1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thi pháp huyền thoại trong tiểu thuyết trăm năm cô đơn của g g MARQEZ

98 1,4K 20
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thi pháp huyền thoại trong tiểu thuyết trăm năm cô đơn của G. G. Marquez
Tác giả Phạm Vĩnh Hùng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hoài Nguyên
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận văn học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 598 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

E.M.Melentinsky trong chuyên luận Thi pháp của huyền thoại đã đề cập đến vấn đề huyền thoại trong sáng tác của G.G.Marquez như một đặcđiểm nghệ thuật tiêu biểu, độc đáo,

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh …… ……

Phạm vĩnh hùng

thi pháp huyền thoại

trong tiểu thuyết trăm năm cô đơn

Giảng viên hớng dẫn: TS Nguyễn Hoài Nguyên

Học viên thực hiện: Nguyễn Thị ThuỷLớp: CH 15- Lý luận ngôn ngữ

Vinh-2009

Trang 2

Mục lục Mở đầu……… ……trang

1

1 Lí do chọn……… …… 1

2 Lịch sử vấn đề……… … 2

3 Đối tượng nghiên cứu……… …… 7

4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu………… ……… 7

5 Phương pháp nghiên cứu……… …… 7

6 Đóng góp của đề tài……… … 7

7 Cấu trúc luận văn……… … 8

Chương 1 : Cơ sở để nghiên cứu thi pháp huyền thoại trong Trăm năm cô đơn 1.1 Một số vấn đề về huyền thoại và thi pháp huyền thoại… 9

1.1.1 Khái niệm huyền thoại……… …… 9

1.1.2 Lược khảo một số nét về tình hình nghiên cứu văn học theo hướng huyền thoại học ……… …… 11

1.1.3 Quan điểm tiếp cận vấn đề thi pháp huyền thoại trong Trăm năm cô đơn……… 17

1.2 Thi pháp huyền thoại trong văn học Mĩ La tinh……… 22

1.2.1 Những điều kiện thúc đẩy sự ra đời của thi pháp huyền thoại trong văn học Mĩ La tinh……… …… 22

1.2.2 Những đặc điểm chủ yếu của thi pháp huyền thoại trong văn họcMĩ La tinh……… … 27

1.2.3 Một số thành tựu của thi pháp huyền thoại trong trong văn học Mĩ La tinh ……… … … 29

1.3 G G Marquez, một cây bút cự phách của văn học của văn học Mĩ La tinh viết bằng thi pháp huyền thoại……… …… … 33

1.3.1 Tiểu sử……… … 33

1.3.2 Những thành tựu cơ bản……… … 34

1.3.3 Tiểu thuyết Trăm năm cô đơn……… … 36

Chương 2: Thế giới hiên thực mang tính ảo mộng trong Trăm năm cô đơn 2.1 Hiện thực phi lý ……… 41

2.1.1 Sự phi lí của thế giới……… …….41

Trang 3

2.1.2 Sự phi lí của kiếp người……….45

2.1.3 Sự phi lí của các mối quan hệ xã hội…… ……… ………….48

2.2 Chủ đề mê cung trong Trăm năm cô đơn……… ……… 51

2.2.1 Tính chất mê cung của thế giới……… ………….51

2.2.2 Tính chất mê cung trong sự tồn của tại kiếp người ……….55

2.2.3 Tính chất mê cung trong đời sống tinh thần của con người…… 57

2.3 Nỗi cô đơn lạc loài của con người………60

2.3.1 Con người cô đơn trong xã hội……… 60

2.3.2 Con người cô đơn trong gia đình……… 65

2.3.3 Con người cô đơn trong tình yêu và hôn nhân……… ……… 67

Chương 3: Một số biểu hiện của thi pháp huyền thoại trên bình diện kết cấu 3.1 Thi pháp huyền thoại biểu hiện trong tổ chức cốt truyện …… 71

3.1.1 Quan niệm về cốt truyện……… ……… 71

3.1.2 Cốt truyện “lồng ghép”……… 73

3.2 Thi pháp huyền thoại trong miêu tả sự kiện tình huống 76

3.2.1 Thi pháp huyền thoại trong miêu tả sự kiện……… … 74

3.2.2 Thi pháp huyền thoại trong miêu tả tình huống……… … 82

3.3 Thi pháp huyền thoại thể hiện trong miêu tả chi tiết ………… 82

3.3.1 Chi tiết huyền thoại ……… 80

3.3.2 Chi tiết Phi logic ……….85

Kết Luận:……… 90

Tài liệu tham khảo……… 93

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Sáng tác văn học bằng, hoặc chịu sự chi phối của nguyên tắc huyềnthoại hóa trong văn học, đặc biệt là văn xuôi hiện đại, đã trở thành một hiệntượng khá phổ biến trên thế giới Và trải một thời kì phát triển khá tích cực, vớinhững gì đã cống hiến cho văn chương, thi pháp huyền thoại xứng đáng có mộtvị trí khi nói về các nguyên tắc sáng tạo văn học Đặt vấn đề nghiên cứu thipháp huyền thoại là góp phần khẳng định những đóng góp của nó cho việc sángtạo văn học

Khoảng giữa thế kỉ trước, trong văn học Mĩ La tinh nổi lên một hiện tượngkhá mới mẻ, đó là việc tạo nên những thế giới kì ảo trong văn học, mà lúc bấygiờ, với sự thống trị của lí luận chủ nghĩa hiện thực trong văn học nghệ thuật ởmột số nước, trào lưu này được gọi bằng cái tên là “chủ nghĩa hiện thực huyềnảo” Điều này chứng tỏ việc vận dụng các nguyên tắc huyền thoại trong văn họckhu vực Mĩ La tinh không chỉ tạo ra những hiệu quả nghệ thuật khu vực, màcòn tạo được những hiệu ứng nghệ thuật toàn cầu Nghiên cứu thi pháp huyềnthoại trong văn học hiện đại, vì thế là cần thiết

1.2 Gabriel Garcia Marquez, với những thành tựu quan trọng của mình,trong đó có một giải Nobel, vốn đã không còn xa lạ với văn học thế giới Và cáctác phẩm của ông cũng đã được giới thiệu khá rộng rãi ở Việt Nam Tuy nhiên,khi nhìn về vấn đề nghiên cứu các tác phẩm của ông, ta vẫn thấy có nhiều chỗ

chưa thỏa đáng Nghiên cứu thi pháp huyền thoại trong tiểu thuyết Trăm năm

cô đơn chính là góp phần nhỏ vào việc khẳng định giá trị, tầm vóc một nhà văn

tầm cỡ thế giới, trong sự tiếp nhận của người đọc Việt Nam

1.3 Sử dụng thi pháp huyền thoại trong sáng tác văn học, thực ra khôngphải bắt đầu từ văn học Mĩ La tinh và G.G.Marquez vào những thập niên giữathế kỉ XX, mà đã có nguồn gốc rất lâu từ trước đó, trong các sáng tác củaF.Kafka, thậm chí, T Sekhov, Balzac… Nghiên cứu thi pháp huyền thoại trong

Trang 5

Trăm năm cô đơn, trong sự so sánh với một số tác phẩm của tác giả khác, sẽ

phần nào thấy được sự vận động của phương thức khái quát hiện thực này

2 Lịch sử vấn đề

Gabriel Garcia Marquez là nhà văn không chỉ được biết đến ở Mỹ La tinhmà còn là nhà văn được yêu thích trên văn đàn của thế giới Một số tác phẩmvăn học của ông đã cuốn hút được những người yêu văn học ở nhiều quốc gia

Từ những năm 1960 của thế kỉ XX, độc giả Việt Nam đã được biết đến các tác

phẩm của ông như tiểu thuyết: Giờ xấu, Trăm năm cô đơn, Mùa thu của vị trưởng lão, Kí sự về một cái chết được báo trước, Tình yêu thời thổ tả, Tướng quân giữa mê hồn trận, Tình yêu và những con quỷ khác Về thể loại truyện ngắn có: Bão lá, Ngài đại tá chờ thư, Đám tang bà mẹ vĩ đại, Truyện buồn không thể tin được của Erendia ngây thơ và người bà bất lương, Mười hai truyện phiêu dạt, Cụ già với đôi cánh khổng lồ, Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi… Về kí sự, phóng sự có: Chi Lê cuộc đảo chính và bàn tay bọn

Mỹ, Tin tức về một vụ bắt cóc, Sống để kể lại, Nhật kí chìm tàu Chúng ta được

tiếp cận những tác phẩm trên qua bản dịch của các dịch giả như; Phạm ĐìnhLợi, Nguyễn Trung Đức, Nguyễn Quốc Dũng… Đã có rất nhiều những sáng tácđã của G.G.Marquez đã được dịch ra tiếng Việt, nhưng trên thực tế việc tiếpcận được với các tác phẩm lại còn rất hạn chế, nên G.G.Marquez vẫn đang cònlà một tác giả chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam

Trăm năm cô đơn là cuốn tiểu thuyết lớn trong sự nghiệp sáng tác của

G.G.Marquez, tác phẩm nhận được giải thưởng Nobel năm 1982, được dịch ranhiều thứ tiếng khác nhau trên thế giới, trong đó có tiếng Việt và được đưa vàohọc ở trường Đại học thuộc chuyên nghành Ngữ văn, tác phẩm đã trở nên mêhoặc cuốn hút độc giả ở thế hệ khác nhau

Mặc dầu sự hấp dẫn, cuốn hút, và những đóng góp về tư tưởng, nghệ thuậtcủa tác phẩm là rất lớn nhưng việc quan tâm nghiên cứu để đưa ra cái nhìn đầyđủ và toàn diện về tác phẩm lại chưa thật đúng mức Tuy vậy, không phải chưacó những nghiên cứu sâu sắc về tác phẩm này Viện Hàn lâm Thụy điển tuyên

Trang 6

bố nhân dịp trao giải Nobel văn học cho tác giả: “…Trong những tác phẩm củaông, sự huyền ảo và hiện thực được kết hợp tạo thành một thế giới tưởng tượng

vô cùng phong phú, phản ánh cuộc sống và những xung đột tại Tân lục

địa…”[29] E.M.Melentinsky trong chuyên luận Thi pháp của huyền thoại đã

đề cập đến vấn đề huyền thoại trong sáng tác của G.G.Marquez như một đặcđiểm nghệ thuật tiêu biểu, độc đáo, đồng thời tác giả này cũng đánh giá tích cựcvề những đóng góp của G.G.Marquez trên nhiều phương diện Ông viết: “…

Với cuốn tiểu thuyết Trăm năm cô đơn (1967), dường như là sự tổng hợp các

dạng khác nhau của chủ nghĩa huyền thoại”[32;503]; “Rõ ràng hơn nhiều ngườitiền bối, G.G.Marquez sử dụng thi pháp huyền thoại trong sự lặp lại và thay thếcũng như sử dụng khá điêu luyện các bình diện thế tục khác nhau.G.G.Marquez sáng tạo “mô hình thế giới” hết sức rõ ràng (dưới dạng làngMacondo), nó vừa là mô hình Columbia”, vừa là (và chủ yếu là)” mô hình Mĩ

La tinh, đồng thời một phần là mô hình toàn nhân loại” [32;503,504] Cũng

theo tác giả cuốn Thi pháp của huyền thoại, “Bằng sự cân bằng độc đáo của

bình diện huyền thoại và bình diện lịch sử, bằng sự giải thích cái huyền thoại,trong đó có cả cái điển hình, G.G.Marquez buộc người ta phải nhớ về Th.Mann

cho dù khó mà phát hiện ở ông dấu vết ảnh hưởng của sử thi kinh thánh về Anh

em nhà Joseph”[32;504] Có thể nói rằng E.M.Melentinsky là người đã có công

khai mở, phát hiện những điều mới mẻ, độc đáo chứa đựng trong các tác phẩmcủa G.G.Marquez Tuy nhiên do mục đích của chuyên luận nên người viếtkhông đặt ra vấn đề mô tả, đánh giá tổng quan về thế giới nghệ thuật của tácphẩm Ở Việt Nam; Nguyễn Trung Đức, trong bài giới thiệu về tiểu thuyết

Trăm năm cô đơn nêu ra một số vấn đề về cốt truyện, đề tài, kết cấu và thời

gian nghệ thuật, nhân vật và thông điệp của tác phẩm Đây là bài nghiên cứumang tính chất định hướng, mở đầu trong việc tiếp cận và nghiên cứu tiểu

thuyết Trăm năm cô đơn ở Việt Nam.

Trong cuốn sách Văn học thế giới thế kỉ XX, Đỗ Xuân Hà đã dành một số trang viết để bàn về tiểu thuyết Trăm năm cô đơn, ông có đề cập đến tư tưởng

Trang 7

chủ đề, phương pháp sáng tác và đặc điểm nghệ thuật của tiểu thuyết Trăm năm

cô đơn Tác giả cuốn sách Văn học thế giới thế kỉ XX, đánh giá “tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của G.G Marquez đã trở thành một hiện tượng văn học đặc

sắc bậc nhất của văn học Mĩ La tinh thế kỉ XX” [18;160]

Trong công trình nghiên cứu Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Gabriel Garcia Marquez, Lê Huy Bắc quan tâm nghiên cứu tác phẩm trên nhiều bình diện và khía cạnh khác nhau như; câu chuyện một trăm năm, gia hệ Trăm năm

cô đơn, nhân vật, huyền thoại về cái đuôi lợn, Macônđô huyền thoại, trần thuật

mê lộ - biên niên sử huyền ảo Theo tác giả đây là một tác phẩm đã kết hợp giữacái hiện thực và hoang đường những hình ảnh, chi tiết mang tính biểu tượng,nhằm phản ánh một thực tế hiện tồn trong đời sống, lịch sử, văn hóa Mĩ La tinh,có thể nói đây là một nghiên cứu có nhiều đóng góp mới mẻ, có những pháthiện độc đáo về tác phẩm Điều đáng lưu tâm là tác giả đã đề cập đến một chủđề tương đối phổ biến trong sáng tác văn học bằng phương thức huyền thoại, đó

là chủ đề mê cung Trong khi khám phá nghệ thuật của Trăm năm cô đơn, ông

có những lí giải xác đáng, tên cơ sở đó tác giả có những liên hệ với chủ nghĩahậu hiện đại “có thể thấy G.G.Marquez là một trong những nhà văn “lãng mạn”bậc nhất Thế giới hư cấu của ông quả là có sức bay bổng diệu kì Các nhân vậtcủa ông hầu như không bị giới hạn bởi một không gian nào cả Họ là những conngười của thực tại, hoàn toàn là đời thường, nhưng trong phút chốc họ họ có thểthoải mái bước sang địa hạt cảu hoang đường để suy tư, chiêm ngẫm cho nhữnghành động thực tại của con người.[7;240] Lê Huy Bắc cho rằng “chất lãng mạncủa G.G.Marquez được toát lên từ từ lối văn hoành tráng tựa những con sóng.Văn phong G.G.Marquez và những con sóng, ta chỉ có thể ví như thế, mà phảilà những con sóng bạc đầu, những con sóng cao ngất trời, trắng xóa trên đạidương bao la Nhưng đáy cũng chỉ là những con sóng của sự khiêm tốn Tínhchất khiêm tốn trong tự sự là đặc thù của văn chương hậu hiện đại Nhà vănhuyền ảo tuy thả hồn đến mọi nẻo đường tưởng tượng có thể, nhưng bao giờcũng bị giứoi hạn bởi tính khiêm tốn trong cách kể của mình Họ sẽ không bao

Trang 8

giờ nói quá những gì trực tiếp trải nghiệm và nắm bắt Họ không hề tạo ra ảotưởng và tự ảo tưởng về sứ mệnh của nhà văn là nói hết và nói lời cuối về sựtồn vong của con người trên trái đất này.[7;240].

Lê Thanh Nga nghiên cứu G.G.Marquez trong liên hệ với F.Kafka đã chorằng “sự kế thừa của G.G.Marquez đối với tư tưởng của F.Kafka chủ yếu tậptrung ở khía cạnh cảm nhận về sự tha hóa, nỗi cô đơn và tình trạng lưu đày củacon người trong thế giới hiện đại sự tha hóa này thể hiện trong hiện tượng cảmột dòng họ, trong khoảng trăm năm đã bị dồn vào tình trạng luôn mang trên

cơ thể người cái đuôi lợn Ta có thể tìm thấy ở đây một biến thể của tình trạngbiến dạng của anh chàng Gregor Samsa Ở đó con người không còn cách thứcnào để chống lại cuộc tha hóa triền miên, mà người đọc có thể thấy ở đó chínhlà một đặc tính cố hữu của lịch sử loài người Cái vòng trăm năm tròn trịa đầyẩn dụ, mang tính chất đặc biệt của những mê cung chúng ta đã từng gặp trongcác sáng tác của F.Kafka Chủ đề mê cung cũng thể hiện một cách khắc khoảitrong vòng tròn loạn luân của gia tộc, kèm theo mê cung ấy chính là hình ảnhvề cái vĩnh cửu cho nỗi cô đơn của con người (thời gian một trăm năm trongnhững ý nghĩa cụ thể nhất định, như trong trường hợp này là ngụ ý về cái vô

hạn, cái miên viễn)”.[40;175] Ngoài ra, trong Trăm năm cô đơn, người đọc còn

có thể bắt gặp một hiện thực đầy rẫy những sự phi lí, trái khoáy: đó là việc mộtcon người không thích ăn cơm mà chỉ thích ăn đất, một cơn nghiện không caiđược, như một sự hủy hoại mà chúng ta cũng đã từng gặp trong người nghệ sĩ

nhịn đói của Vô địch nhịn ăn, hay một căn bệnh ngủ triền miên như một phản

đề có cảm hứng từ bệnh mất ngủ triền miên trong thế giới nghệ thuật củaF.Kafka”[40;176] Tuy nhiên, thi pháp huyền thoại của tác phẩm vẫn chưa đượcnghiên cứu với tư cách là một đối tượng chuyên biệt, và những đánh giá của tácgiả đối với tác phẩm này vẫn chưa thật sự đầy đủ

Trong bài “Hình tượng Macondo trong Trăm năm cô đơn từ góc nhìn văn hoá Mỹ la tinh” in trên tạp chí Sông Hương số 259, Phan Tuấn Anh cũng đề cập

đến các yếu tố huyền thoại trong tác phẩm, trên cơ sở phân tích đặc điểm hình

Trang 9

tượng làng Macondo Tác giả viết: “Tính chất huyền thoại của Macondo khôngchỉ tạo nên không gian nghệ thuật, giọng điệu trữ tình nên thơ trong tác phẩm,mà quan trọng hơn, đó là dụng ý xây dựng một hình tượng “mẫu gốc” cho mọiđịa danh, mọi xứ sở ở Mỹ La tinh Macodo vì thế chính là một địa danh thuộcvề huyền thoại, một ngôi làng đã biến mất cùng sự tuyệt duyệt của một dòng họtrăm năm cô đơn bởi tội lỗi loạn luân bị nguyền rủa” Phan Tuấn Anh còn nhìn

thấy tính chất liên hoàn, sự khăng khít của Trăm năm cô đơn với các tác phẩm

khác của G.G.Marquez, nhìn thấy những đặc điểm phổ quát của thế giới tronghình tượng làng Macondo khi viết: “Chính vì tầm ý nghĩa quan trọng trên, hìnhtượng Macondo đã xuất hiện ít nhất trong năm tác phẩm của Marquez mà đó lạilà những tác phẩm quan trọng nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông Trong

Trăm năm cô đơn, hình tượng Macondo không chỉ đơn thuần là không gian

diễn ra câu chuyện mà mà hình tượng này còn đặt trong chiều kích sử tính củathời gian huyền ảo, tạo nên một dòng chảy thời gian biên niên, được đánh mốcbởi bảy thế hệ cô đơn của dòng họ Buênđia Bảy thế hệ dòng họ Buênđia lạibiểu trưng cho sự phát triển và tuyệt diệt của loài người, nên Macondo là mộtthế giới thu nhỏ, đặt trong tiến trình lịch sử trải qua bốn chặng chính là khai lập

- phát triển - thịnh vượng và suy tàn Nói cách khác là từ lịch sử hồng hoangcủa con người cho đến thời hậu hiện đại” [2;tr.78]

Ngoài những chuyên luận, những bài viết ở trên, chúng tôi được biết, trongkhoá luận tốt nghiệp đại học nghành Ngữ văn Trường Đại học Vinh của TrầnThị Thu Thuý và Trần Thị Thanh Tâm cũng đi tìm hiểu tác phẩm, nhưng cũngchỉ dừng lại ở việc bàn về kết cấu cốt truyện hoặc đã đặt vấn đề nghiên cứu cái

kì ảo trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn nhưng xuất phát từ góc nhìn của chủ

nghĩa hiện thực mà chưa đề cập đến thi pháp huyền thoại của tác phẩm với tưcách là một đối tượng nghiên cứu mang tính chất lí thuyết

Nhìn chung, việc nghiên cứu về tiểu thuyết Trăm năm cô đơn vẫn còn

nhiều khoảng trống, một mặt do các tác giả không đặt mục đích nghiên cứuriêng cho tác phẩm này, những kết luận khoa học về nó còn tản mạn, chưa

Trang 10

mang tính hệ thống và bao quát nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Bởi vậy,việc tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu thi pháp huyền thoại trong tác phẩm là việclàm rất cần thiết Tuy nhiên, những tìm hiểu, nghiên cứu và đánh giá của các tácgiả ở trên đã gợi mở cho chúng tôi hướng tiếp cận vấn đề.

3 Đối tượng nghiên cứu

Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu của luận văn là thi pháp

huyền thoại trong Trăm năm cô đơn của G.G.Marquez.

4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

Nêu được những đặc điểm cơ bản của thi pháp huyền thoại trong văn họcMĩ La tinh thế kỉ XX

Ý nghĩa của việc sử dụng thi pháp huyền thoại trong tác phẩm và trongsáng tạo nghệ thuật của G.G.Marquez

Tìm hiểu các cấp độ và biểu hiện của thi pháp huyền thoại trong tiểu thuyết

Trăm năm cô đơn.

5 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi chủ yếu sử dụng những nguyên tắc của trường phái phê bìnhhuyền thoại học, ngoài ra chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiêncứu phổ biến: phương pháp nghiên cứu tiểu sử, phương pháp văn hóa lịch sử,phương pháp nghiên cứu xã hội học

6 Đóng góp mới của đề tài

Nghiên cứu một cách tương đối hệ thống một số đặc điểm tiểu thuyết

Trăm năm cô đơn từ góc nhìn huyền thoại

7 Cấu trúc luận văn

Tương ứng với nhiệm vụ, mục đích nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần mởđầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, luận văn sẽ được chia làm 3chương:

Chương 1: Cơ sở để nghiên cứu thi pháp huyền thoại trong Trăm năm cô đơn Chương 2: Thế giới hiện thực mang tính ảo mộng trong Trăm năm cô đơn

Trang 11

Chương 3: Một số biểu hiện của thi pháp huyền thoại trên bình diện kết cấu

Chương 1

CƠ SỞ ĐỂ NGHIÊN CỨU THI PHÁP HUYỀN THOẠI

TRONG TRĂM NĂM CÔ ĐƠN

1.1 Một số vấn đề về huyền thoại và thi pháp huyền thoại

1.1.1 Khái niệm huyền thoại

Khái niệm huyền thoại được xác định trong thuật ngữ phương Tây bằng từgốc là Myth (trong cổ ngữ Hi Lạp là Muthos, tiếng Pháp: Mythe, tiếng Anh:

Trang 12

Myth), với cách hiểu là câu chuyện về các vị thần, các cá nhân siêu việt, cácanh hùng chiến trận và gắn liền với khuynh hướng ngợi ca Ở Việt Nam, kháiniệm “huyền thoại” gắn liền với khái niệm “thần thoại”, tức là những câuchuyện có tính chất thần kì (thần: thần kì, thoại: chuyện kể, câu chuyện) Từđiển văn học định nghĩa huyền thoại là “thể loại truyện ra đời sớm nhất tronglịch sử truyện kể dân gian các dân tộc Đó là toàn bộ những truyện hoangđường, tưởng tượng về các vị thần và những con người, những loài vật mangtính chất thần kì, siêu nhiên do con người thời kì nguyên thủy sáng tạo ra đểphản ánh, lí giải các hiện tượng trong thế giới tự nhiên và xã hội theo quanniệm “vạn vật có linh hồn” (hay thế giới quan có thần linh) của họ.[21;250].

Cách hiểu tương tự cũng được thể hiện trong Từ điển tiếng Việt, khi các nhà

biên soạn khẳng định câu chuyện huyền thoại là “kì lạ hoàn toàn do trí tưởng

tượng”[24;40] Lại Nguyên Ân trong sách 150 Thuật ngữ văn học có định nghĩa

rộng rãi hơn khi cho rằng huyền thoại tồn tại “không chỉ là thi ca, là sự hiểu biết(hoặc hiểu lầm) về thế giới tự nhiên và xã hội mà còn là nghi thức, nghi lễ sungbái, thể hiện sự khuất phục của con người trước các sức mạnh khó hiểu, đầy taihọa của thiên nhiên và xã hội”[2;156]

Như vậy, về cơ bản, khái niệm huyền thoại theo nghĩa gốc nhằm chỉ mộtthể loại văn học, những câu chuyện gắn liền với tư duy nguyên hợp và quanniệm vạn vật hữu linh của người cổ đại, thể hiện những nhận thức ngây thơ củahọ về các quy luật của tự nhiên và xã hội

Vào thế kỉ XX, khi tư duy huyền thoại đã trở thành một hiện tượng phổbiến trong văn học nghệ thuật thì càng có nhiều người quan tâm đến việc địnhnghĩa một cách rõ ràng về khái niệm này, thường là trong các công trình khoahọc như một giới hạn cho việc nghiên cứu vấn đề của mình Barbérie cho rằng

“huyền thoại là một hình tượng mà ngày càng sâu sắc thêm ngay cả khi kẻ sángtạo hoặc hoàn cảnh sinh ra nó đã đi qua từ lâu rồi”[49;248] Ưu điểm của địnhnghĩa này là đã mở rộng nội hàm khái niệm, mở ra con đường để tiếp cận chủnghĩa huyền thoại của thế kỉ XX, nhưng ngay trong sự mở rộng ấy đã bộc lộ

Trang 13

hạn chế Trong lí luận văn học hiện đại, với quan niệm tác phẩm văn học như làmột quá trình, bất cứ một hình tượng nào cũng luôn có khả năng sâu sắc thêmvề ý nghĩa theo thời gian, và như vậy thì định nghĩa trên đã cho phép du nhậpvào huyền thoại tất cả mọi loại hình tượng Garaudy ví huyền thoại như một hệthống tín hiệu thứ ba, nhắc nhở, gợi cho chúng ta liên hệ đến một cái gì đấyngoài bản thân hình tượng [9;247] Mặc dù trong định nghĩa này Garaudy chưaluận giải một cách rõ ràng về mặt khoa học, nhưng cũng đã phản ánh được phầnnào tính chất của huyền thoại, thậm chí đã động được đến đặc trưng cơ bản của

nó Trong cuốn Thi pháp của huyền thoại, Meletinsky không đưa ra một định

nghĩa cụ thể, song có thể thấy ông hiểu huyền thoại là toàn bộ những gì đượctạo nên do trí tưởng tượng của con người, phân biệt với tính chất kì ảo, phi thực(huyền thoại cổ), hoặc tính chất phi logic, phi thực được tạo bởi sự lắp ghépnhững mẫu vật không theo logic thông thường của nó Quan niệm này gần gũivới định nghĩa của Phùng Văn Tửu: “huyền thoại là những hình tượng nghệthuật gián tiếp, có tầm khái quát lớn và lung linh đa nghĩa Nó là những hìnhảnh tượng trưng với quy mô lớn hơn cả bề rộng lẫn chiều sâu Huyền thoại hiệnđại là do trí tưởng tượng thuần túy xây dựng nên, không thể xét đoán bằng lí tríhay tiêu chuẩn khoa học, nhưng thường cũng chẳng có yếu tố hoang đường,chẳng có thiên thần, á thánh, ma quỷ, cũng chẳng có tầng địa ngục hay chốn

thiên đường”[153;249] Hoàng Trinh trong Phương Tây văn học và con người

định nghĩa huyền thoại “là một biểu tượng văn học đạt được sự tổng hợp nhấtđịnh Dưới một hình thức phóng to (hoặc rất cụ thể, hoặc rất trừu tượng), vàxuyên qua một ẩn ý triết học, tác giả muốn làm nổi lên một cách tổng quát mộthiện tượng nào đó để ca ngợi hoặc phê phán theo quan niệm thẩm mĩ củamình”[153;33] Ngoài ra còn có nhiều định nghĩa khác mà do khuôn khổ luậnvăn, chúng tôi không tiện dẫn

Trong luận án tiến sĩ Ngữ văn Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong sáng tác của F.Kafka, Lê Thanh Nga lại đưa ra một cách hiểu và định nghĩa riêng về

huyền thoại trên cơ sở kế thừa những định nghĩa của tiền bối: “Huyền thoại là

Trang 14

những hình ảnh được tạo nên do trí tưởng tượng của con người bao gồm nhữngyếu tố kỳ ảo, hoang đường, bởi cấu trúc bên trong của nó, ít có bóng dáng củađời sống thực tại, về mặt hình thức (những câu chuyện về thần linh, thiênđường, địa ngục…), hoặc được tạo thành từ những chất liệu thực tại, nhưngbằng các mối quan hệ với các chi tiết khác, vượt qua những giới hạn lịch sử cụthể, mang thêm tính kỳ lạ, khó chấp nhận theo logic thông thường, để giải thíchmột hiện tượng của thực tại hoặc để biểu đạt một ý nghĩa nào đó có tính chấtphổ quát” [30;107-108]

Để có cơ sở lí luận cho việc tiếp cận, đáp ứng mục đích nghiên cứu đề tàiluận văn của mình, chúng tôi tán thành và vận dụng những quan niệm được nêutrong định nghĩa về huyền thoại của Lê Thanh Nga Đặc biệt, chúng tôi cố gắngvận dụng những vấn đề lí thuyết về huyền thoại của E.M.Melentinsky nhằm

làm sáng tỏ thêm những vấn đề của thi pháp huyền thoại trong Trăm năm cô đơn.

1.1.2 Lược khảo một số nét về tình hình nghiên cứu văn học theo hướng huyền thoại học

Từ thời cổ đại trong cuốn Nghệ thuật thơ ca, Aristote đã bàn về huyền

thoại, ông giải thích và cho rằng huyền thoại như một câu chuyện ngụ ngôn,huyền thoại được giải thích như một sự thống nhất các thực thể của các nguyênnhân hình thức, mang tính vật chất đang vận động và có kết thúc Đến thời kìPhục Hưng, huyền thoại lại được giải thích như một ẩn dụ thi ca đạo đức, cũnglà sự thể hiện tình cảm khát vọng của nhân cách con người được giải phóng,trong đó niềm tin của con người vào một tôn giáo, khoa học hay một triết họcnào đó Huyền thoại về cơ bản là một khái niệm nhằm chỉ một thể loại văn học,những câu chuyện gắn liền với tư duy nguyên hợp và quan niệm vạn vật hữulinh của con người cổ đại, những biểu hiện về nhận thức sơ khai, ngây thơ củacon người về các quy luật của tự nhiên và xã hội Huyền thoại không chỉ là hiệntượng trung tâm của lịch sử văn hóa, mà nó còn là mô hình đầu tiên của mọi hệ

Trang 15

tư tưởng, là cái nôi nguyên hợp của mọi loại hình văn hóa khác nhau như vănhọc, nghệ thuật, tôn giáo, ở mức độ nào đó, cả triết học và cả trong khoa học.Tiếp nối dòng mạch lí luận nghiên cứu và tiếp cận huyền thoại trong vănhọc nghệ thuật, vào những năm cuối thế kỉ XIX, huyền thoại được hai trường

phái khác nhau nghiên cứu, trong đó trường phái thứ nhất cổ vũ bởi Huyền thoại học Đức của Grimm, người đứng đầu trường phái này là Marx Muller,

ông đã đưa ra quan điểm ngôn ngữ học về sự nảy sinh các huyền thoại do kếtquả của căn bệnh ngôn ngữ, họ biểu thị các khái niệm thông qua những dấuhiệu cụ thể nhờ các hình dung ẩn dụ, còn khi một nghĩa đầu tiên của các hìnhdung từ này bị lãng quên hay mờ đi do những biến chuyển ngữ nghĩa này màxuất hiện huyền thoại Đối lập với cách giải thích trên, là một số quan niệm củatrường phái nhân chủng học do A.Taylor, A Langer… sáng lập, và chủ trương

Trong cuốn sách của A.Tayler, Văn hóa nguyên thủy, ông coi huyền thoại và

tôn giáo là những trạng thái nguyên thủy xa xưa, nảy sinh do kết quả quan sátvà suy ngẫm duy lí của “người dã man” về vấn đề sống chết, bệnh tật và cácgiấc mơ, chính con đường logic và duy lí này họ đã xây dựng huyền thoại trong

khi đi tìm lời giải đáp cho những hiện tượng khó hiểu trong cuộc sống

Với tư cách là một thủ pháp nghệ thuật, là chất liệu cơ bản của thế giớinghệ thuật, huyền thoại tiếp tục được nghiên cứu trở thành tiêu điểm trên sáchbáo phương Tây trong thế kỉ XX, bởi những công trình lí luận khác nhau:

Huyền thoại Sisyphe (1942) của Camus, Các huyền thoại và chân dung (1947) của B Groethuysen, Huyền thoại Rimbaud (1952 - 1968) của R.Etiemble, Những huyền thoại (1957) của R Barthes, Huyền thoại, Hư cấu và chuyển dịch (1961) của N Frye, Các huyền thoại Balzac (1972) của P Barberis, Huyền thoại tính nội tâm (1976) của J Bouveresse, Thơ ca huyền thoại và hiện thực (1942) của P Wheelwright, Ghi chú về nghiên cứu huyền thoại (1946) của R Chase, Huyền thoại và sự tiếp cận bi kịch Shakespeare từ góc độ lễ thức (1957) của H Weisinger, Về một chủ nghĩa hiện thực không bờ bến (1963) của R.

Garaudy…

Trang 16

Một trong những công trình thành công và gây được tiếng vang về lĩnh vực

nghiên cứu huyền thoại là chuyên khảo Thi pháp của huyền thoại của tác giả

E.M.Melentinsky Trong chuyên khảo của mình ông đã bắt đầu xem xét từnhững hình thức cổ xưa nhất cho đến những biểu hiện của chủ nghĩa huyềnthoại trong văn học thế kỉ XX Theo ông, “chủ nghĩa huyền thoại không đối lậpvới nhân tố phê phán thực thụ, thậm chí nó còn đề xuất những phương tiện bổsung để biểu hiện sắc bén hơn cho những gì quan sát được về tình trạng càobằng cá tính con người, về sự tha hóa quái gở, sự dung tục của thứ “văn xuôi”

tư sản, trạng thái khủng hoảng của văn hóa tinh thần”[32;403].E.M.Melentinsky cho rằng huyền thoại là một hiện tượng trung tâm trong lịchsử văn hóa, đồng thời là phương tiện cổ xưa để nhận thức thực tại xung quanhvà bản chất của con người; huyền thoại còn là nơi khởi đầu của mọi hệ tư tưởngvà của các loại hình văn hóa nghệ thuật khác nhau

Quan sát, nghiên cứu biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa huyền thoại thế kỉ

XX, E.M.Melentinsky đã đưa ra được những nhận định rất giàu sức thuyếtphục Trong đó ông nhấn mạnh một đặc điểm quan trọng của chủ nghĩa huyềnthoại trong tiểu thuyết thế kỉ XX “đó là mối liên hệ chặt chẽ nhất của nó, mặc

dù có vẻ phi lí, với chủ nghĩa tâm lí mới, tức là tâm lí học phổ quát của tiềmthức, đã đẩy lùi tình cách luận mang tính xã hội của tiểu thuyết thế kỉXIX”[32;405] Những kết luận khả tín đó được ông cụ thể hóa một cách sinhđộng khi bàn về trường hợp F.Kafka E.M.Melentinsky đã đánh giá tính chấtcủa sự sáng tạo huyền thoại trong tưởng tượng nghệ thuật của F Kafka là bộc

lộ tính tượng trưng, cốt truyện, sự kiện là sự kiến tạo trực tiếp và có mục đíchcái mô hình tượng trưng của thế giới, các nhân vật của ông không phải là nhữngbậc tổ tiên, các vị thần, các đấng sáng tạo, nhưng dẫu sao cốt truyện vẫn lấy từkhông gian, thời gian thế tục, mang tính lịch sử đời thường “Sự tưởng tượngsáng tạo huyền thoại của F.Kafka có tính chất tự giác và không khái niệm hóathế giới xung quanh nhờ các motif huyền thoại hóa truyền thống, nó thể hiệnchính xác hơn và thỏa mãn hơn trạng thái “hiện đại” của ý thức và trạng thái

Trang 17

của “thế giới” đương thời F.Kafka đang bao quanh, ví dụ như hiện tượng thahóa, sự cào bằng cá tính con người, sự cô đơn hiện sinh của cá nhân trong xãhội hiện đại…”[32;472]

Khi nghiên cứu về các tác phẩm của G.G Marquez, E.M.Melentinsky chorằng G.G.Marquez đã sử dụng thi pháp huyền thoại hóa của sự lặp lại và thaythế, cũng như sử dụng khá điêu luyện các bình diện thế tục khác nhau trong quátrình sáng tác “G.G.Marquez trình bày một mô hình chủ yếu về phương diệndân tộc Mô hình này một mặt nhấn mạnh những đại lượng bất biến trong đờisống của dân tộc hay nhân loại, trong tâm li, trong tình huống trị, trong những

“vai diễn” cơ bản được lặp lại; mặt khác, nhấn mạnh tính năng động lịch sử củaMĩ La tinh từ khi được Columbus phát hiện đến nay, nhấn mạnh sự tiến hóa củanhững tính cách con người”[32;504]

Do những hạn chế về nhiều mặt, nhất là ngoại ngữ, cho đến nay chúng tôichưa có điều kiện để tiếp xúc được nhiều các công trình nghiên cứu về huyềnthoại, nhưng với những gì đã biết, chúng tôi nhận thức rằng việc nghiên cứuhuyền thoại vẫn đang là một hướng đi nhiều tiềm năng, hứa hẹn nhiều điểm líthú

Sự phát triển của văn học hiện thực huyền ảo khiến cho nó không chỉ cònbó hẹp ở Mĩ La tinh, mà đã lan tỏa rộng rãi trên thế giới, Việt Nam cũng khôngnằm ngoài phạm vi ấy Từ những năm 1960 văn học huyền ảo đã được giớithiệu ở Việt Nam bằng việc cho dịch và in các tác phẩm văn chương, đặc biệtđây cũng chính là giai đoạn khởi đầu và bùng nổ của văn học huyền ảo thế giới

Năm 1967 trên tạp chí Văn học, dịch giả Đoàn Đình Ca đã giới thiệu với độc

giả bài “Sơ lược về sự hình thành và phát triển của nền văn học Mĩ La tinh”,đây là bài viết giới thiệu về những mốc chính cũng như những tác giả tiêu biểuvề thơ và văn xuôi của Mĩ La tinh, đặc biệt là những sáng tác mang tính huyền

thoại Tiếp đến năm 1968, tạp chí Văn học số 109, xuất bản tại Sài Gòn có hai

bài phỏng vấn Asturias do Gunter W.Lorens và Jean Chalon thực hiện, Lê Huy

Trang 18

Oánh dịch từ tiếng Pháp với thuật ngữ “realisme magique” được dịch là “chủnghĩa hiện thực thần kì”.

Đối với văn học miền Bắc, năm 1974, Nguyễn Đức Nam đã dịch và giới

thiệu thuật ngữ Magic Realims thành Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo đăng trên tạp chí Văn học: “Một khuynh hướng tiến bộ trong tiểu thuyết hiện thực tiến bộ ngày nay ở Mĩ La tinh; Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo”, đây cũng chính là

những bài viết mang tính chất khởi đầu của việc nghiên cứu văn học Mĩ La tinh

ở Việt Nam Tiếp nối công việc nghiên cứu trên, trong suốt những năm 1980,

1990 của thế kỉ XX, văn học hiện thực huyền ảo được nghiên cứu rầm rộ, cáctác phẩm được dịch và giới thiệu bởi các dịch giả, các nhà nghiên cứu; MạnhTứ, Đoàn Đình Ca, Nguyễn Trung Đức… Một nền văn học còn chưa ảnhhưởng nhiều thủ pháp sáng tác huyền thoại như Việt Nam, thì việc giới thiệunhững tác phẩm của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, là một việc làm mới mẻ,mang đến cho độc giả cách tiếp nhận mới, những tác phẩm tiêu biểu đã đượcgiới thiệu:

Sự tráo trở của phương pháp của Alejo Carpentier (Nguyễn Trung Đức

dịch, NXB Tác phẩm mới in 1981)

Ngài đại tá chờ thư của Gabriel Garcia Marquez (Mạnh Tứ dịch NXB Văn

học, 1983)

Thế kỉ ánh sáng của Alejo Carpentier (Đặng Thị Hạnh và Đặng Anh Đào

dịch qua bản tiếng Pháp, NXB tác phẩm mới, 1986)

Giông tố, Giáo hoàng xanh, Mắt những người đã khuất của Miguel Angel

Asturias (Ngô Vĩnh Viễn dịch, NXB Văn học 1986)

Ngôi nhà của những hồn ma của Isabel Alenda (Đoàn Đình Ca dịch, NXB

Trang 19

Mặc dù sự thống kê trên đây, chưa thật đầy đủ nhưng cũng cho thấy vănhọc huyền ảo đã trở thành mối quan tâm của độc giả Việt Nam Trong thời kìđổi mới việc nghiên cứu huyền thoại đã từng bước được tiếp tục bàn đến, thể

hiện trong một số công trình, bài viết như: Huyền thoại và sức sống của huyền thoại trong văn chương xưa và nay (TCVH, số 5/ 1997), của Nguyễn Trường Lịch; Đỗ Lai Thúy trên tạp chí Văn học nước ngoài số 2/ 2001 đã giới thiệu

một số bài phê bình huyền thoại học của J Grimm và của Jean-Yves Tardie; tạp

chí Văn học nước ngoài số 1/ 2002 có bài Hệ tư tưởng và huyền thoại: Germinal và các huyễn tưởng về sự nổi loạn của Henri Mitterand, cũng trên tạp chí Văn học nước ngoài số 2 và 3 /2007 giới thiệu Mircea Eliade, Các huyền thoại, các giấc mơ và những điều huyền bí (Mythes, rêves et mysteres, 1967), Các phương diện của huyền thoại (Aspects du Mythe, 1962), với bài Hình thái học và chức năng của các huyền thoại và Cấu trúc của các biểu tượng [6;379].

Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu về huyền thoại của các tác giả Trần

Lê Bảo, Lê Nguyên Cẩn, Phùng Văn Tửu, Lê Thanh Nga… mà do khuôn khổcủa luận văn, chúng tôi chưa có dịp bàn đến

Như vậy chúng ta cũng có thể nói rằng ở Việt Nam, vấn đề huyền thoại vàsáng tác văn học bằng huyền thoại đã được đặt ra xem xét, tiếp thu, bước đầu đãcó những thành tựu đáng kể, trong đó rất nhiều người quan tâm đến việc đưa ramột cách hiểu, một định nghĩa rõ ràng về khái niệm huyền thoại, để thấy đượcđặc điểm nổi bật của huyền thoại hóa, cùng những ý nghĩa và giá trị của nótrong văn học Trong khuôn khổ luận văn của mình, chúng tôi không nhằmphân tích nhiều về các định nghĩa, cách hiều của các nhà nghiên cứu, mà chỉdẫn ra những bài viết, những công trình nghiên cứu về huyền thoại có giá trịbao quát được nội dung vấn đề, xem đó như tiền đề lí luận, là cơ sở cho chúngtôi nghiên cứu đề tài luận văn của mình

1.1.3 Quan điểm tiếp cận vấn đề thi pháp huyền thoại trong Trăm năm cô

đơn

Trang 20

Thi pháp theo cách hiểu thông thường là hệ thống nguyên tắc, công thứcxây dựng hình tượng, tổ chức tác phẩm, lựa chọn và sử dụng - tổ chức cácphương tiện ngôn ngữ để làm nên tác phẩm văn học, nghĩa là toàn bộ hình thứcnghệ thuật được nhà văn sáng tạo nhằm thể hiện nội dung của tác phẩm Thipháp, vì vậy là tất cả những gì làm nên tính độc đáo, riêng biệt về phương diệnphẩm chất nghệ thuật của tác phẩm, tác giả, trào lưu, trường phái văn học Nhưvậy, nói đến thi pháp là nói đến quan niệm riêng của tác giả về thế giới và conngười Các quan niệm ấy ẩn sâu bên trong hình thức nghệ thuật và đóng vai tròquan trọng chi phối các nhà văn tạo nên hình thức đó Chính sự chi phối cuaquan niệm của nhà văn về con người và thế giới đã tạo nên sự nhất quán củacác yếu tố cụ thể, cảm tính của hình tượng, các yếu tố phương tiện kĩ thuật củabiểu đạt Như vậy, mọi cấp độ của nguyên tắc tổ chức một tác phẩm đều có thểlà một biểu hiện cụ thể của thi pháp, và điều quan trọng là thể hiện quan niệmcụ thể của nhà văn về con người, về cuộc sống Nghiên cứu thi pháp huyền

thoại trong Trăm năm cô đơn, dù là các nội dung xã hội được phản ánh hay các

biểu hiện của hình thức nghệ thuật, xét đến cùng đều là tìm hiểu quan niệm củanhà văn về con người, về thế giới và sự thể hiện quan niệm ấy vào văn bản nghệthuật

Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều công trình khoa học lớn nhỏ nghiên cứuvăn học từ góc nhìn thi pháp và mỗi công trình đều có những đóng góp cho việcnhận thức đối tượng nghiên cứu cụ thể mà nó hướng đến, mặt khác cũng góp

phần hoàn thiện thêm các vấn đề lí luận thi pháp và thi pháp học Đó là Thi pháp thơ Tố Hữu, Thi pháp truyện Kiều, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam của Trần Đình Sử, Thi pháp ca dao của Nguyễn Xuân Kính, Thi pháp văn học dân gian của Lê Trường Phát, Giọng điệu thơ trữ tình của Nguyễn Đăng Điệp… hay như Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du qua Truyện Kiều của

Phan Ngọc cũng có thể coi là một công trình nghiên cứu theo hướng thi pháphọc đặc sắc Khi nghiên cứu thi pháp của một tác phẩm, tác giả… các nhànghiên cứu thường chú ý đến các phương diện quan niệm nghệ thuật về con

Trang 21

người, thi pháp cốt truyện, thi pháp nhân vật, giọng điệu… Tuy nhiên, tùy vàotình hình cụ thể của từng đối tượng, việc nghiên cứu thi pháp của một tác phẩmcũng không hoàn toàn phải dựa vào một khuôn mẫu định sẵn Tùy vào nhữngđặc sắc của tác phẩm và khả năng cụ thể của việc tiếp cận đối tượng, ngườinghiên cứu có thể lựa chọn một số bình diện thi pháp để khám phá thi pháp tácphẩm Do ý thức được hạn chế về mặt ngoại ngữ của bản thân, trong luận vănnày, chúng tôi sẽ không đề cập đến một số bình diện như giọng điệu, ngôn ngữ.

Tìm hiểu thi pháp huyền thoại trong Trăm năm cô đơn, vì vậy chúng tôi

nghiêng về việc phân tích, lí giải cái nhìn của tác giả về con người, thế giới,xem xét thi pháp cốt truyện và cấp độ sự kiện, tình huống, chi tiết…

Một câu hỏi đặt ra nữa là có hay không thi pháp huyền thoại và thi pháp

huyền thoại trong Trăm năm cô đơn? Câu trả lời là có Nếu hiểu thi pháp là hệ

thống những nguyên tắc tổ chức tác phẩm nghệ thuật mang tính quan niệm, thìthi pháp huyền thoại là nguyên tác tổ chức tác phẩm ấy theo tư duy và các biểuhiện của hình thức huyền thoại Điều này là hoàn toàn có trong tiểu thuyết củaG.G.Marquez mà chúng tôi đang đặt vấn đề nghiên cứu Chúng tôi cũng khôngđặt vấn đề theo cách tìm hiểu chủ nghĩa hiện thực huyền ảo như cách gọi màtrước đây nhiều nhà nghiên cứu đã định danh cho dòng văn học kì ảo Mĩ Latinh, điều này có lí do của nó Vào thời kì mà chủ nghĩa hiện thực đang đượcxem là một trào lưu, một phương pháp tiên phong, ưu việt, nhất là đối với nhậnthức mĩ học và lí luận văn học ở các nước xã hội chủ nghĩa, thì mọi cách viếtđều có thể yên ổn nếu gắn thêm vào đấy bốn chữ “chủ nghĩa hiện thực”.Việcgọi tên chủ nghĩa hiện thực huyền ảo chính là hệ quả của nhận thức này Chođến ngày hôm nay, tình hình đã khác, chủ nghĩa hiện thực đã không còn là tràolưu sáng tác sang trọng và quan trọng nhất, mọi thứ vẫn có thể sang trọng dẫukhông liên quan gì đến chủ nghĩa hiện thực (theo nghĩa hẹp) Thêm nữa, vớinhững nhận thức mới về văn học kì ảo, người ta đã có đề xuất những khái niệm,thuật ngữ để gọi tên một cách chính xác loại hình văn học này, đó là “chủ nghĩahuyền thoại” mà Melentinsky đã nhắc đến và được không ít người sử dụng lại

Trang 22

Thậm chí, chính tác giả này đã có một công trình khá dày dặn và thuyết phục

mang tên Thi pháp của huyền thoại Chính vì thế, chúng tôi nghĩ việc đặt vấn đề nghiên cứu thi pháp huyền thoại trong Trăm năm cô đơn là việc hoàn toàn có

căn cứ Khi đặt vấn đề như vậy chúng tôi cũng đã xác định việc nghiên cứu tácphẩm này sẽ được tiến hành trong sự tiếp thu lí thuyết về huyền thoại với tưcách là một phương pháp nghiên cứu - phê bình Vì lẽ, nếu đặt vấn đề nghiêncứu chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, thì điều đó có nghĩa là việc nghiên cứu vẫnxuất phát và đứng trên lập trường của chủ nghĩa hiện thực, hay nếu nói “thủpháp huyền thoại hóa” hay “bút pháp huyền thoại” thì việc nghiên cứu chỉ dừnglại ở góc độ là những biểu hiện cụ thể của kĩ thuật viết, nó khác hoàn toàn vớicấp độ là những nguyên tắc thẩm mĩ mang tính quan niệm nhất quán, xuyênsuốt

Sáng tác bằng bút pháp huyền thoại hóa đã trở thành một hiện phổ biếntrong văn học Mĩ La tinh vào những năm 1960 của thế kỉ XX Bằng cảm quannghệ thuật và tư duy nhạy bén, G.G.Marquez, đã sử dụng bút pháp nghệ thuậtnày vào trong quá trình sáng tác rất hiệu quả, ông đã sử dụng các chi tiết để cấutrúc nên một thế giới hư ảo, khác thường, trong đó những giới hạn về thời gian,không gian bị xóa bỏ, nơi mà hiện thực và hoang đường hòa trộn vào nhau vàbút pháp ấy thực sự đã trở thành một kiểu thi pháp Được viết bằng thi pháp

huyền thoại, tiểu thuyết Trăm năm cô đơn là tác phẩm tiêu biểu thể hiện rõ yếu

tố huyền thoại như một đặc điểm nổi bật, quan trọng trong thế giới nghệ thuậtcủa G.G.Marquez Hiện thực miêu tả trong tác phẩm là những hình ảnh đượctạo nên do trí tưởng tượng của nhà văn bao gồm những yếu tố kì ảo, hoangđường bởi cấu trúc bên trong của nó… vì tác phẩm chứa đựng những yếu tố kìảo nên luôn mang trong mình những điều bí ẩn khó giải thích, làm đảo lộn cácquy luật và các trật tự thông thường Trong tác phẩm cái thực và cái ảo, cái tựnhiên và cái siêu nhiên đã hòa trộn vào nhau vì vậy những yếu tố thực tạo chotác phẩm mang giá trị và ý nghĩa xã hội thực tiễn, còn yếu tố ảo sẽ làm cho tácphẩm mang hiệu ứng tâm lý mạnh Các nhân vật các sự kiện trong tác phẩm đều

Trang 23

mang yếu tố kì ảo, khi tiếp xúc cần phải được giải mã chúng thì chúng ta mớicó thể hiểu được nó

Thế giới thẩm mĩ của văn học sáng tác bằng bút pháp hiện thực huyền ảo,chính là những yếu tố hiện thực và siêu nhiên được đan xen vào nhau, trong đónhững điều bình thường có thể được phản ánh như kiểu không có thực Trongkhi đó cốt truyện lại được xây dựng dựa trên những trải nghiệm thực thì lạiđược xen lẫn vào những điều kì lạ, hoang đường, mang tính huyền thoại Nhânvật trong các tác phẩm này cũng thường là hợp lí, hoặc có thể xuất phát từ thếgiới siêu thực kết hợp với sự hư cấu tưởng tượng của nhà văn làm cho ngườiđọc không thấy nó hiện ra ngay trước mắt, không thể phân biệt được đâu làthực, đâu là không thực Nói cách khác phản ánh nghệ thuật không chỉ nhằm táihiện “thế giới bên ngoài” mà còn biểu hiện những suy nghĩ, cảm xúc, nhữngmong muốn chủ quan của chủ thể sáng tạo về thế giới ấy Tuy nhiên, sức hấpdẫn của tác phẩm nghệ thuật không tùy thuộc vào cách nhìn và thái độ của nhàvăn đối với cuộc sống Mỗi nhà văn có một cách cảm nhận riêng về thế giới, đểthể hiện những cảm nhận ấy nhất thiết phải có hình thức lựa chọn, sự phản ánhphù hợp

Đặt vấn đề nghiên cứu thi pháp huyền thoại trong Trăm năm cô đơn là một

việc làm cần thiết, trên cơ sở đó xem xét những đóng góp của G.G.Marquez choviệc phát triển tiểu thuyết sử dụng yếu tố kì ảo hoặc được viết bằng thi pháphuyền thoại của văn học Mĩ La tinh và góp phần làm sáng tỏ những vấn đề cuachủ nghĩa huyền thoại thế kỉ XX Bằng chính bút pháp phong phú và đa dạngcủa mình, G.G.Marquez đã có những đổi mới về phương diện trần thuật, cũngnhư sử dụng nhiều điểm nhìn để phản ánh hiện thực đang diễn ra trong cuộcsống thường ngày

Huyền thoại hóa là đặc điểm quan trọng trong quá trình sáng tạo nghệthuật của G.G.Marquez Bởi vậy, yếu tố huyền thoại luôn được thể hiện trongcác tác phẩm Với cách dẫn chuyện của mình, ông đã kết hợp được cảm quancủa người nghệ sĩ với sức tưởng tượng và rung động của người đọc Cảm quan

Trang 24

của người nghệ sĩ trước đời sống thực tại dẫn tới tưởng tượng và hư cấu nhữngbiểu tượng có sức gợi cảm mãnh liệt Ngoài ra ông còn để độc giả tự liên hệ vàtưởng tượng, ông chỉ kể chuyện một cách đơn giản không miêu tả không tô vẽ.Đây chính là cách tiếp thu có sáng tạo của G.G.Marquez từ nghệ thuật kểchuyện dân gian và những yếu tố của huyền thoại cổ Ông còn kết hợp đượcthời gian và không gian thực tại với không gian tâm lý vào trong tác phẩm tạothành thời gian, không gian đa tuyến, làm cho kĩ thuật tự sự nhiều người kể, vàcấu trúc nhiều tầng nhiều lớp của tác phẩm, nên dung lượng phản ánh trong cáctác phẩm của ông là rất lớn cho dù số trang viết là không đáng kể Những đặc

điểm nghệ thuật trên đã được bộc lộ tập trung trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của G.G.Marquez.

Bằng thủ pháp nghệ thuật độc đáo đặc sắc, tiểu thuyết Trăm năm cô đơn

của G.G.Marquez đã có ảnh hưởng rất lớn đến kĩ thuật sáng tác tiểu thuyết củaMĩ La tinh trong thế kỉ XX Với những đóng góp vào việc đổi mới trong kĩthuật sáng tác văn học bằng huyền thoại, G.G.Marquez đã tiếp nối thành công

từ những người tiền bối như F.Kafka, A Camus Vấn đề huyền thoại hóa là

một đặc điểm quan trọng tạo nên thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết Trăm năm

cô đơn, biểu hiện bằng việc miêu tả những yếu tố phi logic, sự ngưng đọng về

thời gian… là sự thể hiện các chi tiết, sự kiện kì ảo đan xen cùng với những yếutố hiện thực… tất cả nhằm tạo nên những căng thẳng lo âu trong hành trìnhchạy trốn tội loạn luân của một dòng họ Buênđya và trước những điều phi lí của

cuộc đời mà họ đang gánh chịu Những gì đã thể hiện trong Trăm năm cô đơn

cho thấy sự tiếp thu, đổi mới thi pháp huyền thoại trong văn học của

G.G.Marquez rất đáng trân trọng Nên việc chúng ta quan tâm nghiên cứu là rất

cần thiết, nhằm tìm hiểu thế giới nghệ thuật, đưa ra một cái nhìn tương đối toàndiện, thấu đáo về những đặc sắc nghệ thuật có ở trong tác phẩm

1.2 Thi pháp huyền thoại trong văn học Mĩ La tinh

1.2.1 Những điều kiện thúc đẩy sự ra đời của thi pháp huyền thoại trong văn học Mĩ La tinh

Trang 25

Cùng với những rạn vỡ trong lòng chế độ châu Âu, loài người từ nhữngthập niên đầu thế kỉ XX đã chứng kiến sự phá sản của cấu truc tổng thể thế giớivới sự hình thành các thế lực chính trị đối lập Thời kì ồn ào và sôi nổi của cáccuộc cách mạng xã hội, sức tàn phá của hai cuộc đại chiến thế giới khiến conngười bàng hoàng nhận ra rằng bản chất của đời sống là chuỗi kết hợp các sựkiện, những mô hình thường biến và giữa các bộ phận của thế giới ấy là hố sâungăn cách Những cơn đại chấn ấy không chỉ cắt lìa con người khỏi niềm tin vềmột thế giới thống nhất, hữu cơ, mà còn gián tiếp tạo ra trong quan hệ conngười với nhau những lằn ranh, những khoảng trống, đẩy nó xa dần nhau trongnhững thất vọng và nghi kị Cùng với những ám ảnh về cái chết thể xác với tưcách hậu quả của các cuộc chiến tranh tàn khốc, nỗi sợ hãi về cái chết tinh thầncũng đang gặm nhấm đời sống con người khi họ lần lần bị biến thành những cỗmáy chỉ để phục vụ cho một mục đích tương ứng trong sự ràng buộc chặt chẽ.Năm 1906, Jaques Jivière đã phải thốt lên: “ghê tởm thay, cái gì cũng phảichuyên môn, chuyên trách mới làm được, người ta phải thế này chứ không đượcthế kia, người ta bị định nghĩa như định nghĩa một cái hình tam giác, ăn mặcđồng phục, mang số như một người cảnh sát, đó, chuyên môn là như vậy Conngười phai trở thành một chuyên viên trong khi họ muốn làm cái này cái khác,muốn là tất cả hay không là gì cả, trong khi họ không muốn thiên hạ chỉ đíchdanh họ là chuyên gia nọ, kĩ thuật gia kia, trong khi họ muốn là sự biến đổikhông ngừng của tạo hóa.”[40;20] Như vậy, thế kỉ XX mở đầu với một đặcđiểm mà ta không thể bỏ qua khi nghiên cứu một hiện tượng hay cả giai đoạnvăn học của nó Đó là xã hội bước vào một cuộc tha hóa lớn lao và nỗi khắckhoải lo âu, tâm lí nhìn nhận cái chết như một nhìn nhận nghiệt ngã đối với conngười đã trở thành một thứ tâm trạng phổ quát Những đại biểu trí thức bắt đầubước vào cuộc chiến chống lại sự hủy hoại con người với việc đặt ra và giảiquyết những nghi ngờ về thế giới hiện tồn và nguyên nhân dẫn đến tình trạngthế giới ấy, thêm nữa là mở ra khả năng mới cho sự tồn tại của con người Năm

1903, cấu trúc không gian lâu nay vẫn đảm bảo cho sự sống bị xé toang bởi

Trang 26

chuyến du hành đầu tiên bằng máy bay do Willbur Orvielle thực hiện và bởidòng âm thanh truyền đi hơn một dặm trong kĩ thuật truyền thanh vô tuyến củaAfessender; sự phổ biến kĩ thuật ghi âm trên đĩa nhựa cho phép người ta lưu giữnhững khoảnh khắc nhất định làm phá sản quan niệm về tính liên tục, bất khảhồi cố của thời gian.

Bên cạnh những thành tựu trong kĩ thuật, khoa học tự nhiên cũng gâynhững chấn động bởi một loạt các phát minh vĩ đại Sau khi M.Planck công bốlí thuyết về lượng tử, năm 1905, Einstien công bố học thuyết tương đối; năm

1913, N.Bohr giới thiệu lí thuyết cấu trúc nguyên tử… Với những phát minhnày, thế giới và con người, từ bây giờ sẽ được biết đến như những thực thểmang tính tương đối, ngẫu nhiên, bất định, mở rộng và phân chia đến vô cùng.Cái mới trong nhận thức của triết học thế kỉ XX trong hành trình tìm kiếm conngười được đánh dấu bởi E.Husserl khi ông công bố cuốn Những nghiên cứulogic (Logical Investigations), một tác phẩm hiện tượng luận quan trọng, mởđầu cho một đường lối tư duy sẽ được phát triển sâu sắc hơn bởi M.Heideggervà Sartre sau này Với quan niệm “ý nghĩa tồn tại, thế giới khách quan đều hìnhthành trên cơ sở của thế giới ý thức mang tính ý thức của thê giới tựngã”[40;21], Husserl dịch chuyển con người về vị trí trung tâm thế giới, khẳngđịnh vai trò của nó trong sự chi phối tồn tại (quan niệm này sẽ mở đường chosự xuất hiện một thủ pháp nghệ thuật quan trong trong thế kỉ XIX) Cũng trong

năm 1990, Freud cho ra đời cuốn Diễn dịch về những giấc mộng (The

Interpretation of Dreams), phát hiện về một thực thể khó biết, nó ngấm ngầmchi phối những gì thuộc về cuộc sống con người; một hình thức biểu lộ sứcmạnh vượt khỏi khuôn khổ kinh nghiệm, của sự tích lũy trí óc đã được đúc kếttrong sâu thẩm của đời sống cá nhân

Như vậy cùng với sự sụp đổ niềm tin vào hạnh phúc mà các cuộc cáchmạng tư sản hứa hẹn sẽ mang lại, sự sụp đổ niềm tin vào khoa học, con ngườiđồng thời cũng đứng trước sự sụp đổ những ảo tưởng về sức mạnh của trí năng.Con người hiện đại không còn nhìn nhận trí năng như chiếc chìa khóa vạn pháp

Trang 27

để mở cánh cửa thế giới ý muốn đoạn tuyệt với phương pháp duy lí đã xuấthiện và đó đây người ta coi hình thức tư duy này như một công cụ lố bịch, bấtlực và trái khoáy Đây là bản tổng kết đau khổ và mỉa mai được thực hiện bởiChesterton: “Không thể dùng tam đoạn luận để rút tỉa lấy linh hồn sự vật cũngnhư không dùng câu liệm để kéo con quỷ Levithan trong thánh kinh”.[40;15]Đành rằng quan niệm của Chesterton đang còn có chỗ phải bàn lại, nhưng nếuloại trừ những phần cực đoan bị quy định bởi hoàn cảnh, vì những bức xúc nhấtthời, ta sẽ thấy những hạt nhân hợp lí trong đó.

Khi niềm tin vào khoa học, niềm tin vào túi khôn sụp đổ; khi đời sống thếtục không mang đến một sự yên ổn, dù là tối thiểu, khi những tiềm năng sâu xacủa con người được đánh thức, nó sẽ tìm đến những thực tại khác: một niềmxác tín tâm linh, ý thức hướng đến huyền thoại và tôn giáo… Những năm 1900trở về sau là thời kì trở lại của những tín ngưỡng đã từng bị trục xuất khỏi đờisống con người trước sức tấn công của khoa học thế kỉ XIX Hình ảnh củanhững cuộc đi tìm một niềm an ủi, cắt nghĩa cuộc sống trong một thực tại ngoàitrần thế không chỉ diễn ra trong đời sống, trong sinh hoạt xã hội mà còn phảnánh một cách khá rõ nét trong sáng tác và nghiên cứu…

Cùng với những nỗ lực tìm kiếm một đời sống mới của khoa học kĩ thuật,nghệ thuật cũng dồn dập biểu hiện những quan niệm mới về cuộc sống và về sựphản ánh của bản thân nghệ thuật Năm 1903 mở đầu cho quãng hai năm người

ta liên tục công diễn vở kịch Dưới đáy (Na Dne) của M.Gorki tại Berlin, thủ đô

nước Đức, báo hiệu sự ra đời của dòng kịch phi lí xuất hiện về sau Năm 1905,H.Matisse và nhóm Fauvism tuyên bố khinh bỉ màu sắc hiện thực [40;74].E.Sporter khai sinh nền nghệ thuật điện ảnh với việc trình chiếu cuốn phim

Cuộc cướp xe lửa vĩ đại tại một rạp hát gần Peterburg, cùng lúc đó

P.Céannebcùng trường phái dã thú bộc lộ khát vọng nghệ thuật hội họa khỏinhững quy ước hàn lâm truyền thống bằng “phòng tranh mùa thu” Chỉ vài nămsau khát vọng của Céanne được thực hiện triệt để bởi P.Picasso và G.Braquekhi hai danh họa này dựng lên ttrường phái lập thể, đoạn tuyệt với truyền thống

Trang 28

được lập nên từ thế kỉ trước bởi Giotto, mà ảnh hưởng của nó do nghệ thuật củahai ông tự tạo ra, không chỉ đơn thuần trong phạm vi hội họa nói riêng, nghệthuật nói chung, mà mênh mông hơn trong đời sống xã hội.

Về âm nhạc, năm 1902, J.Morton trình diễn đàn piano bản nhạc đầu tiêntheo làn điệu tiết tấu mới, và từ đó sẽ xuất hiện dòng nhạc jazz trùm lên thế kỉ

XX, được xác địng là hình thành do những hoạt động của lớp trẻ da đen, bảnchất của nó là kết tinh của truyền thống âm nhạc Tây phi, văn hóa phương Tâyvà tín ngưỡng cơ Đốc[40;74] Theo Đặng Anh Đào dòng nhạc này có môi liênhệ đáng kể với tiểu thuyết hiện đại.[40;74] Cũng vào thời điểm xuất hiện pháilập thể trong hội họa, ở địa hạt văn học, bộ Tân thi(New Gedcht) gồm hai tậpcủa R.M.Rilke ra đời, thể hiện bước đột phá của nghệ thuật thơ Một thời gian

sau đó, Kafka đánh dấu sự xuất hiện của mình ở thể văn xuôi với Chiêm ngưỡng, Lời tuyên án, Người tài xế (1913) Nói là Kafka đánh dấu sự xuất hiện

của mình, bởi ngay trong tác phẩm đầu tay đó, ông đã mang đến luồng sinh khí

mới cho nghệ thuật văn xuôi, mà sau này, cùng với Lâu Đài, Vụ án, Nước Mĩ…

luồng sinh khí ấy còn đủ sức lan tỏa trong nghệ thuật suốt thế kỉ, và có sự chiphối nhất định đến sáng tác của G.G.Marquez

Trở lên, chúng tôi đã cố gắng đưa ra một cái nhìn khá tổng quan về nhữngđiều kiện xã hội - thẩm mĩ là nguồn gốc sâu xa của việc tìm đến một cách thểhiện mới của văn học Mĩ La tinh Tuy nhiên, chừng đấy là chưa đủ Bên cạnhnhững nguyên nhân ấy, chúng ta còn có thể cắt nghĩa sự xuất hiện của dòng vănhọc kì ảo Mĩ La tinh bằng chính bản thân điều kiện xã hội - thẩm mĩ của khuvực ấy

Mĩ La tinh là khu vực đa sắc tộc, đa văn hóa, nơi đây có sự tồn tại đan xenchung sống của nhiều dân tộc, thuộc nhiều màu da khác nhau, Mĩ La tinh cũngchính là khu vực đã chịu ảnh hưởng trực tiếp sự thống trị của chủ nghĩa thựcdân cũ và chủ nghĩa thực dân kiểu mới Cho nên trong thế kỉ XX, ở Mĩ La tinhthường xuyên nổ ra nhiều cuộc cách mạng giải phóng nô lệ, cách mạng giảiphóng dân tộc nhằm lật đổ chế độ độc tài và tiến lên cách mạng xã hội chủ

Trang 29

nghĩa Mặc dầu chủ nghĩa hiện thực đã có sự phát triển trên cả hai mặt lí luận vàsáng tác nhưng nó vẫn không thể bao quát, chứa đựng hiện thực mới, trong khiđó điều kiện xã hội lại cho phép nhà văn phản ánh thực tiễn số phận của conngười, sự bừng tỉnh của ý thức Khát vọng giải phóng con người khỏi mọi ácháp bức, nơi con người có thể làm chủ thế giới, làm chủ mình, đây chính là thựctế để các nhà văn tạo nên một phương thức biểu hiện mới

Cũng như các khuynh hướng văn học hiện đại khác, chủ nghĩa huyền thoạihiện đại ra đời, một phần là phản ánh sự bất an của con người trước thời đại,những đặc thù về xã hội và đời sống tâm linh Mĩ La tinh là khu vực chậm pháttriển đặc biệt là sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia, các vùng trongmột quốc gia Hiện thực xã hội này là chất liệu để các nhà văn khai thác và sửdụng đưa vào trong tác phẩm của mình Trên nền nghệ thuật hiện đại các nhàvăn đã nỗ lực khai phá một hướng đi mới cho văn chương, họ không còn chia

sẻ sự giả vờ tự tin của văn xuôi hư cấu hiện thực truyền thống về việc tìm hiểuvà miêu tả thế giới Bằng nhiều cách thức khác nhau, những sáng tác của tiểuthuyết hiện đại đã tạo nên những bước đột phá mới, tác phẩm văn học khôngchỉ là một thế giới mạch lạc và nền nếp của văn xuôi hư cấu hiện thực, tái hiệntrong văn học Đến đây chúng ta có thể thấy rằng chủ nghĩa huyền thoại chínhlà sản phẩm đặc trưng của khu vực Mĩ La tinh, ra đời do nhu cầu nội tại, dựatrên hoàn cảnh lịch sử văn hóa của chính khu vực này Như một sự nối tiếp tưduy huyền thoại, G.G.Marquez đã đưa vào tác phẩm của mình những hiện thựcđời sống xã hội còn ở trình độ trực quan, tiền logic những hiện tượng thần giaocách cảm đang diễn ra trong đời sống tâm linh của Mĩ La tinh Những hiện thực

cổ hủ lạc hậu, mang tính chất kì ảo, được miêu tả bằng phương pháp phúng dụ,bằng những giọng điệu hài hước khác nhau trong các tác phẩm văn học củamình Những hiện thực đang diễn ra trong đời sống, là những chất liệu quantrọng, nổi bật trong tác phẩm của các nhà văn Mĩ La tinh, như J Amado,G.G.Marquez… những người luôn sử dụng các nguyên tắc và hình thức nghệthuật huyền thoại trong sáng tác Những yếu tố siêu nhiên, huyền ảo, hoang

Trang 30

đường, sự pha trộn giữa hiện thực và mơ mộng… được đưa vào tác phẩm, tácphẩm thường là miêu tả những sự kiện, chi tiết vận động, phát triển trong mốiquan hệ biện chứng với hoàn cảnh, làm cho hiện thực trở nên hấp dẫn Văn họcviết theo thi pháp huyền thoại, bằng kiểu viết mới lạ, bằng những hình ảnh ẩndụ, đã gợi mở trí tưởng tượng và cách tiếp cận mới cho độc giả Đây chính làquan điểm, phương pháp sáng tác có tầm quan trọng của văn học hiện đại, là sựđịnh hướng tìm tòi trong sáng tạo nghệ thuật, giữ vai trò quan trọng, có tầm ảnhhưởng đến quá trình sáng tác, tiếp nhận văn học của nhân loại trong thế kỉ XX.

1.2.2 Những đặc điểm chủ yếu của thi pháp huyền thoại trong văn học Mĩ

La tinh

Huyền thoại với tư cách là một thủ pháp nghệ thuật, được ra đời trong điềukiện xã hội đã có sự biến đổi khác nhau về nhiều mặt; chiến tranh, sự phát triểncủa khoa học, chế độ toàn trị… sự biến đổi ấy đã chi phối đời sống tâm lí xãhội, tạo nên những điều kiện phát triển cho văn học nghệ thuật Chủ nghĩahuyền thoại ra đời không nhằm đối lập với chủ nghĩa hiện thực trong văn học,mà nó đã tạo nên một phương thức phản ánh mới về con người, tự nhiên và xãhội Đó là sự phản ánh đời sống trong sự vận động, trong những mối liên hệphức tạp và cả tính cụ thể

Vào những năm 50, 60, của thế kỉ trước, thi pháp huyền thoại trong vănhọc đã có những bước phát triển mới, ảnh hưởng đến nền văn học Mĩ La tinh,và một số nền văn học Á, Phi Có thể nói rằng đây là một giai đoạn phát triểnđặc biệt của chủ nghĩa huyền thoại, bởi những ảnh hưởng của nó đối với nềnvăn học thế giới Với văn học Mĩ La tinh, huyền thoại chính là một mạch ngầmsống động của ý thức dân tộc đã được hình thành và phát triển, tạo nên một bảnsắc văn hóa riêng biệt Với văn học Mĩ La tinh chủ nghĩa huyền thoại mở lối rangoài các khuôn khổ thuần túy của xã hội, những bình diện lịch sử xã hội tiếptục sống và ở một số phương diện đặc biệt có tính chất bổ trợ cho cuộc sống xãhội của châu lục này

Trang 31

Nhưng cũng phải nói rằng, sự ảnh hưởng nói trên cũng cần có sự bổ sungvà phải dựa trên cơ sở nội tại bản địa của khu vực Mĩ La tinh, nơi luôn xảy racác cuộc bạo loạn, nội chiến do các thế lực chính trị gây nên Khác với tiểuthuyết hiện thực thế kỉ XIX, văn học được viết bằng thi pháp huyền thoại đãtiếp thu, sáng tạo nhiều yếu tố mới trong kết cấu câu chuyện, sử dụng nhiềunhững yếu tố siêu nhiên kì ảo Trong mỗi tác phẩm thường có sự gắn liền vớimột số yếu tố thần thoại, bởi nó đem lại sự hấp dẫn và tính độc đáo riêng biệtcho mỗi tác phẩm văn học Sự độc đáo trong văn hóa - lịch sử tạo ra khả năngcùng tồn tại và thâm nhập lẫn nhau, đôi khi đạt tới sự tổng hợp hữu cơ cácthành tố của chủ nghĩa lịch sử và chủ nghĩa huyền thoại, chủ nghĩa hiện thực xãhội và tính folklore đích thực Axturiax đã từng nói về tính chất riêng biệt trongvăn học Mĩ La tinh: “khi chúng ta nói đến các thần thoại, tức là chúng ta nóiđến một hiện tượng có sức sống thực thụ… nhưng chúng ta không cho phépngười ta suy nghĩ về đại lục chúng ta không chỉ thông qua những thần thoại củanó” [7;86]

Trong văn học khu vực Mĩ La tinh, luôn có chứa đựng các tư tưởng địnhmệnh, những yếu tố sinh lí, và bản năng của con người, con người được miêu tảtrong tình trạng cô đơn, bất lực, con người thường bị rơi vào những mê cung

của cuộc sống Điển hình cho lối viết trên chính là tiểu thuyết Trăm năm cô đơn

của G.G.Marquez, tiểu thuyết đã cho thấy sự độc đáo trong việc tái hiện cuộcsống, văn hóa, lịch sử của khu vực và của chính đất nước Columbia.G.G.Marquez đã dựa vào văn hóa bản địa của Mĩ La tinh và sự hư cấu mangtính chất huyền thoại để tạo nên các bình diện khác nhau trong một tác phẩm

1.2.3 Một số thành tựu của thi pháp huyền thoại trong văn học Mĩ la tinh

Sự phát triển của chủ nghĩa huyền thoại trong văn học Mĩ latin gắn liền vớiđặc điểm văn hóa, lịch sử của khu vực những năm 50, 60 của thế kỉ XX Với tưcách là một thủ pháp nghệ thuật, và cao hơn là một kiểu thi pháp hiện đại chủnghĩa hiện thực huyền ảo đã tạo nên những thành tựu đáng kể và tạo nên mộtchỗ đứng vững chắc trong lòng người hâm mộ, bởi trong những tác phẩm của

Trang 32

mình họ đã tạo ra một hệ thống thẩm mĩ có tính chất phê phán xã hội, họ đã đưacác sự kiện, các nhân vật hoang đường vào trong tắc phẩm, đó là sự phá vỡnhững logic thông thường tạo nên một logic mới không dựa vào lí tính Trong

lời tựa cuốn tiểu thuyết Vương quốc trần gian, A.Cacpentier đã cho rằng thực

tại kì ảo không của riêng Haiti, mà thuộc về toàn thể châu Mĩ nói chung, ở đóngười ta vẫn tiếp tực tạo ra những truyền thuyết của riêng mình về nguồn gốc

vũ trụ… sự chân thực của điều kì ảo có mặt từng bước một trong cuộc sống củachúng ta, một lục địa còn lâu mới khô cạn hết những kho tàng thần thoại củanó Vả chăng lịch sử châu Mĩ là gì nếu không phải là lịch sử của một thực tại kìảo

Trong hiện thực mang tính thời đại, các nhà văn châu Mĩ đã cố gắng xâydựng, khai thác một khuynh hướng hiện thực phù hợp với lục địa của mình.Văn học Mĩ La tinh là một nền văn học non trẻ, nên việc tiếp thu kinh nghiệmcủa những nền văn học đi trước, nhằm tạo cho mình hướng đi thích hợp với yêucầu phát triển là một điều hiển nhiên Khác với chủ nghĩa siêu thực châu Âu, đivào những tìm kiếm hệ tư tưởng thuần túy, lẩn tránh thực tại, thì chủ nghĩahuyền thoại Mĩ La tinh lại chính là công cụ kiếm tìm phát hiện thực tại Trongđó là những đặc điểm phức tạp về văn hóa, lịch sử, địa lí… đặt ra nhiệm vụ chocác nhà văn phải tìm tòi một phương pháp nghệ thuật thích hợp nhằm biểu thịthực tại đó với tất cả những đặc trưng của nó

Chủ nghĩa huyền thoại Mĩ La tinh với một quá trính hình thành và pháttriển, bên cạnh những cây bút mở đường như; A.Cacpenter, M.A.Axturiax,G.Amdo… ngày nay còn xuất hiện một loạt các nhà văn trẻ như CaclôxPhuentex, Huan Runphô, Huliô Coctaxac, Mariô Vacgax Liôxa, Auguxtô RôaBaxtô, Mariô Bênêđetti, Hôse Maria Acguêđax,… chính họ đã khẳng định đượcvai trò của tiểu thuyết Mĩ La tinh trong nền văn học nhân loại thế kỉ XX Nhiềunhà nghiên cứu, phê bình văn học cho rằng “Văn xuôi Mĩ La tinh với nhữngphát hiện thẩm mĩ độc đáo và mạnh khỏe của nó đang đổi mới toàn bộ tiểuthuyết hiện đại”[33] Điều này chứng tỏ văn học Mĩ La tinh đã có sự tham gia

Trang 33

vào vận mệnh chung của thế giới, khai phá ra một hướng đi mới đặc trưng củadân tộc mình trong quan hệ với bạn bè Nhà văn Cuba, Cacpenchiê viết: “Mộtlúc nào đấy chủ nghĩa địa phương là không tránh khỏi, giờ đây vấn đề là phảirút ra từ những truyền thống của riêng mình những giá trị toàn nhân loại”[49;156], đây chính là ý thức làm cho tiểu thuyết Mĩ La tinh được nâng lên vềtầm vóc Cùng với những nỗ lực tìm kiếm một phương thức phản ánh mới, mộthệ thống thẩm mĩ mới được xác lập có tính chất phê phán xã hội và khai thácnhững yếu tố thần thoại đang tồn tại trong tư duy của người dân địa phương,biểu hiện cái thực tại phức tạp theo nhận thức của chính mình Từ đây một loạtcác tác phẩm khác được ra đời trong đó Axturiax viết tiểu thuyết bộ ba về cây

chuối gồm Cơn bão (1950), Giáo hoàng xanh (1954), Mắt những người bị chôn

(1960), đây là bộ tiểu thuyết đồ sộ miêu tả cuộc xung đột giữa nông dân da đỏGoatêmala với công ty độc quyền Bắc Mĩ Cuộc cách mạng đang diễn ra ở

Goatêmala năm 1944, được tác giả tái hiện lại trong tác phẩm Mắt những người

bị chôn Trong các tác phẩm được viết sau này như Tôrôtôumbô, Xôluna, Ba trong bốn mặt trời, đều là những sáng tác nhằm minh chứng cho nguyên lí sáng tạo văn học huyền ảo của A Axturiax Trong cuốn tiểu thuyết Những dấu vết

đã mất của Cacpenchiê, tác phẩm như một sự khảo sát “thực tại kì ảo” của Mĩ

La tinh dưới góc độ trí tuệ và nghệ thuật, ông miêu tả sự đối lập sự khủnghoảng của nền văn minh tư sản châu Âu với sức sống của tân lục địa châu Mĩ.Qua đó nói lên thái độ hai mặt của cá nhà văn châu Mĩ với thực tại kì ảo, họ đãxác nhận sự tồn tại của thực tại kì ảo trên đất nước họ, thực tại đó gắn liền vớithế giới thần thoại, cảm thấy được sức mạnh, nhưng đồng thời lại không muốnvà không thể hòa lẫn vào trong đó Đồng nhất với quan điểm trên, nhà vănMiguen Angen Axturiax cũng đã từng phát biểu “khi chúng ta nói đến các thầnthoại, tức là chúng ta nói đến một hiện tượng có sức sống thực sự… Nhưngchúng ta không cho phép người ta suy nghĩ về đại lục chúng ta không chỉ thôngqua những thần thoại của nó” [7;98] Như vậy chúng ta thấy Cacpenchiê làngười đóng vai trò to lớn trong đổi mới tiểu thuyết, mở rộng sự khám phá “chủ

Trang 34

nghĩa hiện thực huyền ảo” của Mĩ La tinh Dẫn theo sự xuất hiện hàng loạt các

tác phẩm của các nhà văn Mĩ La tinh như Pêđrô Paramô (1955) của nhà văn Mêhicô Huan Runphô, Những dòng sông sâu (1958), của nhà văn Pêru Hôsê Maria Acguêđax, Đứa con của loài người (1959), của nhà văn Paragoay Auguxtô Rôa Baxtô, Trăm năm cô đơn (1967), của nhà văn Côlômbia, Gabriel Garcia Marquez Nhưng nổi bật hơn hết lại chính là cuốn tiểu thuyết Trăm năm

cô đơn - cuốn sách góp phần quan trọng khiến tên tuổi của G.G.Marquez trở

nên quen thuộc với độc giả trên thế giới Trong tác phẩm của mình ông đưa raquan niệm về thân phận con người, tình trạng cô đơn, bất lực, cùng với cách thểhiện thời gian ước lệ, khiến cho người đọc liên tưởng đến những trường pháivăn học hiện đại phương Tây Nhưng việc sử dụng kinh nghiệm của văn học thếgiới không phải lúc nào cũng thành công Tư tưởng siêu hình, bi quan hoài nghinghệ thuật đã để lại dấu ấn khá rõ nét trong một số tác phẩm của một số nhàvăn như Caclôx Phuentex, Huan Runphô (nhà văn Mêhicô), Huliô Coctaxac(nhà văn Achentina), Mariô Liôxa (nhà văn Pêru)… Nhà văn Achentina;Ernextô Xabatô cho rằng sức mạnh của văn học châu Mĩ La tinh nằm trong sựbiểu hiện thực tại của chính nó, chứ không phải trong sự chạy đua theo ngườikhác, “văn học châu Mĩ La tinh có một sức mạnh tiềm tàng to lớn, đứng trướcyêu cầu nhất thiết phải biểu hiện một thực tại khác biệt rõ rệt khác với thực tạichâu Âu Nhưng tôi cũng nghĩ rằng giờ đây nó đã đạt đến một trình độ trưởngthành về tinh thần và nghệ thuật mà trước đây vài chục năm vẫn chưa có Chínhđiều này giải thích vì sao văn học châu Mĩ La tinh có uy tín và ảnh hưởng nhưvậy ở châu Âu”[49;368]

Thi pháp huyền thoại đã tạo nên những nét đặc trưng mới trong nghệ thuậtMĩ La tinh, đó chính là sự hòa trộn giữa hiện thực và hư ảo nhằm phản ánh hiệnthực xã hội và sự khủng hoảng về hệ ý thức của cá nhân trong xã hội Với tínhchất cơ bản như trên, trong các tác phẩm được viết bằng bút pháp huyền thoại,nhân vật thường được xây dựng, miêu tả bằng motif con người cô đơn, lưu đày,những số phận bi thảm, luẩn quẩn trong những vòng đời không lối thoát, họ

Trang 35

sống dường như không có tương lai, mà chỉ còn biết sống trong hiện tại vớinhững khát vọng thấp hèn Bằng thủ pháp nghệ thuật đặc sắc, văn học huyền ảohướng con người tới những mối quan hệ phức tạp, đa dạng, đặc biệt là tập trungbiểu hiện tâm trạng cô đơn lạc loài, những cảm giác lo âu mệt mỏi, sự thù địchcủa con người với hoàn cảnh, sự bất lực cũng như như tính chất bí ẩn xa lạ củathế giới… Với những đặc điểm đã có ở trên, thi pháp huyền thoại trong văn họcMĩ La tinh đã góp phần quan trọng, ngoài việc khái quát hiện thực, là khẳngđịnh khát vọng tìm tòi đổi mới về nội dung và hình thức nghệ thuật của tiểuthuyết hiện đại.

1.3 G G Marquez, một cây bút cự phách của văn học Mĩ la tinh viết bằng thi pháp huyền thoại

1.3.1 Tiểu sử

Gabriel Garcia Marquez sinh ngày 6 - 3 - 1928, tại làng Aracataca thuộctỉnh Magơđalêna, Côlômbia Lúc nhỏ sống với ông bà nội tại làng quê Năm

1947, ông vào học Luật ở Trường Đại học Bôgata và viết những truyện ngắn

đầu tay, sau này in thành tập Đôi mắt chó xanh (1955), năm 1958 ông chuyển

sang trường Đại học Cartahêna và bắt đầu viết báo Năm 1950 ông đến thành

phố Barăngkida, cộng tác với tờ Thế giới và tờ Người truyền tin, chuyên viết cho mục Hươu cao cổ Năm 1954 ông lại chuyển đến thành phố Bôgata, làm biên tập cho tờ Quang cảnh, chuyên viết phóng sự và phê bình phim Năm

1955, ông giành giải thưởng văn học với truyện ngắn Một trong những ngày này Cũng trong thời gian này tiểu thuyết Bão lá và phóng sự Chuyện của kẻ chìm tàu được xuất bản Ông đi du lịch châu Âu với tư cách là phóng viên của tờ Quang cảnh, đây là tờ báo sau này bị tên độc tài Gustavo Rojas đóng cửa.

G.G Marquez đã từng phải lưu vong ở Paris và ở các nước Đông Âu Rồi cùngnăm này, ông trở lại châu Mĩ, cư trú tại Caracat, thủ đô Vênêxuêla Năm 1958,

ông trở về quê hương cưới Mercêđêt Barcha, cho in truyện vừa Ngài đại tá chờ thư trong tập Huyền thoại.

Trang 36

Năm 1967, G.G.Marquez xuất bản tiểu thuyết Trăm năm cô đơn, tác phẩm

thành công nhất của ông, cuốn tiểu thuyết này được trao giải thưởngChianchianô tại Italia, được Pháp công nhận là cuốn sách nước ngoài hay nhấttrong năm và được giới phê bình Mĩ thừa nhận là một trong mười hai cuốn sáchhay nhất trong những năm 1960 của thế kỉ XX Hai năm sau ông cho in truyện

vừa Chuyện buồn không thể tin được của Errênhđira ngây thơ và người bà bất lương cùng một số truyện ngắn khác Cùng năm này ông nhận giải thưởng văn

học Rômugô Gadêgô của Vênêxuêla Năm 1971, ông nhận bằng tiến sĩ văn họcdanh dự của trường Đại học Côlômlô (Mĩ) và giải Neustad dành cho ngườinước ngoài Năm 1973, ông cho in tập tự truyện về những ngày sống ở thủ đô

Caracat với nhan đề Khi tôi hạnh phúc và là người không có chúng chỉ Năm

1975, ông cho in tiểu thuyết Mùa thu của Ngài trưởng lão, một trong những

cuốn sách hay nhất về chế độ độc tài ở Nam Mĩ, được dư luận quốc tế đánh giárất cao Năm 1981, ông được chính phủ Pháp tặng huân chương Bắc đẩu bộitinh Năm 1982 ông được Viện hàn lâm Thụy Điển trao tặng giải thưởng NobelVăn học

Có thể thấy một điểm gặp gỡ rất quan trọng trong cuộc đời, số phận củaMarquez với một số văn nghệ sĩ khác như Kafka, Camus, Apolinaire, Picasso…Điều lí thú đặc biệt là, đây lại là những đại diện hết sức tiêu biểu cho khát vọngvà thành tựu đi tìm những điều mới mẻ cho văn học nghệ thuật Phải chăngcuộc đời trôi nổi với những kiếp lưu đày, lưu vong đã hun đúc ở các tác giả nàynhững năng lực đặc biệt về nghệ thuật, những khát vọng nhận thức, khám phácon người ở chiều sâu không cùng của thân phận, của nỗi cô đơn lạc loài, củasự phi lí trong một kiểu cảm nhận thế giới nhạy cảm đến bệnh hoạn? Tất cảnhững dấu ấn cuộc đời của các tác giả này, kể cả Marquez sẽ hằn lên trong từng

trang viết của họ Với Marquez, điều đó thể hiện thật rõ trong Trăm năm cô đơn.

1.3.2 Những thành tựu cơ bản

Trang 37

Sự nghiệp văn học của G.G.Marquez, đa dạng và đồ sộ Từ những năm

1947, ông đã viết những truyện ngắn đầu tay của mình và đã gây được sự chú ý

của dư luận, những truyện ngắn đó sau này được ông tập hợp lại trong tập Đôi mắt chó xanh (1955) Từ đó bên cạnh thể loại truyện ngắn, ông đã cho ra đời và xuất bản hàng loạt các tiểu thuyết có giá trị như: Lá rụng (1955), Giờ xấu (1962), Trăm năm cô đơn (1967), sau những năm 1970 ông lại cho ra đời một loạt các tiểu thuyết: Mùa thu của ngài trưởng lão, Tình yêu thời thổ tả, Vị tướng trong mê cung, (có người dịch; Tướng quân giữa mê hồn trận), Về tình yêu và những quái vật khác, Kí sự về một cái chết đã được báo trước.

Ở thể loại truyện ngắn, ông có các tác phẩm như: Bão lá, Ngài đại tá chờ thư, Đám tang của bà mẹ vĩ đại, Truyện buồn không thể tin được của Êrênhđira và người bà bất lương, Mười hai truyện phiêu dạt, Cụ già có đôi cánh khổng lồ, Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi…

Về thể loại kí sự - phóng sự có các tác phẩm tiêu biểu như: Chuyện của kẻ chìm tàu, Chilê - cuộc đảo chính và bàn tay bọn Mĩ, Tin tức về một vụ bắt cóc, Sống để kể lại,… Toàn bộ sáng tác của G.G.Marquez, đều xoay quanh chủ đề

cái cô đơn, con người của thời đại tư bản chủ nghĩa, là tình trạng cổ hủ, lạc hậu,mục ruỗng của xã hội người bóc lột người Ông nói “trên thực tế, mỗi nhà vănchỉ viết một cuốn sách Cuốn sách mà tôi đang viết nói về cái cô đơn” Trongcác tác phẩm của ông cái cô đơn được biểu hiện như là mặt trái của sự đoàn kết,như là sự tách mình khỏi cộng đồng xã hội, hay nói khác đi đây chính là nhữngbiểu hiện khác nhau của chủ nghĩa cá nhân ích kỉ, của con người trong xã hộihiện đại, với những đóng góp to lớn cho nền văn học thế giới nói chung và Mĩ

La tinh nói riêng nên; Viện hàn lâm Thụy Điển nhận xét “…Trong những tácphẩm của ông, sự huyền ảo và hiện thực được kết hợp tạo thành một thế giớitưởng tượng vô cùng phong phú, phản ánh cuộc sống và những xung đột tạiTân lục địa…”[29] Sự đóng góp to lớn G.G.Marquez cho văn học nghệ thuậtbằng việc chiếm lĩnh và phản ảnh đời sống con người trong xã hội hiện đạithông qua phương thức huyền thoại hóa, sự đan xen giữa yếu tố hiện thực và kì

Trang 38

ảo, những hình ảnh chi tiết mang tính biểu tượng cao, nhằm tô đậm hiện thựchiện tồn và tình thế cô đơn của con người, tạo nên một giá trị thẩm mĩ mới chovăn học Mĩ La tinh nói riêng và nhân loại nói chung.

Thế kỉ XX, với những biến động lớn lao, đã tác động chi phối đời sống xãhội và đời sống tinh thần của con người, bên cạnh sự biến đổi ấy chính là những

cơ hội để văn học thể hiện những khám phá, cảm nhận mới mẻ về thế giới vàthân phận con người thời hiện đại Bằng những tác phẩm văn học,G.G.Marquez đã tạo nên sự đổi mới trong nghệ thuật biểu hiện, ông đã có nhiềucảm nhận sâu sắc về sự tha hóa, nỗi lo âu, sự lưu đày và cái chết của con ngườithời hiện đại, về việc thế giới ngày càng trở nên vô hình và bí ẩn… Bằng thủpháp nghệ thuật huyền thoại hóa, phi logic hóa, sự hòa trộn giữa hiện thực và kìảo đã tạo nên những hiệu quả thẩm mĩ mới mẻ, tạo nên tính chất riêng biệttrong thế giới nghệ thuật, đồng thời mở ra khả năng mới cho văn học trong việcchiếm lĩnh phản ánh hiện thực của đời sống Sự độc đáo và sáng tạo của G.G

Marquez được thể hiện trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn, tác phẩm tiêu biểu

của thi pháp huyền thoại trong văn học, tác phẩm đã làm cho tên tuổi củaG.G.Marquez trở nên quen thuộc với độc giả yêu văn học trên thế giới Tiểu

thuyết Trăm năm cô đơn, đã được nhà văn Alejo Cacpentier đánh giá “cuốn

sách xuất sắc nhất trong văn học Mĩ La tinh thời hiện đại”[15;256] Nhà nghiêncứu E.M.Melentinsky đã cho rằng; “G.G.Marquez đã dựa rất nhiều vào folkloreMĩ La tinh nhưng xử lí nó khá tự do, khi ông bổ sung cho nó các motif thánhkin và cổ đại, các tình tiết rút ra từ huyền thoại lịch sử, những sự kiện lịch sử cóthực trong lịch sử đất nước Columbia hay của các nước Mĩ La tinh khác, ông tựcho mình toàn quyền làm biến dạng theo lối nghịch dị trào tiếu, các nguồn tưliệu và hư cấu của tác giả – một hư cấu đôi khi mang tính chất huyền thoại hóathoải mái đời sống và lịch sử dân tộc”[32;503] Như vậy, tính chất huyền thoạitrong sáng tác của G.G.Marquez ít nhiều đều trực tiếp gắn với truyền thống văn

hóa, phản ánh hiện thực của Columbia “với cuốn tiểu thuyết Trăm năm cô đơn

Trang 39

(1967) dường như là sự tổng hợp khác nhau của chủ nghĩa huyền thoại”[32;504].

Với những cảm nhận sâu sắc của mình về số phận con người trong xã hộihiện đại, về hiện thực lịch sử của đất nước Columbia nói riêng và Mĩ La tinhtrong thế kỉ XX, G.G.Marquez đã có sự đóng góp vào sự phát triển của văn họchiện thực huyền ảo Đọc những sáng tác văn học của chủ nghĩa hiện thực huyềnảo Mĩ La tinh, chúng ta có thể bắt gặp những dấu ấn quen thuộc củaG.G.Marquez ở trong đó Với những đóng góp to lớn cho việc đổi mới nghệthuật, góp phần đưa chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong văn học phát triển lênmột tầm cao, cùng với sự nghiệp đấu tranh vì hạnh phúc của con người, năm

1982 ông đã được Viện hàn lâm Thụy Điển trao tặng giải thưởng Nobel Văn học

1.3.3 Tiểu thuyết Trăm năm cô đơn

Trăm năm cô đơn - Cuốn tiểu thuyết lớn nhất của Gabriel Garcia Marquez,

ra đời năm 1967, nhận được giải thưởng Nobel văn học năm 1982 Tác phẩm đãgây xôn xao dư luận Mĩ La tinh và ngay lập tức được cả thế giới hâm mộ Theosố liệu của tác giả đến năm 1970, tác phẩm đã được in bằng tiếng Tây Ban Nhahơn nửa triệu bản, chưa kể in ở Cu Ba hơn mười vạn bản, và 17 hợp đồng xinphép tác giả được dịch tác phẩm này ra các thứ tiếng khác Sau gần hơn 40

năm, tiểu thuyết Trăm năm cô đơn đã có mặt khắp nơi trên thế giới, và làm mê

hoặc những độc giả yêu thích văn học

Tiểu thuyết Trăm năm cô đơn, là câu chuyện về dòng họ Buênđya tồn tại

bảy thế hệ, người đầu tiên bị trói vào gốc cây và người cuối cùng đang bị kiến

ăn, một dòng họ chạy vào nỗi cô đơn để chạy trốn tội loạn luân Tội loạn luânkhởi sự từ tên cướp biển Phrănxit Đrăc tấn công Riôacha, khiến các cụ tổ củaUcsula Igoaran phải chuyển đến lập nghiệp ở một làng hẻo lánh Tại đây các cụ

tổ của Hôsê Accađiô Buênđya đã lập nghiệp bằng nghề trồng thuốc lá Qua bathế hệ hai dòng họ đã có quan hệ thâm giao, cháu chắt họ lấy nhau dẫn tới thảmhọa đẻ ra một người đàn ông có đuôi lợn Chính cái gương tày liếp này đã khiếncha mẹ Hôsê Accađiô Buênđya và Ucsula Igoaran tìm mọi cách ngăn cản

Trang 40

nhưng họ vẫn cứ lấy nhau Khi đã thành vợ chồng rồi và dẫu Hôsê Accađiôtuyên bố “dù có đẻ ra kì đà thì chúng mình sẽ nuôi kì đà”[27;46] UcsulaIgoaran vẫn sợ đẻ ra đứa con có đuôi lợn, nên mỗi khi đi ngủ cô vẫn mặc chiếcquần trinh tiết do mẹ cô may cho, nó có một hệ thống dây chằng chéo và khóasắt to sụ Sự việc kéo dài hơn một năm khiến dân làng ngạc nhiên và đồn anhchồng là kẻ bất lực Một hôm, bị thua Hôsê Accađiô Buênđya trong cuộc chọigà, Pruđenxiô Anghila không kìm được lòng đã lỡm bạn; “tao mừng cho màyvà để xem cái con gà ấy có làm ơn cho vợ mày không nào”[27;45], vì lời nói lỡmấy mà anh ta phải trả giá cả tính mạng của mình.

Nhưng không vì thế người chiến thắng được sống thanh thản, trái lại lúcnào cũng bị lương tâm dằn vặt, đến mức phải bỏ làng để tìm đến một vùng đấtkhông được hứa trước để lập làng Macônđô, tự lưu đày trong cõi cô đơn Trongcõi cô đơn ấy Hôsê Accađiô, Aurêlianô, Rêmêđiô và Amaranta đã ra đời với sốphận bi đát dường như đã định trước, lay lắt trong cô đơn và hoài nhớ, thấpthỏm lo phạm tội loạn luân Nhưng lo cũng chẳng được, lúc còn đang sinh nở,sau mỗi lần đẻ Ucsula Igoaran đều cặn kẽ xem con mình có mang bộ phận nàocủa con vật không Về già, cụ luôn nhắc nhở đám con cháu hãy mở to mắt đểnhận ra họ hàng, đừng chung đụng xác thịt mà sinh con có đuôi lợn nhưng cụkhông thể sống được mãi để khuyên giải Amaranta Ucsula và AurêlianôBabilônia Vì không biết rõ gốc gác, không nắm được quan hệ ruột thịt, yêunhau mãnh liệt và đã ăn nằm với nhau, lấy nhau với hi vọng tình yêu của họ sẽcải tạo nòi giống mình Nhưng họ đã đẻ ra đứa con quái thai có đuôi lợn, và convật huyền thoại này đã kết liễu dòng họ Buênđya tồn tại bảy thế hệ Trong thếgiới cô đơn hoài nhớ ấy, những người trong dòng họ Buênđya đã phạm tội loạnluân cho dù họ cố ý trốn chạy tội loạn luân Như vậy chúng ta thấy rằng trong

tiểu thuyết Trăm năm cô đơn, loạn luân là một đề tài đã mở và đóng lại một

thiên truyện

Toàn bộ những sự kiện trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn diễn ra tại một

ngôi làng không có thực là Macônđô Ngôi làng được Jôsê Accađiô Buênđya

Ngày đăng: 18/12/2013, 21:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristote (1999), Nghệ thuật thơ ca, (Lê Đăng Bảng, Thành Thế Thái Bình, Đỗ Xuân Hà, Thành Thế Yên Báy dịch – Đoàn Tử Huyến hiệu đính), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Aristote
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
2. Phan Tuấn Anh (2010), “Hình tượng Macondo trong Trăm năm cô đơn từ góc nhìn văn hóa Mĩ La tinh”, Tạp chí Sông Hương, (259) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng Macondo trong "Trăm năm côđơn "từ góc nhìn văn hóa Mĩ La tinh”, Tạp chí "Sông Hương
Tác giả: Phan Tuấn Anh
Năm: 2010
3. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc giaHà Nội
Năm: 1999
4. Bakhtin. M (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, (Phạm Vĩnh Cư dịch và giới thiệu), Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin. M
Năm: 1992
5. Bakhtin. M (1998), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepki, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepki
Tác giả: Bakhtin. M
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
6. Barthes. R (1997), Độ không của lối viết, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độ không của lối viết
Tác giả: Barthes. R
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1997
7. Barthes. R (2008), Những huyền thoại, (Phùng Văn Tửu dịch, Cao Việt Dũng giới thiệu và biên soạn), Nxb Tri thức, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những huyền thoại
Tác giả: Barthes. R
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2008
8. Lê Huy Bắc (2009), Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Gabriel Garcia Marquez, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Gabriel GarciaMarquez
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
9. Lê Nguyên Cẩn (1998), Cái kì ảo trong tác phẩm Balzac, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái kì ảo trong tác phẩm Balzac
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 1998
10. Nguyễn Văn Dân (1998), Văn học so sánh, Nxb Khoa ho ̣c Xã hô ̣i, HàNô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa ho ̣c Xã hô ̣i
Năm: 1998
11. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học, lí luận và ứng dụng , Nxb Giáo du ̣c, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học, lí luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Giáo du ̣c
Năm: 1999
12. Nguyễn Văn Dân (2000), Những bước tiến hóa của văn học phi lí , Văn học nước ngoài (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bước tiến hóa của văn học phi lí,Văn học nước ngoài
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2000
13. Nguyễn Văn Dân (2000), “Văn học phi lý, một ghi nhận cho lịch sử văn học nhân loại”, Tạp chí Văn học (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học phi lý, một ghi nhận cho lịch sửvăn học nhân loại"”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2000
14. Nguyễn Văn Dân (2000), “ Huyễn tưởng văn học và truyê ̣n kinh di ̣ ”, Văn nghê ̣ Quân đội (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyễn tưởng văn học và truyê ̣n kinh di ̣"”,"Văn nghê ̣ Quân đội
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2000
15. Nguyễn Văn Dân (2003),Văn học phi lý, Nxb Văn hóa thông tin – Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học phi lý
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin –Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2003
16. Đỗ Đức Dục (1981), Chủ nghĩa hiện thực trong văn học phương Tây, Nxb, KHXH,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện thực trong văn học phương Tây
Tác giả: Đỗ Đức Dục
Năm: 1981
17. Đỗ Đức Dục (1966), Hônôrê đơ Balzac, bậc thầy của chủ nghĩa hịên thực, Nxb, Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hônôrê đơ Balzac, bậc thầy của chủ nghĩa hịênthực
Tác giả: Đỗ Đức Dục
Năm: 1966
18. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học , Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: NxbKhoa học Xã hội
Năm: 1998
19. Trương Đăng Dung (2004), Những đă ̣c điểm của hê ̣ thống lí luâ ̣n M acxit thế kỉ XX, Ta ̣p chí Sông Hương, (167) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sông Hương
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 2004
20. Trương Đăng Dung (2004), “Những giới ha ̣n của phê bình văn ho ̣c”Ta ̣p chí Văn học, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giới ha ̣n của phê bình văn ho ̣c”Ta ̣p chí "Văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w