Chính vì vậy lập luận có vai trò quan trọngtrong việc tham gia tích cực vào liên kết văn bản.Đỗ Thị Kim Liên đã trình bày vai trò của lập luận trong hội thảo như sau: - Lập luận có tác d
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Nguyễn thị minh nguyệt
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị, các em và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lới cảm ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu, Khoa Ngữ Văn, Khoa Sau đại học, Trường Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phan Mậu Cảnh, người thầy kính mến đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn tận tình với một tinh thần khoa học nghiêm túc và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong
suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Trân trọng cảm ơn Trung tâm Thông tin Thư viện Nguyễn Thúc Hào Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện, cung cấp cho tôi những tư liệu quý trong quá trình làm luận văn.
-Xin cảm ơn gia đình, bạn bè thân yêu đã động viên, giúp đỡ về nhiều mặt để tôi hoàn thành luận văn này.
Vinh, ngày 28 tháng 12 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Trang 3Phần mở đầu
Trang 41 Lý do chọn đề tài 1
Chương 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Các đặc điểm của lập luận tường minh thể hiện
trong ca dao Việt Nam
2.1
Lập luận tường minh và cách thể hiện lập luận tường minh trong
ca dao Việt Nam
Phân tích đặc điểm của các thành phần lập luận tường minh trong
2.4
Chương 3: Lập luận ngầm ẩn trong ca dao Việt Nam
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
1.1 Trong cuộc sống đặc biệt là trong giao tiếp, con người phải trao đổithông tin với nhau,muốn trao đổi thông tin tốt ngoài cách tổ chức các đơn vịlời nói thì cách dẫn dắt là rất quan trọng Có cách dẫn dắt thông thường vàcách dẫn dắt luận lý Lập luận là cách tổ chức mang tính chất luận lý đưa đến
hiệu quả cao trong giao tiếp “Lập luận là đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt
người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới” [10,155] Vì vậy, không thể phủ nhận tầm quan trọng của
lập luận Từ đây, lý thuyết lập luận được xem là đối tượng quan trọng củangành ngữ dụng học
1.2 Ca dao là thể loại văn học dân gian trữ tình của nhân dân theo hướngChân, Thiện, Mỹ Ca dao tồn tại đến ngày này và vẫn có sức thu hút lôi cuốnchúng ta không chỉ vì hình ảnh thơ mượt mà, trau chuốt rung động tâm hồncon người với những xúc cảm tinh tế mà còn vì nội dung súc tích, cô đọng , vìcách trình bày, tổ chức lập luận của nó
1.3 Từ thực tiễn, trong chương trình Ngữ văn ở bậc phổ thông, số lượngvăn bản ca dao được đưa vào dạy học khá lớn Vì vậy, nghiên cứu lập luậntrong ca dao góp phần cung cấp dẫn chứng, số liệu về các kiểu lập luận bổsung vào giảng dạy, phân tích văn bản, phân tích ca dao Việt Nam được tốthơn
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài của luận văn là “Tìm hiểu cáchthức tổ chức lập luận trong ca dao Việt Nam ”
2 Lịch sử vấn đề:
Trên thế giới, khái niệm lập luận (Argumentation) đã được đề cập đến từrất sớm Từ thời cổ đại lập luận được xem xét ở góc độ logic học Mãi đếnnhững năm giữa thế kỷ XX, lập luận được nghiên cứu ở góc độ ngôn ngữ học
và đã hình thành bộ môn ngữ dụng học Năm 1985 trung tâm Châu Âu về
Trang 6nghiên cứu lập luận được thành lập và đã tổ chức nhiều hội thảo chuyên vềlập luận.
Ở Việt Nam, tiếp thu những thành tựu của ngôn ngữ học thế giới, năm
1993 lần đầu tiên lý thuyết lập luận được giới thiệu và đưa vào giảng dạy,
nghiên cứu trong giáo trình “Đại cương ngôn ngữ học” (Tập 2, phần ngữ
dụng học) của Đỗ Hữu Châu Tác giả đã trình bày một cách cụ thể khái niệm
về lập luận, đã chỉ ra bản chất ngữ dụng của lập luận, từ đó xem xét lập luậnnhư một nội dung quan trọng của ngữ dụng học Cùng với giáo trình này là
giáo trình “Ngữ dụng học” (tập 1) của Nguyễn Đức Dân đã trình bày một
cách cơ bản những vấn đề về lý thuyết lập luận nói chung và lập luận trongngôn ngữ nói riêng và tác giả đặc biệt chú ý đến các tín hiệu ngôn ngữ tronglập luận Những vấn đề được trình bày trong những cuốn sách này là tươngđối hoàn chỉnh, trọn vẹn về lý thuyết lập luận Từ đó, nó trở thành cơ sở lýluận cho nhiều đề tài nghiên cứu về lập luận
Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy, hiện chưa có công trình nghiên cứunào đề cập đến vấn đề hình thức lập luận trong ca dao Xung quanh vấn đề cadao và lập luận, chúng tôi thấy có nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập
Về mảng lập luận đã có một số công trình nghiên cứu đi sâu tìm hiểu lập
luận trong một kiểu văn bản cụ thể như: “Lập luận trong văn miêu tả khảo
sát qua tiểu thuyết Đất rừng Phương Nam của Đoàn Giỏi” (Luận văn thạc sỹ,
Nguyễn Thị Nhin, 2003), “Lập luận trong đoạn văn qua khảo sát văn chính
luận Hồ Chí Minh”, (Luận văn thạc sỹ, Nguyễn Thị Thanh Bình, 2006), “Lập luận trong đoạn văn qua khảo sát văn chính luận của Trường Chinh”, (Khóa
luận tốt nghiệp đại học, Cao Thị Hoàng Hà, 2007), “Các kiểu tổ chức lập
luận trong đoạn văn qua khảo sát tạp văn của Nguyễn Khải”, (Luận văn thạc
sỹ, Đặng Thị Thu, 2007) Ngoài ra, còn có một số công trình được đăng trên
một số báo, tạp chí ngôn ngữ như: “Phương pháp lập luận trong tranh cãi
pháp lý” (Nguyễn Đức Dân, Lê Tô Thuý Quỳnh), Bước đầu tìm hiểu nghệ thuật lập luận của Hồ Chí Minh trong tuyên ngôn độc lập” (Hoàng Mai
Trang 7Diễn), “Kết cấu ngữ nghĩa của một số lập luận phức hợp” (Trần Thị Giang 2004), “Thử vận dụng lý thuyết lập luận để phân tích màn đối thoại Thuý
Kiều xử Hoạn Thư” (Đỗ Thị Kim Liên).
Về mảng ca dao, có nhiều công trình nghiên cứu có thể kể đến như:
“Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” (Vũ Ngọc Phan), “Ca dao Việt Nam
-Những lời bình” (Vũ Thị Thu Hương), “Ca dao trữ tình chọn lọc” (Lữ Huy
Nguyên, Đặng Văn Lung, Trần Thị An), “Thi pháp ca dao” (Nguyễn Xuân
Trong cuốn “Ca dao Việt Nam - những lời bình”, Mã Giang Lân trong bài viết của mình có nhận xét về tính triết lý của ca dao như sau: “Nếu như
tục ngữ chỉ dừng lại ở việc nhận thức “cái vốn có” thì ca dao lại tiến thêm một bước nữa quan trọng là bộc lộ nguyện vọng của nhân dân với việc cải tạo hiện thực Ca dao không chỉ phản ánh “cái đã có” mà còn đề xuất ra
“cái nên có” Ca dao chẳng những giúp cho việc nhận thức cuộc sống mà còn muốn xây dựng lý tưởng về cuộc sống”[29,52].
Trong cuốn “Thi pháp ca dao”, tác giả Nguyễn Xuân Kính có đưa ra thuật ngữ “Các phán đoán tạo nên nội dung” của ca dao.
Nguyễn Nhã Bản với công trình nghiên cứu “Đặc trưng cấu trúc - ngữ
nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao” đã chỉ ra được sự ảnh hưởng về ý
nghĩa của hai thể loại thành ngữ và tục ngữ trong việc tạo nên ý nghĩa cho vănbản ca dao chứa chúng Thành ngữ và tục ngữ mang tính triết lý cao, vì thếchúng đã định hướng ý nghĩa cho văn bản ca dao chứa chúng
Trang 8Theo thống kê của chúng tôi, chưa có luận văn nào hay công trìnhnghiên cứu nào phân tích chuyên sâu bằng cách chỉ ra các hình thức lập luậntrong ca dao.
Những công trình nghiên cứu kể trên là những gợi ý, là những kiến thứcquý báu định hướng cho luận văn đi sâu và tìm hiểu cách thức tổ chức lậpluận trong văn bản ca dao
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu cách thức tổ chức lập luận trong ca dao Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Các bài ca dao đã được tuyển chọn trong cuốn “Ca dao Việt Nam”
(Phần ca dao cổ) của tác giả Nguyễn Bích Hằng, NXB Văn hoá Thông tin, HàNội, 2007
4 Nhiệm vụ của đề tài
Để thực hiện đề tài “Tìm hiểu cách thức tổ chức lập luận trong ca dao
Việt Nam”, chúng tôi đã đặt ra những nhiệm vụ cụ thể sau:
4.1 Khảo sát, thống kê, phân loại các kiểu lập luận trong ca dao
4.2 Phân tích các kiểu tổ chức lập luận, các thành tố trong tổ chức lập luận.
4.3 Nêu các mô hình lập luận của ca dao và chỉ ra đặc trưng lập luận của ca dao.
5 Phương pháp nghiên cứu.
Để đạt được nhiệm vụ đặt ra, chúng tôi sử dụng một số phương phápnghiên cứu chủ yếu sau:
5.1 Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp thống kê giúp chúng tôi chọn lọc ra được một số lượngnhất định các trường hợp thuộc phạm vi nghiên cứu
- Phương pháp phân loại được sử dụng để sắp xếp những luận cứ đượcxét thành các nhóm, các dạng cụ thể, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc
Trang 9miêu tả cấu trúc cũng như việc phân tích đặc điểm của các thành phần lậpluận.
5.2 Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được sử dụng để miêu tả những đặc điểm cấu trúc hìnhthức của những lập luận đang được xét Từ đó, xác định các kiểu lập luận đặctrưng, phổ biến nhất của ca dao
5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp này được sử dụng đề:
- Tìm hiểu mối quan hệ giữa các luận cứ với nhau, giữa các luận cứ vớikết luận, có thể so sánh định hướng lập luận giữa các luận cứ để xác định xemchúng đồng hướng hay nghịch hướng lập luận
- Tìm hiểu mối quan hệ giữa các kết luận trong trường hợp lập luận cócấu tạo gồm 2 lập luận đơn bộ phận trong các lập luận phức của ca dao
- Chỉ ra những đặc điểm riêng của luận cứ và kết luận trong lập luận của
ca dao
5.4 Phương pháp mô hình hóa:
Phương pháp này dùng để cụ thể hóa dưới dạng sơ đồ những dạng lậpluận cụ thể, phổ biến nhất trong ca dao Việt Nam Nhờ việc mô hình hóa màcác cấu trúc của các dạng lập luận điển hình cũng như các biến thể được sáng
rõ, tạo điều kiện cho việc nhận xét và so sánh các kiểu cấu trúc
6 Đóng góp của đề tài
Luận văn “Tìm hiểu cách thức tổ chức lập luận trong ca dao Việt Nam”
chưa được các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ, ca dao khảo sát, bàn luận
kỹ Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này, ngoài việc góp phần cung cấp dẫnchứng, số liệu về các kiểu lập luận, bổ sung vào lý thuyết lập luận của ngữdụng học Nó còn giúp ích cho việc giảng dạy, phân tích văn bản, phân tích cadao Việt Nam trong chương trình dạy học ngữ văn hiện nay
7 Cấu trúc của luận văn.
Trang 10Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn được triển khai trên ba chương
Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Các đặc điểm của lập luận tường minh thể hiện trong ca daoViệt Nam
Chương 3: Lập luận ngầm ẩn trong ca dao Việt Nam
Trang 11Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Lý thuyết lập luận
Để tìm hiểu các dạng lập luận cũng như đặc tính, quan hệ của các thànhphần lập luận và chỉ dẫn lập luận trong ca dao, chúng tôi dựa trên các vấn đềsau của lý luận lập luận
1.1.1 Định nghĩa lập luận
Từ trước đến nay có rất nhiều cách hiểu về lập luận, chẳng hạn như:
Đổ Hữu Châu cho rằng: “ Lập luận là đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt
người nghe đến một kết luận nào đó, mà người nói muốn đạt tới”.[10,155]
Nguyễn Đức Dân thì: “Lập luận là một hành động ngôn từ Bằng công
cụ ngôn ngữ, người nói đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một hệ thống xác định nào đó: Rút ra ( một số) kết luận hay chấp nhận (một số) kết luận nào đó”[14,165]
Đỗ Thị Kim Liên, định nghĩa lập luận như sau: “Lập luận là người nói
hay người viết đưa ra một hay một số lý lẽ mà ta gọi là luận cứ nhằm dẫn dắt người đọc hay người nghe đến một kết luận nào đó mà người viết muốn hướng tới”[30,141]
Phan Mậu Cảnh: “Lập luận là chiến lược hội thoại nhằm dẫn người
nghe đến một kết luận mà người nói đưa ra hoặc có ý định dẫn người nghe đến kết luận ấy”.[4,137]
Như vậy, các ý kiến trên tuy khác nhau về cách cách thức diễn đạt nhưng
tất cả đều thống nhất bản chất của lập luận là: Người nói, người viết đưa ra
các lý lẽ hướng người nghe, người đọc đi đến một kết luận hoặc chấp nhận một kết luận.
Trang 12Chính vì thế, trong hoạt động giao tiếp (dù trực tiếp hay gián tiếp, để điđến một đích nào đó, người nói phải có chiến lược giao tiếp phù hợp mà lậpluận là một trong các yếu tố của chiến lược đó.
Quan hệ lập luận được biểu diễn như sau:
Ví dụ : “ Thời tiết nắng nóng thế này, da cậu lại rất bắt nắng Cậu nênbôi kem chống nắng”
Lập luận trên được hình thành trên hai luận cứ:
- Luận cứ thứ nhất: “ Thời tiết nắng nóng thế này” (p)
- Luận cứ thứ hai: “ Da cậu lại bắt nắng” (q)
Hai luận cứ trên là hai thông tin mô tả về trạng thái tồn tại của sự vật Từ
đó hướng tới kết luận (r) là một lời khuyên: “Cậu nên bôi kem chống nắngmỗi khi ra khỏi nhà”
1.1.2 Vai trò của lập luận
Lập luận là một nhân tố quan trọng nhất trong bốn nhân tố của thuyếtphục (nhân tố lý lẽ) Lập luận là một chiến lược hội thoại nhằm dẫn dắt ngườinghe, người đọc đi đến một kết luận mà người nói, người viết có chủ đích đưa
ra Lập luận là đích của toàn bộ diễn ngôn
Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ (nói, viết), con người thường dùng lậpluận để thuyết phục ai đó, để chứng minh một điều gì đó, để tranh luận với ai
về một vấn đề cụ thể để giải thích cho ai về một nội dung nhất định hoặc biện
hộ cho một đối tượng nào đó Tất cả các hình thức thể hiện trên đều cần đếnvai trò của lập luận
Trang 13Lập luận được thể hiện ở mọi cấp độ: Một phát ngôn (câu), một đoạnvăn, một văn bản Ở cấp độ đoạn văn, văn bản lập luận càng chặt chẽ thì tínhliên kết lôgic càng được thể hiện rõ, nội dung – chủ đề cũng được thể hiệnmột cách rõ ràng và thống nhất Chính vì vậy lập luận có vai trò quan trọngtrong việc tham gia tích cực vào liên kết văn bản.
Đỗ Thị Kim Liên đã trình bày vai trò của lập luận trong hội thảo như sau:
- Lập luận có tác dụng tạo ra nội dung trái ngược tức là tạo một lập luận
mà kết luận được rút ra trái ngược với lời ban đầu
- Lập luận có tác dụng tăng sức thuyết phục cho ý kiến của người nói, nóthể hiện trình độ tư duy logic của người nói đồng thời tăng sức thuyết phụcđối với người nghe
- Lập luận có tác dụng dùng can dán một cách gián tiếp nghĩa là ngườinói thường dùng lối diễn đạt mà các phát ngôn có cấu tạo là phép lập luậngián tiếp nhằm mục đích ngăn cản, cảnh tỉnh người nghe giúp người nghenhận thức chân lý một cách giản dị và giàu sức thuyết phục
- Lập luận có tác dụng để khuyên nhủ người nghe trực tiếp tức là khôngnói thẳng vào vấn đề mà dùng hàm ngôn thông qua hành vi chất vấn gián tiếphướng đến một kết luận từ đó người nghe sẽ tỉnh ngộ
- Ngày nay, với sự phát triển về kinh tế,văn hóa, giao dịch, buôn bán,luật pháp thì vai trò của lập luận càng cần được chú trọng quan tâm đầy đủhơn, đó là một khoa học - khoa học lời nói
1.1.3 Đặc tính của quan hệ lập luận
Quan hệ lập luận là quan hệ giữa các luận cứ (p, q) với kết luận (r).Giữa các luận cứ có quan hệ định hướng lập luận, có nghĩa là luận cứ p và pđược đưa ra để hướng tới kết luận r nào đấy Trong đó, giữa p và q có thể tồntại theo hai kiểu quan hệ: Quan hệ định hướng lập luận và quan hệ nghịchhướng lập luận
1.1.3.1 Quan hệ đồng hướng
Trang 14Là quan hệ mà cả luận cứ (p) và luận cứ (q) đều hướng tới kết luậnchung Giữa các luận cứ đồng hướng phải có quan hệ tương hợp, có nghĩa làchúng cùng một phạm trù.
Quan hệ đồng hướng lập luận có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau:
luận chung R hàm ẩn: Môi trường có tác động lớn đến sự hình thành tính
cách của con người Như vậy chúng vẫn đồng hướng lập luận với nhau.
1.1.3.2 Quan hệ nghịch hướng lập luận
Là quan hệ trong đó luận cứ (p) hường tới kết luận (r) còn luận cứ (q)hướng tới kết luân (-r) Tuy nhiên r và -r phải trùng một phạm trù có nghĩa và
từ đó ta có thể suy ra kết luận hàm ẩn (R) chung cho toàn bộ phát ngôn chứa(r) và (-r) đó
Quan hệ nghịch hướng lập luận có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Ví dụ:
“Buôn buôn bán bán ầm ầm (p)
Có bảy sào ruộng, bán cầm mất ba” (q)
Trong lập luận trên, luận cứ (p) hướng tới kết luận ngầm ẩn (r): buôn bántấp nập sẽ đắt khách, lãi lớn, luận cứ (q) hướng tới kết luận (-r): buôn bán thô
Trang 15lỗ Kết luận hàm ẩn cuối cùng mà câu ca dao muốn hướng tới là một lời phê
phán những kẻ bất tài vô dụng nhưng lại tỏ vẻ ta đây.
1.1.4 Các chỉ dẫn lập luận
Trong một lập luận thường có những “dấu hiệu về hình thức mà nhờ
chúng người nghe nhận ra được hướng lập luận và các đặc tính lập luận của các luận cứ trong một quan hệ lập luận” [10,180] Các dấu hiệu hình thức đó
chính là các chỉ dẫn lập luận
Các chỉ dẫn lập luận gồm hai loại lớn: các tác từ (O pereteurs) lập luận,các kết tử (Connecteurs) lập luận và các dấu hiệu giá trị học (Marquesaxiolgiques)
1.1.4.1 Tác tử lập luận
“ Tác tử lập luận là các từ ngữ được đưa vào phát ngôn chứa nội dungmiêu tả nào đó sẽ làm thay đổi định hướng (hay tiềm năng) lập luận của nó”{30,155}
Ví dụ: Ta có nội dung sau: “Tôi có 100.000 đồng”
Nếu đưa thêm vào các tác tử lập luận như: “mỗi”, “chỉ có”, “ tận”,
“những” thì hướng lập luận cảu phát ngôn có sự thay đổi:
1.1.4.2 Kết tử lập luận
“Kết tử là những yếu tố (như các liên từ đẳng lập, liên từ phụ thuộc, cáctrạng từ và các trạng ngữ…) phối hợp hai hoặc một số phát ngôn thành một
Trang 16lập luận duy nhất Nhờ kết liên tử mà các phát ngôn trở thành luận cứ hay kếtluận của một lập luận” {10.148}
Ví dụ: “Học giỏi lại năng động nên Nam đươc bầu làm bí thư Đoàn” Nên là kết tử nối phát ngôn: - Luận cứ “ học giỏi, năng động, với kết luận “Nam được bầu làm bí thư Đoàn” Lại nối hai phát ngôn – Luận cứ học
giỏi, năng động đồng hướng lập luận để dẫn đến kết luận: Nam được bầu làm bí thư Đoàn.
Trong giao tiếp, các kết tử lập luận thường được gặp với số lượng nhiều.Dựa vào tiêu chí khác nhau, Đỗ Hữu Châu đã chia kết từ thành các loại:
Thứ nhất: Dựa vào số lượng phát ngôn trong một lập luận có thể chia kết
tử thành kết tử hai vị trí và kết tử ba vị trí
+ Kết tử hai vị trí là những kết tử chỉ cần hai phát ngôn là đủ lập thànhmột lập luận, không nhất thiết có thêm phát ngôn – luận cứ bổ sung đồng
hướng Chúng bao gồm các kết tử sau: Vậy, vậy mà, do đó, do vậy, nên, cho
nên, thế cho nên…
+ Kết tử ba vị trí là kết tử đòi hỏi phải có ba phát ngôn mới có thể hình
thành nên một lập luận Chúng thường gồm các kết tử sau: Nhưng, vả lại,
song, thêm nữa, hơn nữa, trái lại, mà…
Thứ hai: Dựa vào quan hệ với luận cứ hay kết luận thì có thể chia các kết
tử thành kết tử dẫn nhập luận cứ và kết tử dẫn nhập kết luận
+ Kết tử dẫn nhập luận cứ: “Kết tử dẫn nhập luận cứ là kết tử đưa một
nội dung (hay một hành vi ở lời) vào làm luận cứ cho một lập luận”[10,185].
Chúng bao gồm các kết tử như: Vì, tại vì, vả lại, nếu, dù, tuy, dầu, chẳng
những…mà còn….
+ Kết tử dẫn nhập kết luận: “Là kết tử nối một nội dung (hoặc một hành
vi) đóng vai trò kết luận cho lập luận với luận cứ” [30,185] Chúng bao gồm
các kết tử như: Nên, vậy nên, cho nên, thì, dù thế nào cũng, dù sao cũng….
Thứ ba: Dựa vào ý nghĩa của các phát ngôn – luận cứ và phát ngôn – kếtluận thì các kết tử còn chia thành kết tử đồng hướng và kết tử nghịch hướng
Trang 17+ Kết tử đồng hướng như: Và, vả lại, hơn nữa, lại còn, thêm vào đó,
huống hồ, huống chi, chẳng những… mà còn, quả vậy, thật vậy… để liên kết
các luận cứ có nội dung cùng hướng tới một kết luận
+ Kết tử nghịch hướng như: Trái lại, vậy mà, nhưng, thế mà, thực ra, tuy
nhiên, sự thật là, tuy… để liên kết các luận cứ có nội dung ngược nhau dẫn
đến các kết luận ngược hướng với luận cứ
1.1.4.3 Các dấu hiệu giá trị học
Trong lập luận, bên cạnh vai trò quan trọng trong việc định hướng lậpluận của các tác tử, kết tử lập luận, còn phải kể đến dấu hiệu giá trị học
Các dấu hiệu giá trị học tuy không phải là những hư từ những tiểu từhình thái nhưng cũng có hiệu lực thay đổi giá trị lập luận của các nội dungmiêu tả sử dụng chúng làm phương tiện biểu đạt Trong cuốn “Đại cươngNgôn ngữ học – tập2”- (Ngữ dụng học) Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra một sốphương tiện được dùng làm dấu hiệu giá trị học:
- Các yếu tố hiện thực được lựa chọn tạo thành nội dung miêu tả
- Cách sắp xếp, tổ chức nội dung miêu tả có giá trị lập luận
- Các thực từ dùng để miêu tả
Ngoài ra, thời gian cũng khẳng định ngoài một số những phương tiện códấu hiệu giá trị học trên, các từ đồng nghĩa, các cách dùng từ xưng hô, cácbiện pháp tu từ… đóng vai trò là dấu hiệu giá trị luận trong lập luận
Trong thực tế khảo sát của luận văn, trong các phương tiện với tư cách làcác dấu hiệu giá trị học đóng vai trò đối với lập luận ca dao, luận văn chủ yếu
đi tìm hiểu vai trò lập luận của các biện pháp tu từ “Biện pháp tu từ là cách
phối hợp sử dụng trong hành động lời nói các phương tiện ngôn ngữ, không
kể là trung hòa hay tu từ , còn được gọi là diễn cảm, trong một số ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ” [24,5] Bởi trong lập luận thì biện pháp tu từ là
cái đòn bẩy làm nổi bật lên hiệu lực lập luận thể hiện qua việc hiểu quả tu từ
mà biện pháp tu từ đó mang lại Hơn nữa, trong ca dao có đặc trưng là nóibóng bẩy, giàu hình ảnh, mượt mà nên việc sử dụng các biện pháp tu từ là khá
Trang 18phổ biến Cho nên không thể phủ nhận vai trò của các biện pháp tu từ đối vớihiệu lực lập luận trong ca dao Trong quá trình khảo sát, chúng tôi đã thống
kê một số biện pháp tu từ có vai trò tích cực trong việc tăng hiệu quả lập luậntrong ca dao sau đây
a Biện pháp tu từ so sánh:
“ So sánh (còn gọi là so sánh hình ảnh hay so sánh tu từ) là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó, người ta đối chiếu hai sự vật khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh lối tri giác mới mẻ về đối tượng” [28,154]
Mô hình cấu tạo so sánh hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố:
- Yếu tố 1: Yếu tố được hoặc bị so sánh
- Yếu tố 2: Phương diện so sánh (yếu tố chỉ tính chất của sự vật hay trạngthái hoạt động)
Tùy thuộc vào quan hệ so sánh giữa các yếu tố mà có hai dạng so sánh:
So sánh ngang bằng (so sánh tương đồng), so sánh không ngang bằng (sosánh hơn, so sánh kém) Từ đó, người tiếp người suy ra đối tượng, hoạt động,
sự việc nào đó nhấn mạnh ở khía cạnh nào Đích nhấn mạnh này cũng chính
là đích của lập luận
Ví dụ:
“ Một đêm quân tử nằm kề
Còn hơn thằng nhắng vỗ về quanh năm”
Trang 19Trong lập luận trên, nhờ so sánh hơn giữa hai vế: “Một đêm quân tử
nằm kề” với “thằng nhắng vỗ về quanh năm” mà người đọc có thể suy ra kết
luận hàm ẩn (R) từ câu ca dao trên là một lời khuyên: nên lấy chồng là người
quân tử thì sẽ được hạnh phúc
b Biện pháp tu từ phóng đại
“Phóng đại (còn gọi là quá, khoa trương, thậm xưng, ngoa ngữ, cường điệu) là cách dùng từ ngữ hoặc diễn đạt để nhân lên gấp nhiều lần thuộc tính khách thể hoặc hiện tượng làm nổi bật bản chất của đối tượng cần miêu tả, gây ấn tượng đặc biệt mạnh mẽ”[28.46].
Cơ sở phóng đại là tâm lý của người nói muồn rằng điều mình nói gâyđược sự chú ý và tác động cao nhất, làm người nhận hiểu được nội dung và ýnghĩa đến mức tối đa
Căn cứ vào mức độ phóng đại (đã đến mức phi lý hay chưa đến mức philý) chia ra phóng đại ở mức độ thấp và phóng đại ở nức độ cao
Phóng đại ở mức độ thấp là cách nói nhấn mạnh nói quá đi so với cái cóthật trong thực tế, chưa đến mức phi lý, vẫn chấp nhận được (ví dụ: Bận trămnghìn việc, kinh tế hết sức khó khăn…) còn phóng đại ở mức độ cao là cáchnói cường điệu quá đáng đến độ phi lý không thể tin được (Ví dụ: Một ngàydài hơn thế kỷ, chưa ăn đã hết…)
Về phương diện lập luận, phóng đại ở mức độ có hiệu lực lập luận thấphơn so với phóng đại ở mức độ cao Khi miêu tả sự vật, hiện tượng dưới lăngkính phóng đại ở mức độ cao có thể làm bộc lộ rõ bản chất của đối tượng Đócũng chính là hàm ý kết luận mà người nói muốn hướng tới
Ví dụ:
“Chết đuối giữa vũng trâu đằm (p)
Bẻ một cành quýt gãy năm xương sườn” (q)
Hai luận cứ p và q là hai hình ảnh phóng đại, hai luận cứ này làm nổi bậtbản chất của đối tượng là không làm việc gì nên hồn cả, là kẻ bất tài Đó cũngchính là kết luận R hàm ẩn
Trang 20c Biện pháp tu từ phản ngữ:
“Phản ngữ (còn gọi là đối ngẫu, đối chọi) là biện pháp tu từ trong đó người ta đặt cùng một chuỗi cú đoạn những khái niệm, hình ảnh ý nghĩa đối lập nhau được diễn đạt bằng những vị lời nói khác nhau nhằm nêu bật bản chất của đối tượng được miêu tả nhờ thế đối lập tương phản”[28,165]
Phản ngữ được sử dụng rộng rãi trong tất cả các kiểu lời nói: nghệ thuật,chính luận, khoa học và sinh hoạt hàng ngày Đặc biệt trong lời nói nghệthuật, phản ngữ có những chức năng đa dạng, tạo nên những hình ảnh thơbiểu cảm sâu sắc
Bề ngoài thì tụng nam mô (p) Bên trong thầm đặt một bồ dao găm (q)
Lập luận trên được tạo nên bởi hai luận cứ (p) và (q) có nội dung tươngphản nhau, p: bề ngoài ra vẻ tốt bụng, tử tế, còn q: bên trong nham hiểm,thâm độc, xấu xa, lúc nào cũng tìm cách hại người Nội dung tương phản củahai luận cứ trên phần bộc lộ bản chất của đối tượng, đồng thời là kết luận hàm
ẩn r là một lời khuyên: Đây là kẻ giả dối cần phải cảnh giác đừng nhìn bên
ngoài.
d Câu hỏi tu từ
“ Câu hỏi tu từ là câu về hình thức là câu hỏi về thực chất là câu khẳng định hoặc phủ định có cảm xúc Nó có dạng không đòi hỏi câu trả lời mà chỉ nhằm tăng cường tính diễn cảm của phát ngôn” [28,194].
Câu hỏi tu từ được sử dụng phổ biến và có giá trị biểu đạt lớn và đối với
học đẹp hơn, mang sức nặng tâm tư, cảm xúc tình cảm người nói, xét dướigóc độ của lập luận thì câu hỏi tu từ cũng chính là một chỉ dẫn lập luận Đíchcủa lập luận thường hướng đến khẳng định hay phủ định, bác bỏ một ý kiến,
Trang 21vấn đề, nhận định nào đó đang được đề cập đến Đích này chính là kết luậncuối cùng của lập luận.
đó đi đến kết luận hàm ẩn một lời khuyên: con người nên sống có trước có
sau, không nên ích kỷ, chỉ biết sống cho bản thân.
1.1.5 Phân loại lập luận
Trong cuốn “Ngôn ngữ học đại cương” tập 2, Đỗ Hữu Châu đã phân loạilập luận dựa vào các tiêu chí sau:
1.1.5.1 Dựa vào sự hiện diện của các thành phần lập luận
Chia thành hai loại:
+ Lập luận tường minh là lập luận có mặt đầy đủ hai thành phần: Luận
cứ và kết luận
+ Lập luận ngầm ẩn là lập luận mà trong đó ẩn một trong hai thành phầnlập luận, ẩn luận cứ hay ẩn kết luận
1.1.5.2 Dựa vào số lượng của kết luận trong một lập luận
Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Ngôn ngữ học đại cương” tập 2; đã khẳng
định: “Tiêu chí để xác định một lập luận là kết luận Hễ tìm ra được một kết
luận là ta có một lập luận” [10,162] Từ đó, phân chia thành hai loại sau:
+ Lập luận đơn: là lập luận chỉ có một kết luận, các thành phần còn lạiđều là luận cứ
Mô hình cấu trúc của dạng này là:
p, q r
Trang 221.1.5.3 Dựa vào vị trí của các thành phần lập luận trong một lập luận
Đây là tiêu chí nhằm phân loại ca dao về mặt cấu trúc lôgíc – ngữ nghĩa
là dựa vào vị trí của các thành phần lập luận “Trong một lập luận, kết luận
có thể đứng ở vị trí đầu, vị trí giữa hoặc vị trí cuối của luận cứ” [10,160].
Tuy nhiên, sau luận cứ là vị trí thường gặp của kết luận trong một lập luận.Trong logic, có ba thao tác suy luận lôgic tương ứng với ba kiểu lập luậnnhư sau:
a, Lập luận theo kiểu diễn dịch:
Diễn dịch là một thao tác tư duy logic, là phép suy luận từ một hay nhiềuphán đoán đã biết được gọi là tiên đề suy ra một phán đoán khác được gọi làkết đề Xét ở góc độ lập luận thì diễn dịch là cách trình bày, tổ chức, sắp xếpcác ý từ cái chung, cái khái quát đến cái riêng, cái cụ thể Nói cách khác, xét
về vị trí của các thành phận lập luận thì đây là kiểu lập luận mà thành phầnkết luận đứng trước, các luận cứ giải thích, chứng minh cho kết luận đứngsau
Trang 23Mô hình khái quát:
b, Lập luận theo kiểu quy nạp:
Là cách trình bày từ các ý kiến, các dẫn chứng, các sự kiện riêng đóngvai trò là các luận cứ rồi sau đó mới đến một sự tổng hợp và khái quát về các
ý kiến, các sự kiện đó nâng lên tầm cao hơn thành những nhận định khái quát,những đặc điểm, những tính chất chung của chúng Do vậy, nếu xét theo vị trícủa các thành phần lập luận thì đây là kiểu lập luận có thành phần luận cứđứng trước thành phần kết luận đứng sau:
c, Lập luận theo kiểu tổng phân hợp
Là một trong những biểu hiện của sự kết hợp giữa cách trình bày diễndịch và cách trình bày quy nạp Đây là kiểu trình bày bắt đầu bằng cách nêuvấn đề có tính chất tổng hợp, khái quát tiếp theo là những phân tích hoặc lýgiải, chứng minh bằng lý lẽ, dẫn chứng và minh họa cụ thể Cuối cùng lạitổng hợp, khái quát nâng cao hoặc mở rộng thêm vấn đề nêu ra ban đầu
Mô hình khái quát:
Dựa vào các tiêu chí phân loại lập luận trên, chúng tôi làm căn cứ đểkhảo sát, phân loại lập luận trong ca dao Việt Nam:
1.2 Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn
1.2.1 Nghĩa tường minh
Nghĩa tường minh là ý nghĩ trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ (âm, từ, kếtcấu cú pháp….) đem lại được gọi là ý nghĩa tường minh, các tác giả gọi lànghĩa hiển ngôn, ý nghĩ theo câu chữ của phát ngôn
Nó bao gồm các thành phần nghĩa miêu tả, biểu hiện bằng cấu trúc vị từtham thể Hành động nói trực tiếp thuộc về nghĩa tường minh
Trang 24Đối với lập luận thì thành phần nghĩa tường minh là cơ sở để nhận diệnluận cứ hay kết luận ở bề mặt câu chữ để từ đó đi tới các luận cứ hay kết luậnhàm ẩn.
Ví dụ:
“Mồng năm, mười bốn, hai ba (p)
Đi chơi cũng thiệt nữa là đi buôn” (r)
Lập luận trên có thành phần luận cứ p và thành phần kết luận r đều ởdạng tường minh có nghĩa là hiện thị ở mặt câu chữ Ta không phải tiến hànhthao tác suy ý để tìm ra luận cứ hay kết luận hàm ẩn
Ý nghĩa tường minh là cơ sở để xác định thành phần luận cứ và kết luậntường minh đó làm cơ sở về ý nghĩa suy ra được các thành phần luận cứ vàkết luận hàm ẩn
1.2.2 Nghĩa hàm ẩn
“ Một phát ngôn ngoài ý nghĩa được nói ra nhờ các yế tố ngôn ngữ (âm,
từ, kết cấu cú pháp…) còn có rất nhiều ý nghĩa khác nữa mà chúng ta phải dùng thao tác suy ý dựa vào ngữ cảnh, ngôn cảnh, và vào các quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ, điều khiển lập luận, điều khiển hội thoại thì nắm bắt được Các nghĩa nhờ suy ý mới nắm bắt được gọi là ý nghĩa hàm ẩn”
[10,359]
Đối với lập luận thì không phải lúc nào có thành phần lập luận cũng ởdạng tường minh mà nhiều khi chúng ở dạng hàm ẩn, phải nhờ suy ý mớinhận biết được và đem lại cho lập luận một diện mạo hoàn chỉnh về ý nghĩa,giúp cho lập luận trở nên sáng rõ hơn Nếu nghĩa tường minh là cái biểu đạtthì nghĩa hàm ẩn chính là cái được biểu đạt Và đối với kết luận hàm ẩn thì đóchính là cái đích nhắm tới của lập luận
Trong thực tế khảo sát của luận văn thì đa số lập luận ca dao đều không
bị bó hẹp ở ý nghĩa tường minh mà còn hàm chứa trong đó chiều sâu của
Trang 25nhận thức nằm ở ý nghĩa hàm ẩn của nó Đó thường là những bài học, nhữnglời khuyên, nhận định, lời phê phán….Đây chính là kết luận cuối cùng và làđiều mà tác giả dân gian muốn người tiếp nhận lĩnh hội.
Ví dụ:
Những người tính nết thật thà (p)
Đi đâu cũng được người ta tin dùng.(r)
Trong lập luận trên, ngoài hai thành phần lập luận là luận cứ p chỉ đặcđiểm của một kiểu người và kết luận r là một nhận định Nhưng không chỉdừng lại ở đó, kết luận hàm ẩn R cuối cùng mang ý nghĩa hàm ngôn của câu
ca dao là một lời khuyên: hãy sống thật thà thì sẽ được nhiều người yêu mến
và tin tưởng.
1.2.3 Tiền giả định
“Tiền giả định là những hiểu biết bất tất phải bàn cãi, bất tất phải đặt
vấn đề, đã được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận, dựa vào đó mà người nói tạo nên những ý nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình”
[10,366]
Ví dụ:
Em như tấm vóc đại đồng Anh như chỉ gấm thêu rồng nên chăng?
Để hiểu được hàm ngôn của câu ca dao trên, chúng ta phải tìm hiểu tiền
giả định của câu ca dao: “vóc đại đồng” là loại vải quý, đẹp, dùng cho nhà quyền quý, cao sang, các bậc vua chúa: “chỉ gấm” là loại chỉ đẹp, ngũ sắc
long lánh, dùng để thêu rồng trên tấm vóc làm tôn vẻ đẹp của tấm vóc Trong
quan niệm của người Việt Nam “vóc đại đồng” và “chỉ gấm” đi đôi, song
hành tạo nên vẻ đẹp hoàn mĩ hơn Từ tiền giả định cùng với nghĩa tường minh
của câu ca dao ta suy ra được nghĩa hàm ngôn của câu ca dao: anh và em rất
đẹp đôi và là một lời tỏ tình ý nhị mà kín đáo.
Trang 26Đối với lập luận thì tiền giả định đóng vai trò quan trọng là cơ sở tạo raluận cứ tường minh và kết luận tường minh.
1.3 Ca dao và những đặc điểm của ca dao
1.3.1 Thuật ngữ ca dao
Thiết nghĩ, đến nay thuật ngữ ca dao (Folk - song) còn được hiểu khácnhau ở các nhà nghiên cứu văn học dân gian Theo Hoàng Tiến Tựu, xét theonghĩa gốc thì “ca” là bài hát có chương khúc, giai điệu được quy định rõ rệt(người hát không thể tự do thay đổi); còn “dao” là bài hát ngắn, không có giaiđiệu, chương khúc (bài hát trơn, có thể hát tự do, không có quy định về nhạcđiệu) Nếu căn cứ vào nghĩa đó thì ca dao và dân ca đồng nghĩa với nhau.Song, trên thực tế, ngày nay thì dùng thuật ngữ ca dao chỉ nhằm chỉ phần lờicủa sáng tác dân ca Dĩ nhiên, không phải toàn bộ phần lời trong dân ca đều là
ca dao mà chỉ là phần lời cốt lõi có kết cấu bền vững, ổn định và có tính trữtình (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi) Hơn nữa ca daocũng không bao gồm phần lời của những loại dân ca dài hơi (như về trữ tình,
về tự sự, vè kể việc, những bài hát dặm mang tính chất vè…) Ông lý giảitiếp: Ca dao là phần lời thơ của dân ca, càng không thể nói: ca cao là thơ dângian Vì rằng “Thơ dân gian” rất rộng, bao gồm lời thơ trong các hình thứcsáng tác dân gian khác (như lời thơ trong câu đố, trong một số truyện dângian, là loại thơ dân gian truyền thống có phong cách riêng, được phát triển vàhình thành trên cơ sở của thành phần nghệ thuật ngôn từ trong các loại dân catrữ tình ngắn và tương đối ngắn (đoạn ca) của người Việt Vì vậy, ca daochẳng những khác với thơ trữ tình trong văn học viết mà còn khác với cáchình thức dân gian khác ( như khúc ngâm, vè trữ tình, thơ sử, thơ…) ( HoàngTiến Tựu, 1990)
Trang 27Nguyễn Xuân Kính trong chuyên luận riêng về ca dao đã lý giải rõ thêm.Ông cho rằng trong giới nghiên cứu, trong các sách sưu tầm, so với thuật ngữ
ca dao thì thuật ngữ dân ca xuất hiện muộn hơn Ông cho rằng hiện nay cácnhà nghiên cứu quan niệm rằng: Dân ca bao gồm phần lời( câu hoặc bài),phần giai điệu (giọng hoặc làn điệu), phương thức diễn xướng và cả môitrường, khung cảnh ca hát
Ca dao được hình thành từ dân ca Khi nói đến ca dao, người ta nghĩ đếnlời ca Khi nói đến dân ca người ta nghĩ ngay đến cả làn điệu và những thểthức hát nhất định Như vậy không có nghĩa là toàn bộ hệ thống những câuhát của một loại dân ca nào đó (như hát trống quân, hát quan họ, hát ghẹo…)
cứ trước tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi… thì đều là ca dao Ông cònkhẳng định tiếp: ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi,được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bềnvững về phong cách Và ca dao đã trở thành một thuật ngữ để chỉ một thể thơdân gian
Có thể coi ý kiến của hai tác giả vừa nêu là hoàn chỉnh và đày đủ nhất vềnhững lý luận xung quanh thuật ngữ ca dao Thế nhưng văn bản ca dao cónhững đặc trưng cụ thể là gì, nhất là từ phái ngôn ngữ học, là điều chúng tacần phải xem xét thêm
1.3.2 Đặc điểm của ca dao
1.3.2.1 Đặc điểm về hình thức
a Tính khái quát
Chính quá trình biểu trưng hóa nghệ thuật và khả năng biểu trưng nghệthuật của những hiện tượng khách quan trong tự nhiên để đem lại cho ngônngữ ca dao đặc trưng về tính khái quát Nhũng đơn vị ngôn ngữ này tạo nêntính chất ý tạo ngôn ngoại đặc sắc trong ca dao: Sự biểu đạt của nội dung tư
tưởng này thường được nén chặt trong các văn bản biểu hiện (theo cách gọi
của Nguyễn Xuân Kính) bao gồm những ý nghĩa nằm ngoài câu chữ tức vănbản, ý nghĩa nó không phải là nghĩa đen của các từ cộng lại
Trang 28Ví dụ:
“Chớ vội ăn nóng mà hư
Để lâu càng nguội, càng nhừ, càng ngon”.
Câu ca dao trên nói về chuyện ăn uống là ở văn bản tạo hình, còn ở ý
nghĩa khái quát cao hơn chính là văn bản biểu hiện là lời khuyên: con người
ta khi làm việc gì cũng không nên nóng vội, dể bị hỏng việc.
b Tính hình tượng
Ở mảng ca dao nói về con người mang tính chất triết lí cao thì ca daokhông biểu hiện bằng những mệnh đề triết lí khô khan mà được biểu đạt mộtcách sinh động, giàu hình ảnh mang ý nghĩa biểu trưng Ca dao thường lấynhững hình ảnh gần gũi quanh ta để diễn đạt những tình cảm lớn lao, nhữngthứ vô hình không dễ dàng nhận thấy Chính điều này làm cho lập luận ca daothêm giàu hình ảnh và mang tính thuyết phục cao được thể hiện qua các biểu
hiện qua các biểu tượng quen thuộc như: rồng, mây, tùng, bách, sen , mai… tượng trưng cho những thứ cao quý; hay cò, bống, ếch lươn, chó…biểu trưng
cho những người bình thường qua các cơ chế ẩn dụ, nhân hóa, so sánh, phóngđại
Để phê phán những kẻ chẳng có tài cán gì nhưng lại muốn leo cao chứng
tỏ hơn người khiến cho thiên hạ chê cười, tác giả dân gian dùng hình ảnh conếch với những thuộc tính quen thuộc của nó:
“Con ếch nằm ở hang sâu Lăm le lại muốn đớp sao trên trời”
Từ những sự tương đồng của những hiện tượng trong đời sống tự nhiên
và xã hội, tác giả dân gian đã sáng tạo nên những biểu tượng độc đáo giúpcho sự liên tưởng và nhận thức vấn đề sáng tỏ hơn Đó chính là quá trình suy
ý đi từ cái cụ thể đến khái quát
Tính khái quát và tính hình tượng làm cho văn bản ca dao mang đậmmàu sắc triết lý, giúp cho nội dung của lập luận trong ca dao không khô khan
mà diễn đạt giàu hình ảnh và sinh động
Trang 291.3.2.2 Đặc điểm về nội dung
a Ca dao phản ánh ý thức lao động của người dân Việt
Ý thức lao động của người dân Việt Nam phản ánh trong ca dao trướchết ở mặt tinh thần thực tiển tức là dùng ca dao để phản ánh kinh nghiệm sảnxuất nông nghiệp, trong chăn nuôi và trồng trọt, các nghành nghề thủ côngtruyền thống của dân( thợ thủ công, thợ mỏ) Trong đó chủ yếu là kinhnghiệm trồng cây lúa theo các mùa vụ:
“Lúa mùa thì cấy cho sâu
Lúa chiêm phải gảy cành dâu mới vừa”
Trong chăn nuôi:
“Nuôi gà phải chọn giống gà
Gà ri nó bé nhưng mà đẻ mau”
Trong ca dao tồn tại một số lượng câu ca dao nói về kinh nghiệm dự báothời tiết qua việc quan sát tự nhiên để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
- “Kiến đen tha trứng lên nhà
Chẳng mai thì mốt ắt là trời mưa”.
- “Tỏ trăng mười bốn được tằm Tỏ trăng mười rằm thì được lúa chiêm”.
Ý thức lao động còn thể hiện ở những bài học ca dao ngợi ca lao động,khích lệ lao động làm cho con người thêm yêu mến hơn từng tấc đất quêhương mình và trân trọng những thành quả lao động
“Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu”
Những bài ca dao nói về kinh nghiệm sản xuất, quan sát tự nhiên và sảnxuất mang tính thực hành cao vì vậy cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị Vàđẹp hơn cả là tình yêu lao động của nhân dân ta từ bao đời nay
b Ca dao phản ánh tình yêu quê hương đất nước và những kinh nghiệm lịch sữ xã hội.
Trang 30Trong ca dao xuất hiện khá nhiều câu ca dao nêu bật tình cảm đối vớiquê hương đất nước, con người trong hào khí, cảm sắc và tâm hồn dân tộc.
Đó là những bài ca ca ngợi vẻ đẹp quê hương với những danh lam thắng cảnhcủa mọi miền trên đất nước với những đặc trưng riêng về con người ở nhiềunơi
- “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”.
- “Ai qua phố Nhổn, phố Lai Dừng chân ăn miếng chả lài thơm ngon”.
Mảng ca dao trữ tình xã hội phản ánh mối quan hệ gia đình, xã hội giữacon người với con người Đó là quan hệ vợ chồng:
“Chồng tiến thì vợ phải lùi
Chồng tiến vợ tiến thời dùi vào lưng”.
Quan hệ cha mẹ, con cái:
“Ơn cha nặng lắm ai ơi
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang”.
Ngoài ra ca dao còn phản ánh những mối quan hệ thân thuộc khác trong
họ hàng thân tộc như: mẹ chồng với nàng dâu, bố mẹ vợ với con rể, condượng với bố mẹ ghẻ, quan hệ giữa anh chị em ruột thịt,….Ngoài xã hội làtình thầy trò, tình bạn, nghĩa đồng bào, cái nhìn của người dân đối với vuaquan
Ca dao còn là tiếng nói phê phán những thói hư tật xấu của con ngườitrong cuộc sống Đó là thói tham ăn, lười biếng, ích kỷ, giả dối, khoác lác,bủn xỉn, lẳng lơ, bọn quan lại nhũng nhiễu làm cho đời sống người dân cựckhổ:
“Cầu đổ thì lại bắc cầu
Một trăm nén bạc nỏ đầu thằng dân”.
Trang 31Đó là tiếng nói đấu tranh của người dân với những thế lực đen tối thểhiện cái nhìn sắc sảo của người dân trong nhìn nhận cuộc sống.
Như vậy ca dao là trải dài theo chiều dài của đất nước đến với nhữngvùng đất, con người ở nhiều nơi và ca dao đi vào chiều sâu của đời sống tinhthần của con người đất Việt
c Ca dao về con người và những vấn đề văn hoá ứng xử
Mảng văn hóa ứng xử là những nhận định về thói đời, những lời khuyênrăn về nhân tình thế thái, kinh nghiệm ứng xử và đạo lý làm người Đây làmảng ca dao rất gần gũi với tục ngữ “túi khôn của dân gian” Đó là quan niệm
về nhân cách, nhân đức, nhân nghĩa, sự biết ơn, tình nghĩa, sự thủy chung,những phẩm chất anh hung….Đó còn là quan niệm về giàu sang:
“Có tiền chén chú chén anh
Hết tiền đủng đỉnh ra tình không vui”.
Hay những lời khuyên chân tình mang tính chất kinh nghiệm sống:
“Cá tươi thì xem lấy mang
Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai”.
Mảng ca dao về con người với những nhận định về con người mang tínhnhân văn sâu sắc phản ánh những truyền thống tót đẹp của dân tộc ta Đó lànhững con người quý trọng lao động và coi trọng nhân nghĩa tình cảm hơnmọi thứ của cải vật chất trên đời, tình nghĩa mới thực sự là cái bền vững nhất:
“Tiền tài nay đổi mai dời Nhân nghĩa giữ gìn trọn đời với nhau”.
Một bộ phận khác của ca dao phản ánh những đức tính đáng quý như cần
cù, chịu khó, có tinh thần lạc quan, lòng quyết tâm, sự kiên trì, ý thức danh
dự, ham học hỏi:
“Đi cho biết đó biết đây
Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”.
Trang 32Đúng như Xuân Diệu trong bài viết “Nhà thơ học tập được gì ở ca dao”
có viết: “Ca dao hay lưu truyền lại được vì nội dung thiết cốt với người ta, bổ
ích cho người ta: ca dao sinh ra là do thời sự, do phút giây ngày tháng hôm
đó cần thiết nhưng lại nói được chuyện lâu dài, phổ biến được trong không gian, thời gian…”.
Việc tìm hiểu nội dung của ca dao giúp chúng tôi rất nhiều trong việctìm hiểu ý nghĩa của luận cứ trong lập luận ca dao giúp chúng tôi phần nào lýgiải được những nội dung tư tưởng được gửi gắm qua những câu ca dao đó
1.3.2.3 Đặc điểm thể thơ và vần nhịp
Với nhịp điệu đều đặn, thuận tai, linh hoạt về thanh điệu, biến hóa về âmđiệu, có sức lôi cuốn tự nhiên nên thể thơ lục bát được sử dụng phổ biến trong
ca dao chiếm tới 90 % tổng số các câu ca dao, còn lại gần 10 % là thể văn,song thất và song thất lục bát Ở đây chúng tôi xin đề cập đến đặc trưng vầnnhịp trong thể chiếm ưu thế là thể lục bát
Cách hiệp vần: chữ cuối của câu sáu vần với chữ thứ sáu câu tám, rồichữ sáu của câu tám lại hiệp vần với chữ thứ cuối của câu sáu tiếp
“Không chồng khốn khó trăm chiều
Có chồng thêm thắt ít nhiều cũng hay”.
Nhịp: Nhịp của lục bát đa dạng nhưng nhịp tự nhiên là nhịp đôi, đượcdùng phổ biến: câu sáu 2/2/2 câu tám 2/2/2/2 cũng có một số ít câu lục theonhịp 3/3, câu bát theo nhịp 4/4 Cách ngắt nhịp này yêu cầu tiểu đối (đối ngaytrong một dòng thơ)
“Trên đồng cạn / dưới đồng sâu
Chồng cày vợ cấy / con trâu đi bừa”.
Cách hiệp vần và cách ngắt nhịp tạo nên một đặc trưng riêng biệt cho cadao tạo nên ngữ điệu êm dịu đi vào long người của nó Ngoài ra nó còn cóchức năng cú pháp, liên kết và phân tách cú pháp đồng thời liên kết và phântách về ý nghĩa
Trang 33Đối với lập luận, việc tổ chức vần nhịp ca dao có chức năng làm nổi bật
rõ quan hệ logic giữa các vế đóng vai trò là những luận cứ hay kết luận vàcũng có tính chất quy định về vị trí của luận cứ đồng hướng hay nghịchhướng lập luận ca dao
1.3.3 Phân biệt giữa ca dao với tục ngữ và dân ca
1.3.3.1 Phân biệt ca dao với tục ngữ
Để xác định đúng thể loại của ca dao trước hết phải xem xét sự khác biệtgiữa ca dao và tục ngữ Theo hai nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính vàHoàng Tiến Tựu đã phân biệt hai thể loại này nhờ vào chức năng và phươngthức diễn xướng Về mặt chức năng thì tục ngữ thiên về lí trí nhằm đúc kếtkinh nghiệm tri thức cũng như những nhận xét khách quan Còn ca dao trữtình thì thơ thiên về tình cảm phô diễn thế giới nội tâm của con người
Trong ca dao, cũng có xen tục ngữ và có những câu ca dao chỉ có hìnhthức là ca dao còn nội dung là tục ngữ Khi những câu tục ngữ có thêm yếu tốcảm xúc thì nó tiếp cận với ca dao
- “Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.
- “Ai ơi, có chí thì nên
Có công mài sắt, có ngày nên kim”.
Đó là những câu ca dao có nội dung được sử dụng như tục ngữ Đồngthời do tính cô đọng và hàm súc nên nhiều câu ca dao đặc biệt là những câu
ca dao nhận định về con người và việc đời được sử dụng như tục ngữ:
“Hơn nhau tấm áo manh quần
Thả ra mình trần ai cũng như ai”.
Thế nhưng về cơ bản, ca dao vẫn thuộc thể loài trữ tình của văn học dângian Những văn bản này dù nói lên mối quan hệ giữa con người trong laođộng, trong sinh hoạt gia đình xã hội hoặc nói lên kinh nghiệm sống và hành
Trang 34động thì bao giờ cũng bộc lộ thái độ chủ quan của con người với những hiệntượng, những vấn đề Cho nên, ở ca dao cái tôi trữ tình hiện lên rõ nét.
Như vậy, dựa vào chức năng và phương thức diễn xướng là ta có thểphân biệt phần nào giữa hai thể loại này
1.3.3.2 Phân biệt ca dao với dân ca
Khi chưa có chữ viết thì những câu hát dân gian được tác giả dân giansáng tác nhằm thể hiện tâm tư tình cảm và cảnh ngộ của mình Đến khi có chữviết (bắt đầu thế kỷ X), những câu hát này được các sưu tầm và biên soạn lại
Do ảnh hưởng của Trung Quốc nên ban đầu có tên là ca dao: ca là bài hát có
hòa với nhạc, dao là lời của bài hát đó Như vậy ở thư tịch cổ Trung Quốc
chỉ có khái niệm ca và dao nhưng ở Việt Nam chúng ta được ghép lại thành
ca dao Sau đó ở Việt Nam lại xuất hiện thuật ngữ có tên gọi là phong dao
trong cuốn “Việt Nam sử yếu” của Dương Quảng Hàm Nhưng từ năm 50 củathế kỷ XX tới nay thì thuật ngữ phong dao không còn được dùng nữa vì nó có
lẽ hàm nghĩa của nó quá hẹp so với đề tài ca dao mà thay vào đó thuật ngữ có
tên gọi là dân ca (1965) trong “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” của Vũ
Ngọc Phan Từ khi có thêm thuật ngữ này thì các nhà nghiên cứu đã đặt vấn
đề phân biệt giữa ca dao và dân ca Theo một số nhà nghiên cứu văn học dângian như Nguyễn Xuân kính, Đỗ Bình Trị, Hoàng Tiến Tựu, Lê Trường Pháttrong các công trình nghiên cứu của mình đếu thống nhất như sau:
- Dân ca được giới nghiên cứu văn học dân gian dùng làm thuật ngữ để
chỉ chung toàn bộ các hình thức dân gian( bao gồm cả nhạc, lời, điệu bộ, lề lốisinh hoạt…) như các điệu hò lao động, hát ru con, hát quan họ, các điệu lễ…
- Ca dao được dùng theo nghĩa hẹp (nghĩa phát sinh) để chỉ thơ trữ tình
truyền thống (bao gồm nguồn thơ nãy sinh từ các loại dân ca trữ tình truyềnthống và các sáng tác thơ truyền miệng được làm theo phong cách thơ truyềnthống)
Trang 35Tiểu kết chương 1
Để tìm hiểu về “ Đặc điểm của các dạng lập luận trong ca dao ViệtNam”, luận văn đã chọn lí thuyết sau làm cơ sơ đề tài:
- Lí thuyết về lập luận
- Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn
- Ca dao với các đặc trưng về nội dung và hình thức
Dựa vào các lý thuyết trên, luận văn đã tiến hành thống kê, phân loại,phân tích về phương diện cấu trúc các dạng lập luận trong ca dao và nêu lênnhững đặc trưng cơ bản của các thành phần trong lập luận trong loại hình vănbản ca dao theo các nội dung sau:
- Lập luận tường minh trong ca dao
- Lập luận ngầm ẩn trong ca dao
Hai nội dung này được chúng tôi triển khai thành hai chương tiếp theo,
đó là chương 2 và chương 3
Trang 36CHƯƠNG 2: CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA LẬP LUẬN TƯỜNG MINH THỂ
HIỆN TRONG CA DAO VIỆT NAM 2.1 Lập luận tường minh và cách thể hiện lập luận tường minh trong ca dao Việt Nam
2.1.1 Lập luận tường minh
Lập luận tường minh là lập luận có thành phần luận cứ và thành phần kếtluận hiện diện tường minh trên bề mặt câu chữ, nghĩa là lập luận mà ngườitạo lập nói (viết) rõ ràng, người tiếp nhận không cần phải suy ra mà biết
Ví dụ:
- Chiếc xe này rẻ (p), mua đi (r)
- Chiếc xe này rẻ (p), lại tốt (q), mua đi (r)
Những ví dụ trên là lập luận tường minh, vì trên bề mặt của câu đều hiệndiện đầy đủ các thành phần của lập luận: luận cứ (p, q); kết luận (r) Ngườitiếp nhận không cần phải suy ra mà đã hiểu
2.1.2 Lập luận tường minh trong ca dao Việt Nam
Qua khảo sát và thống kê trong cuốn “ Ca dao Việt Nam tuyển chọn”(phần ca dao cổ) của tác giả Nguyễn Bích Hằng – NXB Văn hóa thông tin -
Hà Nội - Năm 2007, chúng tôi nhận thấy số lượng lập luận thuộc dạng này là
1859 trường hợp, chiếm 70,15% tổng số đối tượng khảo sát
Trang 37Luận cứ p: Em ngoan lấy phải chồng đần, ý muốn chỉ người con gái
khôn ngoan, có tài quán xuyến công việc gia đình nhưng nếu lấy phải anh
chồng đần thì chỉ cực thân vì mọi việc lớn nhỏ trong gia đình đều tự tay lo
liệu gánh vác
Luận cứ q: Cho giỏi mười phần, nghĩa là nếu có thay chồng làm mọi việc tốt, giỏi đến đâu đi chăng nữa Hai luận cứ trên dẫn tới một kết luận: ai
biết rằng ngoan, nghĩa là chẳng ai biết cho, ghi nhận công lao của người vợ là
phải làm tất cả mọi việc ấy Vì trong mắt người đời thì người đàn ông tronggia đình đóng vai trò là trụ cột, chèo lái công việc gia đình, đó là bổn phận vàtrách nhiệm của người chồng, cho nên dù người vợ có khôn ngoan, giỏi giangđến đâu cũng không được công nhận, đây là tư tưởng trọng nam khinh nữtrong xã hội cũ
2.2 Các dạng lập luận tường minh trong ca dao
Khi xem xét các dạng lập luận trong ca dao, chúng tôi xem mỗi bài cadao (ngắn nhất là hai câu) là một đơn vị lập luận
Để phân loại các dạng lập luận trong ca dao chúng tôi dựa vào các tiêuchí phân loại:
- Dựa vào số lượng các luận cứ và kết luận
- Dựa vào vị trí của luận cứ và kết luận
Kết quả như sau:
Trang 38một nhận xét Chúng tôi gọi đây là kiểu lập luận đơn được trình bày theo hìnhthức quy nạp.
Ví dụ:
Bao giờ đom đóm bay ra (p) Hoa gạo rụng xuống (q) thì tra hạt vừng (r)
Các thành phần của lập luận này gồm các luận cứ p: bao giờ đom đóm
bay ra (thấy xuất hiện những con đom đóm báo hiệu mùa xuân đã hết) và
luận cứ q: hoa gạo rụng xuống (hết mùa hoa gạo) Hai luận cứ p và q lại là
điều kiện để hướng tới kết luận r là một kinh nghiệm trong sản xuất nông
nghiệp dựa vào sự biến đổi của thiên nhiên, sự vật: thì tra hạt vừng (đã tới
thời điểm thích hợp cho việc tròng cây vừng, nếu trồng cây vừng vào đúngthời điểm này thì cây sẽ phát triển tốt)
Ví dụ:
Mẹ cha là biển, là trời (p) Nói đâu hay vậy (q), đâu dám cãi lời mẹ cha (r)
Câu ca dao trên là lời của một người con có hiếu đối với cha mẹ, đồng
thời cũng là một lập luận Luận cứ p đưa ra là một nhận định khái quát: Mẹ
cha là biển, là trời (khẳng định công lao to lớn của cha mẹ đối với con là
không kể xiết như biển trời bao la) và luận cứ q: Nói đâu hay vậy (cha mẹ
luôn muốn những điều tốt đẹp sẽ đến với chúng ta nên những lời cha mẹ dạybảo thì con cái phải biết lắng nghe và vâng lời)
Trang 39Từ hai luận cứ trên dẫn đến kết luận r là: đâu dám cãi lời mẹ cha (con
cái phải luôn vâng lời cha mẹ, không để cha mẹ phiền lòng)
Qua quan sát tư liệu, chúng tôi thấy kiểu lập luận đơn được trình bàytheo hình thức quy nạp chiếm số lượng tương đối lớn vì nó thuận với tư duylogic, đi từ cái cụ thể đến cái khái quát có 243 trường hợp chiếm 9,16% đốitượng khảo sát
Đây là kiểu lập luận mà thành phần kết luận (r) đứng trước, nêu lênnhững nhận định chung khái quát, lời khuyên về cách đối nhân xử thế, nhữngnhận định được nêu ra trước, sau đó là các lý lẽ đóng vai trò là các luận cứđứng sau nhằm minh chứng, giải thích, làm cơ sở cho kết luận trước đó.Chúng tôi gọi đây là kiểu lập luận đơn được trình bày theo hình thức diễndịch
Ví dụ:
Ai ơi, chớ bỏ ruộng hoang (r) Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu (p)
Lập luận trên được cấu tạo bởi:
Kết luận (r) là một lời khuyên đối với người nông dân chớ bỏ ruộng
hoang và lý lẽ (p) bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu (ông bà ta xưa nay
chuyên sống bằng nghề nông nên ai cũng yêu quý từng tấc đất, bởi đất manglại cuộc sống no đủ cho con người, nên nếu ai có bỏ ruộng hoang khác nàothấy vàng trước mắt mà không nhặt Đó là điều câu ca dao muốn hướng tới
Ví dụ:
Có chồng thì phải thương chồng (r) Chồng đi hang rắn (p), hang rồng cũng theo (q)
Lập luận trên là lời khuyên đối với phụ nữ đã có chồng Kết luận được
đưa ra ngày ở đầu là một nhận định, một lời “nhắc nhở”: Có chồng thì phải
thương chồng, ý muốn nói rằng phụ nữ khi đã có chồng thì phải hết lòng yêu
thương, quan tâm, chăm sóc chồng ngay cả khi khó khăn, hoạn nạn “Chồng
Trang 40em áo rách em thương - Chồng người áo gấm xông hương mặc người” và
hai luận cứ p: Chồng đi hang rắn, luận cứ q: Hang rồng cũng theo (Khi đã
lấy chồng rồi phải theo chồng và cả những chốn khó khăn, nguy hiểm) đãminh chứng cho kết luận được nêu ở trên
Ví dụ:
Cờ bạc là bác thằng bần (r) Cửa nhà bán hết (p), xỏ chân vào cùm (q).
Kết luận trên là một lời khuyên, kết luận là một lời khẳng định: Cờ bạc
là bác thằng bần, nghĩa muốn nói những ai đam mê cờ bạc là gắn liền với
nghèo đói, bởi tiền được trong cờ bạc cũng là của phù vân, có rồi lại mất
“Của thiên trả địa” và bao giờ mất cũng là phần nhiều Hai luận cứ được đưa
ra để chứng minh cho kết luận trên như là hậu quả tất yếu của việc chơi cờ
bạc Luận cứ p : Cửa nhà bán hết , mất hết tiền của, nhà cửa không còn, vợ con bố mẹ phải khổ tâm và luận cứ q: Xỏ chân vào cùm , với bản thân bị tù tội
và vay nợ quá nhiều hoặc do túng quá làm liều Hai luận cứ trên mang đầytính thuyết phục cho những ai đã và đang chơi cờ bạc phải ngẫm lại mình
Từ việc phân tích một số ví dụ trong ca dao trên, chúng tôi nhận thấy lậpluận đơn là những lập luận chỉ có một kết luận (kết luận đó thường ở dạngtường minh), có thể được nêu ra trước hoặc sau luận cứ Còn thành phần luận
cứ có thể là một hoặc hơn một nhưng chúng phải cùng hướng tới một kết luậnchung duy nhất Trong ca dao, lập luận đơn xuất hiện không nhiều, qua khảosát có …… trường hợp, chiếm …… số lượng được khảo sát Điều này có liên
quan đến đặc trưng thể loại trong ca dao: “Dù nói lên mối quan hệ giữa con
người trong lao động, trong sinh hoạt gia đình, xã hội hoặc nói lên kinh nghiệm sống và hành động thì ca dao bao giờ cũng bộc lộ thái độ chủ quan của con người Cho nên trong ca dao cái tôi trữ tình được nổi lên rõ nét”.
Điều này đã lý giải tại sao trong ca dao hầu hết là những câu có hàm chứa kếtluận hàm ẩn
2.2.2 Lập luận phức