BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHTRẦN VĂN DŨNG THỬ NGHIỆM ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ƯƠNG LÊN CÁ CHẼM Lates calcarifer Bloch, 1790 GIAI ĐOẠN CÁ HƯƠNG LÊN CÁ GIỐNG TRONG MÔI TRƯỜNG
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN VĂN DŨNG
THỬ NGHIỆM ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ
ƯƠNG LÊN CÁ CHẼM (Lates calcarifer Bloch, 1790)
GIAI ĐOẠN CÁ HƯƠNG LÊN CÁ GIỐNG
TRONG MÔI TRƯỜNG NƯỚC NGỌT
TẠI HƯNG NGUYÊN - NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
THỬ NGHIỆM ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ
ƯƠNG LÊN CÁ CHẼM (Lates calcarifer Bloch, 1790)
GIAI ĐOẠN CÁ HƯƠNG LÊN CÁ GIỐNG
TRONG MÔI TRƯỜNG NƯỚC NGỌT
TẠI HƯNG NGUYÊN - NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Người thực hiện: Trần Văn Dũng
Người hướng dẫn: KS Nguyễn Thị Hồng Thắm
Trang 3Tiếp đến tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô là cán bộ giảng dạy trong khoa Nông Lâm Ngư - Trường Đại học Vinh đã truyền giảng cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong hơn 4 năm qua.
Tôi xin chân thành cám ơn cán bộ công tác trên Trại Thực nghiệm NTTS nước ngọt tại Hưng Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi về cơ sở vật chất cũng như hướng dẫn tôi trong thời gian thực tập vừa qua.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các anh, các chị, bạn bè, những người luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quãng thời gian đã qua.
Xin chân thành cảm ơn !
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Hệ thống phân loại và một số đặc điểm sinh học của cá chẽm 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2 Một số đặc điểm sinh học của cá chẽm 3
1.1.2.1 Hình thái, màu sắc 3
1.1.2.2 Điều kiện thích nghi 4
1.1.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng 5
1.1.2.4 Đặc điểm sinh trưởng 6
1.1.2.5 Phân biệt giới tính 6
1.2 Tình hình nghiên cứu về cá chẽm trên thế giới và Việt Nam 7
1.2.1 Trên thế giới 7
1.2.2 Tại Việt Nam 10
1.3 Tình hình sản xuất và ương nuôi cá chẽm trên thế giới và tại Việt Nam .13
1.3.1 Trên thế giới 13
1.3.2 Tại Việt Nam 15
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.2 Vật liệu nghiên cứu 17
2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17
2.4 Nội dung nghiên cứu 18
Trang 52.5 Phương pháp nghiên cứu 18
2.5.1 Sơ đồ khối nghiên cứu 18
2.5.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 19
2.5.3 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.5.4 Phương pháp sử lý số liệu 22
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Theo dõi diễn biến các yếu tố môi trường trong bể ương nuôi cá chẽm .23
3.1.1 Nhiệt độ 23
3.1.2 pH 25
3.1.3 Hàm lượng oxy hòa tan (DO) 26
3.2 Ảnh hưởng của mật độ đến Tỷ lệ sống của cá được nuôi trong môi trường nước ngọt 27
3.3 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng của cá được nuôi trong môi trường nước ngọt 29
3.3.1 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng khối lượng của cá chẽm 29
3.3.1.1 Tăng trưởng trung bình về khối lượng 29
3.3.1.2 Ảnh hưởng của mật độ lên tốc độ tăng trưởng bình quân ngày về khối lượng 31
3.3.1.3 Ảnh hưởng của mật độ lên tốc độ tăng trưởng đặc trưng của khối lượng .32
3.3.2 Ảnh Hưởng của mật độ lên tăng trưởng về chiều dài của cá chẽm 34
3.3.2.1 Tăng trưởng trung bình về chiều dài của cá chẽm 34
3.3.2.2 Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày về chiều dài 35
3.3.2.3 Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về chiều dài thân cá chẽm 37
3.4 Tỷ lệ cá ăn thịt lẫn nhau 38
3.5 Hạch toán kinh tế 39
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40
1 Kết luận 40
Trang 62 Kiến nghị 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Biến động nhiệt độ trong bể thí nghiệm 23
Bảng 3.2 Diễn biến pH trong các bể thí nghiệm 25
Bảng 3.3 Diễn biến hàm lượng DO trong các bể thí nghiệm 26
Bảng 3.4 Tỷ lệ sống của cá chẽm trong môi trường nước ngọt với ba mật độ khác nhau 27
Bảng 3.5 Tăng trưởng trung bình về khối lượng cá 29
Bảng 3.6 Tăng trưởng bình quân ngày 31
Bảng 3.7 Tốc độ tăng trương đặc trưng 32
Bảng 3.8 Tăng trưởng trung bình về chiều dài 34
Bảng 3.9 Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày 35
Bảng 3.10 Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về chiều dài 37
Bảng 3.11 Tỷ lệ cá ăn thịt lẫn nhau 38
Bảng 3.12 Hiệu quả kinh tế của các mật độ ương cá chẽm trong môi trường nước ngọt 39
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Cá chẽm (Lates calcarifer) 3
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 18
Hình 3.1 Biến động của nhiệt độ trong các bể thí nghiệm 24
Hình 3.2 Biến động của oxy hòa tan trong các bể thí nghiệm 26
Hình 3.3 Tỷ lệ sống của cá chẽm nuôi trong môi trường nước ngọt với các mật độ khác nhau 28
Hình 3.4 Tăng trưởng trung bình khối lượng 30
Hình 3.5 Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày về khối lượng 31
Hình 3.6 Tốc độ tăng trưởng đặc trưng 33
Hình 3.7 Tăng trưởng trung bình về chiều dài 34
Hình 3.8 Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày về chiều dài 36
Hình 3.9 Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về chiều dài 37
Hình 3.10 Tỷ lệ cá ăn thịt lẫn nhau 38
Trang 10MỞ ĐẦU
Trên thế giới, cá chẽm (Lates calcarifer) hay còn được gọi là cá vược, được
phân bố nhiều ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc Tây Thái Bình Dương và
Ấn Độ Dương Ngoài ra, cá chẽm còn được tìm thấy ở Bắc châu Âu, phía Nam kéodài đến quần đảo Queensland của Australia, phía tây đến Đông châu Phi (FAO,1974) Tại Việt Nam, cá chẽm được phân bố rộng khắp cả nước dọc theo các bờbiển từ Bắc vào Nam
Cá chẽm là loài cá đặc sản có giá trị kinh tế cao, thịt thơm ngon, giàu chấtdinh dưỡng, dễ nuôi, tốc độ phát triển tương đối tốt, là một mặt hàng xuất khẩuđược người tiêu dùng ưa chuộng Vì vậy những năm gần đây, nghề nuôi cá chẽm rấtphát triển cả trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng
Tuy nhiên, môi trường sống của cá chẽm chủ yếu ở trong môi trường nướcmặn và nước lợ Trong khi đó, cá có thể được nuôi dưới nhiều hình thức khác nhaunhư nuôi lồng, nuôi trong ao đất, nuôi kết hợp… Sự hạn chế môi trường sống đãlàm giảm tính đa dạng về đối tượng nuôi Bên cạnh đó, nguồn lợi về ao, hồ, sông,suối… ở Việt Nam các thủy vực này chiếm diện tích không nhỏ
Tăng khả năng thích nghi với các điều kiện sống của các chẽm trong môi trườngngọt hóa tại các địa phương, giảm chi phí vận chuyển, tăng hiệu quả kinh tế cho các hộnuôi cá chẽm là một giải pháp có ý nghĩa thiết thực Mở ra một hướng đi mới chongười nông dân, làm đa dạng hóa các đối tượng nuôi, cải thiện chất lượng cuộc sống vàxóa đói giảm nghèo cho nông dân các khu vực trung du, miền núi xa biển
Hiện nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào được công bố về việcthuần hóa và ương nuôi cá chẽm trong môi trường nước ngọt Vì vậy, những nghiêncứu thử nghiệm là hết sức cần thiết
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa NôngLâm Ngư, tổ bộ môn nuôi ngọt và giáo viên hướng dẫn tôi đã thực hiện đề tài:
“Thử nghiệm ảnh hưởng của mật độ ương lên cá chẽm (Lates calcarifer Bloch,
1970) giai đoạn cá hương lên cá giống trong môi trường nước ngọt tại Hưng
Trang 11Mục tiêu đề tài:
Trên cơ sở đánh giá về tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống, tỷ lệ cá ăn thịt lẫn nhau
để đưa ra được kết luân ban đầu về việc nên hay không nên ương nuôi cá chẽmtrong môi trường nước ngọt
Bước đầu xác định được mật độ ương nuôi phù hợp của cá chẽm trong môitrường nước ngọt
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Hệ thống phân loại và một số đặc điểm sinh học của cá chẽm
Loài: Lates calcarifer (Bl°Ch, 1790)
Tên tiếng Việt: Cá chẽm trắng, cá vược
Tên tiếng Anh: Seabas
1.1.2 Một số đặc điểm sinh học của cá chẽm
1.1.2.1 Hình thái, màu sắc
Hình 1.1 Cá chẽm (Lates calcarifer)
* Hình thái: Cá chẽm có thân dài, dẹp bên, cuống đuôi dài và khuyết sâu.Đầu nhọn, nhìn bên lõm phía lưng và lồi phía trước vây lưng Miệng rộng, hơi so le,hàm trên chồm về phía sau mắt, răng dạng hình lông nhung, không có sự xuất hiện
Trang 13của răng nanh Mép dưới của xương trước nắp mang có gai cứng, nắp mang có mộtgai nhỏ và một vảy bên có răng cưa trước đầu đường bên Vây lưng có 7 - 9 gaicứng và 10 - 11 gai mềm, tia vây ngực ngắn, tròn có các rãng răng cưa cứng vàngắn phía trên gốc, vây lưng và vây hậu môn có 3 gai và 7 - 8 tia mềm, vây đuôitròn, vẩy dạng lượn rộng.
* Màu sắc của cá chẽm thay đổi theo từng giai đoạn phát triển, thường thìgiai đoạn cá giống có màu nâu ô liu ở phía trên, với các màu bạc ở bên và bụng khisống trong môi trường nước biển và màu vàng nâu khi sống trong môi trường nướcngọt Giai đoạn cá trưởng thành có màu xanh lục hay màu vàng nhạt ở phần trên vàmàu bạc ở phần bụng
1.1.2.2 Điều kiện thích nghi
* Độ mặn: Cá chẽm là loài cá khả năng thích nghi cao với sự thay đổi của độmặn nên thích hợp phát triển trong nhiều điều kiện độ mặn khác nhau Cá chẽmgiống và trưởng thành có thể sống ở độ mặn từ 0 - 35‰ và có thể chịu đựng tốt sựthay đổi đột ngột của độ mặn Cá bột có thể sống ở độ mặn từ 5 - 35‰, độ mặn tốtnhất để cá đẻ trứng và phôi phát triển là từ 28 - 31‰, và ương cá bột từ 25 - 31‰.
Thực tế cho thấy cá giống cỡ 20 30 mm có thể thuần hóa từ 30 32‰ xuống 5 10‰ trong 2 - 3 giờ
-* Nhiệt độ: Cá chẽm thích ứng với nhiệt độ từ 21 - 39°C, nhưng nhiệt độthích hợp nhất cho sự đẻ trứng từ 26 - 34°C, giai đoạn phát triển phôi và cá bột từ
25 35°C, thích hợp nhất là khoảng 27 28°C, cá giống đến khi trưởng thành 21 29°C, thích hợp nhất 27 - 30°C Nhiệt độ thay đổi đột ngột 2 - 3°C có thể gây chếtphôi và cá bột, hoặc gây sốc cho cá giống
-* Ánh sáng: Đã có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng cường độ ánh sáng rất ítảnh hưởng đến sự phát triển của cá chẽm, cường độ thích hợp nhất khoảng 500 -
1500 lux, cường độ chiếu sáng quá cao có thể gây stress cho cá Tuy nhiên, cường
độ chiếu sáng lại có ảnh hưởng đến sự phát triển của giai đoạn cá bột (giai đoạn ănđộng vật phù du), kéo dài thời gian chiếu sáng cá sinh trưởng tốt và có tỷ lệ sốngcao hơn, thời gian chiếu sáng phù hợp nhất là khoảng 16 - 18 giờ Nhưng đối với
Trang 14giai đoạn cá giống thì cường độ chiếu sáng lại không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng
và tỷ lệ sống
* pH thích hợp cho sự phát triển của cá chẽm là 7,0 - 8,5
* Hàm lượng Oxy hòa tan thích hợp là DO > 4 mg/l
* Hàm lượng NH3 < 0,25 ppm
Hàm lượng của các yếu tố trên nếu vượt quá giới hạn cho phép thì đều ảnhhưởng không tốt đến sự phát triển và tỷ lệ sống của cá chẽm
1.1.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng
* Tập tính sử dụng thức ăn: Cá chẽm là loài cá dữ, ăn mồi sống và có khảnăng ăn thịt đồng loại, đặc biệt là giai đoạn 0,1 - 1 cm tỷ lệ cá ăn thịt nhau là caonhất Cá chẽm có thể ăn con mồi dài bằng 60 - 70% cơ thể chúng Trong tự nhiên,thức ăn chủ yếu của cá chẽm là cá nhỏ, tôm, cua và mực … Giai đoạn nhỏ (cỡ 10 -
100 mm) thức ăn của cá chẽm gồm thực vật phù du 20% (chủ yếu là tảo khuê) và80% là động vật phù du, tôm, cá nhỏ Giai đoạn 200 mm thì cá chẽm ăn 100% độngvật Trong điều kiện nuôi, cá con từ khi mở miệng đến cỡ 2 Cm cho ăn luân trùng
và ấu trùng Artemina, cá giống sau giai đoạn chuyển đổi thức ăn đến giai đoạntrưởng thành có thể ăn tốt các loại thức ăn tổng hợp dạng viên hay thức ăn cá tạp
* Nhu cầu dinh dưỡng
Nhu cầu protein: Cá chẽm là loài cá dữ, ăn thức ăn động vật nên nhu cầu vềhàm lượng protein trong thức ăn tổng hợp là tương đối cao Với cá giồng, hàmlượng prôtein thô trong thức ăn phải đạt từ 40 - 50%, giai đoạn nuôi thương phẩmhàm lượng protein phải đạt 40 - 50%
Nhu cầu về các loại amino acid không thay thế tryptophan cho cá giống là0,5% khẩu phần prôtein trong thức ăn, Methionine, Lysine và arginine lần lượt là 2,24; 4,5 - 5,2; 3,8%
Nhu cầu Lipid: Ở giai đoạn giống yêu cầu về hầm lượng lipid là 9 - 18%, đặcbiệt là các acid béo n - 3 HUFA (DHA, EPA) chiếm khoảng 1,8% khẩu phần lipidcho giai đoạn cá giồng
Nhu cầu carbohydrate: Nhu cầu về carbohydrate ở loài cá này thấp, mức
Trang 15cung cấp năng lượng mà còn là thành phần quan trọng giữ chức năng kết dính trongthức ăn công nghiệp dạng viên.
Nhu cầu về vitamin bổ sung trong thức ăn: Theo các nghiên cứu cho thấy, khicho cá chẽm ăn thức ăn bằng cá tạp có bổ sung vitamin tổng hợp giảm được hệ sốthức ăn từ 7,44 xuống còn 3,84 Cá không cho ăn thức ăn có vitamin tổng hợp thì tốc
độ tăng trưởng chậm hơn hẳn so với cá chẽm cho ăn thức ăn có bổ xung vitamin
1.1.2.4 Đặc điểm sinh trưởng
Cá chẽm là loài cá có kích thước lớn, khối lượng tối đa có thể đạt được là 60kg/con Cá tăng trưởng chậm ở giai đoạn đầu, khi đạt 20 - 30 g/con tốc độ tăngtrưởng nhanh hơn và chậm lại khi đạt 4kg/con Cá khi mới nở có chiều dài 1,44 mmsau 40 ngày tuổi đạt cỡ 17,4 mm và sau 50 ngày đạt 28,9 mm; 90 ngày đạt 93 mmkhối lượng trung bình khoảng 9 g/con
Trong điều kiện nuôi, cá giồng cỡ 2 - 2,5 cm sau thời gian ương từ 30 - 45ngày đạt cỡ 5 - 11 cm, sau 6 - 8 tháng nuôi cá đạt cỡ 350 - 3000 g/con Nhìn chungtốc độ tăng trưởng của loài cá này khác nhau tùy thuộc vào từng giai đoạn pháttriển, hệ thống nuôi, chế độ dinh dưỡng, kỹ thuật chăm sóc và quản lý ao nuôi
1.1.2.5 Phân biệt giới tính
Đặc điểm nổi bật trong việc sinh sản của cá chẽm là có sự thay đổi giới tính
từ cá đực thành cá cái sau khi tham gia lần sinh sản đầu tiên và đây được gọi là cáchẽm thứ cấp nhiên, cũng có những cá cái được phát triển trực tiếp từ trứng vàđược gọi là cá cái sơ cấp Chính vì vậy, trong thời gian đầu (1,5 - 2 kg) phần lớn là
cá đực, nhưng khi cá đạt 4 - 6 kg, phần lớn là cá cái
Thông thường, rất khó phân biệt giới tính của cá ngoại trừ vào mùa sinh sản,
có thể dựa vào các đặc điểm sau để phân biệt cá đực và cá cái:
√ Cá đực có mõn hơi cong, cá cái thì thẳng
√ Cá đực có thân thon dài hơn cá cái
√ Cùng tuổi, cá cái sẽ có kích thước lớn hơn cá đực
√ Trong mùa sinh sản, những vảy gần lỗ huyệt của cá đực sẽ dày hơn ở cá cái
√ Bụng của cá cái sẽ to hơn của cá đực vào mùa sinh sản
Trang 161.2 Tình hình nghiên cứu về cá chẽm trên thế giới và Việt Nam
vào một cửa sông nhiệt đới đến phản ứng của cá chẽm (Lates calcarifer) Sự ảnh
hưởng của nước ngọt chảy vào cửa sông vào quá trình sinh học, thông thường,tương quan giữa dòng nước ngọt và sản xuất thủy sản được sử dụng để hỗ trợ các
dự đoán cho rằng dòng chảy ảnh hưởng đến sự tồn tại của cá trong năm đầu đời.Các nghiên cứu này so sánh sức mạnh tương đối ở một số cá cửa sông với hai chỉ sốcủa nước ngọt chảy vào các cửa sông, dòng sông và lượng mưa ven biển Tìm thấymối tương quan giữa cá với số lượng nước ngọt chảy vào cửa sông trong mùa xuân
và mùa hè, khi cá chẽm đẻ trứng, khối lượng nước ngọt chảy vào cửa sông trongmùa xuân và mùa hè ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của cá [30]
Năm 2005, Robin S Katersky, và Chris Carter G (Trường nuôi trồng thủysản Tasmania và Viện Thủy sản, Trường Đại học Tasmania, L°Cked Bag 1370,Launceston, 7250 Tasmania, Australia) nghiên cứu: “Ảnh hưởng của nhiệt độ lên
tốc độ tăng trưởng của cá chẽm (Lates calcarifer)” Nhiệt độ là yếu tố môi trường được
quan trọng nhất ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá Thí nghiệm được tiến hành ở nhiệtnhiệt độ (27°C) cho hiệu quả tăng trưởng đến trên giới hạn nhiệt độ (39°C) cho lượngthức ăn, tăng trưởng và hiệu quả tăng trưởng Cá hương có khối lượng (4,87 ± 0,32 g)
đã được bố trí tại bốn nhiệt độ khác nhau 27, 33, 36 và 39°C và cho ăn hai lần mỗingày với (503,5 g protein thô; 182,5 g lipid; 150,1 g tro) Cá ương nuôi ở 39°C, tốc độtăng trưởng, tỷ lệ hiệu quả thức ăn, tỷ lệ protein hiệu quả và giá trị năng lượng đáng kểnăng suất thấp hơn tại các nhiệt độ khác Điều này cho thấy sự tăng trưởng đó đã đượctối ưu ở nhiệt độ 27 - 36°°C [25]
Trang 17Delamare - Deboutteville Wood, J D, Barnes AC (Phòng thí nghiệm Thú ythuỷ sản, Trung tâm Nghiên cứu biển, Đại học Queensland, St Lucia, Brisbane, Qld
4072, Australia) “Nghiên cứu phản ứng của niêm mạc da và kháng thể trong huyết
thanh ở cá chẽm (Lates calcarifer) trong nước biển và nước ngọt” Bằng cách tiêm
chủng sau intraperitoneal hoặc nhúng trực tiếp trong một loại vắc xin bất hoạtStrept°C°Ccus iniae Theo dự kiến, tuyến đường tiêm có tác dụng đánh dấu vào đápứng miễn dịch, với nhúng trực tiếp dẫn đến mức độ kháng thể trong huyết thanhthấp, phát hiện 21 ngày sau tiêm phòng ở 26°C Một phản ứng kháng thể đã đượcphát hiện ở cả nước nhầy và huyết thanh sau 21 ngày sau tiêm Cá thích nghi trongnước biển trước khi tiêm phòng cho thấy một cách rõ rệt, cao hơn niêm mạc phảnứng kháng thể so với cá thích nghi ở nước ngọt, không phụ thuộc vào lộ trình tiêmchủng, trong khi các phản ứng kháng thể trong huyết thanh không bị ảnh hưởng bởi độmặn [20]
Năm 2007, A.J Salama và M A Al-Harbi (Khoa Khoa học Hàng Hải, Đạihọc King Abdulaziz, P O Box, 80207, Jeddah, 21589, Ả Rập Saudi), tiến hành đềtài: “Đánh giá sự khác nhau giữa các phương pháp cho cá ăn và thức ăn khác nhau
lên phản ứng của cá chẽm (Lates calcarifer) giai đoạn cá giống” Nghiên cứu này nhằm phát triển một chương trình cho ăn thích hợp cho cá chẽm (Lates calcarifer)
giống, bằng cách kiểm tra tỷ lệ cho ăn khác nhau (FR) và cho ăn tần số (FF) Bamức cụ thể là cho ăn, 1%, 2% và 4% và 3 chế độ cho ăn (1, 2 và 4 lần/ngày) đãđược sử dụng trong nghiên cứu Kết quả: cho thấy cá tăng trưởng sau 60 ngày kể từngày nuôi, các giá trị cao nhất với 4% và 4 lần/ngày FCR tăng với FR ngày càng tăng,trong khi FCR đã đạt được với sự gia tăng FF Tỷ lệ sống trong tất cả các mức thức ăn
và tần số đã được gần như 100% Tương tác hiệu quả của FR và FF được sử dụngtrong tất cả các thông số tăng trưởng và FCR [16]
Năm 2008, G.J Partridgea, b,,, A.J Lymberyb và D.K Bourkea Phát triểnAquaculture đơn vị, Challenger TAFE, Fremantle, Australia Fish Đơn vị Y tế(Trung tâm Nghiên cứu cá và Thủy sản, Đại học Murd°Ch, Murd°Ch, Australia)
“Nghiên cứu Ấu trùng cá chẽm (Lates calcarifer) ương nuôi trong nước ngầm
Trang 18mặn” Ấu trùng cá chẽm (Lates calcarifer) được nuôi từ 2 đến 25 ngày trong độ
mặn 14‰ nước dưới đất với bổ sung kali hoặc không có (38% K - tương đương),
bổ sung kali (100% K - tương đương) Tăng trưởng, sự sống của ấu trùng nàyđược so sánh với những phát triển trong điều trị kiểm soát của nước biển (32‰)
và nước biển pha loãng đến 14‰ Những người nuôi trong nước ngầm mặn với38‰ tử vong hoàn trong vòng 2 ngày Tỷ lệ sống (51,1 ± 0,5%) Từ khi nở đến 25ngày sau, không có sự khác biệt đáng kể trong thời gian ấu trùng hoặc trọng lượngkhô giữa cá trưởng thành trong điều trị kiểm soát 14‰ và cá trong nước ngầmmặn với kali bổ sung đầy đủ Không có sự khác biệt đáng kể giữa các phươngpháp (trung bình 93,3 ± 2,5%) [22]
Năm 2009, (Một Trung tâm Khí hậu Thay đổi Queensland, PO Box 937,Cairns, Qld 4870, Australia Khoa học Môi trường, Đại học James Cook, PO Box
6811, Cairns, Qld 4870, Australia), tiến hành đề tài “Nghiên cứu sự biến đổi khí hậu
và di chuyển của cá chẽm (Lates calcarifer) về phía đông bắc Queensland, Australia
Jacqueline Balston” Kết hợp với một vòng đời, phân tích thống kê của các biến đổikhí hậu và của cá chẽm được bắt giữ từ khu vực sông Charlotte Bay xác định một sốmối quan hệ đáng kể Nhiệt độ bề mặt biển cao, lượng mưa tăng, lưu lượng nướcngọt hơi thấp (tất cả các biện pháp của một môi trường sống của cá phong phú vàhiệu quả) có ý nghĩa tương quan với cá chẽm bắt 2 năm sau đó và cho rằng sự sốngcủa cá chẽm được tăng cường theo các điều kiện này Cá tăng đáng kể với dòngnước ngọt cao và các sự kiện lượng mưa trong năm [28]
Năm 2010, G Biswas G Biswas, AR Thirunavukkarasu, AR Thirunavukkarasu b, JKSundarayb, JK Sundarayb and M Kailasamb và M Kailasamb,Kakdwip Research Centre ofCentral Institute of Brackishwater Aquaculture (ICAR), aKakdwip, South 24 Parganas,West Bengal, PIN - 743 347, India nghiên cứu Kakdwip Trung tâm của Viện Nghiêncứu Nuôi trồng thuỷ sản nước lợ (ICAR), Kakdwip, Nam 24 Parganas, Tây Bengal,PIN - 743 347, Ấn Độ, bCentral Institute of Brackishwater Aquaculture (ICAR), 75,Santhome High Road, RA Puram, Chennai, 600 028, India bViện nghiên cứu nuôitrồng thuỷ sản nước lợ (ICAR), 75, Đường cao Santhome, Puram RA, Chennai, 600
Trang 19028, Ấn Độ) “Nghiên cứu phương pháp tối ưu hóa cho ăn thường xuyên của cá
chẽm (Lates calcarifer) nuôi trong lồng lưới theo môi trường nước lợ” Với số lần
cho ăn khác nhau/ngày (1 lần, 2 lần, 3 lần, 4 lần) tiến hành trong thời gian 5 tuần
Cá chẽm giống cỡ (25,9 ± 0,3 mm), được thả với 120 con mỗi lồng được cho ăn vớichế độ ăn ấu trùng cá biển có chứa 55% protein thô ở mức 10% sinh khối mỗi ngàytrong 3 tuần đầu tiên, tiếp theo là 8% trong 2 tuần còn lại Mặc dù, mức tăng trưởngcao nhất ở 3 lần/ngày, chiều dài cuối cùng (45,9 ± 0,3 mm) và khối lượng (1203,8 ±4,6 mg) không khác biệt với 4 lần/ngày Trong khi đó, cá với một hoặc hai lần cho
ăn trong ngày tốc độ tăng trưởng thấp hơn Tốc độ tăng trưởng ở 3 lần và 4 lần/ngàycao hơn 1 lần, 2 lần/ngày Cho ăn 3 lần và 4 lần/ngày không có sự sai khác Tỷ lệsống khi cho cá ăn 3 lần/ngày (75,89 ± 4,17% cao hơn một và hai lần cho ăn Cho
cá ăn 3 lần/ngày FCR cải thiện đáng kể [23]
1.2.2 Tại Việt Nam
Theo nghiên cứu của các tác giả Trường Đại học Thủy sản - Nha Trang(Nguyễn Trọng Nho & Ctv (2001), Võ Ngọc Thám & Ctv (1994), Đầm Nha Phu -Khánh Hòa là một trong những vùng phân bố của cá chẽm ở Việt Nam Các điều kiệnkhí hậu, thủy văn, địa hình, yếu tố thủy lý, thủy hóa của Đầm Nha Phu rất thuận lợi cho
cá chẽm sinh sống và phát triển qua các giai đoạn trong vòng đời, thành thục sinhdục và sinh sản Theo Võ Ngọc Thám (1994) đã xác định được một số bãi đẻ của cá chẽm ởvùng cửa Đầm nơi có độ sâu 5 - 6 m, độ mặn 30 - 33‰
Một số công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái, cácloại thức ăn khác nhau lên quá trình sinh trưởng và phát triển của cá chẽm trongquá trình nghiên cứu của dự án NUFU (Nguyễn Quang Huy, 1999) cho rằng thức
ăn tốt nhất cho cá chẽm ở giai đoạn 20 - 40 ngày tuổi là Rotifer kết hợp với
Nauplius của Artemia.
Nguyễn Duy Hoan và Võ Ngọc Thám (2000), đã thực hiện thành công đề tài:
"Nghiên cứu thử sản xuất giống cá chẽm (Lates calcarifer, Bl°Ch) tại Khánh Hòa".
Các tác giả đã đưa ra quy trình sản xuất giống nhân tạo và ương nuôi cá chẽm từgiai đoạn cá bột lên giai đoạn cá giống
Trang 20Năm 2000, Huỳnh Văn Lâm (Khoa Nuôi trồng Thủy Sản - Trường Đại họcNha Trang), tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái lên
sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chẽm (Lates calcarifer) giai đoạn sau khi nở đến 25
ngày tuổi và thử nghiệm ương cá chẽm trong hệ thống bể nhỏ” Cá bố trí ở nhiệt độ(20; 25; 28; 31 và 35°C), độ mặn (0‰; 10‰; 20‰; 30‰ và 40‰), mật độ ương
ban dâu (50; 100 và150 cá thể/lít) và thức ăn như luân trùng, Artemia, các loại thức ăn
viên Kết quả: Ở độ mặn 20‰ cá tăng trưởng cao nhất [7]
Năm 2005, Ngô Thế Anh tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng sinh sản
nhân tạo và ương nuôi giống cá chẽm (Lates calcarifer Bl°Ch 1790) tại trại thực
nghiệm NTTS Yên Hưng - Quảng Ninh” Kết quả: Tiếp nhận và ứng dụng thànhcông quy trình công nghệ: nuôi vỗ cá bố mẹ; cho đẻ, thu và ấp trứng cá; ương nuôi
từ 1 đến 10 ngày tuổi và từ 10 - 30 ngày tuổi, nắm vững các vấn đề bệnh cá, gây
nuôi thức ăn tươi sống ở quy mô sản xuất tảo Chlorella, luân trùng Copepoda, kỹ thuật ấp trứng Artemia Chỉ tiêu kỹ thuật sản xuất giống cá chẽm tại Việt Nam năng
suất trứng bình quân đạt được 76.363 trứng/kg cá cái/đợt sinh sản, tỷ lệ cá bột (sovới trứng thụ tinh) đạt từ 70 - 95%, trung bình 82,38%, tỷ lệ sống của cá chẽm giaiđoạn 1 - 10 ngày tuổi đạt 59 - 71%, trung bình đạt 62,25%, cỡ cá trung bình đạtđược từ 3,9 - 6,1 mm trung bình đạt 4,81 mm; tỷ lệ sống của cá chẽm giai đoạn từ
10 - 30 ngày tuổi đạt 40 - 55%, trung bình đạt 47,63%; sau 30 ngày nuôi cỡ cá trungbình đạt được từ 4,2 - 6,3 cm, trung bình đạt 5,16 cm
Sản xuất được 7.986.000 cá bột, 5.254.150 cá hương, 2.400.000 cá giống.Đào tạo được 3 kỹ thuật viên của trường năm được quy trình kỹ thuật cả về
lý thuyết, thực hành và có khả năng chuyển giao quy trình kỹ thuật sản xuất giống
và ương nuôi cá chẽm [2]
Năm 2006, Lưu Thế Phương (Khoa Nuôi trồng Thủy Sản - Trường Đại học
Nha Trang), Nghiên cứu sử dụng mương nổi ương nuôi cá chẽm (Lates calcarifer
Bl°Ch 1790) giai đoạn 2 - 8 cm chiều dài thân” Thí nghiệm được thực hiện bàngmương nổi để ương cá Được tiến hành trong 2 đợt: Đợt 1 kéo dài trong 15 ngày,đợt 2 kéo dài trong 45 ngày Cá chẽm giống thả 15 - 20 mm được sản xuất nhân tạo
Trang 21tại địa phương và chuyển đến địa điểm ương thử nghiệm tại Ninh Lộc của trung tâmKhuyến ngư Khánh Hòa Mật độ ương là 10.000 con/mương, tương đương 3,3con/lit Mỗi đợt ương sử dụng 3 mương đã được vệ sinh bằng chlorine 100 ppm vớitổng cá giống 30.000 con Chiều dài toàn thân và khối lượng của cá được xác địnhtrước khi thực hiện thử nghiệm sau 2 ngày nuôi thuần Cá được cho ăn bằng thức ănviên của INVE và Grobest (cỡ đạt 800 -1200 micromet, hàm lượng protein 42 - 56%), đợtương 1, cá cho ăn thức ăn viên INVE trong tuần đầu và chuyển sang thức ănGrobest từ tuần thứ 2 Lượng thức ăn vào khoảng 2 - 18% khối lượng thân, đượcchia làm 14 lần cho ăn (mỗi giờ 1 lần từ 06h00 - 18h00) Lưu lượng nước vàomương khoảng 350 l/phút, DO cao hơn 4,0 mg/l Kết quả: sau 15 ngày ương, khốilượng và chiều dài toàn thân trung bình của cá lần lượt là 2,36 ± 0,03 g và 5,13 ±0,05 cm Tỷ lệ sống cao, đạt 81,9 ± 1,0% Tỷ lệ phân đàn trung bình theo khốilượng thân là 23,8 ± 0,83%, theo chiều dài toàn thân là 11,7 ± 0,28% Hệ số tiêu tốnthức ăn (FCR) là 0,83 ± 0,01 Sau 45 ngày, tốc độ sinh trưởng trung bình về khốilượng, chiều dài toàn thân lần lượt là 4,66 ± 0,05 %/ngày và 1,44 ± 0,03 %/ngày.Khi thu hoạch, chiều dài toàn thân trung bình của cá là 10,03 ± 0,23 cm; khối lượngthân trung bình là 16,36 ± 1,28 g Tỷ lệ sống trung bình không cao băng đợt 1(53,43 ± 1,39%) Tuy nhiên thời gian ương gấp 3 lần Tỷ lệ phân đàn trung bìnhtheo khối lượng thân của cá cao hơn rất nhiều so với đợt 1 (109,23 ± 3,36%) Hệ sốtiêu tốn thức ăn (FCR) của đợt ương 2 này là 2,8 ± 0,15 [8].
Năm 2008, Đinh Văn Khương và Hoàng Tùng (Khoa Công nghệ Sinh Trường Đại học Quốc Tế), Hoàng Thị Bích Đào (Khoa Nuôi trồng Thủy Sản- TrườngĐại học Nha Trang), tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chu kì quang vàcường độ chiếu sáng lên sinh trưởng, sự phân đàn, tỷ lệ sống và tỷ lệ ăn thịt đồng loạicủa cá chẽm” Thí nghiệm được tiến hành với 3 chu kì quang (12L:12D, 18L:6D và24L:0D) và 3 cường độ chiếu sáng (486 lux, 972 lux và 1480 lux) Kết quả: Tốc độsinh trưởng về chiều dài và khối lượng của cá giảm khi tăng cường độ chiếu sáng Tuynhiên sự khác biết này không lớn Chiều dài toàn thân (34,02 ± 0,80 mm), tốc độ sinhtrưởng riêng về chiều dài (3,86 ± 0,07%), khối lượng thân (0,66 ± 0,09 g), tốc độ sinh
Trang 22học-trưởng riêng về khối lượng (11,94 ± 0,63%) của cá ương dưới cường độ chiếu sáng 486lux lớn hơn của cá ương dười cường độ chiếu sáng 1480 lux (TL:32,48 ± 1,33 mm,SGRL: 3,64 ± 0,20 mm, BW: 0,56 ± 0,07 g và SGRW: 11,11 ± 0,63%) Chu kì quangkhông ảnh hưởng đến sinh trưởng, mức độ phân đàn, tỷ lệ sống và tỷ lệ ăn thịt đồngloại Cá chết là do hiện tượng ăn thịt đồng loại (từ 12 - 31%) Chỉ có một phần nhỏ (từ0,44 - 2,96%) là chết do không rõ nguyên nhân [3].
Năm 2009, Ngô Văn Mạnh (Khoa Nuôi trồng Thủy Sản - Trường Đại học NhaTrang), Hoàng Tùng (Khoa Công nghệ Sinh học - Trường Đại học Quốc Tế - Đại họcQuốc gia TP HCM) tiến hành đề tài: “Ảnh hưởng của chế độ cho ăn lên sinh trưởng,
tỷ lệ sống và hệ số chuyển đổi thức ăn của cá chẽm (Laters calcarifer) giống ương
trong mương nổi” Thí nghiệm được thực hiện để đánh giá ảnh hưởng của chế độ cho
ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và hệ số chuyển đổi thức ăn của cá chẽm giống ươngtrong mương nổi Cá được nuôi trong các mương nổi nhỏ có thể tích 60 lít/mương đặttrong ao, tỷ lệ trao đổi nước của mỗi mương khoảng 7 lần/giờ Bốn chế độ cho ăn (2, 4,
6 và 8 lần/ngày) được sử dụng để ương cá chẽm giống (chiều dài và khối lượng lần lượt
là 17,8 ± 2,0 mm và 0,08 ± 0,03 g), mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần và kéo dài trong 17ngày Kết quả: Chế độ cho ăn ảnh hưởng lên tốc độ sinh trưởng (SGR) của cá Tốc độsinh trưởng thấp nhất ở chế độ cho ăn 2 lần/ngày (15,8 %/ngày) và không có sự saikhác giữa các chế độ cho ăn từ 4 đến 8 lần/ngày (16,2 -17,0 %/ngày) Tuy nhiên chế
độ cho ăn không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống (68,5 79,5%) và hệ số FCR (0,57 0,61) của cá Ăn thịt lẫn nhau trong quần đần là nguyên nhân chính làm giảm tỷ lệsống của cá ương Từ kết quả nghiên cứu ở trên cho thấy, nên áp dụng chế độ cho
-ăn 4 lần/ngày để ương cá chẽm trong mương nổi [13]
1.3 Tình hình sản xuất và ương nuôi cá chẽm trên thế giới và tại Việt Nam
1.3.1 Trên thế giới
Cá chẽm (Lates calarifer) là một loài cá có giá trị kinh tế quan trọng ở vùng
nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc Châu Á Thái Bình Dương, cá được nuôi thươngphẩm ở Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Hồng Kông và Đài Loan trong
Trang 23Đến năm 1973 họ đã đạt được thành công bằng việc sử dụng đàn cá bố mẹthành thục được đánh bắt ngoài tự nhiên cho thụ tinh nhân tạo Tiếp theo đó kỹthuật sinh sản nhân tạo được cải tiến và đạt được thành công, đến năm 1975 họ đã
sử dụng đàn cá bố mẹ thành thục trong điều kiện nuôi cho sinh sản thành công vàhoàn thiện các giai đoạn phát triển của vòng đời cá chẽm trong điều kiện sinh sảnnhân tạo
Sau đó ở Thái Lan tiếp tục thành công trong việc kích thích cá chẽm sinh sản
tự nhiên bằng điều khiển các yếu tố môi trường
Quy trình sản xuất giống cá chẽm sau đó được mở rộng ra ở nhiều nước:Philipin, Indonesia, Malaysia, Singapore, Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Australia(Mackinnon, 1984) Năm 1981 Thái Lan sản xuất được 20 triệu cá giống và nuôithương phẩm thu được 300 tấn Theo Ruangpanit (1987), năm 1980 Thái Lan có 10trại sản xuất giống cá chẽm, năm 1984 tăng thêm 50 trại, sản lượng cá hương hàngnăm đạt hơn 100 triệu; trong đó Trạm Thủy sản Satul sản xuất hơn 30 triệu, khoảng70% cá hương và cá giống được xuất khẩu ra thị trường thế giới: Malaysia,Singapore, Hồng Kông, Đài Loan…
Thành công đầu tiên trong việc sản xuất cá bột và giống cá chẽm (Lates
calcarifer) ở Malaysia được thực hiện ở Viện Nghiên Cứu Nghề Cá Glugor
-Penang vào năm 1982 Sự thành công này đã kích thích mạnh mẽ sự phát triển nghề
nuôi cá chẽm (Lates calcarifer) ở Malaysia Sản lượng cá chẽm nuôi thương phẩm
tăng lên, ước lượng 400 tấn/năm
Philippin việc cho cá chẽm (Lates calcarifer) sinh sản thành công vào tháng
8/1983 và kỹ thuật sản xuất được cải tiến, đơn giản hóa cho dễ sử dụng và đạt đượchiệu quả hơn (Fortes, 1987)
Một số nước khác như: Australia, Papua New Guinea…đạt được thành công
trong sinh sản nhân tạo cá chẽm (Lates calcarifer) vào những năm 80 dựa trên kỹ
thuật sản xuất giống ở Thái Lan
Từ những thành công đầu tiên trong nghiên cứu sinh sản nhân tạo loài cá
chẽm (Lates calcarifer) ở Thái Lan những năm đầu thập niên 70, nghề nuôi có
Trang 24chẽm đã phát triển mạnh mẽ, đã trở thành nghề nuôi có hiệu quả kinh tế cao khôngchỉ ở Thái Lan mà còn lan rộng ra các nước trong khu vực: Philippin, Indonesia,Bunia, Singapore, Ấn Độ, Đài Loan, Trung Quốc, Australia và Papua New Guinea.
Theo Mackinnon (1984), năm 1981 Thái Lan nuôi thương phẩm đạt 300 tấn, cá
chẽm (Lates calcarifer) được nuôi trong ao đất và nuôi lồng Theo Anon (1985) đã
tổng kết cá chẽm được nuôi ở Thái Lan vào năm 1983 đạt được 512 tấn
Ở Indonesia cá chẽm (Lates calcarifer) là một trong những loài cá nuôi có
nhiều triển vọng vì chúng sinh trưởng nhanh và dễ nuôi Năm 1987, Indonesia thuđược 571 tấn cá chẽm nuôi nước lợ (Rabalal & Soesanto, 1982), Năm 1983 thu được
1060 tấn cá chẽm nuôi từ nội địa (theo FAO, 1985)
Ở Philippin bắt đầu nuôi cá chẽm (Lates calcarifer) từ những năm 1983 dựa
vào kỹ thuật, kinh nghiệm của các nước trong khu vực
Ở Singapore năm 1985 tổng sản lượng thủy sản nuôi đạt 1.284 tấn trị giá 8,8
triệu USD, trong đó cá chẽm (Lates calcarifer) chiếm 13% về tổng sản lượng (169
tấn) và đạt 20% giá trị (1,8 triệu USD) và nó đạt hơn 50% tổng sản lượng cá nuôi.Nguồn cá hương, cá giống được nhập từ Thái Lan cá được nuôi trong lồng Năngsuất hàng năm là 36,75 kg/m2 Sản lượng cá trung bình đạt 15 tấn/ha/năm (Cheong
& Yeng, 1987)
Trại sản xuất cá chẽm (Lates calcarifer) có quy mô lớn nhất được thành lập
đầu tiên ở Australia, sau đó một số trại được xây dựng ở Queensland, sản lượng cáchẽm nuôi thương phẩm đạt 500 tấn/năm 1995
Ở Ấn Độ, nghề nuôi cá chẽm (Lates calcarifer) là nghề truyền thống, cá
được nuôi trong ao (James & Marichamey, 1987)
1.3.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, theo khảo sát, nguồn lợi cá chẽm giống và hiện trạng nghề nuôi
cá chẽm (Lates calcarifer) ở đồng bằng Sông Cửu Long vẫn hoàn toàn phụ thuộc
vào nguồn giống tự nhiên trong khi nguồn lợi cá chẽm vùng biển cũng chịu ảnhhưởng rất lớn bởi hoạt động Nuôi trồng Thủy sản ven biển, do đó Nghề nuôi cáchẽm vẫn chưa phát triển được Kết quả điều tra cho thấy năng suất cá chẽm trong
Trang 25các ao, đầm nuôi tôm ven biển giảm 40% so với thời điểm trước năm 1996, điềunày cũng cho phép suy đoán nguồn cá chẽm giống ven biển cũng có sự suy giảmđáng kể Cũng có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm nguồn lợi này như cácđiều kiện kinh tế xã hội là quan trọng.
Vấn đề nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo và xây dựng quy trình nuôi phùhợp để từng bước đưa loài cá này trở thành đối tượng nuôi kinh tế, cho vùng ven bờ
và nuôi lồng, nuôi ao, việc làm trên hết sức cần thiết hiện nay ở nước ta Nghiêncứu hoàn thiện quy trình sản xuất gống đảm bảo chất lượng và sản xuất đại trà làvấn đề cần được quan tâm
Trang 26Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cá chẽm Lates calcarifer giai đoạn cá hương lên cá giống với cỡ cá có khối
lượng: 2,382 (g); Chiều dài: 3,3 (cm)
2.2 Vật liệu nghiên cứu
* Thức ăn: Sử dụng thức ăn là cá tạp nước ngọt xay nhỏ
* Công trình nuôi
Bể nuôi: gồm 9 bể composite, thể tích 0,25 m3
Bể lọc cơ học
Máy sục khí: Gồm 1 máy lớn và hai máy sục khí nhỏ
Máy bơm: Một máy bơm cỡ lớn
* Dụng cụ xác định yếu tố môi trường
pH: Máy đo PH
Nhiệt độ: Nhiệt kế thủy ngân có độ chính xác đến 1°C
Oxy: Bộ test oxy
* Dụng cụ xác định tốc độ tăng trưởng
Khối lượng: Sử dụng cân điện tử có độ chính xác đến 0,01g
Chiều dài: Sử dụng thước nhựa có chia vạch, độ chính xác đến 1mm
* Một số dụng cụ khác: Thau, vợt…
2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
* Địa điểm nghiên cứu: Trại thực nghiệm thủy sản nước ngọt Hưng Nguyên,khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Vinh, Khối 2 - Thị trấn Hưng Nguyên -Nghệ An
* Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4/2011 đến tháng 6/2011
Trang 272.4 Nội dung nghiên cứu
* Theo dõi sự biến động của các yếu tố môi trường
* Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống cá chẽm
* Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng cá chẽm
* Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ cá ăn thịt lẫn nhau
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Sơ đồ khối nghiên cứu
Bước đầu thử nghiệm ương cá vược (Lates calcarifer)
rong môi trường nước ngọt với 3 mật độ 140 con/m2,
Tỷ lệ sống
Tỷ lệ cá
ăn thịt lẫn nhau
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Thử nghiệm ương cá chẽm trong môi trường nức ngọt
Xác định mật độ ương nuôi phù hợp
Kết luận và kiến nghị
Trang 282.5.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành qua hai bước:
* Bước 1: Tiến hành thuần ngọt cá từ độ mặn 32 - 34‰ xuống 0‰ bằngcách cho nước ngọt từ từ vào bể và mỗi ngày có thể giảm từ 10 - 12‰ sau 3 ngàytiến hành thuần ngọt cá có thể sống trong môi trương nước ngọt hoàn toàn
* Bước 2: Tiến hành thí nghiệm với các mật độ khác nhau Cá sau khiđược đưa về được thuần dưỡng trong môi trương nước ngọt rồi sau đó tiến hànhthí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn một nhân tố
Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức tương ứng với các mật độ
khác nhau và được bố trí trong môi trường nước ngọt, mỗi nghiệm thức được lặp lại
3 lần, các yếu tố phi thí nghiệm được khống chế giống nhau Các bể thí nghiệmđược đặt trong nhà Các lô thí nghiệm được bố trí cụ thể như sau:
+ Mật độ 1: Thả cá với số lượng là 35 con/bể composite có kích thước0,25(m3) tương ứng với mật độ 140 con/m2
+ Mật độ 2: Thả cá với số lượng 45 con/bể composite có kích thước 0,25
MĐ3- 3
Trang 29+ Mật độ: Thả cá với số lượng 55 con/bể composite có kích thước 0,25 (m3)xấp xỉ với mật độ 120 con/m2
Điều kiện môi trường ban đầu
mà diều chỉnh lượng thức ăn sao cho phù hợp
+ Chế độ thay nước và xiphong đáy bể: 2 ngày thay nước một lần, mỗi lầnthay từ 20 - 30 % nước trong bể, nước phải được thay từ từ trong thời gian 1h tránhlàm cho cá sốc khi thay nước đột ngột 1 -3 ngày xi phông một lần tùy thuộc vàomức độ ô nhiễm ở mỗi bể
+ Sục khí được chạy liên tục trong suốt quá trình tiến hành đề tài
+ Theo dõi sức khỏe cá hằng ngày
2.5.3 Phương pháp thu thập số liệu
* Phương pháp xác định các chỉ số môi trường
Số liệu được thu thập trực tiếp qua các lần đo đạc và kiểm tra bể ương
Nhiệt đô nước: Nhiệt độ nước trong quá trình thí nghiệm được theo dõi hàngngày, mỗi ngày đo 2 lần (6h30' và 14h30') bằng nhiệt kế rượu
Độ pH: pH của nước cũng được theo dõi hàng ngày, mỗi ngày 2 lần (6h30'
và 14h30') bằng máy do pH
Hàm lượng Oxy hòa tan được đo 2 lần/ngày vào lúc (6h30' và 14h30') với bộtets Oxy
* Phương pháp xác định các chỉ số của cá thí nghiệm
Xác định tỷ lệ sống: Xác định bằng phương pháp ước lượng (cân và đếm số
lượng cá trong các bể thí nghiệm)
Trang 30Các chỉ tiêu tăng trưởng về khối lượng và kích thước: Thu thập trực tiếp quacác lần cân, đo với mẫu ngẫu nhiên là 30 con/lần kiểm tra, 10 ngày/lần Đo chiềudài toàn thân cá bằng thước chia vạch đến 1 mm, cân khối lượng cá bằng cân điện
tử, độ chia đến 0,001 g
Tỷ lệ cá ăn thịt lẫn nhau được xác định bằng phương pháp ước lượng (lưu lại
số cá chết quan sát được hằng ngày khi chăm sóc)
* Phương pháp xác định các tiêu chí đánh giá
Ước lượng tỷ lệ sống
% 100 1
2 x T
Tốc độ tăng trưởng đặc trưng của cá về kích thước và khối lượng
% 100
* ) 1 ln(
) 2 ln(
T
W W
Trong đó:
ADG (g,cm/ngày): Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày
SRG (%/ngày): Tốc độ tăng trưởng đặc trương cuả cá
W1: Khối lượng hoặc chiều dài cá cân ở thời điểm đo1
W2: Khối lượng hoặc chiều dài cá cân ở thời điểm 2
Tỷ lệ cá ăn thịt lẫn nhau (%)
A= (I - F - M) *100/ I
Trong đó:
A: Tỷ lệ cá ăn thịt lẫn nhau
Trang 31I: Số cá thả ban đầu.
F: Số cá khi kết thúc thí nghiệm
M: Số cá chết quan sát được loại ra hằng ngày trong quá trình thí nghiệm
Hiệu quả kinh tế
Lợi nhuận = Tổng thu - tổng chi
2.5.4 Phương pháp sử lý số liệu
Toàn bộ số liệu thu thập được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học vàphần mền ứng dụng Microsoft Excel, phần mềm SPSS 15.0
Trang 32Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Theo dõi diễn biến các yếu tố môi trường trong bể ương nuôi cá chẽm
Max Min
MĐ2
SD TB
Max Min
MĐ 3
SD TB
Max Min
0-10 2323,67,5 024,292626,83,5 027,292322,17,5024,762626,67270,582324,50240,,5872727,50280,5011-20 2525,83260,,5762928,50 301,,5322525,50,5 127,502927,17,5131,752423,,675251,04,52827,33 291,,25521-30 2626,50270,502928,33311,532625,83,5 128,262929,83,5311,04,5 2625,00 260,,5872929,83300,7631-40 2727,83,5280,58,5 3130,17,5032,7626,2650270,503131,17310,,52927,2750280,503030,67321,1541-50 28,2867290,5832,3100331,002827,00,5280,50,5 31,3033320,152827,00291,003129,33,5133,76
Trang 33Hình 3.1 Biến động của nhiệt độ trong các bể thí nghiệm
Qua bảng 3.1 ta thấy nhiệt độ trong ngày giữa các công thức dao động từ22,5 - 33°C, thích hợp cho cá sinh trưởng và phát triển Nhiệt độ cao nhất khi cáđược 41 - 50 ngày tuổi (khoảng 29,5 - 33°C) và thấp nhất khi cá ở 0 - 10 ngày tuổi(khoảng 22,5 - 24,5°C)
Nhiệt độ giữa buổi sáng và buổi chiều trong cùng một ngày cũng có sự biếnđộng, tuy nhiên sự biến động đó nằm trong phạm vi thích hợp với cá chẽm nhiệt độbuổi sáng và buổi chiều trong các bể thường dao động trong khoảng 3 - 4°C
Nhiệt độ giữa ba mật độ ương nuôi có sự chêng lệch trong khoảng 1 - 2°C vànhiệt độ của các mật độ nuôi không khác nhau mấy và luôn nằm trong ngưỡng nhiệtthích hợp cho sự phát triển cuả cá chẽm
Theo Huỳnh Văn Lâm (2000) và Tucker (2000), cá chẽm có thể thích ứngvới nhiệt độ từ 21 - 39°C Theo Katersky và Carte (2005) cho rằng, nhiệt độ thíchhợp cho cá chẽm sinh trưởng từ 27 - 36°C