Trong cuốn Các nhà văn hiện đại Nhật Bản 1953, nhà văn vô sản Aômô Xuêkiti đã cho rằng tác phẩm của Kawabata có chức năng thanh lọc tâm hồn con người.. Về phương diện này, có thể kể đế
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Y.Kawabata (1899 - 1972) là một trong số những nhà văn lớn nhất
của văn học Nhật Bản thế kỷ XX Tên tuổi của ông vượt ra ngoài biên giới Nhật Bản, trở thành một biểu tượng của văn học châu Á trong văn học hiện đại thế giới Giải thưởng Nobel văn học 1968 trao cho bộ ba tiểu thuyết của
ông (Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô) là sự ghi nhận mang tính toàn cầu về
những sáng tạo độc đáo, đóng góp lớn lao của ông cho văn học Nhật Bản nói riêng, văn học nhân loại nói chung Nghiên cứu sáng tác của ông, vì vậy không chỉ để hiểu một tài năng, mà còn mở ra khả năng để nắm bắt được những vấn đề mang tính lý luận trong sáng tạo văn học
1.2 Trong sáng tác của Y.Kawabata, tiểu thuyết được xem là thành
công nhất Ở đó, ông đã cho thấy tài năng, sức sáng tạo, sự kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và nhân loại, thể hiện một tư tưởng nghệ thuật trên con đường hiện đại hoá văn học Nhật Bản Chọn tiểu thuyết Y.Kawabata nghiên cứu, chúng tôi hi vọng rút ra được nhiều vấn đề có ý nghĩa lý luận trong xu hướng toàn cầu hoá của văn học hiện nay, trong đó có văn học Việt Nam
1.3 Tiểu thuyết Y.Kawabata được xem là tiêu biểu cho tiểu thuyết
hướng nội, một xu hướng tiểu thuyết phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ XX Một trong những biểu hiện của nó là sự hiện diện của một thế giới thiên nhiên phong phú, đa dạng được sử dụng như một thứ ngôn ngữ đặc biệt để chuyển tải những thông điệp tư tưởng của nhà văn về hiện thực cuộc sống, một hiện thực được nhận thức không chỉ ở những gì đang diễn ra có thể nhìn thấy, mà còn cả những phần khuất lấp trong thế giới tinh thần của con người Tìm hiểu thiên nhiên trong tiểu thuyết Y.Kawabata, vì vậy, không chỉ để giải mã những
Trang 3vấn đề hiện thực đời sống đặt ra trong tác phẩm, mà còn có ý nghĩa lý luận trong việc nhận thức các phương tiện biểu đạt trong tiểu thuyết hướng nội.
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Tác phẩm của Kawabata được dịch và giới thiệu ở nhiều nước, thu
hút sự quan tâm của nhiều nhà phê bình trên thế giới Trong phạm vi tư liệu bao quát được, chúng tôi xin điểm lại một số vấn đề cơ bản
Ở Nga, năm 1971, trên Tạp chí văn học nước ngoài (Nga) số 8,
Grigorieva nhận xét tác phẩm của Kawabata là mẫu mực của vẻ đẹp Nhật
Cũng năm đó, nhà xuất bản Matxcơva cho xuất bản tuyển tập của Kawabata
với nhan đề: Kawabata - sinh ra bởi vẻ đẹp nước Nhật Năm 1974, N.I.Fedorenco có các bài “Y.Kawabata với triết học và mĩ học” và
“Y.Kawabata - con mắt nhìn thấu cái đẹp” đề cập đến ảnh hưởng của các
quan điểm mĩ học Thiền trong sáng tác của Kawabata Năm 1975, nhà xuất
bản Matxcơva cho in cuốn Y.Kawabata - sự tồn tại và khám phá cái đẹp, từng
có cả tình yêu và lòng căm thù Năm 1968, trong bài diễn văn đọc tại lễ trao
giải Nobel văn học, Anders Sterling đã cho rằng, Kawabata là người tôn vinh
vẻ đẹp hư ảo và hình ảnh u uẩn của hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và trong định mệnh con người Năm 1994, Oe Kenzaburo trong diễn từ Sinh ra bởi tính đa nghĩa của Nhật Bản đọc tại buổi trao giải Nobel văn học khẳng
định lại rằng sáng tác của Kawabata mang vẻ đẹp của mĩ học Thiền Ở Nhật
Bản, nơi đã sinh ra tài năng văn học kiệt xuất này, M.Yukio nhận xét
Y.Kawabata là người lữ khách muôn đời đi tìm cái đẹp Trong cuốn Các nhà
văn hiện đại Nhật Bản (1953), nhà văn vô sản Aômô Xuêkiti đã cho rằng tác
phẩm của Kawabata có chức năng thanh lọc tâm hồn con người Nhìn chung,
các ý kiến đánh giá trong các bài viết, bài phát biểu nêu trên đã nêu bật được phong cách độc đáo của Kawabata và những đặc điểm cơ bản nhất trong sáng tác của ông
Trang 4Ở Việt Nam, năm 1969, Tạp chí V¨n (Sài Gòn) đã ra số đặc biệt về
Kawabata và cho đăng những truyện ngắn, những bài nghiên cứu về cuộc đời
và sự nghiệp của nhà văn Sau đó, liên tiếp những sáng tác của Kawabata được
dịch và xuất bản: Xứ tuyết (Chu Việt dịch năm 1969), Tiếng rền của núi (Ngô Quý Giang dịch năm 1989), Ngàn cánh hạc (Giang Hà Vị dịch năm 1990),
Người đẹp say ngủ (Vũ Đình Phòng dịch năm 1990) Năm 1997, Tuyển tập các tác giả đạt giải Nobel đăng ba truyện ngắn của Kawabata Năm 2001, Tuyển tập Y.Kawabata ra đời với bốn tiểu thuyết của ông: Tiếng rền của núi, Xứ tuyết, Người đẹp say ngủ, Ngàn cánh hạc (Nxb Hội nhà văn) Năm 2005, Yasunari Kawabata - Tuyển tập tác phẩm ra đời với truyện ngắn, truyện trong lòng bàn
tay, tiểu thuyết và một số bài phê bình, nghiên cứu, bài phát biểu về Kawabata (Nxb Lao động và Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông - Tây) Những nghiên cứu về Kawabata ở Việt Nam đã xuất hiện đáng kể vào những năm gần đây
Về sách đó là các cuốn Yasunari Kawabata, cuộc đời và tác phẩm của Lưu Đức Trung (Nxb Giáo dục, 1997) và Văn hóa Nhật Bản và Yasunari
Kawabata của Đào Thị Thu Hằng (Nxb Giáo dục, H.2007, Chuyên luận)
Những bài viết về Y.Kawabata tập trung làm rõ và khẳng định những đóng góp to lớn của nhà văn này về nội dung và nghệ thuật ở thể loại truyện trong lòng bàn tay, truyện ngắn và tiểu thuyết Đề cập đến cái đẹp, vai trò cầu nối Đông - Tây của Y.Kawabata và những đặc sắc nghệ thuật truyện ngắn Y
Kawabata là các bài, như: Thế giới Kawabata Yasunari (Hay là cái đẹp: Hình
và Bóng) của Nhật Chiêu (Tạp chí Văn học số 3/2000); Kawabata Yasunari và thẩm mỹ của chiếc gương soi của Nhật Chiêu (Nghiên cứu Nhật Bản số
4/2000), Kawabata Yasunari - Người lữ khách ưu sầu đi tìm cái đẹp của Lê
Thị Hường (Tạp chí Sông Hương số 154/2001) Ở những bài viết này, các tác giả đã nói đến cái đẹp trong tác phẩm Kawabata, trong đó có vẻ đẹp của thiên nhiên Đi tìm nguồn gốc cái đẹp trong tác phẩm Kawabata, nhiều bài viết đã
Trang 5quan tâm đến văn hoá truyền thống, xem đó như nhân tố góp phần làm nên vẻ đẹp độc đáo trong tác phẩm Kawabata Về phương diện này, có thể kể đến các
bài viết, như: Mỹ học Kawabata Yasunari (Khương Việt Hà - Tạp chí văn học
số 6/2006), Cái đẹp truyền thống Nhật Bản trong sáng tác của Y Kawabata
(Trần Thị Tố Loan - Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số
1/2006), Đặc điểm truyện ngắn của Yasunari Kawabata - nhìn từ góc độ thi
pháp (Hà Văn Lưỡng - Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số
5/2007, Yasunari Kawabata giữa dòng chảy Đông - Tây (Đào Thị Thu Hằng,
TCVH số 7/2005) Một số bài đi vào giải mã tiểu thuyết Y.Kawabata về phương diện nội dung phản ánh và thi pháp biểu hiện với những phân tích,
đánh giá tinh tế, sắc sảo Ví như: Thi pháp tiểu thuyết của Yasunari Kawabata
- nhà văn lớn Nhật Bản (Lưu Đức Trung, Tạp chí Văn học số 9/1999); Thủ pháp tương phản trong tiểu thuyết “Người đẹp say ngủ” của Y.Kawabata
(Khương Việt Hà, Tạp chí văn học số 1/2004); Thời gian và không gian nghệ
thuật trong tiểu thuyết “Người đẹp say ngủ” của Y.Kawabata (Hà Văn Lưỡng,
Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á số 81/2007) Trên tạp chí văn
học số 9/1999, Lưu Đức Trung trong bài Thi pháp tiểu thuyết Y.Kawabata -
Nhà văn lớn Nhật Bản đã khẳng định tiểu thuyết Y.Kawabata mang đầy đủ
đặc trưng của mỹ học Thiền Ông viết: "Y.Kawabata thường hay nói đến truyền thống yêu cái đẹp của người Nhật, tạo ra mỹ cảm trong tác phẩm Người Nhật vốn thích sống thanh cao, biết trọng danh dự, gìn giữ đạo đức, khuôn phép Tâm hồn rộng mở hoà hợp với thiên nhiên Họ yêu vẻ đẹp từ trong một phiến đá, một bông hoa trên cành, một cành tuyết lơ lửng bay Họ thích suy ngẫm qua một chén trà, trầm lặng trước cảnh cô tịch của một ngôi chùa"[52,293-294]
Ngoài ra, trong những năm gần đây đã xuất hiện khá nhiều những luận văn nghiên cứu về hiện tượng văn học Kawabata
Trang 6Điểm lại những công trình nghiên cứu, giới thiệu về Y.Kawabata có thể thấy vấn đề thiên nhiên trong sáng tác của ông đã được nhiều người nói đến Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nào khảo sát đầy đủ, toàn diện về
vị trí, vai trò của thiên nhiên trong tiểu thuyết của Y.Kawabata Trong khi đó nét nổi bật và có thể coi là độc đáo của tiểu thuyết Kawabata là sự khai thác triệt để quan trọng tiếng nói của thiên nhiên, coi thiên nhiên như một thứ ngôn ngữ để thể hiện nội tâm nhân vật Nói một cách khác, trong tiểu thuyết của Y.Kawabata thiên nhiên đã được chủ thể hoá, trở thành một phương tiện, một ngôn ngữ để nhà văn đối thoại với cuộc đời Do vậy, đi vào nghiên cứu vai trò, vị trí của thiên nhiên trong tiểu thuyết của Y.Kawabata là một cách tiếp cận đúng đắn để giúp ta hiểu rõ hơn về phong cách sáng tác của Kawabata, đồng thời góp phần nhận thức rõ hơn về các phương tiện biểu đạt trong tiểu thuyết hướng nội
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài là khảo sát, phân tích vai trò, vị trí
của thiên nhiên trong thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Y.Kawabata
3.2 Với mục đích đó, đề tài có nhiệm vụ:
Thứ nhất, khảo sát, thống kê phân loại các dạng thức thiên nhiên trong
tiểu thuyết Y.Kawabata
Thứ hai, chỉ ra vai trò, vị trí của thiên nhiên trong thế giới nghệ thuật
tiểu thuyết Y.Kawabata
4 Đối tượng và phạm vi khảo sát
4.1 Như tên đề tài đã xác định, đối tượng khảo sát của đề tài là thiên
nhiên trong tiểu thuyết Y.Kawabata
4.2 Phạm vi khảo sát của đề tài là 6 tiểu thuyết Y.Kawabata in trong
Yasunari Kawabata - Tuyển tập, Nxb Lao Động và Trung tâm Văn hoá Ngôn
ngữ Đông Tây ấn hành 2005
Trang 75 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ khoa học của đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp như: khảo sát, thống kê; phân tích, tổng hợp; so sánh đối chiếu
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Tiểu thuyết trên hành trình sáng tạo của Y.Kawabata
Chương 2 Thiên nhiên trong tiểu thuyết Y.Kawabata - từ góc nhìn
Trang 8được xem là “nhà văn tiêu biểu của tâm hồn Nhật Bản”
Y.Kawabata sống vào những năm đầu thế kỷ XX, trong bối cảnh xã hội hết sức phức tạp khi Nhật Bản tham gia vào hai cuộc chiến tranh thế giới lại thêm nạn động đất thường xuyên đe dọa, do đó người dân Nhật Bản luôn phải chịu đựng những mất mát to lớn cả về vật chất lẫn tinh thần Là một con người vốn rất nhạy cảm với những nỗi đau và đặc biệt rất giàu tình yêu thương và sự cảm thông đối với con người, đứng trước những biến cố lớn lao
đó của thời đại, Y.Kawabata không thể không cảm thấy lòng trĩu nặng một nỗi buồn thương
Trong cuộc đời riêng, Y.Kawabata phải chịu đựng những mất mát đau thương tưởng chừng như không thể vượt qua Được sinh ra trong một gia đình học thức khá giả, cha là một y sĩ có trình độ văn hoá và quan tâm đến văn chương Tuy vậy cuộc đời đã không ưu ái Y.Kawabata Từ thủa ấu thơ, Y
Trang 9Kawabata đã mang trong lòng nỗi buồn đau của một đứa trẻ mồ côi Hai tuổi,
mồ côi cha Ba tuổi mồ côi mẹ Ông được gửi tới ở với người ông mù loà già yếu ở một vùng xa xôi hẻo lánh Bảy tuổi mất bà ngoại, 9 tuổi thì mất chị gái; năm 14 tuổi ông ngoại cũng ra đi Y Kawabata đã phải về Tokyo sống nương nhờ vào gia đình người dì Trở thành một cậu bé côi cút và cô đơn, Y Kawabata chỉ biết tựa mình vào năng lực sáng tạo, phong kín vết thương tâm hồn của mình bằng cuộc tìm kiếm mê mải cái đẹp trong cuộc đời Cô đơn từ
bé, nhưng không cô độc và cay đắng Trong cuốn tự truyện, Y Kawabata viết:
"Mồ côi từ thuở nhỏ, tôi sống nhờ sự cưu mang của người khác Có lẽ vì thế
mà cuối cùng tôi mất hết khả năng ghét người, ngay cả giận họ" (Tự truyện văn chương, 1934) Lớn lên, Y Kawabata có thêm nỗi buồn từ cảm thức hoài cổ
và những suy tư trầm mặc về cuộc sống Ở tuổi đôi mươi, Y Kawabata lại đánh mất tình yêu với người thiếu nữ mà ông thường gọi là Chiyô Ông đã cùng nàng hứa hôn nhưng khi mọi việc chuẩn bị xong, nàng bất ngờ từ hôn, không một lời giải thích Chính nàng là hình mẫu cho các nhân vật nữ trong những sáng tác của Kawabata sau này Suốt những năm còn lại Kawabata không lấy vợ và chỉ có một đứa con nuôi Ông sợ sẽ di truyền lại "thiên hướng mồ côi"
Những tổn thất về tinh thần, nhất lại là đối với một người vốn giàu tình cảm như Y Kawabata đã có ảnh hưởng rất lớn đến thế giới quan trong sáng tác của nhà văn Đó là một trong những nguyên nhân làm nên cảm thức cô đơn trong tác phẩm Y Kawabata Trong những tác phẩm của Y Kawabata luôn phảng phất một nỗi buồn không thể gọi thành tên nhưng nó tồn tại dai dẳng và đầy ám ảnh! Nỗi buồn đó thấm vào từng trang văn, đọng vào hồn cảnh vật và chứa chan trong đôi mắt nhìn của nhân vật trong tiểu thuyết Y Kawabata Hầu như toàn bộ sự nghiệp văn chương của ông dành trọn cho nỗi
buồn Từ truyện đầu tay Nhật ký tuổi mười sáu, đến Vũ nữ xứ Izu, Những
Trang 10truyện ngắn trong lòng bàn tay, Người đẹp say ngủ, Ngàn cánh hạc, Đẹp và buồn, Xứ tuyết, Cao thủ cờ Go và Cố đô tất cả đều tràn ngập một nỗi buồn
mong manh, hư ảo Những sáng tác buồn thương và tinh tế của Y Kawabata
đã trở thành một trong những di sản tinh thần quý giá nhất của thế kỷ XX
Tuy vậy cái mà Y Kawabata luôn hướng đến không phải là thể hiện nỗi buồn của mình trên trang giấy mà là khát vọng tìm kiếm cái đẹp trong cuộc đời này Suốt cuộc đời mình, Y Kawabata luôn nuôi dưỡng những hoài bão đẹp Hồi còn nhỏ ông đã rất say mê nghệ thuật, đặc biệt là hội họa Và ông đã có khá nhiều bức vẽ đẹp Điều đó giải thích tại sao trong các trang văn của ông, ta thấy có sự hiện diện của những bức tranh phong cảnh thiên nhiên với những màu sắc tinh tế và đậm chất hội họa Lớn lên, Y Kawabata đã quyết định theo con đường văn học Thơ ca và truyện ngắn của ông được xuất bản ngay từ lúc ông còn là học sinh trung học Tuổi trẻ cô đơn và đau khổ không thể dìm Y Kawabata xuống vực sâu của tối tăm và bất hạnh mà còn nâng đỡ, tạo nên động lực giúp ông thêm yêu cái đẹp trong cuộc đời này:
“Tình yêu đối với tôi là sợi dây độc nhất giữ đời tôi lại” (Chuyển dẫn [23,1072]) Với tình yêu mãnh liệt đối với cuộc đời, Y Kawabata đã không mệt mỏi trên hành trình tìm kiếm cái đẹp
Năm 1920 Y Kawabata vào học khoa Văn học Anh của trường Đại học Tổng hợp Tokyo, lên năm thứ hai ông chuyển sang nghiên cứu văn học Nhật Bản Ông ra tạp chí sinh viên và viết bài phê bình cho các báo Tokyo Ngay năm đầu đại học, Y Kawabata đã cùng một số bạn văn trẻ tuổi sáng lập
tạp chí Trào lưu mới (Sintio) Sau khi tốt nghiệp đại học (1924) Y Kawabata
cùng với Yokomitsu Riichi, Yukio Mishima sáng lập những tạp chí văn học
có tên tuổi như Văn nghệ xuân thu (Bungei Shunzui), Văn nghệ thời đại (Bungei Jidai), đại biểu cho trào lưu Tân cảm giác (Shinkankakuha) Y Kawabata say mê thơ văn cổ điển dân tộc như Truyện Gengi của Murasaki
Trang 11Shikibu, Sách gối đầu của Sei Shonagon lẫn các tác giả hiện đại Tây
phương như Prutx, Gioix Một mặt ông tiếp nhận nồng nhiệt văn chương phương Tây, mặt khác ông tin tưởng rằng “nền văn chương cổ điển phương Đông, nhất là kinh Phật là nền văn chương vĩ đại bậc nhất của thế giới Tôi
muốn viết một tác phẩm tên là Bài ca phương Đông, đó sẽ là bài ca tươi đẹp
của tôi Tôi có thể chết trước khi bài ca đó thành tựu nhưng hãy biết rằng tôi
đã dự trù cả một chương trình trong tâm trí của mình” (Chuyển dẫn [23,1071
- 1072]) Không chỉ viết tiểu thuyết, Y Kawabata còn là một nhà phê bình văn học Ông đã phát hiện và nâng đỡ nhiều cây bút trẻ như Mishima Yukio
Từ năm 1948 đến 1965, Y Kawabata đã được bầu làm chủ tịch Hội Văn bút Nhật Bản, và là vị chủ tịch thứ hai của hội này sau nhà văn Shiga Naoya Sau năm 1959 ông là phó chủ tịch Hội Văn bút quốc tế Năm 1953, Y Kawabata trở thành thành viên Viện Hàn lâm nghệ thuật Nhật Bản Năm 1959 ông được
tặng Huân chương mang tên Goethe tại Frankfurt Năm 1968, khi hay tin
mình được giải Nobel văn chương, Y Kawabata đã khiêm tốn nói với một phóng viên nước ngoài rằng, vinh dự thay cho cả nền văn chương Nhật Bản hơn là trao riêng cho một mình ông Ông còn cho rằng Mishima Yukio mới là người xứng đáng nhận giải thưởng Tuy nhiên, giữa bao nhiêu tên tuổi các nhà văn trên thế giới được đề cử, Y Kawabata đã được chọn với các tác phẩm
Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc và Cố đô.
Trong diễn từ đọc tại lễ trao giải Nobel văn học năm 1968, Y.Kawabata
đã tự hào khẳng định “Sinh ra từ vẻ đẹp Nhật Bản” [23, 961] Niềm tự hào trong câu nói đó đã được cụ thể hoá bằng sáng tạo nghệ thuật của ông Trong toàn bộ sáng tác của mình, bằng cách này hay cách khác, trực tiếp hay gián tiếp, Y.Kawabata luôn tôn vinh vẻ đẹp Nhật Đọc tác phẩm của ông, ta bắt gặp
cả một thế giới lung linh màu sắc của vẻ đẹp Nhật: thiên nhiên, con người, lối sống, tình cảm, tâm hồn Tất cả đều thấm đượm tinh thần Nhật Bản, cốt cách
Trang 12Nhật Bản, tinh hoa Nhật Bản Ngô Quý Giang đã rất đúng đắn khi cho rằng:
“Ông đã chiến đấu để bảo vệ và giữ gìn bản sắc dân tộc trước làn sóng Âu - Mỹ đang tràn nhập đất nước Nhật Bản và buộc người Nhật phải suy nghĩ đến việc cứu lấy vẻ đẹp cổ kính của đất nước Nhật” [22,8] Đotxtoievxki đã từng nói:
“Cái đẹp cứu rỗi thế giới” Còn Y.Kawabata trong khi tuyệt vọng trước sự thảm hại và suy sụp của đất nước đã đọc lại văn chương cổ điển của Nhật Bản
và khám phá ra sự cứu rỗi của cái đẹp, điều mà Đotxtoievxki đã nói tới Và Y.Kawabata nhắc lại lời của nhà thơ Takamura: “Một dân tộc biết khơi dậy cái đẹp thì cũng biết khơi dậy đời sống và tâm linh con người” (Chuyển dẫn [23, 1075]) và ông lấy đó làm tôn chỉ sáng tác của mình Tiến sĩ Anders - Sterling
đã phát biểu trong lễ trao giải Nobel cho Y.Kawabata như sau: "Với Y.Kawabata, lần đầu tiên Nhật Bản bước vào giới các nhà văn đoạt giải Nobel văn chương Điều có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành quyết định này
là Y.Kawabata với tư cách nhà văn, đã phú cho một nhận thức văn hoá đầy tính đạo đức - thẩm mỹ một phẩm chất nghệ thuật độc sáng, vì vậy, bằng cách riêng của mình đóng góp vào việc bắc một nhịp cầu tinh thần giữa phương Đông với phương Tây” [23,960]
Đẹp và buồn - đó chính là đặc điểm nổi bật trong cuộc đời của Y Kawabata và cũng là hai địa hạt chủ đạo trong sáng tác của ông Trong cuộc đời cũng như trong sáng tác của ông, cái đẹp thường đi liền với nỗi buồn Nỗi buồn đó được hun đúc bởi quá khứ văn học và những ẩn ức riêng trong đời của “một con người ra đời với định mệnh cô đơn” Còn cái đẹp là nguyên cớ cao đẹp bên trong thúc đẩy Y.Kawabata trên hành trình tìm kiếm và sáng tạo, nhất là khi cái đẹp đã và đang bị tàn phai Vì thế, có thể nói cuộc đời của Y.Kawabata là một “bản giao hưởng ngân vang trong lòng một nỗi u buồn” Cuộc đời của Yasunari Kawabata có thể gói gọn trong mấy dòng nhận xét sau đây của Nhật Chiêu: “Từ những cái chết và sự điêu tàn Kawabata lên đường,
Trang 13hành trang trống trải nhưng trái tim đầy yêu thương Từ những cái chết và sự điêu tàn, Kawabata can trường dấn bước, tiến về phía cái đẹp” [23, 1072]
1.1.2 Con đường sáng tạo nghệ thuật Y.Kawabata
Y.Kawabata khởi nghiệp bằng việc làm biên tập cho một tờ tạp chí
quan trọng ở Nhật Bản thời bấy giờ có tên là Văn nghệ xuân thu (Bungei
Shunju) vào năm 1923 Chỉ một năm sau đó, khi tốt nghiệp khoa Văn trường
Đại học tổng hợp Tokyo (1924), khát vọng mang lại một cảm giác mới cho văn đàn Nhật Bản thôi thúc Y Kawabata cùng với Yokomitsu Riichi (1898 - 1947), Kataoka Tetsubei (1894 - 1944), Nakagawa Yoichi (1897 - 1994) sáng
lập ra tờ Văn nghệ thời đại (Bungei jidai) làm cơ quan ngôn luận cho trường phái văn học “Tân cảm giác” nhằm thực hiện một "cuộc cách mạng văn học đối đầu với làn sóng văn học cách mạng đương thời" Y Kawabata trở thành đại biểu cho trào lưu "Tân cảm giác" (hay còn gọi là trường phái duy cảm)
theo định hướng văn học và văn hóa tiên phong Châu Âu, phủ nhận chủ nghĩa
tự nhiên, cổ xúy cho những thử nghiệm phong cách, đặt cảm xúc và cảm giác
vào trung tâm chuyện kể Bài tiểu luận Luận giải về khuynh hướng mới của
các nhà văn mới, nền tảng lý luận của cách biểu đạt theo phong cách Tân cảm giác (năm 1926) của Y Kawabata được xem là tuyên ngôn nghệ thuật của
trường phái này Tư tưởng của Y Kawabata được trình bày qua bài tiểu luận
của ông là sự “dọn đường” cho một khuynh hướng văn chương dựa trên cảm
xúc mới và nghệ thuật biểu đạt hiện đại phương Tây Trước năm 1945, Y
Kawabata đã in hai tập truyện trong lòng bàn tay là Trang hoàng cảm xúc (Kanjou soushoku - 1926) và Những căn phòng mẫu của tôi (Boku no
HyohonShitsu - 1930) Y Kawabata đã tiếp nhận từ thơ haiku - loại thơ ngắn
nhất của Nhật Bản, cả bài chỉ gồm 17 âm tiết, chia thành ba câu (5, 7, 5) nhưng lại rất giàu sức gợi để xây dựng thành những câu chuyện trong lòng bàn tay Kết cấu bỏ lửng của thơ haiku, cái hư không bảng lảng khó nắm bắt
Trang 14của tinh thần Thiền tông kết hợp với sự duy lý trong kỹ thuật viết văn phương Tây đã làm cho những tác phẩm của Y Kawabata có một phong cách đặc thù Sáng tạo theo nguyên tắc “haiku hóa văn xuôi”, Y Kawabata đã mang đến tính chất mở cho một thể loại có dung lượng ngắn, biến truyện trong lòng bàn tay thành thể loại mang bản chất hiện đại của châu Âu nhưng lại có phần khác với các mô hình truyện ngắn phương Tây trước đó một cách rất Nhật Bản Có thể thấy rõ ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại phương Tây trong một số tác phẩm thời kỳ này của Y.Kawabata Nếu như tác phẩm đầu tay của Y
Kawabata là cuốn Nhật ký tuổi mười sáu - viết vào năm 1914 và được xuất
bản 11 năm sau đó - vẫn đang chịu ảnh hưởng của nền văn chương cổ, bên trong hàm chứa hy vọng của một đứa trẻ mong ông mình khỏi bệnh thì cuốn
truyện ra đời sau đó là Đại hội Yasukuni (1921), mô tả một nữ diễn viên cưỡi
ngựa của một rạp xiếc với các người bạn của cô ta, trong đó có các đối thoại ngắn, mang nhiều ý nghĩa ẩn dụ, khiến cho người đọc khó phân biệt giữa giấc
mơ và hiện thực Tác phẩm này dùng một thể văn mới của trường phái Tân
cảm giác với ngôi trần thuật mang tính khách quan, không can dự vào nhân
vật Tác phẩm này đã làm cho Kikuchi Kan để ý nâng đỡ tài năng văn học Y.Kawabata và chính ông giới thiệu Y Kawabata với nhà văn Yokomitsu Riichi - người bạn thân thiết nhất của nhà văn sau này Năm 1918, ông đến đảo Izu và năm 1925, ông trình làng văn tác phẩm thực sự thành công đầu tiên
của mình là Vũ nữ Izu, khiến cho nhiều độc giả phải chú ý Năm 1923, một
trận động đất lớn nhất trong lịch sử nước Nhật đã xẩy ra tại thành phố Tokyo, Y.Kawabata đã đi thực tế, quan sát, ghi chép những cảnh tàn phá vì thiên tai, cảnh đau khổ của người dân Nhật Bản Những xúc động được nhà văn mô tả
trong cuốn Băng đảng Asakusa (1929 - 1930) Tác phẩm này được đăng trên nhật báo Asahi của Tokyo, mang lại danh tiếng cho nhà văn bởi vì qua tác
phẩm, tác giả không muốn mô tả khu phố Asakusa theo chiều hướng xã hội,
Trang 15mà muốn chia xẻ với độc giả các cảm xúc theo cách của các nhà văn Tân cảm
giác Năm 1930, truyện Cái Kim, cái Ly và con Nhái của Kawabata ra đời và
được đánh giá là chịu ảnh hưởng của James Joyce vào đúng thời điểm tác
phẩm Ulysses được dịch ra tiếng Nhật Tác phẩm này của Y Kawabata đã mô
tả nội tâm của nhân vật Asako, người vợ đã làm nhiều điều sai trái vì ghen tuông khi tìm thấy một tấm hình đàn bà khác trong tủ hồ sơ của chồng, và tác giả đã mô tả sự liên hệ yêu - ghét trong tâm hồn của Asako theo cách phân tích của Freud
Chuyên tâm sáng tác theo chủ nghĩa duy cảm mới nhưng Y Kawabata vẫn chủ trương giữ vững di sản văn học và truyền thống mỹ học dân tộc
Vì thế không có gì là mâu thuẫn khi một mặt Y.Kawabata tâm sự: "Đôi mắt
chúng tôi rực cháy lên niềm khát vọng vươn tới những biểu hiện của niềm vui được thảo luận với những gì mới lạ” [4,31] Mặt khác, ông chọn con đường
riêng cho mình Ông tự bạch: "Tôi đã tiếp nhận nồng nhiệt văn chương Tây phương hiện đại và tôi cũng đã thử bắt chước nó, nhưng chủ yếu tôi là một người Đông phương và suốt mười lăm năm qua tôi chưa từng đánh mất phong
cách ấy của mình" (Chuyển dẫn [4,31]) Tuy nhiên càng về sau Y Kawabata
càng ngả về truyền thống dân tộc nhiều hơn, đặc biệt là sự tiếp nhận tinh hoa
mỹ học Thiền để xây dựng lý thuyết mỹ học của riêng mình Phong cách Y.Kawabata, do mối tương giao truyền thống và hiện đại nói trên, trở nên rất phức tạp bởi sự dung hoà những giá trị Đông - Tây nhưng vẫn mang đậm dấu
ấn sáng tạo của cá nhân và phong khí của thời đại Tiến sĩ Anders - Sterling
cho rằng: "Trong nghệ thuật tự sự của Y Kawabata, ta vẫn có thể thấy một chất thơ tình huống với sắc thái đầy nhạy cảm bắt nguồn từ những bức tranh rộng lớn của Murasaki về đời sống và cung cách ở Nhật Bản vào khoảng năm 1000" [23,958] Sáng tác của Y Kawabata không phải là sự minh họa cho lý
Trang 16thuyết của Tân cảm giác mà thực sự đã trở thành thế giới nghệ thuật đầy biểu
cảm, giàu chất thơ và lung linh vẻ đẹp Nhật Bản
Từ những năm 30 trở đi, sau thời kỳ chịu ảnh hưởng sâu sắc của luồng
gió mới từ chủ nghĩa hiện đại phương Tây, sáng tác của Y Kawabata có xu
hướng trở về với cội nguồn văn học dân tộc, và tái sinh nó dưới cách viết hiện
đại đầy tính sáng tạo cá nhân độc đáo Thời kỳ này, ở Nhật Bản diễn ra nhiều
sự kiện chính trị phức tạp Tuy vậy, Y.Kawabata chỉ chuyên tâm sáng tác văn học, không can dự vào chuyện quốc gia đại sự Nhưng qua những tác phẩm của ông ta vẫn nhìn thấy được mối quan tâm lo lắng của ông đối với con người và đất nước Nhật Bản Trong nhiều năm trước đó, Yasunari Kawabata
đã từng theo đuổi một cuộc đời hoàn toàn riêng tư nhưng từ năm 1930, ông đã tham gia tích cực vào thế giới văn chương Y Kawabata ở trong nhóm chủ
trương của nhiều tạp chí, kể cả tạp chí Thế giới Văn học (Bungakkai) rồi tới năm 1934, tham gia vào nhóm Hội thảo Văn học (Bungei Kondan Kai) Vào
thời kỳ này, Y Kawabata cùng với Yokomitsu và nhóm hội thảo kể trên có ý
định làm thăng tiến một phong trào phục hưng trong giới nhà văn Nhật Bản
Sau cuộc chiến tranh xung đột Nhật - Trung xẩy ra vào năm 1937, chính phủ Nhật Bản đã kiểm duyệt báo chí và làm áp lực lên các nhà văn Trước hoàn cảnh này, Y Kawabata vẫn giữ sự bình thản, tìm cách du lịch nhiều nơi trong
xứ và đọc các tác phẩm cổ điển Nhà văn đã viết một số tập truyện trẻ em, gửi đăng trên vài tạp chí phụ nữ Trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai, Y Kawabata viết các hồi tưởng của thời thơ ấu và tác phẩm chưa hoàn thành với
tên là Nơi sinh (Koen, 1943 - 45) Ông viết tiểu thuyết Tookaidoo (Đông hải
đạo) qua đó nhấn mạnh đến sự quan trọng của giá trị thẩm mỹ theo truyền
thống đối với mọi bộ môn nghệ thuật Vào năm 1940, Yasunari Kawabata tham gia vào Hội các nhà văn Nhật cùng với các nhà văn danh tiếng như Itoo Sei, Kishida Kunio, Kobayashi Hideo, Hino Ashihei, Shimaki Kensaku và
Trang 17Yokomitsu Riichi Tháng 5 năm 1942, Y Kawabata là nhân viên của Hội văn
chương ái quốc Nhật Bản Năm 1957, Yasunari Kawabata là Chủ tịch của Đại
hội văn bút quốc tế tại Tokyo, và ông coi đây là cơ hội để giúp các nhà văn trên khắp thế giới biết đến nước Nhật Bản mới với nền văn học mới Dành cho mục tiêu này, Y Kawabata đã đi nhiều nước, gặp các nhà văn danh tiếng như T.S Eliot, Francois Mauriac và sau Đại hội kể trên, Y Kawabata trở thành nhà văn số một của Nhật Bản, được nhiều người trên thế giới biết tới với vai trò như là người phục hưng văn xuôi Nhật Bản
Đối với Y Kawabata, một trong những nguồn cổ vũ và tác động mạnh
mẽ nhất đến việc hình thành khuynh hướng thẩm mỹ của ông là các tác phẩm
văn học cổ điển trứ danh của Nhật, tiêu biểu là Truyện Genji Trong những tác
phẩm xuất sắc của các tác giả cổ điển Nhật, Y Kawabata luôn bị hấp dẫn bởi những tư tưởng cao thượng, bởi quan niệm về cái đẹp như yếu tố quan trọng nhất của văn hoá và đạo đức, có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến quan hệ con người và thế giới tinh thần của mỗi cá nhân Tư tưởng về cái đẹp bên trong,
về giá trị vĩnh hằng của nó trong đời sống con người và trong nghệ thuật luôn quyến rũ nhà văn, ám ảnh đầu óc ông, ăn sâu vào tiềm thức ông trong suốt con đường sáng tạo N.T.Phedorenko cũng đã từng cảm nhận như thế về Y Kawabata: "Kawabata thường hay nói đến vẻ đẹp Nhật Nhà văn muốn nhấn mạnh không phải cái cảm giác bình thường, mà cái cảm giác đặc biệt về cái đẹp Có cảm tưởng như mục đích chủ yếu của đời ông là đi tìm cái đẹp Thậm chí không phải đi tìm, mà là nhìn vào, nhìn một cách tò mò chăm chú để phát hiện ra cái đẹp bên trong" [23,1051] Y.Kawabata đã thu nhận những nét đặc sắc và độc đáo của văn hoá Nhật, để từ đó có những tìm tòi sáng tạo riêng của mình Tiềm năng nghệ thuật Y Kawabata được nuôi dưỡng từ trong mạch nguồn văn học dân tộc Tác phẩm mang lại tiếng tăm thực sự cho nhà văn thời
kỳ này là tiểu thuyết Xứ tuyết Ông đã bỏ ra một thời gian dài để viết tác
Trang 18phẩm, từ năm 1935 tới năm 1937 và cả chục năm sau đó Được giới văn học Nhật thừa nhận là hiện tượng văn xuôi trữ tình quan trọng nhất lúc bấy giờ,
Xứ tuyết lôi cuốn người đọc bởi những nét vô cùng đặc sắc của thế giới con
người và thiên nhiên, được miêu tả bằng những màu sắc đầy chất thơ rất điển hình cho các tác phẩm của Y Kawabata Dựa trên những tư liệu tươi mới, nhà văn mở ra cho người đọc cả một thế giới những ham muốn, hi vọng và xung đột trước kia chưa ai mô tả
Sau chiến tranh, thêm vào đó là sự ngã gục của Nhật Bản trong Thế chiến thứ hai khiến nỗi buồn trong ông thêm trĩu nặng Kể từ năm đó, ông chỉ còn viết về nỗi buồn, tìm kiếm vẻ đẹp "mơ hồ, lộng lẫy và mong manh" của nó
Y Kawabata từng thừa nhận: "Không bao giờ tôi trút được ám ảnh rằng mình
là người lang thang ưu sầu Là người luôn luôn mơ mộng, tuy rằng chẳng bao giờ chìm đắm hoàn toàn trong mơ, mà vẫn luôn luôn thức giữa khi mơ Từ sau thất bại, tôi chìm vào nỗi buồn - một nỗi buồn ngự trị triền miên trong tâm thức người Nhật chúng tôi Từ đó trở đi tôi chỉ viết những khúc bi thương!" (Chuyển dẫn [23,1072]) Lần lượt, những bản bi ca trong dạng tiểu thuyết ra đời Tuy vậy, trong những năm sau chiến tranh, các tác phẩm của Y Kawabata vẫn tiếp tục phát triển theo mạch nguồn của truyền thống văn học
cổ điển Nhật Bản Cuốn Cao thủ cờ Go (1942 - 1954) kể về sự thua cuộc của
một danh thủ cờ Go già nua trầm lặng trong ván cuối cùng của cuộc đời trước một đối thủ trẻ năng động và hiếu chiến Ngay khi tác phẩm ra đời, nhiều nhà phê bình văn học đã cho rằng không chỉ nói chuyện chơi cờ, tác phẩm âm thầm gợi ra cuộc đối đầu quyết liệt giữa những lí tưởng cổ xưa và hiện đại, giữa những thế hệ khác nhau, giữa Nhật Bản truyền thống và Nhật Bản Âu hoá Dù cô đơn và bại trận, người danh thủ già vẫn giữ được phẩm cách đến ngày tàn Phải chăng vì tác phẩm hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc như thế mà
Trang 19đương thời nó là cuốn tiểu thuyết được Y Kawabata tâm đắc, cho là thành công nhất của ông
Năm 1950, một loạt các bài viết trên nhật báo Asahi về cuốn truyện Vũ
nữ xuất hiện, rồi năm sau là sự ra đời của một tác phẩm danh tiếng khác của
Y.Kawabata, đó là cuốn tiểu thuyết Ngàn cánh hạc Sau đó Y Kawabata hoàn thành một cuốn tiểu thuyết Tiếng rền của núi Cách mô tả nhạy cảm đặc biệt các nhân vật trong tác phẩm Tiếng rền của núi khiến cho các nhà phê bình coi
đây là sáng tác bậc nhất của Y Kawabata Yamamoto Kenkichi cho rằng
“Tiếng rền của núi không chỉ là một tác phẩm của Y.Kawabata mà còn là tác
phẩm đứng đầu của nền văn chương Nhật Bản hậu chiến” Tác phẩm đã phối hợp được các gợi cảm thơ mộng, trữ tình trong thể văn cùng với cốt truyện hấp dẫn, éo le, mô tả một thế giới nhỏ, không thể quên được, bên trong thế giới lớn hơn là nước Nhật Bản hậu chiến Năm 1954, Y Kawabata cho in dần
trên nhật báo tiểu thuyết Cái hồ Năm 1955, Y Kawabata hoàn thành một loạt bài viết dài đăng trên nhật báo, với tên là Người dân Tokyo Một năm sau, ông xuất bản tiểu thuyết Câu chuyện của một thị xã có dòng sông và truyện Sự kiện là phụ nữ in dần trên nhật báo Asahi.
Trong thập niên sáu mươi, Y Kawabata tiếp tục viết Năm 1960 là năm
khởi đầu một loạt bài đăng trên một tạp chí phụ nữ với nhan đề là Đẹp và
buồn Một tác phẩm khác của Y Kawabata là cuốn tiểu thuyết Cố đô đăng
trên nhật báo Asahi và được Giải thưởng văn hóa, một phần thưởng cao quý
nhất nước (1961) đồng thời tác phẩm Người đẹp ngủ mê (1969) khi xuất bản
thành sách, cũng đoạt giải thưởng văn hoá Mainichi Năm 1964, Y Kawabata
bắt đầu viết tác phẩm Những cây bồ công anh nhưng tới năm 1968 cuốn tiểu
thuyết này vẫn chưa hoàn thành Tháng 10 năm 1968, Y Kawabata đoạt Giải Nobel văn học Ông đến Stockholm nhận giải và đọc một diễn từ ca ngợi nền
văn hóa Nhật Bản với nhan đề: Sinh ra từ vẻ đẹp Nhật Bản.
Trang 20Sáng tác của Y Kawabata từ việc ảnh hưởng phương Tây rồi tìm về truyền thống dân tộc, Nhật Bản hoá các yếu tố bên ngoài, kết hợp hài hoà Đông - Tây là một hiện tượng có quy luật trong quá trình hiện đại hoá văn học
ở khu vực Đông Á Từ những sáng tác ban đầu chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa đa đa, tư tưởng của S.Freud, Marcel Proust, James Joyce, ông đã quay về truyền thống yêu cái đẹp trong văn học dân tộc, Nhật Bản hoá phương Tây để trở thành người cứu rỗi cái đẹp, phục hưng văn xuôi Nhật Bản, kết tinh tư duy thẩm mỹ và vẻ đẹp tâm hồn dân tộc Vì vậy, tuy Y Kawabata không phải là tác giả mở đầu cho thời kì hiện đại của văn học Nhật Bản nhưng ông được xem là người đã góp phần hoàn thiện diện mạo nền văn học hiện đại Nhật Bản
1.1.3 Cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Y.Kawabata
Sinh ra từ vẻ đẹp Nhật Bản là cụm từ được Y.Kawabata khẳng định đầy
tự hào trong diễn từ Nobel của ông [23,961] Điều đó cho thấy lí tưởng tôn thờ cái đẹp cũng như khát vọng hướng đến những vẻ đẹp tuyệt mĩ của nhà văn Tâm hồn Nhật Bản, truyền thống yêu cái đẹp, giữ gìn và phát huy giá trị vĩnh hằng của cái đẹp trong đời sống con người và trong nghệ thuật trở thành cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Y.Kawabata Trong suốt hành trình sáng tạo của mình, ông luôn tìm kiếm, trân trọng và phát huy cái đẹp Thành quả đáng tự hào nhất trong cuộc kiếm tìm không biết mệt mỏi đó của ông là những tác phẩm được người Nhật tự hào gọi là những báu vật của quốc gia Mishima Yukio gọi ông là “người lữ khách đi tìm cái đẹp”, còn Nhật Chiêu
tôn xưng ông là “người cứu rỗi cái đẹp” là vì thế
1.1.3.1 Khát vọng tìm về với vẻ đẹp truyền thống
Trong ba nền văn hoá lớn của phương Đông, nếu Ấn Độ được coi là duy linh, Trung Quốc duy lí thì Nhật Bản lại rất duy mĩ, duy tình Văn hoá truyền thống Nhật Bản có rất nhiều tiêu chí để khẳng định bản sắc thẩm mĩ,
Trang 21tuy nhiên những người yêu mến văn chương xứ Phù Tang luôn dễ dàng nhận thấy bốn nguyên lí cơ bản thường được các nhà văn sử dụng để tôn vinh cái
đẹp, đó là mono awere, sabi, wabi, yuyen Tất cả đều có nguồn gốc tôn giáo
(Thần đạo và Phật giáo) và đều rất khó chuyển nghĩa chính xác sang một ngôn ngữ khác Ngay cả đối với người Nhật chúng cũng là một phần của cảm giác, là cái để cảm nhận bằng trực giác hơn là các giác quan thông thường
"Cảm giác về cái đẹp, khuynh hướng chiêm ngưỡng vẻ đẹp là đặc tính tiêu biểu cho mọi người Nhật - từ người nông phu cho đến nhà quý tộc" [58,196] Trong sáng tác của các nhà văn hiện đại, Y.Kawabata là người kế thừa sâu sắc nhất tinh thần ấy Tác phẩm của ông thường được ngợi ca là mang đậm chất thơ với những vẻ đẹp dễ đi vào lòng người
Trong tác phẩm của Y.Kawabata có vẻ đẹp quyến rũ bởi sự tao nhã, thanh cao, bởi nỗi buồn dịu dàng, sự cảm thương trước cảnh vật Đó là vẻ đẹp
mono no awere, hiểu đầy đủ nhất là nỗi buồn sự vật, được dùng để "gợi tả vẻ
đẹp tao nhã, nỗi buồn dịu dàng pha lẫn cảm thức vô thường của Phật giáo"
[6,116] Awere thể hiện niềm tiếc thương trước cái đẹp hữu hạn Trong tác phẩm của Y.Kawabata, awere được tái sinh dưới một cái nhìn mới: sự rung
động, thương cảm, xót xa trước những vẻ đẹp của con người và vạn vật
Kikuco trong Tiếng rền của núi là một người mang vẻ đẹp awere Đó là một
người con gái trong sáng, dịu dàng, luôn biết hi sinh, chịu đựng Biết chồng
có nhân tình nhưng không ầm ĩ, ghen tuông, chỉ âm thầm mở cửa dìu chồng vào phòng mỗi đêm khuya khi chồng say khướt trở về từ nhà nhân tình Hay
nàng Komako trong Xứ tuyết cũng là một người con gái mang vẻ đẹp awere
Trong lòng mang một tình yêu vô cùng sâu nặng với chàng lãng tử Shimamura mà không cần một chút đền đáp, hàm ơn Tình yêu mà Komako dành cho Shimamura là một thứ tình cảm trong sáng, thuần khiết, thánh thiện nhưng lại mãnh liệt và giàu đam mê Tình yêu đó nàng lặng lẽ dâng hiến cho
Trang 22người mình yêu mà không cần toan tính đến ngày mai Đó là niềm bi cảm trước sự hữu hạn của cái đẹp
Tác phẩm của Y.Kawabata còn mang vẻ đẹp “yuyen hoặc vẻ đẹp của
điều bỏ lửng - đó là cái đẹp nằm ở chiều sâu của sự vật chứ không muốn lộ ra
bề mặt Điều này thể hiện rõ ở cách kết thúc tác phẩm Ông chủ trương để một khoảng không gian trống dành cho trí tưởng tượng với sự gợi mở đầy ẩn
ý Đó là những kết thúc độc đáo, kết mà không hết chuyện, khiến người đọc
còn phải băn khoăn day dứt mãi Kết thúc Xứ tuyết, Yoko chết trong đám
cháy, Komako thì gần như phát điên, còn Shimamura không hiểu chuyện gì đang xảy ra khi ''dải Ngân Hà tuôn chảy lên anh trong cái thứ tiếng thét gầm
dằn dữ" [23,387] Ở Người đẹp ngủ mê, dù cô gái kia đã chết còn ông già
Eguchi vẫn tiếp tục ngủ lại ngôi nhà ấy với một cô gái khác chờ trời sáng Và cuộc sống cứ thế trôi đi, không đột biến, không được giải quyết
Trong tác phẩm Kawwabata còn chứa đựng vẻ đẹp sabi Hiểu một cách đơn giản nhất, sabi là vẻ đẹp của cái tự nhiên, vẻ đẹp của ngày thường, là dấu
ấn của của thời gian, niềm tịnh tĩnh Sabi là cái mà ta cảm nhận được khi đắm
mình vào không gian trong tác phẩm của Kawbata, không gian của niềm cô
tịch Đó là hình ảnh mái chùa cổ kính đầy tuyết ở vùng núi phía Bắc (Xứ
tuyết), là những rừng bá hương hùng vĩ (Tiếng rền của núi), là cây trà hoa
khổng lồ trong khuôn viên đền Suhakidera (Người đẹp say ngủ) Tất cả đều
đẹp trong tĩnh lặng đến khôn cùng, đó là nơi mà "sự yên tĩnh và thanh bình
như vang lên thành một bài thánh ca" [23,246] Nhưng sabi, ngoài nỗi cô đơn, niềm tịnh tĩnh còn là dấu ấn của thời gian trong mỗi vẻ đẹp Cố đô, với những
đền đài miếu mạo, những rêu phong đá núi, những kimono với thắt lưng truyền thống tại thành phố cổ Kyoto xinh đẹp và cổ kính, mang một vẻ đẹp
đậm chất sabi Toàn bộ không gian trong tác phẩm toát lên một tinh thần sabi, một ấn tượng sabi
Trang 23Cái đẹp trong tác phẩm Y Kawabata còn là cái đẹp của sự giản dị
"Wabi, đó là vẻ đẹp thường ngày, là sự chừng mực thông minh, là cái đẹp của
sự giản dị " [42, 45] Nếu như sabi nói lên mối quan hệ giữa nghệ thuật và tự nhiên, nghệ thuật với thời gian thì wabi lại là nhịp cầu giữa nghệ thuật và cuộc sống Tiếp nhận wabi như một trong bốn tiêu chí thẩm mĩ truyền thống
cơ bản, tác phẩm của Y Kawabata ngập tràn sự giản dị, cái đẹp của ngày thường trong cốt truyện, trong ứng xử của các nhân vật, trong từng chi tiết
nhỏ của cốt truyện Tác phẩm của ông dường như không có chuyện Cố đô là nơi hai chị em sinh đôi gặp lại nhau sau bao ngày lưu lạc Người đẹp ngủ mê
kể về một ông già đi tìm tuổi xuân đã mất Ngàn cánh hạc xoay quanh một chén trà Xứ tuyết là nơi người ta đi tìm lại chính mình Những câu chuyện
mang vẻ đẹp giản dị nhưng giàu sức lôi cuốn được chuyển tải bằng lối kể chân thật, gần gũi, không tô điểm cầu kì mà dịu dàng đằm thắm
Có thể nói, tác phẩm của Y.Kawabata mang vẻ đẹp của cốt cách Nhật Bản, tâm hồn Nhật Bản, lối tư duy Nhật Bản Đọc những trang văn của Y.Kawabata người đọc bắt gặp những cái đẹp Nhật Bản như những hình ảnh thiên nhiên mỹ lệ thuần Nhật, những con người mang tinh thần Nhật, những địa danh quen thuộc của đất nước Nhật Bản Đó là một cố đô Kyoto cổ xưa, một đảo Izu tươi mát trong lành, một xứ tuyết hoang sơ với rất nhiều suối nước nóng nổi tiếng Mỗi địa danh ẩn chứa một vẻ đẹp mời gọi sự khám phá của người đọc Điều đó không những giúp người đọc có được những hình dung cụ thể, sinh động hơn về đất nước Nhật Bản xinh đẹp mà còn bộc lộ rõ niềm tự hào và tình yêu đất nước sâu sắc của tác giả Nhật Bản qua tác phẩm của Y.Kawabata là một đất nước có một nền nghệ thuật mang sắc thái thẩm
mĩ và giàu tính nhân văn, một nền nghệ thuật tôn thờ cái đẹp Đó là một đất nước với nghệ thuật trà đạo, nghệ thuật cắm hoa, thư đạo, nghệ thuật cây cảnh Đó là một đất nước "với các đền thờ Thần đạo và chùa chiền Phật giáo,
Trang 24những khu thủ công xưa và vườn thực vật, nơi đây có một chất thơ mà Y Kawabata thể hiện một cách tinh tế và cao nhã, không đa cảm, mà một cách
tự nhiên, như một lời kêu gọi đầy cảm xúc" [23,959] Trong tác phẩm của mình, Y.Kawabata luôn thể hiện khát vọng tìm về với vẻ đẹp truyền thống
"Trong làn sóng Mỹ hoá mạnh mẽ thời hậu chiến, tiểu thuyết của ông là lời nhắc nhở nhẹ nhàng về sự cần thiết phải cố mà giữ lấy một cái gì đó của vẻ đẹp và tính độc đáo cổ xưa của nước Nhật vì cái mới" [23,959 - 960]
1.1.3.2 Khát khao khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên
Hoa thắm mùa xuân;
Cu gù tiết hạ;
Trăng thu óng ả;
Tuyết đông
Giá lạnh, tinh khôi.
Mở đầu diễn từ nhận giải Nobel, Y.Kawabata đã trích dẫn những câu thơ trên của thiền sư Dogen và cả những câu thơ bất hủ ca ngợi thiên nhiên của hai nhà thơ nổi tiếng: Saigyc - nhà thơ của hoa anh đào và Myoe - thi sĩ của ánh trăng, và ông bộc bạch: "Tôi thường chép tặng mọi người những câu thơ này vì chúng chan chứa lòng nhân hậu, tình cảm ấm áp, đằm thắm đối với thiên nhiên và con người, thể hiện sự dịu dàng sâu lắng của tâm hồn Nhật Bản" [23,963] Y.Kawabata cũng như các nhà văn, nhà thơ phương Đông khác trong tác phẩm của mình luôn khát khao được khám phá, được thể hiện
vẻ đẹp thiên nhiên So với văn chương phương Tây, trong văn chương phương Đông thiên nhiên luôn có một vị trí đặc biệt R.Tagore đã lí giải điều
đó như sau: "Ở phương Đông chúng tôi, sự yên tĩnh trong suốt của những đêm tối, sự chói sáng của ánh mặt trời những buổi trưa đầy nắng hoà vào làn sương mù dịu dàng trong bầu trời xanh, bản nhạc buồn của cuộc sống được cảm nhận nổi trôi trong cõi vô cùng, dường như đang thì thầm vào tai chúng
Trang 25tôi những điều bí mật lớn lao của sự tồn tại mà không một phương tiện nào có thể biểu đạt được" (Chuyển dẫn [13,56]) Còn M.Bashô - nhà thơ thiền sư Nhật Bản lại quan niệm: "Chỉ cần vô thường, một đoá hoa cũng đủ làm ngây ngất một bầu trời ảm đạm" (Chuyển dẫn [13,56]) Do vậy trong sáng tác của các nhà thơ phương Đông luôn có sự hiện diện của một thế giới thiên nhiên phong phú và đa dạng Trong tác phẩm Y.Kawabata, thiên nhiên tồn tại như một hệ thống biểu tượng, chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa, góp phần thể hiện nội tâm nhân vật, bộc lộ sâu sắc chủ đề tư tưởng tác phẩm.
Y Kawabata đã từng trích dẫn câu nói của Giáo sư Iasiro Iukio, một người rất am hiểu văn hoá phương Đông và phương Tây: "Có thể gói gọn đặc trưng của nghệ thuật Nhật Bản trong một câu thơ: “Không lúc nào nghĩ đến bạn bè thân thiết như khi ngắm tuyết, trăng, hoa" [23,963] và ông cho rằng
"Sự chiêm ngưỡng cái đẹp đánh thức trong ta cảm xúc mãnh liệt về sự cảm thông và tình yêu, và lúc đó hai tiếng con người vang lên như bạn bè Những
từ "tuyết, trăng, hoa" - nói về vẻ đẹp của bốn mùa thiên nhiên thay nhau nối tiếp - theo truyền thống Nhật Bản là tượng trưng cho vẻ đẹp nói chung: của núi, sông, cỏ cây, của vô vàn những hiện tượng tự nhiên và vẻ đẹp của cảm xúc con người" [23, 964] Trong tác phẩm của mình, Y.Kawabata không chỉ thể hiện khát vọng chiêm ngưỡng, khám phá, lĩnh hội vẻ đẹp tuyết, trăng, hoa
mà còn bộc lộ năng lực tái hiện vẻ đẹp thiên nhiên thuần khiết này Người Nhật từ xa xưa vốn đã có thái độ rất trân trọng đối với thiên nhiên Ngay từ thời Heian, người Nhật đã coi thiên nhiên là biểu tượng của nền văn hoá dân
tộc Trong Ise - monogatari, hợp tuyển cổ xưa nhất của những uta -
monongatari Nhật Bản, có một thiên truyện ngắn kể về việc Ariwara Yukihira
đã cắm loài hoa nào đón khách: "Là một người tinh tế, ông cắm vào bình một bông hoa đậu khác thường: cuống hoa mềm dài hơn một thước tây" Theo Y.Kawabata, gần một ngàn năm trước đây, bông hoa đậu có cuống dài này là
Trang 26biểu tượng của văn hoá Heian Hoa đậu là loài hoa trang nhã, duyên dáng - đúng phong cách Nhật Bản Khi nở, bông hoa rủ xuống, khẽ khàng đung đưa trước gió, không phô trương sặc sỡ, khi hiện ra, lúc náu kín trong đám lá xanh rờn đầu hạ, thể hiện một nét duyên đằm của vạn vật [23,972] Người Nhật hiện đại cũng rất yêu thiên nhiên Ở Nhật, người ta thường tổ chức những chuyến xe lửa chở khách nhàn du nghe sơn ca hót lúc nửa đêm, xem hoa anh đào nở, ngắm lớp tuyết đầu tiên tô điểm núi non Vào mùa hè, người ta còn tổ chức những chuyến du lịch kết hợp với những chuyến đi săn đom đóm Tác phẩm của Y.Kawabata đã thể hiện đúng tinh thần nhân văn ấy của người Nhật Đọc văn của ông, ta có cảm giác như đang thả hồn vào một thế giới mà cái đẹp bao trùm Những giá trị truyền thống Nhật Bản, cảnh sắc thiên nhiên dưới ngòi bút ông hiện lên rõ ràng như tranh vẽ Thiên nhiên như được ngòi bút ông nâng niu Ông không miêu tả thiên nhiên, ông vẽ lại thiên nhiên, sống động với đủ sắc thái hình ảnh phù hợp với từng cung bậc cảm xúc và trong sáng tươi đẹp: "Giá một khi không có anh đào ra hoa, chỉ tấm áo màu xanh của thông thôi cũng đã thoả mắt Cho dù bây giờ đây, màu xanh trinh nguyên của thông và làn nước hồ trong vắt có lẽ chỉ là nền tôn thêm những đoá anh đào phớt hồng" [23,589]
Thiên nhiên được Y.Kawabata miêu tả trong vẻ đẹp hoà hợp, trong mối tương giao với vẻ đẹp của tâm hồn con người Hay nói cách khác nhà văn sử dụng thiên nhiên như một phương tiện, một thứ ngôn ngữ đặc biệt để thể hiện nội tâm nhân vật Bởi khám phá vẻ đẹp tâm hồn con người cũng là một trong những khuynh hướng chủ đạo trong cảm hứng sáng tác của Y.Kawabata
1.1.3.3 Vẻ đẹp của tâm hồn con người
Mang nét đẹp phẩm chất của một tâm hồn phương Đông tiêu biểu, Y.Kawabata trong tác phẩm của mình luôn thể hiện thái độ trân trọng ngợi ca
Trang 27sự thanh tao, trong sáng của tâm hồn con người Nhân vật của Y.Kawabata mang vẻ đẹp tâm hồn thuần khiết, thánh thiện.
Singo và Kikuco trong tiểu thuyết Tiếng rền của núi thực sự là những
người Nhật Bản truyền thống Họ yêu cái đẹp, trân trọng và rung động sâu xa trước nó Singo rất yêu cây cỏ, ông quan tâm đến cả một bông cúc gai nhỏ bé:
"Bất đồ ánh mắt ông bắt gặp một bông hoa cúc gai rụng dưới cửa sổ Cánh
hoa đã rụng hết, nhưng cuống vẫn còn tươi Cúc gai là một giống hoa chịu
đựng giỏi đến đáng khâm phục - Singo thốt lên" [23,474] Những người trong
gia đình Takichiro (Cố đô) là những người mang tâm hồn thuần Nhật Họ đối
xử với nhau bằng thứ tình cảm trong sáng, nhân hậu Ông bà Takichiro đã rất tốt bụng không những nhận nuôi Chieko mà còn thương yêu nàng như chính con ruột của mình Chieko là một tiểu thư xinh đẹp, dịu dàng, nhiều nữ tính, biết quan tâm thương yêu người khác Rồi cả Naeko, người chị em song sinh
của Chieko cũng là một người con gái có tâm hồn đẹp đẽ, lương thiện Đọc Cố
đô người ta cảm nhận được một thứ ánh sáng toả ra từ những trang văn của
Kawabata, đó là ánh sáng ấm áp của tình người
Trong tiểu thuyết Xứ tuyết, tác giả xây dựng cặp hình mẫu nhân vật lí
tưởng, đó là hình tượng người lữ khách và cô gái đẹp trinh bạch Cặp hình
tượng này từng được miêu tả trong truyện ngắn Vũ nữ Izu được ông viết vào
thời kỳ đầu, khoảng năm 1925 Vẻ đẹp của xứ tuyết kết tinh trong hình ảnh hai cô gái mà Shimamura gắn bó: Komako và Yoko Komako với làn da mượt
mà, đôi má hồng rực là biểu tượng cho vẻ đẹp trần thế, nồng nàn rực cháy như lửa khiến Shimamura không thể không say đắm; Yoko với đôi mắt sâu thẳm, giọng nói trong veo, thánh thót, tâm hồn trong trắng như tuyết là hình ảnh của một vẻ đẹp lí tưởng, thánh thiện nhưng xa vời mà Shimamura hằng mơ tưởng
Đọc Người đẹp ngủ mê, người đọc ngạc nhiên trước cách thưởng thức cái đẹp
một cách kì lạ của ông già Eguchi Eguchi đã năm lần đến ngôi nhà bí mật để
Trang 28ngắm lần lượt sáu cô gái ngủ mê với hi vọng tìm thấy sự sống động, tìm cái sống mà ông yêu, tựa hồ như đi tìm sự bất tử Vẻ đẹp thanh xuân của các cô gái say ngủ ấy đã mang lại cho những người mang mặc cảm tuổi già như Eguchi một khát vọng mãnh liệt về cuộc sống Tình dục trong tác phẩm được bộc lộ qua những rung động tâm hồn tinh tế của Eguchi không hề dung tục,
nó chỉ nhằm mục đích duy nhất là tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn con người vì thế
đã trở thành sắc dục Đó là sự rung động, thưởng thức, chiêm ngưỡng cái đẹp
và sự trinh trắng của con người Có thể thấy rõ nét đẹp tâm hồn đậm chất phương Đông trong con người Eguchi Bởi vậy có người gọi mối quan hệ giữa ông già Eguchi và các người đẹp say ngủ là "mối quan hệ biện chứng giữa cái đẹp không tự nhận thức và người chiêm ngắm" [16,154]
Tôn vinh vẻ đẹp con người là truyền thống văn hoá Nhật Bản Trong tác phẩm Y.Kawabata, truyền thống đó được phát huy cao độ Nhà văn luôn
có ý thức xây dựng những nhân vật mang tâm hồn trong sáng, thánh thiện Tìm về với vẻ đẹp truyền thống, vươn tới khát vọng tái hiện được vẻ đẹp của thiên nhiên và của tâm hồn con người chính là những nét chủ đạo trong cảm hứng sáng tác của Y.Kawabata
1.2 Tiểu thuyết Y.Kawabata
1.2.1 Khái lược về thể loại tiểu thuyết trong văn học Nhật Bản
Thể loại tiểu thuyết xuất hiện rất sớm ở Nhật Bản, cuốn tiểu thuyết ra đời đầu tiên ở Nhật Bản cũng chính là tác phẩm khai sinh cho thể loại tiểu
thuyết trên văn đàn thế giới Genji monogatari (Nguyên thị vật ngữ), tức là
Truyện Genji, ra đời vào thời Heian (từ thế kỷ IX đến XII) là cuốn tiểu thuyết
vĩ đại đầu tiên của văn học Nhật Bản Thời Heian được gọi là thời của cái đẹp
và tiểu thuyết thời Heian cũng mang những đặc điểm của văn chương thời đại này - đó là sự tôn thờ cái đẹp
Trang 29Tác giả của Truyện Genji thuộc dòng họ quý tộc lừng danh Fujiwara,
không rõ tên thật là gì, thường được gọi là Murasaki Shikibu Murasaki viết tiểu thuyết và nhật kí trong triều đại của Thiên hoàng Ichijo (986 - 1011) Tác phẩm dài khoảng 3000 trang, bao gồm 54 chương Với kiệt tác này, nữ sĩ Murasaki đã chính thức khai sinh cho nhân loại một thể loại mới là tiểu thuyết Gần mười thế kỷ sau, nhà phê bình Olga Kenyon đã cho rằng: "Phụ nữ chính là
mẹ của tiểu thuyết Tác phẩm đầu tiên mà chúng ta được biết là Truyện Genji do
bà Murasaki viết vào thế kỉ XI ở Nhật Đó là tiểu thuyết tâm lí đầu tiên của thế giới, có cảm hứng phi thường và độc đáo vô song" (Chuyển dẫn [6,111])
Ảnh hưởng của Genji monogatari hầu như bao trùm mọi phương diện
của nền văn hoá Phù Tang Y.Kawabata cũng khẳng định về giá trị của trường
thiên tiểu thuyết này: "Genji monogatari là đỉnh cao văn xuôi Nhật Bản tất cả
mọi thời đại Cho đến nay vẫn chưa có gì sánh ngang nó Bây giờ cả ở nước ngoài nhiều người đã công nhận việc vào thế kỷ thứ X xuất hiện một tác phẩm tuyệt vời và mang tinh thần hiện đại như vậy là một điều kì diệu của cả thế giới Thủa nhỏ tôi không giỏi tiếng Nhật cổ lắm, nhưng dù sao tôi cũng đã
đọc văn học Heian, và tôi rất thích tác phẩm này Kể từ khi xuất hiện Genji
monogatari, văn học Nhật Bản bao giờ cũng hướng đến với nó Đã có bao
nhiêu những tác phẩm bắt chước! Tất cả các loại hình nghệ thuật, từ nghệ thuật ứng dụng đến nghệ thuật bài trí vườn cảnh, đấy là không nói đến thơ ca,
đều tìm thấy trong Genji cội nguồn của cảm hứng cái đẹp" [23,973]
Đến thời trung đại (XIII - XVI) - thời khói lửa [6,139] chiến tranh và tôn giáo chi phối hầu như toàn bộ nền văn chương trung đại Văn chương thời Kamakura và Muromachi mang lấy cái bóng tối bi đát trong từng trang tuỳ bút, trong lời ca ngâm của nghệ sĩ mù hát rong và trên sân khấu u huyền của kịch Nô Tác phẩm điển hình của thời kỳ này là tập tiểu thuyết liên hồi
Truyện kể về dòng họ Heike phản ánh cuộc tranh giành quyền bính tàn nhẫn
Trang 30giữa hai dòng họ Tuy thời trung đại chưa có cuốn tiểu thuyết nào đạt tới đỉnh
cao như Genji monogatari nhưng đã đặt nền móng vững chắc cho thời đại tiếp
theo: thời Edo
Thời Edo (từ thế kỷ XVII đến 1868) được gọi là thời đại văn chương phù thế Linh hồn của thời đại có thể được gọi lên bằng một chữ hàm súc
ukiyo (phù thế) Ukiyo ban đầu có nghĩa là một thế giới phù sinh, vô thường
theo quan niệm Phật giáo Vào thời Heian, chữ ukiyo được hiểu là thế giới buồn, cõi ưu sầu Đến đầu thời Genroku, chữ uki nghĩa là ưu được hiểu theo chữ uki nghĩa là phù (nổi trôi) Từ đó, chữ ukiyo mang nhiều ý nghĩa mới,
thường ám chỉ những gì mới mẻ, đam mê và tận hưởng cuộc sống Nói đến tiểu thuyết thế kỉ XVII, người ta nhắc đến Saikaku (1641 - 1693), cây bút số
một của nền văn chương Phù thế thảo tử Tiểu thuyết của Saikaku có thể chia thành hai đề tài lớn là sắc tình và tiền tài Ở đề tài thứ nhất tiêu biểu là các tác phẩm Người đàn ông đa tình (54 chương), và Người đàn bà đa tình (24 chương) Đề tài thứ hai mà tiểu thuyết Saikaku thường khai thác là tiền tài Tác phẩm mở đầu là bộ Kho tàng vĩnh cửu ở Nhật Bản (1688) Tính chất hiện thực trào lộng của Ihara Saikaku đã làm dấy lên một phong trào khôi phục văn
chương Ihara Saikaku vào cuối thế kỷ XIX sau khi ông bị lãng quên gần hai
thế kỷ
Sau Saikaku, người được xem là bậc thầy lớn nhất của văn xuôi thế kỷ XVIII là Ueda Akinari (1734 - 1809) Ông để lại dấu ấn tài hoa của mình trong cả ba thể loại tiểu thuyết, thơ ca và khảo luận Với hai tiểu thuyết đầu
tay ông đã nổi tiếng là người kế vị Saikaku Linh hồn của bà chủ thế gian -
một trong hai cuốn tiểu thuyết đó của ông được xem là tác phẩm lớn đương thời Sau Akinari, người sáng tạo ra những trang văn xuôi của tiếng cười, giàu tính chất hoạt kê nhất trong văn chương Nhật Bản là Jippensha Ikku (1765 -
1831) với tác phẩm nổi tiếng là Gót chân giang hồ Đây được xem là tác phẩm
Trang 31giàu tính hiện thực Theo cách nói của J.A.Michener “bụi bặm từ Edo đến
Kyoto bay qua từng trang văn của Ikku” (Chuyển dẫn từ [6, 256]) Với Gót chân giang hồ, lần đầu tiên văn chương Nhật đi sâu vào từng chi tiết của cuộc
sống thường ngày Khác với Akinari và thế giới huyền ảo, cõi nhân gian của Ikku tuy không đẹp bằng nhưng thật là gần gũi, có thể sờ mó được, đầy mùi hương trần thế và đầy tiếng cười
Ngoài Saikaku và Ikku, các tiểu thuyết gia nổi tiếng khác của thời Edo
là Ejima Kiseki (1667 - 1736) với các tác phẩm như Tính cách các chàng trai
thế gian (1715), Tính cách các cô nàng thế gian; Santo Kyoden (1761 - 1816)
- nhà văn lãng mạn đầu tiên của tiểu thuyết thời Edo với tác phẩm nổi tiếng
nhất của ông là Inazuma Hyoshi xây dựng theo đề tài báo thù rất quen thuộc
với người Nhật; Takizawa Bakin (1767 - 1848) - nhà văn lãng mạn mà tên
tuổi vượt qua Kyoden, với cuốn tiểu thuyết trường thiên Truyện tám con chó (1814 - 1841); Shikitei Samba (1775 - 1822) với Nhà tắm thế gian (1809) - một cuốn sách lí thú, được nhiều nhà phê bình so sánh với Gót chân giang hồ của Ikku; Ryutei Tanehiko (1783 - 1842) với cuốn Chàng Genji điền dã, nhại lại kiệt tác thời Heian là Genji monogatari; Tamenaga Shunsui (1789 - 1842) với Cuốn lịch hoa mơ (1833).
Tiểu thuyết thời hiện đại - thời Minh Trị mở ra một kỷ nguyên mới trong tiểu thuyết Nhật Bản Trong khoảng 20 năm đầu, tiểu thuyết thời Minh Trị chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây đậm nét Trên văn đàn Nhật Bản cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã xuất hiện những nhà văn mang tư tưởng mới, họ hướng về phương Tây, bỏ các đề tài truyền thống, hoặc nếu có quay
về truyền thống thì cũng dưới góc độ một người phương Tây tìm cái đẹp li kì
ở một nơi xa lạ Tiêu biểu nhất là bốn nhà văn lớn chịu ảnh hưởng của bốn nền văn hoá Nga, Đức, Anh, Pháp Nhà văn Phutabalei Simei (1864 - 1909)
dịch tiểu thuyết Nga rồi viết tiểu thuyết Mây trôi phê phán một xã hội đầy
Trang 32tham vọng Mori Ogai (1862 - 1922) học ở Đức với Truyện Vũ nữ là một tác
phẩm lãng mạn mở đầu cho tiểu thuyết về cái tôi miêu tả sự tan vỡ của mối tình giữa một thanh niên Nhật và một cô gái Đức do chế độ quan liêu độc đoán Natsume Xoxeki (1867 - 1916) học văn học ở Anh viết các tiểu thuyết
châm biếm xã hội sâu sắc, như: Tôi là con mèo và Cậu ấm Simazaki Toxon
(1872 - 1943) từng ở Pháp theo khuynh hướng hiện thực phê phán với tiểu
thuyết Thất ước và Trước khi tảng sáng
Vào cuối thời Minh Trị nhiều nhà văn lớn xuất hiện, viết theo nhiều phong cách, như: hiện thực mới, duy cảm chủ nghĩa, chủ nghĩa tự nhiên, tượng trưng, đa đa, siêu thực Trước hết phải kể đến là Tanizaki Yunichiro (1886 - 1965) viết về những xung đột nội tâm giữa Đông và Tây với những
tác phẩm tiêu biểu như Mối tình một anh ngốc (1925) và Chiếc chìa khoá
(1956) R.Akutagaoa (1892 - 1927) tuy thấm nhuần văn hoá phương Tây, ông thường lấy đề tài rất đa dạng trong văn học cổ Nhật và Trung Quốc Siga Naoya (1883 - 1971) với văn phong kết hợp cái đẹp của những rung cảm và phân tích tâm lí rất tinh tế Trong số những nhà văn lớn nổi lên sau thập kỉ
1905 - 1915 phải kể đến là hai bậc thầy về tiểu thuyết tâm lí Yokomittru
Riichi và Yasunari Kawabata theo khuynh hướng Tân cảm giác, chống lại
trường phái vô sản và chủ nghĩa hiện thực dung tục
Trong dòng văn học đương đại từ 1945 về sau, những nhà văn đã nổi tiếng giữa hai cuộc chiến tranh như Tanizaki và Y Kawabata vẫn theo hướng
cũ Trong số những nhà văn trẻ nổi lên sau chiến tranh, Mishima Yukio (1925
- 1970) là một nhà văn duy mĩ, hiểu biết uyên bác về văn hoá phương Đông
và phương Tây Ngoài một số tác phẩm thuộc các thể loại khác, ông viết 12 tiểu thuyết, miêu tả tâm trạng bệnh hoạn của thế hệ thanh niên thời hậu chiến, hoang mang, ít gắn bó với dĩ vãng Inoure Yacusi (1907) với tiểu thuyết thấm đượm chất thơ, miêu tả sự cô đơn của con người, những hành động không
Trang 33mục đích, chủ nghĩa hư vô Abe Kobo (1924), viết tiểu thuyết tâm lí gần triết học hiện sinh, hiện thực lẫn với hư cấu, đặt vấn đề số phận con người qua biểu tượng Oe Kenzabưro (1935) viết về sự tha hóa trong xã hội Nhật Bản hiện đại Văn phong của ông độc đáo, mang tính biểu tượng, thế giới mộng
mị, tâm lí khúc mắc, tình dục, lịch sử và chính trị
Điểm qua quá trình phát triển và những khuynh hướng cơ bản của tiểu thuyết ở Nhật Bản, có thể thấy truyền thống văn học từ thời Heian đến thời Kamakura, Muromachi qua thời Edo là cái nôi nuôi dưỡng, hình thành tài năng văn học Y Kawabata Đúng như nhận xét của Thụy Khuê: "Từ Murasaki đến Kawabata, trải dài 10 thế kỷ, chúng ta lại tìm thấy tâm hồn Nhật Bản trong Kawabata " [23,986] Mặt khác, những đổi mới của văn học Nhật Bản sau cuộc duy tân Minh Trị đã giúp hình thành những tư duy tiểu thuyết hiện đại Kawabata Cách tiếp nhận văn hoá của Y Kawabata cũng chính là cách mà người Nhật đã làm để tạo nên một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc mà vẫn tiếp thu được những tinh hoa bên ngoài
1.2.2 Quá trình sáng tạo tiểu thuyết của Y.Kawabata
Quá trình sáng tạo tiểu thuyết của Y.Kawabata là cuộc hành trình lựa chọn, kiếm tìm, trăn trở để tìm đến được chân lí cuộc sống và cái đẹp Tiểu thuyết của ông đã phản ánh sâu sắc cái tâm của một người cầm bút
Năm 1934, Y.Kawabata bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên của
mình: Xứ tuyết Thực ra ý tưởng này đã được manh nha từ kiệt tác truyện ngắn thành công đầu tiên của đời ông là Vũ nữ Izu Tiểu thuyết Xứ tuyết
dường như là sự tiếp nối nguồn mạch cảm hứng về văn phong đầy chất thơ và cặp hình tượng nhân vật người lữ khách - cô gái đẹp trinh bạch đã xuất hiện
từ truyện ngắn Vũ nữ Izu Tạp chí Nihon Hyoron (Công luận Nhật Bản) đã đăng chương đầu tiên của Xứ tuyết vào tháng 11 năm 1935 Những chương
tiếp theo tiếp tục được đăng trên nhiều báo khác nhau cho tới tháng 5 năm
Trang 341937, khi tiểu thuyết hoàn thành Trước khi tiểu thuyết ra mắt, Y Kawabata đọc tổng quát, sửa chữa lại từng chương một Tác phẩm được các nhà phê bình hoan nghênh và được đọc rộng rãi.
Năm 1937, Xứ tuyết cùng với Nhà hát cuộc đời của Ozaki Shiro đoạt chung giải thưởng của Hội thảo văn học Ngay sau đó, cuốn tiểu thuyết này được biên soạn thành một vở kịch Trước khi Xứ tuyết ra đời người ta chỉ biết
đến tác giả của nó chủ yếu qua những tiểu luận phê bình của ông, nhưng từ năm 1935 trở đi, danh tiếng của Y Kawabata trong giới văn chương Nhật Bản đã được khẳng định Y Kawabata viết thêm hai chương nữa vào năm
1939 và 1940, sửa lại chúng, cuối cùng hoàn thành tác phẩm vào năm 1947 Theo Donald Keene: "Trong thực tế, không lâu trước khi chết, Kawabata đã viết một đoạn "cỡ lòng bàn tay " giải thích về tác phẩm, đó là bằng chứng cho thấy ông xem nó như một tác phẩm then chốt trong sự nghiệp của mình" [23,1053] Trong vòng 13 năm, từ 1934 đến 1947, các chương được ông viết
đi viết lại nhiều lần Kết quả là cuốn tiểu thuyết này ngay sau khi hoàn thành
đã được người Nhật Bản coi như là báu vật của quốc gia Và năm 1968, nó đã góp phần đưa về cho Kawabata và đất nước Nhật Bản giải thưởng Nobel văn
học cùng với Ngàn cánh hạc và Cố đô
Ngàn cánh hạc là cuốn tiểu thuyết được nhà văn viết tiếp nối sau cuốn
Xứ tuyết Năm 1949 ông bắt đầu viết Ngàn cánh hạc và đến năm 1951 thì
hoàn thành Ngàn cánh hạc cũng đã được đăng trên báo từ năm 1949 Ông
viết từng mảng, mỗi mảng là một truyện, tất cả có năm truyện Tác phẩm hoàn tất trở thành một cấu trúc tiểu thuyết chặt chẽ, ra đời năm 1951, trong bối cảnh nước Nhật đang mất dần những truyền thống cũ trong đó có trà đạo
Tác phẩm dựa trên một nền trà mà gốc rễ đã lung lay Xuất hiện năm 1951, ngay lập tức, Ngàn cánh hạc đoạt được giải thưởng của Viện hàn lâm nghệ
thuật Nhật Bản Truyện là sự đan xen của hai cốt truyện lồng ghép với nhau
Trang 35Câu chuyện không chỉ xoay quanh chuyện trà đạo, một thú chơi nghệ thuật truyền thống mà nó còn chứa đựng vấn đề ý thức xã hội của thế hệ trà đạo và
hậu trà đạo Ngàn cánh hạc cũng như Xứ tuyết, đưa người đọc vào một thế
giới của những rung động thầm kín nhất, say đắm nhất nhưng cũng tinh tế nhất của tâm hồn Nhật Bản
Năm 1952, Y.Kawabata giới thiệu với độc giả cuốn tiểu thuyết tiếp
theo của ông: Tiếng rền của núi Cũng như các cuốn tiểu thuyết khác của Y Kawabata, Tiếng rền của núi bắt đầu được đăng nhiều kì trên các báo từ năm
1950, gồm các phần nối tiếp nhau sau đó được gộp lại thành một tác phẩm
hoàn chỉnh vào năm 1952 Tuy được sáng tác cùng thời kì với Ngàn cánh hạc nhưng Tiếng rền của núi lại được viết với một phong cách rất khác biệt Nếu như Ngàn cánh hạc hướng về nền nghệ thuật trà đạo với sự mai một dần của
nó thì Tiếng rền của núi lại xoáy vào nội tâm của một con người: ông già Singo Nếu như Ngàn cánh hạc là tiếng thở dài nuối tiếc của nhà văn về sự xuống cấp của một nền văn hoá thì Tiếng rền của núi là âm vang về nỗi cô đơn của một kiếp người Tiếng rền của núi mở ra một phong cách nghệ thuật
mới cho tiểu thuyết Y.Kawabata Truyện không có cốt truyện, không tình tiết
gay cấn, không sử dụng bút pháp hư ảo hay thủ pháp tấm gương như trong Xứ
tuyết, cũng không sử dụng hình ảnh mang tính biểu tượng, tạc vào kí ức người
đọc như Ngàn cánh hạc Nó chỉ miêu tả đời sống sinh hoạt hàng ngày của gia
đình ông già Singo một cách bình thường giản dị Tuy vậy, chính cái bình thường giản dị ấy của tác phẩm lại chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa Điểm nổi
bật trong Tiếng rền của núi là sự kiệm lời Nét nổi bật khác nữa là chân dung
của các nhân vật không được khắc họa thực sự sắc nét và đầy đủ như những nhân vật có cá tính đặc biệt, cũng không mang những cá tính theo phong cách điển hình hóa nhân vật Tác giả không hề đưa ra một thái độ thực sự rõ ràng, dứt khoát nào đối với hành vi, suy nghĩ của mọi nhân vật Không lên án,
Trang 36không ca ngợi Người đọc sẽ tuỳ theo cách nghĩ của mình mà đưa ra thái độ đối với sự việc và nhân vật Trong truyện, nhiều khi, không phải ranh giới giữa đúng và sai mơ hồ, mà ngay cả ranh giới giữa được và mất, giữa hay và
dở cũng mơ hồ Và vì thế, nó tạo ra một tâm trạng bất an, bối rối nào đó Có thể gọi đây là lối viết truyện theo cấu trúc mở rất hiện đại và cũng rất truyền thống của Y Kawabata Hiện đại ở sự ảnh hưởng của văn học phương Tây trong cách kết truyện bỏ ngỏ, trong cảm thức về thời gian Truyền thống ở cách viết kiệm lời, ở thi pháp chân không gần gũi với cách diễn đạt của thơ haiku
Năm 1960 là năm khởi đầu một loạt bài đăng hai năm trên một tạp chí
phụ nữ với nhan đề là Đẹp và buồn Nối tiếp cảm hứng bi ca trong các tiểu thuyết khác sau chiến tranh nhưng Đẹp và buồn lại mang một phong cách
hoàn toàn mới mẻ so với các cuốn tiểu thuyết trước đó Khi cuốn tiểu thuyết
ra đời người ta lập tức nhận thấy rằng đây chính là tác phẩm thể hiện được rõ nhất phong cách nghệ thuật của Y.Kawabata Như chính tên gọi của cuốn tiểu thuyết, đẹp và buồn là hai địa hạt chủ yếu của cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Kawabata Tác phẩm là sự đan xen giữa cái đẹp và nỗi buồn, dư âm của sự kết hợp hai sắc thái cảm xúc đó toả hương bàng bạc trong cả tác phẩm Cái đẹp của mối tình, với mối thương đau giày vò tâm can, với thăng trầm của cái gọi là tình yêu, rồi tình dục, sex, và gia đình, về người đàn ông và người đàn bà, về chuyện ba người, về oan trái đồng tính
Một tác phẩm khác của Y Kawabata là cuốn tiểu thuyết Cố đô đăng trên nhật báo Asahi và được Giải thưởng văn hóa (Bunka Kunshoo), một phần
thưởng cao quý nhất nước Nhật Năm 1961, ông cho xuất bản cuốn tiểu
thuyết này Cố đô là một trong ba tác phẩm của Y Kawabata được Ủy ban
giải thưởng Nobel dẫn chứng khi tặng giải Tác phẩm đã nói lên các vẻ đẹp của thành phố Kyoto và các truyền thống cổ, với các phụ nữ Kyoto còn giữ
Trang 37các vẻ duyên dáng, không bị nền văn hóa phương Tây làm biến chất Cùng với phần lớn du khách, Y Kawabata ước muốn rằng lối sống cổ truyền Nhật Bản vẫn được duy trì.
Năm 1969, kiệt tác cuối cùng của Y.Kawabata ra đời: Người đẹp ngủ
mê Có lẽ đây là cuốn tiểu thuyết có đề tài độc đáo nhất của nhà văn Tác
phẩm khi xuất bản thành sách, cũng đoạt Giải thưởng văn hóa Mainichi (The
Mainichi Cultural Prize) Đây là một cuốn tiểu thuyết ngắn (novella), lúc mới
xuất hiện bị kết án là “suy đồi đạo đức” Người đẹp ngủ mê của Y.Kawabata
rất tiêu biểu cho lối văn phong sử dụng thủ pháp dòng ý thức, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại phương Tây Một tác phẩm không có cốt truyện, chỉ là
sự chắp nối rời rạc của những mảng kí ức và hiện tại Những trinh nữ gợi lại cho một ông già 67 tuổi hình ảnh của những người phụ nữ đã đi qua đời ông
ta, có thể đó là một sự gặp gỡ vô tình, có thể đó là một sự say đắm Và có lẽ
đó là một cái đẹp hài hòa, bản nguyên, đơn giản và cụ thể, người ta có thể đụng chạm, nắm bắt và so sánh
Như vậy có thể nói Y Kawabata không chỉ viết về tiểu thuyết nhưng chính tiểu thuyết là thể loại đã đưa ông vào số những nhà văn nổi tiếng nhất thế kỷ XX Sự ra đời của hơn chục cuốn tiểu thuyết đã khiến Y Kawabata trở thành một "tỷ phú" văn chương Quá trình sáng tạo tiểu thuyết, với Y Kawabata, cũng là hành trình tìm kiếm, khám phá và thể hiện cái đẹp Lần theo chân hành trình sáng tạo của Y Kawabata, bao giờ cũng có mặt nỗi cô đơn và cái chết, tình yêu và hoa tình, nằm ở hậu cảnh là những gợi mở tinh tế
về những vườn hoa, những phong cảnh, những mùa trong năm Ông thiết tha bảo vệ những rung động của đời sống tình cảm, chống lại chủ nghĩa vật chất Sáng tác của ông chủ yếu thể hiện nội tâm Vì thế ông được coi là bậc thầy về tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết hướng nội
1.2.3 Hướng nội - đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Y.Kawabata
Trang 38Hướng nội là một đặc trưng cơ bản của tư duy tiểu thuyết Y.Kawabata
Cơ sở hình thành tính chất hướng nội của tiểu thuyết Kawabata là lối tư duy Nhật Bản Từ xưa đến nay, người Nhật luôn tạo cho mình một lối sống tương đối độc lập, cách biệt với thế giới bên ngoài Họ có xu hướng tìm kiếm cái đẹp trong thế giới tĩnh lặng, thế giới của suy tưởng, chiêm nghiệm Người Nhật có thể ngồi thiền nhìn đá mọc, uống trà chén không là nhờ tinh thần hướng nội ấy Họ cũng rất đề cao cái tĩnh lặng, u hoài trong đời sống và trạng thái buồn, cô tịch dường như thấm nhuần trong nghệ thuật, khiến chúng trở thành một trong những tiêu chí thẩm mỹ Trong cảm thức của người Nhật cái đẹp thường gắn với niềm bi cảm Điều ấy chứng tỏ ngay từ thời xưa, người Nhật thường đi sâu vào thế giới bên trong con người hơn là khai phá hiện thực khách quan ngoài đời sống Tính chất hướng nội trong văn học Nhật Bản
là sản phẩm của một xã hội mà tôn giáo, triết học đã thâm nhập một cách sâu sắc vào mọi suy nghĩ và hành vi ứng xử của con người Tư duy hướng nội là quá trình nội cảm hoá khách thể, và biểu đạt khách thể bằng một thế giới hình tượng cụ thể cảm tính Tư duy hướng nội là cách thức người nghệ sỹ trở về với chính mình, khám phá những bí ẩn trong thế giới tinh thần của con người
Tính chất hướng nội là một trong những xu hướng phát triển mạnh mẽ của tiểu thuyết thế kỷ XX Ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX, đã xuất hiện dòng tiểu thuyết tâm lý, một thể loại tiểu thuyết mà nhà văn không đi sâu vào những biến động của đời sống bên ngoài, những mâu thuẫn dân tộc, giai cấp hay các trào lưu tư tưởng mà chủ yếu đi vào những xung đột bên trong nội
tâm con người Mở đầu cho dòng tiểu thuyết tâm lí là cuốn Đi tìm thời gian
đã mất của M.Proust xuất hiện cuối thế kỷ XIX Sau đó thể loại tiểu thuyết đi
vào phản ánh thế giới bên trong con người ngày càng phát triển và được độc giả đón đọc Bởi nó thể hiện những xúc cảm nội tâm của con người nên nó gần gũi với con người Trong tiểu thuyết hướng ngoại, nhà văn thường lấy cái
Trang 39khách quan bên ngoài suy xét cái thế giới bên trong, do đó trong tiểu thuyết hướng ngoại cốt truyện thường diễn ra theo các sự kiện hành động Hành động là tiền đề cho mạch chảy tâm lí, cho cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt trong tâm hồn nhân vật Còn tiểu thuyết hướng nội tư duy lại thiên về duy cảm, lấy cái chủ quan để suy xét thế giới, chú trọng vào những diễn biến của tâm hồn hơn là sự kiện hành động Trong tiểu thuyết của mình, Y Kawabata thường buông lõng các sự kiện chi tiết, hành động mà thay vào đó là mô tả nội tâm nhân vật một cách đa chiều, đa diện phức tạp Nhà văn chủ yếu khai thác chất kết dính những mảnh rời của tâm trạng nhân vật, những gấp khúc quanh co của đời người Trong tiểu thuyết Y Kawabata, các sự kiện ít, mạch chuyện chậm, tác giả để dòng hồi ức, liên tưởng của nhân vật trôi chảy tự nhiên tạo nên sự phát triển tâm lí nhân vật Trong tác phẩm của ông sự kiện rất ít ỏi, chủ yếu là vô vàn những tầng sâu của thế giới nội tâm nhân vật
Y.Kawabata đã đưa thể loại tiểu thuyết tâm lí phát triển đến đỉnh cao bằng khuynh hướng duy cảm và duy mĩ của mình Theo Kawabata "mục đích của nhà nghệ sỹ không phải ở chỗ tìm cách làm cho mọi người kinh ngạc sửng sốt bằng các li kì, quái dị mà ở chỗ biết dùng chỉ vài vào phương tiện ít
ỏi nhưng nói lên được nhiều nhất, biết dùng ngôn từ và màu sắc để truyền đạt cảm xúc và kinh nghiệm nhìn đời của mình" [52,43] Chính vì vậy, ông được coi là một bậc thầy của tiểu thuyết tâm lý Ông bảo vệ những rung động của đời sống tình cảm, chống lại chủ nghĩa vật chất, tìm một cái đẹp tuyệt đối vượt qua cái sống, cái chết và những công thức luân lý xã hội Sáng tác của ông chủ yếu thể hiện nội tâm bằng ngôn ngữ có tính thơ, ấn tượng chủ nghĩa, không tìm tình tiết hấp dẫn Tiểu thuyết Kawabata đi vào khai thác những diễn biến tinh tế trong nội tâm con người Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Kawabata là thế giới nhân vật tâm trạng, những con người mang nặng những mâu thuẫn trong tâm hồn Nhà văn có biệt tài mổ xẻ những rung động tế vi ẩn
Trang 40khuất bên trong con người Cốt truyện tiểu thuyết của Kawabata thường rất đơn giản, không xung đột, ít tình tiết Y Kawabata xây dựng thế giới nhân vật của mình không phải theo trục xung đột của tốt - xấu, thiện - ác, chính diện - phản diện của những mối quan hệ chằng chịt mà chủ yếu theo những xung đột
mâu thuẫn bên trong nội tâm nhân vật Shimamura trong Xứ tuyết có một đời
sống nội tâm khá phong phú Trong cuộc sống, anh đam mê hết thứ này đến thứ khác, luôn do dự khi phải lựa chọn giữa vẻ đẹp truyền thống và hiện đại trong nghệ thuật, phương Đông hay phương Tây Trong tình yêu, anh say đắm nồng nàn với Komako nhưng lại mơ về một tình yêu lí tưởng với Yoko Người đọc luôn bị cuốn vào dòng suy tư, rung động về cảnh và người theo từng lớp tâm trạng của Shimamura Bên cạnh Shimamura, Komako là nhân vật có tâm trạng phức tạp Cô yêu Shimamura, khao khát được dâng trọn tình yêu của mình cho anh nhưng lại đau đớn nhận thấy đó là mối tình vô vọng Tâm trạng ấy xuất hiện thường trực trong tâm hồn cô "Với em - cô thì thầm -
em không hối tiếc gì Chẳng bao giờ em hối tiếc gì Nhưng em đâu phải là một người đàn bà như thế Một cuộc phiêu lưu không ngày mai và không thể lâu dài chính anh nói với em như vậy, đúng không?" [23,245] Người đọc thấy được tâm trạng rối bời đang tràn ngập trong tâm hồn Komako
Một trong những biểu hiện rõ nhất của tính chất hướng nội trong tiểu thuyết Kawabata là ông thường để cho nhân vật hoà mình vào thế giới thiên nhiên, mượn thiên nhiên để bày tỏ cõi lòng, kí thác vào đó những tâm sự kín đáo Đây là nét đặc trưng của mĩ học Thiền, được kế thừa từ những thi sĩ danh tiếng của Nhật từ ngàn năm trước Đối với tiểu thuyết hướng nội, thiên nhiên là một phần quan trọng tạo nên linh hồn tác phẩm, là yếu tố cơ bản để làm nổi bật thế giới nội tâm của con người Ở đó họ như tìm lại được ý nghĩa đích thực của cuộc sống, tìm lại được chính bản thân mình