhau Các nhà đầu tư quyết định đầu tư phụ thuộc vào rất nhiều yếu tốnhư: Tình hình tài chính của nhà đầu tư, thông tin của các tài sản đầu tư, xu thế chung củathị trường, mức chấp nhận rủi ro của chính nhà đầu tư đó…

Các nhà đầu tư ưa thích rủi ro chấp nhận một mức rủi ro cao nhưng lợi nhuận kỳ vọngcao Ngược lại, các nhà đầu tư e ngại rủi ro thì có mức chấp rủi ro thấp tương ứng với lợinhuận kỳ vọng thấp hơn Các nhà đầu tư ưa thích rủi ro thường đầu tư vào các tài sản có rủi rocao đổi lại tương ứng với lợi nhuận cao như cổ phiếu và Các nhà đầu tư e ngại rủi ro thườngdanh mục sẽ có tỷ trọng các tài sản ít rủi ro cao hơn

1.1.3 Chức năng quản lý danh mục đầu tư chứng khoán.

- Phân tích và xây dựng danh mục đầu tư chứng khoán cho khách hàng bằng cách căn

cứ vào sự lựa chọn ưu tiên của khách hàng để hoạch định chiến lược đầu tư, xây dựng mộtdanh mục đầu tư tối ưu trên cơ sở cân nhắc giữa tỷ suất thu nhập có thể đạt được và những rủi

ro của danh mục

- Điều chỉnh danh mục đầu tư, bằng cách quyết định mua hoặc bán các chứng khoántrong danh mục đầu tư đang nắm giữ cho phù hợp với các điều kiện thay đổi của thị trường

Nhà quản trị danh mục đầu tư không chỉ có trách nhiệm hoạch định chiến lược đầu tư

mà còn phải lựa chọn được danh mục chứng khoán đầu tư có hiệu quả cho khách hàng

1.1.4 Các yêu cầu đối với nhà quản lý danh mục đầu tư

Trong chiến lược quản lý danh mục đầu tư thụ động : Yêu cầu đặt ra đối với các nhàđầu tư là phải thiết lập một danh mục đầu tư sao cho kết quả đầu tư có thể đạt được ngangbằng với chỉ số chuẩn trên thị trường Vì thế việc đánh giá hiệu quả quản lý danh mục đầu tưchính là đánh giá khả năng của nhà quản lý để kết quả danh mục đầu tư luôn bám sát các chỉ

số chuẩn đó

Trang 9

Đối với chiến lược quản lý danh mục đầu tư chủ động Các yêu cầu đặt ra đối với các nhàquản lý danh mục là:

- Khả năng đem lại lợi nhuận trên mức trung bình ứng với mỗi mức độ rủi ro

Đối với các nhà đầu tư, ứng với mỗi mức rủi ro nhất định song lợi suất đầu tư càngcao càng tốt Điều này có thể thực hiện được nhờ khả năng dự đoán thời cơ thị trường hay khảnăng lựa chọn và nắm giữ các loại chứng khoán có lợi nhất

- Khả năng đa dạng hoá danh mục nhằm loại bỏ các rủi ro không hệ thống

Đây là yếu tố thứ hai cần xét đến trong đánh giá hiệu quả quản lý danh mục đầu tư.Khác với rủi ro hệ thống (rủi ro thị trường), rủi ro không hệ thống có thể bị xoá bỏ nếu danhmục đầu tư được đa dạng hoá một cách tối ưu

1.1.5 Lý thuyết về sự lựa chọn tài sản đầu tư

Lựa chọn danh mục đầu tư được dựa trên cơ sở lý thuyết về sự lựa chọn tài sản đầu tư

Lý thuyết này cũng chỉ ra rằng, trước khi quyết định đầu tư các nhà đầu tư thườngxem xét 5 tiêu chí trọng điểm:

- Của cải hay tiềm lực kinh tế hiện có của nhà đầu tư

- Lợi suất (hay mức lợi tức) kỳ vọng trên một tài sản so với lợi tức mong đợi trên nhữngtài sản khác

- Mức độ rủi ro đi liền với lợi tức mong đợi trên những tài sản khác

- Tính lỏng (hay tính lưu chuyển) của một tài sản so với những tài sản khác

1.1.5.1 Tiềm lực kinh tế hiện có của nhà đầu tư

Yếu tố trước hết xác định lượng cầu một tài sản chính là của cải, hay tiềm lực kinh tếhiện có của nhà đầu tư

Mức độ đáp ứng khác nhau của các tài sản đối với các thay đổi về của cải được đo theokhái niệm “độ co giãn của lượng cầu theo của cải”

E(W) = Δ D/ Δ D

Trong đó:

E(W): độ co giãn của lượng cầu theo của cải

Δ D: Tỷ lệ thay đổi về lượng cầu về tài sản (%)

Trang 10

Δ D: Tỷ lệ thay đổi về của cải (%)

Vậy độ co giãn của lượng cầu theo của cải phản ánh cứ 1% thay đổi về của cải thìlượng cầu về một tài sản thay đổi bao nhiêu phần trăm Các tài sản có thể chia làm 2 loạituỳ theo giá trị độ co giãn: các tài sản cần thiết và các tài sản cao cấp

Các tài sản cao cấp là những tài sản khi của cải tăng lên kéo theo sự tăng thêm lượngcầu của tài sản đó

1.1.5.2 Đo lường rủi ro của danh mục đầu tư

- Rủi ro của danh mục đầu tư được đo lường bởi độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư

Khi kết hợp nhiều chứng khoán trong một danh mục đầu tư chứng khoán, lợi nhuận

của các chứng khoán cá biệt có quan hệ với nhau Đồng phương sai (covariance) là đại lượng

thống kê dùng để đo lường mức độ tác động qua lại lẫn nhau giữa tỷsuất lợi nhuận của hai tài sản cá biệt Nói cách khác, độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư phụ thuộc vào mức độ

quan hệ hay mức độ tương quan giữa các chứng khoán trong danh mục đầu tư Độ lệch chuẩncủa danh mục đầu tư được xác định bởi công thức:

σp =p =Trong đó: m là tổng số chứng khoán có trong danh mục đầu tư, Wj là

tỷ trọng của chứng khoán j trong danh mục, Wk là tỷtrọng của chứng khoán k trong danh mục,

j,k là đồng phương sai giữa lợi nhuận của chứng khoán j và k

Đồng phương sai lợi nhuận của hai chứng khoán là chỉ tiêu đo lường mức độ quan hệtuyến tính giữa hai chứng khoán Đồng phương sai được xác định bởi công thức:

σp =j,k = rj,kσp =j σp =kTrong đó rj,k(đôi khi ký hiệu ρj,k) là hệ số tương quan kỳ vọng giữa lợi nhuận củachứng khoán j và chứng khoán k, σp =j là độ lệch chuẩn lợi nhuận của chứng khoán j, và σp =k

là độ lệch chuẩn lợi nhuận của chứng khoán k Khi j = k thì hệ số tương quan rj,k= 1 và rj,k σp =j σp =j

= σp =j2

Cổ phiếu 1 có lợi nhuận kỳ vọng hàng năm là 16% với độ lệch chuẩn 15%.Cổ phiếu 2

có lợi nhuận kỳ vọng là 14% với độ lệch chuẩn là 12% Hệ số tương quan giữa hai cổphiếunày là 0,4 Nếu bạn đầu tư tiền bằng nhau vào hai cổ phiếu này thì tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng

và độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư là bao nhiêu?

Trang 11

Cổphiếu 1 Cổphiếu 2

Cổphiếu 1 W1W1σp =1,1 =

W1W1r1,1

W1W2σp =1,

W1W2r1,2

σp =1σp =1 σp =1σp =2

Cổphiếu 2 W2W1σp =2,1 =

W2W1r2,1

W2W2σp =2,2

=W2W2r2,2σp =2σp =2

σp =2σp =1

Cổ phiếu 1 Cổ phiếu 2Cổphiếu 1 (0,5)(0,5)(1)(0,15)(0,15) (0,5)(0,5)(0,4)(0,15)(0,12)

Cổphiếu 2 (0,5)(0,5)(0,4)(0,12)(0,15) (0,5)(0,5)(1)(0,12)(0,12)

σp =p = [(0,5)(0,5)(1)(0,15)(0,15)] + [(0,5)(0,5)(0,4)(0,15)(0,12)] + [(0,5)(0,5)(0,4)(0,12)(0,15)]+ [(0,5)(0,5)(1)(0,12)(0,12)] = 11,3%

1.1.5.2 Lợi suất (hay mức lợi tức) kỳ vọng trên một tài sản so với lợi tức mong đợi trên những tài sản khác

Lợi suất kỳ vọng trên một tài sản đầu tư là hiệu suất sinh lời mà người đầu tư mongmuốn thu được khi quyết định bỏ vốn đầu tư Khi quyết định hy sinh tiêu dùng hiện tại để đầu

tư vào một tài sản, điều quan tâm trước hết của nhà đầu tư là mức lợi tức kỳ vọng thu đượctrong tương lai của tài sản đó là bao nhiêu Lợi suất kỳ vọng càng cao thì càng hấp dẫn nhàđầu tư

Lợi suất kỳ vọng được xác định theo công thức:

Pi: xác suất của những trường hợp thực hiện

Ri: lợi suất thực hiện

(P i )

Trang 12

Mức độ rủi ro của những tài sản đầu tư

Rủi ro cũng là một yếu tố cần cân nhắc khi quyết định đầu tư vào một loại tài sản khác.Ngoài mức lợi suất kỳ vọng, mức độ rủi ro hoặc không chắc chắn về lợi tức của một tài sản sẽảnh hưởng đến quyết định đầu tư và do đó ảnh hưởng đến lượng cầu về tài sản đó Vì thế cácnhà đầu tư sẽ phải lựa chọn các loại tài sản đầu tư có mức rủi ro nào đó có thể chấp nhận đượcchứ không thể đơn thuần ưu tiên chọn loại tài sản có lợi suất kỳ vọng cao

1.1.5.3 Tính lỏng của tài sản so với những tài sản khác

Tính lỏng của tài sản là khả năng chuyển sang tiền mặt nhanh hay chậm mà không chịucác phí tổn Tính lỏng lớn sẽ giúp cho nhà đầu tư tâm lý ổn định chi tiêu khi rút vốn trongnhững trường hợp cần thiết Các loại chứng khoán như trái phiếu và cổ phiếu có tính lỏng caohơn vì dễ dàng bán đi với chi phí giao dịch thấp.Còn các loại bất động sản và các tài sản khácnhư cổ vật là những tài sản có tính lỏng thấp

1.1.5.4 Chi phí của việc thu thập thông tin

Mọi nhà đầu tư phải tìm mọi cách giảm chi phí cho viêc đánh giá các tài sản đầu tư Chi phíthông tin tăng lên làm cho lợi suất đầu tư giảm xuống

Các loại tài sản như trái phiếu chính phủ, trái phiếu của các tổ chức tài chính lớn, tiềngửi ngân hàng, khoản cho vay đối với chủ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có chi phí thông tin

Trang 13

thấp Còn các cổ phiếu, trái phiếu công ty, các khoản cho vay các cá nhân và tổ chức thườngđòi hỏi chi phí thông tin lớn.

Các tiêu chuẩn lựa chọn tài sản đầu tư có thể mô tả trên bảng sau:

Của cải

Tăng(tỷ lệ thuận)

Người đầu tư có nhiều tiền hơn để lựa chọn

Lợi tức kỳ vọng của tài

sản so với tài sản khác Tăng

Tài sản dễ dàng chuyển thành tiền mặt để ổnđịnh chi tiêu

Chi phí thông tin

Giảm(tỷ lệ nghịch)

Nhà đầu tư mất nhiều tiền để thu lượm và phântích dữ kiện về tài sản

1.1.6 Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản dùng phân tích chứng khoán trong danh mục đầu tư

- Hệ số lợi nhuận cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào như vật tư,lao động trong một chu trình sản xuất của doanh nghiệp

Hệ số tổng lợi nhuận = (Doanh số - Trị giá hàng đã bán tính theo giá mua)/Doanh số bán

- Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết việc sử dụng hợp lý các yếu tố đầu vào trong quátrình sản xuất kinh doanh tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp

Mức lãi hoạt động = Thu nhập trước thuế và lãi / doanh thu

- Hệ số lợi nhuận ròng phản ánh khoản thu nhập ròng (thu nhập sau thuế) của công ty sovới doanh thu của nó

Hệ số lợi nhuận ròng = Lợi nhuận ròng / doanh thu

-Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phầncủa cổ đông

ROE = Lợi nhuận ròng / Vốn cổ đông hay giá trị tài sản ròng hữu hình.

Trang 14

- Hệ số thu nhập trên tổng đầu tư (ROI) được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởngcủa biên lợi nhuận so với doanh thu và tổng tài sản.

ROI = (Thu nhập ròng / Doanh số bán) * (Doanh số bán / Tổng tài sản)

- Hệ số giá trên thu nhập (P/E) là chỉ số phân tích quan trọng trong quyết định đầu tưchứng khoán của nhà đầu tư Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thịtrường của cổ phiếu đó Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price) vàthu nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - PM) và được tính như sau:

P/E = P / EPS

Việc sử dụng hệ số tài chính trong phân tích đầu tư vốn trên thị trường chứng khoán sẽtạo ra chi phí thấp lại hiệu quả cao hơn và cũng đúng ngay cả trên thị trường tiền tệ khi mà cácngân hàng tài trợ vốn cho doanh nghiệp thông qua cấp tín dụng

Việc phân tích các hệ số tài chính bao gồm nhóm các hệ số tài chính sau:

1.1.6.1 Nhóm hệ số khả năng thanh toán

- Hệ số khả năng thanh toán hiện tại là mối quan hệ tương quan giữa tài sản lưu động vàcác khoản nợ ngắn hạn Hệ số này cho thấy mức độ an toàn của công ty trong việc đáp ứngnhu cầu thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, do đó có loeij cho nhà đầu tư

Hệ số khả năng thanh toán hiện tại = Tài sản lưu động / Nợ ngắn hạn.

- Hệ số khả năng thanh toán nhanh là mối tương quan giữa các tài sản lưu động và cáckhoản nợ ngắn hạn Hệ số này đảm bảo khả năng thanh toán nhanh sau khi tài sản đã thanhtoán nhanh sau khi tài sản đã được loại bỏ bởi các hàng tồn kho và tài sản kém tính thanhkhoản

Hệ số khả năng thanh toán nhanh = (Tài sản lưu động – Hàng dự trữ) / Nợ ngắn hạn 1.1.6.2 Nhóm hệ số hoạt động

- Hệ số thu hồi trung bình (bình quân) biểu thị thông qua kỳ thu hồi nợ trung bình củamột công ty, cho biết công ty đó phải mất bao nhiêu lâu để chuyển các khoản phải thu thànhtiền mặt

Kỳ thu hồi nợ trung bình = Các khoản phải thu / (Doanh số bán chịu hàng năm / 360 ngày)

- Hệ số thanh toán trung bình thể hiện thông qua thời hạn thanh toán trung bình, phảnánh mối tương quan giữa các khoản phải trả đối với tiền mua hàng chịu mỗi năm

Thời hạn thanh toán trung bình = Các khoản phải trả / (Tiền mua chịu hàng năm / 360 ngày

Trang 15

- Hệ số hàng lưu kho thể hiện số lượng hàng đã bán trên số hàng còn lưu kho Hệ số nàycho thấy khả năng dùng vốn đầu vào của các hàng hóa luân chuyển cao, tránh được lưu khobởi cả các mặt hàng kém tính linh hoạt.

Hệ số hàng lưu kho = Giá trị hàng đã bán tính theo giá mua / Giá trị hàng hóa lưu kho trung bình.

1.1.6.3 Nhóm hệ số nợ của công ty

- Hệ số nợ hay còn gọi là tỷ lệ trên tài sản cho biết phần trăm tổng tài sản được tài trợbằng nợ Hệ số nợ càng thấp thì hiệu ứng đòn bẩy tài chính càng ít và ngược lại hệ số nợ càngcao thì hiệu ứng đòn bẩy tài chính càng cao

1.1.6.5 Chỉ số EPS

EPS có thể hiểu như sau là một chỉ số nhằm đánh giá bản thân Công ty tạo khả năngsinh lời từ đồng vốn của cổ đông đóng góp Đây là chỉ số đánh giá trực tiếp phản ánh hoàntoàn nội tại của Công ty về khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế (lợi nhuận có thể trả cho các cổđông) trên một cổ phần mà cổ đông góp vốn chứ không từ việc lên hay xuống giá cổ phiếu Công

ty trên thị trường chứng khoán Chỉ số EPS càng cao thì công ty tạo ra lợi nhuận cổ đông cànglớn và ngược lại

1.1.7 Lý thuyết về mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận

Rủi ro được xem là khả năng xuất hiện các khoản thiệt hại về tài chính Những chứngkhoán nào có khả năng xuất hiện những khoản lỗ lớn được xem như có rủi ro cao hơn chứng

Trang 16

khoán có khả năng xuất hiện những khoản lỗ thấp hơn thì rủi ro thấp hơn Vì vậy, rủi ro được

mô tả bằng sự biến đổi của các tỷ suất sinh lợi của chứng khoán đó trong thời kỳ nghiên cứu

Tỷ suất sinh lợi của chứng khoán chịu tác động của rất nhiều nhân tố trên thị trường mangtiềm ẩn rủi ro, những yếu tố này có thể bị triệt tiêu hoàn toàn thông qua việc kết hợp danhmục đầu tư hiệu quả tối ưu của nhiều chứng khoán được gọi là rủi ro không hệ thống, phần lợinhuận mong đợi để bù đắp cho loại rủi ro này chính là phần bù rủi ro chứng khoán

Đại đa số các nhà đầu tư đều là những người ngại rủi ro hay không ưu mạo hiểm

1.1.8 Lý thuyết đa dạng hoá

Quá trình phân tán và tối thiểu hoá rủi ro là một hình thức đa dạng hoá Theo đó, nhàđầu tư nên đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau để tạo thành một danh mục đầu tưsao cho tổng mức rủi ro trên toàn bộ danh mục sẽ được giới hạn ở mức nhỏ nhất

Để đo lường được mức độ rủi ro của chứng khoán, chúng ta dùng độ lệch chuẩn đểđánh giá mức độ biến động của chứng khoán đó Để làm rõ quan điểm đa dạng hóa đầu tưlàm giảm rủi ro ra sao, chúng ta lấy số liệu về độ lệch chuẩn của cổ phiếu các công ty nổitiếng thế giới (từ năm 1973 đến năm 1998), cụ thể như sau:

Cổ phần Độ lệch chuẩn Cổ phần Độ lệch chuẩn

AT&T 22,6 General Electric 18,8

Cocacola 19,7 Mac Donald’s 20,8

Compaq 42,2 Microsoft 29,4

Điều dễ dàng nhận ra ở đây là cổ phiếu của các công ty có độ biến động rất cao, bởi độlệch chuẩn của danh mục thị trường trong giai đoạn này chỉ vào khoảng 14%, trong khi đóhầu hết các cổ phiếu trên đều có độ lệch chuẩn cao hơn rất nhiều

Điều này thể hiện rõ khi ta so sánh độ lệch chuẩn của cổ phiếu với các chỉ số thịtrường tương ứng (Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 1998)

Cổ phiếu Độ lệch chuẩn Chỉ số thị trường Độ lệch chuẩn

Trang 17

Duetche Bank 23,2 Đức 11,3

Nestlé 18,9 Thụy sỹ 14,6

Hudson Bay 26,3 Canada 11,7

Ta có thể thấy được rằng độ lệch chuẩn của các cổ phiếu riêng biệt luôn luôn lớn hơn độ lệchchuẩn của các chỉ số thị trường Vậy một danh mục được thiết lập từ các cổ phiếu riêng biệtnhưng tại sao độ biến động của nó lại không được phản ánh đúng bằng độ biến động bìnhquân của các cổ phần thành phần Lý do được đưa ra ở đây là do tác động của đa dạng hóa đãlàm giảm đi độ biến động

Đa dạng hóa sẽ làm giảm thiểu rủi ro nhanh chóng ở những cổ phần đầu tiên sau đógiảm dần khi số cổ phần tăng lên.Việc giảm thiểu sự biến động của cổ phần được thể hiện rõkhi số lượng cổ phần đủ lớn

Đa dạng hóa phát huy tác dụng làm giảm thiểu rủi ro bởi giá của các cổ phần khácnhau thì không thay đổi giống nhau Thực tế cho thấy hiếm khi giá các cổ phần khác nhau lại

có sự tương quan với nhau về mặt biên động Giá cổ phần của các công ty luôn có sự biếnđộng lên xuống thất thường và đôi khi sự lên giá của cổ phiếu công ty này lại là sự giảm giácủa cổ phần công ty khác.Thông qua đó, chúng ta có thể giảm thiểu rủi ro bằng cách đa dạnghóa đầu tư

Để đánh giá được một cách chính xác tác động của đa dạng hóa đối với việc giảmthiểu rủi ro thi ta cần tính toán được rủi ro của danh mục

1.1.9 Lý thuyết thị trường hiệu quả

Có 3 hình thái của thị trường đạt hiệu quả đó là hình thái yếu, hình thái trung bình cuốicùng là hình thái mạnh

EMH hình thái yếu của thị trường: Trong hình thái này thì giá cả của chứng khoán đã phảnánh đầy đủ và kịp thời những thông tin trong quá khứ về giao dịch của thị trường

EMH cấp trung - hình thái trung bình của thị trường: Trong hình thái trung bình giá cả củachứng khoán đã phản ánh tất cả các thông tin liên quan đến công ty đã được công bố côngkhai bên cạnh các thông tin trong quá khứ

EMH cấp cao - hình thái mạnh của thị trường: Trong hình thái này giá cả của chứng khoánphản ánh tất cả những thông tin cần thiết liên quan đến tổ chức phát hành thậm chí đó lànhững thông tin nội gián, thông tin mật

Trang 18

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ MÔ HÌNH LÝ THUYẾT ÁP DỤNG TRONG PHÂN TÍCH DANH MỤC ĐẦU TƯ

2.1 Mô hình Markowitz

Một tài sản đầu tư hoặc danh mục đầu tư được xem là hiệu quả khi không có bất kỳ tài sản hoặc danh mục đầu tư nào khác cùng mức rủi ro nhưng có tỷ suất lợi tức

kỳ vong cao hơn hoặc có dùng tỷ suất lợi tức kỳ vọng nhưng lại có rủi ro thấp hơn.

Trong đầu tư tài chính, nhà đầu tư luôn tìm cách đạt lợi nhuận cao nhất Harry đã đưa

ra mô hình phân tích ảnh hưởng của các yếu tố thị trường các tài sản tài chính và cho phépgiải bài toán trong trường đầu tư các tài phẩm trong một cặp đầu tư Mô hình xem xét quan

hệ giữa lợi tức tối ưu trung bình và độ rủi ro được đo bằng phương sai của lợi tức vì vậy cóthể gọi mô hình này là mô hình mean-variance

Giả thiết

- Giả thiết các nhà đầu tư là e ngại rủi ro

- Các nhà đầu tư đánh giá rủi ro danh mục dựa vào phương sai của danh mục

- Các nhà đầu tư ra quyết định dựa trên đường biên hữu dụng, đường thể hiện mối tương quangiữa lợi suất kỳ vọng và phương sai của tỷ suất lợi nhuận

- Với cùng một mức rủi ro nhà đầu tư sẽ lựa chọn tài sản (danh mục) có lợi suất kỳ vọng lớnhơn ngược lại với cùng một mức lợi suất kỳ vọng nhà đầu tư sẽ chọn tài sản (Danh mục) córủi ro thấp hơn

Ngày đăng: 18/12/2013, 22:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.3: Đường thị trường vốn CML - THIẾT lập và QUẢN lý DANH mục đầu tư tối ưu TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 2.3 Đường thị trường vốn CML (Trang 26)
Hình 2.5: Biểu thị mối quan hệ giữa CML và SML - THIẾT lập và QUẢN lý DANH mục đầu tư tối ưu TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 2.5 Biểu thị mối quan hệ giữa CML và SML (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w