Năm 2007, ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường chính thức được tuyển vào sách Ngữ văn với tư cách là nhà văn và tác phẩm tiêu biểu cho thể loại ký Việt Nam đươngđại
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một gương mặt tiêu biểu, xuất sắc củanền văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt ở thể loại ký Ông không nhữngđảm đương xuất sắc vai trò viết ký do Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Thạch Lam
và những người đi trước để lại mà còn làm giàu thêm cho thể loại nàynhững sáng tạo riêng, độc đáo
Nét đặc sắc trong sáng tác Hoàng Phủ Ngọc Tường là sự kết hợpnhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với
tư duy đa chiều, được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, địa
lý, lịch sử, văn hoá… Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc
tích, mê đắm và tài hoa Năm 2007, ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
của Hoàng Phủ Ngọc Tường chính thức được tuyển vào sách Ngữ văn với
tư cách là nhà văn và tác phẩm tiêu biểu cho thể loại ký Việt Nam đươngđại và đây cũng là một trong những tác phẩm ký đặc sắc nhất về vẻ đẹpthiên nhiên Huế
Thiên nhiên là một đề tài lớn trong các tác phẩm của Hoàng PhủNgọc Tường, đặc biệt là thiên nhiên Huế Với nhà văn, hình như, thiênnhiên đã hoá thân thành máu thịt cuộc đời, trở thành ám ảnh khôn nguôi.Thiên nhiên Huế trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ là một kháchthể khách quan được nhà văn khám phá mà đã trở thành những ý niệm đặctrưng trong tư duy của tác giả
Việc đi vào tìm hiểu ký Hoàng Phủ Ngọc Tường, từ trước đến nay,
đã được nhiều tác giả quan tâm Tuy nhiên, các bài viết thường chỉ mới đưa
ra các nhận định khái quát về phong cách ký Hoàng Phủ Ngọc Tường, hoặctập trung vào một nội dung nào đó trong tác phẩm của ông, chưa có một tác
Trang 4giả nào đi sâu vào nghiên cứu một cách cụ thể về thiên nhiên Huế qua ngônngữ ký Hoàng Phủ Ngọc Tường từ bình diện nhận thức.
Trong khuôn khổ giới hạn của một luận văn, chúng tôi đi vào nghiên
cứu đề tài “Thiên nhiên Huế qua ngôn ngữ ký Hoàng Phủ Ngọc Tường” để
thấy được cách nhìn nhận, quan niệm riêng của tác giả về vẻ đẹp thiênnhiên Huế thông qua hệ thống ngôn ngữ trong các tác phẩm Chúng tôi hyvọng luận văn sẽ giúp ích thiết thực cho việc tiếp cận văn bản trên bìnhdiện ngôn ngữ và việc giảng dạy thể loại ký ở trường phổ thông
2 Lịch sử vấn đề
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã dành được giải thưởng của Hội nhà vănViệt Nam năm 1980, giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm2006; và hiện nay, ông được đánh giá là cây ký xuất sắc của nền văn họcViệt Nam trong mấy chục năm qua
Thiên nhiên Huế là một đề tài nổi bật trong sáng tác của Hoàng PhủNgọc Tường Với cách tiếp cận riêng, với ngôn ngữ tài hoa, uyên bác,Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đem lại một diện mạo mới cho đề tài quenthuộc này Tuy nhiên, cho đến nay, đề tài này vẫn chưa nhận được nhiều sựquan tâm xứng đáng từ các nhà phê bình, nghiên cứu
Có thể nhận thấy rằng, từ trước đến nay, các tác phẩm của HoàngPhủ Ngọc Tường mới chỉ được tiếp cận trên bình diện phê bình văn học
Đọc ký Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Tuân – nhà ngôn ngữ ký
bậc thầy đã nhận xét: Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường có “rất nhiều ánh lửa”.
Nguyễn Tuân đã chứng minh ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là một cái gì hếtsức lôi cuốn, thúc dục khiến ta phải say mê
Tô Hoài, Hoàng Cát, Nguyễn Đăng Mạnh, Ngô Minh, Phạm XuânNguyên, Phạm Phú Phong, Trần Đình Sử… nhận thấy ký Hoàng Phủ
Ngọc Tường đậm chất Huế Trần Đình Sử nhận ra trong tập ký “Ai đã đặt
tên cho dòng sông?” một cái nhìn sâu lắng của “con người xứ Huế, một
tâm hồn Huế nồng nàn” Ngô Minh cho rằng ký của Hoàng Phủ NgọcTường hấp dẫn người đọc ở “chất Huế huyền hoặc, quyến rũ” [30] Phạm
Trang 5Phú Phong chỉ rõ: “Huế trong sáng tác của anh còn là cái thầm lặng, thâmtrầm, những tình cảm hướng nội cô độc và sâu lắng, đậm đà tinh thấn ÁĐông.” [33].
Nhiều tác giả nhận thấy, thiên nhiên là một đề tài lớn trong sáng táccủa Hoàng Phủ Ngọc Tường Lê Đức Dục viết “đọc ký của anh, ta luôn gặpmột Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn hiền kính như con chiên trước một đấngtối cao là chim muông, hoa lá, đất trời gọi tên là thiên nhiên.” [11] Trần
Đình Sử trong bài viết “Ai đã đặt tên cho dòng sông?, ký sử thi của Hoàng
Phủ Ngọc Tường” đã khẳng định “trong sách của Hoàng Phủ Ngọc Tường
đâu đâu ta cũng gặp một tâm hồn Huế thiết tha với đất nước lâu đời, nângniu, trân trọng đối với bạn bè, thiên nhiên.” [36, tr.252] Cụ thể hơn, tác giả
nhận xét“Hoa trái quanh tôi là tìm tòi về mối quan hệ con người và cây cỏ
trong tầm thức người Huế, một sự thống nhất hài hoà mang truyền thốngtriết lý sâu xa kiểu phương Đông được thể hiện thành nếp sống Huế.” [36,tr.251] Tác giả Lê Thị Hường nhấn mạnh “Là thi sĩ của thiên nhiên, nhữngtrang ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường mang đến cho người đọc những miềnkhông gian xanh thẳm, ẩn chìm những vết trầm tích văn hoá từ thiênnhiên.” [22] Như vậy, đã có nhiều tác giả nhận thấy rằng, thiên nhiên làmột đề tài lớn góp phần thể hiện tài hoa và bản lĩnh sáng tạo của ngườinghệ sĩ Hoàng Phủ Ngọc Tường
Trong sự đánh giá chung về những trang viết về đề tài thiên nhiêncủa Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhiều tác giả đã rất đặc biệt lưu tâm đến thiên
nhiên xứ Huế trong tác phẩm của nhà văn Lê Xuân Việt trong bài “Cảnh
sắc thiên nhiên trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường” đánh giá: Với Hoàng
Phủ Ngọc Tường, cảnh sắc thiên nhiên in rõ bản sắc bút pháp trong sáng
tác của anh Anh viết vế Sông Hương, Bạch Mã, về “thành phố vườn” của
Huế với những tác phẩm phong phú, đa dạng mang dấu ấn một cây bút tàihoa trong hư cấu, sáng tạo hình tượng riêng đầy tính nghệ thuật [50] Tácgiả Lê Thị Hường đã thấy được những nét rất đặc trưng của thiên nhiênHuế trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường “Huế trong những trang văn của
Trang 6Hoàng Phủ Ngọc Tường mang âm hưởng huyền hoặc của những thànhquách rêu phong, những khu vườn trầm mặc, cổ kính, những rừng thông utịch, nét trữ tình của núi Ngự sông Hương Đã từ lâu sông Hương núi Ngự
đã trở thành biểu tượng gắn kết trong thơ văn Trong đời sống văn hóa tinhthần của cư dân Huế, sông Hương núi Ngự mang vẻ đẹp cân xứng, hài hòa.Nhà văn đã tìm thấy trong vẻ đẹp sơn thủy hữu tình này một sự hòa nhập
văn hóa dòng sông, và văn hóa núi.” [22] Khi nghiên cứu về ký để đời viết
về thiên nhiên Huế “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ NgọcTường, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã thấy được “tầm vóc lịch sử và văn
hoá của xứ Huế” Tác giả viết “Ai đã đặt tên cho dòng sông có nhiều sự
phát hiện về lịch sử và văn hoá xứ Huế […] đã qua cái thời người ta chỉcảm nhận Huế đẹp và thơ trong ý vị lãng mạn, hoặc thành kiến Huế đài các,tiểu tư sản, ngưng đọng trong ý vị giai luận tầm thường Nhưng không phải
ai cũng hiểu được tầm vóc lịch sử và văn hoá xứ Huế.” [36, tr 250]
Không chỉ tìm hiểu những đặc sắc về nội dung ký Hoàng Phủ NgọcTường, các bài viết còn đặc biệt lưu ý đến nghệ thuật viết ký của ông Theo
Lê Xuân Việt “Sức hấp dẫn của ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là do tác giả sửdụng thành công các thủ pháp nghệ thuật sinh động, đa dạng” như “dùngnhững đoạn văn trữ tình giàu cảm xúc để miêu tả thiên nhiên, khả năngtung hoành của cái tôi, nghệ thuật sử dụng yếu tố lịch sử, yếu tố dân gian,truyền thống dân tộc.” [50]
Nhiều người lôi cuốn bởi những trang viết đẹp, tràn đầy cảm xúc,giàu tính trữ tình cách mạng và có nhiều chất thơ của Hoàng Phủ NgọcTường Trần Đình Sử đã rất sắc sảo khi nhận thấy “Nhịp điệu của ký hếtsức chậm rãi (phải chăng đó là điệu slow rất Huế trong văn xuôi?) khác vớiphong cách Nguyễn Tuân đầy chất văn xuôi, xương xẩu, gồ ghề với cáinhìn hóm hỉnh, ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường nghiêng hẳn về chất thơ thi
vị, ngọt ngào.” [36, tr.254]
Hầu hết các tác giả đều khẳng định những thành công trên bước đườngviết ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường, đánh giá ông là cây ký có phong cách,
Trang 7nghệ thuật viết ký tài hoa, nội dung ký đặc sắc Tuy nhiên, có thể khẳng địnhrằng, cho đến nay, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về ngôn ngữ ký
Hoàng Phủ Ngọc Tường, đặc biệt, vấn đề vẻ đẹp thiên nhiên Huế trên bình
diện ngôn ngữ còn đang bỏ ngỏ Trên đây là những tư liệu và gợi ý đáng quý
giúp chúng tôi có cái nhìn toàn diện hơn khi thực hiện đề tài “Thiên nhiên
Huế qua ngôn ngữ ký Hoàng Phủ Ngọc Tường”.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Thiên nhiên Huế được phản
ánh trong một số bài ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường qua các trường nghĩa
về thiên nhiên và qua một số cấu trúc so sánh tu từ đặc trưng
3.2 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Với vấn đề “Thiên nhiên Huế qua ngôn ngữ ký Hoàng Phủ Ngọc
Tường”, luận văn chỉ tập trung khảo sát qua các tác phẩm: Ai đã đặt tên
cho dòng sông? (Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tập 2, Nxb Trẻ,
2002), Hoa trái quanh tôi (Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tập 2, Nxb Trẻ, 2002), Sử thi buồn (Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường – Tập 2, Nxb Trẻ, 2002), Ngọn núi ảo ảnh (Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường – Tập 2, Nxb Trẻ, 2002), Mùa xuân thay áo trên cây (Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường – Tập 2, Nxb Trẻ, 2002) và Miền cỏ thơm (Miền cỏ thơm, Nxb Văn
nghệ, 2007)
Trong khuôn khổ giới hạn, luận văn tập trung nghiên cứu thiên nhiênHuế qua ngôn ngữ ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường trên các trường nghĩađược phản ánh qua các nhóm từ chỉ sự vật, hiện tượng (xuất hiện với tần số
cao nhất) nhóm từ chỉ sông và các bộ phận của sông, nhóm từ chỉ các thực
thể mà sông Hương đi qua và chứng kiến, nhóm từ chỉ núi rừng và các bộ phận của chúng, nhóm từ chỉ nhà vườn, chỉ các loại thực vật, nhóm từ chỉ thời gian, nhóm từ màu sắc và hương vị
Trang 8Thiên nhiên Huế trong luận văn cũng được nghiên cứu qua nghĩa
phản ánh của cấu trúc so sánh tu từ, một cấu trúc được sử dụng với tần số
cao và gắn với các trường nghĩa nêu trên
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài, luận văn đặt ra 3 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khảo sát, phân tích, lý giải những nét đặc sắc trong ngôn ngữ ký
về thiên nhiên Huế của Hoàng Phủ Ngọc Tường trên phương diện từ ngữ,
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Thống kê số liệu: Khảo sát sáu tác phẩm ký và thống kê các lớp
từ chỉ sự vật, hiện tượng có tần số xuất hiện cao nhất, thống kê cấu trúcnghĩa phản ánh đặc trưng của chúng
- Phân loại và miêu tả số liệu thu được theo đặc trưng ngữ nghĩa
- Từ số liệu, tổng hợp và khái quát về thiên nhiên Huế qua ngônngữ ký Hoàng Phủ Ngọc Tường
5 Sự đóng góp mới của đề tài
Luận văn tập trung tìm hiểu, nghiên cứu Thiên nhiên Huế qua ngôn
ngữ ký Hoàng Phủ Ngọc Tường với cái nhìn hệ thống, góp phần nhận
diện quan niệm của tác giả về vẻ đẹp của thiên nhiên xứ sở, nhận diệnphong cách ngôn ngữ tác giả Kết quả luận văn có thể dùng làm tài liệutham khảo, phục vụ cho việc tìm hiểu các vấn đề ngôn ngữ, dạy học các tácphẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường ở chương trình phổ thông
6 Bố cục luận văn:
Trang 9Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung của
luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề về lý thuyết
Chương 2: Thiên nhiên Huế qua hệ thống từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượngChương 3: Thiên nhiên Huế qua biểu thức so sánh tu từ
Trang 10CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT
1.1 Thể loại ký và ký Hoàng Phủ Ngọc Tường
1.1.1 Đặc trưng của ký và ký Hoàng Phủ Ngọc Tường
Các thể ký văn học chủ yếu là hình thức ghi chép linh hoạt trong vănxuôi với nhiều dạng tường thuật, miêu tả, bình luận về những sự kiện vàcon người có thật trong cuộc sống với nguyên tắc phải tôn trọng tính xácthực và chú ý đến tính thời sự của đối tượng miêu tả Trong nền văn họccủa một dân tộc, sự có mặt của các thể ký văn học đã góp phần làm cho nềnvăn học cân đối, nhiều màu sắc và giàu tính chiến đấu
Thể loại ký có những đặc trưng riêng Trước hết ký có mối liên
hệ chặt chẽ với hiện thực đời sống Từ trong nguồn của sự sống mà ra,các thể ký của văn học có những mối liên hệ chặt chẽ, sâu xa với hiệnthực xã hội Nguyên tắc tiếp cận và phản ánh hiện thực cuộc sống là cơ
sở để tìm hiểu đặc trưng của tác phẩm ký Trong quá trình tiếp cận vớicuộc sống, người viết ký quan tâm đến nhiều mặt của đời sống trongtính tự nhiên của đối tượng
Thứ hai, ký tôn trọng tính xác thực của đối tượng miêu tả, nghĩa làviết về người thật việc thật trong cuộc sống Viết về cái có thật trong cuộcsống, chính đặc điểm này đã tạo niềm tin cậy trong lòng độc giả và sứcthuyết phục bài ký càng cao hơn Nhưng viết về người thật việc thật không
có nghĩa là ký vơ vào tất cả Sự thật của đời sống được chắt lọc ở nhữngmặt tiêu biểu và những nét kết tinh điển hình có một ý nghĩa lớn lao vừa cótính cá thể sinh động của những hình tượng riêng biệt lại vừa có khả năngmang những tính chất điển hình tiêu biểu Một đặc điểm quan trọng của ký
là sự tham dự, có mặt, chứng kiến cái tôi trong tác phẩm Cái tôi trong tácphẩm ký không mang tính chất ghi chép phản ánh một cách thụ động màngược lại rất năng động sáng tạo trong mọi tình huống Cái tôi trong ký vừa
Trang 11phải góp phần bảo đảm tính xác thực của đối tượng miêu tả vừa phải bồiđắp cho hình tượng nghệ thuật phong phú, sinh động.
Ký trong những năm gần đây đã phản ánh một cách kịp thời, nhiềumặt hiện thực của đời sống bề bộn, phong phú Với ưu thế của mình, thểloại này luôn khẳng định được vai trò, vị trí tích cực của mình trong sự vậnđộng và đi lên của nền văn học dân tộc, “góp phần làm cho đời sống vănhoá tinh thấn của nhân dân ngày càng lành mạnh và phong phú”
Từ sau cách mạng tháng tám, thể loại ký phát triển gắn với nhữngchuyển động lớn lao của xã hội Nhiều tác phẩm có giá trị ra đời, nhiều tácgiả tiêu biểu được ghi nhận Trong số hàng loạt tên tuổi như Trần Đăng,Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyễn Tuân… Chúng ta không thể khôngnhắc đến Hoàng Phủ Ngọc Tường - một người đã từng gắn trọn cuộc đờimình cho thể ký “Trong các nhà văn ta lớn lên từ cuộc kháng chiến chống
Mỹ, dễ thường Hoàng Phủ Ngọc Tường là người hiếm hoi cho đến nay vẫnchuyên tâm tìm tòi trên thể ký.” [36, tr.254]
Ký văn học được chia thành ba loại: loại ký tự sự, loại ký trữ tình vàchính luận Trong đó, ký Hoàng Phủ Ngọc Tường được xếp vào loại ký thứhai: ký trữ tình Đó là loại nghiêng về phần ghi nhận những cảm xúc và suynghĩ chủ quan của nhà văn trước sự kiện của đời sống khách quan hoặc xen
kẽ kết hợp giữa việc biểu hiện, bình luận, suy tưởng với miêu tả, kểchuyện Chúng ta có thể thấy rõ đặc điểm này qua các tác phẩm ký viết vềthiên nhiên của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường tạo được cho ký của mìnhmột phong cách riêng với nhiều trang viết giàu liên tưởng và kiến thức
Nguyễn Tuân, một cây bút xuất sắc về thể ký cũng đã từng nhận xét:
Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường có rất nhiều ánh lửa Nếu không phải là
nhà văn có hạng về mọi mặt, kể từ tri thức, tài năng và bản lĩnh, chắc rằngkhông thể cầm bút viết nổi những trang văn đặc sắc như thế Những trangvăn ấy bắt nguồn từ sự rung cảm của trái tim khiến những trang viết của
Hoàng Phủ Ngọc Tường như có “ma lực”, thành sức thôi miên tuôn chảy
đầu ngọn bút
Trang 12Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đóng góp tích cực cho thể loại ký ViệtNam hiện đại với một phong cách ngôn ngữ súc tích, mê đắm, tài hoa Quatrang ký của ông, thiên nhiên, đất nước, con người quê hương, xứ sở hiệnlên với những vẻ đẹp lấp lánh, thấm đẫm giá trị văn hoá lịch sử dân tộc.
1.1.2 Đề tài thiên nhiên và thiên nhiên Huế trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường
Thiên nhiên từ lâu vốn là một đề tài quan trọng, chiếm một vị trí nổibật trong nền văn học nước ta Hoàng Phủ Ngọc Tường là người đi nhiều,viết nhiều và viết khỏe Trong những trang viết của ông ăm ắp những sựkiện, chi tiết, hình ảnh, tình cảm và quan điểm về cuộc sống Ông tiếp cậncuộc sống trên nhiều phương diện đề tài phong phú: về chiến tranh, về bạn
bè, về quê hương, về địa lí, lịch sử, về chiều sâu văn hóa dân tộc… Tất cảđều được thể thiện trong những trang văn súc tích, mê đắm hào hoa, lãngmạn, đầy chất thơ trong ký của ông Tuy vậy, thiên nhiên luôn là một đề tàilớn trong sáng tác của nhà văn
Thiên nhiên đất nước trong tác phẩm Hoàng Phủ Ngọc Tường lànhững địa danh có thực trải dài từ rừng hồi Lạng Sơn đến tận đất phù saMũi Cà Mau Thiên nhiên vốn có mặt trong mỗi số phận con người, nhưngchỉ với Hoàng Phủ Ngọc Tường dường như thiên nhiên đã hoá thân thànhmáu thịt cuộc đời, trở thành ám ảnh khôn nguôi, hay như tác giả thường nói
phải có sự lễ độ với thiên nhiên trong cuộc đời và trong văn chương bởi
thiên nhiên cũng chính là cuộc đời, là nhân tình thế thái, là dâu bể ba đào
Trong bức tranh văn chương đẹp đẽ của Hoàng Phủ Ngọc Tường,thiên nhiên là một mảng màu đầy ý nghĩa Nó trầm lắng và tỏa sáng bằng
sự hòa tan của những sắc màu văn hóa Tất cả đất, trời, sông, núi, bãi biển,con đèo, rừng cây, khí hậu đều hiện tỏa sức sống cùng khả năng nuôidưỡng, tái sinh văn hóa của chúng Tất cả đều thể hiện sâu sắc ý niệm củaHoàng Phủ Ngọc Tường về thiên nhiên
Nói Hoàng Phủ Ngọc Tường yêu Huế và hiểu Huế thì đó là một lẽđương nhiên Trong ba tập ký của mình, hình ảnh Huế hiện lên khá nhiều
Trang 13qua cảnh sắc, lịch sử, văn hoá Với 162 tác phẩm (gồm cả những bài NhànĐàm và hai tập ký) thì số tác phẩm viết về Huế và liên quan đến Huế lênđến một phần ba
Bản thân xứ Huế là miền mộng mơ cho tâm hồn thi sĩ mà ai đã từngđặt chân đến đó đều khắc khoải nhớ thương Tự bản thân Huế đã là văn, làthơ, đi vào trong những trang viết cùng với cảm xúc của chủ thể sáng tạonhà văn lại càng trở nên sống động hơn, có hồn hơn
Là mảnh đất kinh kì, hơn nữa lại có nhiều danh lam thắng cảnh hữutình tạo cho người Huế khả năng mĩ cảm tinh tế, khả năng sáng tác và cảmnhận nghệ thuật đặc biệt Tháng 12 năm 1993, theo quyết định củaUNESCO cố đô Huế được công nhận là di sản văn hoá thế giới Đây khôngchỉ là niềm tự hào riêng của Huế mà của Việt Nam nói chung Chính vì lẽ
đó, việc bảo vệ, giữ gìn, trùng tu những giá trị thiên nhiên, các giá trị vănhoá có ý nghĩa đặc biệt trong chiến lược phát triển Huế nói riêng và của cảnước nói chung Thiên nhiên Huế bao gồm các yếu tố là núi, sông và hệvườn Huế Thật quả là ít có thành phố nào thiên nhiên đã giữ một vai tròquan trọng như vậy trong ý thức môi trường của con người như ở nơi đây
Đã có rất nhiều tác phẩm ký viết về Huế nhưng Huế trên mỗi trangvăn của các tác giả lại lấp lánh những vẻ đẹp khác nhau bởi những quanniệm khác nhau của các nhà văn về cái Đẹp Với mảnh đất tưởng chừng đãquen thuộc này, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã để lại một dấu ấn đậm nét rấtriêng Huế đã góp phần tạo nên diện mạo riêng cho những trang ký củaHoàng Phủ Ngọc Tường cũng như hồn sông nước An Giang đã thấm vàonhững trang văn phóng khoáng của Mai Văn Tạo, như hồn phố cổ Hà Nộixưa ám ảnh những dòng văn thăm thẳm kí ức của Băng Sơn Nhà văn TôHoài có lần so sánh “…Tôi nghĩ rằng Sơn Nam thuộc đến ngóc ngáchnhững sự tích xưa sau của Sài Gòn - Bến Nghé, tôi thì nhớ được ít nhiềutên phố, tên làng vùng Hà Nội, Hoàng Phủ Ngọc Tường thì trằm cả tâm
hồn trong khuôn mặt cuộc đời cùng với đất trời, sông nước của Huế.” [20].
Trang 14Đọc ký hoàng Phủ Ngọc Tường, ta hiểu hơn về Huế, về đất nước mây trời
xứ Huế - xứ sở của miền mộng, miền thi ca
Viết về Huế, ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường đề cập nhiều vấn đềnhư con người Huế, văn hoá Huế, thiên nhiên Huế, lịch sử Huế, môi trườngHuế….với một cái nhìn có chiều sâu và sự khảo sát tỷ mỉ công phu Mảngsáng tác này được Hoàng Phủ Ngọc Tường dành nhiều tâm huyết và chínhnhững trang viết về Huế đã tạo nên nét đặc sắc riêng của ông, đó là bản sắcHuế đậm đà “chất Huế huyền hoặc, quyến rũ” (Ngô Minh) Tuy nhiên, cóthể thấy rằng, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã thể hiện thật tài tình một cái tôilãng mạn, mê đắm, tài hoa qua những trang ký về thiên nhiên xứ Huế
Với những ký để đời dành cho sông Hương: Ai đã đặt tên dòng sông,
sử thi buồn …nhiều bạn văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn bảo: Sẽ khó
có ai viết được nữa bởi người viết đã khai thác đến tận cùng nguồn ngọn,chi li từng cọng rêu, giọt nước mà thâm hậu và trải nghiệm đến vô cùng
Bao nhiêu người từng viết về Bạch Mã, vậy mà với ký Ngọn núi ảo
ảnh mới phát hiện ra rằng thiên nhiên Bạch Mã có ẩn chứa cả một phần
lịch sử trong từng gốc cây, ngọn cỏ, chồi thông ở một tầng bậc khác Ngọnnúi ảo ảnh ấy còn mang một thông điệp về những giấc mơ thái hoà giữacon người và thiên nhiên cũng đầy trầm tư thế sự Phải một bút lực thế nào
mới diễn đạt hết thông điệp ấy, và ngoài con người suy tư ấy ra khó có
người viết được
Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về Huế với tất cả tình yêu, nỗi nhớ, với
một sự gắn bó tự thân máu thịt, với niềm chiêm cảm khôn khuây Quan
niệm về vẻ đẹp của thiên nhiên xứ Huế được thể hiện trong những trang kýcủa ông qua con mắt của một nhà địa lý, một nhà nghiên cứu lịch sử, mộtnhà văn hóa, một triết gia, một Thiền gia và bằng cảm hứng nồng nàn, lãngmạn, hào hoa của một tâm hồn thi sĩ Tiếp cận thiên nhiên từ nhiều góc độ,khám phá thiên nhiên bằng một hệ thống ngôn từ phong phú, đa dạng, đaphong cách, để qua đó làm nổi bật lên một cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tườngđắm say, ngây ngất, phiêu diêu, giao cảm hoà quyện trong cảnh sắc đất trời
Trang 15xứ Huế Đó chính là diện mạo tinh thần rất riêng của phong cách ngôn ngữ
ký Hoàng Phủ Ngọc Tường qua những trang viết về thiên nhiên xứ Huế
Nghiên cứu vấn đề “Thiên nhiên Huế qua ngôn ngữ ký Hoàng
Phủ Ngọc Tường”, xét trên phương diện từ vựng, chúng tôi tập trung tìm
hiểu các từ ngữ trong trường nghĩa về thiên nhiên qua hệ thống từ ngữ chỉ
sự vật, hiện tượng, xét trên phương diện cú pháp, chúng tôi tập trungnghiên cứu cấu trúc so sánh tu từ Có thể thấy rằng, đây là những đặc trưngngôn ngữ nổi bật trong trong những trang ký viết về thiên nhiên Huế củaHoàng Phủ Ngọc Tường
1.2 Chức năng phản ánh của câu
1.2.1 Câu và cú
Vấn đề của ngôn ngữ học nói chung, ngữ pháp nói riêng là vấn đềnghĩa Từ chỉ có nghĩa khi tham gia thực hiện chức năng Đến lượt mình,nghĩa cũng chỉ tồn tại trong hoạt động thông báo Đơn vị thông báo nhỏnhất có tính trọn vẹn là câu / phát ngôn Chính vì vậy, câu được coi là đơn
vị cơ bản của ngôn ngữ, của lời nói Nó là đơn vị cơ sở để nghiên cứunghĩa Câu là đơn vị thông báo có tính trọn vẹn nhỏ nhất, là đơn vị tích hợpcác đơn vị chức năng thấp hơn, đồng thời là đơn vị cơ bản để hình thànhphát ngôn, hình thành ngôn bản Trong hệ thống tôn ty của các đơn vị củangôn từ làm thành một ngôn bản (văn bản), câu là đơn vị trung tâm, đơn vịbản lề Nếu không hiểu cương vị và cấu trúc của câu, không thể nào hiểunhững đơn vị ngôn từ lớn hơn, mà cũng không thể hiểu được bất cứ điều gì
về những đơn vị nhỏ hơn cấu tạo nó
Câu chính là đơn vị cơ sở để nghiên cứu nghĩa, còn cú là đơn vị cơ
sở để nghiên cứu câu, nghiên cứu ngôn bản Cho đến nay, cú chưa đượccác tác giả hiểu đồng nhất với nhau, có tác giả từng gọi nó là “mệnh đề”, là
“kết cấu chủ - vị” Trong ngữ pháp tiếng Việt, cú đã được nghiên cứu và sửdụng trong các công trình của nhiều tác giả như Nguyễn Hiến Lê, Lưu VânLăng, Cao Xuân Hạo, Diệp Quang Ban…
Trang 16Có một số quan niệm đã đồng nhất cú với câu và trong luận văn này,chúng tôi xem mỗi cú là một câu độc lập
1.2.2 Các chức năng của câu
Hầu hết các tác giả ngữ pháp chức năng đều quan niệm câu có ba(siêu) chức năng cơ bản: chức năng phản ánh, chức năng liên nhân và chứcnăng ngôn bản, tương ứng với ba bình diện nghĩa của câu Giữa ba bìnhdiện nghĩa có mối quan hệ vô cùng chặt chẽ với nhau “Các bình diện ấytồn tại vì nhau, và nhờ có nhau, cho nên không thể hiểu thấu đáo bất cứbình diện nào nếu không liên hệ với hai bình diện kia Và nhiệm vụ củangữ pháp chức năng chính là xác minh được mối quan hệ giữa cả ba bìnhdiện.” [16, tr.19] Ba bình diện nghĩa này được thể hiện trong ngôn ngữthành một tổng thể, làm thành cái cơ sở cho cách tổ chức nghĩa của tất cảcác ngôn ngữ trên thế giới
Tuy nhiên, theo Cao Xuân Hạo thì để xác minh được mối quan hệgiữa ba bình diện thì trước hết phải “phân giới dứt khoát từng bình diệnmột, không để lọt một sự lẫn lộn nào trong khi xếp các sự kiện vào bìnhdiện này hay bình diện kia.” [16, tr.19] Trong luận văn này, chúng tôi chủyếu phân tích ngôn bản dựa trên chức năng cơ bản của ngôn ngữ là chứcnăng phản ánh
Chức năng phản ánh (hay tư tưởng, biểu hiện, ý niệm) là sự phản ánhkinh nghiệm của người nói / người viết về thế giới xung quanh Thế giớikhách quan được mọi người nhận thức giống nhau, tuy nhiên cách biểu đạt
sự nhận thức ấy có thể rất khác nhau ở mỗi cá nhân, mỗi dân tộc Nghĩaphản ánh chính là phần nội dung nhận thức giống nhau, nó hầu như không
lệ thuộc vào phần khác và có được tính đồng nhất, bất biến Theo Haliday,chức năng phản ánh là biểu hiện những sự tình: những hành động, nhữngbiến cố, những quá trình tâm lí và những mối quan hệ Các sự tình ấy
“được sắp xếp lại theo cách tri giác của người nói, được tổ chức lại thànhmột cấu trúc lô-gich ngôn từ, được tuyến tính hóa lại theo những quy tắcngữ pháp của câu, được tình thái hóa ở nhiều cấp tùy theo thái độ của
Trang 17người nói, cái hình ảnh mà người nói dùng để truyền đạt sự tình cho ngườinghe một mặt được giản lược đi và mặt khác lại được trang trí thêm nhiềuyếu tố chủ quan của người nói.” [19, tr.425] Chức năng phản ánh tồn tạitrong tất cả các đơn vị miêu tả thế giới khách quan trong nhận thức củacon người Nội dung này được gọi chung là kinh nghiệm Kinh nghiệmđược phản ánh nhờ khả năng tri nhận của con người về thế giới Kinhnghiệm ấy có thể được biểu đạt bằng các đơn vị ngôn ngữ khác nhau nhưngôn bản, cú, ngữ…
Sông Hương xứ Huế là một thực thể khách quan của tự nhiên, đượccon người tri giác, cảm nhận Bằng sự trải nghiệm riêng, vốn văn hoá sâusắc, tình yêu mãnh liệt dành cho thiên nhiên, quê hương xứ sở, Hoàng PhủNgọc Tường đã cảm nhận, phản ánh, biểu hiện vẻ đẹp sông Hương thật tinh
tế, sáng tạo, tài hoa Có khi sông Hương được phản ánh trong một sự tìnhđộng “vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liêntục, vòng những khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường congthật mềm.” [46, tr.317] Tác giả đã tài tình sử dụng các động từ khác nhau
để biểu hiện vẻ đẹp sông Hương trong dòng chảy của nó từ đại ngàn để đếnvới thành phố Huế Bên cạnh các sự tình động, Hoàng Phủ Ngọc Tườngcòn sử dụng hàng loạt các câu chỉ sự tình tĩnh để miêu tả tính chất, trạngthái hay liên tưởng sông Hương với những vẻ đẹp khác nhau “Chính sôngHương và thành phố của nó vẫn gợi cho tôi, như một vang bóng trong thờigian, hình tượng của cặp tình nhân lý tưởng của truyện Kiều: tìm kiếm vàđuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc, và cả hai cùng gắn bó vớinhau trong một tình yêu muôn thuở.” [46, tr.316] Ở đây, bằng sự liêntưởng giàu chất trí tuệ, bằng cấu trúc câu so sánh, tác giả đã phản ánh mốiquan hệ của sông Hương và kinh thành Huế như một tình yêu vang bóngthời gian của cặp tình nhân lý tưởng trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du:Thuý Kiều và Kim Trọng Như vậy, bằng những cú pháp khác nhau, cáchình ảnh, từ ngữ khác nhau, tác giả đã đem đến cho người đọc những nhậnthức thật mới mẻ về vẻ đẹp của dòng Hương Giang, con sông vốn đã quenthuộc từ lâu trong cảm hứng sáng tạo văn chương của những người nghệ sĩ
Trang 181.3 Chức năng phản ánh của cấu trúc so sánh tu từ
1.3.1 So sánh tu từ
So sánh là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa đặc sắc, phổ biến trong vănbản nghệ thuật Biện pháp tu từ ngữ nghĩa là những cách kết hợp có hiệuquả tu từ, theo trình tự tiếp nối của các đơn vị từ vựng thuộc một cấp độtrong phạm vi của một đơn vị khác thuộc bậc cao hơn
Từ trước đến nay, khái niệm so sánh tu từ được nhiều học giả đề cậpvới nhiều định nghĩa và tên gọi khác nhau
Tác giả Nguyễn Thái Hoà chia các phương tiện tu từ ngữ nghĩa thành
ba tiểu nhóm: nhóm so sánh tu từ, nhóm ẩn dụ tu từ và nhóm hoán dụ tu từ.Theo tác giả, so sánh tu từ ( còn gọi là tỉ dụ ) “là phương thức diễn đạt tu từkhi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có mộtnét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹtrong nhận thức của người đọc, người nghe.” [26, tr.189]
Tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu
từ tiếng Việt” đã nhấn mạnh đến tính hiệu quả của một lối tri giác mới mẻbằng hình ảnh của so sánh tu từ “So sánh (còn gọi là so sánh hình ảnh, sosánh tu từ) là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếuhai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhauhoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hìnhảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng.” [25, tr.154]
Tác giả Nguyễn Phan Cảnh trong công trình nghiên cứu “Ngôn ngữthơ” cho rằng so sánh là một hiện tượng “tổ chức kép các lực lượng ngữnghĩa” Theo tác giả hiện tượng “tổ chức kép các lực lượng ngữ nghĩa là kĩnăng dựa vào sức liên tưởng của người nhận đem liên kết các tín hiệu ngônngữ hoặc cùng xuất hiện trên thông báo, hoặc chỉ xuất hiện trên thông báo
và tồn tại trong mã ngôn ngữ, để kiến lập những chỉnh thể không phân lập
về mặt mỹ học, tạo nên ý ngầm bằng chiều dày các câu chữ.” [5, tr.81] Vìvậy, tác giả cho rằng so sánh là cách tổ chức dễ thấy nhất, cho phép tín hiệu
Trang 19kêu gọi và tín hiệu được kêu gọi cùng xuất hiện trên thông báo, và thôngqua một tín hiệu chỉ dẫn người đọc được báo về mối liên tưởng đó
Tuy có nhiều cách định nghĩa và tên gọi khác nhau ( so sánh tu từ,
so sánh nghệ thuật, so sánh hình ảnh ) nhưng hầu hết các tác giả đều thốngnhất ý kiến ở một điểm chung: so sánh tu từ là phương tiện đem hai haynhiều đối tượng khác loại có dấu hiệu chung ra đối chiếu, so sánh nhằmmột mục đích thẩm mỹ nào đó
1.3.2 Các kiểu cấu trúc so sánh tu từ và chức năng phản ánh
Về cấu trúc so sánh, các tác giả thường phân loại dựa trên hai tiêuchí cơ bản, theo mô hình cấu tạo và từ ngữ dùng làm yếu tố thể hiện quan
hệ so sánh
Dựa trên tiêu chí mô hình cấu tạo so sánh, ta có hai kiểu cấu trúc so sánh:
- Cấu trúc so sánh với mô hình cấu tạo đầy đủ gồm bốn yếu tố:
Cỏ ven sông Hương lấp lánh như những hạt ngọc
- Cấu trúc so sánh với mô hình cấu tạo không đầy đủ:
+ Bớt phương diện so sánh
Ai về ai ở mặc ai
Ta như dầu đượm thắp hoài năm canh
(Ca dao)Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng có những cấu trúc so sánh lược bỏphương diện so sánh: “Bạch Mã như là một thành phố ảo ảnh trong sa mạc,huy hoàng phút chốc rồi tan biến, chỉ còn lại một bóng núi lau mờ.”[46,tr.757]
+ Bớt từ so sánh
Gái thương chồng đương đông buổi chợTrai thương vợ nắng quái chiều hôm
(Ca dao)
Trang 20Tuy không nhiều trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường nhưng cấu trúc
so sánh lược bỏ từ so sánh vẫn được tác giả sử dụng: “càng vào thu, khuvườn càng hiện ra trong vẻ đẹp của trái, càng gợi cho người đi dạo vườncái cảm giác khinh khoái của một phòng trưng bày tranh tĩnh vật.” [46,tr.388]
Dựa trên tiêu chí từ ngữ dùng làm yếu tố thể hiện quan hệ so sánh (từ
so sánh), ta có ba kiểu cấu trúc so sánh cơ bản:
- Cấu trúc so sánh A như B
“Vĩ Dạ tồn tại ngàn năm như một ngôi nhà ẩn dật giữa chốn kinh kì thời nào cũng đầy những phường danh lợi” [48, tr.13]
- Cấu trúc so sánh A là B
“Sông Hương là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế” [46,tr.319]
- Cấu trúc so sánh A bao nhiêu B bấy nhiêu
Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu phân loại cấu trúc so sánh dựavào tiêu chí thứ hai Chúng tôi nhận thấy ký Hoàng Phủ Ngọc Tường
thường sử dụng hai cấu trúc so sánh đặc trưng: A như B và A là B
Chức năng phản ánh (hay tư tưởng, biểu hiện, ý niệm) là sựphản ánh kinh nghiệm của người nói /người viết về thế giới xungquanh Cấu trúc so sánh chính là sự biểu đạt đặc thù trong ngônngữ ký Hoàng Phủ Ngọc Tường, phản ánh rõ kinh nghiệm của tácgiả về thế giới Với cấu trúc biểu đạt này, thiên nhiên Huế hiện ra
vô cùng phong phú, đa dạng được biểu hiện qua những liên tưởng,tưởng tượng đầy bất ngờ, sáng tạo của tác giả
1.4 Trường từ vựng ngữ nghĩa
1.4.1 Khái niệm trường từ vựng ngữ nghĩa
Ba bộ phận cấu thành một ngôn ngữ đó là từ vựng, ngữ âm, ngữpháp Trong ngôn ngữ, từ vựng có chức năng là trực tiếp gọi tên các sự vật,hiện tượng của thực tế Tập hợp các từ và ngữ cố định được gọi là từ vựngcủa ngôn ngữ
Trang 21Có thể thấy rằng, giữa các từ có không ít sự đồng nhất về hìnhthức và ý nghĩa Căn cứ vào những cái chung giữa các từ, các nhànghiên cứu tiến hành sự phân lập hệ thống từ vựng của các ngôn ngữkhác nhau thành những hệ thống nhỏ hơn và phát hiện ra những quan
hệ giữa các từ trong từ vựng
Lí thuyết trường nghĩa ra đời mấy chục năm gần đây với tư tưởng
cơ bản là khảo sát từ vựng một cách hệ thống Có nhiều cách hiểu khácnhau về khái niệm trường nghĩa, nhưng có thể quy vào hai khuynhhướng chủ yếu
Khuynh hướng thứ nhất với đại diện là L Weisgerber và J Trierquan niệm trường nghĩa là toàn bộ các khái niệm mà các từ trong ngôn ngữbiểu hiện Theo quan điểm của hai tác giả này, mặt nghĩa của ngôn ngữ làmột kết cấu chặt chẽ, được phân chia ra thành những trường hoặc nhữngphạm vi khái niệm một cách rõ ràng Tất cả các thành phần từ vựng đượcphân bố theo những phạm vi hoặc những trường đó “Một từ chỉ có ý nghĩakhi nằm trong trường, nhờ những quan hệ của nó với các từ khác cũngthuộc trường ấy Trong hệ thống, tất cả chỉ nhận được ý nghĩa qua cái toànthể.” [13, tr.110] Như vậy, theo L Weisgerber và J Trier, từ của ngôn ngữnào đó không phải là đại diện tách biệt của ý nghĩa, ngược lại, mỗi một từ
có ý nghĩa chỉ là vì có các từ khác liên hệ trực tiếp với nó Có thể thấy rằng,quan niệm của hai tác giả đã thoát li bản chất của ngôn ngữ với tư cách làphương tiện giao tiếp của con người để sa vào lĩnh vực tư tưởng thuần tuý
“Thực ra, nếu ý nghĩa và cách dùng từ chỉ phụ thuộc vào vị trí của nó ởtrong trường thì lịch sử hình thành và phát triển của từ, mối liên hệ của từvới các từ thân thuộc, lí do ngữ nghĩa của từ đã bị coi thường.” [13, tr.110]
Khuynh hướng thứ hai xây dựng lí thuyết trường nghĩa trên cơ sởcác tiêu chí ngôn ngữ học Các tác giả khuynh hướng này quan niệmtrường nghĩa không phải là phạm vi các khái niệm nào đó nữa mà là phạm
vi tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về nghĩa Xây dựng trên cơ sở ngônngữ, những trường nghĩa có nhiều kiểu khác nhau
Trang 22Trường từ vựng – ngữ pháp căn cứ vào hình thái và chức năng của
các từ để xây dựng trường nghĩa Trường cấu tạo từ lại căn cứ vào các từ
ghép, trong đó từ rời với tư cách là thành tố của từ ghép đóng vai trò thành
viên của trường Trường từ vựng – cú pháp xây dựng trường nghĩa căn cứ
vào các ý nghĩa ngữ pháp của các quan hệ, ý nghĩa của từ phụ thuộc vào
những liên hệ cú pháp Kiểu trường nghĩa phổ biến nhất là nhóm từ vựng –
ngữ nghĩa Tiêu chuẩn để thống nhất các từ thành một nhóm từ vựng - ngữ nghĩa có thể rất khác nhau: dựa vào sự tồn tại của các từ khái quát, dựa vào
một khái niệm chung có mặt trong mỗi từ của nhóm
Với khuynh hướng này, tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng tính hệ thống vềngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từvựng, “mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là nhữngtập hợp từ đồng nhất với nhau về nghĩa.” [9, tr.170] Theo Đỗ Hữu Châu, “vớicác trường nghĩa, chúng ta có thể phân định một cách tổng quát những quan hệngữ nghĩa trong từ vựng thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường nghĩa
và những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường.” [9, tr.170]
1.4.2 Trường nghĩa về thiên nhiên
Thiên nhiên là một khái niệm rộng nên tập hợp các từ trong trườngnghĩa thiên nhiên rất phong phú Trong trường nghĩa về thiên nhiên lại cónhững trường từ vựng nhỏ hơn Chúng ta có thể lấy ví dụ như sau:
- Các sự vật thuộc về thiên nhiên: sông, núi, biển, hồ, cây cối (trongmỗi sự vật thuộc về thiên nhiên, ta có thể chia ra tập hợp các trường từvựng nhỏ hơn)
- Các hiện tượng của thiên nhiên nhiên: mưa, nắng, gió, sấm, chớp,bão, giông
- Màu sắc của thiên nhiên: xanh, đỏ, tím, vàng, trắng, đen, hồng,tía
- Tính chất của thiên nhiên: yên ả, thanh tĩnh, trong lành, dịu mát, dữdội, khắc nghiệt
Trang 23Như vậy, trường nghĩa về thiên nhiên rất phong phú, đa dạng, có thểphân chia thành nhiều tiểu hệ thống khác nhau Trong ký Hoàng Phủ NgọcTường, trường nghĩa về thiên nhiên được biểu hiện qua những nhóm từ ngữkhác nhau như: nhóm từ ngữ chỉ sông và các bộ phận của sông, nhóm từngữ chỉ núi và các bộ phận của núi, nhóm từ ngữ chỉ nhà vườn, nhóm từngữ chỉ màu sắc, thời gian tất cả đều gắn với thiên nhiên, nằm trongtrường nghĩa về thiên nhiên Qua việc nghiên cứu các nhóm từ ngữ nàychúng ta có thể nhận thấy rõ đặc điểm của thiên nhiên Huế trong ký HoàngPhủ Ngọc Tường và ý niệm về thiên nhiên của tác giả
1.5 Ý niệm
Hoạt động tri nhận là hoạt động tư duy của con người dẫn đến chỗthông hiểu một cái gì đó Theo tác giả Trần Văn Cơ: “Tri nhận là tất cảnhững quá trình trong đó những dữ liệu cảm tính được cải biến khi truyềnvào não dưới dạng những biểu tượng tinh thần (hình ảnh, mệnh đề, khung,cảnh,…) để có thể lưu lại trong trí nhớ con người.” [10, tr.3] Tri nhận, nó
là biểu hiện cho quá trình nhận thức hoặc tổng thể những quá trình tâm lí(tinh thần, tư duy) phục vụ cho việc tiếp nhận và xử lí thông tin Hoạt độngtri nhận tạo ra một hệ thống những ý niệm giúp cho con người hiểu biết,giả định, suy nghĩ và tưởng tượng thế giới hiện thực và các thế giới khả dĩ
Trong thực tiễn nghiên cứu, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về
ý niệm Tuy nhiên có một đặc điểm chung có tính nguyên tắc của ý niệm là
“nó được xem như cơ sở để nghiên cứu tổng hợp ngôn ngữ và văn hóa,song bản thân nó lại không nằm trong phạm vi ngôn ngữ, cũng không nằmtrong phạm vi văn hóa, và cũng đồng thời không nằm trong cả hai lĩnh vựcnày Ý niệm là đơn vị của tư duy, là yếu tố của ý thức Việc nghiên cứumối quan hệ qua lại giữa ngôn ngữ và văn hóa sẽ không đầy đủ nếu thiếucái khâu trung gian này.” [10, tr.6] Theo Stepanov, “ý niệm tựa như mộtkhối kết đông của nền văn hóa trong ý thức con người; dưới dạng của nónền văn hóa đi vào thế giới ý thức (tư duy) của con người, và, mặt khác, ýniệm là cái mà nhờ đó con người – người bình thường, không phải ‘con
Trang 24người sáng tạo ra văn hóa’ – chính con người đó đi vào văn hóa, và trongmột số trường hợp nhất định có tác động đến văn hóa.” [10, tr.6].
Còn tác giả Trương Thị Mĩ Dung đã tổng hợp ý kiến của nhiều tácgiả và đưa ra kết luận về những đặc điểm của ý niệm như sau:
a) Ý niệm là sự kiện của lời nói, đó là lời nói được phát ngôn ra Do
đó nó khác với khái niệm
b) Ý niệm gắn chặt với người nói và luôn định hướng đến ngườinghe Người nói và người nghe là hai bộ phận cấu thành của ý niệm
c) Ý niệm mang tính chủ quan với nghĩa nó là một mảng của “bứctranh thế giới”, nó phản ánh thế giới khách quan qua lăng kính của ý thứcngôn ngữ dân tộc Do đó ý niệm mang tính dân tộc sâu sắc
d) Ý niệm là đơn vị của tư duy (ý thức) của con người Hai thuộctính không thể tách rời nhau của ý niệm là trí nhớ và tưởng tượng Ý niệm
là một hành động đa chiều: nếu là hành động của trí nhớ thì nó hướng vềquá khứ, nếu là hành động của trí tưởng tượng thì nó hướng về tương lai,còn nếu nó là hành động phán đoán thì nó hướng về hiện tại
e) Ý niệm, khác với khái niệm, không chỉ mang đặc trưng miêu tả,
mà còn có cả đặc trưng tình cảm – ý chí và hình tượng Ý niệm không chỉsuy nghĩ, mà còn cảm xúc Nó là kết quả của sự tác động qua lại của mộtloạt nhân tố như truyền thống dân tộc, sáng tác dân gian, tôn giáo, hệ tưtưởng, kinh nghiệm sống, hình tượng nghệ thuật, cảm xúc và hệ thống giátrị Ý niệm tạo ra một lớp văn hóa trung gian giữa con người và thế giới
Nó được cấu thành từ tri thức tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo lí, luật pháp,phong tục tập quán, và một số thói quen mà con người tiếp thu được với tưcách là thành viên xã hội [10, tr.6]
Tóm lại, ý niệm bao gồm ba thành tố: thành tố khái niệm, thành tốcảm xúc – hình tượng, và thành tố văn hóa Như vậy, ý niệm không chỉmang tính chủ quan của mỗi người mà nó còn mang tính dân tộc sâu sắc
Nó là sự tổng hoà các hiểu biết, kinh nghiệm của con người về thế giới, inđậm dấu ấn chủ quan, những tri thức, kinh nghiệm về thế giới của chủ thể
Trang 251.6 Tiểu kết
Giữa thời đại thông tin đầy biến động hiện nay, với ưu thế của mình,thể loại ký luôn khẳng định được vai trò, vị trí tích cực của mình trong sựvận động và đi lên của nền văn học dân tộc Hoàng Phủ Ngọc Tường là tácgiả ký tài hoa, tiêu biểu
Nói đến ký Hoàng Phủ Ngọc Tường không thể không nói đến nhữngtrang viết về đề tài thiên nhiên Thiên nhiên Huế đã hiện lên với những vẻđẹp nổi bật, đặc trưng qua ngôn ngữ súc tích, mê đắm, tài hoa của HoàngPhủ Ngọc Tường
Nghiên cứu vấn đề “Thiên nhiên Huế qua ngôn ngữ ký Hoàng
Phủ Ngọc Tường”, xét trên phương diện từ vựng, chúng tôi tập trung tìm
hiểu các từ ngữ trong trường nghĩa về thiên nhiên, xét trên phương diện cúpháp, chúng tôi tập trung nghiên cứu cấu trúc so sánh tu từ
Có một số quan niệm đã đồng nhất cú với câu và trong luận văn này,chúng tôi xem mỗi cú là một câu độc lập Hầu hết các tác giả ngữ phápchức năng đều quan niệm câu có ba (siêu) chức năng cơ bản: chức năngphản ánh, chức năng liên nhân và chức năng ngôn bản
Chức năng phản ánh của câu là sự phản ánh kinh nghiệm của người nói/người viết về thế giới xung quanh Chức năng phản ánh tồn tại trong tất cảcác đơn vị miêu tả thế giới khách quan trong nhận thức của con người
So sánh là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa đặc sắc Biểu thức so sánhchính là sự biểu đạt đặc thù trong ngôn ngữ ký Hoàng Phủ Ngọc Tường,phản ánh rõ kinh nghiệm của tác giả về thế giới Với cấu trúc biểu đạt này,thiên nhiên Huế hiện ra vô cùng phong phú, sáng tạo trong ký Hoàng PhủNgọc Tường
Trường nghĩa về thiên nhiên rất phong phú, đa dạng, có thể phânchia thành nhiều tiểu hệ thống khác nhau Qua việc nghiên trường nghĩanày, chúng ta có thể nhận thấy rõ đặc điểm của thiên nhiên Huế trong kýHoàng Phủ Ngọc Tường và ý niệm về thiên nhiên của tác giả
Trang 26Ý niệm là sự tổng hoà các hiểu biết, kinh nghiệm của con người vềthế giới, in đậm dấu ấn chủ quan của chủ thể sáng tạo Ý niệm thiên nhiênthể hiện rõ qua những trang viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường về thiênnhiên Huế
Trang 27CHƯƠNG 2 THIÊN NHIÊN HUẾ QUA HỆ THỐNG TỪ NGỮ
CHỈ SỰ VẬT, HIỆN TƯỢNG
2.1 Khái niệm về sự vật, hiện tượng
Chúng tôi nhận thấy rằng, trong những trang ký về thiên nhiên Huếcủa Hoàng Phủ Ngọc Tường, trường nghĩa về thiên nhiên được thể hiệnqua hệ thống từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng hiện ra vô cùng phong phú
Sự vật là “cái tồn tại được nhận thức có ranh giới rõ ràng, phân biệtvới những cái tồn tại khác” [32, tr.877] Theo định nghĩa này, sự vật cónghĩa của một thực thể, mội đối tượng được con người tri nhận
Hiện tượng là “cái xẩy ra trong không gian mà người ta nhận thấy”[32, tr.438] và cũng là đối tượng để phân biệt với những cái xẩy ra trongkhông gian khác Nó cũng là đối tượng tri nhận của con người
Sự vật và hiện tượng là đối tượng phản ánh của ngôn ngữ, của ngônbản Nó được hiểu như sở chỉ của các đơn vị lời nói Mỗi hiện tượng, sự vậtđược con người gắn cho một cái biểu đạt nào đó Chẳng hạn, sông Hương
có thể được biểu đạt qua một danh từ như “con sông”, “dòng HươngGiang”, có thể bằng một biểu thức như “dòng sông xứ Huế”, “dòng sử thiviết giữa màu cỏ lá xanh biếc” Mỗi sự vật, hiện tượng có thể có nhiềucách định danh khác nhau và có nhiều biểu thức biểu đạt khác nhau; ngượclại, mỗi biểu thức ngôn ngữ cũng có thể được sử dụng để định danh cáchiện tượng, sự vật khác nhau
2.2 Trường nghĩa về thiên nhiên qua hệ thống từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng
Trường nghĩa về thiên nhiên trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường rất
đa dạng, phong phú, có thể được phân chia thành nhiều tiểu hệ thống,trong đó có hệ thống các từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng thuộc về thiên
nhiên Ở đây, chúng tôi dùng khái niệm sự vật, hiện tượng với nghĩa
Trang 28rộng bao gồm tất cả các đối tượng được con người cảm nhận và tri giác,phân biệt với con người
Nói về cách định danh sự vật, hiện tượng, có thể khẳng định, HoàngPhủ Ngọc Tường là một bậc thầy về sử dụng ngôn ngữ Vốn từ vựng củaông rất phong phú, đa dạng, được sử dụng linh hoạt, uyển chuyển, tài hoa.Đặc biệt, hệ thống từ ngữ này thể hiện rõ vẻ đẹp đặc trưng của thiên nhiênHuế trong cái nhìn chủ thể sáng tạo Hoàng Phủ Ngọc Tường
Hệ thiên nhiên Huế được tạo thành bởi ba yếu tố lớn là núi, sông vànhà vườn Huế nổi tiếng bởi dòng Hương Giang êm đềm, mơ mộng, với núiNgự Bình mềm mại như một bài thơ, núi Bạch Mã sừng sững thông reo,mây phủ và những nhà vườn ngoại ô xanh mát bốn mùa Đây cũng lànhững đối tượng chủ yếu trong ký đề tài thiên nhiên Huế của Hoàng Phủ
Ngọc Tường Qua khảo sáu tác phẩm ký nổi tiếng của nhà văn (Ai đã đặt
tên cho dòng sông, Ngọn núi ảo ảnh, Hoa trái quanh tôi, Sử thi buồn, Mùa xuân thay áo trên cây, Miền cỏ thơm), xét trên phương diện trường từ vựng
ngữ nghĩa về thiên nhiên chúng tôi có thống kê, phân loại như sau:
Nhóm 1: Nhóm từ chỉ sông và các bộ phận của sông
Danh từ chỉ sông (53 từ, trong đó “sông Hương” được nhắc tới 28
lần): sông, sông nước, con sông, dòng sông, sông Hương, con sông Huế,
sông Xen, sông Đa – nuýp, sông Hồng, sông Cửu Long, sông A Tin, sông
A Sáp, sông A Rong, sông Bồ, sông A Pàng, sông Tà Noài
Danh từ chỉ bộ phận của sông (15 từ): mặt nước, đáy nước, lưu vực,
lưu tốc, khúc quanh, quãng sông, bờ sông, ngã ba sông, lòng sông
Nhóm 2: Nhóm từ chỉ sự vật mà dòng sông (sông Hương) đi qua
Từ đại ngàn, qua kinh thành Huế, đổ ra biển cả, sông Hương chứng
kiến nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau Đó là: rừng già, bóng cây đại
ngàn, ghềnh thác, đáy vực, dặm dài chói lọi hoa đỗ quyên rừng, lòng Trường Sơn, châu thổ, cửa rừng, chân núi Kim Phụng, thành phố, ngã ba Tuần, điện hòn Chén, vấp Ngọc Trản, bãi Nguyệt Biều, Lương Quán, đồi Thiên Mụ, Huế, chân núi ngọc Trản, hai dãy đồi sừng sững, Vọng Cảnh,
Trang 29Tam Thai, Lựu Bảo, chùa Thiên Mụ, xóm làng Trung Du, vùng ngoại ô Kim Long, cầu Tràng Tiền, cồn Giã Viên, cồn Hến, cây đa, cây cừa cổ thụ, đảo Cồn Hến, màu xanh tre trúc, vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ, thị trấn Bao Vinh xưa cổ, cánh đồng phù sa êm ái, làng Thành Trung – mảnh đất thủ phủ Châu Hoá xưa
Nhóm 3: Nhóm từ chỉ núi và các bộ phận của núi
Từ chỉ núi (23 từ và cụm từ): núi, núi ngàn, trái núi, hòn núi, ngọn
núi, núi non, rặng núi, núi Bạch Mã, quần sơn Bạch mã, núi Ngự Bình, núi Kim Phụng
Từ chỉ các bộ phận của núi (10 từ): đỉnh núi, sườn núi, chân núi,
bóng núi, hẻm núi
Nhóm 4: Nhóm từ chỉ vườn
Nhóm từ này gồm 32 từ và cụm từ, trong đó từ “vườn”, khu vườn”,
cụm từ “khu vườn An Hiên” được lặp lại nhiều lần: Vườn, khu vườn, khu
vườn xanh biếc, khu vườn tre trúc xanh biếc, vườn An Hiên, khu vườn xưa
cổ sầm uất, vườn cau, vườn đào, khu vườn thân mật, kinh tế vườn, khu vườn cao sản, vườn cỏ xanh mượt, vườn Huế, vườn tược, thành phố vườn
Nhóm 5: Nhóm từ chỉ thực vật
Từ chỉ thực vật được phân thành hai nhóm nhỏ: Nhóm chỉ thực vậthoang dã và nhóm thực vật do con người trồng nên
Nhóm từ chỉ thực vật tự nhiên hoang dã (52 từ và cụm từ trong đó từ
“cỏ” được lặp lại nhiều lần): thảo mộc, thông hoàng đàn, phong lan, thổ lan, cây rừng, cây tùng hoa rừng mùa xuân,rừng lau, hoa sim dại, cỏ, dây bìm hoa tím, cây anh đào, cây đót, phong lan, cây tùng lão trượng, thổ lan, hoa thạch thảo, cỏ tranh, phong lan, cỏ hoa, loài đỗ quyên rừng bụi cây đuôi chồn, địa y, cỏ cú, cỏ lau, rêu, dương xỉ, lay ơn, cây nho hoang dại, cây ngũ sắc, lau sậy, cỏ hoa, lan tre, hoa rừng, hoa a rui, lan chỉ thiên màu tím và trắng, phong lan, thổ lan, lan hài đỏ, lan hài vệ nữ, lan hạc đính vàng, lan cò môi đỏ, me đất, rau dền, rau sam, mimosa, cỏ hoang, cỏ dại,
cỏ ống, bông cỏ mùa xuân, hoa cỏ
Trang 30Nhóm từ chỉ thực vật được trồng bởi bàn tay con người (72 từ): hoa
sen, hoa phượng, cây đại thọ, ngọc lan, mai, cây thị, cây sầu đông, cây hoè, ngọc lan, hoàng lan, sứ vàng, măng cụt, vải, đào, nhài, lý, thạch lựu, tường vi, hồng, thổ lan, phong lan, hải đường, chè đất đỏ, trà mi, hoa lê, thanh trà, bông cẩn, cam, bưởi, hoa hồng, hồng bản địa, hoa lệ quả, hoa
lê, biều, dâu, mức, hồ tiêu, thanh long, hoa quỳnh, hoa cúc, khoai, ngô, nhãn, sầu riêng, cây thị, táo tây, bàng, mít, hoa mộc, ngải cứu, hoa súng, hoa tầm xuân, tre, trúc, cau, bầu, chè tàu, mướp, cải, ngò, rau thơm, rau quế, tần ô, lúa, cây xà cừ, cây vông
Nhóm 7: Nhóm từ chỉ thời gian
Các từ chỉ thời gian trong ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường rất phong
phú (gồm 66 từ và cụm từ, trong đó thời gian bốn mùa xuân, hạ, thu, đông được lặp lại nhiều lần, đặc biệt “mùa xuân” được lặp lại 24 lần): sáng,
trưa, chiều, đêm, mùa xuân, mùa hạ, mùa thu,mùa đông, mùa sương mù, mùa hoa vông, mùa hoa phượng, mùa lá non, mùa hồng, tuần hoa mai
Nhóm 8: Nhóm từ chỉ màu sắc
Nhóm từ ngữ chỉ màu sắc được tác giả sử dụng rất đa dạng và phong
phú (gồm 87 từ và cụm từ, trong đó từ ngữ chỉ màu xanh và màu tím xuất
hiện nhiều lần)
Xanh: xanh lá, xanh da trời, xanh thẳm, xanh tươi, xanh biếc, xanh
tràm, xanh tốt, xanh dịu, xanh nhạt, xanh mơn mởn, tươi xanh, xanh mờ, xanh bóng, xanh lơ, xanh dịu dàng, xanh lục non, lục già, lục vàng, màu lục tươi trẻ
Trắng: trắng pha sữa, trắng ngọc, trắng nõn, trắng hồng, trắng tuyết Vàng: vàng rệu, vàng mật ong, vàng hươm, vàng lạnh, vàng tươi,
Trang 31Hồng: hồng thắm, hồng đào, hồng tươi
Xám: màu xám vô ngôn, màu rỉ đồng, xanh lạ thường, màu áo xuân
nữ, màu áo hoàng hậu, màu hoàng yến, màu trăng nguyệt bạch, màu cánh sen, màu lục trầm ngâm, màu ngọc bạch, màu da trái đào, nhân loại tím, màu tím Huế, màu sương khói sông Hương
Bạc: bạc thếch, bạc màu
Nhóm 9: Nhóm từ chỉ hương vị
Cùng như màu sắc, hương vị là được tác giả sử dụng rất phong phú
(gồm 18 từ và cụm từ): mùi hương sâu thẳm, mùi ngọc lan thơm nồng, mùi
hương rộng rãi, sung thiệm, mùi vải chín, mùi hăng hắc, thơm ngát, mùi hương hoang đường gợi nhớ nỗi tiên, mùi trầm hương u mặc, thơm nhẹ, một trời hương phấn thơm nồng, mùi hương trốn tìm của hoa trái, mùi hương sầu đông rất sâu, thơm ngát, hương đất nồng nàn, mùi thơm xao xuyến như da thịt, thẳm sâu như thời gian, thơm tho, mùi hương hoa cỏ
Qua sự phân nhóm hệ thống từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng trong sáutác phẩm ký tiêu biểu của Hoàng Phủ Ngọc Tường, chúng tôi nhận thấy,trong ý thức chủ thể của cái tôi sáng tạo của nhà văn, thiên nhiên xứ Huếnổi bật ở một số nét đặc trưng tiêu biểu Trước hết, đó là một hệ thiên nhiên
đa dạng, phong phú với ba yếu tố đặc trưng: sông, núi và nhà vườn Huế làkhông gian của của cây cỏ, hoa trái, của màu sắc và hương vị Thiên nhiênHuế luôn gắn với sự biến chuyển của thời gian Tất cả những đặc điểm nàycủa thiên nhiên Huế đều được chi phối bởi ý niệm về thiên nhiên củaHoàng Phủ Ngọc Tường, được thể hiện ra qua hệ thống từ ngữ chỉ sự vật,hiện tượng được sử dụng trong văn bản
2.3 Thiên nhiên Huế qua hệ thống từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng
2.3.1 Tính đa dạng của hệ thiên nhiên Huế, đặc trưng bởi ba yếu
tố sông, núi, nhà vườn
Hiếm có thành phố nào mà thiên nhiên lại ưu đãi ban tặng một quầnthể cấu trúc đa dạng, phong phú và đẹp vững chắc, bề thế như thành phố
Trang 32Huế Thiên nhiên Huế được tạo nên bởi vẻ đẹp của con sông Hương thơmộng, của núi Ngự “chiếc án thư nghĩ ngợi dưới ánh sáng nhật nguyệt”,của thế đứng vững chãi Bạch Mã, và của những khu nhà vườn xanh mátngoại ô Núi và biển ở ngay hai cửa ra vào của thành phố, giữa là một tầmsông băng qua những đền đài lăng tẩm cổ xưa của một cố đô, và nhữnglàng vườn đầy hoa trái Chính cấu trúc với những yếu tố mạnh như vậy đãtạo nên gương mặt của kinh thành Huế
Không phải ngẫu nhiên mà chỉ qua sáu tác phẩm, sông Hương đượcnhắc tới 32 lần Hầu như trong tác phẩm nào viết về Huế nói chung, vềthiên nhiên Huế nói riêng Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng đều dành cho sôngHương một chỗ đứng trang trọng Điều này vô cùng dễ hiểu bởi sôngHương là con sông của thành phố Huế, mang những nét đặc trưng rất Huế
mà không một xứ sở nào có được Con sông dường như đã ăn sâu vào tâmthức của người dân xứ Huế, như nhà thơ Thu Bồn, vốn một đời mê mải quanhững dòng sông đã viết về Hương Giang “ Con sông dùng dằng – consông không chảy – Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu” Với Hoàng PhủNgọc Tường, “nếu có một biến động địa chất nào đó xẩy ra thật nhẹ nhàng,khiến cho chỉ sau một đêm thức dậy, người ta đã thấy hai bờ sông Hương
đã líp lại với nhau – nghĩa là thành phố Huế vẫn y nguyên, nhưng dòngsông Hương không còn nữa Vâng, giả sử là như vậy, thì liệu người trongnước, ngoài nước còn ai buồn nhắc tới Huế nữa không? Có lẽ ai đó vẫn còntìm về, để rồi nhận ra cái tâm Huế trong mình đã khác Nước vẫn chảy vềđông, nhưng với Huế thì tuồng như không phải thế, sông Hương là mộtdòng ký tự tự chảy vào lòng mình” [46, tr.663] Sông Hương là dòng sông
mẹ, đã sinh ra và nuôi dưỡng Huế, hình thành tâm hồn và tính cách Huế.Không thể hiểu Huế nếu không nhận thức đầy đủ vai trò và vị trí sôngHương trong cuộc sống thường hằng cả vật chất lẫn tinh thần Như vậy, vớiHoàng Phủ Ngọc Tường, với người dân xứ Huế, sông Hương chính là Huế
và nếu không có con sông thì Huế cũng không còn là Huế nữa
Trang 33Nếu con sông Đà phải cảm ơn Nguyễn Tuân vì nhờ nhà văn mà nómới được ghi tên trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại như một đốitượng thẩm mĩ, thì giống vậy, dòng sông Hương cũng phải cảm ơn nhà viết
ký Hoàng Phủ Ngọc Tường Có thể nói hai con sông ấy chảy trong lịch sửhai vùng đất nước đã được hai nhà văn bắt mạch khơi dòng cho chúng chảytiếp, uốn lượn bồng bềnh trôi trong miền đất văn chương đầy chất thơ, chấthọa, chất nhạc để rồi mãi tha thiết chảy trong tâm thức bạn đọc
Trong những trang ký viết về thiên nhiên của mình, Hoàng Phủ NgọcTường nhắc đến nhiều dòng sông như sông như sông Hồng, sông CửuLong, sông Xen, sông Nê – va hay những tên sông khác nhau như sông ATin, sông A Sáp, sông A Rong nhưng tất cả đều liên quan, đều đứngtrong thế đối sánh với dòng sông Hương của xứ Huế, quê hương tác giả
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có một cái nhìn của một nhà nghiên cứu địa lý khi
đi tìm cội nguồn sông Hương trên vùng thượng nguồn của nó “Đó là ngọn núi A Lu,nơi phát nguyên của năm con sông lớn: sông A Tin và sông A Sáp chảy về Lào, sông
A Rong chảy về Quảng Nam, còn sông Bồ và sông Hương sẽ vượt qua rừng rất xa để
đổ vào phá Tam Giang Trước khi là sông Hương của Huế, nó đã là một dòng sôngcủa dân tộc Cà Tu, mang cái tên gốc “pô – li – nê – diêng” là sông “A Pàng” [46,tr.665] Như vậy, những tên sông mang đậm hơi thở núi rừng như A Tin, A Rong, APàng đều liên quan đến sông Hương, là những con sông “chị em” cùng phát sinh mộtkhởi nguồn với sông Hương Nhà văn đã cho chúng ta những khám phá vô cùng mới
mẻ về sông Hương, trước khi là một Hương Giang lững lờ của Huế, nó là con sông A
Pàng, con sông của người Cà Tu, trong ngôn ngữ Cà Tu, “Pàng” có nghĩa là đời
người “A Pàng là một nửa đời băng ngàn vượt thác của sông Hương, mang trong cốt
cách tinh thần của nó mọi cái đẹp mà trời đất chỉ dành riêng cho những con sôngrừng.” [46, tr.668]
Trong ý niệm của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương của Huếsánh ngang những dòng sông nổi tiếng trên thế giới như sông Xen của Pa –
ri, sông Đa – nuýp của Bu – đa – pét, hay dòng Nê – va của Lê – nin – grat.Nhưng sông Hương mang những nét đặc trưng riêng mà không một dòng
Trang 34sông của một thành phố hiện đại nào có được “sông Hương nằm ngay giữalòng thành phố yêu quý của mình, Huế trong tổng thể vẫn giữ nguyên một
đô thị cổ, trải dọc hai bờ sông Đầu và cuối ngõ thành phố, những nhánhsông đào mang nước sông Hương toả đi khắp đô thị, với những cây đa, câycừa cổ thụ toả vần lá u sầm xuống những xóm thuyền xúm xít, từ nhữngnơi ấy, vẫn lập loè trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của mộtlinh hồn mô tê xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấyđược” [46, tr.318-319]
Có lúc đứng trước dòng Nê-va tha thiết chảy trôi “cuốn trôi nhữngđám băng lô xô” Hoàng Phủ Ngọc Tường chợt nhớ và biết ơn tha thiết “consông Hương của tôi”, “chợt thấy quý điệu chảy lặng lờ của nó khi ngangqua thành phố Đấy là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế có thể cảmnhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vàonhững đêm hội rằm tháng bảy” [46, 319-320]
Qua sự liên tưởng về các con sông nổi tiếng trên thế giới, tác giả đãcho thấy một tình yêu đằm sâu với con sông xứ sở của mình Chỉ qua vài
ba phác hoạ giản dị, tự nhiên, người đọc có thể cảm nhận sâu sắc hình hàidáng dấp cố đô, màu sắc quê hương xứ sở đậm đà qua nhịp chảy của mộtdòng sông
Trong thế đối sánh với hai con sông lớn của Tổ quốc là sông Hồng
và sông Cửu Long, nhà văn đã có những chiêm nghiệm về sông Hương vôcùng sâu sắc “Với tôi, sông Hồng là nỗi nhớ về phù sa của đời người, sôngCửu Long là sức mạnh đi tới biển thì và sông Hương như nỗi hoài vọng vềmột cái Đẹp nào đó chưa đạt tới ở đời” [46, tr.664] Nói đến sông Hương lànói đến sự khát khao tìm kiếm cái Đẹp muôn đời trong quan niệm của nhàvăn xứ Huế
Như vậy, với nhóm từ ngữ chỉ sông, sông Hương đã được tác giả tìmđến ngọn nguồn từ vùng thượng nguồn của nó với những tên gọi mang đậmhơi thở núi rừng Con sông còn được đặt trong trong thế đối sánh vớinhững dòng sông nổi tiếng trong và ngoài nước để thấy đặc điểm nổi bật
Trang 35riêng của nó mà không một con sông nào có được Dù đi đâu, về đâu, dùcuộc đời Hoàng Phủ đã qua không biết bao nhiêu dòng sông nhưng consông Hương vẫn là duy nhất in hằn trong thẳm sâu nỗi nhớ, sự khát khaokiếm tìm, say mê của tác giả
Bên cạnh các từ ngữ chỉ sông, người đọc còn ngỡ ngàng khám phábiết bao điều qua nhóm từ ngữ chỉ thực thể sự vật mà dòng sông đi qua
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã vẽ lại địa đồ của dòng sông Hương màđặc điểm địa lý đầu tiên là nó thuộc về một thành phố duy nhất - thành phốHuế Khởi nguồn từ rừng già, cường tráng và mãnh liệt vượt qua nhữngcánh rừng Trường Sơn, uốn lượn quanh co qua miền Châu Hoá, theo hướngNam Bắc qua điện Hòn Chén vòng qua đất bãi Nguyệt Biều ôm lấy chânđồi Thiên Mụ rồi xuôi về Huế, gặp thành phố ở cồn Giã Viên rồi uốn sangCồn Hến, ra khỏi kinh thành dòng sông liền chếch về phía Bắc trôi đi trongsắc màu vùng ngoại ô Vĩ Giạ, như lưu luyến với kinh thành mà nó lại rẽtheo hướng đông tây để gặp thành Huế lần nữa ở thị trấn Bao Vinh rồi mớitrôi ra biển Sự xuất hiện một loạt các địa danh văn hoá vốn gắn liền với xứHuế thực không vô tình, như muốn nói với bạn đọc: sông Hương chính làhiện thân, là bộ mặt, là linh hồn của xứ Huế Sông Hương gắn với lịch sửcủa đất cố đô
Với các từ phản ánh sự vật, hiện tượng gắn với núi rừng như rừng
già, bóng cây đại ngàn, ghềnh thác, đáy vực, dặm dài chói lọi hoa đỗ quyên rừng, lòng Trường Sơn, cửa rừng, chân núi Kim Phụng, bằng sức
tưởng tượng miên man kết hợp với tư duy nghiên cứu, Hoàng Phủ NgọcTường đã đi tìm cội nguồn dòng sông Hương thơ mộng, để người đọc ngỡngàng rằng trước khi trở thành bộ mặt kinh thành Huế với điệu chảy slowlững lờ, sông Hương là đứa con của rừng già phóng khoáng và man dại
“Trước khi về đến châu thổ êm đềm nó đã là một bản trường ca của rừnggià, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộnxoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu
Trang 36dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyênrừng” [46, tr.316]
Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương chính là “một cô gái di-ganphóng khoáng và man dại” với “bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do vàtrong sáng” Nhưng khi miêu tả sông Hương lúc ra khỏi cửa rừng, trongtrang viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ta bắt gặp một loạt các từ ngữ chỉthực thể sự vật mang âm hưởng êm đềm của đồng bằng, các từ ngữ chỉ địa
danh của kinh thành Huế như châu thổ, phù sa, khuôn mặt kinh thành,
tiếng chuông chùa, tiếng gà, màu xanh tre trúc, vườn cau vùng ngoại ô Vĩ
Dạ, ngã ba Tuần, điện hòn Chén, vấp Ngọc Trản, bãi Nguyệt Biều, Lương Quán, đồi Thiên Mụ, Huế, chân núi ngọc Trản, Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo, chùa Thiên Mụ, xóm làng Trung Du, vùng ngoại ô Kim Long, cầu Tràng Tiền, cồn Giã Viên, cồn Hến… Lúc này, sông Hương đã chế ngự sức
mạnh bản năng của mình ở vùng đầu nguồn để “nhanh chóng mang một sắcđẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứsở” [46, tr.317] Sông Hương có phần tâm hồn sâu thẳm, có vẻ mặt lúctrầm mặc, lúc vui tươi, có thái độ đầy ân tình với Huế khi dành cho cố đô
“điệu slow tình cảm” vô cùng giàu ý nghĩa…Tác giả đã thực sự trở thànhtri kỉ của sông Hương, hiểu ngọn ngành khí chất của nó, và hơn thế nữa,còn đề xuất với chúng ta một cách nhìn toàn diện về người bạn của mình
“nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽkhông hiểu một cách đầy đủ về bản chất sông Hương” [46, tr.317]
Hoàng Phủ Ngọc Tường dõi theo từng khúc quanh, nét lượn, bướcngoặt rất cụ thể của sông Hương để nói với độc giả về những ý tứ mà sôngHương muốn biểu lộ trước con người và miền đất Châu Hoá xưa “Nhưngngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cáchliên tục, vòng những khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đườngcong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thànhphố tương lai của nó Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam - bắcqua điện Hòn Chén; vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây - bắc, vòng
Trang 37qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cungthật tròn về phía đông - bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế”[46, tr.317] Theo tác giả, sông Hương đã thật “tâm lí” khi “trôi đi chậm,thực chậm” qua kinh thành Huế, như để yên ủi người ta đừng quá sầu muộn
về sự biến đổi vô thường của cuộc đời
Qua nhóm từ ngữ chỉ các thực thể sự vật mà dòng sông đi qua nhàvăn giúp chúng ta hiểu rõ chặng hành trinh gian truân của sông Hương từthượng nguồn, qua kinh thành Huế xuôi về biển cả Ở mỗi hành trình củamình, sông Hương mang những nét đẹp riêng để trở thành con sông mangcác nét văn hoá đặc trưng của đất cố đô cổ kính
Bên cạnh con sông Hương mang vẻ đẹp thơ mộng, lững lờ chảy rấtsâu trong lòng thành phố, bồi đắp phù sa cho một vùng văn hoá xứ sở, thiênnhiên xứ Huế còn đặc trưng bởi vẻ huyền nhiệm, tư thế vững chãi củanhững ngọn núi, tiêu biểu là Bạch Mã “ngọn núi ảo ảnh” Núi là một tronghai thành tố thiên nhiên hợp dựng vẻ đẹp cân bằng cho Huế Qua khảo sátcác tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường về thiên nhiên Huế, đặc biệt làtác phẩm ký “bề thế” “Ngọn núi ảo ảnh”, chúng tối đã thống kê được tác
giả sử dụng 23 từ và cụm từ chỉ núi: núi, núi ngàn, trái núi, hòn núi, ngọn
núi, núi non, rặng núi, núi Bạch Mã, quần sơn Bạch mã, núi Ngự Bình, núi Kim Phụng và 10 từ chỉ các bộ phận của núi: đỉnh núi, sườn núi, chân núi, bóng núi, hẻm núi
Theo bước chân khám phá của Hoàng Phủ Ngọc Tường - một nhàđịa lý, nhà văn hoá, nhà triết học, ta thấm thía bao điều huyền nhiệm từ nonnước mây trời xứ Huế
Ý niệm về Bạch Mã “ngọn núi ảo ảnh” bắt đầu từ một kỉ niệm tuổithơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong một đêm rằm nguyên tiêu xem cầu
cơ Tiên ở xếp ga Thừa Lưu, một ga nhỏ nằm gần chân núi Bạch Mã Vớitác giả “Những ý niệm hình thành trong tuổi thơ của tôi chiếm một vai tròquan trọng trong vốn liếng văn hoá của đời người”[46, tr.719] Và chínhnhững đêm thơ bút đào thuở nhỏ dưới chân Bạch Mã đó đã hình thành
Trang 38trong Hoàng Phủ ý niệm về Tiên, về cõi Đào Nguyên với những ngày tháng rất dài và những người đẹp muôn đời, về nỗi khát khao cái Đẹp vĩnh hằng
trước những mênh mông dâu bể cuộc đời và với tác giả Bạch Mã trong hoàiniệm chính là hiện thân của cái đẹp, cái đẹp ảo ảnh nơi trần thế
Nếu Ngự Bình người bạn chung thuỷ gắn bó với sông Hương mang
vẻ đẹp nho nhã, thanh thoát của “hình thang cân, kéo một đường thẳng
thanh thoát nổi bật trên nền trời, giống như chiếc án thư nghĩ ngợi dưới ánhsáng nhật nguyệt” [46, tr.679] thì Bạch Mã mang vẻ đẹp “cường tráng”của một ngọn núi đứng ngang tầm với biển “Bạch Mã là một ngọn núi caongất ở phía Nam Huế, gấp ba lần độ cao của đèo Hải Vân, đến nỗi ngay cảvào tiết trời đẹp cuối xuân, núi hứng sương mù từ biển vào, toả thànhnhững cơn mưa mịt mù giống như bóng núi đổ lên láng xuống mặt đất suốtquãng quốc lộ ngang dưới chân nó” [46, tr.721]
Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhìn Bạch Mã trong chiềudài lịch sử của nó với bao nuối tiếc hoài niệm về một cái Đẹp đã mất.Được khám phá vào năm 1932, ở độ cao 1.450m với khí hậu ôn đới,khu quần sơn Bạch Mã được đánh giá là một khu vực có khí hậu dễchịu nhất trên toàn Đông Dương “Cho đến trước biến động lịch sử
1945, Bạch Mã còn là một thành phố nghỉ mát hấp dẫn người tứ xứ,với 130 biệt thự và mạng lưới giao thông ngang dọc khắp nẻo quầnsơn” [46, tr.723] “Tôi đã đến và thấy, và lang thang với Bạch Mãtrong những năm bình yên của đầu thập niên 60, để nay còn giữ lạitrong kí ức hình ảnh hầu như còn nguyên dạng của một thế giới trướckhi nó tan vỡ, hoặc đúng hơn, bị nghiền nát” [46, tr.724]
Trong nỗi quan hoài đau đớn về thế giới cái Đẹp mong manh đãmất, một đi không trở lại, trong kí ức của Hoàng Phủ, Bạch Mã là mộtnơi lý tưởng, nơi cư trú của mênh mông thú hoang, nơi tồn trữ vô tậncủa nhiều loài thảo mộc quí hiếm, của phong lan và thổ lan “một khônggian huyền nhiệm kiểu phương Đông, với thiên nhiên đầy hoa rừng mùaXuân, nắng rực rỡ mùa Hè, và sương khói mộng ảo của mùa Thu, nơi
Trang 39đó cây và đá sạch như vô nhiễm, mây trời và tiếng suối reo khẽ đánhđộng trong tâm linh giấc mộng tiền thân, tuồng như con người đã quên
từ lâu” [46, tr.724] Trải qua chiến tranh, những biến động dữ dội củalịch sử, Bạch Mã giờ đây chỉ là phế tích của những năm tháng huyhoàng dĩ vãng xưa kia Bạch Mã chính là triết lý sâu sắc của Hoàng PhủNgọc Tường về lẽ biến thiên dâu bể của cuộc đời, là cái hữu hạn củakiếp người, là sự mong manh của cái Đẹp “Biển dâu thời tôi sống kéotới dồn dập đến kinh hoàng Biển dâu trên thời đại, trên đời dân, trênthân phận người, trên cây hoa anh đào Biển dâu đến cả hoa kia, cỏ này.Bạch Mã như là một thành phố ảo ảnh trong sa mạc, huy hoàng phútchốc rồi tan biến, chỉ còn lại một bóng núi lau mờ…” [46, tr.757]
Một yếu tố thứ ba, đặc trưng không thể thiếu của hệ thiên nhiên Huế,
bên cạnh núi và sông là không gian xanh thẳm của nhà vườn
Vườn Huế thể hiện đầy đủ tính đa khí hậu của thiên nhiên Huế Từngoài vào trong, mỗi khu vườn ở vùng Kim Long đều có rừng – đồi khuônviên vườn – vườn cây ăn quả - sân trồng hoa – nhà Nhà làm ở cuối sân,giữa vòm lá um tùm của cây ăn quả, nhờ thế, phù hợp với thiên nhiên bênngoài Vùng Kim Long đã từng là kinh đô trong 50 năm Vườn Huế vốn đã
có từ thời phủ Quốc mẫu, Quốc chúa như đã thấy trong sách Phủ Biên TạpLục của Lê Quý Đôn viết vào thế kỷ thứ 18 Sau này, kinh đô Huế dờixuống một quãng 5km dọc sông Hương đến chỗ hiện nay như đã thấy,vườn Huế để lại như dấu ấn một vệt vườn từ vùng Kim Long đến lúc chạm
bờ thành Đại Nội, và thành phố nó tạo nên gồm những công dân không ưalàm giàu bằng thương nghiệp mà chỉ thích nghi với nghề làm vười, gọi làthành phố vườn
Vườn là một không gian văn hóa đặc trưng của Huế Hệ thống vườnnhà, vườn lăng, vườn chùa, vườn trường làm tôn tạo sắc xanh và trữ tìnhcho Huế Từ lâu, Huế đã nổi tiếng với các khu nhà vườn như Lạc TịnhViên, vườn An Hiên, vườn Ý Thảo, từ đường “Ngọc Sơn công chúa”…Trong sáu tác phẩm viết về thiên nhiên Huế của Hoàng Phủ Ngọc Tường,
Trang 40qua khảo sát của chúng tôi, có tới 32 từ và cụm từ chỉ thực thể vườn như
vườn, khu vườn, khu vườn xanh biếc, khu vườn tre trúc xanh biếc, vườn An Hiên, khu vườn xưa cổ sầm uất, vườn cau, vườn đào, khu vườn thân mật, kinh tế vườn, khu vườn cao sản, vườn cỏ xanh mượt, vườn Huế, vườn tược, thành phố vườn… Trong đó, những từ vườn, khu vườn, hay vườn An Hiên
được lặp lại nhiều lần
Nhạy bén với ưu đãi của thiên nhiên dành cho vùng đất kinh kỳ cũ,bằng những trang ký trữ tình, với văn phong mềm mại, hấp dẫn, Hoàng PhủNgọc Tường đã khắc họa đậm nét yếu tố văn hóa đặc trưng này Trong
Hoa trái quanh tôi, nhà văn viết: "Có lẽ thiên nhiên đã giữ một vai trò nào
đó, thực quan trọng, trong sự tổng hợp nên cái mà người ta có thể gọi là
"bản sắc Huế” Lớn lên ở Huế, không lúc nào tôi không cảm thấy thànhphố nầy như một khu vườn thân mật của mình ở đó, tôi có thể tư duy cùngvới hoa sen, khát vọng với hoa phượng, mơ mộng với mùi hương sâu thẳmcủa hoa ngọc lan ban đêm, và khi thành phố lộng lẫy trong sắc mai vàngmùa xuân, không hiểu sao lại thấy lòng thức dậy một niềm ngưỡng mộ bao
la đối với cuộc sống.” [46, tr.371] Từ cái nhìn đó, Hoàng Phủ Ngọc Tườngsay sưa viết về những khu vườn Huế Không có sự am tường về văn hóavườn, khó có thể viết được những trang thú vị như thế về vườn Huế
Qua ngòi bút của tác giả, nhà vườn đã trở thành một yếu tố khôngthể thiếu, không thể tách rời trong hệ thiên nhiên Huế Huế được bao bọcbởi bốn vùng ngoại ô thì trong đó ba vùng được đặc trưng bởi nhà vườn.Khu Kim Long có các phủ đệ của những vị ngoại thích với vườn An Hiênnổi tiếng của bà Lan Hữu Khu Nguyệt Biều dành cho những khu vườn nhàcủa các vị đường quan Khu Vĩ Dạ là nơi văn nhân của mọi thời, nhữngngười theo tư tưởng tự do thích ở Vĩ Dạ là vùng đất bên bờ phía đông sôngHương, là nơi người ta lập vườn theo phong cách dân giã, trồng hoa cúc.Người dân nơi đây thường mang hoa lên trung tâm Huế bán để ướp lấy trà
Hoàng Phủ Ngọc Tường vốn là một vị khách quen thuộc của các khuvườn Huế, mở đầu ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, tác giả viết “xuân,