1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá lợi thế cạnh tranh-giải pháp đối với ngành Công nghệ thông tin Việt Nam

10 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 491,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phân tích từng khía cạnh, các nhân tố liên quan đến lợi thế cạnh tranh ngành Công nghệ thông tin ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.. 3.

Trang 1

TIỂU LUẬN MÔN KINH TỂ VI MÔ

Đề tài : Đánh giá lợi thế cạnh tranh-giải pháp đối với ngành Công nghệ thông tin Việt Nam.

Danh sách các thành viên trong nhóm:

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU 1.Tình hình cấp thiết của đề tài :

- Lợi thế cạnh tranh là yếu tố quan trọng quyết định đến khả năng thành công của các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

- Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, đến nay Việt Nam đang dần thu hẹp khoảng cách về công nghệ với các nước phát triển trên thế giới và

có lợi thế cạnh tranh của Việt Nam

-Tuy nhiên, để duy trì được vị thế của ngành công nghệ thông tin và nâng cao vị thế của các ngành này, còn rất nhiều việc phải làm, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhâp quốc tế

- Nước ta là điểm đến của nhiều hãng công nghệ nước ngoài lớn trên thế giới, như

Samsung, Microsoft… Tuy vậy, sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi sản xuất sản phẩm phần lớn chỉ dừng ở giai đoạn gia công, lắp rắp Chính vì vậy, câu hỏi:

“Đến bao giờ Việt Nam mới có thể tự chủ công nghệ thông tin và cạnh tranh với các công

ty khác ?” được đặt ra trong suốt nhiều năm

- Từ sự nhận thức sâu sắc, cấp bách cả về lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Lợi thế cạnh tranh của ngành công nghệ thông tin ở Việt Nam Nhân tố và giải pháp” làm đề tài của bài tiểu luận

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Bài tiểu luận tập trung vào những mục tiêu chính sau đây:

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về lợi thế cạnh tranh

- Phân tích từng khía cạnh, các nhân tố liên quan đến lợi thế cạnh tranh ngành Công nghệ thông tin ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4

- Đề xuất một số giải pháp vi mô và vĩ mô chủ yếu nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh ngành công nghệ thông tin ở Việt Nam

Trang 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

-Lợi thế cạnh tranh của ngành Công nghệ thông tin của Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

•Phạm vi nội dung: Nghiên cứu, phân tích thực trạng lợi thế cạnh tranh của ngành Công nghệ thông tin ở Việt Nam trong; các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài để nâng cao lợi thế của ngành

4 Phương pháp nghiên cứu:

•Phương pháp định tính

•Phương pháp thống kê

•Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu

•Phương pháp so sánh, đối chiếu

Trang 5

NỘI DUNG PHẦN 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT:

I KHÁI NIỆM LỢI THẾ CẠNH TRANH:

Lợi thế cạnh tranh là những thế mạnh mà doanh nghiệp có hoặc doanh nghiệp khai

thác tốt hơn đối thủ cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh thể hiện khả năng, năng lực cạnh

tranh của doanh nghiệp

Theo M.Porter, doanh nghiệp có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh dựa trên:

- Lợi thế chi phí: Tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ

- Lợi thế khác biệt: Dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tăng giá trị cho khách hàng

hoặc giảm chi phí sử dụng sản phẩm hoặc nâng cao tính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm

II PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ VỀ LỢI THẾ CẠNH TRANH:

Để phân tích các nhân tố cạnh tranh, người ta thương sử dụng mô hình kim cương của Giáo sư Michael Porter của Đại học Harvard.

II.1: Vài nét về Michael Porter:

ảnh

Không những là Giáo sư của đại học Havard Hoa Kỳ, Michael Eugene Porter là nhà tư tưởng chiến lực và là một trong những ‘bộ óc’ quản trị có tầm ảnh hưởng lớn trên toàn thế giới; là chuyên gia hàng đầu về chiến lực và chính sách cạnh tranh của thế giới Ngoài

ra, ông còn là cha đẻ của lý thuyết lợi thế cạnh tranh của các quốc gia

Michael Porter được xem là một trong những Giáo sư lỗi lạc nhất trong lịch sử của Đại học nổi tiếng Havard Những tác phẩm kinh điển được viết bởi ông như “Chiến lược cạnh tranh”(Competitive strategy), “Lợi thế cạnh tranh” (Conpetitive advantage), “Lợi thế cạnh tranh quốc gia”(Competitive advantage of nations) được xem như là những quyển sách không thể thiếu của giới quản trị kinh doanh và các nhà hoạch định chính sách vĩ mô trên khắp thế giới trong suốt 30 năm qua

Trang 6

II.2 Vài nét về mô hình kim cương của Michael Porter:

➢Mô hình kim cương là mô hình được thiết kế để tìm hiểu các quốc gia hoặc nhóm có lợi thế cạnh tranh do các yếu tố có sẵn và giải thích cách mà chính phủ đóng vai trò như chất xúc tác để cải thiện vị trí của một quốc gia trong một môi trường kinh tế cạnh tranh toàn cầu

(Ảnh)

Mô hình kim cương của Porter phân tích 4 yếu tố cơ bản và 2 yếu tố phụ:

 4 yếu tố cơ bản:

 Điều kiện các yếu tố sản xuất ( Factor conditions): Các yếu tố sản xuất chính là

đầu vào của một quá trình sản xuất Việc đánh giá năng lực cạnh tranh theo yếu tố đầu vào được xây dựng từ 5 nhóm đầu vào, đó là: nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn tri thức, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng Mỗi nhóm yếu tố đầu vào này lại bao gồm những yếu tố cụ thể hơn

 Điểu kiện về cầu ( Demand conditions):Ba khía cạnh của cầu trong nước có ảnh

hưởng lớn tới lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp là: bản chất cầu, dung lượng

và mô hình tăng trưởng cầu, cơ chế lan truyền cầu trong nước ra thị trường quốc tế Porter lập luận rằng các công ty của một nước giành được lợi thế cạnh tranh nếu những người tiêu dùng như vậy sẽ tạo ra sức ép nên các công ty trong nước phải sản xuất ra những sản phầm có mẫu mã mới Điều này sẽ làm tăng mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước, khiến cho các doanh nghiệp ngày càng phát triển mạnh và tiên tiến hơn

 Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan( Related and supporting industries):

Các ngành công nghiệp hỗ trợ là những ngành sản xuất cung ứng đầu vào cho chuỗi hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp Trong khi đó, các ngành sản xuấ liên quan là những ngành mà doanh nghiệp có thể phối hợp hoặc chia sẻ các hoạt động thuộc chuỗi hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc những ngành mà sản phẩm chỉ mang tính chất bổ trợ việc chia sẻ hoạt động, thường được diễn ra ở các khâu phát triển kỹ thuật, sản xuất, phân phối, tiếp thị hoặc dịch vụ Lợi thế cạnh tranh của các ngành hỗ trợ và liên quan sẽ tạo ra lợi thế tiềm tàng cho các doanh nghiệp như cung cấp sản phẩm trong thời gian ngắn hơn dự định và với chi phí thấp hơn Ngoài ra, nó còn giúp duy trì các mối hợp tác liên tục, các nhà cung ứng giúp doanh nghiệp nhận thức và tiếp cận phương pháp và cơ hội mới để

áp dụng các công nghệ mới Ngược lại, các doanh nghiệp ở sau sẽ tác động, kiểm chứng, góp y các nỗ lực cải tiến của nhà cung ứng, trao đổi và nghiên cứu để tìm ra các giải pháp nhanh hơn và hiệu quả hơn Và hơn hết, những ngành hỗ trợ là chất

Trang 7

xúc tác giúp truyền tải và chuyển các thông tin và đổi mới từ doanh nghiệp này đến doanh nghiệp khác và điều đó giúp đẩy nhanh tốc độ đổi trong nền kinh tế

 Môi trường cạnh tranh ngành ( firm strategy, structure and rivalry): Cạnh tranh

trong nước có tác động mạnh tới quá trình phát triển, đổi mới và thành công trên thị trường khu vực và quốc tế Những khác biệt về trình độ quản lý và các kĩ năng tổ chức như trình độ học vấn và đích hướng đến của các cán bộ quản lý, sức mạnh động cơ của từng cá nhân, các công cụ ra quyết định, quan hệ với khách hàng, thái

độ với các hoạt động quốc tế, quan hệ giywax người lao động và bộ máy quản lý tạo ra lợi thế hoặc bất lợi thế cho doanh nghiệp

 2 yếu tố phụ

 Chính sách quản lý của Chính phủ( Government): Chính sách của chính phủ là

yếu tố tác động tới cả 4 nhóm yếu tố trên để tạo lợi thế cạnh tranh Chính phủ có thể tác động tích cực bằng cách đưa ra định hướng cụ thể, phù hợp, tạo môi trường pháp lý và kinh tế lành mạnh, điều tiết họa động và phân phối một cách hợp lý và công bằng, kiểm tra kiểm sóa các hoạt động kinh tế theo đúng pháp luật và đúng chính sách được đề ra tạo cơ hội giúp các công ty mới có thể có điều kiện tạo ra sự bất ngờ cho phép đưa vị thế của mình nâng cao cũng như các công ty đã có uy tín tiếp tục nâng cao và khẳng định vị thế của mình không những trong nước mà còn vươn xa trên thị trường quốc tế

 Cơ hội ( Chance): Những cơ hội đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến lợi thế cạnh

tranh như các sự thay đổi không thể lường trước của vè công nghệ; thay đổi về chi phí đầu vào; thay đổi tỷ giá hối đoái; thay đổi về nhu cầu tiêu dùng hàng hóa đó trên thị trường của khách hàng; Các cơ hội rất quan trọng vì chúng tạo ra sự thay đổi bất ngờ cho phép dịch chuyển vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp Chúng

có thể xóa đi lowik thế của các công t thành lập trước đó và tạo ra tiềm năng để các công ty mới có thể khai thác để có được lợi thế đáp ứng những điều kiện mới và khác biệt

PHẦN 2 LỢI THẾ CẠNH TRANH NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở VIỆT NAM:

I)TÌNH HÌNH NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI VIỆT NAM:

Trong năm 2019, ngành công nghiệp Công nghệ thông tin tiếp tục là ngành kinh tế quan trọng của đất nước với doanh thu ước tính đạt 110 tỷ USD, tăng trưởng 9,8% so với năm 2018 Các mặt hàng công nghiệp Công nghệ thông tin, đặc biệt là điện thoại và máy tính trong lĩnh vực phần cứng, điện tử vẫn giữ vững trong danh sách top 10 sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam năm 2019, đưa ngành công nghiệp phần cứng, điện tử

Trang 8

của Việt Nam xuất siêu khoảng 28 tỷ USD Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, 6 tháng đầu năm 2018, tổng doanh thu trong lĩnh vực công nghiệp Công nghệ thông tin ước đạt 1.026.000 tỷ đồng, tăng khoảng 16,15% so với cùng kỳ năm 2017 Trong đó, doanh thu phần cứng ước đạt 912.800 tỷ đồng Lĩnh vực Công nghệ thông tin ước tính nộp ngân sách khoảng 20.000 tỷ đồng Đặc biệt, xuất khẩu Công nghệ thông tin ước đạt 918.384 tỷ đồng, tăng 16,21% so với cùng kỳ năm 2017 Trong đó, phần cứng 884.184 tỷ đồng, phần mềm 34.200 tỷ đồng Hiện, Việt Nam có khoảng 30.000 doanh nghiệp và 4 khu Công nghệ thông tin đã hoạt động

Thông tin từ Tập đoàn FPT mới đây cũng cho biết, 6 tháng đầu năm 2018, khối công nghệ của doanh nghiệp này ghi nhận doanh thu và lợi nhuận đạt lần lượt 5.457 tỷ đồng và

592 tỷ đồng, tăng tương ứng 21% và 31% so với cùng kỳ năm ngoái Trong đó, lĩnh vực xuất khẩu phần mềm ghi nhận doanh thu đạt 3.578 tỷ đồng, tăng 29%, lợi nhuận trước thuế đạt 532 tỷ đồng, tăng 23% so với cùng kỳ 2017

 Ngành Công nghệ thông tin đang trên đà phát triển mạnh tại Việt Nam

(Ảnh cntt)

II.PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ LỢI THẾ CẠNH TRANH NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI VIỆT NAM:

1 Điều kiện các yếu tố sản xuất ngành công nghệ thông tin ở Việt Nam:

Nguồn nhân lực:

Nhân lực công nghệ thông tin Việt Nam là nguồn nhân lực làm việc trong các doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp công nghiệp công nghệ thông tin; nhân lực cho ứng dụng công nghệ thông tin; nhân lực cho đào tạo công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông và người dân sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin Nguồn nhân lực này là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin tại Việt Nam

Hiện nay, ở Việt Nam lực lượng công nhân trí thức chiểm khoảng 10,1% tổng số công nhân, có mặt trong một số ngành, lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ

tự động hóa, công nghệ laser, công nghệ vật liệu mới, công nghệ xây dựng cầu đường, trong đó có ngành công nghệ thông tin với trình độ học vấn, chuyên môn cao; tư duy năng động, sáng tạo; lĩnh vực hoạt động, cơ cấu ngành nghề đa dạng, phong phú

Cơ cấu nhân sự theo trình độ (ảnh)

Trang 9

Ngoài ra, mạng tuyển dụng chuyên ngành công nghệ thông tin ITviec đã công bố kết quả khảo sát quan trọng về tình hình phát triển của các doanh nghiệp ngành Công nghệ thông tin Việt Nam trong năm 2017.Kết quả khảo sát chung cho thấy phần lớn công

ty Công nghệ thông tin đang hoạt động tại Việt Nam nhận định Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để trở thành trung tâm Công nghệ thông tin của khu vực nhờ lực lượng lao động có trình độ giỏi, chi phí nhân công cạnh tranh 81% công ty nước ngoài nhận xét Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào hơn và chi phí nhân công thấp hơn các nước mà họ từng cân nhắc mở văn phòng 75% đánh giá kỹ sư Công nghệ thông tin Việt Nam có trình

độ chuyên môn giỏi hơn kỹ sư Công nghệ thông tin tại các nước mà họ từng cân nhắc mở văn phòng Khảo sát cũng cho thấy các doanh nghiệp nước ngoài cho rằng môi trường đầu tư của ngành Công nghệ thông tin tại Việt Nam đang rất hấp dẫn

Điều kiện và tài nguyên:

Khi chọn địa điểm đầu tư, nhà sản xuất hay những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào

có các điều kiện( đất đai, chính trị) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù như nguồn vốn, máy móc kĩ thuật

 Yếu tố xã hội,chính trị: Dễ dàng nhận thấy rằng, một trong những điểm rất mạnh

của Việt Nam là có một nền chính trị ổn định Các nhà đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước luôn muốn nhà máy, công ty của mình đặt tại một nơi tương đối an toàn, nhắm tránh những tổn thất không mong muốn do bất ổn chính trị gây ra

 Yếu tố tài nguyên: Ngoài ra,với các chính sách thuê đất, thuê mặt bằng hiện nay

của Việt Nam, các nhà đầu tư và các doanh nghiệp sẽ ít ngần ngại hơn trong việc

mở công ty vì giá đất thấp so với các nước trên thế giới, giàu về nguồn tài nguyên đất đai nghiễm nhiên trở thành một lợi thế đáng kể của Việt Nam

 Nguồn vốn: Tuy Việt Nam chưa thể hoàn toàn tự chủ về nguồn vốn đầu tư vào

ngành Công nghệ thông tin, nhưng Việt Nam có những yếu tố thu hút các vốn đầu

tư từ nước ngoài, đặc biệt là Nhật Bản- đất nước đang có số lượng kĩ sư ngành công nghệ thông tin đến từ Việt Nam đứng top 1 Khi đã đủ mạnh trên thị trường khu vực và thế giới, ngành công nghệ thông tin của Việt Nam sẽ đủ sức chủ động vốn

2 Điều kiện cầu:

 Nhu cầu tiêu dùng của khách hàng cả trong và ngoài nước đều phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn như giá cả, chất lượng, dịch vụ, ưu đãi,

Trang 10

 Khách hàng ngày càng có hành vi tiêu dùng, phức tạp và tinh vi, đặc biệt là ngành Công nghệ thông tin đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực đổi mới, đưa ra thị trường các sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng cao mới có thể đứng vững trên thị trường và làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường công nghệ không những của Việt Nam và thị trường quốc tế

 Ngoài ra, đối với ngành Công nghệ thông tin, khi mà cuộc cách mạng thông tin nhảy số liên tục, thì các danh nghiệp cần tăng cường khảo sát thị trường, tìm hiểu nhu cầu của khách hàng cá nhân và cả những khách hàng từ doanh nghiệp khác để

có thể đưa ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng

Ta có thể thấy, khi người tiêu dùng ủng hộ sản phẩm công nghệ Việt sẽ tạo ra thị trường tiêu thụ sản phẩm, từ đó thúc đẩy doanh nghiệp phải liên tục đầu tư nghiên cứu, đổi mới, sáng tạo để sản xuất ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Thành công với thị trường nội địa sẽ là bàn đạp để doanh nghiệp công nghệ tiếp tục chinh phục thị trường nước ngoài Ông Nguyễn Tử Quảng khẳng định “Nếu thay đổi định kiến, trong 10 năm tới Việt Nam có thể phát triển bùng nổ, và trong 15 năm tiếp theo có thể trở thành cường quốc về công nghệ” Ta có thể thấy ở thời điểm hiện tại, đã

có nhiều tập đoàn Công nghệ thông tin phát triển mạnh như FPT, Viettel,

3.Các ngành công nghiệp hỗ trợ liên quan

Công nghệ hỗ trợ là ngành cung ứng các sản phẩm, linh kiện để lắp ráp vào một sản phẩm hoàn chỉnh nên cần độ chính xác, chất lượng cao

Việt Nam đang có nguồn nhân lực lao động ngành công nghiệp hỗ trợ liên quan dồi dào

Ngày đăng: 16/07/2021, 13:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w