1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiên nhiên và con người xứ huế trong ký của hoàng phủ ngọc tường

100 962 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiên nhiên và con người xứ Huế trong ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường
Người hướng dẫn PGS. TS. Lê Quang Hùng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 427 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói, một trong những ý kiến nhận xét Hoàng Phủ Ngọc T ờng một cách khái quát chính là Nguyễn Đăng Mạnh, khi ông chorằng: “Hoàng Phủ Ngọc Tờng là một cây bút ký đặc sắc” và là “Một

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Võ thanh bình

thiên nhiên và con ngời xứ huế

trong ký của hoàng phủ ngọc tờng

Chuyên ngành: văn học Việt Nam

có lịch sử lâu dài khác, nh tiểu thuyết, truyện ngắn,

Trang 2

Tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tờng đã đợc đa vào giảng dạytrong nhà trờng phổ thông, điều đó đã chứng tỏ tầm vóc và vị trí của nhàvăn trên văn đàn và trong dòng chảy của văn học hiện đại.

1.2 Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tờng không chỉ chinh phục bạn đọctrong nớc, tác phẩm của nhà văn đã vợt qua biên giới của quốc gia khi một

bộ phận ngời Việt Nam ở Pháp, Mỹ, Canada rất say mê ký của tác giả Có lẽvì những ngời con xa xứ đã tìm thấy tâm thức cội nguồn của mình khi tìm

đọc các tác phẩm ký của Hoàng Phủ Ngọc Tờng

Với tầm vóc nh vậy, Hoàng Phủ Ngọc Tờng trở thành một tác giả

đợc yêu thích của nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, nhiều bài viết Tuynhiên, phần lớn những bài viết đó mới chỉ khai thác từng khía cạnh củaphơng diện nội dung và nghệ thuật trong các tác phẩm ký của Hoàng

Phủ Ngọc Tờng Riêng vấn đề Cảm nhận về thiên nhiên và con ngời xứ

Huế trong ký của Hoàng Phủ Ngọc Tờng vẫn đang còn bỏ ngỏ Đây là

thử thách và cũng là sức hấp dẫn lôi cuốn chúng tôi đến với đề tài này

1.3 Cảm nhận về thiên nhiên và con ngời xứ Huế là một nội dungmang đậm dấu ấn của Hoàng Phủ Ngọc Tờng Bởi với ký, nhà văn lànhân vật duy nhất cất lên tiếng nói trực tiếp của mình tr ớc sự rung độngsâu sắc về cỏ cây hoa lá, và con ngời xứ Huế đầy mộng mơ và sâu lắng.Vì thế, sức mạnh của ký trớc hết kà ở tri thức, nhân cách, bản lĩnh, tầm

t tởng, cách nhìn, cách cảm, sự uyên bác và lịch lãm của ngời viết

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Kể từ tập ký Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971) ra đời,

Hoàng Phủ Ngọc Tờng tìm đến thể loại ký bằng bớc đi trong nghề ngày

càng vững chắc Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tờng, Nxb Trẻ, 2002,

trong đó có ba tập ký khẳng định sự nỗ lực của một ngòi bút Tuy nhiên,cho đến nay, những công trình nghiên cứu về ký Hoàng Phủ Ngọc Tờngcha nhiều, mới chỉ có một số luận văn và bài báo Đó là các bài viết từnhững năm 90 của thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI

Có thể nói, một trong những ý kiến nhận xét Hoàng Phủ Ngọc T ờng một cách khái quát chính là Nguyễn Đăng Mạnh, khi ông chorằng: “Hoàng Phủ Ngọc Tờng là một cây bút ký đặc sắc” và là “Mộttrong những tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại” [22, 38].Và: “Trong nhiều vùng quê Hoàng Phủ Ngọc Tờng đã đến và đã viết, xứ

Trang 3

-Huế là nơi ông am hiểu hơn cả Những trang văn của ông viết về -Huế đãchứa đựng nhiều đặc sắc của văn phong Trầm tĩnh lắng đọng tronggiọng điệu, phong phú dầy dặn trong vốn liếng và kỹ lỡng tự nhiên trongngôn từ, ngữ pháp” [22, 39]

Đồng tình với ý kiến của Nguyễn Đăng Mạnh, tác giả Ngọc Traicũng đánh giá cao khả năng viết ký của Hoàng Phủ Ngọc T ờng: “Ông lànhà văn viết ký nổi tiếng có phong cách riêng trong vài chục năm lại

T-Khi đọc những trang kí của Hoàng Phủ Ngọc Tờng, Hoàng Cát nhấnmạnh: “Hoàng Phủ Ngọc Tờng luôn hiện lên là một nhà văn hóa hành vănvô cùng độc đáo, một cuốn từ điển sống về Huế” [1, 68] Và ở một đoạnkhác, ông viết: “Hoàng Phủ Ngọc Tờng có một phong cách viết bút ký vănhọc của riêng mình Thế mạnh của ông là tri thức văn học, triết học, lịch

sử, địa lý sâu và rộng, gần nh đụng đến vấn đề gì ở thời điểm nào và ở đâuthì ông vẫn có thể tung hoành thoải mái đợc” [1, 69]

Phạm Phú Phong khẳng định khả năng viết ký của Hoàng PhủNgọc Tờng: “Mỗi khi nhắc đến thể ký không thể không kể đến tên anh

Và trên bớc đờng sáng tác Hoàng Phủ Ngọc Tờng đã khẳng định dấu ấnriêng của mình không lẫn vào đâu đợc” [34]

Còn Trần Đình Sử thì cho rằng: “Bút ký của Hoàng Phủ Ngọc ờng là một cuộc đi tìm cội nguồn, một sự phát hiện bề dày văn hóa vàlịch sử của các điều kiện đời sống Văn anh giàu những t liệu lấy từ sửsách tri thức khoa học và huyền thoại ký ức cá nhân lóe lên những ánhsáng bất ngờ Cái mới của Hoàng Phủ Ngọc Tờng là khám phá bìnhdiện văn hóa với t liệu lịch sử phong phú và một tâm hồn Huế nồng nàn”[38, 253]

T-Không chỉ có thế, khi đặt chân đến vùng đất nào nhà văn cũng thu

đợc một lợng kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực mà phần lớn các nhà phêbình khi đọc những trang ký của ông luôn có cảm t ởng: “Vừa đợc nhập

Trang 4

siêu một lợng tri thức về văn chơng, về lịch sử, về cuộc đời vô cùng quýgiá”

Tác giả Lê Trà My khi nghiên cứu ký Hoàng Phủ Ngọc T ờng đãnhận thấy ở ông có một bản lĩnh, một cách sống: “Khi nhìn các vấn đề,nhà văn thờng đặt chúng trong chiều sâu văn hóa dân tộc, khám phá ở

đó những giá trị văn hóa, bằng những năng lực nội cảm của chính bảnthân mình Từ cách phân tích, lý giải, khơi mở vấn đề, đến việc đánh giákết luận, nhà văn thờng có một thớc đo giá trị: Đó là tính văn hóa Chọnhớng tiếp cận này, Hoàng Phủ Ngọc Tờng đã chứng tỏ tầm nhìn rộng

mở, khái quát, một tầm cao nhận thức thoát khỏi những giới hạn nhỏhẹp của một cá nhân, một đời ngời Nhng đồng thời hớng đi đó cũng đòihỏi một bản lĩnh văn hóa của ngời cầm bút Bản lĩnh ấy của Hoàng PhủNgọc Tờng đợc hình thành từ nền tảng văn hóa dân tộc, văn hóa nhânloại và văn hóa tâm linh, đặc biệt là văn hóa Huế Chiều sâu văn hóa ởHoàng Phủ Ngọc Tờng đã giúp nhà văn có một cách sống đạt đạo theoquan niệm của ông” [25, 29]

Hoàng Phủ Ngọc Tờng là ngời sống sâu sắc, sống hết mình mộtthời tuổi trẻ Khi cả dân tộc đứng lên đấu tranh chống Mỹ – Diệm, nhàvăn, nhà cách mạng lại lãng du trên khắp nẻo đờng đất nớc lợm lặt mậtngọt cho những trang bút ký Với vốn kiến thức phong phú, đa dạng,nhà văn đã tạo ra một sức hút, một lực hấp dẫn riêng trong từng trangbút ký, tác giả Ngô Minh: “Hoàng Phủ Ngọc Tờng là một trong số rất ítnhà văn viết bút ký nổi tiếng ở nớc ta vài chúc năm nay Bút ký củaHoàng Phủ Ngọc Tờng hấp dẫn ngời đọc ở tấm lòng nhân văn sâu sắc,trí tuệ uyên bác và chất Huế thơ huyền hoặc quyến rũ Đó là nhữngtrang viết tài hoa, tài tử, tài tình Thực ra bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tờngchính là những áng thơ văn xuôi cuốn hút ngời đọc” [24, 15]

Cũng ở công trình Đọc “Ai đã đặt tên cho dòng sông” nghĩ về

chặng đờng sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tờng, tác giả Phạm Phú

Phong tiếp tục đa ra nhận xét: “Trên bớc đờng sáng tác Hoàng PhủNgọc Tờng đã khẳng định dấu ấn qua từng trang ký của mình luôn hiệnlên là một nhà văn hóa hành văn vô cùng độc đáo, một cuốn từ điểnsống về Huế Hoàng Phủ Ngọc Tờng đã vận dụng một khối lợng kiếnthức rất lớn về lịch sử, địa lý, sinh vật, âm nhạc và cả Hội họa vào trongsáng tác của anh” [34, 4]

Trang 5

Đã có nhiều nhà phê bình văn học, nhà thơ, nhà văn viết về bút kýHoàng Phủ Ngọc Tờng và hầu nh tất cả đều có chung một nhận định:Bút ký của ông đã tạo nên một dấu ấn riêng biệt Hoàng Phủ Ngọc T ờngkhông sử dụng bút ký nh chỉ đơn thuần là một thể loại phản ánh hiệnthực, lịch sử Thông qua những sự kiện, sự vật đợc miêu tả một cách sắcgọn, ông luôn cung cấp cho ngời đọc những kiên thức sâu xa dới gócnhìn của một nhà văn hóa về những vấn đề lịch sử, cuộc sống Đó lànhững suy niệm triết học luôn gắn bó với con ngời, cuộc đời, đợc thểhiện trong cảm xúc của một nhà thơ Cái nét riêng Hoàng Phủ Ngọc T-ờng ấy là kết quả của vốn học vấn rộng, sự suy nghĩ sâu sắc và năng lựcdiễn đạt tạo đợc sự rung cảm, sự trực cảm về lẽ đời, nghĩa đời

Về cái tài hoa, uyên bác trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tờng, tác giảNguyễn Thị Minh Nguyệt khẳng định: “Con ngời của trải nghiệm, nhạycảm trong nắm bắt sự vật, hiện tợng, nhìn tận thẳm sâu bản chất sự vậthiện tợng nh ông đã tìm thấy ở ký mảnh đất tơi tốt, là nơi để một cái tôiHoàng Phủ Ngọc Tờng rất mực uyên bác đợc hình thành” [32, 9]

Khi nghiên cứu tập ký Ai đã đặt tên cho dòng sông, Trần Đình Sử

nhận định: “Đọc ký Hoàng Phủ Ngọc Tờng ta bỗng thấy anh tìm đến thểbút ký nh một điều tất yếu, bởi vì đó là một thể loại phóng khoáng, tự

do mà cá tính nghệ sỹ thờng trực tiếp tham gia vào đặc điểm thể loại.Tính thích giao du, tình yêu, lịch sử, triết học, nhu cầu trầm t nội tâm,thích chiêm nghiệm, quan sát, tất cả đều là các kích th ớc khác nhau củabút ký Hoàng Phủ Ngọc Tờng” [38, 53]

Tác giả Lê Thị Hờng trong chuyên đề Dạy học Ngữ văn lớp 12

nhấn mạnh: “Những trang ký của Hoàng Phủ Ngọc Tờng mang đến chongời đọc những miền không gian xanh thẳm, ấn chìm những vết trầmtích văn hóa từ thiên nhiên Những trang ký viết về Huế là những trangthơ văn xuôi góp phần thể hiện sự thành công của anh về thể ký, đồngthời bộc lộ rõ một phong cách riêng đó là: “Chất Huế” bàng bạc khắpnhững trang viết của anh Hoàng Phủ Ngọc Tờng là cây bút ký gắn bóvới cội nguồn truyền thống văn hóa Huế” [14, 21]

Có thể nói, ký của Hoàng Phủ Ngọc Tờng đã có rât nhiều ý kiến

đánh giá, khẳng định Điều đó cho thấy trên những trang văn, HoàngPhủ Ngọc Tờng dù viết về văn hóa, văn học nghệ thuật, những vấn đềchiến tranh hay hiện thực đời thờng vẫn thể hiện một bản lĩnh văn hóa,

Trang 6

một t duy triết học, một năng lực nội cảm mạnh mẽ Bao trùm lên toàn

bộ những trang ký vẫn là chân dung một Hoàng Phủ Ngọc Tờng với cáitôi đặc sắc riêng, tài hoa uyên bác mà nhiều nhà phê bình đã không tiếcgiấy bút nghiên cứu, bình luận

Hầu hết các ý kiến trên đã chỉ ra vai trò sáng tác và những đónggóp của Hoàng Phủ Ngọc Tờng đối với nền văn học dân tộc Đó là tâmhồn Huế, cái tôi tài hoa, uyên bác nhạy cảm với cái đẹp Nh ng bên cạnh

đó vẫn còn có một số ý kiến phê phán cách viết của Hoàng Phủ Ngọc T ờng Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử đánh giá: “Bút

-ký của Hoàng Phủ Ngọc Tờng nghiêng hẳn về chất thơ thi vị ngọt ngào.Cái chất thơ truyền thống thu hẹp phần nhìn của tác giả Nói về Sông H -

ơng, vờn Huế, tác giả hầu nh không nói gì tới thiên nhiên khắc nghiệt”,

“Không nói gì đến tính chất nghèo nàn về khoáng sản, đất đai ”, “mởmang chất văn xuôi sẽ có dịp phê phán những truyền thống ch a tốt đẹptrong văn hóa” [21, 255] Tuy nhiên những ý kiến phủ nhận kí củaHoàng Phủ Ngọc Tờng nh thế này không nhiều

Bởi nếu ai đã đọc ký Ai đã đặt tên cho dòng sông, chúng ta đều có

thể dễ dàng nhận ra chân dung Hoàng Phủ Ngọc Tờng Đó là một câybút luôn dấn thân vì lẽ phải, vì Tổ quốc, quê hơng

Từ thực tiễn nghiên cứu nh trên, chúng tôi nhận thấy, vấn đề kýHoàng Phủ Ngọc Tờng đã đợc quan tâm chú ý nhiều Đa số các tác giả

đều nhấn mạnh đến cái tôi tài hoa uyên bác, bản sắc Huế và diện mạotâm hồn của thiên nhiên, con ngời Huế trong ký của ông, chứ cha đi sâuvào tìm hiểu vấn đề theo một hệ thống Chúng tôi thiết nghĩ, việc nghiên

cứu Cảm nhận về thiên nhiên xứ Huế trong ký của Hoàng Phủ Ngọc

T-ờng nếu thực hiện thành công sẽ góp phần khẳng định những đóng gópriêng của nhà văn đối với nền văn học hiện đại Việt Nam Bởi thế, bàiviết của những ngời đi trớc là cơ sở để chúng tôi tiếp thu, kế thừa vàphát triển thành hệ thống ở đề tài này

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về vấn đề Cảm nhận về thiên nhiên con ngời xứ Huế trong

ký của Hoàng Phủ Ngọc Tờng dới góc độ thi pháp học cũng có nghĩa là

nghiên cứu thiên nhiên và con ngời qua cái nhìn nghệ thuật của nhà văn,qua cách thức xây dựng thế giới nghệ thuật Chúng tôi hy vọng những

Trang 7

đóng góp mới mẻ và ít ỏi của chúng tôi sẽ góp phần làm sáng rõ thêmnhững giá trị mới của Hoàng Phủ Ngọc Tờng - ngời đã làm nên diệnmạo mới của đời sống văn học nền Văn học Việt Nam hiện đại Ngoài

ra kết quả của luận văn có thể vận dụng nghiên cứu và giảng dạy tác giảHoàng Phủ Ngọc Tờng trong nhà trờng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có nhiệm vụ xác định sự đóng góp về đề tài thiên nhiên

và con ngời xứ Huế trong ký của Hoàng Phủ Ngọc Tờng

Qua đó khẳng định đặc điểm, vẻ đẹp hình ảnh thiên nhiên xứ Huếtrong ký của Hoàng Phủ Ngọc Tờng

Khẳng định vẻ đẹp của con ngời xứ Huế trong ký của Hoàng PhủNgọc Tờng

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tợng nghiên cứu

Đối tợng nghiên cứu của luận văn là Cảm nhận về thiên nhiên và

con ngời xứ Huế trong ký của Hoàng Phủ Ngọc Tờng.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là toàn bộ tác phẩm ký của

Hoàng Phủ Ngọc Tờng đợc tuyển chọn trong tập Hoàng Phủ Ngọc

T-ờng, Nxb Trẻ, 2002 Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có so sánh

ký của Hoàng Phủ Ngọc Tờng với một số tác phẩm cùng thể loại củamột số tác giả khác nh Nguyễn Tuân, Vũ Bằng,

- Luận văn góp phần làm sáng tỏ vẻ đẹp về thiên nhiên và con

ng-ời xứ Huế trong ký Hoàng phủ Ngọc Tờng, gắn liền với cách cảm nhận

miêu tả độc đáo

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung chính của luận văn đợc

triển khai trong 3 chơng:

Trang 8

Chơng 1 Khái quát về ký Hoàng Phủ Ngọc Tờng trong nền trong

nền văn học Việt Nam hiện đại

Chơng 2 Thiên nhiên xứ Huế trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tờng Chơng 3 Con ngời xứ Huế trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tờng.

Sau cùng là Tài liệu tham khảo.

Trang 9

Chơng 1

Khái quát về Ký Hoàng Phủ Ngọc Tờng

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại

1.1 Khái quát về thể ký trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại

1.1.1 Khái niệm ký

Diện mạo văn học đích thực chỉ có đợc thông qua hệ thống thểloại Nhắc đến đời sống thể loại của nền văn học Việt Nam hiện đạichúng ta không thể không nhắc đến Ký Việc đa Ký vào trong thể loạivăn học đã đem đến một sự đột phá của nghiên cứu văn học, thay đổiquan điểm truyền thống về thể loại của Arixtốt vốn đã ngự trị hơn haingàn năm trong lý luận văn học phơng Tây

Trong quá trình xác định thể loại, các nhà nghiên cứu đã có nhiềucách tiếp cận để nhận diện ký, nhng cho đến nay, giới lý luận văn họcvẫn cha đa ra một hệ thống lý thuyết nhất quán cho thể loại văn học này.Cho nên, mỗi ngời có một nhận định khác nhau về thể ký

Theo nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến ký có ba đặc điểm sau:

“Ký là thể loại nằm giữa báo chí và văn học, ký là sự hợp nhất chuyện

và nghiên cứu, ký là sự nhức nhối của trí tuệ” [10, 67]

Theo Hà Minh Đức thì "Các thể ký văn học chủ yếu là nhữnghình thức ghi chép linh hoạt trong văn xuôi với nhiều dạng tờng thuật,miêu tả, biểu hiện, bình luận và sự kiện của đối tợng miêu tả" [4, 332] Phơng Lựu nhận định "Ký là một loại văn xuôi tự sự, trần thuậtnhững ngời thật, việc thật với những đặc điểm riêng biệt trong mức độtính chất h cấu, trong vai trò của ngời trần thuật cùng mối liên hệ giữa

nó với đặc điểm của kết cấu và cốt truyện" [18, 280]

Trang 10

Theo các nhà nghiên cứu văn học, sự phức tạp của thể ký mộtphần là do nó có sự giao thoa, thâm nhập nhiều thể loại văn học khác.Giữa ký với báo chí có mối liên hệ đặc biệt thờng xuyên và tác động qualại lẫn nhau.

B.Bôlêvôi kết luận: "Ký sự trở thành một thể tài văn nghệ cótrong thể loại nằm giữa văn học và báo chí" Ranh giới giữa ký vănhọc và ký báo chí nhiều khi không thật rõ rệt, nhất là đối với các bút

ký chính luận Thật ra, vấn đề này còn tùy thuộc vào khả năng củamỗi nhà văn

Trong quá trình nghiên cứu về ký, đa số các học giả đều nhấnmạnh đặc trng của nó là miêu tả ngời thật, việc thật và tôn trọng tínhxác thực của đối tợng Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức chỉ rõ: "Chỗ khácnhau cơ bản giữa các thể ký văn học và các thể loại văn học khác là ởnguyên tắc tôn trọng tính xác thực của đối tợng miêu tả Sự thực của đờisống đi vào tác phẩm ký tuy có đổi thay nhng không hề biến chất và bịmất đi tính xác thực lịch sử " [4, 216]

Song song với vấn đề đó, các nhà nghiên cứu cũng thấy đợc mốiliên hệ giữa ký và các thể loại trữ tình, tự sự, kịch GonKy nhấnmạnh: "Ký đứng giữa nghị luận có tính nghiên cứu và truyện ngắn"[5, 21-22]

Tác giả Hà Minh Đức khẳng định: "Các thể ký trữ tình đòi hỏingời viết phải biểu hiện độc đáo cá tính sáng tạo trong mọi cảm xúc,suy nghĩ trong cách bình luận và phân tích sự vật cũng nh trong ph-

ơng thức thể hiện Trong loại ký trữ tình, mỗi tác giải đều bộc lộ cáitôi trữ tình, hoặc sắc sảo linh hoạt, hoặc chân thực, mộc mạc, hoặc

đôn hậu, đằm thắm" [4, 218] Gulaép thì cho rằng ký là một biến thểcủa tự sự

Trang 11

Các tác giả Phơng Lựu, Nguyễn Xuân Nam Trần Đình Sử cũng

đánh giá Ký là một loại văn tự sự Các nhà nghiên cứu đều thấy đ ợc: "sở

dĩ ký hiện nay, phạm vi bao gồm quá nhiều loại khác nhau về tính chất,

là bởi vì nó đợc đặt trong hệ thống phân loại: thơ tiểu thuyết kịch ký" [18]

-Ngoài ra, vấn đề phức tạp của thể ký còn xuất phát từ sự linh hoạt,năng động của thể loại này trong việc phản ánh hiện thực Ký không ghichép đơn giản mà bao gồm nhiều dạng thức khác nhau nh: Ký sự, phóng

sự, hồi ký, nhật ký, tùy bút, bút ký, chính luận, truyện ký, … Mỗi thểloại trong ký đều có những đặc sắc riêng trong sự phản ánh và thể hiện.Tuy vậy, sự phân chia ra các tiểu loại nh trên cũng chỉ mang tính tơng

đối và chúng có khả năng lúc nào cũng rạch ròi Nói về điều này, nhàvăn Tô Hoài cho rằng: "Làm Sao định nghĩa cố định đợc thể nào là mộtbút ký Ký cũng nh truyện ngắn, truyện dài hoặc thơ, hình thù nó đầynhững vóc dáng, nó luôn đòi hỏi sáng tạo và thích ứng Cho nên càngkhông nên trói nó vào cái khuôn…"

Chính vì những yêu cầu định nghĩa thế nào là bút ký cho nênvấn đề mà giới lý luận văn học cũng rất quan tâm là việc h cấu trong

ký Có những ý kiến xoay quanh vấn đề này nh: Ký có đợc h cấu haykhông? h cấu đợc hiểu thế nào? h cấu có phạm vi mức độ nào?

Một số ý kiến cho rằng ký không đợc h cấu B.Pôlêvôi khẳng

định: "ký sự nhất thiết không đợc h cấu" Cuộc sống chúng ta muônhình muôn vẻ nh thế, lý thú nh thế, biết bao nhiêu sự việc xảy ra, thực racũng không cần thiết phải h cấu thêm thắt tô vẽ gì hơn nữa Cũng theohớng này, Bùi Hiển nhấn mạnh: "trong bút ký, phóng sự tính xác thựccủa đối tợng là một điều cốt yếu Thêm h cấu đã dẫn đến những kết quả

Trang 12

chỉ khiến cho sự việc trở thành thực thực, h h trong trí ngời đọc, không

có lợi" [6, 218]

Hoàng Phủ Ngọc Tờng cũng có quan niệm khi nói về thể ký: "Bớc

ra khỏi cuộc chiến tranh, tôi nghiệm ra một điều là tôi cần nói về nhữnggì tôi đã trải nghiệm Tiểu thuyết và truyện ngắn có vẻ nh không giúp đ-

ợc tôi làm điều này Thế là tôi chọn ký, thể loại gần nhất với hiện thực

đời sống Với thể ký tôi có thể nói tùy thích những gì đang diễn ra trongtâm hồn tôi, những trải nghiệm đẹp và cả trong khổ đau nữa Thời đạinào cũng cần sự thật Nhà văn càng phải nói lên sự thật" [40, 53]

Không tán thành những quan điểm trên, một số nhà nghiên cứuxem h cấu là biện pháp nghệ thuật cần thiết trong quá trình viết ký Ng -

ời viết ký có thể vận dụng h cấu, tởng tợng để bồi đắp vào những điểmtrắng, tô đậm thêm hình tợng của tác phẩm trong khuôn khổ tôn trọngtính xác thực của nhân vật hoàn cảnh Nguyễn Tuân nhấn mạnh sáng tácnghệ thuật nào cũng có h cấu: "H cấu không phải là tách rời thực tiễn vàthực tế đời sống, mà chính là rất gắn bó với đời sống" [42] Hà Minh

Đức, Phơng Lựu, Trần Đình Sử và một số nhà nghiên cứu khác đều tánthành việc h cấu trong ký Tuy nhiên, h cấu ở đây đợc sử dụng ở nhữngphần không thật xác định, thể hiện trong việc chọn lọc, sắp xếp, tổ chứccác sự kiện, t liệu trong quá trình tái tạo hiện thực ngoài đời thành hiệnthực trong tác phẩm Các tác giả cũng chỉ rõ h cấu trong ký phải trên cơ

sở tôn trọng sự thật không đợc sử dụng tùy tiện, bừa bãi

Dới góc độ lý luận văn học, các tác giả còn tiếp cận thể ký ởnhiều phơng diện khác nhau ở luận văn này, chúng tôi chỉ tập trungnghiên cứu nét đặc sắc trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tờng thông qua việc

cảm nhận về thiên nhiên và con ngời xứ Huế Chúng tôi tiếp thu ý kiến

của những ngời đi trớc, xem ký là một loại văn xuôi ngời thật, việc thật,

Trang 13

tôn trọng tính xác thực của đối tợng và sự sử dụng h cấu đều có tính xácthực Do yếu tố xác thực đợc đặt lên hàng đầu nên sức hấp dẫn và thuyếtphục của ký một phần lớn nằm ở chính sự việc đợc phản ánh Mặt khác,

ký cũng là một thể loại in đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của chính tác giả

1.1.2 Sơ lợc quá trình hình thành, phát triển của thể ký

Ghi chép về "những cái có thật" ở đời sống, điều ấy đã phát triển

từ rất sớm trong truyền thống của văn học Việt Nam, nh một số tác

phẩm Việt điện u linh, Lĩnh nam chích quái,… đợc tác giả ghi lại sự thật

hàng ngày đang diễn ra xung quanh cuộc sống Cho nên nửa cuối thể kỷXVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam có nhiều biến động; conngời sống trong giai đoạn này không phải chỉ có rung cảm trớc cuộcsống, mà còn muốn nhận thức, lý giải nó, và quá trình này đa đến sự ra

đời một loạt tác phẩm ký Sáng tác ký xuất hiện ở giai đoạn này khá

phong phú Đáng chú ý là tập Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ đã

ghi chép rất nhiều những sự việc xảy ra trong xã hội lúc bấy giờ, giúpngời đọc hiểu đợc bối cảnh thời đại trong những tháng năm cuối cùng

của triều đình Lê - Trịnh ở Thăng Long Chuyện cũ trong phủ chúa

Trịnh, Mấy năm đợc mùa, Cuộc bình văn trong nhà Giám,… là những

trang viết đa dạng về sinh hoạt văn hóa của ông cha ta nh lối viết chữ,cách uống trà, nghe nhạc, thi cử và các thứ lễ khác,… Có một số trangviết viết về nhiều nhân vật lịch sử nh Nguyễn Kính, Phạm Tử H, PhạmNgũ Lão,… các di tích lịch sử, đền thờ làng Tuấn Kiệt, đền Đề Thích, …

Có thể nói, tùy bút của Phạm Đình Hổ cha đa dạng, độc đáo, linh hoạt

nh rùy tút trong văn học Việt Nam hiện đại song nó mang nét riêng ở lốitrình bày,… Về sau, bút ký của Tản Đà là dấu hiệu báo trớc khuynh h-ớng một thể loại ký trữ tình của nền văn học mới Bởi ông chính là chiếccầu nối liền hai thế kỷ: Trung đại và hiện đại

Trang 14

Từ 1930 - 1945, văn học Việt Nam phát triển đến đỉnh cao, bêncạnh thơ mới, tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch,… thì ký cũng đạt đợcnhiều thành tựu khẳng định đợc sự lớn mạnh của thể loại.

Đầu tiên là phóng sự thu hút nhiều cấy bút hiện thực phê phán,

kịp thời "nhận chân" xã hội hiện tại nh Tôi kéo xe của Tam Lang và

Cạm bẫy ngời, Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô của "ông vua phóng

sự đất Bắc" Vũ Trọng Phụng Với bút pháp "tả chân" triệt để, nhữngphóng sự này đã phơi bày bộ mặt dơ bẩn, trơ trẽn của xã hội thuộc địanửa phong kiến

Bên cạnh sự xuất hiện của các tác phẩm ký mang đậm phong cáchhiện thực, giai đoạn này cũng ghi nhận sự xuất hiện của tùy bút mang

đậm chất trữ tình của Thạch Lam, Nguyễn Tuân Bằng những sáng táccủa mình, Nguyễn Tuân đã đa thể tùy bút trở thành một thể văn có chỗ

đứng vững chắc, ngang hàng với các thể loại văn học khác xuất hiệncùng thời

Nh vậy, nửa đầu thể kỷ XX, sự đa dạng, nở rộ của thể ký đã gópphần làm cho đời sống của văn học dân tộc sôi động hẳn lên, tiến nhữngbớc đi vững chắc trên tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc

Từ 1945 - 1954, trong các thể văn xuôi của văn học kháng chiếnchống Pháp thì ký phát triển mạnh hơn cả, nhất là ký sự và tùy bút Ký

đã thâm nhập vào thể loại văn học khác khiến các tác phẩm thuộc loạitruyện ngắn, tiểu thuyết cũng đậm đặc các sự kiện đời sống hàng ngày.Theo sát chặng đờng chiến đấu, các "cây ký" đã dũng cảm xông xáo vàonhững chiến trờng ác liệt bám sát mũi nhọn chiến đấu Trần Đăng đãkhắc họa chân thực và cảm động hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ giản dị mà

anh dũng Ký sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tởng, Ngợc dòng sông

Thao của Tô Hoài… dựng lại cuộc chiến đấu sống chết của dân tộc.

Trang 15

Nguyễn Tuân lúc này đi theo kháng chiến cho ra đời Đờng vui, Tình

chiến dịch,…

Bớc vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc, biết baonhà văn đã mạnh dạn đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, tới những vùngmiền mới lạ để phản ánh kịp thời những nhân tố mới nảy sinh trong đời

sống cách mạng Tiêu biểu là Tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân,

Những cô gái đổ bê tông của Lê Minh, Đêm sửa lò của Xuân Hồng,…

Trong giai đoạn này phải kể đến một số tác phẩm ký ra đời nhân

các chuyến đi thăm nớc bạn nh: Thành phố Lê- Nin, Tôi thăm Căm - Pu

- Chia của nhà văn Tô Hoài, Hiên ngang Cu- ba của Thép Mới, tập hồi

ký Nhân dân ta rất anh hùng của các đồng chí Nguyễn Lơng Bằng, Võ

Nguyên Giáp, Phạm Hùng…

Ký trong văn học kháng chiến chống Mỹ đã góp cho văn học viết,những tác phẩm ký đậm cảm hứng, sử thi và đã phản ánh chân thực,cuộc chiến đấu của dân tộc, sự vận động của dòng thác cách mạng vàbiểu dơng kịp thời những tấm gơng anh hùng của thời đại Nổi bật là tác

phẩm Họ sống và chiến đấu, Tháng ba ở Tây Nguyên, Hòa Vang của Nguyễn Khải, Trên quê hơng những anh hùng Điện Ngọc của Nguyễn Trung Thành, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi của Nguyễn Tuân,… lúc này

dòng ký trữ tình vẫn nảy nở và phát triển trong hoàn cảnh khốc liệt củachiến tranh nh một minh chứng cho sự sống và vẻ đẹp tâm hồn của conngời Việt Nam Tiêu biểu là những sáng tác theo khuynh h ớng trữ tình

lãng mạn đậm chất sử thi Bức th Cà Mau của Anh Đức, ý thức trớc mùa

hoa của Chế Lan Viên, Đờng chúng ta đi của Nguyên Ngọc,…

Năm 1975, khi đất nớc bớc vào hoà bình xây dựng xã hội, nhất làvào thời kỳ đổi mới (1986), ký có sự chuyển mình rõ rệt Với phơng châm

“nhìn thẳng vào sự thật”, thể phóng sự một thời gian dài vắng bóng nay lại

Trang 16

hồi sinh Tác giả Vũ Tuấn Anh trong bài viết của mình đã nhận định: “Tắtlặng trong một thời gian dài, sự xuất hiện trở lại đột ngột và mạnh mẽ củaphóng sự tạo một tác động, một “cú hích” sang các thể loại khác: Nó thứctỉnh một cách nhìn mạnh dạn và thẳng thắn, một thái độ nhập cuộc trớcnhững vấn đề nóng bỏng của thực tế, nó cung cấp không ít những mảng tliệu và chất liệu sống trong truyện và tiểu thuyết” Giai đoạn này hàng loạtcác phóng sự ra đời, các thể ký, tùy bút, tạp văn, tản văn cũng xuất hiệnphong phú hơn bao giờ hết, thu hút sự chú ý của công chúng Đội ngũ viết

ký đông đảo, nhiều cây bút tìm tòi ở các thể loại và ngày càng khẳng địnhphong cách riêng, tiêu biểu là Nguyễn Khải với tạp văn, Mao Văn Tạo,Băng Sơn, với thể tản văn, đoạn văn; Minh Chuyên, Xuân Ba, Trần HuyQuang, Hoàng Phủ Ngọc Tờng với thể bút ký

Xã hội phát triển theo xu hớng “Dân chủ hóa” đã giúp ký thâmnhập vào cuộc sống, mở rộng phạm vi phản ảnh, các nhà văn công khaibày tỏ thái độ, cách nhìn, cách đánh giá đối với hiện thực Ngời viết ký

có cơ hội để bộc lộ vai trò của chủ thể sáng tạo, khẳng định đợc dấu ấnriêng của mình

Sống giữa thời đại công nghệ thông tin với những biến động nhhiện nay, ký càng có điều kiện phát triển mạnh mẽ Với u thế củamình, ký luôn khẳng định đợc vai trò, vị trí của mình trong sự vận

động và đi lên của nền văn học dân tộc, góp phần làm cho đời sốngvăn hóa tinh thân của nhân dân ngày càng lành mạnh và phong phúhơn

1.2 Ký trong sự nghiệp sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tờng

1.2.1 Vài nét về tác giả

Trang 17

Hoàng Phủ Ngọc Tờng sinh ngày 9 tháng 09 năm 1937, tại Thànhphố Huế Quê gốc của ông ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện TriệuPhong, tỉnh Quảng Trị

Năm 1960 Hoàng Phủ Ngọc Tờng tốt nghiệp khoa Văn - Triết tại

Đại học Huế Từ năm 1960 đến năm 1966 Hoàng Phủ Ngọc Tờng dạyhọc tại trờng Quốc học Huế Trong thời gian này ông tích cực tham giahoạt động cách mạng bí mật (1963) tại Nội Thành Huế

Tháng 5 năm 1966, Hoàng Phủ Ngọc Tờng dời trờng học lênchiến khu trực tiếp tham gia hoạt động cách mạng Đến hết năm 1975,khi đất nớc độc lập ông trở về làm việc đảm nhiệm nhiều trọng tráchkhác nhau nh Tổng th ký liên minh các lực lợng dân tộc dân chủ và hòabình Huế, Tổng th ký Hội văn học nghệ thuật Trị - Thiên, tham giachính quyền Cách mạng tỉnh Quảng Trị

Sau 1975, Hoàng Phủ Ngọc Tờng chủ yếu sáng tác và hoạt độngtrên lĩnh vực văn nghệ, từng là Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên,

phụ trách Tạp chí Sông Hơng, Cửa Việt

Nh vậy, từ tiểu sử con ngời, quê hơng, gia đình của Hoàng PhủNgọc Tờng đều có nhiều điều đáng quý Đó là ngời con của Miền quêgiàu truyền thống văn hóa văn học và nhiệt tình đấu tranh cách mạng

Đó cũng là xứ sở của mộng và thơ, của sông Hơng núi Ngự - Nơi nuôidỡng tâm hồn ngời nghệ sỹ, nhà viết ký tài hoa, lãng mạn này Thờikháng chiến chống Mỹ cũng chính là một nhân tố quan trọng để bồi đắptâm hồn văn nhân Buổi giao thời đã tạo nguồn cảm hứng cần thiết chonhà văn khi viết về ngời anh hùng trong chiến trận hôm qua và chiến sỹlao động mới hôm nay

1.2.2 Quá trình đến với thể ký của Hoàng Phủ Ngọc Tờng

Trang 18

Sáng tác đầu tay của Hoàng Phủ Ngọc Tờng là một truyện ngắnviết về phong trào yêu nớc ở vùng đô thị bị tạm chiếm Chuyện một ng ời

đi qua sa mạc viết năm 1959 tuy cha thật xuất sắc song đã báo hiệu mộthớng đi của ngòi bút nhà văn Từ đây, Hoàng Phủ Ngọc T ờng đã hòangòi bút của mình vào nền văn học Cách mạng

Hoàng Phủ Ngọc Tờng có vốn sống dầy dặn về mảng đề tài đấutranh, yêu nớc ở đô thị Năm 1966, khi mới lên rừng hoạt động cách

mạng, nhà văn đã bắt tay viết tiểu thuyết Cửa Rừng Theo tài liệu do

Phạm Phú Phong cung cấp thì: “Bản thảo có đa cho anh Nguyễn Khoa

Điềm và anh em trong cơ quan đọc Nhng sau đó bị bom B52 đanh tantác, rơi vãi và vùi lấp dới hố bom Bản thảo đợc nhặt nhạnh và viết lạithành tiểu thuyết gọn và súc tích hơn là Tuổi trẻ không yên, nh ng rồisau đó chuyển sang cơ quan, gửi cho nhà in Sông H ơng cũng bị thất lạc,

đến nay cha viết lại đợc”

Không mấy thành công ở thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết,Hoàng Phủ Ngọc Tờng dồn tâm huyết sáng tạo cho thể loại thơ và ký.Trong thơ và ký, ông đã đạt đợc những thành tựu đáng ghi nhận

Các sáng tác thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tờng đợc tuyển chọn vào

hai tập: Những dấu chân qua Thành phố (1976) và Ngời hái Phù Dung

(1995) Hai tập thơ in dấu rõ rệt tâm hồn, t tởng, phong cách sáng táccủa Hoàng Phủ Ngọc Tờng ở những thời điểm lịch sử khác nhau

Tập thơ Những dấu chân qua Thành phố của Hoàng Phủ Ngọc

T-ờng là những trang thơ chan chứa nhiệt huyết Một tâm hồn trẻ đã tạmbiệt giảng đờng và phấn trắng để bớc vào cuộc kháng chiến với lời tạ từthật giản đơn mà rắn rỏi

Trang 19

Nhà văn đã gửi vào mỗi dòng thơ niềm xúc cảm của mình trên cácchặng đờng hành quân gian khó mà hừng hực khí thế, song đôi khi cũng

đầy những u t, nhung nhớ

Thơ Hoàng Phủ Ngọc Tờng còn là những bài ca, ca ngợi, tôn vinhnhững con ngời đã dâng hiến đời mình cho độc lập tự do của dân tộc, tự

do của Tổ quốc Chim và hoa trên đất em nằm, Bàn tay trên trán, Cánh

tay lại mọc, Và ngân vang hơn cả ở những trang thơ của ngời trí thức

trẻ này là khát vọng đợc cống hiến tuổi xuân của mình cho đất nớc

Tập thơ đầu tay của Hoàng Phủ Ngọc Tờng đã góp vào thơ khángchiến một tiếng thơ chân thành, đầy nhiệt huyết và để lại không ít ám

ảnh trong tâm trí ngời đọc Tuy vậy, phải đợi đến Ngời hái phù dung

ngòi bút thơ ông mới thực sự đi vào độ chín Thơ Hoàng Phủ Ngọc T ờngngày càng lắng sâu vào thế giới nội tâm với những chiêm nghiệm về conngời và cuộc sống Đặc biệt, nhà thơ thờng viết về nhiều nỗi buồn và cái

chết, về sự mong manh và ngắn ngủi của thời gian đời nguời Xin ngời

chút không, Bồng bềnh cho tới mai sau, Dù năm dù tháng - Địa chỉ buồn, vẽ tôi Nhà thơ Ngô Minh nhận thấy: “Thơ Hoàng Phủ Ngọc T-

ờng là vẻ đẹp của nỗi buồn hoài niệm, những day dứt triết học, từ sâuthẳm thời gian, sâu thẳm đất đai vọng lên trên tâm khảm ngời đọc”, vànhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho rằng: “Thơ Hoàng Phủ Ngọc T ờng thấm

đẫm triết học về cái chết thơ anh buồn một nỗi buồn đứt ruột, đấy làthơ cõi âm…” Dờng nh trong suốt cuộc đời mình, Hoàng Phủ Ngọc T-ờng bị ám ánh bởi hoa Ông viết rất nhiều về hoa và đặc biệt ông bị ám

ảnh bởi sắc điệu Phù Dung Song điều đáng trân trọng là nỗi buồn trongthơ Hoàng Phủ Ngọc Tờng mang nỗi đau và khát vọng đời thờng, đánhthức trong ngời đọc sự đồng cảm, suy t thâm trầm sâu sắc Thơ HoàngPhủ Ngọc Tờng nghiêng về chất trữ tình truyền thống Thơ ông nổi bật ở

sự trang nhã, hình ảnh huyền ảo, thơ - Nhạc - Họa hòa quyện

Trang 20

1.2.2.1 Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tờng trớc năm 1975

Trớc năm 1975, Hoàng Phủ Ngọc Tờng đang là một thầy giáo trẻ,nhiệt tình dạy học ở Huế nên ông viết cha nhiều, mới chỉ có một vài tác

phẩm nhỏ: Nh con sông từ nguồn ra biển và ký sự Ngôi sao trên đỉnh

Phu Văn Lâu là những sáng tác tiêu biểu của Hoàng Phủ Ngọc T ờng ở

thời kỳ đó Các sáng tác của ông chủ yếu lấy đề tài từ phong trào đấutranh yêu nớc của nhân dân Huế vùng đô thị bị tạm chiếm

Truyện ký Nh con sông từ nguồn ra biển là một tác phẩm đặc sắc

của Hoàng Phủ Ngọc Tờng hoàn thành năm 1971, sau này đợc nhà văn

tuyển vào tập Rất nhiều ánh lửa Thông qua câu chuyện của Giao - nhân

vật chính của tác phẩm, Hoàng Phủ Ngọc Tờng đã diễn tả tinh tế và sinh

động nỗi dằn vặt, bế tắc trong tâm hồn ngời thanh niên trí thức sống dớichế độ Mỹ - Ngụy và sự biến đổi nhận thức của họ trớc những biếnchuyển lớn lao của đất nớc, họ không chấp nhận là kẻ sống vật vờ trongchiến tranh Sau đó do có sự chuyển mình đi theo tiếng gọi của Cáchmạng, đó cũng là sự chuyển mình của lớp thanh niên trí thức Huế Sựchuyển mình của lớp thanh niên trí thức Huế đã khẳng định đ ợc nhậnthức của họ về bản chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh mà dân tộc

đang tiến hành là để giải phóng đất nớc Với họ đi theo kháng chiến làcon đờng đầy chông gai song tất yếu Tác phẩm đã để lại án tợng sâusắc cho ngời đọc ở sự diễn tả nội tâm tinh tế, nghệ thuật xây dựng hình

ảnh gợi cảm, đa nghĩa và đặc biệt là sự linh hoạt của cái “tôi” nhà văn”.Cái “Tôi” vừa miêu tả vừa kể chuyện, và kết hợp bày tỏ nhận thức, thái

độ của một nhà văn - một tri thức đã giác ngộ và tham gia Cách mạng

Sau Nh con sông từ nguồn ra biển, tiếp tục là sự ra đời của ký

sự Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971) đã đánh dấu một thành

công mới của Hoàng Phủ Ngọc Tờng ở thể ký Trong ký sự này, tác

Trang 21

giả đã phản ánh kịp thời không khí đấu tranh sôi sục ở đô thị Huế, đó

là chiến dịch Mậu Thân năm 1968, đặc biệt là sự kiện ngọn cờ giảiphóng đợc kéo lên đỉnh Phu Văn Lâu ngày 31/01/1968 Thành côngcủa tác phẩm đợc tạo nên những sự kiện lịch sử chân thực, tơi mới,những nhân vật cụ thể, sống động và ít nhất nhà văn không dấu nổiniềm hồ hởi, tự hào khi đợc hòa mình vào cuộc đấu tranh cách mạngtrên chính quê hơng mình

Có thể nói, với những sáng tác đầu tay ở thể ký, Hoàng Phủ NgọcTờng đã khẳng định đợc sở trờng sáng tạo của mình Các tác phẩm kýcủa ông trớc năm 1975 đã bớc đầu hé lộ tài năng viết ký và cái duyêncủa Hoàng Phủ Ngọc Tờng với thể loại văn học này Theo thời gian,ngòi bút của ông ngày càng sung sức và đi vào độ chín, kết tinh ở mộtloại tác phẩm có giá trị ra đời từ sau năm 1975

1.2.2.2 Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tờng sau năm 1975

Hầu nh toàn bộ ký của Hoàng Phủ Ngọc Tờng từ sau 1975 đếnnay đợc ông tuyển vào hơn chục tập ký, trong đó không ít tác phẩm đ ợctrao giải của Hội nhà văn, của Báo Văn nghệ, của Đài tiếng nói ViệtNam đã khẳng định sự trởng thành của “cây ký” Hoàng Phủ Ngọc Tờng.Nếu nh trớc năm 1975, ký Hoàng Phủ Ngọc Tờng còn ít ỏi, đề tài vàtiểu loại cha đa dạng thì sau năm 1975, nhà văn đã mở rộng đề tài sángtác, các tác phẩm thuộc tiểu loại ký phong phú hơn, tập trung nhiềumảng đề tài khác nhau Trong những bài ký viết về cuộc chiến tranhchống Mỹ cứu nớc, ông đã làm sống dậy hiện thực đời sống đất nớctrong những ngày khói lửa của cuộc chiến tranh chống Mỹ Hiện thựccuộc chiến tranh đợc tác giả tái hiện qua ký ức của chính mình, ng ờitrực tiếp tham gia chiến tranh

Trang 22

Điều đáng chú ý là những trang ký Hoàng Phủ Ngọc T ờng viết vềchiến tranh thờng là các phong trào của học sinh, sinh viên Huế nhiệt

tình, mạnh mẽ tham gia đấu tranh nh trong tác phẩm Chiếc Panh-Xô và

Khẩu súng của Trờng có nhân vật Trờng sống rất chân thật, là trí thức

trẻ, nhiệt huyết một lòng vì độc lập tự do cho dân tộc Viết về những

ngày kháng chiến gian khổ và anh dũng nh: Đời rừng, Bản di chúc cỏ

lau,… về không khí chiến đấu ở mọi miền đất nớc nh: Ai về Châu Xa,

Đứa con phù sa, Cồn Cỏ ngày thờng, rất sâu sắc Có thể nói những bài

ký viết về chiến tranh của Hoàng Phủ Ngọc Tờng đã giúp ngời đọc cóthêm phần hiểu biết về các cuộc chiến tranh ở những miền đất khácnhau của Tổ quốc, trang ký làm giàu có thêm mảng văn học chiến tranhcủa dân tộc

Khi viết về cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc vào những năm

1979 - 1980, Hoàng Phủ Ngọc Tờng đã kịp thời phản ánh cuộc đấutranh của nhân dân các tỉnh biên giới phía Bắc phải đơng đầu với quân

xâm lợc Trung Quốc ở hai bút ký Ai về Châu xa, Rừng hồi đã đợc

nhiều nhà văn đánh giá cao Nhà văn Nguyễn Tuân khẳng định: “Nhữngtrang ký sắc sảo một cách thiệt là độc đáo Ng ời yêu nớc Hoàng PhủNgọc Tờng đã lấy luôn gốc hồi sở tại ải Bắc làm vũ khí mà bồi luôn choBành Bá Tàu một đòn chí mạng”

Viết về các vấn đề xã hội, các sáng tác thuộc mảng này củaHoàng Phủ Ngọc Tờng khá đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau,thờng hớng vào những vấn đề bức xúc đặt ra trong đời sống xã hội nhcông việc chống tham nhũng, công việc đền ơn đáp nghĩa,

Về quê hơng đất nớc, Hoàng Phủ Ngọc Tờng viết về thiên nhiên,

về văn hóa lịch sử ở nhiều vùng quê hơng khác nhau Nh Ai về Châu xa,

Rợu làng Vân, Miền gái đẹp, Đứa con phù sa,

Trang 23

Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: ‘Những chuyến đi dọc chiềudài đất nớc của tác giả quả là cuộc hành hơng không mệt mỏi của tráitim đầy say mê, luôn ngỡng vọng về Tổ quốc, đất nớc nhân dân, lịchsử ”

Đặc biệt khi viết về xứ Huế, dờng nh Huế trải dài suốt các tácphẩm ký của Hoàng Phủ Ngọc Tờng Có con ngời Huế, văn hóa Huế,thiên nhiên Huế, lịch Sử Huế, cuộc sống môi tr ờng Huế, tất cả tạo mộtchiều sâu, sự sáng tác công phu, tỉ mỉ mà tác giả dành nhiều tâm huyếtnhất Chính những trang viết về Huế đã tạo nên nét đặc sắc riêng của kýHoàng Phủ Ngọc Tờng Đó là bản sắc Huế đậm đà “Chất Huế huyến

hoặc, quyến rũ”, nổi bật là các bài: Ai đã đặt tên cho dòng sông, Hoa

trái quanh tôi, Về chiếc Panh-xô và khẩu súng của Trờng

1.3 Đóng góp của Hoàng Phủ Ngọc Tờng cho ký Việt Nam hiện đại

Từ sau Cách mạng tháng Tám, thể loại ký phát triển gắn vớinhững chuyển động lớn lao của xã hội Nhiều tác phẩm có giá trị ra đời,nhiều tác giả tiêu biểu đợc ghi nhận Trong số hàng loạt tên tuổi đã nêu

nh Trần Đăng, Nguyễn Huy Tởng, Nguyễn Tuân, chúng ta không thểkhông nhắc tới một con ngời đã từng gắn trọn cuộc đời mình cho thể ký,

đó là Hoàng Phủ Ngọc Tờng

Cuốn Lí luận văn học ở phần các thể ký văn học, mục sự phân

loại của các thể ký văn học đã chia ký thành ba loại: Loại ký tự sự, loại

ký trữ tình và chính luận Trong đó ký Hoàng Phủ Ngọc T ờng đợc xếpvào loại thứ hai: Ký trữ tình Đó là loại “Nghiêng về phần ghi nhậnnhững cảm xúc và suy nghĩ chủ quan của nhà văn trớc những sự kiệncủa đời sống khách quan hoặc xen kẽ kết hợp giữa việc biểu hiện, bìnhluận, suy tởng với miêu tả, kể chuyện Các loại ký trữ tình bao gồmnhiều thể: Nhật ký, bút ký, tùy bút” Và “Hoàng Phủ Ngọc T ờng cũng

Trang 24

tạo đợc cho tùy bút của mình một phong cách với nhiều trang viết giàuliên tởng và kiến thức” Đó là những nhận xét về ký Hoàng Phủ Ngọc T -ờng, còn đặc điểm ký của ông ra sao, viết về nội dung gì thì ch a đợc bàn

đến

Tiếp đó cuốn Tiểu luận nghiên cứu văn học của nhiều tác giả Một

thời đại mới trong văn học, Nxb Văn học, (1986) cũng đề cập đến ký

Hoàng Phủ Ngọc Tờng, nhng lại đợc nhìn từ góc độ là ngời kế thừanhững đặc điểm ký của Nguyễn Tuân Tùy bút Nguyễn Tuân, sự việckhông hề bị chủ thể nhà văn lấn át hay che mờ ít nhiều đi nh trong bút

ký của Chế Lan Viên, Xuân Diệu (trong đó ngự trị một cái “tôi” bìnhluận luôn hớng vào việc vạch ra sự kiện, đào sâu các tầng lớp t liệu của

sự kiện Phơng hớng này của thể ký đang đợc Hoàng Phủ Ngọc Tờng

khai thác với ít nhiều hiệu qủa (từ các tập Rất nhiều ánh lửa, Ai đặt tên

cho dòng sông)

Trong khi các cuốn sách đợc xuất bản mặc dù đã nhắc đến tác giảHoàng Phủ Ngọc Tờng nhng còn khá dè dặt, khiêm nhờng thì sự xuấthiện của hàng loạt bài viết của bạn đọc đã đem một tiếng nói mới mẻhơn, một cái nhìn bao quát hơn về vai trò và vị trí của Hoàng Phủ NgọcTờng trong văn học Việt Nam hiện đại

Đầu tiên, đánh giá về sự thành công của tác giả phải kể đến việclàm rất kịp thời và ý nghĩa của công ty Văn hóa Phơng Nam cùng vớiNxb Trẻ Năm 2002, tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tờng trọn bộ 4 cuốn đã

đợc ấn hành với cách trình bày trang nhã, in đẹp trên giấy láng bìa cứngrất trang trọng Sau cuộc trình làng này, bạn đọc gần nh biết đến ôngnhiều hơn Đặc biệt một số độc giả ở nớc ngoài đã rất vui mừng vì cótrong tay 4 tập (một tập nhàn đàm, hai tập bút ký, một tập thơ) mà đã từ

Trang 25

rất lâu, họ cha có điều kiện su tầm Họ thởng thức, suy ngẫm và đánhgiá một cách tích cực về các tác phẩm này

Đặng Tiến đã cảm nhận đợc cái đặc sắc của tuyển tập thể hiện ởnội dung và đề tài “Những trang sách sắc sảo nhất của Hoàng Phủ NgọcTờng là ký sự hay hồi ký về chiến tranh, dù phần lớn viết vào thời hòabình, sau 1975, tại thành phố Huế” “Giá trị cơ bản của tuyển tập, dĩnhiên là ở tác phẩm Hoàng Phủ Ngọc Tờng, một ngòi bút lãng mạn vàtài hoa, say đắm với quê hơng, tha thiết với đất nớc, tận tụy với văn ch-

ơng, chung thủy với bạn bè ” Tình cảm dành cho đất n ớc, quê hơng,

bè bạn, thiên nhiên và lòng nhân đạo vợt qua khỏi khuôn sáo văn chơng,trở thành sinh lực lay chuyển tâm t ngời đọc Bạn đọc của văn xuôiHoàng Phủ Ngọc Tờng không phải là ít, nhng để có đợc những lời nhậnxét nh thế, việc theo dõi 4 tập của tác phẩm có lẽ chẳng phải ai cũnglàm đợc

Nguyễn Tuân, một cây bút xuất sắc về thể ký cũng đã từng nhậnxét: “Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tờng có rất nhiều ánh lửa”, soi sáng tâmhồn của ngời con đối với quê hơng, ánh lửa của nhiệt tình Cách mạng,

ánh lửa của những cảm xúc dào dạt trải mình trên trang giấy,

Trong bài Đọc Ký Hoàng Phủ Ngọc Tờng, nhà văn Nguyên Ngọc

đánh: “Đối với anh Tờng, tôi nghĩ chẳng việc gì phải giới thiệu, tên tuổianh, ngời đọc cả nớc đều rõ, độc giả nớc ngoài cũng nhiều ngời biết vàhâm mộ Anh là một trong số mấy nhà văn viết ký hay nhất của văn học

ta hiện nay Anh cũng là ngời đi nhiều và viết khỏe Trong một cuốnsách gần đây của anh, viết và in ngay giữa những ngày anh đang vật lộnvới căn bệnh nặng Chứng tỏ anh một đức tính dũng cảm và nghị lực phithờng của một ngời lao động nghệ thuật, anh tự coi mình là “Ngời hamchơi” Quả thật anh là một ngời ham sống đến mê mải, sống và đi, đi để

Trang 26

đợc sống, với đất nớc, với nhân dân, với con ngời, đi say mê và say mêviết về họ ”.

Và dờng nh với Nguyên Ngọc cha có bài ký nào viết về hiện thựcchiến tranh lại “Chân thực, tỉnh táo” nh vậy Tôi nghĩ tôi phải cảm ơnHoàng Phủ Ngọc Tờng vì bức tranh hết sức hiện thực về chiến tranh”.Phạm Xuân Nguyên thì tự hỏi cái gì đã khiến cho Hoàng Phủ Ngọc T-ờng “Cùng viết ký nh nhiều ngời khác mà anh lại viết thành công, trởthành “cây” Ký xuất sắc của văn học ta?”

Rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thành công của nhà văn Điều

đó phần nào cũng đã lý giải đợc sự đóng góp quan trọng của ký HoàngPhủ Ngọc Tờng vào sự phát triển chung của ký Việt Nam hiện đại nóiriêng và Văn học Việt Nam hiện đại nói chung.Điều đó có thể nói nh

nhận xét của Hoàng Cát khi đọc Ngọn núi ảo ảnh của Hoàng Phủ Ngọc

Tờng “Nếu không phải là một nhà văn có hạng về mọi mặt, kể từ trithức, tài năng và bản lĩnh” [1] chắc rằng sẽ không thể cầm bút viết nổinhững trang văn đặc sắc nh thế Những trang văn ấy bắt nguồn từ sựrung cảm của trái tim nhà văn khiến nó có một ma lực, có sức thôi miênngời đọc

Tóm lại ký Hoàng Phủ ngọc Tờng phong phú về đề tài, từ thiênnhiên con ngời xứ Huế, cho đến thiên nhiên và con ngời ở những miền

đất khác, không chỉ vậy ký của ông còn phản ánh, ghi lại những cảmnhận, sự hiểu biết về mọi vấn đề của cuộc sống xã hội mà tác giả đãtừng nghe, từng chứng kiến Qua những trang ký của mình, Hoàng PhủNgọc Tờng luôn thể hiện một cái tôi uyên bác, tài hoa thiết tha yêu mếnvới thiên nhiên và con ngời Đặc biệt là tình cảm gắn bó thiết tha vớiquê hơng đất nớc bằng một trái tim nồng cháy, say mê

Trang 27

Không chỉ có vậy, bằng vốn sống, sự hiểu biết sâu sắc của mình ởnhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, đã đợc ông vận dụng, đa vào khisáng tác Trong những tác phẩm ký của mình Hoàng Phủ Ngọc T ờngluôn đem đến cho bạn đọc một lợng tri thức phong phú, từ hiện thực cho

đến cội nguồn văn hóa, đọng lại trong lòng bạn đọc những rung cảmthẩm mĩ xâu xa

Chương 2 THIấN NHIấN XỨ HUẾ

Trang 28

TRONG KÝ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

2.1 Cảm quan thiên nhiên trong văn học

2.1.1 Cảm quan thiên nhiên trong văn học truyền thống

Trong cảm quan của con người, từ xưa đến nay thiên nhiênluôn được hiểu là một phần của cuộc sống Triết học phương Đôngthông qua cái nhìn "vạn vật nhất thể” đã xác định con người là một

bộ phận của thế giới Trong vũ trụ bao la vô cùng tận, con người làgạch nối giữa trời và đất, còn thiên nhiên là ngôi nhà vũ trụ, nơi conngười có thể sống Trong ý thức của người phương Đông, sự gắn bógiữa con người và thiên nhiên là một hiện tượng bình thường nhưnghết sức sâu sắc Đó là sự gắn bó tất yếu xem thiên nhiên là bầu bạncủa con người

Bằng tư duy truyền thống của nền văn minh văn hóa nông nghiệplúa nước, người Việt Nam từ xa xưa đã xây dựng cho mình một mốigiao kết hòa thuận với thiên nhiên dựng trên cơ sở với một cảm quan vũtrụ hết sức đặc biệt Người Việt “tự cảm thấy mình qua đời sống củacây lá, hoa trái" Cảm quan mùa màng hoa trái đã trở thành nét văn hóatruyền thống, tốt đẹp trong tâm thức người Việt, điều đó được biểu hiệnmột cách cụ thể và sinh động trong văn học nghệ thuật

Ta nhận thấy trong văn học trung đại Việt Nam, thiên nhiên hầunhư chưa tồn tại bằng tự thân, mà mới chỉ hiển diện qua chiêm nghiệmcủa con người và mang nặng tính chất công thức ước lệ Thiên nhiênđược nhìn từ tâm trạng, mang đậm màu sắc trực cảm Thiên nhiên đượcđánh giá như một chuẩn mực, được dùng như một tấm gương để từ đócon người soi ngắm tâm hồn bản thân mình và để chiêm nghiệm vũ trụ

Trang 29

Những tác phẩm tiêu biểu viết về thiên nhiên có tính chất cổ điển của

văn học trung đại như những sáng tác của Nguyễn Trãi: Bảo kính cảnh

giới (số 43); Trại đầu xuân độ, Bạch Đằng giang phú của Trương Hán

Siêu, Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Qua Đèo Ngang, Thăng Long

thành hoài cổ của bà Huyện Thanh Quan, chùm ba bài thơ Thu của

Nguyễn Khuyến, đều là cách mượn thiên nhiên, thông qua thiên nhiên

để bày tỏ những tâm sự những điều thầm kín trong tâm hồn Thiênnhiên trong chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến đẹp như một bức tranh,tiêu biểu cho làng cảnh Việt Nam Nhưng đó không phải là một bức

tranh thiên nhiên đơn thuần mà chính là một "Tâm cảnh" Sắc xanh của

hồ thu, trời thu, âm thanh của tiếng ngỗng, cái quanh co của ngõ trúc,hay tiếng động của cá đớp chân bèo, đó chính là tâm hồn của conngười đang nặng trĩu thương yêu Con người đã gửi vào thiên nhiên đẹpnhưng buồn ấy một nỗi đau buồn, sự hoài tưởng quá khứ và hướng vọngcội nguồn

Trong tâm thức văn hóa phương Đông, thiên nhiên đã trở thànhmột bộ phận hữu cơ gắn bó mật thiết với con người Nó thể hiện tần

số, rung động của tâm hồn con người Thiên nhiên là một chuẩn thẩm

mỹ trong đời sống văn học của người Việt "Con người tự cảm thấy

mình qua đời sống của thiên nhiên" Ý niệm về mối quan hệ cộng sinh

giữa con người với thế giới thiên nhiên đã bám rễ rất sâu trong ý thức

hệ của các dân tộc phương Đông Con người trong văn học truyềnthống phương Đông nói chung, ở Việt Nam nói riêng đã hòa tan vàothiên nhiên vũ trụ Thiên nhiên là sự thể hiện quan niệm thống nhấtgiữa con người và thế giới, là chuẩn mực, là sự vươn tới của conngười

2.1.2 Cảm quan thiên nhiên trong văn học hiện đại

Trang 30

Khác với triết học và văn hóa phương Đông, triết học và văn hóaphương Tây lại xác định coi con người là trung tâm của vũ trụ, thước đocủa vạn vật Trong khi người phương Đông không dành cho thiên nhiên

sự phân tích tỷ mỉ của một con mắt ngoài cuộc, hòng chăm chú khámphá một khách thể mới lạ đối với mình, thì trái lại người phương Tây lạitập trung khám phá chinh phục thiên nhiên đồng thời với việc hưởngthụ nó với những cảm xúc, mô tả thật sống động, chân thực và cụ thể.Đây là cơ sở để thiên nhiên trở thành một ngôn ngữ nghệ thuật, gópphần đắc lực vào việc bộc lộ đối tượng chính của nghệ thuật là thế giớinội tâm con người

Bằng việc kế thừa cảm quan thiên nhiên trong văn học truyềnthống, đồng thời kết hợp với đầu óc duy lý cụ thể của văn hóa đô thịphương Tây, con người Việt Nam hiện đại đã thể hiện, cho thấy một cáinhìn mới về thiên nhiên

Phong trào Thơ mới thời kỳ 1930 - 1945 xem thiên nhiên là một khách

thể, một đối tượng mang vẻ đẹp tự thân, thiên nhiên không phụ thuộc vào

tâm trạng con người Trong Thơ mới thiên nhiên là một bức tranh họa, được

hình thành trong sự say sưa nhận xét những bí ẩn xa xôi trong thế giới xungquanh của tâm hồn nghệ sỹ Giữa con người với thiên nhiên có một sự thốngnhất mới mẻ sau những khác biệt, đối lập cần thiết nhằm giúp con ngườinhìn nhận sâu hơn vào bản thể của mình Vì lẽ đó thiên nhiên chính là cánhcửa mở tiếp vào thế giới huyền bí, thiêng liêng và chỉ có tinh thần mới chạmđến Con người khi đối diện với thiên nhiên để khẳng định cái tôi của mình,

để thổi vào thiên nhiên cái hồn cá thể Đọc các bài thơ về thiên nhiên như:

Đây mùa thu tới của Xuân Diệu, Tràng Giang của Huy Cận, Mùa chín của

Hàn Mặc Tử hay những bài thơ về thiên nhiên, đất nước của Anh Thơ, Bằng

Bá Lân, Đoàn Văn Cừ có thể thấy rõ sự hòa diệu giữa con người với thế

Trang 31

giới tự nhiên đã tiến lên một nấc thang mới Điều này cũng được thể hiện rất

rõ trong những sáng tác của nhóm Tự lực Văn Đoàn

Sau năm 1945, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước, thiênnhiên trong văn học lại mang thêm một dáng hình khác Thiên nhiênđẹp đẽ gắn với tinh thần yêu nước với sức mạnh "Bạt núi ngăn sông"thể hiện khả năng chinh phục to lớn của con người với những tác

phẩm và tác giả hết sức tiêu biểu như: Tùy bút sông Đà của Nguyên Tuân, Phù sa của Đỗ Chu Đó là hình ảnh của thiên nhiên kỳ vĩ, hùng

tráng, mang đậm màu sắc sử thi huyền thoại gắn liền với cuộc sống laođộng dựng xây chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc của con người mới trong

thời đại Hồ Chí Minh (Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Rừng U

Minh của Trần Hiếu Minh, ) Tư thế con người làm chủ thiên nhiên

được tập trung khắc họa tô đậm khiến cho mối quan hệ hòa thuận giữacon người với thiên nhiên ít có cơ hội được đắp đối làm mới Độc thoại

là phương thức chủ yếu để các nhà văn thời kỳ này thể hiện quan niệm,thái độ sống của mình đối với thiên nhiên, cuộc đời

Sau đại thắng mùa xuân 1975, thiên nhiên trong tác phẩm văn học

đã được các nhà văn miêu tả và nhìn nhận trong sự bình đẳng, trongmối giao hòa vĩnh cửu với con người Các tác phẩm của Nguyễn Minh

Châu thời kỳ này như Bến quê, Mảnh đất tình yêu, Mơn giông, Sống

mãi với cây xanh đã thể hiện những đối thoại giữa thiên nhiên với con

người Tuy nhiên sự đối thoại đó chưa trở thành một cảm quan chi phốisâu đậm các sáng tác của nhà văn

2.1.3 Cảm quan thiên nhiên trong ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Trong các nhà văn hiện đại Việt Nam, Hoàng Phủ Ngọc Tường làmột trong những người bằng các sáng tác của mình, đặc biệt là ở thể ký

đã đem đến một cách cảm nhận mới mẻ và độc đáo về thiên nhiên mà

Trang 32

ông gọi là Đối thoại với cây cỏ (Hoa trái quanh Tôi) Đấy thực sự là

một cảm quan thiên nhiên được tạo ra từ sự kết hợp tuyệt vời giữa hainguồn văn hóa: Văn hóa phương Đông truyền thống và phương Tâyhiện đại Đó cũng là kết quả của sự hòa quyện giữa nhận thức mới vềthiên nhiên cùng với tư duy nghệ thuật hiện đại kết hợp với khối kiếnthức văn hóa văn học, lịch sử triết học uyên thâm của nhà văn HoàngPhủ Ngọc Tường

Trong thực tế, mối quan hệ con người - cây cỏ không phải là sự

mới mẻ, nó đã tồn tại từ lâu đời Quan hệ ấy được xuất phát từ mộtnguyên lý sâu xa của văn hóa phương Đông, coi con người chỉ là kẻ ngụ

cư trong căn nhà lớn của vũ trụ, để rồi trong suốt cuộc hành trình, tâmhồn của con người luôn khao khát tìm kiếm về chốn khởi nguyên đíchthực nơi mình được sinh ra Nhưng từ quan hệ đó mà sinh ra nhữngcuộc “Đối thoại với cây cỏ” thì chỉ có ở Hoàng Phủ Ngọc Tường Trongvăn học hiện đại Việt Nam cũng không hẳn thiếu những cuộc tròchuyện "xuyên giới hạn" như thế, nhưng với ký, tất cả chỉ mới dừng lại

ở phạm vi độc thoại, người tỏ bày cùng cây cỏ Với Hoàng Phủ NgọcTường, “đối thoại với cây cỏ” đã mang trong nó một tính chất mới Ở

đó sự bình đẳng, tính chất dân chủ được thể hiện rõ nét, trong ký củaông yếu tố độc thoại được thay bằng yếu tố đối thoại hai chiều Thiênnhiên không chỉ được quan sát, chiêm ngưỡng, khám phá mà tự nó cònbộc lộ vẻ đẹp về hình dáng, nội tâm của mình Cuộc đối thoại với cây

cỏ khiến cho Hoàng Phủ Ngọc Tường sống rất gần, rất sâu cái "khoảnhkhắc hóa thân nhẹ nhàng của hoa Mai để luân hồi vào mùa xuân khác".Ông lắng nghe "tiếng nói im lặng" của cây tùng về những kỷ niệm xaxôi mà nó đã trải qua, về những cơn bão đã được nén lại trong mỗi thớ

gỗ của nó, về những "Thoáng hiện của vũ trụ bí ẩn và biết bao điều suy

nghĩ về cuộc đời" (Đời rừng) hòa nhịp "Trái tim vui trở lại" của cây sầu

Trang 33

đông đang hối hả nẩy từng chùm hoa tím và bật cười trước linh hồn trẻtrung của cây bàng đại lão đang cong bàn tay gầy guộc "ngửa xin mộtchút gì của thời này" Chính thế giới đất trời, cỏ hoa trong cuộc chuyệntrò vô tận với con người đã đem đến cho tâm hồn Hoàng Phủ NgọcTường những rung động thẩm mỹ, giúp ông tri nhận được nhiều điều.

Từ những cuộc đối thoại, thiên nhiên từng bước được khám phá nhữngsắc màu của đời sống, huyền thoại, thiêng liêng và đầy những cam gothử thách Thiên nhiên trong Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trởthành yếu tố thống nhất, biện chứng với khái niệm tổ quốc, tiêu biểu

như các tác phẩm Rừng nước mặn, Ai đã đặt tên cho dòng sông, Phù sa

châu thổ,

Cái nhìn về thiên nhiên trong tư duy văn hóa phương Đông đượckết hợp hòa quyện với ý niệm bình đẳng, dân chủ bác ái của văn họcdân chủ phương Tây tạo thành một sự hòa điệu tuyệt vời giữa thiênnhiên và con người trong các sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Mặt khác, thông qua đối thoại, thiên nhiên đã trở thành một đốitượng thẩm mỹ, ngọn nguồn khát vọng sáng tạo để Hoàng Phủ NgọcTường trò chuyện, giãi bày những suy nghĩ, thể hiện những chiêmnghiệm của bản thân đối với cuộc đời Thiên nhiên trong ký của HoàngPhủ Ngọc Tường là những "xáo động khôn cùng của ngổn ngang trầnthế thâm hậu như những châm ngôn mà vẫn lấp lánh một ánh sáng lạ".Chúng đã giúp Hoàng Phủ Ngọc Tường nhận thức được những vấn đề

khó lý giải được trực tiếp của lịch sử, cuộc sống (Ngọn núi ảo ảnh, Ai

về châu xưa ).

Có thể nói, thiên nhiên trong ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường đãtrở thành một bộ phận hữu cơ gắn bó mật thiết với con người, nó thểhiện tần số rung động của tâm hồn con người trong sự chan hòa linh

Trang 34

diệu giữa con người - thiên nhiên - vũ trụ (Hoa trái quanh Tôi, Ai đã

đặt tên cho dòng sông).

2.2 Vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế qua một tâm hồn đa cảm, bút pháp tài hoa

Trong những trang văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường, thiên nhiênluôn là một mảng đầy ý nghĩa, vừa trầm lắng, vừa tỏa sáng bằng sự hòatan của những sắc màu văn hóa Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về thiênnhiên trong khát vọng được khám phá, hòa hợp để thanh lọc tinh thần

và được cảm nhận cuộc sống đang diễn ra xung quanh

Xuyên suốt những trang ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường saunhững bước chân phiêu lãng, nét đọng lại ở người đọc vẫn là hình ảnhcủa một trái tim tha thiết, say đắm trước thiên nhiên, hòa nhập cùngthiên nhiên Dẫu bước chân phiêu lãng có đưa Hoàng Phủ Ngọc Tường

đi khắp mọi miền đất nước thì điểm dừng chân lâu nhất, sự gắn bókhăng khít bền chặt nhất của ông vẫn là thiên nhiên xứ Huế

Thiên nhiên Huế ăn sâu vào tâm khảm của Hoàng Phủ Ngọc

Tường từ niềm ký ức của Rừng tuổi dại, của Thời thơ ấu xanh biếc, đôi

khi trở đi trở lại trong những tác phẩm của ông với một niềm nhớthương, tiếc nuối da diết đến cồn cào: "Tôi có một thiên đường đã mất,phía bên ngoài cửa sổ, bên kia những hàng cây và những mái nhà "đấy là một không gian thơm mùi cỏ, hoa dại, đất sau cơn mưa và nhiềukhi tôi ngửi thấy mùi của những ngọn gió lạ Trên những cánh đồng,những đồi cỏ may hoặc dọc theo những dòng sông nhỏ, tuổi thơ của

“tôi” đã giông dài với những sinh vật bé bỏng tội nghiệp mà sau này,

Tôi nghe lại một tiếng gọi thật trìu mến trong thơ Bùi Giáng: Trần gian

ơi, Cánh bướm - Cánh chuồn chuồn [61, 809] Trong không gian thơm

mùi cỏ ấy, cậu bé Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có những mảng màu đẹp

Trang 35

đẽ với những chuyến viễn du trong những đêm trăng đi bắt dế, hay langthang trong vườn để thu lượm xác ve, Thế giới tuổi thơ ấy đã trởthành một viễn cảnh xinh đẹp trong tâm trí tác giả Từ niềm ký ức xaxăm của tuổi thơ ấy Hoàng Phủ Ngọc Tường đã phát hiện xứ Huế yêuthương là một miền cỏ thơm trong sáng lung lay trong tâm khảm:

"Nhiều lần thức giấc trong mùi hương rạo rực của ban đêm Tôi lại pháthiện ra rằng Huế là một thành phố được dành cho cỏ" [65, 9] Người tathường đem những loài hoa kiêu sa, rực rỡ như một biểu tượng trongmột quốc gia, dân tộc, vùng đất ví như hoa Hồng, hoa Tuy líp, hoaMimôsa, chứ ít ai lại lấy hương cỏ như một đặc trưng của thành phố.Vậy mà, với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Huế ngập tràn trong sắc cỏ,hương cỏ Mùa xuân, những ngọn đồi phía Tây Nam thành phố bừnglên trong hương cỏ hoa Mỗi bông hoa cỏ lại ngậm trong lòng một hạtsương mai khiến vào buổi sáng sớm cỏ ở ven sông Hương lấp lánh nhưnhững hạt ngọc Vào mùa hạ, những khu vườn Huế khí đất xông lên cỏmọc xanh với một sắc xanh lạ thường Tới mùa thu, thành phố cỏ thơm

ấy lại là nơi hội ngộ của những văn nhân “Miền cỏ thơm” ấy chính làbiểu tượng tinh thần, là nơi giao cảm giữa thiên đường tuổi thơ và thếgiới nội tại của tác giả: "Ôi! Tôi muốn làm liệt tử cưỡi gió mà đi khắpnơi trên thành phố kinh xưa của Tôi, thành phố nằm phơi mình giữa nonxanh nước biếc, tỏa rộng linh hồn vô ưu thênh thênh trong hương cỏ"[65, 207]

2.2.1 Vẻ đẹp sông Hương qua cảm quan văn hóa - địa lí – lịch sử

2.2.1.1 Vẻ đẹp sông Hương qua cảm quan văn hóa

Với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Huế trong những trang văn của ôngmang đậm âm hưởng huyền hoặc của những thành quánh rêu phong,những khu vườn trầm mặc, cổ kính, những rừng thông u tịch, nét trữ

Trang 36

tình của núi Ngự, sông Hương Trong đời sống tinh thần của người dânHuế, sông Hương, núi Ngự mang vẻ đẹp đối xứng hài hòa Hoàng PhủNgọc Tường đã tìm thấy trong vẻ đẹp sơn thủy hữu tình này một sự hàihòa của "văn hóa sông" và "văn hóa núi"

Nói đến xứ Huế, ta không thể quên phần hồn cốt làm nên vẻ đẹpthiên nhiên nơi đây, đó chính là dòng Hương Giang thơ mộng SôngHương từ lâu nay đã là nguồn cảm xúc vô tận cho thi ca, nhạc họa Từ

thời Nguyễn Du, đó là dòng sông Long lanh đáy nước in trời, với những

nội cỏ thơm, nắng vàng khói bếp, bên cạnh nỗi u hoài của dương liễutrong mùa thu quán xa sau Đến cái nhìn tinh tế của Tản Đà thì dòngsông có lúc xanh biếc, lúc lại chuyển sang màu trắng tinh khiết để thanhlọc bao tâm hồn Nhưng qua ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường, tangỡ ngàng bởi những khám phá, phát hiện mới mẻ của tác giả, từ một

câu hỏi bâng quơ Ai đã đặt tên cho dòng sông, nhà văn lý giải "Tôi

thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp củaquê hương con người ở hai bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống lòngsông, để làn nước thơm tho mãi mãi" [49, 27]

Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khám phá ra vẻ đẹp của sông Hương

là một sự liên kết kỳ diệu, một sự gắn bó cộng sinh giữa dòng sông với

xứ Huế mộng và thơ Sông Hương với xứ Huế giống như: "Hình tượng

một cặp tình nhân lý tưởng của Truyện Kiều, tìm kiếm và đuổi bắt, hào

hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc, và cả hai cùng gắn bó với nhau trongmột tình yêu muôn thủa" [49, 8] Bằng lối so sánh độc đáo, đầy chất trữtình đó, sông Hương hiện lên với một vẻ đẹp tình tứ, thơ mộng, vừa cổkính mang đậm màu sắc lịch sử hồn thiêng dân tộc, lại vừa trẻ trungtràn đầy sự viên mãn

Trang 37

Viết về sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn thể hiện mộttình yêu thiết tha đầy ngưỡng mộ, nhà văn đã tự hào khẳng định rằng:

"Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà Tôi thường nghe nói đến,hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất" [49, 8].Ông đã tìm thấy ở dòng sông một vẻ đẹp bình dị nhưng không tầmthường, trầm mặc nhưng không ủy mị, dịu dàng nhưng vẫn tiềm ẩn sứcmạnh của đất đai, của con người xứ Huế

Hoàng Phủ Ngọc Tường tiếp tục quay về cội nguồn để trầm tưmặc tưởng gửi tâm hồn mình dõi theo bước chuyển của dòng sông Aicũng cứ ngỡ dòng Hương Giang hiền hòa chảy giữa lòng kinh thànhHuế, nhưng không phải thế, con sông đã vượt qua cuộc hành trình vàchuyển dòng liên tục "trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã làbản trường ca của rừng già rầm rồ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệtqua những ghềnh thác, quật những cơn lốc, vào những đáy vực bí ẩn và

có lúc nó trở nên dịu dàng và suy đắm" [49, 8] Một sông Hương có vẻđẹp tràn đầy sức sống, vẻ đẹp ấy có lúc "phóng khoáng", "man dại" và

"mãnh liệt" mang dư âm của rừng già Trường Sơn Có lúc là vẻ đẹp cổkính huyền ảo, trầm mặc trải qua những đồi thông, những lăng tẩm Cókhi là vẻ đẹp một thiếu nữ mơ màng nên thơ Nhà văn đã hòa nhập tâmhồn mình để hành trình cùng sông Hương Ông nhận ra tất cả vẻ đẹpcủa dòng sông khi một người con gái vừa dịu dàng và trí tuệ, trở thànhngười mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở Trong thế giới nghệ thuậtcủa Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương chính là hình tượng kết tinhcủa nhạc, của thơ, của họa Trong tâm thức của những người yêu Huế,sông Hương luôn giữ một vai trò đặc biệt Nếu như có một biến độngnào đó chợt xẩy ra, thành phố Huế vẫn y nguyên nhưng sông Hươngkhông còn nữa thì xứ Huế - sông Hương có được tìm đến nữa không.Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm một cuộc hành trình về ngọn nguồn của

Trang 38

dòng sông để khám phá vẻ đẹp của nó: "Trước khi là sông Hương củaHuế, nó đã là một dòng sông của dân tộc Cà Tù, mang cái tên gốc là Pô-li-nê-điêng là sông A Pàng" [61, 665] A Pàng, nghĩa là "dòng sông đờingười" Sông Hương có những đặc điểm rất riêng; nước sông Hương có

độ phẳng lặng, êm đềm như mặt nước hồ đầy quyến rũ Màn nước sôngHương hết sức nhạy cảm với ánh sáng Những ai đã từng đặt chân đến

xứ Huế, nếu chú ý quan sát sẽ nhận ra màu nước sông Hương thay đổinhiều lần trong một ngày và đôi khi không giống với sắc trời "sớmxanh, trưa vàng, chiều tím" Hoàng Phủ Ngọc Tường đã cảm nhận quansát và ví sự thay đổi kỳ diệu này như màu của hoa Phù Dung, như "Màu

áo của người bạn gái yêu mến của mình" Về cơ bản nước sông Hươngvẫn có màu xanh, nhưng có lẽ tình tứ nhất, lãng mạn nhất là vào độ cuối

hè nước sông Hương chuyển sang màu tím Cũng giống như con sông

Đà của Nguyễn Tuân, sông Hương cũng mang màu sắc của tâm trạngvừa duyên dáng, đằm thắm, dịu ngọt giống như một nàng thiếu nữ đầysắc xuân Dường như thi sĩ, văn nhân nào cũng dành nhiều ưu ái hơn cảcho mảnh đất mà mình gắn bó yêu thương, giàu truyền thống văn hóavăn học Với Hoàng Phủ Ngọc Tường, màu tím của sông Hương mangdấu hiệu của một nội tâm trong sáng, giàu có; nhưng gìn giữ để khôngbộc lộ nhiều ra bên ngoài Vì thế, với những người phụ nữ Huế màu tím

ấy vừa là màu áo lại vừa là màu của niềm tin về đức hạnh

Hoàng Phủ Ngọc Tường bị hút vào một gam màu đặc trưng, vừa

lạ lùng vừa thân thuộc của dòng sông xứ Huế, đó là sắc tím của nhữngchiều sông Hương: "Cuối hè, Huế thường có những buổi chiều tím, tímcần, tím áo, cả ly rượu đang uống trên môi cũng chuyển thành màutím" Cả "nhân loại tím" dồn lại trong một câu văn Sắc tím trong cảmquan của Hoàng Phủ Ngọc Tường như loang ra, như bao trùm, phủ kín

cả không gian Huế Và sông Hương trở thành dòng sông "tím sẫm

Trang 39

hoang đường như trong tranh siêu thực" Sắc tím đã "ám ảnh" HoàngPhủ Ngọc Tường khiến ông phải đi tìm nguồn gốc thiên nhiên của sắcmàu ấy: "Đủ độ hồng nhưng màu vẫn ửng sáng, nó không gợi nỗi buồnnhư kiểu hoa Phăng - xê mà niềm vui nhẹ của hoa cỏ mùa xuân Nómang dấu hiệu của một nội tâm trong sáng giàu có những vẫn gìn giữ

để không bộc lộ ra bên ngoài" [61, 675]

Cảm nhận tinh tế về sắc màu, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã lý giảiđược sắc tím thường gặp trên màu áo của người phụ nữ Huế Bởi lẽ, với

họ, màu tím là sự biểu trưng cho lòng thủy chung đức hạnh Dường nhưsắc tím đã trở thành nét hồn riêng của sông nước, của con người xứHuế Cùng với sắc xanh, sắc tím của dòng Hương Giang còn là hình ảnhsương mù cũng là vẻ đẹp thơ mộng làm cho sông Hương không chỉ lãngmạn mà còn rất huyền ảo Đó là một nét phong vân riêng của sôngHương, xuất hiện trong khoảng thời gian từ cuối đông đến đầu hạ, vàosớm tinh mơ, cuối chiều và những đêm trăng lạnh Nó đem đến chothành phố một nét đẹp hư ảo, nó khiến cho sông Hương mịt mù trôitrong những cơn mê dài và tất cả đọng lại trong ấn tượng của ngườinghệ sĩ là những đường nét của một bức tranh lụa cổ: sương mù trởthành mảng nền nhạt nhòa, hoàn hảo để nổi bật lên những nút chấmphá, như để hòa cùng khung cảnh thiên nhiên huyền diệu, những thiếu

nữ Huế khi đi ra đường thường điểm tô cho mình bằng chiếc áo dài màutrắng và họ luôn giữ màu áo ấy như một tình yêu trinh bạch

Có thể thấy, sông Hương hiện lên trong ký của Hoàng PhủNgọc Tường vừa mang vẻ một kỳ quan thiên nhiên lại vừa là mộtdòng sông văn hóa chỉ của riêng xứ Huế Trong tâm hồn đậm chất thơcủa Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương là dòng sông tình yêu

"không bao giờ gặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sỹ" dòngsông ấy là dòng sông đời người, như một nàng tiên mà dung nhan,

Trang 40

hồn sắc được tạo thành từ lòng yêu quý, trân trọng nâng niu củangười dân hai bên bờ sông Với các văn nhân, văn hóa còn là báu vậtcủa con người Mỗi dòng sông đều mang trong nó một nét văn hóa tựthân Trong tâm linh của người Việt sông, núi là biểu hiện cho mốiquan hệ âm dương hòa hợp trong trời đất Trong văn học ta đã rấtquen thuộc với những hình ảnh sóng đôi của núi Tản - sông Đà, núiNgự - sông Hương, Sông núi là biểu tượng cho giang sơn tổ quốcgắn liền với đời sống con người, cùng con người làm nên những giátrị văn hóa to lớn cho mỗi dân tộc

Như vậy, thông qua thể ký Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm chonúi Ngự Bình cùng với sông Hương trở thành vẻ đẹp hài hòa, sống độngvừa mộng vừa thơ mang nét rất riêng của xứ Huế

2.2.1.2 Vẻ đẹp sông Hương qua cảm quan địa lí – lịch sử

Sinh ra và lớn lên ở Huế, thành phố nổi tiếng với sông nước hữutình, Hoàng Phủ Ngọc Tường không thể không bị ám ảnh bởi nhữngcon sông Trong tâm hồn ông, những dòng sông của đất nước được suytưởng trở thành những dòng sông văn hóa, những biểu tượng về nhữngvùng đất văn hóa Sông Hương chính là một con sông như vậy Bêncạnh đó, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn là một cán bộ kháng chiến đãsống hết mình trong những năm tháng chống Mỹ cứu nước, cho nên, lẽtất yếu, ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường không thể thiếu những trangviết về lịch sử đấu tranh chống kẻ thù của nhân dân ta

Cũng giống như các nhà văn thế hệ trước như Thạch Lam,Nguyễn Tuân, ông am hiểu rất nhiều các lĩnh vực khác nhau trong đờisống từ triết học, địa lý, hội họa, âm nhạc bút ký Hoàng Phủ NgọcTường là sự tổng hợp của nhiều loại trí thức Nhưng phải chăng trong

ký của ông các lĩnh vực như địa lý, lịch sử, và văn hóa là sở trường?

Ngày đăng: 18/12/2013, 21:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Cát (2000), “Đọc cuốn Ngọn núi ảo ảnh của Hoàng Phủ Ngọc Tờng”, Tạp chí Cửa Việt, (70) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc cuốn Ngọn núi ảo ảnh của Hoàng PhủNgọc Tờng”", Tạp chí Cửa Việt
Tác giả: Hoàng Cát
Năm: 2000
2. Đức Dũng (1996), “Từ chân dung văn học đến ký chân dung”, Tạp chí Văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ chân dung văn học đến ký chân dung”," Tạpchí Văn học
Tác giả: Đức Dũng
Năm: 1996
3. Tầm Dơng (1997), “Trao đổi ý kiến về thể ký và vấn đề viết về ng - ời thật việc thật”, Tạp chí Văn học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trao đổi ý kiến về thể ký và vấn đề viết về ng -ời thật việc thật”," Tạp chí Văn học
Tác giả: Tầm Dơng
Năm: 1997
4. Hà Minh Đức (2007), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
5. Hà Minh Đức (1998), Văn học Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
6. Văn Giá (2000), Vũ Bằng, bên trời thơng nhớ, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Bằng, bên trời thơng nhớ
Tác giả: Văn Giá
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thôngtin
Năm: 2000
7. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1997), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuậtngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
8. Ngô Minh Hiền (2009), “Thiên nhiên- thế giới tinh thần của con ngời trong văn xuôi Hoàng Phủ Ngọc Tờng”, Tạp chí Nghiên cứu văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên nhiên- thế giới tinh thần của conngời trong văn xuôi Hoàng Phủ Ngọc Tờng”
Tác giả: Ngô Minh Hiền
Năm: 2009
9. Lơng Thị Hiền, Chất trữ tình trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tờng, BCKH phòng t liệu khoa Ngữ văn, trờng ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất trữ tình trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tờng
10. Hoàng Ngọc Hiến (1997), Tập bài giảng nghiên cứu văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng nghiên cứu văn học
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 1997
11. Hoàng Ngọc Hiến (1997), Văn học và văn học văn, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và văn học văn
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1997
12. Nguyễn Xuân Hoàng (2003), “Hoàng Phủ Ngọc Tờng trong mắt tôi”, Kiến thức ngày nay, (450) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Phủ Ngọc Tờng trong mắttôi”, "Kiến thức ngày nay
Tác giả: Nguyễn Xuân Hoàng
Năm: 2003
13. Lê Quang Hng (2007), “Vận dụng phơng pháp so sánh trong làm văn nghị luận”. Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ (2 và 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng phơng pháp so sánh trong làmvăn nghị luận”". Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ
Tác giả: Lê Quang Hng
Năm: 2007
14. Lê Thị Hờng (2008), Chuyên đề dạy - học ngữ văn 12 Ai đã đặt tên cho dòng sông. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề dạy - học ngữ văn 12 Ai đã đặttên cho dòng sông
Tác giả: Lê Thị Hờng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
15. Lê Thị Hờng (2002), “Xin đợc nói về Hoàng Phủ Ngọc Tờng nh một thi sỹ của thiên nhiên”, Tạp chí Sông Hơng, (161) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xin đợc nói về Hoàng Phủ Ngọc Tờng nhmột thi sỹ của thiên nhiên”, "Tạp chí Sông Hơng
Tác giả: Lê Thị Hờng
Năm: 2002
16. Lê Thị Hờng (2005), “Thế giới cỏ dại trong thơ văn Hoàng Phủ Ngọc Tờng”, Tạp chí Sông Hơng, (2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới cỏ dại trong thơ văn Hoàng PhủNgọc Tờng”, "Tạp chí Sông Hơng
Tác giả: Lê Thị Hờng
Năm: 2005
17. Bùi Thị Lý (2007), Hình tợng cái tôi Nguyễn Tuân qua thể văn tùy bút, Luận văn thạc sỹ, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tợng cái tôi Nguyễn Tuân qua thể văntùy bút
Tác giả: Bùi Thị Lý
Năm: 2007
18. Phơng Lựu (2006), Lý luận phê bình văn học. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận phê bình văn học
Tác giả: Phơng Lựu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
19. Lê Thị Hồng Mai (2005), Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu cho học sinh qua dạy học tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tờng, Luận văn Thạc sỹ, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu cho họcsinh qua dạy học tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông của HoàngPhủ Ngọc Tờng
Tác giả: Lê Thị Hồng Mai
Năm: 2005
20. Trần Thùy Mai (2007), “Hoàng Phủ Ngọc Tờng vẫn sống để viết”, Tạp chí Cửa Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Phủ Ngọc Tờng vẫn sống để viết”
Tác giả: Trần Thùy Mai
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w