3.2- Kết quả phân tích một số chỉ tiêu thuỷ lý- thuỷ hoá của đầm.3.3- Thành phần loài và số lợng tảo silic trong mối quan hệ với môitrờng sống.. Ngời ta đã dùng vi tảo nh là một biệnpháp
Trang 1Lời cảm ơn
Trong quá trình hoàn thành đề tài này, ngoài sự học tập và nổ lực của bản thân, tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo : TS Nguyễn Đình San, thầy đã tận tình giúp đỡ tôi tận tình trong suốt thời gian qua.
Ngoài ra tôi còn nhận đợc sự giúp đỡ của thầy giáo Th.S Mai Văn Chung, các thầy giáo , cô giáo,cán bộ , kỹ thuật viên phòng thí nghiệm bộ môn sinh lý-sinh hoá và phòng thí nghiệm thực vật.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Tác giả.
Mục lục
Mở đầu
Chơng I: Tổng quan tài liệu
1.1- Tình hình nghiên cứu tảo silic trên thế giới và ở Việt Nam
1.2- Vai trò của các yếu tố sinh thái, ảnh hởng đến sinh trởng và pháttriển của tảo
Chơng II: Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu
2.1- Đối tợng và địa điểm nghiên cứu
Trang 22.2- Phơng pháp nghiên cứu.
Chơng III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1- Một vài đặc điểm về địa điểm nghiên cứu
3.2- Kết quả phân tích một số chỉ tiêu thuỷ lý- thuỷ hoá của đầm.3.3- Thành phần loài và số lợng tảo silic trong mối quan hệ với môitrờng sống
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 3Mở đầu
Vi tảo ( micro – algae ) là những cơ thể thuộc các tế bào tự dỡng, đã
từ lâu có ý nghĩa lớn trong nền kinh tế quốc dân, vì thế đã thu hút đợc sựquan tâm của nhiều nhà khoa học Ngời ta đã dùng vi tảo nh là một biệnpháp sinh học chống ô nhiễm môi trờng nớc, bởi lẽ chúng có khả năng làmtăng hàm lợng ôxi trong nớc đồng thời sử dụng các chất gây ô nhiễm đểdinh dỡng hoặc tiết ra các chất hạn chế sự phát triển của các loài vi sinh vậtgây bệnh trong nớc Ngoài ra vi tảo cùng với các sản phẩm có hoạt tính sinhhọc của chúng đã đợc sử dụng rộng rãi trong các nghành y học, chăn nuôi
và trồng trọt……
Tảo Silic ( Bacillariophyta ) là một nghành thực vật bậc thấp, cơ thể
có cấu trúc đơn bào có khả năng quang hợp, chúng sống đơn độc hoặc sốngthành tập đoàn thành phần loài tảo Silic rất phong phú, trên thế giới cókhoảng 10.000 loài hiện sống, thuộc 300 chi Chúng phân bố khắp nơi, gặptrong đất, đá ẩm, băng tuyết, trong các loại hình thuỷ vực, từ vùng khí hậuhàn đới đến khí hậu nhiệt đới
Tảo Silic phù du là thành phần chính của thực vật phù du nớc, nhất là
ở biển Là mắt xích đầu tiên của mạng lới dinh dỡng, chúng là một trongnhững sinh vật sản xuất quan trọng bậc nhất trong hệ sinh thái nớc Nhiềuloài động vật phù du, ấu trùng, động vật thân mềm ăn lọc, các loài cá bột và
ở nhiều loài cá trởng thành đã sử dụng trực tiếp hay gián tiếp tảo Silic phù
du nh là một nguồn thc ăn cần thiết, không thể thay thế
Tảo sillic không những chiếm u thế về thành phần loài trong thực vậtphù du ở biển mà còn đứng đầu về số lợng và sinh vật lợng, thờng khoảng
60 – 70 % đặc biệt ở vùng ven bờ tảo Silic luôn chiếm vị trí tuyệt đối ( cónơi tới 84% về số loài, 99% về sinh vật lợng ) [1] Tảo Silic không phải là
đối tợng có giá trị kinh tế có thể khai thác phục vụ cho đời sống con ngời,nhng nếu thiếu chúng sẽ ảnh hởng không nhỏ tới sự sinh trởng, phát triểncủa nguồn lợi hải sản Trong môi trờng nớc, các yếu tố của môi trờng sống
ảnh hởng sâu sắc tới sự biến động thành phần loài cũng nh sự phân bố củachúng
Tảo Silic có ý nghĩa lớn đối với nghề nuôi trồng thuỷ sản đặc biệt lànuôi tôm.Tuy vậy các công trình nghiên cứu về tảo Silic ở nớc ta cha đợcquan tâm nhiều, đặc biệt trong các đầm nuôi tôm thì càng ít ỏi Để có thể
Trang 4tìm hiểu về tảo Sillic và ảnh hởng của điều kiện môi trờng lên sự phân bốcủa chúng trong các đầm nuôi tôm, chúng tôi đã tiến hành đề tài: “ Tìmhiểu chất lợng nớc và tảo Silic ( Bacillariophyta ) tại một số đầm nuôi tôm ởXã Hng Hoà - Thành Phố Vinh – Tỉnh Nghệ An ”.
Đề tài nhằm mục đích điều tra thành phần loài tảo Silic và mối quan
hệ với chất lợng nớc trong đầm nuôi tôm qua đó góp thêm dẫn luận về tảosiic và bớc đầu làm quen với phơng pháp nghiên cứu khoa học
Nội dung của đề tài bao gồm:
Xác định một số chỉ tiêu thuỷ lý thuỷ hoá trong đầm nuôi tôm ở Xã H
-ng Hoà
- Điều tra thành phần loài và số lợng tảo silic tại điểm nuôi tôm
- Xác định mối quan hệ giữa chất lợng nớc với thành phần loài và số ợng tảo silic
Trang 5l-Chơng I
Tổng quan tài liệu
1.1 Tình hình nghiên cứu tảo Silic trên thế giới và ở Việt Nam.
Thực vật phù du nói chung và tảo Silic nói riêng là mồi ăn của độngvật phù du, các loại ấu trùng các loại thân mềm ăn lọc, các loài cá bột vàmột số loài cá trởng thành Chúng là mắt xích rất quan trọng trong chuỗithức ăn của động vật thuỷ sinh Vì vậy năng suất sinh học của quần xã sinhvật thuỷ sinh phụ thuộc vào mức độ phát triển của chúng
Trong thực vật phù du, tảo Silic thờng chiếm khoảng 60% - 70% về
số lợng loài cũng nh sinh vật lợng, nhất là ở vùng ven bờ chúng luôn chiếm
u thế tuyệt đối, có nơi tới 84% về số loài và 99% về sinh vật lợng Tình hìnhphân bố của tảo Silic thờng phản ánh khá đầy đủ xu thế chung của toàn bộthực vật phù du và chính là do chúng chi phối Những đỉnh cao về sinh vậtlợng trong biến đổi theo mùa của thực vật phù du cũng nh những vùng cómức độ tập trung cao hoặc có hiện tợng “ nở hoa ” hầu hết đều do các loàitảo Silic sinh sản mạnh tạo nên, do đó tảo Silic có vai trò hết sức quan trọngtrong thực vật phù du
Việc nghiên cứu vi tảo nói chung, tảo Silic nói riêng đã có từ lâu, gắnliền với sự ra đời của kính hiển vi quang học cũng nh việc nhà tự nhiên họcngời Anh R Hooke tìm thấy tế bào năm 1665 Tuỳ thuộc vào mức độ hoànchỉnh của các thiết bị nghiên cứu, việc nghiên cứu vi tảo đợc thực hiện theonhiều hớng khác nhau Trớc hết là điều tra phân loại và tìm hiểu quy luậtphân bố của chúng; sau đó đi sâu nghiên cứu bản chất của các quá trìnhtrao đổi chất trong cơ thể tảo và cuối cùng là những nghiên cứu ứng dụngnhằm phục vụ lợi ích con ngời
Nghiên cứu phân loại tảo Silic đợc tiến hành rất sớm, từ những thậpniên đầu của thế kỷ XIX, với công trình đầu tiên là “ Systema Algarun ”củaAgardh C.A năm 1824 Sau đó, Ehrenberg C G., Kutzing F T., Smith W.,Ralfs J đã công bố nhiều hệ thống phân loại tảo Silic Cơ sở phân loại củacác tác giả còn đơn giản, chỉ mới dựa vào số lợng thể sắc tố và có rãnh dàihay không để làm căn cứ để phân loại [12] Sau đó, hệ thống phân loại tảoSilic đợc Kastern G (1928), Kokubo S (1955), Kim Đức Tờng (1965)…
bổ sung ngày càng hoàn chỉnh, hợp lý và mang tính tự nhiên cao Riêng
Trang 6Ingran N (1964) đã trình bày một hệ thống khác hẳn với quan điểm củanhiều tác giả nghiên cứu trớc đó (Trơng Ngọc An – 1993, [1]).
Do sự phát triển chung của khoa học, nên cũng nh các nghành tảokhác, những tri thức về tảo Silic ngày càng phong phú Chúng đã đợcnghiên cứu theo nhiều hớng sinh thái khác nhau: Tảo nớc ngọt, tảo biển, tảo
đất, tảo bì sinh, tảo sống trên băng tuyết…… Đã có rất nhiều công trìnhnghiên cứu theo các hớng trên, đặc biệt là sự ra đời của một số công trìnhphục vụ cho việc điều tra phân loại của Zabelina M M và cộng sự (1951),Topashevski và cộng sự (1960)
Theo hớng nghiên cứu về tảo phù du biển, Cupp E E (1943) điều tranghiên cứu thành phần loài tảo Silic ven bờ khu vực Bắc Mỹ; Crossby vàCassie (1959) nghiên cứu tảo Silic ở Oxtraylia và Niu Di Lân hay Sournia
A (1968) khảo sát tảo Silic phù du ở vùng ven bờ Mô - Zăm – Bic (TheoSimonsen R – 1974,[21]) Đáng chú ý hơn cả là những công trình điềutra, khảo sát tảo Silic trên các vùng biển thuộc Ân Độ Dơng mà Kastern G
là ngời đầu tiên thực hiện vào năm 1907 Về sau, vào những năm
1964-1965 một số nhà khoa học đã nghiên cứu đối tợng này tại 103 điểm , trong
đó có 1 khu vực mà Kastern G đã quan tâm 60 năm trớc Kết quả đợcReimer Simonsen (1974) tổng hợp trong “ The Diatoms plankton of TheIndia Ocean ”[21] mô tả 247 taxon loài và dới loài thuộc 80 chi, trong đó
có 15 loài, 1 thứ và 3 chi đợc coi là mới đối với khoa học
Cùng thời gian đó, Hasle G R (1965) đã nghiên cứu sâu về mô tả và
so sánh chi tiết 15 taxon loài và dới loài tảo Silic phù du thuộc chi Nitzschia
từ những mẫu thu vớt đợc trong khu vực Bắc Đại Tây Dơng [22] Đây làmột trong những công trình có giá trị khảo cứu về hình thái - so sánh
Tảo Silic phù du ở những vùng biển gần với biển Đông nh biển NhậtBản, Philippin, Indonexia… đều đợc nghiên cứu kỹ từ khá sớm Allen W.E., Cupp E.E (1935) đã khảo sát, đánh giá nguồn lợi tảo Silic phù du biểnJava (Indonexia), KuKubo A (1955) đã mô tả trong cuốn “Tảo Silic phùdu” 370 taxon loài và dới loài tảo Silic trong biển, ao hồ Nhật Bản Năm
1965, Kim Đức Tờng và cộng sự xuất bản cuốn “Trung Quốc hải dơng phù
du Khuê tảo học”, giới thiệu 228 taxon loài và dới loài tảo Silic trong vùnglãnh hải Trung Hoa (Theo Trơng Ngọc An- 1993 [1])
Trang 7Ơ? Việt Nam, năm 1904, 38 loài tảo Silic phù du lần đầu tiên đợcBois M D và Petit D giới thiệu trong báo cáo kết quả điều tra sinh vật nổitrong một số ao hồ ở Sài Gòn [1].
Bên cạnh những công trình còn mang tính điều tra cơ bản đó trongnhững năm gần đõy việc nghiên cú ứng dụng vi tảo vào thực tiễn sản xuất
và đời sống đang đợc sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Năm 1991, cốGS- TS Nguyễn Hữu Thớc cùng tập thể cán bộ trung tâm nghiên cứu quanghợp và cố định đạm đã nghiên cứu sử dụng tảo Spirulina platensis phục vụdinh dỡng, đồng thời thăm dò tác dụng của tảo đối với tia phóng xạ [23]
ở miền Nam Việt Nam, Hoàng Quốc Trơng (1962 – 1963 ) đã pháthiện 154 taxon tảo Silic ở Vịnh Nha Trang, Shirota A (1966) đã khảo sát 21vực nớc từ Huế đến Rạch Giá và phát hiện đợc 388 loài và dói loài, trong đó
có 103 loài tảo Silic[25] Gần đõy (1985) Nguyễn Thanh Tùng cùng vớiNguyễn Thị Ngon cho ra đời cuốn sách: “Thực vật đảo Phú Quốc” trong đómô tả 70 loài và dới loài, gồm có 15 loài tảo Silic
Ơ? miền Bắc, trong lĩnh vực nghiên cứu tảo nớc ngọt phải nói rằngNguyễn Văn Tuyên là ngời có đóng góp tích cực năm 1980 với công trìnhnghiên cứu khu hệ tảo nớc ngọt ở miền Bắc, ông đã công bố 979 loài và dớiloài, trong đó có 260 loài tảo Silic[26] Tiếp đó công trình của Dơng ĐứcTiến (1982) nghiên cứu về khu hệ tảo các thuỷ vực nội địa Việt Nam tác giả
đã công bố 1402 loài và dới loài trong đó có 388 loài tảo Silic[27]
Công trình của Dơng Đức Tiến (1983) đã nghiên cứu khu hệ tảo thuỷvực nớc ngọt ở Việt Nam một cách khá đầy đủ, với 1403 loài vi tảo đã đợcxác định, trong đó có 387 loài tảo Silic [16] cũng theo hớng này ở MiềnTrung, Võ Hành (1983) nghiên cứu khu hệ thực vât nổi Hồ Kẻ Gỗ (HàTĩnh) đã công bố 191 loài vi tảo trong đó có 66 loài tảo Silic [5]
Dựa vào nguồn tài liệu trớc đó rất phong phú, có GS- PTS TrơngNgọc An đã mô tả 225 loài tảo Silic phu du gặp ở biển Việt Nam, chúngthuộc 2 bộ, 18 họ và 60 chi [1]
Những công trình nghiên cứu với những kết quả có giá trị đó lànguồn động lực để mở rộng các hớng nghiên cứu mới nhằm khai thác lợiích của tảo đồng thời góp phần đề ra phơng hớng phát triển mới cho côngtác nghiên cứu tảo ở nớc ta, đa sinh học thực nghiệm ngày càng đi sâu vàothực tiễn và đời sống
Trang 81.2.Vai trò của một số yếu tố sinh thái ảnh hởng đến sự sinh ởng và phát triển của tảo.
tr-Trong quá trình sinh trưởng, phát triển cũng nh mọi cơ thể sinh vậtkhác, vi tảo có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố môi trờng nh: Nhiệt độ,
ánh sáng, độ pH, độ mặn(S%0), lợng ôxy hoà tan, các muối dinh dỡng(NO3-, PO43-…) hàm lợng SiO32-, Fe2+, Fe3+…
Trong môi trờng nớc tự nhiên hàm lợng N và P có dạng vết (NH4+-Nxấp xỉ bằng 0,05 mg/l, PO43- < 0,01 mg/l) Theo Sawyer (1917) nồng độ Ptrên 0,015 mg/l và nồng độ N trên 0,3 mg/l là đủ gây hiện tợng nở hoa củatảo
So với đất trồng trên cạn, nớc thờng chứa lợng muối dinh dỡng thấphơn nhiều và vì thế không thể đảm bảo cho vi tảo tồn tại trong thời gian dài.Tuy nhiên các muối dinh dỡng thờng đợc bổ sung do sự chết và phân huỷcuả sinh vật nớc Theo HS Konstantinop (1967) sau khi vi tảo chết, chúng
bị phân huỷ và 20 – 25% phốtpho dạng vô cơ, 30 – 40% dạng hữu cơ đợcgia nhập vào nớc [20 ]
Vi tảo có sự biến động về số lợng Sự biến đổi tuần tự của chế độ ánhsáng, chế độ nhiệt gây nên tính chu kỳ của sự biến động Mùa Xuân đợc
đặc trng bởi sự phát triển mạnh mẽ của tảo tạo nên đỉnh sinh vật lợng.Trong thời kỳ này, tảo có yêu cầu cao về hàm lợng muối dinh dỡng Do gặp
điều kiện thuận lợi mà một số loài vi tảo sinh sản nhanh vợt bậc, gây nênhiện tợng nở hoa (Waterbloom) của nớc Mỗi loài vi tảo tạo nên một màukhác nhau của hoa nớc Tảo lục màu xanh, tảo mắt tạo màu nâu đỏ, tảo Silictạo màu vàng nhạt… Sang mùa Hạ, độ chiếu sáng cực đại, nhiệt độ nớctăng, hàm lợng muối dinh dỡng giảm làm cho nhu cầu đinh dỡng của tảogiảm đi sinh trởng và phát triển chậm lại Khi nhiệt độ nớc ở mức cao nhấtgiảm xuống, cờng độ bức xạ giảm, lợng muối dinh dỡng bắt đầu tăng lên là
đặc điểm của thuỷvực khi chuyển sang mùa Thu đặc điểm đó phù hợp chocác loài tảo rộng nhiệt, hàm lợng muối hoà tan tăng cao đa tảo vào trạngthái nghỉ ngơi hoặc phát triển yếu (Trần Văn Vỹ, 1995)[20]
Nhiệt độ không những là nguyên nhân chủ yếu gây ra biến động số ợng của vi tảo theo mùa mà còn gây ra sự thay đổi về thành phần củachúng Sự ảnh hởng trực tiếp của nhiệt độ lên quá trình sinh trởng, phát
Trang 9l-triển của tảo hình thành nên các loài rộng nhiệt - hẹp nhiệt, loài cao nhiệt– thấp nhiệt.
ánh sáng cũng là một yếu tố sinh thái quan trọng đối với vi tảo sựtăng về thời lợng chiếu sáng thích hợp làm tăng số lợng vi tảo
Cùng với ánh sáng , CO2 có tác dụng quyết định đến hoạt động quanghợp, còn O2 trong thuỷ vực liên quan đến quá trình trao đổi chất và quyết
định sự phân bố của vi tảo Ngoài ra, toàn bộ quá trình sinh trởng, pháttriển, tử vong của vi tảo cũng bị ảnh hởng rõ rệt bởi sự biến động của hàm l-ợng muối dinh dỡng hoà tan trong nớc (N, P, Si…) Cũng nh độ pH, độtrong, sự chuyển động của dòng nớc
Theo Fogg (1952), tảo hấp thụ NH4+ nhanh hơn so với NO3- vì vậy,nếu trong môi trờng cùng một lúc có NH4+ và N3O- thì NH4+ sẽ đợc vi tảohấp thụ trớc tiên Kết quả nghiên cứu Guxeva (1952), cho thấy nhu cầu Nlớn nhất là tảo lục, thứ đến là tảo lam, sau cùng là tảo Silic (Fogg G.E,1952)[28,29]
Với P, việc nghiên cứu mức độ ảnh hỏng của nó lên sự sinh trởng,phát triển của vi tảo trong điều kiện tự nhiên rất khó khăn vì hầu nh quanhnăm, hàm lợng của nguyên tố này trong thuỷ vực có giá trị số rất nhỏ (theoRadin, 1950; Gesner 1959) Điều này, theo các tác giả có lẽ liên quan đến
sự hấp thụ của tảo đối với nguyên tố này là rất nhanh Trong các thuỷ vựcnớc ngọt vùng trung Á hàm lợng P tổng số giao động từ 0,02 đến 0,58 mg/ltrong lúc đó đạm tổng số đạt tới 6,2 mg/l (Ergashev A A 1981)[30] Vaitrò sinh lý của Fe đối với tảo rất lớn, đặc biệt là tảo lam cố định đạm bởi Fe
2+ và Fe 3+ là thành phần của Xitocrom, của Feredoxin cần cho quá trìnhquang hợp và cố định Nitơ khí quyển Cũng nh đối với P, việc xem xét độ
ảnh hởng của Fe lên tảo gặp nhiều khó khăn, phức tạp bởi nguyên tố này ờng xuyên thay đổi hoá trị và tham gia vào các phức chất với các chất hữucơ có trong môi trờng nớc Hàm lợng Fe tổng số ở thuỷ vực dao động từ0,44 đến 2,5 mg/l (Nguyễn Đình Chất) [2 ]
th-Đáng chú ý là để tồn tại và phát triển, tảo Silic không thể thiếu vắngSiO32-, vì trên 80% trọng lợng của vỏ tảo đợc hình thành từ SiO2 Điều lý thú
là hàm lợng SiO32- trong nớc trên phạm vi toàn cầu chênh lệch nhau khôngnhiều Ví dụ: ở Nhật Bản hàm lợng SiO32- tối đa là 10,9 mg/l ở Trung Á là10,3 mg/l[30] ở Hồ Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh) tối đa là 11,7 mg/l [2 ] theo Guxeva
Trang 10(1975) vµ Ergashev (1981) th× sù ph¸t triÓn cña t¶o Silic cã mèi quan hÖchÆt chÏ, tØ lÖ thuËn víi hµm lîng SiO32- trong thuû vùc.
Trang 11Chơng II
Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu.
2.1 Đối tợng và địa điểm nghiên cứu:
- Đối tợng nghiên cứu của đề tài: là một số chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá và
thành phần loài thuộc nghành tảo Silic (Bacillariophyta) ở đầm nuôi tôm xãHng Hoà Thành Phố Vinh Nghệ An
- Địa điểm: mẫu đợc thu ở 3 địa điểm tại xã Hng Hoà- TPVinh
+ Địa điểm 1: Phía ngoài đầm -nguồn cấp nớc(thu mẫu tại 1 điểm)
+ Địa điểm 2: Đầm nuôi Tôm 1(thu mẫu tại 1 điểm)
+ Địa điểm 3: Đầm nuôi Tôm 2(thu mẫu tại 2 điểm(bờ bắc-bờ nam)
- Mẫu đợc thu vào 2 đợt:
+ Đợt I: tháng 10 năm 2003
+ Đợt II: tháng 2 năm 2004
2.2 Phơng pháp nghiên cứu:
2.2.1 Thu mẫu:
2.2.1.1 Thu mẫu tảo:
Mẫu tảo định tính, định lợng đợc thu theo phơng pháp chuẩn thu mẫusinh vật phù du (phytoplankton) bằng lói vợt thực vật nổi No 75 Mẫu đợc
cố định bằng dung dịch Phormon 4% Đối với mẫu tảo định lợng thì lấy 10lít nớc tầng mặt lọc qua lới vợt thực vật nổi còn đối với mẫu tảo định tínhthì vớt khoảng 100 lần
Để xác định chỉ tiêu thuỷ lý thuỷ hoá chúng tôi dựa vào tài liệu:
“Standar methods for examination of Water and waste water” của hội sứckhoẻ Mỹ xuất bản lần thứ 16,(1985)[31] và tham khảo thêm tài liệu: “Hớngdẫn phân tích thuỷ lý thuỷ hoá” của cục khí tợng thuỷ văn, 1979[32]
Trang 12- Đo độ sâu, độ trong bằng đĩa Secchi tại hiện trờng.
- Đo độ pH tại hiện trờng bằng máy Watertest
- Oxy hoà tan (DO –Dissolved oxygen ) đợc xác định bằng
ph-ơng pháp Winkler (mẫu cố định tại chỗ)
Để xác định đợc các loài vi tảo chúng tôi sử dụng khoá định loại củaN.M.Zabelina và cộng sự{34}, tài liệu tham khảo của Trơng Ngọc An để
có trong ô lớn là m, ta có số lợng tế bào trong 1 ml nớc là: m.104
Trong 1l nớc có : m.104.103 tế bào Khi thu mẫu ta lọc 10l thành50ml có nghĩa là cô đặc 200 lần (2.102 ) bởi vậy số lợng tảo có trong 1l nớcmẫu ban đầu là:
Trang 13) / ( 10 2 ) / ( 10
m l tb
m
Trong đó: n: Số tế bào có trong 1l nớc
m: Số lợng tế bào đếm đợc trên buồng đếm Goriarev
n
X Xi
Trang 14Chơng III
Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
3.1 Một vài đặc điểm về địa hình nghiên cứu.
Xã Hng Hoà là một xã có sự giao lu giữa 2 dòng nớc ngọt của SôngLam và nớc mặn của Cửa Hội Hng Hoà là một xã có địa hình, điều kiệnkhí hậu, thuỷ văn môi trờng sinh thái thuận lợi cho sự phát triển nghề nuôitrồng thuỷ sản đặc biệt là nuôi tôm
Hiện nay xã đã có gần 100 ha đang nuôi tôm nhng tiềm năng của có
là rất lớn có thể mở rộng để khai thác Trớc đây xã Hng hoà sống chủ yếubằng nghề nông nghiệp, đánh bắt hải sản, nhng vài năm trở lại đây do sựquan tâm của nhà nớc mà ngời dân ở đây đợc sự quan tâm của các nhà khoahọc, học hỏi kinh nghiệm và mạnh dạn vay vốn đầu t nuôi tôm Với gần
100 ha thì ở đây mới chỉ đang nuôi một mình tôm
Các đầm ở xã Hng Hoà là sự giao hoà giữa 2 chế độ nớc ngọt và nớcmặn Vào mùa hè, mùa thu ma nhiều nớc từ thợng nguồn đổ về đã bổ sungcác mùn vã hữu cơ tăng nguồn dinh dỡng cho thuỷ vực, độ muối S0/00 thấp.Mùa đông, mùa xuân nớc của đầm có độ muối cao do ảnh hởng của nớcbiển lại thêm không có ma nên nớc bị mặn hoá Nớc đầm có sự thay đổi độmuối, vào mùa ma có thể xuống thấp 00/00, vào mùa xuân độ muối lại lên rấtcao 200/00, trung bình là 8 – 100/00
Mặc dù có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nuôi trồng thuỷ sảnnhng do trình độ của ngời dân đang còn thấp, sự quy hoạch và đầu t vào
đầm đang còn đơn sơ, mạnh ai nấy làm nên thiếu sự đồng bộ, đó là nguyênnhân dẫn đến hiệu quả kinh tế ở đây cha thật sự phát huy hết tiềm năng sẵn
có của nó
3.2 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu thuỷ lý – thuỷ hoá của
đầm.
Sau 2 đợt thu mẫu và phân tích các chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá của đầm
ở Hng Hoà, chúng tôi thu đợc kết quả đợc trình bày ở bảng 1
3.2.1 : Độ pH:
Trang 15Độ pH là chỉ số cho biết quá trình và chiều sinh học và hoá học xẩy
ra trong thuỷ vực nó là yếu tố giới hạn sự phân bố của các loài thuỷ sinhvật Trong đợt I: pH dao động từ 6,8 – 7,2, đợt II từ 7,1 - 7,5
Nói chung pH trong các điểm nghiên cứu dao động xung quanhkhoảng trung tính và chênh lệch nhau không nhiều.Sự ổn định về pH là điềukiện thuận lợi cho sự sinh trởng và phát triển của nhiều loài thuỷ sinh vậttrong đó có tảo Silic
(Tiêu chuẩn cho phép của MTVN-TCVN.5943- 1995 là pH=6,5 –8,5)[34]
3.2.2 Độ mặn (S 0 / 00 ):
Độ mặn rất quan trọng cho các đầm bởi vì nó quyết định sự phân bốcủa các loài tảo ở trong đó
Đợt I: Độ mặn là 00/00 do các đầm đợc ngọt hoá bởi chúng nhận cácnguồn nớc ma nớc nguồn đổ về
Trong thời gian này ma nhiều độ mặn ở sông Lam cũng xuống rấtthấp
Đợt II: Độ mặn đạt đến 200/00 vì thời gian này rất ít ma
Độ mặn ở sông Lam cũng lên caovà nguồn cấp nớc cho các đầmnuôi tôm là nớc sông Lam, do ảnh hởng của thuỷ triều nên nớc biển lên đổvào sông Lam nên đã làm tăng độ mặn của các đầm nuôi tôm
3.2.3 Độ trong – Nhiệt độ:
Nớc là môi trờng truyền ánh sáng, nó liên quan đến quá trình quanghợp của tảo nớc càng trong thì ánh sáng càng xuyên sâu tạo điều kiện chotảo quang hợp
Trang 16Bảng 1 :Một số chỉ tiêu thuỷ lý- thuỷ hoá ở các địa điểm nghiên cứu
Đợt I(10/2003) và đợt II(2/2004)
1995(TCC
5943-P đối với NTTS)
ĐợtI
ĐợtII
ĐợtI
ĐợtII
ĐợtI
ĐợtII
ĐợtI
ĐợtII
Trang 17Qua kết quả phân tích chúng tôi thấy rằng, hầu hết tại tất cả các điểmnghiên cứu thì đều nhìn thấy đáy do nớc cạn, chỉ có một điểm ngoài đầm làhơi đục có độ trong là 53 cm.
Nhiệt độ nớc phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện môi trờng Nhiệt độmôi trờng cao thì nhiệt độ nớc tăng lên và ngợc lại, điều này tỷ lệ thuận vớicờng độ ánh sáng
Đợt I : Nhiệt độ nớc dao động từ 26,5 – 30,3 0C
Đợt II : Nhiệt độ nớc dao động từ 19,9 – 20,8 0C
Nhiệt độ nớc và nhiệt độ không khí chênh lệch nhau không đáng kể.Giữa hai đợt thu mẫu nhiệt độ nớc chênh lệch 5,6 – 9,5oC
3.2.4 Oxy hoà tan (DO).
DO là thông số rất quan trọng để đánh giá mức độ ô nhiễm củanguồn nớc Bên cạnh việc phụ thuộc vào các yếu tố nhiệt độ, ánh sáng hàmlợng các chất hoà tan trong nớc, giá trị hàm lợng DO phản ánh đợc đời sốngcủa thuỷ sinh vật Thông thờng trong thuỷ vực DO vào buổi tra là cao nhất(do quang hợp của thực vật) và giảm xuống vào ban đêm (do hô hấp củathuỷ sinh vật)
Đợt I: DO dao động từ 6,08 – 6,22
Đợt II: DO dao động từ 5,66 – 5,68
Sở dĩ đợt II nhiệt độ thấp hơn đợt I, nhng Oxi hoà tan lại thấp hơn là vì ở
đợt II độ muối tăng lên (20o/oo) bên cạnh đó hàm lợng hu cơ và các muốidinh dỡng trong nớc cũng tăng lên nên đã hạn chế sự hoà tan của Oxi vàotrong nớc
3.2.5 Chỉ tiêu COD : (nhu cầu oxy hoá học).
COD cũng là một thông số đánh giá mức độ ô nhiễm hữu cơ củanguồn nớc.Do tổng lợng các chất hữu cơ có trong nớc khó xác định nên ng-
ời ta phải sử dụng gián tiếp một chất oxy hoá mạnh (K2Cr2O7 hoặc KMnO4)
Trang 18để oxy hoá chúng, COD có giá trị càng cao thì mức độ nhiễm bẩn hữu cơcủa nguồn nớc càng nhiều.
Đợt I: COD dao động trong khoảng từ 0,35 – 1,15 mg/l
Đợt II: COD dao động trong khoảng từ 1,45 – 2,85 mg/l
Tuy chỉ số COD ở đợt II có cao hơn đợt I nhng nhìn chung lợng chấthữu cơ ở đây thấp Điều này có thể giải thích do các đầm này chịu ảnh hỡngcủa nớc sông Lam và giai đoạn nay cha thả tôm giống nên chỉ số COD ở
đây là thấp
3.2.6 Hàm lợng NH 4 + (amoni):
Hàm lợng muối có chứa Nitơ, NH4+ là sản phẩm của quá trình phângiải (phản amin hoá) các chất hữu cơ; hay do thuỷ sinh vật bài tiết cũng nhxác động thực vật Đạm tồn tại ở lợng thích hợp thì hết sức cần thiết Khimuối này tồn tại với số lợng lớn thì gây ức chế cho sự phát triển của tảo
Hàm lợng PO43- ở đợt I giao động 0,18 – 0,25mg/l và đợt II là 0,32– 0,35mg/l Nh vậy chỉ tiêu này đợt II có cao hơn đợt I Có lẽ nó đợc bổsung từ nguồn nớc sông Lam, vì thời gian này các thuỷ vực thu mẫu thờngxuyên tiếp nhận nớc thuỷ triều ở cửa sông Lam Vùng cửa sông là nớc giàucác muối dinh dỡng Với hàm lợng trên trong điều kiện nhiệt độ thuận lợithì tảo có thể phát triển với số lợng đỉnh cực
3.2.8 Hàm lợng SiO 3 2- :
Đối với tảo Silic, hơn 80% trọng lợng của vỏ tảo đợc hình thành từSiO32-,chính vì vậy SiO32- là nhu cầu không thể thiếu đối với sự sinh trởng và