1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thi pháp tự sự của thượng kinh ký sự và hoàng lê nhất thống chí luận văn thạc sỹ ngữ văn

116 1,6K 23

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thi pháp tự sự của thượng kinh ký sự và hoàng lê nhất thống chí
Tác giả Trần Thị Thái Hà
Người hướng dẫn TS. Phạm Tuấn Vũ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 655,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến giai đoạn này, văn kí sự đã đạt được những thành tựu rực rỡ, biểu hiện sự quantâm của con người trước những vấn đề, những biến cố xảy ra trong xã hội.Chính vì thế, văn học lúc này xu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VINH - 2011

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU………

1 Lí do chọn đề tài……….

2 Lịch sử vấn đề……….………

3 Mục đích nghiên cứu……….………

4 Phạm vi nghiên cứu……….….……….

5 Phương pháp nghiên cứu……….

6 Đóng góp của luận văn……… ……….

7 Cấu trúc luận văn………

Chương 1 KHÁI NIỆM THI PHÁP TỰ SỰ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨU THI PHÁP TỰ SỰ CỦA HAI TÁC PHẨM

1.1 Khái niệm thi pháp tự sự………

1.2 Tác giả, nội dung và hình thức của Thượng kinh kí sự…………

1.2.1 Tác giả……….

1.2.1.1 Cuộc đời Lê Hữu Trác………

1.2.1.2 Con người nhân cách Lê Hữu Trác.

1.2.1.3 Sự nghiệp sáng tác văn chương………

1.2.2 Nội dung của Thượng kinh kí sự ………

1.2.2.1 Giá trị hiện thực của Thượng kinh kí sự ………

1.2.2.2 Tâm sự của Lê Hữu Trác……….

1.2.3 Hình thức của Thượng kinh kí sự ………

1.2.3.1 Thể loại………

1.2.3.2 Kết cấu………

1.2.3.3 Ngôn ngữ, giọng điệu………

1.3 Tác giả, nội dung và hình thức của Hoàng Lê nhất thống chí… …

1.3.1 Tác giả ……… ……….

1.3.2 Nội dung của Hoàng Lê nhất thống chí ……… ………

1.3.2.1 Miêu tả sự sụp đổ của tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh và cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn………

1.3.2.2 Tư tưởng, thái độ của các tác giả Ngô gia văn phái ………

1.3.3 Hình thức của Hoàng Lê nhất thống chí ……… …………

1.3.3.1 Thể loại, kết cấu……….

1.3.2.2 Ngôn ngữ, giọng điệu trong Hoàng Lê nhất thống chí …………

1 1 3 9 9 10 10 10

11 11 12 12 12 16 19 19 20 23 28 29 33 34 37 37 39

40 41 42 42 47

Trang 4

Chương 2 THI PHÁP TỰ SỰ CỦA THƯỢNG KINH KÝ SỰ ………

2.1 Mạch trần thuật……… ………

2.2 Nghệ thuật thể hiện nhân vật của Thượng kinh kí sự……… ……

2.2.1 Vua chúa, quan lại……….

2.2.2 Nhân vật “tôi” - chân dung tự họa của tác giả………

2.3 Nghệ thuật miêu tả sự kiện……….………

2.3.1 Miêu tả sự kiện theo thời gian……… ………

2.3.2 Miêu tả sự kiện gắn với tâm trạng………… ……….………

Chương 3 THI PHÁP TỰ SỰ CỦA HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ ……

3.1 Mạch trần thuật ……… …………

3.2 Nghệ thuật thể hiện nhân vật……….

3.2.1 Hệ thống nhân vật của Hoàng Lê nhất thống chí …… ………

3.2.2 Các nhân vật thuộc tầng lớp thống trị ………… ………

3.2.2.1 Vua chúa……….

3.2.2.2 Thái hậu, quý phi, quan lại……….

3.2.3 Các nhân vật thuộc triều Tây Sơn……….…………

3.2.4 Nhân vật đám đông ………

3.3 Nghệ thuật thể hiện sự kiện……….………

3.3.1 Nghệ thuật thể hiện sự kiện lịch sử……… …

3.3.2 Sự kiện được miêu tả có không gian và thời gian xác định…………

3.3.2.1 Sự kiện được thể hiện theo không gian xác định………

3.3.2.2 Sự kiện được thể hiện theo thời gian ……….

Chương 4 SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT LỚN TRONG THI PHÁP TỰ SỰ CỦA HAI TÁC PHẨM……… ………

4.1 Sự tương đồng Nguyên nhân của sự tương đồng………

4.1.1 Sự tương đồng khi viết về các sự kiện lịch sử - xã hội……

4.1.2 Sự tương đồng khi viết về các nhân vật lịch sử……….

4.2 Sự khác biệt và nguyên nhân của chúng………

4.2.1 Sự khác biệt khi viết về các sự kiện lịch sử - xã hội………….……

4.2.2 Sự khác biệt khi viết về các nhân vật lịch sử………… ……… …….

KẾT LUẬN………

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… ………

51 51 57 57 59 63 64 66 70 70 72 72 73 73 78 80 85 87 87 89 89 90

92 92 92 93 95 95 98 103 106

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nghiên cứu thi pháp tự sự là nghiên cứu một trong những vấn đềchính yếu của tác phẩm tự sự Nghiên cứu tác phẩm tự sự dưới góc nhìnthi pháp học là một lĩnh vực nghiên cứu còn mới, nhất là khi so sánh với bộmôn thi học của Arixtote (lấy nghệ thuật thơ ca làm đối tượng chính) có bềdày lịch sử hơn hai nghìn năm Tự sự học đã trở thành một bộ môn thu hútcác nhà nghiên cứu ngữ văn Tìm hiểu tác phẩm dưới góc nhìn thi pháp tự

sự sẽ giúp chúng ta hiểu hơn giá trị của tác phẩm với tư cách là một sảnphẩm nghệ thuật

1.2 Kí sự và chí là hai loại tác phẩm có những điểm gần gũi: hiệnthực được phản ánh trong tác phẩm, yếu tố thực và hư cấu Trong thànhtựu của văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉXIX thì tiêu biểu hơn cả là văn xuôi tự sự, trong đó chủ yếu là văn kí sự.Thành tựu nổi bật về văn xuôi tự sự chữ Hán những giai đoạn trước là loạitruyện chí quái và truyền kì, nghĩa là từ những truyện dân gian có nhiều

yếu tố hoang đường, tác giả thể hiện bằng văn xuôi, từ Việt điện u linh,

Lĩnh Nam chích quái và Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục Đến giai

đoạn này, văn kí sự đã đạt được những thành tựu rực rỡ, biểu hiện sự quantâm của con người trước những vấn đề, những biến cố xảy ra trong xã hội.Chính vì thế, văn học lúc này xuất hiện nhiều tác phẩm viết theo thể loại kí

như Công dư tiệp kí của Vũ Phương Đề hoàn thành vào năm 1755, Tiên

tướng công niên phả lục của Trần Tiến, Vũ trung tùy bút và Châu phong tạp thảo của Phạm Đình Hổ, Tang thương ngẫu lục do Phạm Đình Hổ

(dưới bút danh là Tùng Niên) và Nguyễn Án (dưới bút danh là Kính Phủ)…Ngoài ra văn học giai đoạn này còn có những bộ tiểu thuyết chương hồi

viết bằng chữ Hán Đó là bộ Nam triều công nghiệp diễn chí, còn gọi là

Việt Nam khai quốc chí truyện, Tây Dương Gia Tô bí lục Trong hai thể

Trang 6

loại tiêu biểu đó, không thể không kể đến hai tác phẩm đặc sắc: Thượng

kinh kí sự của Lê Hữu Trác và Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn

phái Sở dĩ có được sự độc đáo đó là vì hai tác phẩm ra đời trong cùng mộthoàn cảnh lịch sử, phản ánh một thời kì đau thương và hào hùng của dântộc Có lúc đọc tác phẩm này, dường như chúng ta lại thấy phảng phất tácphẩm kia nhưng thực ra chúng không tương đồng Đó chính là nhờ những

đặc sắc của mỗi tác phẩm Thượng kinh kí sự là “Tác phẩm kí nghệ thuật

đích thực đầu tiên của văn học Việt Nam Nó không chỉ là đỉnh cao, là sựhoàn thiện thể kí thời trung đại, mà còn là mực thước cho lối viết kí sau

này” Còn Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái nổi lên như một

kiệt tác “tập đại thành của nền văn xuôi chữ Hán Việt Nam” Đây thực sự

là những tác phẩm nghệ thuật có ý nghĩa lớn đối với lịch sử văn học dântộc Nghiên cứu hai tác phẩm này dưới góc nhìn thi pháp học sẽ giúp chúng

ta nhận thức sâu thêm giá trị vốn có của chúng với đặc trưng thể loại, sựgần gũi và khác biệt giữa hai tác phẩm thuộc hai thể loại tự sự có dunglượng lớn

1.3 Thượng kinh kí sự và Hoàng Lê nhất thống chí tiêu biểu cho hai

loại tác phẩm trên, cùng viết về một thời đại lịch sử nên có cơ sở nghiêncứu thi pháp của chúng trong sự đối sánh để nhận thức được những điểmtương đồng và dị biệt của hai tác phẩm góp phần nhận thức sự tương đồng

và dị biệt của hai thể loại

Thượng kinh kí sự và Hoàng Lê nhất thống chí cùng viết về một thời

kì lịch sử vừa đau thương vừa hào hùng của dân tộc, giai đoạn phân tranhquyền lực giữa các tập đoàn chính trị cuối thời Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn

và cùng cuộc nổi dậy của nghĩa quân Tây Sơn đập tan các tập đoàn chínhtrị phong kiến trong nước và đánh đuổi hai mươi vạn quân xâm lược MãnThanh Thời kì cuối Lê đầu Nguyễn (cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX) làmột thời kì loạn lạc, đầy biến động dữ dội “thương hải tang điền”, quý tộcsống xa hoa, hưởng lạc, quan lại tham nhũng, lộng hành làm cho cuộc

Trang 7

sống nhân dân vô cùng đau khổ Văn học thời kì ấy nói chung, Thượng

kinh kí sự và Hoàng Lê nhất thống chí nói riêng phản ánh sâu sắc hiện thực

bấy giờ Chính vì vậy, các nhà phê bình, nghiên cứu đánh giá đây là giaiđoạn đạt được nhiều thành tựu rực rỡ nhất trong văn học trung đại nước ta.Trong văn học trung đại nói chung, văn xuôi tự sự thời kì cuối Lê đầu

Nguyễn nói riêng không có tác phẩm nào như Hoàng Lê nhất thống chí và

Thượng kinh kí sự lại có sự gần gũi nhiều như vậy Ngô gia văn phái và Lê

Hữu Trác đã bộc lộ được tư tưởng sâu sắc, bày tỏ thái độ và cảm xúc bằngnhững bài thơ trữ tình hay bằng những ghi chép, miêu tả chân thực nhất đểlại dấu ấn trong lòng độc giả yêu thích văn học trung đại

1.4 Nghiên cứu Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác và Hoàng Lê

nhất thống chí của Ngô gia văn phái góp phần nâng cao chất lượng dạy và

học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Hai tác phẩm đều có những đoạn

trích được đưa vào chương trình Ngữ văn, đoạn trích Quang Trung đánh

tan quân Thanh trích Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái, Vào phủ chúa Trịnh trích Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác Có thể nói, hai

đoạn trích đã thể hiện được nhiều giá trị của hai tác phẩm Hiện nay số họcsinh yêu thích môn văn ngày càng giảm, thậm chí một số học sinh khôngmuốn học văn vì nhiều lí do khác nhau Chính vì thế, giáo viên càng cầnthay đổi phương pháp tiếp cận tác phẩm để tạo hứng thú học văn cho họcsinh Tiếp cận tác phẩm văn học dưới cái nhìn thi pháp học là một trongnhững phương pháp mới và khoa học giúp học sinh nhận thức được nhữnggiá trị tinh thần của người xưa để lại và thêm yêu quý văn học nước nhà

2 Lịch sử vấn đề

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác và Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái Tuy nhiên các nhà

nghiên cứu chưa đối sánh thi pháp tự sự của hai tác phẩm

Trong Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỉ XVIII - hết thế kỉ XIX), Nhà

xuất bản Giáo dục năm 1999, Nguyễn Lộc đã phân tích khá sâu sắc những

Trang 8

đặc điểm nổi bật của thể loại tiểu thuyết lịch sử Nhà nghiên cứu khẳng

định: “Các tác giả Hoàng Lê nhất thống chí viết về những sự kiện lịch sử

vừa mới xảy ra chứ không phải những sự kiện lịch sử xa xưa, tất cả conngười, sự kiện, năm tháng ở đây đều có thực chính xác, tác giả cố ý ghi chépmột cách trung thành mà không bịa đặt một điều gì Sáng tạo của nhà văn làtrong rất nhiều sự việc bề bộn đã biết lựa chọn cái gì là tiêu biểu, là độc đáo

và miêu tả nó một cách sinh động, linh hoạt, chứ không phải nhằm xây dựngnhững nhân vật, những tính cách để qua đó phản ánh bản chất của lịch sử”

[29, 241] Nguyễn Lộc nhấn mạnh giá trị nghệ thuật của tác phẩm: “Hoàng

Lê nhất thống chí là một kí sự lịch sử Có thể nói, thành công đầu tiên của

tác phẩm này là nhà văn đã kết hợp được tương đối hài hòa chân lí lịch sử

với chân lí nghệ thuật Trong Hoàng Lê nhất thống chí tác giả không phải

chỉ kể lại những gì đã xảy ra, mà kết hợp việc kể với việc miêu tả cái khôngkhí xảy ra sự việc ấy” [29, 252] Như vậy, Nguyễn Lộc đã khẳng định rõthành tựu của văn kí sự trong văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa

đầu thế kỉ XIX mà tác phẩm tiêu biểu là Hoàng Lê nhất thống chí Kết luận

đó đã phủ nhận quan niệm cho rằng Hoàng Lê nhất thống chí là một tiểu thuyết chương hồi của Việt Nam vì cho rằng trong Hoàng Lê nhất thống chí tiếp thu truyền thống chép sử theo lối biên niên của Trung Quốc Hoàng Lê

nhất thống chí có nhiều yếu tố tiểu thuyết nhưng chưa phải là một tiểu thuyết

lịch sử Nguyễn Lộc chỉ ra được tính chất thể loại và nghệ thuật thể hiện sựkiện, hình tượng xây dựng nhân vật của tác phẩm Tuy nhiên nhà nghiên cứuchưa tiếp cận tác phẩm ở góc độ thi pháp tự sự

Cũng trong công trình này, Nguyễn Lộc đã khẳng định một trongnhững thành tựu của văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII

- đầu thế kỉ XIX là văn xuôi tự sự mà đặc biệt là văn kí sự: “Văn kí sựđạt được những thành tựu rực rỡ là biểu hiện của ý thức con ngườikhông thể dửng dưng những vấn đề, những biến cố xảy ra trong xã hội

Sử học phong kiến chỉ ghi chép việc làm của vua chúa, những việc

Trang 9

quốc gia đại sự, không chép chuyện hàng ngày, chuyện sinh hoạt, cách

viết khô khan, nên các nhà văn đã tìm đến loại văn kí sự… Thượng

kinh kí sự là một tập bút kí đặc sắc của nhà y học nổi tiếng Lê Hữu

Trác, ghi lại những điều tai nghe mắt thấy và tâm trạng của ông trongchuyến ra kinh thăm bệnh cho thế tử Trịnh Cán” [29, 26]

Trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 1 (Nhà xuất bản Đồng Tháp - năm 1996), Phạm Thế Ngũ viết về Hoàng Lê nhất thống chí

như sau: “Tác giả họ Ngô thì chủ trương chép lại câu chuyện vua Lê thống

nhất đất nước Nhất thống có nghĩa là thu quyền hành về một mối Nguyên

từ khi trung hưng ở Thanh Hóa rồi ra Thăng Long, nhà Lê tuy làm vuasong hầu nhưng chỉ có hư vị, các chúa Trịnh lập phủ riêng để xét đoán mọiviệc quốc gia Trong nước ta thời bấy giờ có vua lại có chúa, quyền bínhkhông thống nhất Đến hậu bán thế kỉ XVIII, sau khi Trịnh Sâm mất, kiêubinh làm loạn nhà chúa suy vi Rồi Tây Sơn ra Bắc, Nguyễn Huệ lật đổngôi chúa đem quyền trị nước mà họ Trịnh chia đoạt, trả lại cho mình vua

Lê Đó chính là cái tựa đề Hoàng Lê nhất thống chí… Tuy là chép theo sát

sự thật lịch sử, song muốn cho hấp dẫn, tác giả trình bày theo lối tiểuthuyết, chia làm 17 hồi, mỗi hồi có hai câu làm mào, cuối có hai câu kếtthúc, tự sự có đoạn mạch, trên dưới liên lạc, tình tiết lại li kì, đọc qua thấyphong vị của một tiểu thuyết Tàu” [37, 277] Ngoài ra, tác giả còn trình bày

những băn khoăn về vấn đề ai là tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí.

Trong công trình này, Phạm Thế Ngũ đã nghiên cứu thể loại kí và tác

phẩm Thượng kinh kí sự Tác giả đã dành hẳn một chương để viết về

Thượng kinh kí sự Trong chương này, ông tóm lược về tiểu sử Lê Hữu Trác,

về hành trình chuyến đi, đặc biệt là không gian nơi phủ chúa Phạm Thế Ngũ

cho rằng: “Thượng kinh kí sự là một tác phẩm hiếm có và đặc sắc về mọi

phương diện trong văn học chữ Hán nước ta xưa” Bên cạnh đó, ông còn

thấy được Thượng kinh kí sự cùng với một số tác phẩm tiêu biểu khác đã góp

phần phản ánh bộ mặt xã hội phong kiến Việt Nam “Duy chỉ có mấy trang

Trang 10

kí, nhất là ở tập du kí độc nhất vô nhị này, người đọc mừng rỡ bắt mạch thấymột chút gì sát thực, linh hoạt về nếp sống xưa cùng con người xưa” [37,126]

Trần Đình Sử (1999) trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại

Việt Nam đã khẳng định Văn học Việt Nam trung đại có ba bộ tiểu thuyết

chương hồi, viết bằng chữ Hán Đó là bộ Nam triều công nghiệp diễn chí,

Tây Dương Gia Tô bí lục và Hoàng Lê nhất thống chí Tác giả cho rằng

“Tiểu thuyết chương hồi viết bằng văn xuôi chữ Hán là một hiện tượng độcđáo của văn học Việt Nam trong bối cảnh các nền văn học cùng chịu ảnhhưởng văn học Hán Khác với truyện truyền kì và khác với văn học NhậtBản, Triều Tiên, tiểu thuyết chương hồi Việt Nam trung đại hầu như không

đề cập đến tình yêu mà chỉ liên quan đến đề tài lịch sử Đề tài lịch sử này

theo nhận xét của Riftin về Hoàng Lê nhất thống chí thì không phải là lịch

sử quá khứ mà là lịch sử đương đại của tác giả” [45, 358] Trần Đình Sử

khẳng định: “Hoàng Lê nhất thống chí hoàn toàn theo mô hình chương hồi

Trung Quốc Mỗi hồi chứa đựng một số sự kiện chính, có một câu đối ởđầu hồi, tóm gọn nội dung sự kiện” [45, 359] Khi nhận xét về thời gian

nghệ thuật trong bộ tiểu thuyết này, nhà nghiên cứu cho rằng: “Hoàng Lê

nhất thống chí có 17 hồi đã thể hiện một khung thời gian rất rộng từ chúa

Trịnh Kiểm phò lập vua Lê Trang Tông (1533 - 1548) cho đến năm 1860vua Tự Đức cho lập đền thờ các bề tôi vua Lê, gồm gần 300 năm Nếu tính

từ khi Trịnh Cán được sinh ra năm 1777 cho đến khi di hài vua Lê đượcđem về nước 1804 là chỉ có 27 năm được trực tiếp miêu tả trong truyện…

Xét theo bố cục thời gian này thì gọi Hoàng Lê nhất thống chí là tiểu thuyết

lịch sử biên niên là có cơ sở” [45, 382] Trần Đình Sử khẳng định tác phẩm

Hoàng Lê nhất thống chí là một tiểu thuyết chương hồi tiêu biểu của văn

học trung đại Việt Nam

Cũng trong công trình này, Trần Đình Sử cho rằng: “Khác với tạp kí,

kí sự chọn cuộc hành trình với những cuộc gặp gỡ, làm việc, thù tạc, chẳng

Trang 11

hạn như Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác Đây thực sự là một tập kí đầy

tính văn học - thuật việc tả lòng kết hợp chặt chẽ, miêu tả thì quan sát tinhtường, tỏ lòng thì trung thực nhân hậu, làm hiện lên rõ ràng một nhân cáchthanh cao, trong sạch… Đặc sắc của thiên kí sự này là sử dụng người trầnthuật ngôi thứ nhất, ghi lại những điều tai nghe mắt thấy của một con người

cụ thể, tâm tư, tình cảm cụ thể, mức độ cá tính hóa cao, ít thấy trong các tập

kí khác Thiên kí sự này, đánh dấu trình độ kí sự văn học cổ điển Việt Nam

đã đạt đến trình độ cao, có tính chất đột phá sáng tạo, bởi nếu như khôngnhầm thì chưa thấy tác phẩm tương tự trong văn Trung Quốc, một xứ sở sởtrường về kí ngắn, tản văn ngắn” [45, 331] Nhà nghiên cứu đã đánh giá caotác phẩm này khi nhìn nhận nó trong thể loại và đối sánh với kí Trung Quốc

Công trình Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại gồm ba tập truyện

ngắn, kí, tiểu thuyết chương hồi do PGS TS Nguyễn Đăng Na biên soạn

Ở tập hai, tác giả đã nhìn nhận quá trình phát triển của thể loại kí, phân biệt

kí với truyện và khẳng định vai trò, vị trí của Thượng kinh kí sự: “Thượng

kinh kí sự là tác phẩm kí nghệ thuật đích thực đầu tiên của văn học Việt

Nam Nó không chỉ là đỉnh cao, là sự hoàn thiện thể kí thời trung đại, màcòn là mực thước cho lối viết kí sau này” [34, 46] Nguyễn Đăng Na chorằng: “Lê Hữu Trác hoàn toàn làm chủ ngòi bút, ông tự do tung hoành trêndòng sông cảm xúc của mình Chưa bao giờ và chưa có một tác phẩm nào

mà cái tôi cá nhân của tác giả bộc lộ một cách mạnh mẽ, rõ ràng như ở

Thượng kinh kí sự…Vì thế đọc hết Thượng kinh kí sự, khi tác phẩm khép lại

rồi, hình tượng Lãn Ông hiện lên sừng sững: một thi nhân, một ẩn sĩ thanhcao, một danh y lỗi lạc đã đặt mình ra ngoài vòng cương tỏa, nghe hai chữ

“công danh” thì sợ đến “dựng cả tóc gáy” bởi mắc vào rồi “Trời cứu cũngkhông thoát được” [34, 50] Ngoài ra ông khẳng định: “Tác phẩm của LêHữu Trác chẳng chút vấn vướng gì đến văn học chức năng Chỉ có một tâmhồn phóng khoáng, bản lĩnh tự tin, cá tính mạnh mẽ và tài năng thực sự người

ta mới viết được kí và mới sáng tác những thiên kí tuyệt vời như Thượng kinh

Trang 12

kí sự, tác giả đã kết hợp ở đó nhiều bút pháp nghệ thuật: du kí, nhật kí, hồi kí,

kí phong cảnh… Đến Lê Hữu Trác, thể kí văn học đích thực đã thật sự ra đờitạo đà cho hàng loạt tác phẩm kí khác…” [34, 51] Như vậy, Nguyễn Đăng

Na đã khẳng định vị trí của Thượng kinh kí sự trong nền văn học dân tộc nói

chung và trong văn xuôi tự sự cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX nói riêng và

đã khắc họa thành công chân dung danh y lỗi lạc Lê Hữu Trác

Đánh giá Hoàng Lê nhất thống chí, Nguyễn Đăng Na cho rằng: “Với nhan đề Hoàng Lê nhất thống chí trước hết họ Ngô mặc nhiên khẳng định tác

phẩm của mình là sử không phải là văn Song khi đọc, ta không khỏi ngạcnhiên nhận thấy rằng, tác phẩm này không thuộc loại hình lịch sử mà thuộc loạihình văn chương, chẳng những thế nó còn là tác phẩm văn chương đặc sắc”

[35, 89] Tác giả khẳng định Hoàng Lê nhất thống chí là tiểu thuyết đầu tiên và

duy nhất phá bỏ lối kể chuyện theo trình tự thời gian Các nhà văn họ Ngô Thì

đã vượt qua lối kể chuyện theo tuyến tính “văn xuôi tự sự quẩn quanh trong bútpháp viết sử, để đưa tiểu thuyết chương hồi tới bên kia bờ của văn học đíchthực” [35, 89] Ngoài ra, nhà nghiên cứu còn nhấn mạnh đây là tác phẩm duynhất phản ánh một cách tuyệt vời phong trào Tây Sơn đã cùng lúc tiến hành haicuộc cách mạng: lật đổ các tập đoàn phong kiến thống trị đương thời trongnước và đánh đuổi giặc ngoại xâm Một thành công của Ngô gia văn phái là đãxây dựng thành công thế giới nhân vật và việc lựa chọn các sự kiện lịch sử,những xung đột gay gắt nhất trong một không gian nghệ thuật cực kì rộng lớn

Nguyễn Đăng Na đã khẳng định giá trị nội dung, nghệ thuật của haitác phẩm, từ đó khẳng định vị trí, vai trò của chúng trong nền văn học trungđại Việt Nam Tuy nhiên công trình chưa tiếp cận hai tác phẩm dưới góc độthi pháp tự sự

Trên Tạp chí Văn học (số 7 - 1961), trong bài “Mối quan hệ lâu đời

và mật thiết giữa văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc”, tác giả Đặng

Thai Mai cho rằng: “Một tập kí sự như cuốn Hoàng Lê nhất thống chí là

một tập sáng tác có ý nghĩa tiểu thuyết lịch sử viết theo kiểu tiểu thuyết

Trang 13

chương hồi của văn học Trung Hoa Văn tự, văn thể là của Trung Quốcnhưng nội dung là của Việt Nam” [31, 10] Như vậy, tác giả cũng đã chỉ ra

được sự sáng tạo của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí.

Năm 2009, tác giả Vũ Thanh Hà bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đềtài: “Thể loại tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam” tại Viện văn học ViệtNam Trong luận án này, Vũ Thanh Hà đã giải quyết nhiều vấn đề liên quan

đến tiểu thuyết chương hồi chữ Hán ở Việt Nam nói chung và Hoàng Lê nhất

thống chí nói riêng Đặc biệt là ở tính nguyên hợp của tác phẩm, ở góc độ tác

giả, thể loại, nội dung tư tưởng và công trình đã xem xét được vấn đề Hoàng

Lê nhất thống chí là tác phẩm văn học hay là một tác phẩm lịch sử

Tóm lại chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ thi pháp tự sự

của Thượng kinh kí sự và Hoàng Lê nhất thống chí trong cái nhìn so sánh,

đối chiếu Các nhà nghiên cứu nói đến hai tác phẩm này như một minhchứng về thể loại, giá trị hiện thực, giá trị nghệ thuật… tiêu biểu, xuất sắc củanền văn xuôi tự sự trung đại giai đoạn cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ thi pháp tự sự của Thượng

kinh kí sự và Hoàng Lê nhất thống chí, từ đó góp phần khái quát thi pháp tự

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu thi pháp tự sự của Thượng kinh kí sự và Hoàng

Lê nhất thống chí qua các văn bản chính sau:

4.1 Hoàng Lê nhất thống chí (Nguyễn Đức Vân - Kiều Thu Hoạch dịch

chú thích, Trần Nghĩa giới thiệu), Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2005

Trang 14

4.2 Thượng kinh kí sự (Bùi Hạnh Cẩn dịch), Nhà xuất bản Hà Nội, 1977.

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Chú trọng đặc trưng thể loại kí và tiểu thuyết chương hồi trongtiến trình hình thành và phát triển thể loại văn học trung đại Việt Nam.5.2 Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn học phổ biếnnhư thống kê, tổng hợp, phân tích, đối sánh, phương pháp văn học sử

5.2.1 Phương pháp văn học sử: xem xét các hiện tượng văn học trêntrong quan hệ trực tiếp và mật thiết với lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XVIII

- nửa đầu thế kỉ XIX

5.2.2 Phương pháp đối sánh:

a Đối sánh thi pháp tự sự của hai tác phẩm

b Đối sánh thi pháp tự sự của hai tác phẩm với cách tự sự trong sử kíViệt Nam trung đại

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn nghiên cứu một cách hệ thống các phương diện cơ bản của

thi pháp tự sự của Thượng kinh kí sự và Hoàng Lê nhất thống chí, việc đặt

các kết quả nghiên cứu thi pháp của hai tác phẩm có nhiều thành tựu thuộchai thể loại bên nhau đã làm sáng rõ hơn thi pháp tự sự của từng tác phẩm

và của từng thể loại Kết quả nghiên cứu của luận văn góp thêm cơ sở đểxác định đóng góp của hai tác phẩm này cho văn học Việt Nam trung đại và

có hướng thích hợp để đọc - hiểu các đoạn trích trong chương trình Ngữvăn trung học cơ sở và trung học phổ thông

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, nội dung chính của luận văn được trình bàytrong 4 chương:

Chương 1: Khái niệm thi pháp tự sự Những vấn đề liên quan đếnnghiên cứu thi pháp tự sự của hai tác phẩm

Chương 2: Thi pháp tự sự của Thượng kinh kí sự

Chương 3: Thi pháp tự sự của Hoàng Lê nhất thống chí

Trang 15

Chương 4: Sự tương đồng và khác biệt lớn trong thi pháp tự sự của haitác phẩm

Trang 16

Chương 1 KHÁI NIỆM THI PHÁP TỰ SỰ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨU THI PHÁP TỰ SỰ CỦA HAI TÁC PHẨM

1.1 Khái niệm thi pháp tự sự

Thi pháp tự sự là một trong những phạm trù cơ bản của thi pháp vănxuôi tự sự, cần nhìn nhận nó trong hệ thống của thi pháp học Thi pháp học

là "khoa học nghiên cứu thi pháp, tức hệ thống các phương tiện biểu hiệnđời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học Mục đích củathi pháp học là chia tách và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuậttham gia vào sự tạo thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ, chiều sâuphản ánh của sáng tác nghệ thuật” [19, 156] Khái niệm thi pháp học đã

xuất hiện ở Hy Lạp từ thời cổ đại với tác phẩm Poetica (Nghệ thuật thơ ca)

của Aristote Nhưng thi pháp học với tư cách là một bộ môn khoa học, mộtphương pháp nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học dựa trên lý thuyết cấutrúc luận Thi pháp học là bộ phận quan trọng nhất trong khoa nghiên cứuvăn học Nó nghiên cứu cấu trúc tác phẩm và những hợp thể của các cấutrúc đó: các tác phẩm của một nhà văn, các khuynh hướng văn học, các thời

đại văn học thì mới hình thành vào đầu thế kỷ XX ở Nga rồi dịch chuyển

sang Âu - Mỹ và phổ biến khắp thế giới

Giáo khoa Ngữ văn hiện hành và các công trình nghiên cứu chuyênbiệt viết nhiều về thi pháp học Tuy nhiên, cách hiểu về thi pháp học chưathống nhất và việc vận dụng thi pháp học vào nghiên cứu, phê bình văn họccòn có nhiều sự máy móc, thiên lệch, phiến diện Đọc các bài viết về thipháp học, ta dễ nhận thấy các nhà thi pháp học đều khẳng định: Nghiêncứu, phê bình theo hướng thi pháp học nghĩa là nghiêng về phân tích hìnhthức nghệ thuật tác phẩm bởi nội dung trong tác phẩm phải được suy ra từhình thức, đó là “hình thức mang tính nội dung” Ta có thể thấy, các nhà thipháp học ở các mức độ khác nhau đều phê phán các xu hướng nghiên cứu,phê bình trước đây là “xã hội học dung tục”, chỉ đề cao “tính hiện thực”,chỉ chú trọng phân tích nội dung của tác phẩm văn học mà chưa nhìn nhậnđúng mức vai trò của hình thức nghệ thuật

Trang 17

Hiện nay, có nhiều cách hiểu về thi pháp học Có thể hiểu, thi pháphọc là cách thức phân tích tác phẩm dựa vào văn bản là chính, ít chú trọngđến những vấn đề nằm ngoài văn bản như: tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh sángtác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội… Phương phápchủ yếu của thi pháp học là phương pháp hình thức Chúng ta hiểu phươngpháp hình thức là "phương pháp phân tích các khía cạnh hình thức của tácphẩm văn học nghệ thuật để rút ra ý nghĩa thẩm mỹ của nó” Nghiên cứu,phê bình theo hướng thi pháp học nghĩa là nghiêng về phân tích hình thứcnghệ thuật tác phẩm, nó đối lập với lý thuyết phản ánh luận trước đây: nộidung quyết định hình thức.

Tự sự là “phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phương thứckhác khác là trữ tình và kịch được dùng cơ sở để phân loại tác phẩm vănhọc” [19, 328] Nếu như tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong sự cảmnhận chủ quan vể nó thì tác phẩm tự sự lại tái hiện đời sống trong toàn bộtính khách quan của nó Thi pháp tự sự chính là nghiên cứu tác phẩm tự sự

ở những yếu tố hình thức tác phẩm như: hình tượng nhân vật, sự kiện, khônggian, thời gian, kết cấu, cốt truyện, điểm nhìn, ngôn ngữ, thể loại… Nội dungtrong tác phẩm tự sự phải được suy ra từ hình thức, đó là “hình thức mang

tính nội dung” Nghiên cứu Thượng kinh kí sự và Hoàng Lê nhất thống chí

dưới góc nhìn thi pháp học nghĩa là nghiên cứu hình thức của hai tác phẩmnhư: Mạch trần thuật, nghệ thuật thể hiện nhân vật, nghệ thuật miêu tả sựkiện… để từ đó thấy được điểm tương đồng và khác biệt của chúng

1.2 Tác giả, nội dung và hình thức của Thượng kinh kí sự

1.2.1 Tác giả

1.2.1.1 Cuộc đời Lê Hữu Trác

Hải Thượng Lãn Ông (ông già lười Hải Thượng) là biệt hiệu củadanh y Lê Hữu Trác Ông sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tý (1720) vàmất ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) Quê cha ở thôn Văn Xá,làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay

là xã Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên) Cuộc đời Lê Hữu

Trang 18

Trác, phần nhiều (từ năm 26 tuổi đến lúc mất) gắn bó với ở quê mẹ thôn BầuThượng, xã Tình Diệm, huyện Hương Sơn, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An(nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh) Cha là Lê Hữu Mưu(Danh sĩ đời Lê Dụ Tông, hiệu Phác Trai, con thứ 9 Hoàng giáp Lê HữuDanh, từng đỗ Đệ tam giáp tiến sĩ, làm thị lang bộ công triều Lê Dụ Tông.Thân mẫu là bà Bùi Thị Thưởng Lê Hữu Trác là con thứ bảy nên còn đượcgọi là cậu Chiêu Bảy Dòng tộc ông vốn có truyền thống khoa bảng: ông nội,bác, chú, anh và em họ đều đỗ tiến sĩ và làm quan to dưới triều Lê - Trịnh.

Khi thân phụ mất, Lê Hữu Trác 20 tuổi, ông phải rời kinh thành vềquê nhà, vừa trông nom gia đình vừa chăm chỉ đèn sách, mong nối nghiệpgia đình, lấy đường khoa cử để tiến thân Xã hội bấy giờ rối ren, các phongtrào nông dân nổi dậy khắp nơi Chỉ một năm sau (1740), ông bắt đầunghiên cứu thêm binh thư và võ nghệ, “nghiên cứu trong vài năm cũng biếtđược đại khái, mới đeo gươm tòng quân để thí nghiệm sức học của mình”

(Tựa Tâm lĩnh) Ông nhận ra xã hội thối nát, chiến tranh chỉ tàn phá và để

lại bao đau thương, làm ông chán nản muốn ra khỏi quân đội, nên đã nhiềulần từ chối sự đề bạt Đến năm 1746, nhân khi người anh ở Hương Sơnmất, ông liền viện cớ về nuôi mẹ già, cháu nhỏ thay anh, để xin ra khỏiquân ngũ, thực sự “bẻ tên cởi giáp” theo đuổi chí hướng mới

Lê Hữu Trác bị bệnh từ lúc ở trong quân ngũ, giải ngũ về phải gánhvác công việc vất vả “trăm việc đổ dồn vào mình, sức ngày một yếu” (Lời

tựa Tâm lĩnh), lại sớm khuya đèn sách không chịu nghỉ ngơi, sau mắc cảm

nặng, chạy chữa tới hai năm mà không khỏi Sau nhờ lương y Trần Độc,người Nghệ An là bậc lão nho, nhiệt tình chữa khỏi Trong thời gian hơn

một năm chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông thường đọc Phùng thị cẩm

nang và hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc Ông Trần Độc thấy lạ, bèn

đem hết những hiểu biết về y học truyền cho Vốn là người thông minh họcrộng, Lê Hữu Trác mau chóng hiểu sâu y lý, tìm thấy sự say mê ở sách yhọc, nhận ra nghề y không chỉ lợi ích cho mình mà có thể giúp người đời,nên ông quyết chí học thuốc

Trang 19

Ở Hương Sơn, ông làm nhà cạnh rừng, lấy hiệu là “Hải Thượng LãnÔng” “Hải Thượng” là hai chữ đầu của tỉnh Hải Dương và phủ ThượngHồng quê cha và cũng là xã Bầu Thượng quê mẹ “Lãn Ông” nghĩa là ônglười, ngụ ý lười biếng, chán ghét công danh, không chịu sự ràng buộc củadanh lợi và quyền thế, được tự do nghiên cứu y học, thực hiện chí hướng

mà mình yêu thích gắn bó Mùa thu năm Bính Tý (1754), Lê Hữu Trác rakinh đô mong tìm thầy để học thêm nhưng không gặp được thầy giỏi, ôngđành bỏ tiền mua một số phương thuốc gia truyền, trở về Hương Sơn “từ

khước sự giao du, đóng cửa để đọc sách” (Tựa Tâm lĩnh), vừa học tập và

chữa bệnh Về sau tiếng tăm của ông đã nổi khắp vùng Hoan Châu

Sau mấy chục năm tận tụy với nghề nghiệp, Hải Thượng Lãn Ông đã

nghiên cứu rất sâu lý luận Trung y qua các sách kinh điển như Nội

kinh, Nam kinh, Thương hàn, Kim quỹ Tìm hiểu nền y học cổ truyền của

dân tộc kết hợp với thực tế chữa bệnh phong phú của mình, ông hệ thốnghóa tinh hoa của lý luận Đông y cùng với những sáng tạo đặc biệt qua việc

áp dụng lý luận cổ điển vào điều kiện Việt Nam, đúc kết nền y học cổ truyền

của dân tộc Sau hơn chục năm viết nên bộ Y tông tâm lĩnh gồm 28 tập, 66

quyển bao gồm đủ các mặt về y học: Y đức, Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng

Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43 (1782), Lê Hữu Trác nhận

được lệnh chúa Trịnh Sâm triệu về kinh Lúc này ông đã 62 tuổi, sức yếu

lại quyết chí xa lánh công danh, nhưng do theo đuổi nghiệp y đã mấy chục

năm mà bộ Tâm lĩnh chưa cho ra mắt được, “không dám truyền thụ riêng

ai, chỉ muốn đem ra công bố cho mọi người cùng biết, nhưng việc thì nặng

sức lại mỏng, khó mà làm được” (Thượng kinh ký sự), ông hy vọng lần đi

ra kinh đô này có thể thực hiện việc in bộ sách Vì vậy ông nhận chiếu chỉcủa chúa Trịnh, rời Hương Sơn lên đường

Ra kinh đô, vào phủ chúa xem mạch và kê đơn cho thế tử Trịnh

Cán, Lê Hữu Trác được Trịnh Sâm khen “hiểu sâu y lý”, sau đó ban thưởng

cho ông 20 suất lính hầu và bổng lộc ngang với chức quan kiểm soát bộ Hộ

Trang 20

để giữ ông lại Nhưng ông giả ốm không vào chầu, sau lại viện cớ tuổi giàmắt hoa, tai điếc thường ốm yếu để được trọ ở ngoài Bọn ngự y ghen tỵvới Lãn ông, không chịu chữa theo đơn của ông, nên thế tử không khỏi,ông biết thế nhưng không hề thắc mắc với bọn người thiếu lương tâm này,mặt khác ông không thật nhiệt tình chữa mà chỉ một lòng muốn trở về quênhà, sớm thoát khỏi vòng cương tỏa của quyền thần, danh lợi.

Trong thời gian ở kinh đô, Lê Hữu Trác nhiều lần xin về thăm cốhương Hải Dương Mãi đến tháng 9 năm 1782, chúa Trịnh mới cho phépông về Không lâu sau, ông lại có lệnh triệu về kinh vì Trịnh Sâm ốm nặng

Về kinh, ông chữa cho Trịnh Sâm khỏi và cũng miễn cưỡng chữa tiếp choTrịnh Cán Trịnh Sâm lại trọng thưởng cho ông Ông bắt buộc phải nhậnnhưng bụng nghĩ: “Mình tuy không phải đã bỏ quên việc ẩn cư nhưng nay

hãy tạm nhận phần thưởng rồi sau vứt đi cũng được” (Thượng kinh ký sự).

Sau khi Trịnh Sâm chết, Trịnh Cán lên thay, nhưng Trịnh Cán cũng ốm daidẳng nên “khí lực khô kiệt”, khó lòng khỏe được Lê Hữu Trác nóng lòngtrở về Hương Sơn, nhân có người tiến cử một lương y mới, ông liền lấy cớngười nhà ốm nặng rời kinh Hải Thượng Lãn Ông trở về Hương Sơn bằngđường thủy, nhưng sợ triều đình bắt trở lại, ông phao tin đi đường bộ.Thoát khỏi kinh đô ông sung sướng như "chim sổ lồng, cá thoát lưới", lòngchỉ muốn "bay nhanh" về quê nhà:

Lên đường từ giã long lâu, Gươm đàn nửa gánh ra ngay đô thành.

Ngựa quen đường cũ về nhanh, Quay thuyền khó lúc lênh đênh giữa dòng.

Mây qua đường để bớt nồng, Núi non mở mặt như lòng vì ai.

Xanh xanh một dải non đoài, Giống non ta cũ chỉ vài hòn thôi.

(Thượng kinh ký sự)

Trang 21

Ngày 2 tháng 11 (năm 1782) Lãn Ông về đến Hương Sơn Gần mộtnăm sống giữa kinh đô phong kiến biết bao công danh phú quý lôi kéo,nhưng giống "thung dung" ra đi lại ông lại "ngất ngưởng" trở về, lòng trongkhông hề đục, chí lớn không hề sờn.

Năm 1783 ông viết xong tập Thượng kinh ký sự bằng chữ Hán Tác

phẩm tả quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh vàquyền uy, thế lực của nhà chúa - những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghetrong chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long chữa bệnh cho thế tử TrịnhCán và chúa Trịnh Sâm… Mặc dầu tuổi già, công việc lại nhiều vừa chữabệnh vừa dạy học, nhưng ông vẫn tiếp tục chỉnh lý, bổ sung, viết thêm

tập Vân khí bí điển (năm 1786) để hoàn chỉnh bộ Tâm lĩnh Hải Thượng

Lãn Ông Lê Hữu Trác không chỉ là danh y có cống hiến to lớn cho nền yhọc dân tộc, ông còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của thời đại

Lê Hữu Trác qua đời vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791)tại Bầu Thượng, (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh),thọ 71 tuổi Mộ ông nay còn nằm ở khe nước cạn chân núi Minh Từ thuộc

xã Sơn Trung, huyện Hương Sơn

1.2.1.2 Con người - nhân cách Lê Hữu Trác

Hải Thượng Lãn Ông là người thầy thuốc, nhà giáo, nhà thơ, nhàvăn Ông đã để lại cho đời một tấm gương sống cao đẹp về nghề thầy thuốccũng như nhân cách sống ở đời Sinh thời ông thường dạy các môn đệ củamình rằng “Đạo làm thuốc là nhân thuật, chuyên bảo vệ sinh mạng của conngười, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, lấy việc cứu sốngmạng người làm nhiệm vụ thiêng liêng của mình, không nên cầu lợi, kểcông… thầy thuốc là nghề thanh cao phải giữ đức cho trong, giữ lòng cho

sạch, làm ơn không mong đền đáp…” (Y huấn cách ngôn).

Trọn đời mình Lê Hữu Trác không hề quản ngại khó khăn, cực nhọcchữa bệnh cho người Ông thường dặn học trò rằng: “Được mời đi thămbệnh, nên tùy bệnh để sắp xếp đi thăm trước hay sau Chớ nên giàu sang,

Trang 22

nghèo hèn mà nơi tới trước chỗ tới sau, hoặc khi bốc thuốc lại phân biệthơn kém Khi lòng mình có chỗ không thành thật thì khó mong được bệnh

nhân thông cảm và sẽ kém phần hiệu quả” (Y huấn cách ngôn).

Những lời răn của Hải Thượng Lãn Ông đối với những kẻ học nghềthầy thuốc:

Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng conngười, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sốngmạng người làm nhiệm vụ của mình không nên cầu lợi kể công

Thường thấy kẻ làm thuốc, hoặc nhân bệnh cha mẹ người ta ngặtnghèo, hoặc bắt bí người ta lúc đêm tối, trời mưa, có bệnh nguy cấp; bệnh

dễ chữa bảo là khó chữa, bệnh khó chữa bảo là không chữa được, giở lốiquỉ quyệt ấy nhằm thoả mãn yêu cầu, rắp tâm như thế là bất lương Chữacho nhà giàu sang, thì tỏ tính sốt sắng, mong được lợi nhiều, chữa cho nhànghèo hèn thì ra ý lạnh nhạt, sống chết mặc bay Than ôi, đem nhân thuậtlàm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi ra lòng buôn bán Như thế thì ngườisống trách móc, người chết oán hờn không thể tha thứ được

Nghề làm thuốc là nhân thuật, thầy thuốc hẳn phải lấy việc giúpngười làm điều hay Cứu được một người thì khoa chân, múa tay cho mọingười biết nhỡ có thất bại thì giấu đi Thường người ta hay giấu các điềuxấu của mình mà không đem sự thực nói với người khác Riêng tôi dám nói

là thoát khỏi những thói đó chăng, là vì tôi không theo con đường khoa cửnối dõi nghiệp nhà, chuyển hướng ra làm thuốc nên chỉ muốn hết sức làmnhững việc đáng làm, may ra khỏi hổ thẹn với đất trời, đâu dám e ngại sựchê khen, để phải hối hận với bổn phận

Nghĩ thật sâu xa, tôi hiểu rằng thầy thuốc là người bảo vệ sinh mạngcon người, sống chết trong tay mình nắm, họa phúc trong tay mình giữ Thếthì đâu có thể kiến thức không đầy đủ, đức hạnh không trọn vẹn, tâm hồnkhông rộng lớn, hành động không thận trọng mà làm liều lĩnh học đòi cáinghề cao quí đó chăng

Trang 23

Lê Hữu Trác còn chỉ ra 8 tội người thầy thuốc cần tránh:

Có bệnh xem xét đã rồi mới cho thuốc, vì ngại đêm mưa vất vảkhông chịu thăm mà đã cho phương, đó là tội lười

Có bệnh cần dùng thứ thuốc nào đó mới cứu được nhưng sợ con bệnhnghèo túng không trả được vốn nên chỉ cho thuốc rẻ tiền, đó là tội bủn xỉn

Khi thấy bệnh chết đã rõ, không bảo thực lại nói lơ mơ để làm tiền,

đó là tội tham lam

Thấy bệnh dễ chữa nói dối là khó chữa, dọa người ta sợ để lấy nhiềutiền, đó là tội lừa dối

Thấy bệnh khó đáng lẽ nói thực rồi hết lòng cứu chữa nhưng lại sợ mangtiếng không biết thuốc, vả lại chưa chắc chắn đã thành công, không được hậu lờinên không chịu chữa đến nỗi người ta bó tay chịu chết, đó là tội bất nhân

Có trường hợp người bệnh ngày thường có bất bình với mình khimắc bệnh phải nhờ đến mình liền nghĩ ra ý nghĩ oán thù không chịu chữahết lòng, đó là tội hẹp hòi

Thấy kẻ mồ côi goá bụa, người hiền, con hiếm mà nghèo đói ốm đaucho là chữa mất công vô ích không chịu hết lòng, đó là tội thất đức

Lại như xét bệnh còn lơ mơ, sức học còn non đã cho thuốc chữabệnh, đó là tội dốt nát

Hải Thượng Lãn ông đã đề ra 9 điều dạy trong Y huấn cách ngôn để

răn dạy người thầy thuốc mà hiện nay vẫn còn nguyên giá trị, thí dụ:

Phàm người mời đi thăm bệnh, nên tùy bệnh kíp hay không mà sắpđặt thăm trước hay sau Chớ nên vì giàu sang hay nghèo hèn mà nơi đếntrước, chỗ tới sau hoặc bốc thuốc lại phân biệt nơi hơn kém

Khi đến xem bệnh ở nhà nghèo túng, hay những người mồ côi, góabụa hiếm hoi, càng nên chǎm sóc đặc biệt; vì những người giàu sang không

lo không có người chữa; còn người nghèo hèn, thì không đủ sức đón đượcthầy giỏi, vậy ta để tâm một chút, họ sẽ được sống một đời, còn nhữngngười con thảo, vợ hiền, nghèo mà mắc bệnh, ngoài việc cho thuốc màkhông có ăn, thì vẫn đi đến chỗ chết

Trang 24

Khi chữa bệnh cho ai khỏi rồi, chớ có mưu cầu quà cáp, vì nhữngngười nhận của người khác cho thường hay sinh ra nể nang, huống chi đốivới những kẻ giàu sang, tính khí thất thường mà mình cầu cạnh thường hay

bị khinh rẻ Còn việc tâng bốc người ta để cầu lợi thường hay sinh chuyện.Cho nên nghề thuốc là nghề thanh cao, ta càng phải giữ khí tiết cho trongsạch

Lời dạy đó của Lê Hữu Trác mãi đến bây giờ còn có ý nghĩa đối vớinghề thấy thuốc Nó càng có giá trị hơn khi xã hội ngày nay với sự pháttriển nhanh chóng của kinh tế - khoa học, công nghệ mà đạo đức con ngườidần bị xem nhẹ, nếu không muốn nói là nhiều người đã băng hoại về đạođức, vì lợi ích riêng của bản thân mà đã chà đạp lên chuẩn mực đạo đức,thuần phong mĩ tục, tình người…

Hải Thượng Lãn Ông là một ngôi sao sáng trên bầu trời văn hóa ViệtNam Ông không chỉ là danh y lỗi lạc mà còn là một nhà tư tưởng lớn, nhàthơ, nhà văn có đóng góp cho văn học trung đại Việt Nam

1.2.1.3 Sự nghiệp sáng tác văn chương

Thượng kinh ký sự (Ký sự lên kinh) là tập ký sự bằng chữ Hán Tác

phẩm được ông xếp vào cuối bộ (quyển 65) Hải Thượng y tông tâm lĩnh

(Những lĩnh hội tâm huyết về ngành Y của Hải Thượng) như một phụ lục,được khắc in năm 1885 Đây là tác phẩm tiêu biểu nhất trong văn học ở thế

kỷ XVIII thuộc thể ký (ghi việc, kể chuyện) Năm 1924, Nguyễn Trọng

Thuật dịch Thượng kinh ký sự và cho đăng trên Nam Phong tạp chí Năm

1977, Bùi Hạnh Cẩn dịch tác phẩm, nhà xuất bản Hà Nội Năm 1983, nhà

xuất bản Văn Học (Hà Nội) in Thượng kinh ký sự do Ứng Nhạc Vũ Văn Đình dịch Năm 1989, nhà xuất bản Thông tin cho in Thượng kinh ký sự do

Phan Võ dịch, Bùi Kỷ hiệu đính

1.2.2 Nội dung của Thượng kinh kí sự

Nội dung của tác phẩm văn học bao gồm các giá trị hiện thực đượcphản ánh và tư tưởng, tình cảm của tác giả được thể hiện qua tác phẩm Nội

Trang 25

dung tác phẩm là “hiện thực cuộc sống được phản ánh trong sự cảm nhận,suy ngẫm và đánh giá của nhà văn Đó là một hệ thống gồm nhiều yếu tốkhách quan và chủ quan xuyên thấm vào nhau” [19, 207].

Thượng kinh ký sự được tác giả viết theo thể ký sự Ở bản dịch của

tác giả Bùi Hạnh Cẩn, Nhà xuất bản Hà Nội, năm 1977, không chia chươngmục Ở bản in của nhà xuất bản Thông tin, người dịch Phan Võ đã phânchia và đặt tên thành 10 tiểu mục: Giã nhà lên kinh; Vào Trịnh phủ; Nhớquê nhà; Làm thuốc và làm thơ; Đi lại với các công khanh; Tình cờ gặpngười cũ; Ngâm thơ, thưởng nguyệt; Về thăm cố hương; Vào phủ chúachữa bệnh; Trở về quê cũ Người đọc thời nay có thể đi theo Lê Hữu Tráctrên từng trang viết để được như là “tai nghe mắt thấy” rất nhiều chuyện,tiếp xúc với rất nhiều người, ở nhiều nơi của xã hội Việt Nam vào thời kỳgiữa thế kỉ XVIII, thời kỳ có rất nhiều biến động lịch sử…

1.2.2.1 Giá trị hiện thực của Thượng kinh kí sự

Thượng kinh ký sự kể chuyện một năm Lê Hữu Trác lên kinh đô

chữa bệnh cho cha con chúa Trịnh Sâm Trong đó, đáng chú ý là nhữngtrang mô tả quang cảnh kinh kỳ, nhất là trong phủ chúa Trịnh xa hoa vàquyền uy Với cảm giác tinh tế và cái nhìn khách quan của tác giả, mọicảnh vật dường như đều được vẽ lên một cách cụ thể, rõ nét Từ những dãyhành lang quanh co ngoằn ngoèo trên những lối đi trong vườn, đến nhữngkhoảng vườn rậm có tiếng chim ríu rít và ngạt ngào mùi thơm, từ “nhữngcây cỏ lạ và những hòn đá dị kì”, có “cột và bao lơn lượn vòng thật xinhđẹp”, cho đến những dãy lầu gác nguy nga tráng lệ mà nhìn vào bất cứ chỗnào cũng đều chói lên cái màu của sơn son thiếp vàng Ngòi bút của LêHữu Trác vẫn còn có khả năng xoáy sâu vào cái mặt động của cảnh vật làmcho nó trở nên rất sống động: “Đi tới cổng phủ, quan truyền mệnh dẫn quahai lần cửa nữa rồi rẽ phía trái, tôi ngẩng đầu nhìn thì bốn phương tám phía,chỗ nào cũng cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, trăm hoa đua nở, gió thoảnghương đưa Hành lang, lan can quanh co, nối tiếp song song Người giữ cửa

Trang 26

truyền báo lệnh công đi lại tíu tít như mắc cửi…” Thái độ tác giả khichứng kiến cảnh đẹp nơi phủ chúa: “Tôi nghĩ thầm trong bụng: Mình vốn

là con em nhà quan, sinh trưởng nơi phồn hoa, khắp chốn trong cấm thành,chỗ nào cũng từng quen thuộc, duy chỉ có quang cảnh phủ chúa thì chỉđược nghe nói mà thôi Nay được đến đây, mới biết là sự giàu sang của vuachúa quả là không ai sánh kịp”

Cung cấm oai nghiêm lính giáo vàng, Nơi đây bậc nhất cõi trời nam.

Lầu cao gác vẽ mây xanh vút, Thềm ngọc rèm châu nắng sớm tràn.

Thơm ngát hoa cung làn gió thoảng, Vẹt kêu vườn ngự tiếng đưa sang…”.

Cùng với tác giả, người đọc ngỡ ngàng trước hiện thực cuộc sốngphủ chúa Trịnh Con đường vào phủ sao mà quanh co, vòng vèo Thế giớiphủ chúa tưởng như đến có nghìn cửa mà cửa nào cũng bị chặn hỏi, cungngăn cách, thâm nghiêm…

Sau đó tác giả, ghi lại một cách tỉ mỉ khung cảnh, đồ vật trong phủchúa: “Qua dãy hành lang về phía tây thì đi đến một ngôi nhà lớn, vừa caovừa rộng, hai bên để hai cỗ kiệu, những đồ nghi truợng đều sơn son thiếpvàng Ở gian giữa kê cao một cái sập ngự thếp vàng, trên sập treo một cáivõng điều Trước võng và hai bên bàn ghế có kê kỷ án, đồ đạc chẳngthường thấy ở nhân gian Tôi chỉ liếc mắt trông qua, cúi đầu mà đi Lại điqua một cái cửa nách nữa thì đến một cái gác cao rộng Trong gác nhữnggiường cột từ trên xuống dưới đều sơn son…"

Tác giả không chỉ miêu tả thiên nhiên, cảnh vật mà ngòi bút hiệnthực còn hướng tới con người nơi phủ chúa Ở đây cảnh đẹp tương phảnvới con người Cảnh lỗng lẫy, trang nghiêm, đài các, người thì già cỗi, héohon, nhợt nhạt Người nhiều qua lại như mắc cửi, như những tượng ngườicâm lặng, cứng nhắc như một cỗ máy chứ không sống động, linh hoạt Con

Trang 27

người quanh năm sống trong rèm the, bị bao phủ bởi ánh sáng của đèn sáp,thiếu ánh mặt trời Cha con Trịnh Sâm cũng không nằm ngoài quy luật đó,suốt ngày bị bao phủ bởi màn trướng, cung tần, mĩ nữ, lính tráng…Nơi ởcủa chúa là một khung cảnh thâm nghiêm, được vây bọc giữa vàng son,gấm vóc, xung quanh bao phủ bởi ánh nến bất kể ngày hay đêm Trịnh Cánmặc áo lụa đỏ ngồi lọt thỏm trên sập sơn son thếp vàng Những người hầuchỉ đứng hai bên, ai vào đó cũng phải lạy bốn lạy, khi ra lại phải lạy bốnlạy nữa Danh y Lê Hữu Trác cũng phải lạy rồi mới được phép “khúmnúm” hầu mạch Lê Hữu Trác đoán bệnh cho thế tử như sau: “phụ tạngmềm yếu, lại mang thêm bệnh đã lâu thì tinh huyết hao kiệt, khô khan, mặtkhông nhuận sắc, bụng lớn gân xanh, chân tay khẳng khiu… mạch chạymau, âm dương sút kém” Ngoài ra ta còn thấy một Hoàng Đình Bảo cảngày lật đật giữa điếm Hậu Mã và Tử Các Chỉ qua mấy chi tiết nhỏ: mộtchiếc kiệu đi nghiêm chỉnh, những người lính chạy rạt ra, một tiếng lệnhtruyền… đã tạo ấn tượng khó quên về sự oai nghiêm của một ông quan đầutriều Cách miêu tả tỉ mỉ của Lê Hữu Trác làm cho bức tranh hiện thực sốngđộng hơn, rõ nét hơn.

Xã hội quý tộc ở kinh đô hiện lên sống động trên từng trang sách của

Lê Hữu Trác với từng khuôn mặt, những dáng người thiểu não, bệnh hoạn.Đấy là những con người như lúc nào cũng toát ra một cái gì buồn chán.Những ông quan đeo tước hầu, tước bá chỉ biết ngao ngán trước nhân tìnhthế thái, những bà quan thì ốm đau liên miên chạy thầy chạy thuốc Thỉnhthoảng cũng có được một trang phong lưu công tử có cốt cách hào hoaphong nhã hay một cô tiểu thư trẻ trung nào đó, song một vài hình ảnhhiếm hoi như thế vẫn không xua tan đi được cái buồn âm u khắc sâu trênnét mặt tất cả giới quan lại lúc bấy giờ Bằng những chi tiết, những hìnhảnh về cảnh vật và con người nơi đây, Lê Hữu Trác đã dựng lên cái khôngkhí sinh hoạt trong phủ chúa Trịnh nằm giữa xã hội Thăng Long trầm lắngnửa cuối thế kỉ XVIII Từ đó, chúng ta cũng thấy được cái nhìn phê phán

Trang 28

kín đáo của tác giả đối với tầng lớp quý tộc nói riêng và hoàn cảnh xã hộinước ta cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX nói chung Ở những trang miêu tảcuộc sống trong phủ chúa, Lê Hữu Trác có vẻ không phê phán một cái gì

cả nhưng những điều được ông nói đến một cách chân xác, tinh tế tự nólại có ý nghĩa phê phán sâu sắc Hình ảnh những cung điện kiêu sa cùngnhững con người nhiều quyền thế ở trong đó đã gây cho người đọc cáicảm giác nặng nề, khó chịu đến nỗi "muốn thét to lên cho nó muốn vỡtan đi” [20, 1708] Đúng như Phạm Thế Ngũ nhận định: “Ở tập du kí độcnhất vô nhị này, người đọc mừng rỡ bắt mạch thấy một chút gì xác thực,linh hoạt về nếp sống xưa cùng con người xưa” [37, 216] Đó chính là giátrị hiện thực của tác phẩm

1.2.2.2 Tâm sự của Lê Hữu Trác

Thượng kinh kí sự là cuốn kí sự về chuyến đi kinh đô năm 1782 của

Lê Hữu Trác, theo lệnh của chúa Trịnh Con đường dẫn nhà danh y raThăng Long chữa bệnh cho cha con Trịnh Sâm là con đường dẫn ông trở lại

quá khứ, trở lại cái xã hội “trâm anh thế phiệt” cũ Thượng kinh kí sự trước

hết là câu chuyện của tâm trạng một con người bàng hoàng, thao thức, đấutranh với mình, chống lại mọi cám dỗ, tìm mọi cách để được trở về quêhương

Một ý nghĩ xuyên suốt toàn bộ cuộc hành trình của Lê Hữu Trác:

“Cây kia có hoa nên bị người ta hái…” Trong khi bao nhiêu người hoan hỉgiùm ông, rằng không dễ mà có một lần được “mặt rồng” biết đến, thì chính

Lê Hữu Trác đã xem việc triệu mời kia là một cái lụy và tình cảnh của ôngkhông khác gì một cây có hoa nên việc người ta hái là đương nhiên

Lệnh chúa là lệnh trời, Lê Hữu Trác đành tìm một giải pháp dối lòng

mình để an ủi: nhân chuyến đi này in bộ sách Y tông tâm lĩnh cũng là một

điều may mắn Cách nghĩ đó nói lên một lí tưởng sống Trong tình thếkhông đi không được, ông vẫn muốn đi theo sự chủ động trong ý nghĩ vàtình cảm của mình

Trang 29

Trong những ngày ở kinh đô, nội tâm Lê Hữu Trác còn diễn ra nhiềucuộc đấu tranh Không thể không chữa bệnh tận tình cho chúa Trịnh.Nhưng chữa rồi lại lo lắng, sợ thành công sẽ bị chúa giữ lại Được chúa banthưởng lộc bổng không nhận, không được Nhưng nhận xong lại mất ngủ,rồi cáo ốm không vào chầu Không thể không niềm nở với đám khanhtướng Nhưng sau một vài lần tiếp xúc, hễ bọn chúng biết tài ông thì LêHữu Trác lại kín đáo dời nhà đi một chỗ khác… và cứ tiếp tục hết kiểuchống đỡ này đến kiểu trốn tránh khác, cuối cùng vương phủ đã chấp nhậncho ông trở lại Hương Sơn.

Thượng kinh ký sự cho thấy tác giả là một cây bút hiện thực đặc sắc.

Song, với Lê Hữu Trác, một tác giả có tấm lòng ưu thời mẫn thế, có tâm

hồn đa cảm thì thiên Thượng kinh ký sự không chỉ là “hiện thực sinh động”

mà hòa vào từng chi tiết hiện thực ta đều thấy tâm tư sâu lắng, tình cảmtinh tế mà chan chứa, thiết tha của một nhân cách lớn Với những bậc đạiNho xưa, khi đã nhìn rõ sự xấu xa, thối nát của chính sự thì thường thoáttục (ở ẩn, tu Tiên…) Lê Hữu Trác đã không thoát tục mà chọn cách cứunhân độ thế Vì vậy, những ngày tháng phải ngồi chầu chực bên phủ Chúa

để chữa bệnh cho Trịnh Cán, mà không có hy vọng gì chữa khỏi bệnh, LêHữu Trác luôn đau đáu một nỗi nhớ quê nhà, nơi đó có những người thân,những người dân nghèo đang cần ông giúp đỡ Cái tâm trạng này luônthường trực trong suy nghĩ, cảm xúc của nhà thơ: “Đêm hôm đó, tôi ngồimột mình lại nhớ tới trăng sáng non xưa Trăng trong chiếu cửa sổ, mốitình thao thức chẳng chớp mắt được Canh khuya mỏi mệt nằm trong cửa

sổ mà ngủ Nhưng tâm hồn sầu muộn cứ quấn quýt bên gối, chợp chờnnghe tiếng chim vừa bay vừa kêu, bỗng tỉnh giấc”

Ở Thượng kinh ký sự, Lê Hữu Trác luôn tức cảnh sinh tình mà ứng

khẩu thành thơ, vui thì có thơ vui, buồn có thơ buồn Số lượng thơ

trong Thượng kinh ký sự khá lớn Trong tập có những bài thơ đã cho thấy

tác giả có trái tim của một thi sĩ đích thực Thơ ông có những xúc cảm nồng

Trang 30

nàn giàu ý vị, có những cái đẹp thanh tú, diễm lệ của núi sông, của trănggió Dường như bài thơ nào của ông cũng có câu hay, câu lạ, hoặc về hìnhtượng, hoặc về lối đặt câu, đảo ngữ

Mối tình của Lê Hữu Trác với người con gái ngày xưa được hồi

tưởng trong Thượng kinh ký sự: “Khi ta còn ít tuổi, nhà có dạm hỏi cho

ta một cô gái, là con quan Tả Thừa Tư ở Sơn Nam, là người Huê Cầucho ông cưới làm vợ Đã làm lễ vấn danh và ăn hỏi rồi, nhưng có việctrở ngại, khiến ông phải từ hôn và về ở luôn quê ngoại Hương Sơn.Năm, sáu năm sau, ông lên kinh thì nghe tin vị quan trên đã qua đời,còn cô gái đau khổ kia đã thề suốt đời không lấy ai…” Trong thời gian

ở kinh, tình cờ ông gặp lại người xưa, mà giờ đây đã thành một bà sưgià, khổ hạnh và cô độc Từ đó thói thường qua lại hỏi thăm nhau Bà

ấy nói là “ở Nghệ An có nhiều gỗ đóng quan tài, bà xin mua cho bà một

cỗ Tôi sai người đi kiếm, nhưng chưa được Ngày tôi được thả cho về,tôi trao cho người lo việc ấy năm quan tiền cổ để tìm mua bán mà tặng

bà ta…” Lê Hữu Trác không chỉ đơn thuần ghi lại câu chuyện màthông qua câu chuyện mà gửi gắm tình cảm trong đó và bày tỏ sự cảmphục tấm lòng người con gái ấy Tác giả ân hận vì mình vô tình mà làm

lỡ dở một đời người con gái Khi gặp Lê Hữu Trác, bà không hề trách

mà cho đó là số phận, điều này càng làm cho Lê Hữu Trác áy náy vàcảm phục bà hơn:

Vô tâm sự xuất ngộ nhân đa, Kim nhật tương khan khổ tự ta.

Nhất tiếu tình đa lưu lãnh lệ, Song mâu xuân tận hiện hình hoa.

Thử sinh nguyện tác càn huynh đệ, Tái thế ưng đồ tốn thất gia.

Ngã bất phụ nhân nhân phụ ngã, Tùng nhiên như thử nại chi hà.

Trang 31

(Vô tâm nên nỗi lỡ người ta,Nay lại nhìn nhau luống thẩn thờ.

Một nụ cười tình châu lệ lạnh,Đôi tròng xuân cạn nét tài hoa

Đời nay xin kết anh em ngãi,Kiếp tới nên tròn phận thất gia

Ta chẳng phụ người, người nợ phụ,Đành thôi như thế biết sao mà)

Khi ở kinh thành, Lê Hữu Trác thường tiếp xúc với các quan ngự

y và cũng đi chữa trị cho những người quen Phần viết về những chuyệnnghề y thật sinh động, thật đặc sắc bởi đó là sở trường của tác giả Ởnhững trang viết đó, người đọc sẽ có được những bài học quý giá khôngchỉ về nghề thuốc mà cả về những đạo lý nhân sinh: “Hồi tôi ở trongnúi cứ tưởng rằng ở đế đô có các danh y, học thuật giỏi giang, tinh diệunhập thần Tôi thường than là mình vô duyên nên không được cùngnhau gặp gỡ Khi đến kinh thì thấy thầy thuốc trị bệnh không nói làphong hỏa thì cũng bảo là bệnh thấp đàm Nếu cho là bệnh hư mà chịudùng thuốc bổ thì chỉ phô diễn khí huyết mà thôi Còn như chân thủy,chân hỏa là cái gốc để giữ cái mệnh, cái cốt yếu để cầu sống thì tuyệtnhiên không một chút nào coi làm trọng Sao cái nghề thuốc lại khó đếnnhư vậy Nhớ xưa Tiên Chính có nói: “Người nước ta học nghề y màkhông tinh là vì mắc phải hai cái bệnh: một là người trong đám nho họcđọc sách thuốc từ đầu đến cuối, một lượt là xong, tuyệt nhiên khôngnghi ngờ nghĩa sách, tự cho là không có gì khó, đến khi dùng thuốc thìlại hấp tấp bất cẩn; hai là văn lý tự hoạch chỉ mới được nửa thôi, nếu cótập nghề thuốc thì cũng không khỏi tưởng tượng mơ hồ, nghi hoặc, nhưthể kẻ kéo cây cung, sức chẳng đủ thì cho là cung cứng” Thật là lờithấu lý đạt tình

Từ xưa dùng thuốc tựa dùng binh,

Trang 32

Sinh sát ai người dám rẻ khinh

Thầy giỏi cũng còn nhiều thiếu sót, Thẹn ta vụng kém lẽ khôn rành.

Tâm sự của Lê Hữu Trác còn bộc lộ rõ khi ông được phép về thămlàng Liêu Xá Những con người ở đây, ai cũng dành cho ông nhiều tìnhcảm Ông được sống trong bầu không khí ấm cúng yêu thương của mọingười Ta thấy rằng tác giả rất cảm động và lấy làm hổ thẹn đến nỗi bậtkhóc khi mà mọi người vẫn nhớ tên ông còn ông không thể nhớ hết đượctên mọi người:

Lần về thăm làng cũ, Nỗi niềm chợt mênh mông.

Dạo khắp chốn chơi trước, Dằng dặc xiết bao tình.

Đọc Thượng kinh kí sự, người đọc cảm phục trước thái độ của Lê

Hữu Trác về công danh bổng lộc Trong một xã hội mà con người tranhgiành bổng lộc, mua quan bán chức, Lê Hữu Trác lại xem đó là một tai họa.Khi nhận được lệnh lên kinh, nhiều người cho đó là phúc lộc còn ông thì

“lạnh cả tóc gáy”, “người như ngẩn như ngơ mất nửa giờ” Ông tâm sự

“Người ta lấy việc được làm quan là mừng, ông lấy việc từ quan là may”.Ông trả lời với mọi người: “Cây kia có hoa nên bị người ta hái, người ta có

hư danh nên phải lụy về danh Ví bằng trốn cái danh đi có hơn không?” Vìthế ông cứ thao thức mãi không sao ngủ được Lê Hữu Trác tâm sự rất cảmđộng: “Chỗ tôi ở tuy là nơi hẻo lánh, chỉ được cái nhàn hạ, tịch mịch: mâyđầu non, trăng mặt biển, lòng tôi lưu luyến không nỡ rời Chuyến này ra đi,không biết đến bao giờ, tôi mới được trở về vui chơi với hươu nai, nóichuyện với bạn chài, người hái củi dưới bóng trời chiều”

Người đọc thấy được Lê Hữu Trác luôn muốn thoát khỏi vòng danhlợi để trở về quê nhà Ông sợ được chúa sủng ái, sợ phải ra kinh đô, sợ phảidấn thân vào chốn quan trường Tâm trạng ấy đã dằn vặt ông suốt từ lúc lên

Trang 33

thuyền ra đi đến khi được quay về rừng núi Cứ như thế suốt gần một nămtrời, một nỗi lòng canh cánh khôn nguôi nhớ nhà đau đáu, lòng muốn quay

về quê hương, chính vì tâm trạng này nên ông nhiều lần viện cớ để được vềquê

Chân dung tự họa của Lê Hữu Trác được viết bằng ngòi bút rất mựcchân tình Không chút giấu giếm khi mổ xẻ những nét trái ngược trong tưtưởng Bên cạnh thành công đó, Lê Hữu Trác còn khắc họa được bức tranhhiện thực về cái xã hội phong kiến Việt Nam vào khoảng cuối thế kỉ XVIII.Phải khẳng định rằng, tác phẩm của ông là một tập tài liệu quý giá để lạicho người đời sau những minh chứng lịch sử một thời và nhiều bài học quýgiá về người thầy thuốc cũng như con người sống trước những vinh hoaphú quý, trước những cám dỗ cuộc đời:

Vô được khả y khanh tướng mệnh, Hữu tâm ưng đối quỷ thần tri.

Thế gian duy hữu phương danh tại, Phú quý phù vân bản tự khi.

(Không thuốc chữa được mệnh công khanh,Lòng này chỉ quỷ thần biết tới

Ở đời duy có tiếng thơm lưu,Giàu sang mây nổi vốn tự dối)

1.2.3 Hình thức của Thượng kinh kí sự

Hình thức của tác phẩm văn học là "sự biểu hiện của nội dung, làcách thể hiện nội dung Nhưng không nên hiểu nó như một cái gì đó xa

lạ bên ngoài nội dung… Nhà văn sáng tạo hình thức phải dùng thủ pháp,phương tiện nghệ thuật Chất liệu và phương tiện nghệ thuật chỉ trởthành hình thức nghệ thuật chừng nào nó trở thành sự biểu hiện của nộidung… Hình thức không chỉ có trong ngôn ngữ, kết cấu, cốt truyện,những yếu tố vốn thường coi là thuộc về hình thức Hình thức có cảtrong nhân vật” [30, 252 - 253]

Trang 34

Trong Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả cho rằng: “Trong tác

phẩm văn học, hình thức nghệ thuật là kênh duy nhất truyền đạt nội dungcủa nó, là phương diện cấu tạo nội dung và làm cho nó có bộ mặt độc đáo

Do đó tìm hiểu hình thức là điều kiện không thể thiếu để hiểu đúng nội

dung” [19, 208] Tìm hiểu hình thức của Thượng kinh kí sự, ta có thể tìm

hiểu thể loại, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu… để từ đó góp phần làm rõ ýnghĩa nội dung tác phẩm

1.2.3.1 Thể loại

Một trong những đối tượng quan trọng hàng đầu của thi pháp học làthể loại văn học Trong các công trình thi pháp học của mình, Bakhtin rấtquan tâm tới “phong cách học thể loại” Trong một tác phẩm tự sự, cần chú

ý đến thể loại vì nó chi phối tất cả các yếu tố còn lại của hình thức tácphẩm Mỗi thể loại đều có đặc điểm riêng và yêu cầu phân tích theo mộtphương pháp thích hợp

Thể loại văn học là “Dạng thức của tác phẩm văn học, được hìnhthành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của vănhọc, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểmcủa các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan

hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy” [19, 252-253] Lí luậnvăn học dựa vào các yếu tố ổn định chia tác phẩm văn học thành các loại và

các thể Loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại Bất kì một tác phẩm nào

cũng thuộc một loại nhất định và thuộc một thể nào đó

Trong quá trình sáng tác, các nhà văn sử dụng những phương phápchiếm lĩnh đời sống khác nhau, thể hiện những quan niệm khác nhau đốivới hiện thực Trong quá trình tiếp nhận, người đọc cũng phải chú ý đếnphương thức tồn tại của chỉnh thể tác phẩm để chiếm lĩnh nó Phương thứcchiếm lĩnh đời sống của nhà văn và phương thức tồn tại của chỉnh thể tácphẩm chính là thể loại tác phẩm

Trang 35

Kí là "một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và vănhọc, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút kí, hồi kí, du kí,phóng sự, kí sự, nhật kí, tùy bút…” [19, 137] Sự hấp dẫn của kí là ở việcthông tin một cách nghệ thuật những sự kiện có thật Về mặt nào đó, kí cógiá trị khi nhà văn ghi chép lại, đưa đến cho người đọc thông tin về những

sự kiện, những hiện tượng có thật Do đó tính chất hư cấu của kí rất hạnchế Đây là điểm khác biệt giữa kí và tiểu thuyết, truyện ngắn Nhưng cũngchính đặc điểm này kí trở nên khô khan và trong mỗi tác phẩm kí, tác giảthường gửi gắm tư tưởng, tình cảm thái độ của mình vào việc phản ánhhiện thực Chính cảm xúc, tình cảm của tác giả đã làm nên linh hồn tácphẩm

Kí sự thiên về ghi chép chi tiết, tỉ mỉ, sự việc, câu chuyện có thật “kí

sự là một thể thuộc loại hình kí nhằm ghi chép lại một câu chuyện, một sựkiện tương đối hoàn chỉnh… Kí sự có những điểm chung với bút kí nhưviết về người thật, việc thật mà tác giả trực tiếp chứng kiến Song ở kí sựphần bộc lộ cảm nghĩ của tác giả và những yếu tố liên tưởng, nghị luậnthường ít hơn ở bút kí, tùy bút” [19, 141] Nguyễn Đăng Na phân biệt kívới truyện như sau: “Điều làm nên sự phân biệt giữa truyện và kí về bảnchất là thái độ người cầm bút Nếu người cầm bút tách mình ra khỏi sựkiện, các nhân vật mình miêu tả như người ngoài cuộc thì đấy là truyện,còn tác giả hòa mình vào các sự kiện, các nhân vật với tư cách là ngườitrong cuộc thì đấy là kí Đương nhiên chúng tôi nói truyện và kí trong tưcách chúng thuộc những phạm trù văn học trung đại” [34, 37] Đặc trưng

ấy làm cho kí sự có một sức sống riêng, trở thành một lĩnh vực văn học đặcthù, không thể nhập chúng vào các loại khác

Kí sự thiên về ghi chép chi tiết, tỉ mỉ sự việc, câu chuyện có thật vàđan xen vào mạch tự sự còn có những đoạn thể hiện nhận xét chân thực của

nhà văn Thượng kinh kí sự là tác phẩm kí độc đáo của Lê Hữu Trác và của

văn xuôi trung đại Việt Nam Tác phẩm đã có sự kết hợp nhiều hình thức

Trang 36

nghệ thuật của kí như: du kí, nhật kí, hồi kí, kí phong cảnh, kí tả người, kí

ghi việc Đặc biệt Thượng kinh kí sự còn có sự kết hợp giữa văn xuôi và thơ

ca Xen vào các sự kiện là những bài thơ tràn đầy cảm xúc làm tăng thêmchất trữ tình và ngược lại trong tác phẩm có sự việc, cốt truyện, có diễnbiến tâm lí, hành động của nhân vật… làm tăng thêm chất tự sự Lê Hữu

Trác đã thổi vào Thượng kinh kí sự - một tác phẩm tự sự - tính chất trữ tình.

Thượng kinh kí sự thực sự là “tác phẩm kí nghệ thuật đích thực đầu tiên của

văn học Việt Nam Nó không chỉ là đỉnh cao, là sự hoàn thiện thể kí thờitrung đại, mà còn là mực thước cho lối viết kí sau này” [34, 46]

Thượng kinh kí sự thể hiện rõ đặc trưng thể kí Tác phẩm đã ghi lại

một câu chuyện có thật một cách chi tiết, tỉ mỉ từ khi từ biệt quê hương, giađình, người thân lên đường Việc đến kinh thành chữa bệnh cho cha conchúa Trịnh và khung cảnh nơi phủ chúa được tác giả miêu tả sinh động cảviệc gặp bạn cũ, dọn nhà, viếng chùa, thăm làng cũ, về nhà… cũng đựơc

ông ghi lại cẩn thận bằng tình cảm chân thực Thượng kinh kí sự có nhiều

đoạn như là một thiên du kí, một bài kí phong cảnh và cũng có thể là mộtcuốn nhật kí ghi lại toàn bộ sự việc theo diễn biến từng ngày cụ thể Ôngghi lại: Ngày 12 tháng giêng nhận được lệnh mời lên kinh, ngày 14 làm lễtiên thánh, ngày 16 học trò bày tiệc hát mời thầy, ngày 17 chỉnh đốn hành

lí, ngày 18 lên bờ yết kiến quan thị trấn, ngày 20 quan văn thư đi theo, ngày

21 khởi hành từ sáng sớm, ngày 22 lên núi Long Sơn… Xen vào những sựkiện đó là những trang miêu tả phong cảnh thiên nhiên: “Trên đường toàn

là núi non bao bọc Khói mây mù mịt, hươu nai thấy khách đi đường hoảngchạy Chim đêm nghe tiếng người bay vụt ra Đấy là Ba Dội Lên đến đỉnhnúi, mặt trời mới nhô lên, sương đêm chưa tản hết…” Cứ mỗi lần qua mộtđịa danh, tác giả lại làm một bài thơ trữ tình ghi lại khung cảnh thiên nhiêntạo vật cũng như lòng người trong khoảnh khắc đó

Thượng kinh kí sự là sự kết hợp nhuần nhuyễn các thể của loại kí: kí

sự, kí phong cảnh, nhật kí Nói đến sự kết hợp này, Nguyễn Đăng Na đánh

Trang 37

giá: “Cả đoạn dài chiếm 1

3 Thượng kinh kí sự như một thiên du kí Nếu kể

về loại kí du hành thì có thể nói, Lê Hữu Trác là người đầu tiên sáng tác.Còn như coi đoạn nói trên là nhật kí cũng không sai bởi chúng được ghitheo diễn biến từng ngày và giả sử có ai gọi đoạn đó là kí phong cảnh cũngđược Tiếp đấy Lê Hữu Trác chuyển sang lối văn kí sự Mọi việc, conngười trong tác phẩm được thả trôi theo dòng cảm xúc” [34, 48] Đây là sự

độc đáo trong thi pháp tự sự của Thượng kinh kí sự

Trong Thượng kinh kí sự, Lê Hữu Trác vừa sử dụng thể loại trữ tình

vừa sử dụng thể loại tự sự Nghĩa là tác giả vừa đan xen cốt truyện, nhânvật, sự kiện chi tiết có thật trong lịch sử đồng thời lại kết hợp những dòngthơ bộc lộ cảm xúc của mình Những bài thơ này, xuất hiện sau một sự kiệnhoặc khi tác giả đứng trước mỗi cảnh vật thiên nhiên trên đường đi haycảnh vật nơi phủ chúa, cảm xúc nhớ nhà, thăm bạn cũ cả việc chữa bệnhcho cha con chúa Trịnh và các công hầu khanh tướng… Tất cả dưới ngòibút tài hoa của Lê Hữu Trác đều có thể thành những bài thơ tuyệt cú ghi lạinhững khoảnh khắc đáng nhớ của tác giả Chẳng hạn khi tác giả trên đường

đi qua núi Cấm Sơn:

Nam vọng thiên sơn như đại sắc Sầu quân khách lộ tại kì trung

(Sắc chàm nghìn núi phương nam ấyĐường khách buồn ai giữa chặng đường)

Sự quan sát tỉ mỉ của Lê Hữu Trác làm cho kí sự tinh tế, những vầnthơ bay bổng làm tăng chất trữ tình cho tác phẩm Chất trữ tình trong tácphẩm không chỉ thể hiện qua những bài thơ mà còn qua những trang văn tảcảnh, tả tâm trạng đầy chất thơ, chất nhạc Đây chính là điểm độc đáo của

Thượng kinh kí sự so với các tác phẩm kí đương thời Chính điều đó góp

phần làm cho tác phẩm xa rời với văn học chức năng và gần với thể kí sựhiện đại

Trang 38

1.2.3.2 Kết cấu

Kết cấu là “toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm Cầnphân biệt bố cục với kết cấu của tác phẩm Thuật ngữ bố cục nhằm chỉ sắpxếp, phân bố các chương đoạn, các bộ phận của tác phẩm theo một trình tựnhất định Thuật ngữ kết cấu thể hiện một nội dung rộng rãi, phức tạp hơn

Tổ chức tác phẩm không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở những tươngquan bên ngoài giữa các bộ phận, chương đoạn mà còn bao hàm cả sự liênkết bên trong… Bố cục là một phương diện của kết cấu Ngoài bố cục, kếtcấu còn bao gồm: tổ chức hệ thống tính cách, tổ chức thời gian và khônggian nghệ thuật của tác phẩm… sao cho tác phẩm trở thành một chỉnh thểnghệ thuật” [19, 131-132] Kết cấu văn bản nghệ thuật của tác phẩm vănhọc là "sự tổ chức ở bình diện trần thuật Đó là sự phân bố thế giới hìnhtượng qua một văn bản ngôn từ nhằm đạt được hiệu quả tư tưởng thẩm mĩ”[30, 307] Mỗi thể loại có một kết cấu riêng Kết cấu một bài thơ khác vớikết cấu của truyện và của kịch, ngay cả trong một thể loại, mỗi tác phẩmcũng có những kết cấu khác nhau Trong đó, kí là một thể loại có kết cấuphức tạp

Nhìn từ góc độ kết cấu bề mặt - cấp độ trần thuật, Thượng kinh kí sự

kết cấu theo thời gian tuyến tính Tác phẩm kể lại quá trình lên kinh đến khi

về quê của Hải Thượng lãn ông gần tròn mười tháng Mỗi sự kiện đều đượcgắn với ngày, tháng cụ thể Mở đầu tác phẩm bằng một mốc thời gian

“Tháng giêng năm Nhâm Dần, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 43” Kết thúc tácphẩm cũng bằng một mốc thời gian “Ngày 2 -11 về đến nhà và mấy hômsau nghe tin cả nhà quan chánh đường bị hại" Cũng chính kết cấu này mà

Thượng kinh kí sự vừa là một kí sự vừa mang dáng dấp một thiên du kí,

một kí phong cảnh, một nhật kí…

Theo lôgic, Thượng kinh kí sự chủ yếu được triển khai theo kết cấu

liên tưởng Lê Hữu Trác đã dùng hình tượng người kể chuyện - cái tôi - tácgiả để mô tả khung cảnh kinh thành Thăng Long, phủ chúa Từ đó tác giả

Trang 39

thể hiện những nhận xét, những suy nghĩ, những triết lí về con người, về xã

hội đương thời Vì thế Thượng kinh kí sự không chỉ là tác phẩm kí sự độc

đáo của Lê Hữu Trác nói riêng mà còn là tác phẩm kí tiêu biểu của văn họcViệt Nam trung đại nói chung

Tác phẩm vẫn được thể hiện qua các sự kiện chính: giã nhà lên kinh,đến kinh thành, chữa bệnh cho cha con chúa Trịnh và cho các công hầukhanh tướng, gặp bạn cũ, về thăm quê… Xen vào những sự kiện ấy là tâmtrạng tác giả muốn thoát khỏi vòng danh lợi để được trở về chốn quê

Trong Tiên tướng công phả lục, Trần Tiến chủ yếu thể hiện tác phẩm

theo kết cấu đơn giản: những phần chỉ gắn với nhau bằng trật tự bề ngoài

theo các mục được đánh dấu từ 1, 2… đến 76 và ghi ngày tháng cụ thể Hoặc trong Tục công dư tiệp kí của Trần Trợ gồm 53 thiên viết về các sự

việc, sự kiện riêng biêt và lấy đề tài của các đoạn để làm dấu hiệu liên kếtnên kết cấu của các tác phẩm đó có cảm giác chắp nối, rời rạc Còn trong

Thượng kinh kí sự, kết cấu khá chặt chẽ: mọi sự vật, con người đều được

nhìn nhận dưới cái nhìn của nhân vật tôi - người kể chuyện - tác giả Tácgiả đóng vai trò là hình tượng trung tâm để kể lại những điều mắt thấy tainghe trong chuyến lên kinh Chính vì thế, mọi việc ghi chép của Lê HữuTrác trở nên khách quan, chân thực Đồng thời bên cạnh một nhân vật trầnthuật - nhân vật kể chuyện đó lại có một nhân vật trữ tình vừa bộc lộ cảmxúc, tâm sự của mình trước hiện thực cuộc sống mà mình chứng kiến

1.2.3.3 Ngôn ngữ, giọng điệu

Không phải ngẫu nhiên mà những người khởi xướng thi pháp học lànhững nhà ngôn ngữ học R.Jakobson chủ trương đi tìm “chất văn” đíchthực của ngôn ngữ thơ ca Còn V.Shkolovski chú trọng thủ pháp “lạ hóa”,nhòe nghĩa của nghệ thuật ngôn từ Ngôn ngữ văn học có tính tổ chức cao,giàu hình ảnh, đa nghĩa và mang dấu ấn riêng của tác giả Ngôn ngữ là

"công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học, vì vậy văn học được gọi là loạihình nghệ thuật ngôn từ… Trong tác phẩm, ngôn ngữ văn học là một trong

Trang 40

những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách tài năng củanhà văn…” [19, 85-86] Ngôn ngữ được sử dụng để phục vụ nhiệm vụ xâydựng hình tượng văn học và giao tiếp nghệ thuật Vì vậy, tính hình tượng,tính thẩm mĩ là thuộc tính bản chất văn học Tuy nhiên, những thuộc tính

ấy lại thể hiện các sắc thái khác nhau thông qua các thể loại văn học Ngônngữ trong các tác phẩm rất đa dạng Mỗi thể loại có một ngôn ngữ đặctrưng riêng không thể trộn lẫn vào nhau được Song sự khác biệt quan trọnggiữa ngôn ngữ kịch và ngôn ngữ tác phẩm tự sự là ở chỗ: trong tác phẩm tự

sự người kể chuyện giữ vai trò quyết định đối với toàn bộ cấu trúc ngônngữ của tác phẩm Đúng như M.Gorki khẳng định: “Ngôn ngữ là yếu tốthứ nhất của văn học”

Thượng kinh kí sự là một tác phẩm kí đặc sắc, trong việc vận dụng

một cách linh hoạt chất liệu ngôn từ Mọi sự kiện được tác giả ghi lại mộtcách sinh động, chính xác theo kiểu văn chương Có thể nói, đây là tác

phẩm đạt giá trị cao trong nghệ thuật viết kí Đọc Thượng kinh kí sự ta có

thể thấy rằng thế giới nhân vật hiện lên qua lối dẫn truyện của tác giả Mỗinhân vật gắn với một kiểu ngôn ngữ riêng Tất cả đều đậm chất trữ tình và

chính luận Ngôn ngữ trong Thượng kinh kí sự còn đậm chất đời thường,

giàu hình ảnh chứ không đậm chất ước lệ, tượng trưng và giàu điển tích,điển cố như các tác phẩm văn học trung đại viết bằng chữ Hán khác LêHữu Trác sử dụng nhiều câu văn ngắn gọn, giàu chất thông tin Các sự kiệnhiện ra qua ngòi bút của danh y Hải Thượng Lãn ông một cách tự nhiên,không một chi tiết thừa Lời văn giản dị, mộc mạc ghi lại những điều mắtthấy tai nghe Khi cảm xúc của Hải Thượng được thăng hoa thì lúc ấy ngôn

ngữ cũng được bay bổng Trong Thượng kinh kí sự ta bắt gặp đoạn văn

miêu tả cảnh trên đường đi đến kinh thành giàu chất trữ tình “Trời xuânsáng láng, hoa cỏ tốt tươi, mấy cây ở trước nhà U Trai của tôi đã nở hoa,kết quả, tuyết rủ, hương bay Trong vườn cây ở mé tây vườn, đàn cá tungtăng ra đớp những vành trăng nhấp nhô trên sóng…” Phải có một tâm hồn

Ngày đăng: 18/12/2013, 21:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2001), Từ điển văn học Việt Nam, từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XIX, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam, từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XIX
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
2. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
3. M. Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtoiepxki, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtoiepxki
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
4. M.Bakhtin (2003), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2003
5. Nguyễn Sĩ Cẩn (1984), Mấy vấn đề giảng dạy thơ văn cổ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề giảng dạy thơ văn cổ
Tác giả: Nguyễn Sĩ Cẩn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1984
6. Phạm Tú Châu (1978), “Những nhân vật nữ trong Hoàng Lê nhất thống chí, Tạp chí Văn học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nhân vật nữ trong "Hoàng Lê nhất thống chí, Tạp chí Văn học
Tác giả: Phạm Tú Châu
Năm: 1978
7. Phạm Tú Châu (1997), Hoàng Lê nhất thống chí, văn bản, tác giả và nhân vật, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Lê nhất thống chí, văn bản, tác giả và nhân vật
Tác giả: Phạm Tú Châu
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997
8. Nguyễn Đổng Chi (1958), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVIII, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVIII
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Văn Sử Địa
Năm: 1958
9. Nguyễn Huệ Chi (1964), “Mấy suy nghĩ về thơ văn Lê Hữu Trác”, Tạp chí Văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về thơ văn Lê Hữu Trác”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 1964
10. Nguyễn Huệ Chi (2002), “Con đường giao tiếp văn học cổ trung đại Việt Nam nhìn trong mối liên hệ khu vực”, Tạp chí Văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường giao tiếp văn học cổ trung đại Việt Nam nhìn trong mối liên hệ khu vực”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 2002
11. Nguyễn Huệ Chi (2003), “Mấy đặc trưng loại biệt của văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX”, Tạp chí Văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy đặc trưng loại biệt của văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 2003
12. Đỗ Đức Dục (1968), “Tính cách điển hình trong Hoàng Lê nhất thống chí”, Tạp chí Văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính cách điển hình trong "Hoàng Lê nhất thống chí"”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Đỗ Đức Dục
Năm: 1968
13. Phan Huy Dũng (2009), Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông. Một góc nhìn, một cách đọc. Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông. Một góc nhìn, một cách đọc
Tác giả: Phan Huy Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
14. Nguyễn Văn Đạm (1999), Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Đạm
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1999
15. Biện Minh Điền (2005), “Vấn đề tác giả và loại hình tác giả trong văn học trung đại Việt Nam”, Tạp chí Văn học (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tác giả và loại hình tác giả trong văn học trung đại Việt Nam”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Biện Minh Điền
Năm: 2005
16. Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng biên soạn (2010), Thi pháp học ở Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng biên soạn
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
17. Vũ Thanh Hà (2004), Tính nguyên hợp trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính nguyên hợp trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí
Tác giả: Vũ Thanh Hà
Năm: 2004
18. Vũ Thanh Hà (2009), Thể loại tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Viện Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể loại tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam
Tác giả: Vũ Thanh Hà
Năm: 2009
19. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên (2000), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
20. Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (đồng chủ biên, 2004), Từ điển văn học (bộ mới), Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học (bộ mới
Nhà XB: Nxb Thế giới

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.2.3. Hình thức của Thượng kinh kí sự  …………………………………........... - Thi pháp tự sự của thượng kinh ký sự và hoàng lê nhất thống chí luận văn thạc sỹ ngữ văn
1.2.3. Hình thức của Thượng kinh kí sự ………………………………… (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w