Mặc dù còn một số hạn chế trong việc sử dụng dữ liệu thống kê cũng nhưng dự báo tài chính, nhưng kết quả của nghiên cứu này đạt được phần nào giúp cho cácnhà quản lý trong Điện lực Nam S
Trang 1-NGÔ MINH ĐOÀN
NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG ĐIỆN BÁN LẺ CẠNH TRANH – ÁP DỤNG HO CÔNG TY
ĐIỆN LỰC THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
ĐÀ NẴNG, THÁNG 10 NĂM 2019
Trang 4TÓM TẮT LUẬN VĂN
Xây dựng và phát triển thị trường điện theo định hướng thị trường, cải thiện
cơ chế cạnh tranh là chiến lược phát triển dài hạn của một Quốc gia, mặc dù nhữngbước đầu có thể gặp những khó khăn nhưng về lâu dài có thể mang lại nhiều lợi íchtích cực hơn cho sự phát triển của nền kinh tế, ngành công nghiệp điện lực và đặcbiệt là khách hàng sử dụng điện Theo dự báo hiện nay thì nhu cầu về điện tại ViệtNam dự kiến vẫn duy trì mức tăng trưởng cao đến 2030 Như vậy, nhiệm vụ trọngtâm vẫn là khắc phục tình trạng thiếu hụt nguồn cung, đảm bảo công suất dự phònghợp lý để bảo đảm chuyển đổi thị trường điện từ cơ chế độc quyền sang cơ chế cạnhtranh hoàn hảo
Xuất phát từ thực trạng trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đề xuất
mô hình vận hành thị trường bán lẻ điện và tính toán chi phí vận hành thị trườngbán lẻ điện với quy mô giới hạn ở khu vực Điện lực Nam Sông Hương trực thuộcCông ty Điện lực Thừa Thiên Huế
Kết quả mà nghiên cứu đạt được là đã đưa ra được phương pháp tính toán chiphí vận hành phân phối điện bằng phương pháp thống kê và phân tích xu hướng dựatrên những số liệu thực tế tại Công ty Điện lực Thừa Thiên Huế và Điện lực NamSông Hương Phương pháp tính toán này có có ưu điểm là dễ tính toán và bám sátvào quy định tính toán mức giá bán lẻ điện bình quân của Bộ Công Thương; do đó,tính ứng dụng thực tế của nghiên cứu này vào tính toán chi phí vận hành cũngnhưng là cơ sở để định giá giá bán lẻ điện trong thị trường bán lẻ điện giai đoạn thửnghiệm 2021 – 2023 và từ năm 2023 là rất cao
Mặc dù còn một số hạn chế trong việc sử dụng dữ liệu thống kê cũng nhưng
dự báo tài chính, nhưng kết quả của nghiên cứu này đạt được phần nào giúp cho cácnhà quản lý trong Điện lực Nam Sông Hương nói riêng và các Điện lực khác nóichung thuộc công ty Điện lực Thừa Thiên Huế hiểu rõ hơn quy trình vận hành thịtrường bán lẻ điện cạnh tranh cũng như các hạng mục chi phí trong tính toán chi phívận hành thị trường bán lẻ điện, để qua đó có những chính sách phù hợp hơn nhằmvận hành cũng như tính toán chi phí hiệu quả hơn trong thị trường bán lẻ điện.Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu này cũng có thể một nguồn tài liệu tham khảo cógiá trị cho các công ty Điện lực khác ở Việt Nam
Trang 5is expected to maintain high growth rates until 2030 Thus, the key task is still toovercome the shortage of supply, ensure adequate reserve capacity for securing thetransition of the electricity market from monopoly to perfect competition.
Based on the above situation, this study was conducted to propose a model ofelectricity retail market operation and to calculate the operating cost of electricityretail market with a limited scale in the Nam Song Huong Power Region directlyunder Thua Thien Hue Power Company
The results achieved by the study are the method of calculating electricitydistribution operating cost by statistical method and trend analysis is based on actualdata at the Nam Song Huong Power and the Thua Thiên Hue Power Company Thiscalculation method has the advantage of being easy to calculate and adheres to theregulations on calculating the average electricity retail price of the Ministry ofIndustry and Trade; therefore, the practical applicability of this study to operatingcost calculation is also the basis for electricity retail pricing in the electricity retailmarket in the experimental period of 2021 - 2023 and from 2023 is very high
Although there are some limitations in the use of statistical data as well asfinancial forecasts, the results of this study have partly helped managers in the NamSong Huong Power in particular and the other Powers of Thua Thien Hue PowerCompany have a better understanding of the operation process of the competitiveelectricity retail market as well as the cost items in calculating the operating cost ofelectricity retail market, so that more appropriate policies to operate and calculatecosts more effectively in the electricity retail market In addition, the results of thisstudy can be a valuable reference source for other Power Companies in Vietnam
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN CỦA TÁC GIẢ LUẬN VĂN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
ABTRACT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH x
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT xi
MỞ ĐẦU 1
Lý do hình thành đề tài 1
Mục tiêu nghiên cứu 2
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
Phương pháp nghiên cứu 2
Ý nghĩa của nghiên cứu 2
Bố cục của luận văn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG ĐIỆN 4
1.1 Tổng quan về ngành điện và thị trường điện Việt Nam 4
1.1.1 Tổng quan về ngành điện ở Việt Nam 4
1.1.2 Tổng quan về thị trường điện ở Việt Nam 5
1.2 Sự cần thiết cần phải xây dựng thị trường điện cạnh tranh 6
1.2.1 Sự cần thiết phải xây dựng thị trường điện cạnh tranh 6
1.2.2 Mục tiêu xây dựng thị trường điện cạnh tranh 7
Trang 71.2.3 Những yếu tố tác động đến việc hình thành và phát triển thị trường điện
cạnh tranh 9
1.3 Các thị trường ở một số nước trên thế giới và bài học đối với thị trường điện ở Việt Nam 10
1.3.1 Thị trường điện Singapore 10
1.3.2 Thị trường điện ở Úc 16
1.3.3 Thị trường điện New Zealand 17
1.3.4 Thị trường điện ở Trung Quốc 19
1.4 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 22
1.5 Giới thiệu về mô hình thị trường điện cạnh tranh phát triển theo các cấp độ24 1.5.1 Cấp độ thị trường phát điện cạnh tranh 25
1.5.2 Cấp độ thị trường bán buôn điện cạnh tranh 26
1.5.3 Cấp độ thị trường bán lẻ điện cạnh tranh 26
1.6 Kết luận chương 1 27
CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ ĐIỆN ÁP DỤNG CHO THỊ TRƯỜNG ĐIỆN Ở ĐIỆN LỰC NAM SÔNG HƯƠNG 28 2.1 Mô hình và quá trình phát triển thị trường bán lẻ điện ở Việt Nam 28
2.1.1 Mô hình thị trường bán lẻ điện ở Việt Nam 28
2.1.2 Vai trò của các đơn vị chính trong mô hình 30
2.2 Cơ sở hạ tầng và điều kiện thiết yếu cho thị trường bán lẻ điện cạnh tranh 31
2.2.1 Các điều kiện để hình thành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh 32
2.2.2 Vận hành thí điểm thị trường bán lẻ điện cạnh tranh 34
2.2.3 Vận hành chính thức thị trường bán lẻ điện cạnh tranh (sau 2023) 34
Trang 82.3 Đề xuất mô hình bán lẻ điện cạnh tranh áp dụng tại Điện lực Nam Sông
Hương : 35
2.3.1 Mô hình hiện trạng 35
2.3.2 Mô hình đề xuất 37
2.4 Kết luận chương 2 40
CHƯƠNG 3: TÍNH TOÁN CHI PHÍ VẬN HÀNH CHO HỆ THỐNG LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI CỦA ĐIỆN LỰC NAM SÔNG HƯƠNG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ TRONG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ ĐIỆN CẠNH TRANH 41
3.1 Vai trò của chi phí vận hành trong thị trường điện 41
3.2 Mục tiêu của chi phí vận hành trong thị trường điện 41
3.2.1 Mục tiêu về hiệu quả kinh tế 42
3.2.2 Mục tiêu về doanh thu đủ lớn 42
3.2.3 Mục tiêu về điều tiết một cách có hiệu quả 42
3.3 Ý nghĩa của chi phí vận hành trong thị trường điện 42
3.4 Nguyên tắc tính toán chi phí vận hành trong thị trường điện 43
3.4.1 Tính minh bạch và tính khả thi 43
3.4.2 Khả năng thu hồi vốn 43
3.4.3 Tính hiệu quả trong vận hành thị trường điện 43
3.4.4 Tính bình đẳng đối với các đối tượng tham gia trong thị trường điện 43
3.4.5 Thúc đẩy sự phát triển tối ưu trong đầu tư đối với thị trường điện 44
3.4.6 Các thành phần chính của chi phí vận hành trong thị trường điện 44
3.4.7 Phương pháp tính toán chi phí vận hành trong thị trường điện 44
3.5 Cơ sở tính toán chi phí vận hành trong thị trường điện 45
3.5.1 Phương pháp xác định chi phí vận hành trong thị trường điện 46
Trang 93.5.2 Phương pháp xác định doanh thu bán lẻ điện 47
3.5.3 Phương pháp xác định hệ số hiệu quả 51
3.5.4 Tính toán chi phí vận hành trong thị trường điện bản lẻ điện ở Điện lực Nam Sông Hương tỉnh Thừa Thiên Huế 53
3.5.5 Thu thập và xử lý dữ liệu về tài chính 56
3.5.6 Chi phí vốn phân phối điện 58
3.5.7 Chi phí vận hành và bảo dưỡng 58
3.5.8 Kết quả tính toán 60
3.6 Kết luận chương 3 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
Kết luận 62
Kiến nghị 63
Khả năng ứng dụng của luận văn 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 66
Phụ lục 1: Tổng hợp chi phí vốn phân phối điện năm 2021 68
Phụ lục 2: Tính toán xác định hệ số hiệu quả 68
Phụ lục 3: Tổng hợp chi phí tiền lương 69
Phụ lục 4: Tổng hợp chi phí dịch vụ mua ngoài 70
Phụ lục 5 Tổng hợp chi phí bằng tiền khác 70
Phụ lục 6: Tính chi tiết chênh lệch doanh thu phân phối 71
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tổng hợp các hạng mục khối lượng tài sản Điện lực Nam Sông Hương
quản lý năm 2021 54
Bảng 3.2: Tổng hợp các hạng mục chi phí của Điện lực Nam Sông Hương 56
Bảng 3.3: Tổng hợp kết quả tính toán các hạng mục chi phí 59
Bảng 3.4: Kết quả tính toán chi phí phân phối điện 60
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Quá trình phát triển của thị trường điện cạnh tranh ở Singpare 11
Hình 1.2: Cấu trúc thị trường điện cạnh tranh ở Singapore ảnh 11
Hình 1.3: Thị trường điện bán lẻ của Singapore 13
Hình 1.4: Thị trường bán lẻ điện mở rộng của Singapore 14
Hình 1.5: Các cấp độ xây dựng thị trường điện tại Việt Nam 24
Hình 2.1: Mô hình thị trường bán lẻ điện cạnh tranh ở Việt Nam 28
Hình 2.2: Mô hình quản lý và vận hành hoạt động kinh doanh điện hiện tại ở Điện lực Nam Sông Hương 35
Hình 2.3: Mô hình đề xuất cho thị trường bán lẻ điện cạnh tranh ở Điện lực Nam Sông Hương 37
Trang 12DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
CTĐL: Công ty Điện lực
EU: Liên minh Châu Âu
EVN: Tập đoàn Điện lực Việt Nam
DN: Doanh nghiệp
MGP: Thị trường ngày trước
MI: Thị trường liên ngày
MPE: Thị trường giao ngay
MTE: Thị trường tương lai
NLTT: Năng lượng tái tạo
TCTĐL: Tổng Công ty Điện lực
TTĐ: Thị trường điện
Trang 13MỞ ĐẦU
Lý do hình thành đề tài
Tính đến nay, hầu hết các ngành trong nền kinh tế Việt Nam đã chuyển đổi sangnền kinh tế thị trường, còn ngành Điện là một trong những ngành vẫn còn ở thế độcquyền và đang được vận hành theo mô hình liên kết dọc truyền thống Tập đoàn Điệnlực Việt Nam (EVN) hiện đang sở hữu phần lớn các nhà máy điện, nắm giữ toàn bộkhâu truyền tải, phân phối và kinh doanh bán lẻ điện Tổng Công ty mua bán điện thuộcEVN là đơn vị duy nhất mua điện của tất cả các nhà máy điện (trong và ngoài EVN) vàbán điện cho tất cả các hộ tiêu thụ điện trên toàn quốc Như vậy, với cơ chế hoạt độngnhư vậy thì EVN được xem vừa là độc quyền mua và vừa độc quyền bán và chưa có sựcạnh tranh ở bất cứ hoạt động nào trong các khâu của ngành Điện [1]
Một đặc điểm đáng quan tâm là trong những năm gần đây, hoạt động của EVNkém hiệu quả, sản xuất kinh doanh thua lỗ, nợ nần, dẫn tới thiếu nguồn vốn cho đầu tưphát triển, vay vốn rất khó khăn, thiếu minh bạch và tạo sự không hài lòng của kháchhàng mỗi khi đề xuất việc tăng giá điện Việc EVN hoạt động yếu kém nguyên nhân cóthể thuộc về cơ chế quản lý vi mô của doanh nghiệp và quản lý vĩ mô của Bộ chủ quản
và Nhà nước, cùng với sự phát triển chậm chạp thị trường điện cạnh tranh vô hìnhchung để EVN nắm giữ độc quyền kinh doanh điện quá lâu [1]
Phát triển thị trường điện cạnh tranh là xu hướng phát triển chung của cácnước trên thế giới, là động lực làm cho các hoạt động sản xuất kinh doanh điện vàphát triển kinh tế xã hội trở nên hiệu quả hơn Đồng thời, Chính phủ Việt Nam đãnhận thức được việc hình thành và phát triển thị trường điện cạnh tranh là chiếnlược phát triển dài hạn của ngành điện Việt Nam, đã thể hiện trong Luật Điện lựcnăm 2004 và được cụ thể hóa trong Quyết định 26/2006/QĐ-TTg ngày 26 tháng 01năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về lộ trình và các điều kiện hình thành pháttriển các cấp độ thị trường điện lực tại Việt Nam [1] Theo quyết định trên, thịtrường điện Việt Nam sẽ hình thành và phát triển theo 3 cấp độ:
Với thực trạng như hiện tại thì ngành Điện Việt Nam không còn con đườngnào khác mà phải nhìn thẳng vào sự thật để tìm ra giải pháp hữu hiệu nhằm đẩy nhanhphát triển thị trường điện cạnh tranh Đứng trước xu hướng hình thành thị trường bán
Trang 14lẻ điện giai đoạn sau năm 2022, thì từ bây giờ các công ty Điện lực ở các tỉnh, thành
ở Việt Nam phải có chiến lược cụ thể và với mong muốn góp phần trong việc giải
quyết vấn đề này, do đó nghiên cứu “Nghiên cứu thị trường điện bán lẻ cạnh tranh
– Áp dụng cho Công ty Điện lực Thừa Thiên Huế” được hình thành.
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau:
hạn
ở Điện lực Nam Sông Hương trực thuộc Công ty Điện lực TT Huế
Sông Hương tỉnh Thừa Thiên Huế
tính toán chi phí của thị trường bán lẻ điện ở Điện lực Nam SôngHương tỉnh Thừa Thiên Huế
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chi phí của thị trường bán lẻ điện cạnh tranh
Phạm vi nghiên cứu: Do hạn chế về thời gian và chi phí, vì vậy trong nghiêncứu này chỉ thực hiện tính toán chi phí vận hành trong thị trường bán lẻ điện Điệnlực Nam Sông Hương thuộc Công ty Điện lực tỉnh Thừa Thiên Huế
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện tính toán chi phí vận hành thị trường bán lẻ điện cạnhtranh bằng phương pháp tổng hợp với phần mềm Excel
Ý nghĩa của nghiên cứu
Nghiên cứu đem lại ý nghĩa về mặt lý thuyết và thực tiễn như sau:
hoàn thiện phương pháp tính chi phí vận hành thị trường bán lẻ điện
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của nghiên cứu sẽ giúp các nhà quản lý trong
Điện lực Nam Sông Hương nói riêng và các Điện lực khác thuộc tỉnhThừa Thiên Huế hiểu rõ hơn quy trình vận hành thị trường bán lẻ điệncạnh tranh cũng như các hạng mục chi phí trong tính toán chi phí vậnhành thị trường bán lẻ điện, để qua đó có những chính sách phù hợphơn nhằm vận hành cũng như tính toán chi phí hiệu quả hơn trong thịtrường bán lẻ điện Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu này cũng có thể
Trang 15một nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho các Điện lực khác ở Việt Nam.
Bố cục của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, gồm 3 chương chính:
dụng cho Điện lực Nam Sông Hương tỉnh Thừa Thiên Huế
phân phối của Điện lực Nam Sông Hương tỉnh Thừa Thiên Huế trongđiều kiện thị trường bán lẻ điện cạnh tranh
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG ĐIỆN
Tổng quan về ngành điện và thị trường điện Việt Nam
1.1.1 Tổng quan về ngành điện ở Việt Nam
Ngành điện Việt Nam có lịch sử hình thành và phát triển trải qua trên 60năm, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Nhà máy đèn Bờ Hồ và Nhà máy điện YênPhụ Kể từ đây, ngành điện luôn duy trì được sự tăng trưởng ổn định, đóng góp vàophát triển kinh tế - xã hội Quốc gia Sau giai đoạn 1975, Nhà nước quản lý trực tiếpngành điện, với 03 công ty điện lực miền trực thuộc Bộ Năng lượng (cũ) Các công
ty điện lực chịu trách nhiệm về sản xuất, truyền tải và phân phối trong phạm vi địa
lý được giao phụ trách Tuy nhiên các công ty điện lực được sáp nhập vào một công
ty độc quyền duy nhất, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN) trong năm 1995.Việc sáp nhập này đã chính thức tách hoạt động quản lý nhà nước ra khỏi khâu sảnxuất và vận hành hệ thống điện Bộ Năng lượng (sau đó được sáp nhập vào BộCông nghiệp, sau này là Bộ Công Thương) là cơ quan chủ quản, ban hành các chínhsách, quy định để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành Điện [2]
Sau giai đoạn này, ngành điện tiến hành cải cách khi Luật Điện lực được banhành vào năm 2004 - trong vai trò là bộ luật đầu tiên được sử dụng trong lĩnh vựcđiện năng của Việt Nam Bộ luật này cung cấp cơ sở pháp lý chung cho quá trình cảicách và cấu trúc lại ngành điện, tạo hành lang pháp lý cho việc từng bước thành lậpthị trường điện cạnh tranh với mục đích thu hút đầu tư tư nhân và giảm đầu tư Nhànước trong lĩnh vực năng lượng, nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành điện và pháttriển một thị trường điện cạnh tranh minh bạch, công bằng và không phân biệt đối
xử Luật cũng quy định về các hoạt động điện lực trong việc lập kế hoạch và đầu tưphát triển điện lực, sản xuất điện, truyền tải, phân phối và bán lẻ điện, và các quyđịnh của thị trường điện [2]
Kể từ khi ban hành Luật Điện lực, Chính phủ đã triển khai và ban hành các quyđịnh, hướng dẫn để tái cấu trúc ngành điện và xây dựng lộ trình cải cách Trọng tâmcủa cải cách được đặt vào hai nhiệm vụ: xây dựng thị trường điện cạnh tranh theo bacấp độ và tái cơ cấu Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) từ mô hình độc quyền tíchhợp dọc sang mô hình cạnh tranh, giúp tăng hiệu quả, minh bạch trong hoạt động sảnxuất và kinh doanh điện, bắt đầu bằng việc lựa chọn và cổ phần hóa một số đơn vị phátđiện thuộc tập đoàn EVN Định hướng chung là EVN tiếp tục sở hữu 100% và giữkiểm soát hoàn toàn với các thủy điện lớn và cổ phần hóa các nhà máy còn lại Trongcác năm tiếp theo, một số nhà máy thuộc diện cổ phần hóa đã lần lượt được
Trang 17chào bán và niêm yết như các công ty đại chúng Tuy nhiên, đối với hầu hết các nhàmáy cổ phần hóa, EVN vẫn giữ cổ phần chi phối và cơ cấu công suất thuộc sở hữucủa EVN cho đến 2017 vẫn chiếm trên 55% tổng công suất thị trường [2].
Hiện nay, EVN đã được chia tách và không còn là doanh nghiệp tích hợp theochiều dọc, hoạt động chủ yếu như là một công ty đầu tư, không trực tiếp sản xuất hoặccung cấp dịch vụ mà chỉ nắm giữ cổ phần chi phối hoặc sở hữu tại các công ty kháctrong ngành điện Các bộ phận kinh doanh chiến lược được chia tách thành các đơn vịphân phối điện, hạch toán độc lập và các đơn vị phát điện và truyền tải điện Công tyTruyền tải điện quốc gia là một pháp nhân riêng biệt chịu trách nhiệm về các hoạt độngcủa lưới điện truyền tải, có tài khoản, chế độ quản lý và ban giám đốc hoạt động riêngbiệt Chức năng phân phối và bán lẻ của EVN đã được chia tách và giao về các công tyđiện lực Năm Công ty Điện lực (CTĐL) trong số này thực hiện chức năng công ty điệnlực có cổ đông thiểu số ngoài EVN nhưng EVN vẫn giữ cổ phần chi phối Các EVNPC
có trách nhiệm quản lý tài sản lên đến cấp điện áp 110 kV, và mua điện từ EVN với giánội bộ của EVN và bán điện cho khách hàng nhượng quyền của họ ở mức phí do Thủtướng Chính phủ phê duyệt [2]
1.1.2 Tổng quan về thị trường điện ở Việt Nam
Với mục đích nhằm từng bước phát triển thị trường điện lực cạnh tranh mộtcách ổn định, xoá bỏ bao cấp trong ngành điện, tăng quyền lựa chọn nhà cung cấpđiện cho khách hàng sử dụng điện; thu hút vốn đầu tư từ mọi thành phần kinh tếtrong và ngoài nước tham gia hoạt động điện lực, giảm dần đầu tư của Nhà nướccho ngành điện; tăng cường hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành điện,giảm áp lực tăng giá điện; đảm bảo cung cấp điện ổn định, tin cậy và chất lượngngày càng cao Thủ tướng Chính Phủ đã có quyết định số 63/2013/QĐ-TTg ngày08/11/2013 phê duyệt lộ trình và các điều kiện hình thành và phát triển các cấp độthị trường điện lực tại Việt Nam, Theo đó thị trường điện lực tại Việt Nam đượchình thành và phát triển như sau:
Trang 18Từ sau năm 2023: Thực hiện thị trường bán lẻ cạnh tranh hoàn chỉnh.
Trang 19Về cơ cấu tổ chức của các Tổng Công ty Điện lực để hình thành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh, Quyết định 63 quy định như sau:
CTĐL được lựa chọn tham gia phải tách bạch cả bộ máy và hạch toán phân phối và bán lẻ điện
chức thành đơn vị hạch toán độc lập, phải tách bạch cả tổ chức bộmáy và hạch toán của các bộ phận phân phối và bán lẻ điện
CTĐL lựa chọn được tách thành đơn vị bán lẻ điện hạch toán độc lập
CTĐL được tách thành đơn vị bán lẻ điện hạch toán độc lập
Đến thời điểm hiện tại, sau 6 năm vận hành thị trường điện Việt Nam đã cóđược những thành công cơ bản Hệ thống điện tiếp tục được vận hành an toàn tincậy, cung cấp đủ điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, không có sự cố phát sinh
từ việc vận hành thị trường điện Quy mô của thị trường phát điện cạnh tranh cũngkhông ngừng mở rộng Tháng 7/2012, chỉ có 31 đơn vị phát điện trực tiếp tham giathị trường phát điện cạnh tranh, đến cuối năm 2017, con số này đã tăng lên 80 Điềunày là minh chứng rõ nét nhất về hiệu quả vận hành, cũng như chủ trương hìnhthành và phát triển thị trường điện Việt Nam là hoàn toàn phù hợp
Đặc biệt, các thông tin về vận hành thị trường điện được công bố đầy đủ đãgóp phần nâng cao tính minh bạch, công bằng trong việc huy động nguồn điện; tạođược môi trường cạnh tranh công khai, bình đẳng, lành mạnh giữa các đơn vị thamgia; tạo động lực cho các nhà máy phát điện chủ động trong vận hành, rút ngắn thờigian sửa chữa bảo dưỡng, giảm chi phí vận hành, chủ động chào giá, góp phần nângcao hiệu quả sản xuất và giảm chi phí phát điện, nâng cao hiệu quả hoạt động củatoàn hệ thống Bên cạnh đó, thị trường điện cũng bước đầu đã tạo được những tínhiệu tích cực, thu hút đầu tư vào lĩnh vực điện năng Cùng với sự phát triển của thịtrường điện, hệ thống văn bản pháp lý phục vụ vận hành thị trường điện cũng ngàycàng được hoàn thiện [3]
Sự cần thiết cần phải xây dựng thị trường điện cạnh tranh
1.1.3 Sự cần thiết phải xây dựng thị trường điện cạnh tranh
Trong bối cảnh thị trường điện chưa được hình thành đầy đủ, cần duy trì biểugiá điện lũy tiến Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng một thị trường điện cạnh tranhkhi đã chính thức đưa thị trường bán buôn vào vận hành từ đầu năm 2019
Trang 20Việc cần sớm hoàn thiện thị trường này là yêu cầu rất cấp bách Bởi giá điện bậcthang lũy tiến chỉ tồn tại trong giai đoạn phát triển ban đầu của thị trường điện cạnhtranh, còn khi đã tiến vào thị trường bán lẻ điện cạnh tranh, bậc thang cuối trong thịtrường điện cạnh tranh thì sẽ không thể duy trì cách tính giá điện như hiện nay
Lúc ấy, thị trường sẽ có nhiều người bán và vạn người mua theo đúng nghĩa
và thế độc quyền của EVN cũng sẽ không còn tồn tại
Nhìn lại sự vận hành của thị trường điện cạnh tranh hiện nay vẫn rất chậmchạp Theo lộ trình, lẽ ra năm 2015 - 2016 phải chuyển sang thị trường bán buônnhưng đến nay dù đã chính thức vận hành nhưng thị trường bán buôn điện cạnhtranh vẫn còn "ngổn ngang" nhiều việc phải làm
Hiện các Tổng Công ty Điện lực được quyền mua bán điện, nhưng xây dựng
và vận hành mô hình này thế nào?
Rồi các tổng công ty phân phối trước nay kinh doanh không phải trên cơ sởhoàn toàn bình đẳng, mà được sử dụng cơ chế giá điện nội bộ thì khi vận hành thịtrường bán buôn cạnh tranh sẽ giải quyết bài toán này ra sao?
Do đó, cần sớm đẩy nhanh thực hiện thị trường điện cạnh tranh, hoàn thiệnthị trường trên cơ sở xây dựng cơ chế, chính sách, giải quyết bài toán trợ giá giữacác đơn vị liên quan; hoàn thiện hạ tầng cơ sở như công cụ đo đếm, xử lý thông tincũng là vấn đề phức tạp và cần có sự đầu tư lớn, là những bài toán mà Nhà nước
và ngành Điện cần giải quyết để có thị trường điện cạnh tranh và giá điện theo thịtrường, giải tỏa bớt bức xúc của người dân với ngành điện như vừa qua [4]
1.1.4 Mục tiêu xây dựng thị trường điện cạnh tranh
Việc xây dựng thị trường điện được thực hiện nhằm đáp ứng một số mục tiêunhư sau:
Thứ nhất, từng bước phát triển thị trường điện TTĐ cạnh tranh một cách ổnđịnh, xóa bỏ bao cấp trong ngành điện, tăng quyền lựa chọn nhà cung cấp điện chokhách hàng sử dụng điện Trong tương lai do nhu cầu sử dụng điện tăng nhanh cùng vớigiá nhiên liệu tăng cao sẽ làm cho giá điện có thể tăng và tốc độ tăng giá có thể giảmvào giai đoạn cuối khi thị trường điện cạnh tranh được hoàn thiện Tuy nhiên phải chỉ
ra rằng biểu giá điện dành cho một số nhóm khách hàng tiêu thụ điện (ví dụ biểu giádành cho điện sinh hoạt) sẽ không giảm ngay khi hình thành thị trường điện cạnh tranh.Nguyên nhân là do các nhóm khách hàng này đang được trợ giá Cải cách giá hướng tớiđịnh giá trên cơ sở chi phí và thị trường sẽ đòi hỏi đầu tiên phải tăng các mức giá đốivới các nhóm khách hàng đang được trợ giá Sự tăng giá ban đầu này là cần thiết để bùđắp hoàn toàn chi phí và thu hút đầu tư vào ngành điện để tránh xảy
Trang 21ra thiếu hụt công suất và duy trì sự phát triển của ngành điện Sau khi tăng mức giáđầu tiên, hiệu quả từ hoạt động thị trường điện cạnh tranh sẽ giúp làm chậm việctăng giá trong tương lai và về lâu dài có thể là giảm giá Hoạt động điện lực trongmôi trường cạnh tranh có sự kiểm tra giám sát của cơ quan điều tiết sẽ tạo ra cácdịch vụ khách hàng và bảo vệ lợi ích tốt hơn cho khách hàng, quyền lựa chọn nhàcung cấp điện của khách hàng sử dụng điện ngày càng được tăng thêm Một trongnhững chức năng của cơ quan điều tiết là bảo vệ lợi ích của khách hàng bằng cáchthiết lập và đảm bảo thực thi các tiêu chuẩn hoạt động dịch vụ khách hàng và giảiquyết các tranh chấp của khách hàng.
Thứ hai, thu hút vốn đầu tư từ mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nướctham gia hoạt động điện lực, giảm dần đầu tư của Nhà nước cho ngành điện Khixây dựng và phát triển thị trường điện cạnh tranh đồng thời với nó là một khuôn khổpháp lý và điều tiết rõ ràng, lành mạnh được xây dựng và các mức giá đầy đủ đượcthiết lập để thu hút các nhà đầu tư mới, các nhà đầu tư phi chính phủ sẽ tin tưởnghơn và yên tâm hơn khi đầu tư vào ngành điện Việt Nam Với lộ trình xây dựng thịtrường điện cạnh tranh phù hợp, sẽ có cơ hội tốt hơn để đạt mức tăng trưởng nguồnđiện mới Do đó ngành điện sẽ có đủ nguồn phát để đáp ứng nhu cầu điện dự báo và
hỗ trợ tăng trưởng kinh tế của đất nước
Cuối cùng, tăng cường hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành điện,giảm áp lực tăng giá điện; đảm bảo cung cấp điện ổn định, tin cậy và chất lượng ngàycàng cao; và đảm bảo phát triển ngành điện bền vững Bằng việc đưa cạnh tranh vàohoạt động điện lực và thực thi các quy định kinh tế về dịch vụ truyền tải và phân phối,ngành điện sẽ phải cải thiện hiệu quả và giảm sự gia tăng chi phí cung cấp điện mới.Trong môi trường cạnh tranh sẽ buộc các đơn vị tham gia hoạt động điện lực phải cạnhtranh nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, cắt giảm chi phí, nhờ đó cácđơn vị này sẽ có khả năng định giá điện của họ một cách cạnh tranh và vẫn thu được lợinhuận Mức tăng chi phí dịch vụ điện trong tương lai sẽ thấp hơn mức tăng chi phí nếukhông xây dựng và vận hành thị trường điện cạnh tranh Từng bước phát triển thịtrường điện cạnh tranh một cách ổn định sẽ xoá bỏ bao cấp trong ngành điện, nâng caohiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành điện, đảm bảo phát triển ngành điệnbền vững Một trong những điều kiện tiên quyết để xây dựng và vận hành mô hình thịtrường điện cạnh tranh đó là phải xây dựng và ban hành Quy định (Pháp lệnh) về lướiđiện Khi Pháp lệnh về lưới điện được ban hành và cơ quan Điều tiết Điện lực hoạtđộng để đảm bảo thi hành Pháp lệnh về lưới điện, việc nâng cao độ tin cậy của hệ thốngđiện sẽ được thực hiện Thêm vào đó, chất lượng điện năng cũng sẽ được nâng cao nhờthi hành Pháp lệnh về lưới điện
Trang 22Thứ hai là năng lực, trình độ và kinh nghiệm của các chủ thể tham gia TTĐ.Đối với các các nhà đầu tư, các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng điện năng,năng lực, trình độ và kinh nghiệm thể hiện ở khả năng huy động tài chính, huy độngnguồn lực triển khai thực hiện các dự án phát triển trong lĩnh vực điện năng, nănglực quản lý đầu tư, quản lý thi công hay quản lý vận hành các công trình điện Đốivới các đơn vị quản lý vận hành lưới điện hay hệ thống điện, trình độ và kinhnghiệm của nhân lực, đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên cũng là những yếu tố quyết định,thiết yếu có ảnh hưởng và tác động tới sự phát triển của TTĐ.
Thứ ba là sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia: do điện năng là đầu vàoquan trọng ở hầu hết các hoạt động của nền kinh tế, và do đó, có sự liên hệ chặt chẽ vàtương quan giữa phát triển kinh tế - xã hội và TTĐ Một yếu tố quan trọng tác động lênphát triển của TTĐ là cơ cấu kinh tế quốc gia hay địa phương mà ở đó các hộ tiêu thụđiện phục vụ cho mục đích sản xuất Nếu cơ cấu kinh tế bị chi phối bởi các hoạt độngsản xuất công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng hay công nghiệp chế tạo, nhu cầu
sử dụng điện cho các khu vực này cũng sẽ có tỉ trọng cao, chi phối tổng thể nhu cầuđiện toàn quốc hoặc địa phương Tác động của các điều kiện kinh tế
kinh tế có hiệu quả hay không Nếu nền kinh tế sử dụng năng lượng có hiệu quả, sẽcần ít điện năng hơn để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm và qua đó, tạo ra nhu cầuđiện bền vững hơn và ngược lại
Thứ tư là hệ thống pháp luật, chính sách đối với ngành công nghiệp điện lực:thể hiện qua các đạo luật, chính sách được ban hành để điều chỉnh sự vận hành vàphát triển của ngành Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật, chính sách quan trọng nhất
và có liên quan mật thiết tới TTĐ là Luật Điện lực, các chiến lược phát triển nănglượng như than, dầu, khí, năng lượng tái tạo, các quy hoạch phát triển phân ngành
Trang 23năng lượng, các quy định về lộ trình hình thành TTĐ các cấp độ, các chính sách về
an ninh năng lượng Bên cạnh đó, các chính sách và định hướng, chủ trương củaNhà nước đối với liên kết vận hành của ngành công nghiệp điện lực Việt Nam vớicác nước trong khu vực, bao gồm các hoạt động xuất nhập khẩu điện và năng lượngcũng đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới sự phát triển của TTĐ Việt Nam
Thứ năm là các nhân tố về kỹ thuật - công nghệ cũng có tác động nhất định đếnTTĐ và ngành công nghiệp điện lực Trong kỷ nguyên của đột phá công nghệ trênnhiều lĩnh vực, ngành điện sẽ chứng kiến sự ứng dụng của các kỹ thuật - công nghệhiện đại để nâng cao năng suất và cải thiện chất lượng điện năng tới khách hàng nhờcác tiến bộ công nghệ trong lĩnh vực phát điện, truyền tải điện, vận hành lưới điệnthông minh, quản lý nhu cầu trên nền tảng công nghệ thông tin và truyền thông
Cuối cùng là mô hình tổ chức quản lý, điều tiết thị trường điện: Khi pháttriển TTĐ, các nội dung liên quan tới mô hình tổ chức quản lý, điều tiết thị trườngđóng vai trò quan trọng thiết yếu Các nội dung này có thể bao gồm hệ thống cácvăn bản pháp lý quy định và điều chỉnh việc xây dựng và phát triển TTĐ; cấu trúc
tổ chức các cơ quan và các bên liên quan trong quản lý và điều tiết TTĐ
Ngoài ra, một số yếu tố như điều kiện tự nhiên, khí hậu cũng ảnh hưởng tới
sự phát triển của TTĐ Các khu vực có điều kiện thời tiết khắc nghiệt (quá nónghoặc quá lạnh) thì nhu cầu tiêu thụ điện năng sẽ có xu hướng cao hơn so với các khuvực khác [5]
Các thị trường ở một số nước trên thế giới và bài học
đối với thị trường điện ở Việt Nam
1.1.6 Thị trường điện Singapore
Thị trường điện cạnh tranh Singapore đã có quá trình hình thành trong 10năm từ năm 1998 đến năm 2008 để có thể vận hành như ngày hôm nay Lịch sửhình thành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh của Singapore là những bước đi thậntrọng, phù hợp và có lộ trình rõ ràng
Quá trình hình thành điện cạnh tranh ở Singapore được trình bày trong Hình1.1
Trang 24Hình 1.1: Quá trình phát triển của thị trường điện cạnh tranh ở Singapore
Thời kỳ đầu của hệ thống điện Singapore, tất cả mọi khâu từ phát điện,truyền tải, phân phối đều do Temarsek nắm giữ (hay nói cách khác là Chính phủ độcquyền) Đến năm 1998 – 1999, Chính phủ Singapore tách dần các khâu ra khỏiTemarsek và giảm dần tỷ lệ nắm giữ vốn tại các Tổng Công ty, mở đường cho Thịtrường điện cạnh tranh hình thành và phát triển [6]
Cấu trúc thị trường bán buôn – bán lẻ điện Singapore được mô tả trong hìnhdưới đây:
Cấu trúc thị trường điện cạnh tranh ở Singapore được trình bày trong Hình 1.2
Hình 1.2: Cấu trúc thị trường điện cạnh tranh ở Singapore
Trang 25Hiện nay, toàn bộ thị trường điện Singapore do Cơ quan điều tiết quản lý thịtrường năng lượng EMA (Energy Market Authority) là đơn vị trực thuộc dưới quyềncủa Bộ Công Thương Singapore, trực tiếp giám sát và quản lý các hoạt động điệnlực; các khâu: phát điện, truyền tải, vận hành thị trường điện, bán lẻ và phân phốiđiện được tách bạch và thực hiện bởi các đơn vị khác nhau.
Trực thuộc quản lý của EMA có hai Tổng công ty nhằm đảm bảo Chính phủnắm giữ độc quyền về truyền tải cũng như an ninh hệ thống:
+ Công ty vận hành hệ thống điện (PSO): là một đơn vị của chính phủ quản lý
(trực thuộc PSO), chịu trách nhiệm cung cấp điện năng ổn định và an ninh hệ thống
+ Công ty lưới điện quốc gia (SP Power Assets) sở hữu toàn bộ lưới điện
Singapore, có chức năng vận hành vào bảo dưỡng lưới điện; Trong SP có 02 công tytrực thuộc:
- SP service chuyên quản lý hệ thống lưới điện phân phối, điều hành hệ
thống phân phối cho các đơn vị bán lẻ điện
- Đơn vị cung cấp các dịch vụ cho thị trường (MSSL) bao gồm: (i) thanh
toán với khách hàng; (ii) đọc công tơ và quản lý dữ liệu đo đếm; (iii) cung cấp cácdịch vụ cho khách hàng mới; (iv) lập hóa đơn và thanh toán phí truyền tải; (v) bánđiện cho các khách hàng nhỏ và gián tiếp bán điện cho khách hàng lớn
công ty cổ phần Tuy nhiên đến năm 2019, Trung tâm giao dịch chứng khoánSingapore - SGX sở hữu 100% cổ phần, EMA không còn tham gia quản lý EMC.EMC được cấp phép thực hiện các chức năng điều hành thị trường điện Singapore.EMC tương tự như một sàn giao dịch điện năng và giao dịch hợp đồng thị trườngđiện, cung cấp các hệ thống CNTT phục vụ giao dịch và quản lý thị trường điện
bán điện cho các khách hàng (bao gồm cả khách hàng lớn thông qua sàn giao dịchhợp đồng) và các khách hàng lẻ, hộ tiêu dùng cá nhân Hiện tại thị trường bán lẻSingapore có 27 đơn vị bán lẻ điện được cấp phép để cung cấp điện cho khách hàng,trong đó có nhiều đơn vị sở hữu nhà máy điện được gọi là Gentailer, các đơn vịkhác chỉ ký hợp đồng mua điện từ các nhà máy và bán lại cho người tiêu dùng
Những đặc điểm nổi bật Thị trường điện của Singapore:
thông qua Tổng công ty Lưới điện quốc gia Singapore (SP group), thu một mức phí
cố định với: phí truyền tải và phí phân phối
Công ty cung cấp dịch vụ điện năng
phối và bán lẻ trực tiếp tới khách hàng
Trang 26Cấu trúc Thị trường điện Singapore được hình thành bởi: Thị trường bán buôn
và Thị trường bán lẻ Trong phạm vi bài viết này, chúng ta xét đến nhưng yếu tố củaThị trường bán lẻ điện cạnh tranh Singapore, để có thể từ đó rút ra những kinh nghiệmcho việc hình thành và phát triển Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh của Việt Nam
Tính đến cuối năm 2017, Singapore có khoảng 27 đơn vị kinh doanh bán lẻđiện hoạt động, trong đó Công ty MSSL (Đơn vị cung cấp các dịch vụ cho thịtrường) là đơn vị bán lẻ mặc định, chỉ bán điện cho các khách hàng không tham giathị trường bán lẻ điện theo biểu giá do nhà nước quy định, không tham gia cạnhtranh với các đơn vị bán lẻ điện khác [6]
Bắt đầu từ tháng 11/2018, Singapore bắt đầu triển khai thử nghiệm thị trườngđiện bán lẻ cho các khách hàng nhỏ trên 4 vùng trong cả nước và chính thức vậnhành thị trường điện bán lẻ hoàn chỉnh từ tháng 5/2019 (Open Energy Market -OEM) Trong đó tất cả các khách hàng sử dụng điện được quyền lựa chọn:
Thị trường điện bán lẻ của Singapore được trình bày trong Hình 1.3
Hình 1.3: Thị trường điện bán lẻ của Singapore
Hiện tại, khoảng 76% khách hàng sử dụng điện của Singapore (chủ yếu làcác đối tượng khách hàng công nghiệp, thương mại – dịch vụ và vận tải) là các đơn
vị trực tiếp mua điện từ thị trường (trực tiếp hoặc thông qua đơn vị bán lẻ) Phụ tảicòn lại là hộ tiêu dùng, thương mại chiếm 24% là các khách hàng không trực tiếpthanh toán trên thị trường 60% đã chuyển đổi mua điện từ thị trường điện cạnhtranh hoàn chỉnh (OEM) của các đơn vị bán lẻ điện theo các gói 40% vẫn mua từTập đoàn Điện lực Singapore theo giá điều tiết của nhà nước
Thị trường bán lẻ điện mở rộng của Singapore được trình bày trong Hình 1.4
Trang 27Hình 1.4: Thị trường bán lẻ điện mở rộng của Singapore
Thời gian để xây dựng thị trường này của Singapore mất 21 năm từ năm
1998 đến 2019 Có thể nhận thấy một số yếu tố chính của thị trường điện bán lẻcạnh tranh Singapore:
phân phối khác nhau
Trang 28vận hành lưới điện và cấp điện đến khách hàng tiêu thụ điện vẫn do SPGroup
(01 đơn vị độc lập với các bên) đảm nhận
Trang 29 Linh hoạt trong Biểu giá điện Các gói dịch vụ của đơn vị bán lẻđiện có thể được chia thành 02 nhóm: biểu giá điện được chuẩn hóa vàbiểu giá điện phi chuẩn hóa Các loại hình biểu giá điện được chuẩn hóabao gồm:
thời gian bán điện cho khách hàng theo hợp đồng đã ký;
kháchhàng được chiết khấu giảm (ví dụ: khoảng 5%) so với mức giá bán lẻđiều tiết do Ủy ban Điều tiết năng lượng Singapore phê duyệt hàng quý
dụ: 25 cents/kWh trong các giờ cao điểm từ 08h00 đến 20h00 và 15cents/kWh trong các chu kỳ thấp điểm còn lại)
điện, nhằm mục đích định giá điện chính xác, đầy đủ, và khuyến khích sửdụng
điện hiệu quả và tránh lãng phí
nào khi thay đổi đơn vị bán lẻ điện
hòa giải sẽ được xử lý bởi một tổ chức trung gian
Những kinh nghiệm thực tiễn về vận hành của thị trường điện Singapore trên
cơ sở những yếu tố đặc thù về lưới điện truyền tải, lưới điện phân phối cũng rấtđáng xem xét để chuẩn bị cho triển khai thị trường bán lẻ điện của Việt Nam Việctách bạch phạm vi hoạt động phân phối điện và hoạt động kinh doanh bán lẻ điệntrong các Tổng Công ty Điện lực, tách bạch chi phí khâu phân phối điện và khâukinh doanh bán lẻ điện, tách bạch chi phí thành phần công ích là những vấn đề còn
có cơ chế quản lý, hệ thống pháp lý để phân định nhằm tạo dựng nền tảng vững
Trang 30chắc cho Thị trường Các quyết định về giá bán lẻ điện sẽ trở nên minh bạch vàđược quyết định do cung cầu thị trường [6].
Trang 311.1.7 Thị trường điện ở Úc
Tổng sản lượng điện trên toàn nước Úc là 253,7 TWh trong năm 2016, trong
đó tua bin hơi đốt than chiếm tỉ trọng rất cao Mạng lưới điện truyền tải điện áp cao
từ 220 kV trở lên thực hiện nhiệm vụ kết nối người tiêu dùng và nhà sản xuất điện ởcác tiểu bang Queensland, New South Wales (NSW), vùng Thủ đô Úc (ACT),Victoria, Nam Úc, và (qua cáp Basslink dưới biển) Tasmania Hệ thống điện nàyhoạt động trong TTĐ của Úc (NEM) và là hệ thống mạng điện xoay chiều dài nhấtkết nối với nhau trên thế giới, kéo dài khoảng 4.500 km [5]
Hệ thống điện Úc có độ dự phòng công suất phát điện lớn (khoảng 25%), tốc
độ tăng trưởng phụ tải thấp (khoảng 3% năm) và cơ cấu nguồn năng lượng đa dạng
Cơ sở hạ tầng của hệ thống điện phát triển ở mức cao với hệ thống SCADA và các
hệ thống đo đếm tiên tiến đã tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng thị trường thời gianthực (5 phút), giúp phát triển thị trường nhanh chóng
Từ năm 1998 đến nay Úc đã phát triển đến giai đoạn bán lẻ điện cạnh tranh.Đến 2001, Chính phủ Úc đã ban hành các chính sách của chính phủ để thúc đẩyphát điện từ NLTT Tổng tiêu dùng nhu cầu điện tại Úc được dự báo sẽ tăng trưởngchậm, đạt 222 TWh vào năm 2021/2022 Một yếu tố quan trọng khác làm giảm tiêuthụ điện là việc giá điện bán lẻ liên tục được điều chỉnh tăng do phí truyền tải giatăng, tại một số bang thậm chí tăng tới hơn 50% (NSW và Queensland) Phí truyềntải tăng bắt nguồn từ hoạt động đầu tư mạnh mẽ trong gần một thập kỷ qua vào hạtầng lưới điện để đáp ứng đỉnh cao nhu cầu mùa hè Hiện nay, giá điện bán lẻ bìnhquân áp dụng cho các hộ gia đình tại Úc là 28 AUDcent/kWh (tương đương 4.871VNĐ/kWh) Mức giá điện bán lẻ cao hơn cũng phản ánh chi phí cho các khoản trợcấp cho NLTT tái tạo
TTĐ quốc gia Úc (NEM) là thị trường thời gian thực vận hành theo mô hìnhđiều độ tập trung - chào giá tự do có kèm theo hợp đồng sai khác giữa các quá trìnhtái cơ cấu, tài sản các đơn vị trong ngành điện Úc đều thuộc sở hữu của Nhà nước
Do nguồn than dồi dào nên nhiệt điện than chiếm một tỷ lệ lớn trong khâu phát điệntại Úc Quá trình tái cơ cấu ở Úc được tiến hành đồng thời từ cấp bang và cấp Quốcgia Năm 1995 ngành điện Úc bắt đầu quá trình chuyển dịch theo mô hình tập đoàn
và tư nhân hóa Các đơn vị truyền tải thuộc sở hữu nhà nước được hợp nhất thànhCông ty truyền tải quốc gia duy nhất cùng với việc thành lập một Ủy ban quản lýlưới điện Quốc gia Năm 1994, Ủy ban quản lý lưới điện Quốc gia ban hành quyđịnh “Tái cơ cấu ngành điện Úc” đặt ra mục tiêu cho phát triển TTĐ Úc
TTĐ quốc gia Úc (NEM) bắt đầu vận hành từ tháng 12 năm 1998 với các mụctiêu: tạo sự cạnh tranh, cho phép các khách hàng lựa chọn nhà cung cấp, cho phép
Trang 32tham gia nối lưới Các đơn vị tham gia NEM gồm có Tổ chức Điều hành Thị trườngNăng lượng - AEMO (Australian Energy Market Operator) vận hành TTĐ NEM.AEMO thành lập năm 2009 trên cơ sở sáp nhập một số cơ quan quản lý quy hoạchcủa nhà nước và đơn vị vận hành thị trường khí và NEMMCO - Công ty Quản lýTTĐ quốc gia (National Electricity Market Management Company) và 15 công typhát điện, 5 công ty cung cấp dịch vụ lưới truyền tải; các công ty cung cấp dịch vụlưới phân phối và các khách hàng mua điện trên thị trường: bao gồm các công tybán lẻ điện và các khách hàng sử dụng điện lớn
Cơ chế quản lý - điều tiết TTĐ được điều chỉnh và cải tiến đầu những năm
2000 nhằm hình thành các cơ quan điều tiết cấp liên bang thay vì tiểu bang Ở hệthống này, có ba cơ quan chính tham gia điều tiết kinh tế của mạng lưới điện tại Úclà:
Hội đồng Thường trực về Năng lượng và Tài nguyên - SCER (StandingCouncil of Energy and Resources): SCER có trách nhiệm tạo lập chương trình nghị
sự chiến lược quốc gia đối với lĩnh vực năng lượng và tài nguyên của Úc Thànhviên của SCER là các bộ trưởng các ngành liên quan ở liên bang, tiểu bang và NewZealand
Ủy ban Thị trường Năng lượng Úc - AEMC (Australian Energy MarketCommission): AEMC được trao chức năng điều chỉnh các Quy định mà không cầnthông qua của Ủy ban Cạnh tranh và Người tiêu dùng Australia - ACCC AEMC còn
có trách nhiệm duy trì và phát triển các Quy định Điện lực quốc gia và tham mưucho các Bộ trưởng về phương thức tốt nhất để phát triển TTĐ Đây cũng là cơ quanban hành các quy định và phát triển TTĐ và khí
Cơ quan Điều tiết Năng lượng Úc - AER (Australian Energy Regulator):AER có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra và đôn đốc thực thi sự tuân thủ ở các TTĐbán buôn và thị trường khí; điều tiết các mạng lưới điện và khí theo nguyên tắc thiếtlập giá tối đa mà các công ty lưới điện được hưởng, điều tiết các TTĐ và khí bán lẻtheo Luật Bán lẻ năng lượng quốc gia [5]
1.1.8 Thị trường điện New Zealand
Thị trường điện New Zealand – NZEM là thị trường chào giá toàn phần(price based), cạnh tranh trong cả 3 khâu: phát điện, bán buôn và bán lẻ
Để đảm bảo tránh được các rủi ro do giá cả trên thị trường thay đổi quá lớn,thị trường điện New Zealand cho phép các bên mua và bán điện được mua bán điệnqua các hợp đồng với giá được thỏa thuận trước Các hợp đồng này đơn thuần chỉ là
Trang 33các hợp đồng tài chính, không cần phải thỏa thuận cho mức công suất hoặc nănglượng mua bán sau này.
Việc áp dụng hợp đồng tài chính giúp bên bán điện đảm bảo được doanh thukhi giá thị trường tụt thấp, khi đó các nhà máy không cần thiết phải ngừng phát điện
mà có thể tiếp tục phát điện để bán theo các hợp đồng với giá điện đã được thỏathuận trước
Đối với bên mua điện là người dùng cuối cùng, việc mua điện qua các hợpđồng sẽ tránh được các rủi ro khi giá điện trên thị trường tăng quá cao Tuy vậy,người sử dụng điện sẽ không được lợi khi giá thị trường thấp
NZEM là thị trường chào giá tự do (price based), các nhà máy điện cạnh tranhvới nhau theo giá các bản chào Các bản chào được gửi tới SO theo đường internet vàđược SO xử lý bằng phần mềm SPD (Scheduling, Pricing and Dispatch Model) Phầnmềm sẽ tính toán trên nguyên tắc chi phí phát điện nhỏ nhất tới nơi tiêu thụ theo mỗichu kỳ giao dịch của thị trường Kết quả của phần mềm này là lịch điều độ cho từng tổmáy, giá điện trên từng nút đấu nối vào lưới truyền tải, và nút bán điện cho mỗi chu kỳgiao dịch – 1/2 giờ Tham số cho phần mềm bao gồm giá của các bản chào, kết quả dựbáo phụ tải, nghẽn mạch của lưới truyền tải và tổn thất đường dây
Thực hiện quá trình tái cơ cấu ngành điện triệt để, New Zealand đã xây dựngthành công thị trường điện cạnh tranh từ khâu phát điện đến phân phối bán lẻ Việccải tổ ngành điện New Zealand cũng được dựa trên 2 đạo luật mạnh mẽ là Luật vềcác công ty cung cấp năng lượng (Energy Companies Act) và Luật điện lực(Electricity Act)
New Zealand đã giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến thủy điện Các nguồnthủy điện của New Zealand chiếm 60% công suất đặt của hệ thống, lượng nước dựtrữ trong hồ không cao và cũng phải đối mặt với mùa mưa và mùa khô Tuy nhiênthị trường điện đã được vận hành theo quy tắc tối ưu giá trị nước để có giá điện toànthị trường thấp nhất từng thời điểm và cả năm
Cơ chế hợp đồng tại New Zealand giúp cho các bên tham gia thị trường vàngười sử dụng điện tránh được những rủi ro khi giá cả thị trường biến động
Do đặc điểm của hệ thống điện New Zealand, các nhà máy thủy điện có hồchứa không lớn và chịu ảnh hưởng của mùa khô nên giá thị trường biến động tăngrất cao trong những tháng mùa khô, hiện tượng sử dụng quyền lực thị trường đểnâng giá cũng xảy ra tại những thời điểm này [7]
Trang 341.1.9 Thị trường điện ở Trung Quốc
TTĐ Trung Quốc có quy mô lớn nhất thế giới Năm 2015, công suất lắp đặtcủa nhà máy điện của Trung Quốc đạt 1.5 tỷ kW, với điện năng sản xuất đạt 5,618nghìn tỷ kWh (chiếm 24% sản lượng điện toàn cầu) Một điểm đáng lưu ý là quy
mô TTĐ Trung Quốc đã liên tục tăng trưởng trong suốt 40 năm qua (kể từ năm1968) Hạ tầng lưới điện Trung Quốc cũng có quy mô khổng lồ, với tổng chiều dàiđường dây truyền tải từ 220kV trở lên là 572,000 km tương ứng công suất truyền tảiđạt 3.03 tỷ kVA Hiện nay toàn bộ các tỉnh của Trung Quốc đã kết nối lưới điệnquốc gia, nằm dưới sự quản lý của hai đơn vị nhà nước là Công ty lưới điện Nhànước và Công ty lưới điện Nam Trung Quốc [5]
Từ năm 1985, Trung Quốc đã bắt tay vào quá trình cải cách ngành điện trongbối cảnh phải đối mặt với tình trạng thiếu điện trên toàn quốc Cho đến trước khi cảicách, TTĐ Trung Quốc không có sự tham gia của tư nhân vào sản xuất điện Chínhquyền Trung Quốc thực hiện các cải cách về thu hút đầu tư, cải cách cơ chế giá điện
và xây dựng các cơ quan điện lực địa phương để cải thiện năng lực sản xuất điệntrên toàn quốc Các nhà đầu tư vào sản xuất điện được bảo đảm đầu ra thông quacác hợp đồng mua điện dài hạn với giá mua cố định, trong đó bảo đảm lợi nhuậntrung bình trên 15%/năm Cho đến năm 1995, về cơ bản tình trạng thiếu điện tạinước này đã chấm dứt
Trong những năm 1997-1998 các chức năng và trách nhiệm của Nhà nước đãđược tách ra khỏi hoạt động kinh tế trực tiếp của các DN năng lượng Một phần của
Bộ Điện lực đã được chuyển đổi thành Công ty Điện lực Trung Quốc (SPC) năm
1997 để tách doanh nghiệp ra khỏi chức năng quản lý Nhà nước Một số biện phápkhác cũng được thực hiện để nâng cao khả năng kiểm soát và hiệu quả của ngànhđiện
Ngành Điện lực của Trung Quốc trải qua đợt cải cách thứ hai trong năm 2002,khi Hội đồng Nhà nước phê duyệt “Đề án cải cách Ngành điện” trên định hướng táchbiệt các khâu sản xuất điện và truyền tải, phân phối điện SPC - là đơn vị sở hữukhoảng một nửa tài sản khâu phát điện và hầu hết hạ tầng lưới điện - được chia nhỏthành nhiều công ty Tuy nhiên tất cả các đơn vị này vẫn thuộc sở hữu nhà nước Trên
cơ sở đó, năm công ty phát điện lớn được thành lập, sở hữu các nhà máy điện trải khắpcác khu vực trên cả nước và đảm bảo nguyên tắc không đơn vị nào sở hữu quá 20% thịphần phát điện Bên cạnh đó, sáu công ty lưới điện vùng được cơ cấu lại thành hai đơn
vị, đảm bảo vận hành cho lưới điện liên kết của hầu khắp các vùng trên toàn quốc.Công ty lưới điện Nam Trung Quốc phụ trách các tỉnh phía Nam và Đông Nam trongkhi Tập đoàn lưới điện Nhà nước chịu trách nhiệm đối với toàn bộ phần
Trang 35còn lại của lưới điện Trong năm 2002, Ủy ban Điều tiết điện lực Nhà nước đượcthành lập với chức năng giám sát và điều tiết sự vận hành của TTĐ thông qua việcxây dựng các quy định, quy tắc cho thị trường Giá mua điện từ các nhà máy điệnriêng lẻ được cố định theo các thỏa thuận dài hạn và chỉ được xem xét điều chỉnhkhi có đề nghị từ nhà máy Các chính sách này phần nào khuyến khích các nhà sảnxuất điện giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận Đối với giá bán điện, thời kỳ nàyTrung Quốc áp dụng biểu giá khác nhau đối với từng nhóm khách hàng gồm côngnghiệp, thương mại và tiêu dùng - dân cư Một điểm đáng lưu ý là các công ty quản
lý lưới điện được giao thực hiện chức năng điều độ hệ thống điện và quy hoạch pháttriển nguồn điện, tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư vào các dự án phát điện Cácnhà đầu tư trúng thầu không những được bảo đảm bao tiêu đầu ra (điện năng sảnxuất) ra mà còn được trả phí công suất như một cách khuyến khích nâng cao độ tincậy sản xuất điện của hệ thống Về bản chất, các công ty lưới điện cũng thực hiệnchức năng người mua duy nhất trên thị trường
Giai đoạn gần đây, Trung Quốc bắt đầu nhận thấy các vấn đề mới nảy sinhcủa ngành điện, thể hiện ở việc thiếu các cơ chế phù hợp cho TTĐ, các giao dịch thịtrường giữa các DN sản xuất điện và người sử dụng còn hạn chế Giá điện vẫn bịảnh hưởng lớn bởi việc điều tiết của nhà nước, không phản ánh đầy đủ các thay đổi
về chi phí, cung - cầu thị trường và chi phí bảo vệ môi trường Bên cạnh đó, côngtác quy hoạch phát triển không đồng bộ và có độ lệch/vênh giữa các quy hoạch.Những khó khăn gặp phải trong việc phát triển và sử dụng năng lượng mới vàNLTT trong đó có sự phân biệt đối xử, tiếp cận hạ tầng điện vẫn tồn tại ở TTĐTrung Quốc Chính phủ Trung Quốc cũng đã nhìn nhận rằng ngành điện có vai tròquan trọng trong việc giúp nước này chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp vàgiải quyết vấn đề ô nhiễm không khí Tại Thâm Quyến, chính quyền đã tiến hành thíđiểm cải cách phí truyền tải và phân phối điện Sau chương trình này, phí truyền tải
và phân phối giảm, kéo theo việc giảm giá bán điện tại tỉnh này [5]
Năm 2015, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Hộiđồng Nhà nước ban hành Văn bản số 9 về Tăng cường hơn nữa Cải cách ngành điệnhay còn được gọi là Chính sách số 9 Đây là đợt cải cách toàn diện, làm nền tảng choviệc thiết lập các thị trường bán buôn và bán lẻ cạnh tranh, chú trọng vào các khâu cơchế giá, phân phối và bán lẻ, kinh doanh điện, buôn bán điện, nguồn điện phân tán vàcác khía cạnh khác Các định hướng nổi bật của Chính sách số 9 như sau:
Thứ nhất, tách bạch phí truyền tải ra khỏi khâu bán lẻ, đưa ra nguyên tắc "chiphí được chấp thuận cộng với lợi nhuận hợp lý" và xác định mức phí truyền tải dựatrên cấp điện áp Việc tách bạch chi phí sẽ khiến cho các đơn vị vận hành lưới điện
Trang 36khó có thể thu lợi nhuận từ sự chênh lệch giữa chi phí phát điện và giá điện bán lẻ.Các công ty lưới điện sẽ thay đổi từ vai trò của đơn vị kinh doanh điện sang một nhàcung cấp dịch vụ truyền tải điện, trong đó công ty lưới điện sẽ kiếm được lợi nhuậnthông qua một "mức phí" khi cung cấp dịch vụ Cơ chế này làm cơ sở cho mô hìnhkinh doanh điện linh hoạt, thúc đẩy sự tham gia đa dạng của nhiều thành phần kinh
tế vào thị trường điện và cải thiện khả năng huy động và sử dụng hiệu quả của toàn
bộ hệ thống điện
Thứ hai, cải cách cơ chế giá và hình thành các cơ chế giao dịch thị trường.Chính sách số 9 làm rõ rằng giá điện sản xuất và giá điện bán lẻ sẽ do thị trườngquyết định, trong khi phí truyền tải và giá điện phục vụ phúc lợi công cộng sẽ vẫnđược điều tiết Các nhà sản xuất điện có thể đàm phán giá với các khách hàng lớnhoặc đơn vị bán lẻ hoặc thông qua cạnh tranh trên thị trường Bên cạnh đó, việc trợgiá đối với các khách hàng cũng sẽ được cải cách
Thứ ba, tạo lập cơ chế cạnh tranh phát điện và bán lẻ điện, đa dạng hóa các tổchức bán lẻ Bên cạnh định hướng cơ chế giá do thị trường quy định, Chính sách số
9 hướng đến mức độ tự do hóa cao hơn khi khâu quy hoạch cung điện năng và khâubán lẻ sẽ dần được xác định bởi thị trường Sự cạnh tranh ở khâu phát điện và bán lẻđiện sẽ trở nên khốc liệt hơn Trong hệ thống mới, các khu công nghiệp công nghệcao và các khu kinh tế, các nhà bán lẻ tư nhân, các công ty cung cấp dịch vụ nănglượng, các công ty phát điện có đủ năng lực đều có thể tham gia và cạnh tranh trongthị trường bán lẻ tương lai Năm 2015, công ty bán lẻ tư nhân đầu tiên của ThâmQuyến, Công ty TNHH Bán lẻ Điện Thâm Quyến Thẩm Quyến (Thâm QuyếnDianneng Shoudian Co Ltd.), chính thức nhận giấy phép kinh doanh và thươngmại Đây cũng là công ty điện bán lẻ tư nhân đầu tiên của Trung Quốc
Thứ tư, hình thành Thị trường dịch vụ phụ trợ mới Từ trước cho đến nay tạiTrung Quốc không có thị trường các dịch vụ phụ trợ Các nhà máy điện nối lướiđược hưởng lợi” Người sử dụng, phù hợp với hợp đồng của họ với các công ty phátđiện hoặc lưới, có thể phải chịu trách nhiệm cho một khoản phí dịch vụ phụ trợ bắtbuộc, hoặc một số loại bồi thường kinh tế khác Các cơ chế liên quan cũng được cảitiến, bao gồm các cơ chế đền bù dịch chuyển đỉnh đồ thị phụ tải, khuyến khích muatrực tiếp các dịch vụ phụ trợ năng lượng sạch và thúc đẩy sự phát triển các dịch vụphụ trợ điện
Thứ năm, chú trọng hơn đến quản lý nhu cầu điện Một trong những điểm nổibật của cải cách điện là cải cách đồng thời việc sản xuất và tiêu thụ điện Chính sách số
9 nhấn mạnh đến việc quản lý nhu cầu cân bằng lưới điện, nhấn mạnh sự cần thiết phảithiết lập cơ chế giá theo thời gian sử dụng, khuyến khích sự tham gia của các
Trang 37công ty cung cấp dịch vụ điện tư nhân và thiết lập nền tảng giám sát sử dụng điệntrực tuyến để thúc đẩy các giải pháp, nền tảng quản lý nhu cầu.
Kết hợp với các chính sách hỗ trợ tiếp theo, đợt cải cách ngành điện lần này
có thể sẽ mang lại những tác động sâu sắc đến TTĐ và các ngành công nghiệp củaTrung Quốc [5]
Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Các trường hợp và kinh nghiệm tại một số quốc gia nêu trên cho thấy nhữngbài học kinh nghiệm hữu ích để phát triển TTĐ, không chỉ là những vấn đề cần giảiquyết xét trên góc nhìn từ phía nội tại của TTĐ mà còn bao gồm các nhân tố ảnhhưởng như hệ thống chính sách quản lý, môi trường kinh doanh và đầu tư, cải thiệnmức độ cạnh tranh cho TTĐ:
Thứ nhất, việc phát triển TTĐ theo định hướng tự do hóa và cải thiện cơ chếcạnh tranh là định hướng tốt, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội củaViệt Nam Tuy nhiên, nền tảng đầu tiên và thiết yếu để phát triển thành công TTĐ,đặc biệt qua các thời điểm, giai đoạn chuyển đổi có tính bước ngoặt hoặc bản lề,chính là có nguồn cung cấp điện ổn định, đa dạng, kinh tế và có dự phòng hợp lý.Nói cách khác, nguồn cung ứng điện năng ổn định, bao gồm hạ tầng lưới điện đượcđầu tư đồng bộ là một trong những điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triểnmột TTĐ bền vững hơn và hiệu quả hơn Tại một số quốc gia châu Âu, bên cạnhviệc bố trí nguồn lực đầu tư cho mức công suất dự phòng hợp lý, việc tham gia kếtnối lưới điện để đa dạng hóa nguồn cung và tăng cường an ninh hệ thống điện thôngqua xuất nhập khẩu điện với các nước trong khu vực cũng là một yếu tố nền tảngdẫn đến tự do hóa TTĐ thành công
Thứ hai, cơ chế giá điện cần được xây dựng hợp lý trong đó hướng đến mụctiêu khuyến khích hoạt động tiêu thụ điện tiết kiệm và hiệu quả, đồng thời đảm bảothu hút đầu tư, không chỉ từ các đơn vị thuộc sở hữu nhà nước mà còn từ khối tưnhân đồng thời tạo nguồn lực bổ sung để phát triển các dạng nguồn điện thân thiệnhơn với môi trường như điện gió, điện mặt trời…
Thứ ba, xây dựng TTĐ phải đi đôi với quá trình cải tổ ngành điện theo địnhhướng phi điều tiết các khu vực phát điện và bán lẻ điện, duy trì điều tiết về chức năng
và điều tiết về kinh tế đối với khâu dịch vụ lưới điện để đảm bảo các đơn vị ngoài nhànước có điều kiện tiếp cận lưới điện như một hạ tầng dùng chung, hướng đến mục đíchphục vụ lợi ích tốt hơn cho người tiêu dùng Tuy nhiên, như một số trường hợp cải cáchkhông thành công đã nêu ở trên, cần có bàn tay của Chính phủ và các chiến lược,phương án theo dõi, đánh giá và dự phòng cho các tình huống hoặc
Trang 38các nguy cơ gây mất an toàn, an ninh hệ thống điện và TTĐ để kịp thời khắc phục,
xử lý Phát triển TTĐ theo định hướng tự do hóa và cải thiện cơ chế cạnh tranh phảitính toán đầy đủ các yếu tố nội tại của mỗi quốc gia, của nền kinh tế, đặc điểm củatiêu thụ điện năng để xây dựng lộ trình, bước đi phù hợp
Cuối cùng, bên cạnh môi trường chính sách quản lý TTĐ rõ ràng và có hệthống, cần thiết có các cơ chế và cấu trúc tốt để đảm bảo các chính sách, quy địnhcủa pháp luật được thực hiện đúng và có hiệu lực cao Do vậy, các nước đều có cácgiải pháp xây dựng bộ máy quản lý và điều tiết có cấu trúc ổn định, được trao nhiềuthẩm quyền và cơ quan điều tiết có mức độ độc lập cao so với chính quyền
Để xây dựng và phát triển thành công TTĐ, ngành điện cần có định hướng và
lộ trình bao gồm:
Tư nhân hóa các doanh nghiệp (DN) độc quyền sở hữu Nhà nước để khuyếnkhích nâng cao hiệu quả hoạt động và hạn chế ảnh hưởng của các quyết định chínhtrị tác động đến thị trường thông qua các công ty sở hữu vốn Nhà nước;
Cấu trúc lại và tách theo chiều/ngành dọc các khu vực có tiềm năng thúc đẩycạnh tranh ra khỏi các khu vực tiếp tục phải điều tiết Ví dụ, khu vực sản xuất, bán
lẻ điện thường sẽ được xây dựng để tạo sự cạnh tranh trong khi khu vực hạ tầngtruyền tải, phân phối điện sẽ tiếp tục được điều tiết;
Cấu trúc lại theo chiều ngang đối với khu vực phát điện để gia tăng số lượngđơn vị phát điện cạnh tranh với nhau Điều này sẽ giúp hạn chế sự thống lĩnh thịtrường của số ít các DN và tăng sự cạnh tranh của thị trường;
Sáp nhập hoặc hợp nhất các đơn vị truyền tải và vận hành lưới điện để bảođảm/hoàn thiện phạm vi địa lý cần thiết của lưới điện và TTĐ, đồng thời xây dựngđơn vị độc lập duy nhất chịu trách nhiệm quản lý vận hành lưới Đơn vị này sẽ thiếtlập lịch huy động nguồn điện để đáp ứng nhu cầu, bảo đảm các chỉ tiêu kỹ thuật củalưới điện, tham gia định hướng đầu tư phát triển hạ tầng truyền tải điện để đáp ứngcác yêu cầu về độ tin cậy cung cấp dịch vụ điện năng và các chỉ tiêu kinh tế;
Tạo lập thị trường năng lượng giao ngay và thực hiện cơ chế công suất dự trữphù hợp để cân bằng cung cầu, hỗ trợ cho việc trao đổi, giao dịch giữa các cơ sởphát điện và giữa người bán và người mua;
Áp dụng các quy chế điều tiết và cơ chế hỗ trợ để nâng cao việc tiếp cận hạtầng lưới điện cho các đơn vị tham gia mua bán điện trên thị trường bán buôn để hỗtrợ cho khâu sản xuất và giao dịch hiệu quả trên thị trường;
Trang 39Minh bạch hóa và tách biệt các thành phần chi phí trong cơ cấu giá điện bán lẻ trong đó làm rõ phần chi phí phải trả cho dịch vụ truyền tải và phân phối điện năng
Xây dựng và cơ quan điều tiết thị trường độc lập có khả năng kiểm soát tốtcác thông tin về chi phí, chất lượng dịch vụ và hiệu quả vận hành của các DN lướiđiện Cơ quan điều tiết có thẩm quyền điều tiết phí truyền tải/phân phối và các điềukiện, điều khoản tiếp cận và sử dụng lưới điện cho các đơn vị sản xuất và mua bánđiện Đây là một tiêu chí quan trọng cho việc cải cách thị trường thành công nhưngthường không được đánh giá đúng mức tại nhiều quốc gia
Tóm lại, lợi ích do cơ chế thị trường đem lại là rất to lớn Cạnh tranh làmgiảm giá bán ở khâu phát điện, gia tăng hiệu quả cung cấp điện Khi đó, các công tyđiện lực sẽ thực hiện các quyết định đầu tư được căn cứ trên lợi ích kinh tế, đồngthời TTĐ thu hút thêm được nguồn vốn đầu tư từ khu vực ngoài quốc doanh vàolĩnh vực điện năng và khách hàng có triển vọng được hưởng giá điện hợp lý và minhbạch hơn Cuối cùng, TTĐ vận hành hiệu quả sẽ bảo đảm được đủ nguồn cung điệnnăng cho phát triển kinh tế - xã hội
Giới thiệu về mô hình thị trường điện cạnh tranh phát
triển theo các cấp độ
Từ giai đoạn đầu những năm 2000, cùng với việc thành lập và ra đời các đơn
vị phát điện ngoài EVN, ngành điện đã xuất hiện sự cạnh tranh nhất định trong phátđiện dù chưa hình thành nền tảng giao dịch TTĐ Ở giai đoạn này các nguồn ngoàiEVN chiếm khoảng 7,2% công suất hệ thống (452 MW) và sản lượng điện chiếmkhoảng 9,2% tổng điện thương phẩm (2,51 TWh) Song song với việc cơ cấu lạiEVN, lộ trình xây dựng và phát triển TTĐ đã được Chính phủ ban hành tại Quyếtđịnh số 26/2006/QĐ-TTg ngày 26 tháng 01 năm 2006, trong đó đặt ra yêu cầu quyđịnh và vạch ra lộ trình ba cấp độ thị trường Mỗi cấp độ được thực hiện theo haibước: thí điểm và vận hành chính thức được trình bày trong Hình 1.5
Thị trường Phát điện cạnh tranh
Hình 1.5: Các cấp độ xây dựng thị trường điện tại Việt Nam
Ba cấp độ thị trường điện Việt Nam như sau:
Cấp độ 1 - Thị trường phát điện cạnh tranh: Thành lập Nhà điều hành thị trường
và Đơn vị mua điện duy nhất thuộc EVN Trên cơ sở đó, đã xây dựng và vận hành
Trang 402017 đến năm 2021 sẽ thực hiện thị trường bán buôn điện cạnh tranh hoàn chỉnh.
Cấp độ 3 - Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh: Ở cấp độ này, hoạt động công
ty phân phối điện sẽ được chia tách theo chức năng quản lý mạng và bán lẻ Ngườitiêu dùng cuối cùng được phục vụ bởi các công ty phân phối có thể sau đó tự do lựachọn các nhà cung cấp của họ (các nhà bán lẻ) Từ sau năm 2023 sẽ thực hiện thịtrường bán lẻ điện cạnh tranh hoàn chỉnh
Như vậy, TTĐ đã và đang chuyển đổi từ cấp độ thị trường độc quyền sangcấp độ TTĐ cạnh tranh Cho đến nay, TTĐ đã cơ bản có sự cạnh tranh ở khâu sảnxuất điện (cấp độ Thị trường phát điện cạnh tranh) và đang trải qua giai đoạn thíđiểm của Thị trường bán buôn cạnh tranh, cụ thể như sau:
1.1.10 Cấp độ thị trường phát điện cạnh tranh
Cạnh tranh hóa khâu Phát điện (sản xuất điện) đã được chuẩn bị và thực hiện
từ năm 2009 và vận hành chính thức từ năm 2012 với tên gọi chính thức là Thịtrường Phát điện cạnh tranh tại Việt Nam Thị trường phát điện cạnh tranh tại ViệtNam mở cửa thị trường sản xuất điện cho các nhà đầu tư ngoài EVN, đa dạng hóa
về mặt sở hữu khâu sản xuất điện Đối tượng tham gia thị trường phát điện cạnhtranh tại Việt Nam bao gồm tất cả các nhà máy điện có công suất đặt lớn hơn 30
MW đấu nối trực tiếp vào lưới điện quốc gia (trừ các nhà máy được đầu tư theohình thức BOT, các nhà máy điện gió, địa nhiệt,…) Từ năm 2015, các nhà máythủy điện có công suất đặt đến 30 MW, đấu nối lưới điện cấp điện áp từ 110 kV trởlên, đáp ứng đủ các điều kiện về cơ sở hạ tầng được quyền lựa chọn tham gia TTĐ
Các đơn vị cung cấp dịch vụ trong Thị trường phát điện cạnh tranh, bao gồm:Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia đảm nhận vai trò của Đơn vị vậnhành hệ thống điện và TTĐ và Đơn vị cung cấp dịch vụ thu nhập và quản lý số liệu
đo đếm điện năng;
Tổng công ty truyền tải điện quốc gia đảm nhận vai trò đơn vị cung cấp dịch
vụ truyền tải điện