Bài viết Văn chơng Nguyễn Bỉnh Khiêm của Bùi Văn Nguyên [26, 285] đã đề cập đến đôi nét nghệ thuật của thơ vịnh vật Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhng chỉ là để tìm hiểu không giannghệ thuật trong
Trang 1Lời cảm ơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn trờng Đại học Vinh đã dành cho tôi nhiều chỉ dẫn khoa học quý báu Đặc biệt, tôi xin đợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Phạm Tuấn Vũ, ngời luôn tận tình chỉ bảo cho tôi trong công việc
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia
đình, ngời thân, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Vinh, ngày 20 tháng 12 năm 2008
Tác giả luận văn
Trang 3vịnh vật Việt Nam thời trung đại
1.3.4 Từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX 19
Chơng 2: cấu trúc ý nghĩa của bài thơ vịnh vật
2.1.1 Miêu tả sự vật và biểu hiện con ngời qua thế giới đồ vật, sự
vật
31
2.1.2 Miêu tả sự vật và biểu hiện con ngời qua thế giới con vật 38 2.1.3 Miêu tả sự vật và biểu hiện con ngời qua thế giới thực vật 42
2.2.1 Cơ sở của yếu tố tục và thanh, thanh và tục 45
Trang 41.1 Thơ vịnh vật là loại tác phẩm có số lợng khá lớn trong văn học trung
đại Việt Nam Nhiều nhà thơ thời trung đại sáng tác thơ vịnh vật Thi nhân xalấy các sự vật làm đề tài ngâm vịnh, có khi chỉ vịnh chơi có khi để gửi gắm t t-ởng, tình cảm kín đáo của mình Tuy nhiên cho đến nay, sự nghiên cứu loại thơnày cha nhiều
1.2 Thơ vịnh vật là loại thơ dễ làm nhng lại khó thành công Không phảibài thơ vịnh vật nào cũng là một tác phẩm văn chơng đích thực ở loại thơ này,giá trị nghệ thuật của các tác phẩm rất khác xa nhau Không ít tác phẩm chỉ lànhững ẩn dụ của đạo đức phong kiến, ít tính thẩm mỹ, bên cạnh đó là những tácphẩm có tính thẩm mỹ cao, đợc đánh giá là những tác phẩm nghệ thuật xuấtsắc Tình hình đó càng đòi hỏi có sự nghiên cứu để xác định giá trị của loại thơnày
1.3 Trong chơng trình Ngữ văn ở THCS, THPT hiện nay có những bàithơ vịnh vật và có những sai sót trong hớng dẫn dạy - học Nghiên cứu đề tàinày góp phần khắc phục những nhợc điểm này
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Thơ vịnh vật là “loại thơ chuyên lấy tự nhiên giới hoặc một vật thểnào đó trong đời sống hằng ngày làm đối tợng miêu tả” [30, 834] Đây là loại
Trang 5thơ xuất hiện sớm trong lịch sử văn học Trung Quốc Với số lợng khá nhiều, nộidung t tởng khá phong phú thế nhng cho đến nay thành tựu nghiên cứu về thơvịnh vật cha nhiều Cha có công trình nghiên cứu chuyên sâu loại thơ này Ngời
ta chỉ mới dừng lại ở các hiện tợng cụ thể chứ cha có sự khái quát toàn diện ờng ngời ta chỉ điểm qua thơ vịnh vật của tác giả nào đó khi nghiên cứu về thơcủa họ Về Quốc âm thi tập, Phạm Thế Ngũ cho rằng: “Có nhiều bài trong Quốc âm thi tập đề tài là vịnh cảnh vật, cỏ cây, chim muông” nhằm thể hiện
Th-“một quan niệm thởng cảnh”, “cái thẩm mỹ quan của tác giả” [39, 305] Nhànghiên cứu cha khái quát về thơ vịnh vật của Nguyễn Trãi Bài viết Văn chơng Nguyễn Bỉnh Khiêm của Bùi Văn Nguyên [26, 285] đã đề cập đến đôi nét nghệ
thuật của thơ vịnh vật Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhng chỉ là để tìm hiểu không giannghệ thuật trong thơ ông chứ không chủ đích nghiên cứu về loại thơ này TrầnThị Băng Thanh và Vũ Thanh trong Sức sống của thơ ca và t tởng Nguyễn Bỉnh Khiêm [38, 11] đã chỉ ra nội dung thơ vịnh vật thể hiện chí hớng của Nguyễn
Bỉnh Khiêm, nói đến vai trò giúp đời, trách nhiệm của nho sinh, ớc vọng trởthành bậc vơng tớng của đời Chu, đời Hán Bài viết còn chỉ ra nội dung của một
số bài thơ vịnh vật nh Da tử, Duẩn thi, Bạch lộ thị, Cự ngao đới sơn Bài viết
này nhằm mục đích thấy rõ tấm lòng u quốc ái dân của Nguyễn Bỉnh Khiêmchứ không nhằm nghiên cứu về thơ vịnh vật Gần đây, trong khoá luận tốtnghiệp, Phạm Thị Ngọc Lan đã chủ ý đi vào nghiên cứu thơ vịnh vật củaNguyễn Bỉnh Khiêm Tác giả đã chỉ ra rằng, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm “vịnh về
sự vật nào cũng vậy, dù thanh cao hay bình thờng, tựu trung lại ông cũng đềunói lên cái chí khí của ngời quân tử trong xã hội ngày xa muốn đem tài năngcông sức của mình để thực hiện mộng kinh bang tế thế” [18, 59] Mặc dù đã cómột cái nhìn khá toàn diện về thơ vịnh vật của Nguyễn Bỉnh Khiêm nhng khoáluận cũng chỉ mới dừng lại ở một hiện tợng cụ thể nên cha thấy hết vị trí và
đóng góp của loại thơ này trong diễn trình văn học trung đại Việt Nam, vì thếsức khái quát cha cao
Trang 62.2 Tình hình nghiên cứu về thơ vịnh vật trong Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông và Hội Tao đàn cũng nh trong thơ Nôm truyền tụng Hồ
Xuân Hơng không nằm ngoài tình trạng chung nh đã trình bày trên
Nhìn chung đây đó các nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến thơ vịnh vật,nhng chỉ mới điểm qua chứ cha đi sâu vào nghiên cứu có hệ thống Lời nói đầu
Hồng Đức quốc âm thi tập có nêu đôi nét về thơ vịnh vật của Hội Tao đàn, chủ
yếu là nêu nhận xét, so sánh trào phúng trong thơ vịnh vật của Hội Tao đàn vớithơ vịnh vật của Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hơng: “Trong Hồng Đức quốc âm thi tập đã hình thành nên một hệ thống thơ trào phúng, có chỗ tiếp cận với thơ
ca trào phúng dân gian đã có cả một loạt bài thơ trào phúng, rải rác trong cácmục, nhng tập trung ở mục Phẩm vật môn, thí dụ nh tả con cóc, con rận, con
muỗi, cái quạt, cối xay, cây đánh đu mà về sau chúng ta bắt gặp trong một loạtthơ trào phúng gọi là của Hồ Xuân Hơng” [8, 26] Hồng Đức quốc âm thi tập là
một tập thơ của nhiều tác giả với nhiều phong cách khác nhau, đợc chia ra nămphần: Thiên địa môn, Nhân đạo môn, Phong cảnh môn, Phẩm vật môn và Nhàn ngâm ch phẩm Thơ vịnh vật nằm rải rác ở các phần, đặc biệt tập trung ở Phẩm vật môn và Thiên địa môn.
Nhìn tổng quát thì thơ vịnh vật của Hồ Xuân Hơng đợc đề cập nhiều hơncả Tác giả Trơng Xuân Tiếu ở công trình Tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hơng có nhắc đến những bài thơ vịnh vật Hồ Xuân
Hơng nh Vịnh quạt I, Vịnh quạt II, Trống thủng, Vịnh trăng, cho là ở những
bài thơ này đã “xuất hiện nhiều danh từ chỉ thời gian sinh hoạt của con ngờitrong cuộc sống” [45, 83] để làm rõ thời gian nghệ thuật trong thơ Nôm truyềntụng Hồ Xuân Hơng chứ cũng không chủ đích đi vào tìm hiểu thơ vịnh vật.Trong bài “Bánh trôi n ớc - nỗi cảm th” ơng thân phận, từ việc nhìn nhận Bánh trôi nớc là một bài thơ tứ tuyệt xinh xắn làm theo lối thơ vịnh vật, tác giả Trần
Đình Sử đã nêu lên đặc điểm cơ bản của thơ vịnh vật: “Một là, miêu tả chogiống với sự vật đợc vịnh, sao cho ngời ta đọc lên là nhận đợc ra Hai là, kí thác
Trang 7tâm tình, mợn sự vật mà gửi gắm tình cảm, ý chí, t tởng Thơ vịnh vật cànggiống càng khéo, gửi gắm tâm tình càng sâu càng hay” [36, 406] Trong bài
Tìm hiểu Bánh trôi nớc theo lối một bài thơ vịnh vật cũng đã hình thành đợc
những nét cơ bản giúp ngời đọc có đợc ý niệm về thơ vịnh vật Theo tác giả,một bài thơ vịnh vật có cái hay, cái độc đáo của riêng nó và “Bài thơ vịnh vậtkhác bài văn vần dạy về vạn vật ở chỗ không chú trọng trớc hết ở nhận biết vềvật, mà chú trọng trớc hết ở biểu lộ t tởng cảm xúc” [52, 131] Nh vậy các bàiviết của hai tác giả Trần Đình Sử và Phạm Tuấn Vũ đã có một cái nhìn chungnhất về loại thơ vịnh vật, nhng do chỉ mới dừng lại ở một bài thơ cụ thể nên tínhkhái quát cha cao, nhiều vấn đề cha đợc đi sâu
Cha có một công trình nào chuyên sâu nghiên cứu một cách đầy đủ, toàndiện về loại thơ vịnh vật Điều này chứng tỏ thơ vịnh vật cha đợc nhìn nhận
đúng mức Cần có những công trình nghiên cứu chuyên sâu để thấy hết giá trị,
đặc trng của loại thơ vốn rất quen thuộc của văn học trung đại này Từ đó,chúng ta sẽ có một cách tiếp cận đúng đắn hơn đối với từng bài thơ vịnh vật cụthể
Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu diễn trình thơ vịnh vật qua cácthời kì lịch sử văn học, đặc biệt là đi sâu tìm hiểu thơ vịnh vật của Hồng Đức quốc âm thi tập và thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hơng để thấy đợc vị trí quan
trọng của loại thơ này đồng thời thấy đợc những đặc trng về phơng diện biểu đạtcủa nó
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
ở luận văn này, chúng tôi sẽ đi vào những trọng tâm sau:
3.1 Phác họa diễn trình thơ vịnh vật trong văn học trung đại Việt Nam3.2 Làm rõ cơ sở triết học, cơ sở xã hội, cơ sở mỹ học của thơ vịnh vật3.3 Khái quát những đặc điểm của thơ vịnh vật trong văn học Việt Namthời trung đại về phơng diện thể thơ, cấu trúc ý nghĩa
4 Phơng pháp nghiên cứu
Trang 84.1 Đặt hiện tợng thơ vịnh vật trong văn hoá tinh thần thời trung đại, một
đời sống văn hoá tinh thần có nhiều sự ràng buộc do sự bất bình đẳng xã hội
Đồng thời phải xem xét nó nh là kết quả của truyền thống thẩm mỹ a thích sựkín đáo, tế nhị
4.2 Sử dụng các phơng pháp nghiên cứu: thống kê, tổng hợp, phân tích,
so sánh
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn trình bàytrong 3 chơng:
Chơng 1: Cơ sở triết học, cơ sở xã hội và mỹ học của thơ vịnh vật Sơ lợcdiễn trình thơ vịnh vật Việt Nam thời trung đại
Chơng 2: Cấu trúc ý nghĩa của bài thơ vịnh vật
Chơng 3: Hình thức thơ vịnh vật
Trang 10Có những quan niệm khác nhau về thơ vịnh vật Có ngời cho rằng loạithơ miêu tả sự vật, hiện tợng của tự nhiên (nh Vịnh năm canh trong Hồng Đức quốc âm thi tập) là thơ vịnh vật Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh giải thích
vịnh là ngâm thơ, bài thơ có ngụ ý Vịnh vật là lối thơ miêu tả cho ra một giốngvật gì [1, 518] Quan niệm này có phần phiến diện, một bài thơ vịnh vật khôngchỉ đơn thuần là miêu tả cho ra giống một vật gì Điều khác biệt giữa một bài
thơ vịnh vật và một bài thơ dạy về vạn vật là ở chỗ bài thơ vịnh vật không chútrọng trớc hết ở nhận biết về vạn vật, mà chú trọng ở biểu lộ cảm xúc Chúng tôithấy có nhiều ý kiến xác đáng hơn Chẳng hạn Viên Mai cho là: “thơ vịnh vật
mà không ký thác là những câu đố trẻ con” Một ý kiến khác cho là: “Trong bàithơ vịnh vật mọi câu thơ đều nhằm hình thành tợng vật, đồng thời luôn gửi đếngiá trị nhân sinh nhờ những cách phô diễn đặc biệt mà phổ biến nhất là chọnnhững từ ngữ và cách diễn đạt tạo nhiều khả năng liên tởng” [52, 131]
Trong luận văn này chúng tôi quan niệm thơ vịnh vật là loại thơ viết vềvật nhng nhận thức thẩm mỹ lại hớng về con ngời, vì vậy hình tợng ẩn dụ xuyênsuốt bài thơ
1.2 Cơ sở triết học, cơ sở xã hội và thẩm mỹ của thơ vịnh vật
Trang 11Xuất phát từ t tởng ấy, con ngời thời trung đại luôn quan niệm “vạn vậthữu linh”, mọi vạn vật sinh tồn trong vũ trụ đều có linh hồn, có sự sống nh conngời chứ không phải là thứ vô tri vô giác Giữa con ngời và vạn vật luôn có sự t-
ơng đồng, không có ranh giới Con ngời thấy hình ảnh cuộc đời mình qua đờisống của cây cỏ và vạn vật Vì thế, khi muốn kí thác một điều gì đó ngời ta th-ờng mợn lối nói ẩn dụ thông qua một vật nào đó chứ ít khi bày tỏ một cách trựctiếp
1.2.2 Cơ sở mỹ học
Quan niệm thẩm mỹ thời trung đại đề cao sự kín đáo tế nhị Cơ sở vậtchất của quan điểm mỹ học này là nớc ta nằm trong nền văn minh nông nghiệplúa nớc Nền văn minh này đã hình thành nên đặc điểm tâm lý của con ngời là a
sự nhẹ nhàng, kín đáo, trọng tình, trọng tĩnh Tâm lý ấy đi vào văn học và trởthành một đặc trng của văn chơng thời trung đại: a sự tế nhị, kín đáo, a nhữngcái nhỏ nhắn, xinh xắn Ta thấy trong văn học Việt Nam nói chung, văn họctrung đại nói riêng không có tác phẩm văn học nào đồ sộ kiểu nh Iliat - Ôđixê
hay Ramayana Tác phẩm đợc xem lớn nhất của Việt Nam là Truyện Kiều cũng
chỉ 3254 dòng lục bát Quan điểm thẩm mĩ này còn chi phối, ảnh hởng đến mọi
Trang 12lĩnh vực của đời sống chứ không riêng gì văn học Trong lĩnh vực kiến trúc,những công trình đợc tạo ra không bề thế, đồ sộ mà chỉ nhỏ nhắn, xinh xắn ví
dụ chùa Một Cột
Có thể nhận thấy trong t duy của các nhà văn thời trung đại, cái đẹp là cái
đang hình thành chứ không phải là cái đã hình thành Ngời làm văn phải biết tạo
ra những tầng nghĩa sâu xa ẩn sau bề mặt của câu chữ, để rồi ngời đọc văn nhậnbiết những ẩn ý ấy mà tâm đắc, thú vị Một tác phẩm văn chơng nếu đa lại chongời đọc cảm giác đầy đủ, trọn vẹn, rõ ràng quá, đến mức không còn phải liên t-ởng, suy nghĩ gì nữa thì tác phẩm ấy sẽ thiếu sức hấp dẫn Nhờ tạo đợc nhữngkhoảng trống, khoảng lặng mà thơ ca đã tạo đợc sức hút, niềm say mê khámphá của nhiều lớp ngời đọc qua các giai đoạn khác nhau Mà để tạo đợc sự đanghĩa trong thơ, hình thức thông qua đối tợng có sự liên tởng nào đó để bộc lộ ttởng là một trong những lựa chọn của thơ ca thời trung đại
1.2.3 Cơ sở xã hội
Thời trung đại, đời sống văn hoá tinh thần có rất nhiều sự ràng buộc do
sự bất bình đẳng xã hội Con ngời phải chịu những ràng buộc của các nguyêntắc đạo đức, lễ giáo khắt khe, nghiệt ngã nh : Tam cơng ngũ thờng, tam tòng tứ
đức, t tởng nam quyền Trong xã hội bất bình đẳng ấy, không phải mọi t tởng,tình cảm của con ngời lúc nào cũng có cơ hội đợc biểu lộ trực tiếp Những tiếngnói riêng, ý kiến riêng, khát vọng riêng không thể nói trực tiếp nếu điều đó
đụng chạm đến quyền lợi của giai cấp thống trị mà phải lựa chọn một hình thứckín đáo, tế nhị Hơn nữa, thời trung đại ý thức cá nhân cha phát triển nên khicần bộc lộ cái tôi ngời ta cần một hình thức kín đáo Đây cũng chính là mộttrong những cơ sở cho sự ra đời của loại thơ vịnh vật, một lối thơ thờng mangcách nói ẩn dụ
1.3 Lợc sử thơ vịnh vật Việt Nam thời trung đại
Trang 13ở nớc ta, thơ vịnh vật bắt đầu với những bài thơ chiết tự thời Lý [52, 129].Hầu hết các tác giả nổi bật của văn học trung đại nh Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông,Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Công Trứ, Cao BáQuát, Nguyễn Khuyến … đều có loại thơ này Để có một cái nhìn khái quát về diễntrình thơ vịnh vật, chúng tôi quan sát loại thơ này theo các giai đoạn văn học trung
đại Việt Nam, qua tác phẩm của các nhà thơ tiêu biểu
đợc vua Lý Anh Tông rất tin dùng Bài thơ Thạch mã (Ngựa đá) của ông là một
bài thơ vịnh vật:
Thạch mã xỉ cuồng ninh, Thực miêu, nhật nguyệt minh.
Đồ trung nhân cộng quá, Mã thợng nhân bất hành.
(Ngựa đá răng thật giữ,Lại hý suốt đêm ngày
Đờng lắm ngời qua lại,Ngời cỡi vẫn ngồi ngây.)
Thái Bá Tân, dịch Trần Tung, tức Tuệ Trung Thợng sĩ (1230- 1291) có bài: Giản để tùng (Cây tùng ở đáy khe):
Tối ái thanh tùng chủng kỷ niên,
Hu ta địa thế sở c thiên.
Trang 14Đống lơng vị dụng nhân hu quái Dã thảo nhàn hoa, mãn mục tiền!
(Rất thơng cây tùng xanh trồng đã bao năm,Chẳng thở than vì trông không đúng chỗ (trồng lệch)Rờng cột ngời cha dùng thôi chẳng lạ
Cỏ dại hoa đồng mọc đầy trớc mắt!)Cây tùng xanh trồng bao năm (chủng kỉ niên), nghĩa là đã trồng tự khôngbiết bao lâu rồi, mà lại bị trồng lệch (địa thế sở c thiên), tức là trồng không
đúng chỗ, thay vì ở trên đỉnh núi nh thờng thấy, ở đây lại tận dới đáy khe (giản
để) Ngời ta đã lấy làm lạ (hu quái) về việc không ai đốn nó đem về làm rờngcột nh từ xa đến nay Ngời ta đã quên cây tùng ở dới đáy khe rồi Chung quanh
nó chỉ có cỏ dại, hoa hèn … Bài thơ thật ra là một ẩn dụ chua chát, thân phậncây tùng ở đây không ai khác là những công thần, những bậc trí giả cao thợng
Và cội tùng mọc giữa cỏ dại hoa hèn này là một nỗi bẽ bàng của những tàinăng, những công thần bị lãng quên Là một võ tớng dũng mãnh, một chínhkhách tài ba, một bậc tu hành thông tuệ nhng tại sao Tuệ Trung Thợng sĩ lại thểhiện tâm trạng bất đắc chí qua bài thơ vịnh vật? Phải chăng vì sự bon chen chốntriều đình, là sự thiếu trọng dụng kẻ chân tài hay là nhãn quan nhìn xa trôngrộng giúp ông thấy đợc sự chia xẻ bè phái tất yếu sẽ xảy ra ở các vơng triềuphong kiến và cái phần không may luôn nghiêng về những ngời có nhân cách,ngay thẳng không chịu luồn cúi
Lý Đạo Tái (1251-1334) cũng đã có các bài thơ vịnh vật nh: Cúc hoa, Thạch thất Trong bài Thạch thất (Thất đá) ông viết:
Bán gian thạch thất hòa vân trụ, Nhất lĩnh thuế y kinh tuế hàn.
Tăng tại thiền sàng kinh tại án, Lô tàn cốt đột nhật tam can.
(Nửa gian nhà đá lẫn trong mây,
áo ấm mùa đông cũng đủ dày
Trang 15Sách kinh trên án, s trên chiếu,Mặt trời đã quá mấy tầm mây.)
Thái Bá Tân, dịch
Vì là thơ vịnh vật của một bậc thiền s nên chúng ta thấy vịnh về ngôi nhà
đá ở trên cao lạnh lẽo, manh một bầu không khí an tịnh vô cùng nhng thực chất
là để bộc lộ cuộc sống thanh đạm, tránh xa những “lao xao” của cuộc đời, hoàvào thiên nhiên để tìm thấy một cuộc sống đích thực
Nhìn chung, thơ vịnh vật giai đoạn này cha phong phú về đề tài nh ở cácgiai đoạn sau, nhng cũng đã tạo nên phần nào diện mạo của mình để rồi ởnhững chặng đờng tiếp theo sẽ khẳng định đợc khả năng bao quát đời sống bằng
Về phơng diện đề tài, thơ vịnh vật của Nguyễn Trãi mặc dù không phongphú nh Hồng Đức quốc âm thi tập nhng cũng khá đa dạng Thơ ông thờng chú
tâm vào vịnh con vật, cây cối, từ những cây cao quý nh tùng, trúc, mai, mẫu đơn
… đến những cây mộc mạc dân dã nh cây mía
Trang 16Với một năng lực rung cảm dào dạt lạ thờng, vạn vật dới ngòi bút củaNguyễn Trãi hiện lên vô cùng sinh động, đầy sức sống Trong Quốc âm thi tập
rất nhiều bài thơ vịnh vật đặc sắc Có thể nói, thơ vịnh vật, đến Nguyễn Trãi đã
đạt giá trị cao cả về nội dung lẫn hình thức Bài thơ Tùng bắt nguồn từ những ớc
lệ nghệ thuật có sẵn trong truyền thống Đây đợc xem là một “bài thơ tâm huyết
về cuộc đời, về sự nghiệp, về niềm tin đợc cống hiến trọn đời cho con ngời và
Đống lơng tài có mấy bằng mày?
Nhà cả đòi phen chống khoẻ thay.
Cội rễ bền, dời chẳng động, Tuyết sơng thấy đã đặng nhiều ngày!
Tuyết sơng thấy đã đặng nhiều ngày,
Có thuốc trờng sinh càng khoẻ thay.
Hổ phách, phục linh nhìn mấy biết Dành còn để trợ dân này.
(Hoa mộc môn, Bài 218,219,220)
Đây là ba bài thơ vịnh vật liên hoàn, câu đầu bài sau lặp lại câu cuối hoặcmột phần câu cuối của bài trớc Do thống nhất trong một chủ đề mà ta có thểxem nh ba khổ của một bài thơ
Ba bài thơ miêu tả đặc điểm và tính năng của cây tùng Đây là một loạicây không bị ngoại cảnh tác động Mặc dù vào thu, theo quy luật tự nhiên, mọiloại cây đều bị biến dạng, trở nên lạ lùng, riêng cây tùng ngợc lại quy luật ấy,
Trang 17cứ tiếp tục xanh tơi, bất chấp cái rét của “ba đông” Xanh tơi không phải để làmcảnh chốn lâm tuyền mà để làm rờng cột (đống lơng), có tác dụng lớn (cảdùng) Tài lơng đống của nó mấy cây bì kịp Bao phen nó đã chống đỡ một cáchmạnh mẽ cho những ngôi nhà lớn: Nhà cả đòi phen chống khoẻ thay Có đợc
công dụng ấy đâu phải một sớm một chiều mà rễ con, rễ cái phải nhiều năm trờilan rộng ăn sâu cho cội cắm chặt vào đất ngày một bền chắc, gió bão có lay dờicũng chẳng mảy may lay động, tuyết sơng có ca xẻ bao ngày cũng chẳng hềchi Nó vẫn sừng sững giữa trời Nếu nh nó không đợc dùng để chống đỡ nhà cảthì nó lại trở thành thứ thuốc cứu dân Trong nhựa cây tùng có chứa chất hổ phách, phục linh, những thứ thuốc quý đợc hình thành trong khoảng thời gian
trăm năm, nghìn năm: “Hổ phách phục linh nhìn mấy biết, Dành còn để trợ dânnày”
Điều làm cho bài thơ vịnh vật này đợc đánh giá cao là bởi tầng nghĩa ẩnsâu sau sự vật đợc miêu tả ấy là tâm sự thầm kín của ức Trai Cuộc đờiNguyễn Trãi đã trải qua nhiều thăng trầm, thử thách nhng trong bất kì hoàncảnh nào ông cũng giữ trọn khí tiết: “Tuyết sơng thấy đã đặng nhiều ngày”.Cũng có khi tài năng phẩm chất của ông không đợc mọi ngời biết đến, phải về ở
ẩn nhng lòng vẫn không thôi hy vọng sẽ có ngày đợc ra giúp dân giúp nớc, ônggiữ vững niềm tin: “Tài đống lơng cao ắt cả dùng”
Tùng là hình tợng của bậc đại trợng phu, có tài lơng đống, Trúc là hình
t-ợng kẻ sĩ quân tử, vợt lên những cám dỗ của cuộc sống Ngời đời quý trúc, atrúc chính là vì thế
Cây đa già miêu tả một cây đa già đã tìm cho mình đợc một chỗ dỡng
thân giữa chốn lâm tuyền, cứ mỗi lần xuân đến lại có lộc mới mà xanh tơi, cũng
nh chủ thể trữ tình, mỗi lần xuân đến là thấy vui Tuy gỗ đa không dùng làm ờng cột đợc nhng những tán lá của nó đã làm đợc những việc hữu ích là toảbóng cho dân tránh nắng:
r-Tuy đà chửa có tài lơng đống,
Trang 18Hồng Đức quốc âm thi tập là tập thơ Nôm của vua Lê Thánh Tông cùng
các văn thần, đợc đời sau su tập Đây là tập thơ mang tính chất cung đình, nộidung chủ yếu là ca ngợi vua, triều đình, chế độ phong kiến Cảm hứng bao trùm
là niềm hân hoan trớc một xã hội thái bình, thịnh trị, lòng tự hào về đất nớc, conngời…
Trong Hồng Đức quốc âm thi tập, có nhiều bài thơ vịnh vật nằm rải rác ở
các phần Thiên địa môn, Nhân đạo môn, Phong cảnh môn, Phẩm vật môn và Nhàn ngâm ch phẩm, đặc biệt tập trung ở phần Phẩm vật môn
Phạm vi đề tài của thơ vịnh vật Hồng Đức quốc âm thi tập rất rộng, từ
thiên địa tứ mùa, từ núi sông đến cỏ cây hoa lá, con vật, làng xóm, vật dụngtrong sinh hoạt đời thờng …Tất cả góp phần tạo nên bức tranh rộng lớn về đờisống và phong cảnh
Trang 19Sự vật đợc miêu tả trong Hồng Đức quốc âm thi tập khá phong phú, từ
những sự vật thanh cao mang tính ớc lệ tợng trng đến những sự vật dung dị đờithờng, từ mẫu đơn, cúc, mai, tùng, sen…
Nết na quân tử khác chng thờng, Cốt cách già càng thanh một dờng.
Bụng nảy lơ thơ chiều cảnh muộn, Mình hằng đeo đẳng bén mùi hơng.
Trận hoa tớng đã cờ xanh cuốn, Cung nớc tiên còn tán cũ giơng.
Huống lại rùa thiêng cùng kết bạn, Tuổi đà nghìn kể tháng ngày trờng.
(Sen già - Bài 30, Phẩm vật môn ) Nết na nhẵn mịn khác chng loài
Chiếm đợc thú chơi ít có hai Hơng ắt chỉn nhiều, vàng chỉn có, Tuyết đà chăng nhiễm, bạc chăng phai …
(Hoa cúc - Bài 15, Phẩm vật môn) Vờn xuân dòm dỏ đã chầy ngày,
Dễ có Lâm Bô biết đợc hay.
Hoa bạc phau phau xâm khí tuyết, Chồi xanh êu ếu lạt hơi may, Tơ tởng phòng khách khi đầm ấm Lau chuốt lòng xuân đoạn đắng cay …
(Hoa mai đầu mùa - Bài 19, Phẩm vật môn)
đến cây chuối, quả da, rau cải, con cóc, con rận, cái rế …
Ngọt bằng mít, mát bằng dừa Trợ khát nào qua một quả da.
Trang 20Mùi mẻ ngon, ngời dễ trọng Tinh thần lạ, thế đều a.
…
(Quả da - Bài 38, Phẩm vật môn) Nhà ta có cải vãi nơi nơng,
Đất phúc sinh thành của lạ dờng.
áo đã tơng xanh, tơng thức lục,
Đầu chăng đội bạc, đội hoa vàng.
Quyền cho thửa việc phải vừa nồi.
Hôm mai hằng chịu đeo đai trúc, Ngày tháng chuyên cho đựng vạc mai.
Chực hăm hăm khi gác sớm, Chầu chắm chắm thuở canh thôi.
Bao nhiêu mắm muối đà thu hết, Một bữa nào quyên nghĩa chúa tôi.
(Cái rế - Bài 44, Phẩm vật môn )
Thơ của Hội Tao đàn nói chung, thơ vịnh vật nói riêng mang tính chấtthù tạc nên nội dung thơ chủ yếu là những ẩn dụ cho đạo đức phong kiến
Trang 211.3.3 Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVII
Thành tựu thơ vịnh vật giai đoạn này gắn với Nguyễn Bỉnh Khiêm Tácgiả tiêu biểu thế kỷ XVI Ông không chỉ là nhà văn hoá lớn mà còn là mộtchính khách có uy tín, một bậc hiền triết, nhà tiên tri, ngời đợc mọi ngời tônkính gọi là phu tử Nhng trên hết, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ vớinhững đóng góp quan trọng cho sự phát triển của văn học dân tộc Nguyễn BỉnhKhiêm đã để lại cho nền văn học nớc nhà một khối lợng tác phẩm với hàngnghìn bài Trong khối lợng đồ sộ đó có nhiều bài thơ đợc viết theo lối vịnh vật
Thơ vịnh vật của Nguyễn Bỉnh Khiêm có đề tài khá phong phú, bao quát
từ vũ trụ đến những vật dụng gia đình Đọc thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm ta có cảmtởng dờng nh trong cuộc sống hằng ngày, bất chợt gặp một vật gì đấy có thể trởthành đề tài cho thơ Từ hàng trăm bài thơ vịnh về trời đất, sự vật, cây cối, cầmthú, xóm làng, đồ đạc … có thể tập hợp thành bức tranh về phong cảnh thiênnhiên, đặc biệt về cung cách sinh hoạt của xã hội nớc ta thời kì đó Những nhànghiên cứu dân tộc học, xã hội học có thể tìm thấy trong ấy những nguồn t liệurất quý
Đề tài vịnh vật của thơ Bạch Vân không chỉ là những sự vật thanh cao,mang tính ớc lệ tợng trng nh tùng, trúc, cúc, mai, long, ly, quy, phợng, sen, nhài
… mà còn có sự xuất hiện của hàng loạt sự vật hết sức bình dị, đời thờng nh cáitrần nhà, cái trống, quả dừa, khoai lang … Tất cả đã trở thành hình tợng văn học
đầy sức gợi dới ngòi bút của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Với thơ vịnh vật của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đằng sau mỗi sự vật đợc vịnh
là một triết lý sống về con ngời và cuộc đời Đọc thơ vịnh vật của Nguyễn BỉnhKhiêm dờng nh chúng ta đang chứng kiến cuộc sống của chính ông, một cuộcsống giản dị, gần gũi với từng cảnh vật thiên nhiên nơi Bạch Vân am tĩnh lặng.Trong những bài thơ vịnh vật của ông, ta bắt gặp hình ảnh một con ngời đangsay sa ngắm nhìn vẻ đẹp và suy ngẫm về ý nghĩa của sự vật từ đó mà suy t,chiêm nghiệm về cuộc đời
Trang 22Trong bài Trúc thợng (Gậy trúc), vịnh về một sự vật bình thờng đợc làm
bằng “cành ngọc lan can xanh biếc”, nó có tác dụng nâng đỡ những ngời ốmyếu, bệnh tật, không đi lại khỏe mạnh bình thờng đợc, nó đỡ ngời ra vờn thởnghoa, ngắm trăng Nhng chính từ chiếc gậy bình thờng tác giả đã nâng tầm vóclên bằng cách để cho nó nâng đỡ cả giang sơn:
Hóa long hữu nhật quân tu kí,
Vị yếu kinh đầu hớng Cát Bi.
(Có ngày sẽ hóa rồng, ngời nên nhớ lấy,Chớ nên coi nhẹ mà ném hớng Cát Bi.)Câu thơ thể hiện ớc vọng đợc đem tài năng dùng vào công việc lớn Chớcoi thờng bởi cây gậy trúc sẽ có ngày hóa rồng nh quân tử sẽ có dịp làm nênnghiệp lớn vậy Đừng nh Trờng Phòng đem ném gậy đi
Khoai lang là một loại cây dân dã nhng đợc tác giả đã biến thành châungọc Trồng cây khoai lang thờng vào tiết xuân nh dân gian vẫn thờng nói: “vixuân đốn giác tài bồi dị” (làm mùa xuân chợt thấy vun trồng rất dễ) và đợc đất
nữa thì khoai lang trồng rất mau tốt Sau cơn ma, lộc lang non mơn mởn Đếnmùa thu, mùa đậu quả, củ khoai đợc thu hoạch và dâng lên mâm
Bảo dân diệc túc t thời dụng, Khẳng hớng sơn trù đấu Lãn Tàn.
(Làm cho dân no đủ, giúp vào việc dùng đến hàng ngày,
Đâu có hớng về bếp ở núi mà ganh với lão Tàn.)Hai câu kết đã khẳng định vị trí của khoai không chỉ ở trên mâm bát, màtrọng trách lớn lao là nuôi dân Làm cho dân no là quốc sách tự nghìn xa Nokhông chỉ do cơm mà còn có cả hoa màu, khoai là loại hoa màu phòng cứu đói,rất dễ trồng, trồng đất nào cũng đợc Vả lại đó là thứ cây có thể ăn đợc cả lá,ngọn và củ Khoai tầm thờng nhng là vật giúp dân no đủ Vậy không xứng làchâu ngọc hay sao?
Trang 23Thơ vịnh vật của Nguyễn Bỉnh Khiêm bộc lộ một tâm hồn nhạy cảm trớccái đẹp, giàu sự rung động thẩm mỹ và đặc biệt là một tâm hồn luôn trăn trởbăn khoăn trớc vận mệnh dân tộc, luôn sục sôi một bầu nhiệt huyết, một lòngkhao khát muốn đem tài năng giúp nớc cứu dân.
1.3.4 Từ đầu thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX
Đây là giai đoạn văn học đạt đợc nhiều thành tựu rực rỡ nhất với nhữngtên tuổi chói sáng nh Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng … ở thời kỳ này, loại thơvịnh vật tiếp tục đợc các nhà thơ sử dụng nh một phơng tiện đắc lực để kí tháctâm trạng Đây cũng chính là thời kỳ thơ vịnh vật đạt thành tựu rực rỡ nhất với
Văn đạo đã ng cam nhất tử, Dâm th do thắng vị hoa mang.
(Nghe đạo vui lòng dù phải chết,
Mê thơ hơn cả những hoa hơng.)Mợn hình ảnh một con công có bề ngoài sặc sỡ nhng bên trong chứa
đựng chất độc chết ngời, nhà thơ muốn nói đến hiện thực xã hội đơng thời Nhìn
bề ngoài, trong xã hội ấy, có những kẻ nh một con công khoác lên mình bộ lôngsắc sỡ, suốt ngày xoè lông khoe mẽ, nhng kì thực, bên trong dã tâm khôn lờng.Với Nguyễn Du, sống cần khiêm tốn, không cần cứ phải nh con công kia mà
Trang 24phải biết nh Hạc biển, nó cũng biết múa, nhng không bao giờ cố tỏ cho ngời đờicoi:
Khổng tớc vũ hoài độc, Ngô phục bất khả y.
Ngoại lệ văn chơng thể, trung tàng sát phạt ky.
Nhân khoa dung chỉ thiện, Ngã tích vũ mao kỳ.
Hải hạc diệc hội vũ, Bất dữ thế nhân tri.
(Gan công có chất độc
Ăn có mà thuốc trời
Ngoài, sắc màu rực rỡ,Trong chất độc chết ngờiDáng đẹp ta khen chúng,Lông kỳ ta tiếc thôi
Hạc biển cũng biết múa,Không cho ngời đời coi)
Duy Phi, dịch
Trong bài Điệu khuyển (Tiếc thơng con chó), tác giả đã hớng đến sự tiếc
thơng cho những ngời đã không biết lợng sức mình nên phải bỏ thân nơi núilạnh:
Tham tiến bất tri chỉ?
Trang 25Bỏ thân đừng oán thánGắng nữa cũng hoài công)
Là nhà thơ nữ, nhà thơ của phụ nữ nên phạm vi đề tài trong thơ Nôm vịnhvật của Hồ Xuân Hơng thờng liên quan đến việc thể hiện vẻ đẹp hình thể và tâmhồn của giới mình, qua đó đề cao nhu cầu ái ân, sự khao khát hạnh phúc trầnthế Bên cạnh đó, thơ của bà còn nhằm mục đích đả phá thói đạo đức giả củavua chúa, quân tử, s vãi ở xã hội phong kiến thối nát, một xã hội với bề ngoàicao đạo nhng bên trong thì giả dối, xấu xa
Đề tài của thơ vịnh vật Hồ Xuân Hơng chủ yếu là các sự vật bình thờnggắn liền với sinh hoạt đời sống của ngời dân lao động Trong thơ vịnh vật củaXuân Hơng ta không thấy sự xuất hiện của những sự vật thanh cao mang tínhchất ớc lệ tợng trng nh mẫu đơn, tùng, trúc, cúc, mai, sen… mà chỉ thấy xuấthiện những sự vật bình dị của cuộc sống thờng nhật nh cái bánh trôi, cái quạt,
ốc nhồi, trống thủng, đồng tiền hoẻn; những công việc quen thuộc trong đờisống hằng ngày của nông thôn Việt Nam nh dệt cửi, tát nớc … Đây cũng là điều
có thể hiểu đợc Bản thân Xuân Hơng là một ngời phụ nữ xuất thân từ tầng lớpbình dân, tâm hồn nhà thơ bắt rễ khá sâu trong đời sống bình thờng nên thơ bàbình dân ở đề tài và ngôn ngữ Xã hội phong kiến đến thời Xuân Hơng đã suy
Trang 26đồi mạnh mẽ Giai cấp phong kiến đã mất hết vai trò lãnh đạo, đang tiến nhanh
đến chỗ suy vong phản động Trật tự đạo đức đã bị đảo lộn, xới tung lên Trongcon mắt của Xuân Hơng, vua chúa cũng chỉ là những kẻ tầm thờng: “Chúa dấuvua yêu một cái này”, những bậc quân tử thì chỉ còn cái vỏ trống rỗng, cũng
“dùng dằng đi chẳng đợc” trớc một thiếu nữ ngủ ngày đã vô tình để “Yếm đào
trễ xuống dới nơng long” lộ ra “Đôi gò bồng đảo sơng còn ngậm, Một lạch Đàonguyên suối chửa thông”, s thì miệng nam mô, nói những điều đạo đức nhng
“Vãi nấp sau lng sáu bảy bà”… Hồ Xuân Hơng đã không ngại nói ra cái bảnchất ngời ở mọi tầng lớp trong xã hội:
Hiền nhân quân tử ai mà chẳng, Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.
(Đèo Ba Dội)
Cố nhiên, ngay cả sự nói thẳng ấy, ta vẫn thấy có một ý thức văn hoá rấtcao Có đợc điều này phải chăng là bởi nữ sĩ đã lựa chọn một lối thơ phù hợp,lối thơ vịnh vật, với cách nói lấp lửng, hai nghĩa, một nghĩa gần gũi và ngaythực về sự vật, một nghĩa xa xôi, ranh mãnh gợi liên tởng đến con ngời
Có thể còn rất nhiều vấn đề cần bàn về hiện tợng Hồ Xuân Hơng nhngchắc chắn không thể phủ nhận một điều là mảng thơ Nôm vịnh vật của nữ sĩ rất
độc đáo, đặc sắc từ nội dung đến nghệ thuật thể hiện Chúng ta sẽ có điều kiệntìm hiểu sâu hơn nội dung của thơ Xuân Hơng ở chơng 2
1.3.5 Giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX
Đây là thời kỳ đất nớc ta phải đơng đầu với cuộc xâm lăng của thực dânPháp Thơ vịnh vật thời kỳ này đợc tiếp tục với các nhân vật tên tuổi nh NguyễnCông Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tú Xơng …
Nguyễn Công Trứ là ngời có tài năng về nhiều mặt: chính trị, quân sự,kinh tế, văn chơng nghệ thuật…, từng trải qua nhiều chức, giữ các vị trí quantrọng dới triều Nguyễn Là ngời đa tài, Nguyễn Công Trứ luôn ý thức về tàinăng và đề cao tài năng ở Nguyễn Công Trứ, ý thức về công danh, sự nghiệpbắt nguồn từ ý thức về tài năng, tài đi liền với danh, với trách nhiệm của kẻ sĩ
Trang 27Có tài cao, có chí lớn, a phóng túng, tự do … tất cả làm nên một Nguyễn CôngTrứ rất bản lĩnh, rất cá tính Tự tin vào chính mình, cho nên giữa bao thănggiáng của cuộc đời, Nguyễn Công Trứ đều vợt qua với một thái độ không uphiền, thất vọng
ở Nguyễn Công Trứ luôn thờng trực một ý thức rất cao về trách nhiệmcủa kẻ sĩ và điều này không mâu thuẫn với quan niệm nhân sinh tự do phóngkhoáng, tận hởng niềm vui sống Với t cách là một nhà văn, ông sáng tác nhiềuthể loại (thơ, phú, câu đối, hát nói), chủ yếu bằng chữ Nôm Riêng thơ Đờngluật còn khoảng 150 bài, trong đó có những bài đợc viết theo lối vịnh vật nh
Trống đại cổ, Cây cau, Cây vông trổ hoa:
Bé mọn làm chi những thứ bồng!
Lớn lao thế ấy ghẹo ai rung.
Đôi bên bằng phẳng trời hai mặt, Chính giữa tròn xoay nguyệt một vòng.
Hiên bệ gió đa dùi cắc cắc, Giang sơn sấm dậy tiếng tùng tùng.
Huống chng đất nớc đồ sang trọng,
Đánh giá cho cao lại vẽ rồng.
(Trống đại cổ)
Ơn chúa vun trồng kể xiết bao, Một ngày càng một rấn lên cao.
Lng đeo đai bạc sơng nào nhuốm,
Đầu đội tàn xanh nắng chẳng vào.
Buồng chất cháu con khôn xiết kể, Nhà nhiều quan khách dễ khuyên chào.
Kình thiên một cột giơ tay chống, Dẫu gió lung lay cũng chẳng nao.
(Cây cau)
Trang 28Vịnh cây cau, tác giả đã chỉ rõ đặc điểm của loại cây này Đây là mộtloài cây ham ánh sáng nên nó luôn ở t thế vơn lên cao Bao lấy thân cau lànhững “đai bạc” vững chắc nên sơng không thể làm hao mòn đợc Ngọn cây cau
đợc che bởi những “tàn xanh” toả rộng giống nh cái tán che nắng cho cả thâncây, nắng không thể nào chạm tới Cây cau với những buồng cau rất sai quả:
“Buồng chất cháu con khôn kể xiết”, nhà nhiều cau rất tiện cho việc tiếp đãikhách khứa Cây cau có một đặc trng là không có những cành cây mọc xungquanh thân nh những loài cây khác, một mình sừng sững giữa bao la đất trời nhcột trụ chống trời vậy, dẫu gió có lung lay cũng không hề nao núng Nh vậy m-
ợn hình ảnh một cây cau, tác giả bộc lộ ý thức về trách nhiệm, phẩm chất, khảnăng của mình
Cây vông trổ hoa là một bài thơ vịnh vật xuất sắc, thể hiện rõ cá tính và
Đã biết rồi nào thì giống ấy, Khen cho rứa cũng trổ ra bông.
Tơng truyền khi nhà thơ đang làm quan trong triều, có một vị đại thần
mở tiệc hạ thọ và ăn mừng con đỗ cử nhân Các quan đến dự rất đông, trong lúctrò chuyện, thấy trớc sân có cây bông trổ hoa, nhiều vị thích nịnh quan trên,nhìn vào cây vông mừng cho chủ nhà và nói là nhà có phúc phận lắm mới nhthế, quả là trời cho thấy nhãn tiền Có vị lại làm thơ vịnh cho vui bàn tiệc.Nguyễn Công Trứ vốn không a ông này, nghe mấy lần chớng tai bèn làm bàithơ này châm biếm Có thể thấy tác giả đã mợn hình ảnh cây vông già rỗng ruột
Trang 29để ám chỉ về tài năng và nhân cách của gia chủ “Tuổi tác càng già càng xốpxáp, Ruột gan chẳng có, có gai chông” vừa gợi đến đặc điểm của cây vông,càng về già ruột bên trong càng xốp, chỉ còn lớp vỏ gai chi chít bao lấy bênngoài, đồng thời đa ngời đọc đến liên tởng đến sự rỗng tuếch của vị quan nọ.Nhìn bề ngoài ông ta có tất cả mọi thứ, sự nghiệp rạng danh, con cái thành đạtnhng kì thực bên trong lão chỉ nh cây vông kia thôi, chẳng có gì Câu kết củabài thơ thực sự là tiếng chửi hắt thẳng vào mặt của kẻ a nịnh đó: “Khen cho rứacũng trổ ra bông” Bông vừa chỉ bông hoa của cây vông vừa chỉ đứa con vừa đỗ
cử nhân mà viên quan đang mở tiệc ăn mừng Thế mới biết tại sao nghe bài thơnày xong chủ nhà lại tím bầm cả mặt nhng không thể làm gì
Cao Bá Quát sinh trởng trong một gia đình nhà nho, lớn lên trong mộtthời đại có nhiều biến động Sau những vang dội của khởi nghĩa Tây Sơn, phongtrào nông dân có lắng xuống nhng vẫn còn những cuộc khởi nghĩa làm rungchuyển ngai vàng phong kiến Tuy triều Nguyễn đợc thiết lập, song nhìn chungchế độ phong kiến đã không thể trở lại đợc thời kì huy hoàng vốn có, nó đã ởvào giai đoạn tổng khủng hoảng để đi tới suy tàn
Cao Bá Quát là ngời có học vấn uyên thâm, có cốt cách thanh cao, khíphách hiên ngang, có t tởng tự do, muốn vợt lên trên khuôn khổ chật hẹp, tùtúng của chế độ phong kiến, muốn thay đổi xã hội đơng thời Ông là ngời luônmang hoài bão lớn giúp dân, giúp nớc, khao khát sống có ích cho đời Cao BáQuát sáng tác chủ yếu bằng chữ Hán, hiện còn hơn 1300 bài thơ và 21 bài vănxuôi Thơ văn Cao Bá Quát biểu hiện sâu sắc tình cảm và chí khí cao đẹp củamột con ngời luôn nặng lòng với dân, với nớc, với đời Đặc biệt nhiều bài thơcủa Cao Bá Quát đã ghi lại những tâm t, hành động của một con ngời đầy hoàibão, khí phách, trong đó một số bài đợc làm theo lối thơ vịnh vật nh Vịnh cù dục (Vịnh chim sáo), Trờng thiên vịnh (Một thiên vịnh cái gông dài) Trờng thiên vịnh gồm có ba bài, là chùm thơ vịnh vật đặc sắc của Cao Bá Quát:
Bài I:
Trang 30Nhậm giao thùy thị, nhậm thùy phi, Tổng dữ nhân gian quản nhục ky.
Thớng thủ bạn tơng tam xích giản, Hiếp kiên duệ trớc ngũ thù y.
Hiểu từ phế thạch khai phong khứ,
Mổ bạng ô đài quản nguyệt qui.
Kí đắc tạc tiêu kinh tinh lịch, Hỏa tiên bôn xứ, lẫm thiên uy.
(ở đời phải trái chẳng nề ai,Chỉ nắm trong tay máy nhục ngời
Ba thớc thẻ kèm khi nhắc cánh,Năm lai áo lệch lúc xo vai
Đi thì rẽ gió ngoài mô đá,
Về lại đeo trăng chốn sảnh đài
Còn nhớ đêm qua ầm tiếng sét,Vung văng roi lửa rợn oai trời.)
Đỉnh đinh bách niên bi ngạch phiếm, Lao lao chung nhật tỉnh cơ thâm.
Tiện đơng tế chúc song hàng tả, Minh trớc Nghiêu Phu Thiện sự ngâm.
(Tay gỡ gông dài tự hỏi lòng:
Đời ta sao lại phải tìm gông?
Cùng đi với bóng không hiềm ghét,
Trang 31Chung ngủ bên chăn chẳng thẹn thùng!
Lẽo đẽo trăm năm thơng củi giạt!
Lao đao trọn buổi xót thân tròng!
Thi tài đáo để liên Tô tử,
Th nghĩa chung tu thuyết Hạ Hỗu.
Trớc cớc khởi tri cơ sự giới, Phấn nhiêm trờng quái tửu tinh tù.
Hà đơng giá tái vân thê khứ, Nhất tiểu thừa phong ổn xấn hu.
(Bớc tới đờng danh chẳng cúi đầu,
dễ, bài làm nào cũng thấy hay, nhng hỏng vẫn hoàn hỏng Vào Bộ Lễ đợc ít lâu,
ông đợc cử làm sơ khảo trờng Thừa thiên Khi chấm thi, ông thấy có nhữngquyển khá nhng có chỗ phạm vào tên huý nhà vua Cảm thông cho cảnh ngộ
Trang 32của ngời tài, ông cùng một ngời bạn là Phan Nhạ dùng muội đèn chữa nhữngquyển ấy cho khỏi bị hỏng Việc bị lộ, ông bị kết án trảm quyết nhng vua ThiệuTrị đã giảm cho ông xuống tội giảo giam hậu (giam lại đợi lệnh) Trong nhữngngày ở ngục thất, ông đã làm bài thơ này.
Trong ba bài thơ vịnh gông, ông không thừa nhận mình có tội Đối với
ông, việc chữa bài cho thí sinh là việc nên làm Ông muốn chẻ cái gông làm haiviết vào đó bài Thiên sự ngâm của Nghiêu Phu, mà đại ý là “ngời ta làm việc
thiện là vì việc thiện nên làm” Với Cao Bá Quát, chống lại những luật lệ khắcnghiệt trong khoa cử là việc thiện, mà làm việc thiện thì chẳng có tội gì hết
Ông muốn nh Thái Nguyên Định ngày xa, khi bị tội đã viết thơ căn dặn cáccon: “Đi một mình không hổ với bóng, ngủ một mình không thẹn với chăn,
đừng thấy ta bị tội mà xao xuyến” Tác giả kết thúc ba bài thơ bằng một ý thơ
đầy lạc quan: “Ước gì đem cái gông này làm thành cái thang mây, cời xoà mộttiếng, cỡi gió bay đi” Vậy là vịnh vật nhng chủ đích vẫn thể hiện những mong -
ớc đổi thay, bộc lộ tâm hồn phóng khoáng, muốn vợt lên khuôn khổ chật hẹpcủa chế độ phong kiến
Nguyễn Khuyến là ngời có cốt cách thanh cao, tính tình đôn hậu Đỗ đạtcao nhng ông chỉ làm quan hơn mời năm còn phần lớn cuộc đời là sống ở quênhà, dạy học sống đời thanh bạch Ông sống chan hoà với gia đình, họ hàng,xóm giềng, bè bạn, gắn bó với ngời dân quê, với làng cảnh chân tình, nhiều khi
đến mộc mạc Sáng tác của Nguyễn Khuyến hiện còn trên 800 tác phẩm gồmthơ, văn, câu đối, chủ yếu là thơ Thơ Nguyễn Khuyến thể hiện tình yêu quê h-
ơng tha thiết và tấm lòng không nguôi trăn trở về dân tộc, về đất nớc Thơ vịnhvật đợc Nguyễn Khuyến viết cả chữ Nôm cả chữ Hán
Tiến sĩ giấy là bài thơ Nôm trào phúng đặc sắc của nguyễn Khuyến đợc
làm theo lối thơ vịnh vật Hình tiến sĩ làm bằng giấy vốn là một thứ đồ chơiquen thuộc của trẻ con thời xa Cha mẹ thờng mua tiến sĩ giấy cho con mình
Trang 33chơi để mong muốn bọn trẻ học hành đỗ đạt và ra làm quan Nguyễn Khuyến đãmợn hình ảnh đồ chơi này để bộc lộ cái nhìn về loại ngời hữu danh vô thực:
Cũng cờ cũng biển cũng cân đai, Cũng gọi ông nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ, Cái gia khoa danh ấy mới hời.
Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh choẹ, Tởng rằng đồ thật hoá đồ chơi.
Phê phán những kẻ hại dân hại nớc trong thời buổi hỗn loạn, NguyễnKhuyến còn có bài vịnh Ông phỗng đá:
ông đứng làm chi đó hỡi ông?
Trơ trơ nh đá vững nh đồng!
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó, Non nớc đầy vơi có biết không?
Tơng truyền bài thơ này đợc làm trong những ngày Nguyễn Khuyến bất
đắc dĩ phải làm gia s ở nhà Hoàng Cao Khải Vờn nhà Khải có một hòn non bộlớn đứng giữa mặt hồ nớc rộng, cảnh trí rất xinh Trên non bộ có đặt một ôngphỗng sành đứng trầm mặc, đăm đăm nhìn xuống mặt hồ nớc Một hôm, Khải
đang dạo vờn, bất chợt gặp Nguyễn Khuyến đang tần ngần ngắm ông phỗng đá,hắn mời ông thử vịnh một bài Ông ứng khẩu đọc bài thơ này Nhà thơ vịnh ôngphỗng sành hay vịnh chính chủ nhà?
Cuối thế kỉ XIX còn có một tác giả có những bài thơ vịnh vật xuất sắc, đó
là Học Lạc Đây là bài Vịnh chó chết trôi của ông:
Sống thời bắt thỏ, thỏ kêu rêu, Xác thả dòng sông xác nổi phều.
Trang 34Vần vện sắc còn phơi lẫn đẫn, Thúi tha danh hãy nổi lêu bêu.
Tới lui bịn rịn bầy tôm tép,
Đa đón lao xao lũ quạ diều.
Một trận sóng dồi cùng gió dập, Tan tành xơng thịt biết bao nhiêu!
Bài thơ bày tỏ sự khinh bỉ bọn Việt gian Chúng đã gây bao tội ác: “Sốngthời bắt thỏ, thỏ kêu rên”, đến khi chết đi chúng phải chịu sự trừng phạt: “Tantành xơng thịt biết bao nhiêu” Chó chết, bầy tôm tép, lũ quạ diều vừa chỉ các
loài vật, vừa chỉ lũ ngời đáng khinh ghét
Qua sơ lợc diễn trình thơ vịnh vật trong văn học Việt Nam trung đạichúng tôi thấy đây là một loại thơ có vị trí khá đặc biệt Đặc biệt là bởi suốt cảchặng đờng văn học trung đại, loại thơ này vẫn luôn đợc các nhà thơ sử dụng đểbộc lộ t tởng tình cảm một cách kín đáo, nói một cách khác, nó vẫn có sức sống,chỗ đứng của mình trong lòng ngời sáng tác Làm nên vị trí ấy là bởi thơ vịnhvật đã chứng tỏ đợc khả năng bộc lộ tình cảm theo lối của riêng mình Và nhvậy có thể thấy thơ vịnh vật không phải chỉ là thơ hạng hai nh đôi ngời nghĩ
Trang 35Chơng 2
Cấu trúc ý nghĩa của bài thơ vịnh vật
Các bài thơ vịnh vật thực sự không phụ thuộc vào nội dung cụ thể, đều cónhững đặc điểm chung ở chơng này chúng tôi đi vào nghiên cứu một đặc điểm
“siêu cá thể” đó
Bài thơ vịnh vật luôn tồn tại hai loại ý nghĩa: ý nghĩa miêu tả sự vật và ýnghĩa biểu hiện con ngời Hai loại ý nghĩa này nơng tựa nhau và song hành suốttác phẩm Nói nơng tựa là bởi mặc dù nói đến vật nhng lại gợi về con ngời Mộtbài thơ vịnh vật nếu mới chỉ dừng lại nói về vật mà không kí thác tâm sự, khônggợi liên tởng đến con ngời thì chỉ là những câu đố trẻ con nh Viên Mai đã nói;còn song hành là bởi hai lớp nghĩa này cùng nhau xuất hiện từ đầu đến cuối bàithơ Đây chính là đặc trng của thơ vịnh vật Không có đặc tính này thì khôngphải là thơ vịnh vật
2.1 Miêu tả sự vật và biểu hiện con ngời
Thơ vịnh vật yêu cầu gợi lên đợc hình tợng của sự vật đợc vịnh Đối tợngcủa thơ vịnh vật rất đa dạng Thời gian, đất trời, cảnh trí thiên nhiên, cây cảnh,cây thực vật, đồ vật, con vật Tầng nghĩa trực tiếp của loại thơ này chính lànhững chi tiết gợi về sự vật và từ những chi tiết miêu tả sự vật ấy gợi liên tởng
đến con ngời Đối tợng của thơ vịnh vật rất phong phú và đa dạng Trong phạm
vi của một luận văn, chúng tôi không có điều kiện đi vào ý nghĩa miêu tả sự vật
và miêu tả con ngời của tất cả đối tợng đợc đề cập tới trong thơ vịnh vật của cáctác giả qua các thời kì khác nhau, mà chỉ đi vào nghĩa miêu tả sự vật và miêu tảcon ngời thông qua một số đối tợng tiêu biểu, thờng đợc các nhà thơ lựa chọn
để bộc lộ t tởng, triết lí sống
2.1.1 Miêu tả sự vật và biểu hiện con ngời qua thế giới đồ vật, sự vật
Trong thơ vịnh vật, những đồ vật gần gũi với cuộc sống con ngời là đối ợng đợc các nhà thơ quan tâm Viết về các đồ vật, một mặt đa lại cho ngời đọc
Trang 36t-những nhận thức về sự vật đợc miêu tả, mặt khác lại hớng đến hình tợng con
ng-ời
Trong bài Lạp (Cái nón) của các tác giả Hội Tao đàn, vật đợc vịnh hiện
lên khá rõ nét từ đặc điểm cấu tạo đến công dụng:
Ma nào lệ, nắng nào âu, Các cứ làm nên nón đội đầu.
Vành vạnh dờng bằng vầng nhật nguyệt, Vần vần mấy tựa tán công hầu.
Trùm mặt ngọc, mùi hơng đợm,
Đạo đờng hoa, bóng ác thâu.
Cả mọn thế gian nhờ phủ rợp, Nào ai là chẳng đội lên đầu.
Chức năng nổi bật của vật dụng này chính là che đầu cho con ngời chẳngquản nắng ma Cái nón hình tròn vành vạnh nh mặt trăng Nó bé nhỏ là thế, ấyvậy mà lớn nhỏ gì đều phải nhờ vào sự phủ rợp, che chở của nó Đúng là: “Cả mọn thế gian nhờ phủ rợp Nào ai là chẳng đội lên đầu ” Song “Cả mọn thế
gian nhờ phủ rợp Nào ai là chẳng đội lên đầu” còn gợi đến tầm ảnh hởng củamột vị vua đối với thế gian ở bất cứ nơi đâu, bất cứ ngời nào, dù lớn hay bé
đều tôn thờ vua, đều “đội vua ở trên đầu mình”
Thơ của Hội Tao đàn phần lớn không chú tâm lắm tới việc miêu tả sự vật.Vịnh vật dờng nh chỉ là cái cớ để bộc lộ t tởng, tình cảm Phiến là một bài thơ
vịnh về cái quạt nhng không cho chúng ta những nhận thức về cái quạt với đặc
điểm hình thức cấu tạo mà hớng ngời đọc đến một cảm nhận về ngời thiếu nữ
đang ở tuổi cập kê, rất duyên dáng, yểu điệu với những khao khát hạnh phúc:
Thác ở trong tay tạo hoá quyền, Một mình thờ chúa thuở hè thiên, Lng mềm yểu điệu mời lăm tuổi,
Trang 37Má điểm yên chi bảy tám khuyên.
Dặm liễu đã từng che mặt ngọc,
Đờng hoa có thuở vẫy ngời tiên.
Tới thu lại thấy yêu đơng nữa, Mựa chớ đàn chi thiếp bạc duyên.
( Phiến – Bài 58, Phẩm vật môn )
Chúng ta có thể thấy phần lớn thơ vịnh vật của Hội Tao đàn đều khôngchủ đích đi vào miêu tả sự vật mà mọi sự miêu tả ấy đều nhằm bày tỏ đạo đứcphong kiến trong buổi thái bình thịnh trị Nếu vịnh về những vật mang tính chấttao nhã, ớc lệ nh tùng, mai, trúc, … thì nhằm ca ngợi vua, ca ngợi chế độ phongkiến trong buổi thái bình thịnh trị Nếu viết về những vật đời thờng nh khoai,rau cải, con kiến … thì lại nói về vai trò, nhiệm vụ của các bề tôi đối với chúa.Vì thế, nhìn chung, thơ vịnh vật của Hội Tao đàn không quan tâm lắm đến tínhchân thực cần có của sự vật đợc tái hiện Các nhà thơ dùng nó nh những biểu t-ợng đơn thuần để qua đó bộc lộ t tởng, quan niệm sống Trong thơ vịnh vật của
Hồ Xuân Hơng, yếu tố miêu tả sự vật rất rõ Vịnh sự vật nào ra sự vật ấy, khôngthể lẫn vào đâu đợc Việc miêu tả kĩ sự vật trong thơ Hồ Xuân Hơng đã tạo đợcdiện mạo riêng cho nền văn học trung đại nói chung, thơ vịnh vật thời trung đạinói riêng Mỗi bài thơ của Xuân Hơng đều dẫn ngời đọc đến một sự vật hiển thịthật rõ ràng, sống động Đây không phải là việc dễ bởi nếu không có sự quansát tỉ mẩn, không có sự nhạy cảm, tinh tế thì không thể nắm đợc cái hồn của tạovật Và một khi đã không nắm đợc cái hồn thì sự vật đợc diễn tả sẽ vô cùngsống sợng, thậm chí còn phản cảm nữa Những sự vật, hiện tợng, hành động qua
sự tinh nhạy của một tâm hồn nghệ sĩ lớn, đã hiện lên một cách tự nhiên nh vốn
có, thậm chí còn thật hơn ở ngoài đời nữa Tiếp cận thơ Xuân Hơng nếu bỏ quatầng nghĩa này là thiếu sót rất đáng tiếc Tuy nhiên một bài thơ vịnh vật nếu chỉdừng lại ở ở việc miêu tả sao cho giống với sự vật thì quả đúng nó là loại thơchẳng có mấy ý nghĩa Điều làm cho loại thơ này có thể đứng vững bên cạnh
Trang 38các loại thơ khác, góp phần làm phong phú thêm thơ ca dân tộc ở phơng diệnbiểu hiện chính là đằng sau ý nghĩa miêu tả sự vật ấy là ý nghĩa biểu tợng, hớng
sự liên tởng đến con ngời Đúng nh tác giả Phạm Tuấn Vũ đã nói: “Văn chơng
đích thực… trớc sau vẫn là chuyện của con ngời, chuyện của những tấm lòng”[52, 250] Theo đó, thơ vịnh vật chỉ thực sự có ý nghĩa khi có sự gửi gắm, kíthác t tởng, tình cảm của nhà thơ Khi nó là chuyện của con ngời, chuyện củanhững tấm lòng
Vịnh cái quạt I của nhà thơ Hồ Xuân Hơng đến thật tài tình Từ cách làm
quạt, dáng hình đến công dụng của nó: Quạt đợc làm thành từ các nan quạt, mỗinan có một lỗ để xỏ ghim vào, muốn bao nhiêu nan cũng đợc, chỉ cần cho một
ít dính giấy thì các nan sẽ dính lại bền chặt Quạt xoè ra thành hình có ba góc,khi xếp lại thì chỗ này chỗ kia vẫn thừa Công dụng của quạt rất đa dạng: lúc m-
a có thể dùng để che đầu, khi nắng lại làm mát. Vịnh cái quạt II cho thấy tài
năng của Xuân Hơng khi miêu tả sự vật: quạt thờng đợc làm bằng một số nankhông cố định nên mời bảy hay mời tám là vì thế Nhng dù có bao nhiêu nan
không quan trọng, điều cốt yếu là “Cho ta yêu dấu chẳng rời tay” Mỏng haydày thì khi mở ra quạt vẫn thành hình ba góc; rộng hay hẹp thì cũng cắm một cay, nghĩa là cũng cắm chung một cái suốt , cái nhài quạt hình tròn để chốt các
nan lại ở hai nan cái Trời càng nóng bao nhiêu nó càng tỏ rõ công dụng củamình bấy nhiêu Dẫu ngày hay đêm nó đều đợc nâng niu, yêu quý Đến cả vua
và chúa cũng yêu một cái này, không ai là không cần đến nó Cả hai bài thơ Vịnh cái quạt I và Vịnh cái quạt II, mợn cái cớ nói về cái quạt, nhà thơ của
chúng ta đã ý nhị nói lên vẻ đẹp duyên dáng, trẻ trung, đầy sự lôi cuốn của ngờicon gái đang ở độ xuân thì Và cụ thể hơn là nhằm miêu tả vẻ đẹp cái bộ phậnkín trên thân thể của ngời phụ nữ làm đam mê, say đắm tất cả mọi ngời đàn ôngbất luận là vua chúa hay kẻ tầm thờng đều không thể nào cỡng lại nổi
Trong bài Bánh trôi nớc, sự vật đợc miêu tả là cái bánh trôi Bánh đợc
làm bằng bột nếp màu trắng và nặn thành hình tròn nên: “Thân em vừa trắng lại
Trang 39vừa tròn”, nặn xong, nó đợc làm chín bằng cách thả vào nớc, đun sôi bánh bị
đẩy lên đẩy xuống nên “Bảy nổi ba chìm với nớc non” Bánh đẹp hay xấu, ngonhay dở đều phụ thuộc vào tay ngời nặn, nếu vụng tay thì bánh có thể bị rắn hay
bị nhão Nhng dầu bánh có thế nào thì nhân bánh đợc làm bằng đờng đỏ bêntrong vẫn không hề thay đổi, vẫn giữ tấm lòng son Nh vậy, đây đúng là lời “tự
giới thiệu” của bánh trôi nớc từ hình dáng, cấu tạo đến cách chế biến Nếu chỉdừng lại ở ý nghĩa miêu tả sự vật này thì bài thơ chẳng khác gì là bài dạy nữcông gia chánh Cái mà Xuân Hơng muốn gửi gắm là lời bộc bạch chân thànhcủa trái tim phụ nữ Đó là những ớc ao, khao khát về niềm hạnh phúc đích thựctrong cuộc đời Làm sao, đến bao giờ thân em mới thoát khỏi cảnh long đong,
phụ thuộc đây? Nh vậy, nữ sĩ chỉ mợn lời của chiếc bánh trôi để nói lên thânphận, phẩm giá của ngời phụ nữ mà ca dao xa đã từng diễn tả:
- Thân em nh dải lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
- Thân em nh hạt ma rào Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vờn hoa
Thân em nh hạt ma sa, Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.
Trong bài thơ mọi chi tiết dùng để miêu tả chiếc bánh cũng chính lànhững chi tiết gợi đến con ngời ở câu thơ thứ nhất hai tính từ trắng và tròn một
mặt nhằm miêu tả đặc điểm của bánh trôi, mặt khác lại gợi đến vẻ đẹp hình thểcủa ngời phụ nữ Tiếp đến, bảy nổi ba chìm cũng đã vợt lên nghĩa thực chỉ quá
trình làm chín chiếc bánh để nói đến sự nổi trôi, lênh đênh của thân phận conngời, thân phận của ngời phụ nữ trong chế độ phong kiến Ngay từ nớc non
trong câu thơ này cũng vậy Nớc để diễn tả cái bánh trôi nhng khi kết hợp với non nó đã chuyển nghĩa chỉ đất nớc, không gian tồn tại của mỗi con ngời “Hai
câu thơ đã biểu hiện sự đối nghịch giữa phẩm chất chủ thể và số phận của nó”[52, 163] Đến hai câu sau vẫn nhất quán trong ý nghĩa nói về cái bánh trôi
Trang 40(rắn, nát, tay kẻ nặn, tấm lòng son) đồng thời vẫn nhất quán trong việc biểu thị
một giá trị ngoài nó – biểu thị con ngời Nhận biết đợc điều này không hẳn do
sự lặp lại từ em, từ có thể hiểu là từ nhân xng, mà là nhờ hình ảnh Tấm lòng son Lòng son đã xa hẳn cái nghĩa là ruột màu đỏ Biểu tợng này vốn đã rất
quen thuộc trong văn học trung đại nhằm biểu lộ sự trung thực, thuỷ chung sonsắt “Hai câu thơ đã diễn tả sự đối nghịch cao độ giữa thân phận và phẩm giángời phụ nữ Nh vậy, nói rằng Hồ Xuân Hơng vận dụng câu chữ của thành ngữdân gian dờng nh cha đủ mà thực sự nhà thơ đã sử dụng tài tình cơ chế tạo nghĩacủa nó Việc này khó hơn, cao hơn rất nhiều và đặc biệt đắc địa trong thơ vịnhvật, loại thơ song hành hai loại ý nghĩa: ý nghĩa miêu tả sự vật và ý nghĩa biểuhiện con ngời” [52, 163]
Nh vậy từ đầu đến cuối bài thơ, mọi từ ngữ, hình ảnh đều vừa nhằm mục
đích nói về bánh trôi nớc vừa nhằm hớng tới con ngời, ngời phụ nữ trong xã hộiphong kiến mặc dù không tự mình định đoạt đợc hạnh phúc nhng ở họ vẫn ngờilên phẩm chất tốt đẹp, vẫn luôn giữ tấm lòng son dẫu rằng phải chịu cái cảnh bảy nổi ba chìm.
Đề tài cho bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến là hình nộm những
ông tiến sĩ làm bằng giấy dành cho trẻ con trong những dịp tết trung thu Làmloại đồ chơi này, các nghệ nhân dân gian muốn khơi dậy ở trẻ em lòng hiếu học
và tinh thần phấn đấu để đạt tới đỉnh cao vinh quang của nền học vấn Tuynhiên, ở bài thơ này, Nguyễn Khuyến lại nhằm hớng tới một mục đích hoàntoàn khác Chỉ trong tám câu thơ nhng hình ảnh của thứ đồ chơi của trẻ con đãhiện lên rất rõ từ hình dạng lẫn chất liệu để làm Từ việc miêu tả một ông tiến sĩbằng giấy, một thứ đồ chơi của trẻ con, tác giả đã ngầm ẩn cho một ông tiến sĩthật chỉ còn là cái vỏ trống rỗng trong xã hội mà mọi giá trị đạo đức truyềnthống đã bị đảo lộn ở đó nho học, khoa cử đã xuống cấp, không đợc coi trọng,mọi thứ có thể dùng tiền để trao đổi mua bán Xuất hiện trong xã hội nhiều kẻchỉ có h danh mà không có thực học Những ngời có tài năng, chữ nghĩa đầy