Còn “Thi nhân Việt Nam” Hoài thanh –Hoài Chân với một nhà văn hiện đại” Hoài thanh –Hoài Chân với một của Vũ Ngọc Phan tuy cha phải là một công trình nghiên cứu hoàn hảo nh nhiềunhà nghi
Trang 1Lời cảm ơn
Để hoàn thành khoá luận này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận đớc sự động viên và tạo điều kiện của gia đình, bạn
bè và ngời thân, của các thầy cô trong khoa ngữ văn - đại học Vinh,
đặc biệt là sự chỉ bảo, hớng dẫn tận tình của thầy giáo Lê Văn Tùng Qua đây em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo hớng dẫn, cảm ơn quý thầy cô và các bạn !
Vinh, tháng 5/2007
Sinh viên: Vũ Thị Hờng
A Phần mở đầu………
I Mục đích nghiên cứu……… 1
II Lịch sử vấn đề……… 3
III Giới hạn đề tài……… 4
IV Phơng pháp nghiên cứu:……… 4
V Nhiệm vụ đề tài và những đóng góp lớn có thể đạt đợc……… 4
B Phần nội dung Chơng 1 Nghiên cứu lý luận phê bình văn học và phê bình văn học từ năm 1900 – 1945……… 6
Trang 21.1 Mấy vấn đề chung về nghiên cứu lý luận phê bình văn học……… 6
11.1 Các vấn đề cơ bản và sánh giới giữa chúng……… 6
1.1.1.1 Nghiên cứu văn học……… 7
1.1.1.2 Lich sử văn học……… 8
1.1.1.3 lý luận văn học……… 9
1.1.1.4 Phê bình văn học……… 9
1.1.1.5 Ranh giới giữa các khái niệm: ……… 10
1.1.2 Lý luận phê bình truyền thống trong văn học trung đại………… 12
1.2 Nhìn chung về lý luận phê bình văn học từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945……… 14
Chơng 2: Thi nhân Việt Nam (Hoài thanh “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một –Hoài Chân) với một số hiện tợng thơ mới ……… 17
2.1 Phơng pháp và phong cách phê bình của Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ……… 17
2.1.1 “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Lấy hồn ta để hiểu lòng ngời” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ……… 18
2.1.2 Bình thơ là đi tìm cái đẹp trong thơ……… …… 19
2.1.3 Giọng điệu và lời văn phê bình duyên dáng và đầy chất thơ…… 21
2.2 “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một với 8 hiện tợng thơ mới ……… 22
Chơng 3: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Nhà văn hiện đại” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ( Vũ Ngọc Phan) Với mấy hiện tợng thơ mới đã gặp trong “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân việt nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ……… 40
3.1 Phơng pháp, phong cách phê bình của Vũ Ngọc Phan trong “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một nhà văn hiện đại” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ……… 41
3.1.1.Quan điểm phê bình……… 42
3.1.2 Thái độ phê bình……… 45
3.1.3 Bút pháp phê bình……… 7
3.2 “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Nhà văn hiện đại” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một với 8 hiện tợng thơ mới đã gặp trong “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ……… 49
Chơng 4 Một số nét tơng đồng và khác biệt giữa thi nhân“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một và “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một nhà văn hiện đại” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một qua mấy hiện tợng thơ mới. 63 4.1 Sự tơng đồng……… 63
4.2 Sự khác biệt……… 64
C kết luận……… 71
Trang 3Tài liệu tham khảo……… … 72
A Phần mở đầu
I Mục đích nghiên cứu.
1 Trong lịch sử văn học Việt Nam, không phải mãi đến đầu thế kỷ XX mớixuất hiện của ngời làm lý luận phê bình văn học Thực ra trong văn học trung đại
đã từng có lý luận phê bình văn học nhng nó mang những đặc thù riêng: Nó chaphải là phê bình chuyên nghiệp, và cũng cha có các nhà phê bình chuyên nghiệp
mà một lối phê bình mang tính ngẫu hứng, đó là một kiểu phê bình tri âm tri kỉ
Lý luận phê bình văn học đợc xem nh một ngành chuyên nghiệp thì phải
đầu thế kỷ XX mới hình thành Sự phát triển của ngành lý luận phê bình thànhmột ngành mang tính chuyên nghiệp là một tiêu chí để xác nhận nền văn học củadân tộc đó đã là một nền văn học hiện đại Sở dĩ nói phê bình văn học từ thế kỷ
XX mang tính chuyên nghiệp bởi vì nó đã có một hệ thống lý thuyết riêng, cókhái niệm phơng pháp nghiên cứu riêng, có đối tợng xác định và đặc biệt là cónhà phê bình chuyên nghiệp … Những yêu cầu này trong văn học trung đại cha
có Lý luận phê bình văn học là bộ phận không thể thiếu đợc trong cấu trúc tổngthể của nền văn học hiện đại, bởi nó có vai trò quan trọng đối với đời sống vănhọc, cụ thể là trên cả hai phơng diện là đối với ngời sáng tác và đối với ngời đọc;
nó là động lực, là đòn bẩy, là định hớng lành mạnh cho sự phát triển cả nền vănhọc
Việc tìm hiểu lý luận phê bình văn học từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 là
để hoàn chỉnh bộ mặt một nền văn học hiện đại trong thời kỳ đầu tiên của nó, để
đánh giá đúng và công bằng công lao của một thế hệ các nhà lý luận phê bình Họ
là những ngời tiên phong, thế hệ tiền thân của một ngành lý luận phê bình chuyênnghiệp, mặc dù họ không đợc đào tạo một cách hệ thống, phần lớn là tự học.Thành tựu của lý luận phê bình trong gần một nửa thế kỷ đó là một bài học lớn
Trang 4lao cho giới phê bình hiện nay, đó là bài học về chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt làbài học về nhân cách ngời làm phê bình…
Thành tựu về lý luận phê bình từ đầu thế kỷ đến năm 1945 là cả một kho tài liệu liệu lớn Và cho đến nay, ngời ta đã su tầm và tuyển chọn đợc khoảng
3000 trang (trong 5 tập) Những thành tựu này có ý nghĩa khai phá buổi đầu chomột ngành lý luận phê bình còn non trẻ Trong đó nổi bật nhất là hai cuốn “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Nhàvăn hiện đại” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một của Vũ Ngọc Phan và “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một (Hoài Thanh - HoàiChân) Cả hai công trình nghiên cứu này điều đợc ra đời vào đầu những năm 40của thế kỷ XX
Có thể nói, “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một của Hoài Thanh – Hoài Chân là sự khámphá và đánh giá đầu tiên có hệ thống đối với thơ mới Với một sự cảm thụ khá sâusắc và với cái nhìn tinh tế, các tác giả đã chọn đợc một chùm hoa giàu hơng sắctrong vờn hoa thơ mới để gửi tặng những ngời yêu thơ Còn “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một nhà văn hiện đại” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một của Vũ Ngọc Phan tuy cha phải là một công trình nghiên cứu hoàn hảo nh nhiềunhà nghiên cứu sau này đã chỉ ra nhng với việc nghiên cứu 79 nhà văn, thì đâyvẫn là tác phẩn có giá trị, là công trình bao quát nhất của giai đoạn văn học từcuối thế kỉ thứ XIX cho đến những năm 40 của thế kỉ XX – một giai đoạn có vịtrí quan trọng trong lịch sử phát triển văn họcViệt Nam Nh vậy so với “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một nhà vănhiện đại” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , số lợng các tác giả đợc nghiên cứu trong “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một khôngnhiều ( “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một : 45 nhà thơ, “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Nhà văn hiện đại” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một : 79 nhà văn ) nh -
ng một điều dễ nhận thấy là cả hai tác phẩm trên đều gặp nhau trên một số đối t ợng nghiên cứu, đó là 8 nhà thơ của phong trào thơ mới nh: Thế Lữ, Xuân Diệu,Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Lu Trọng L, Nguyễn Giang và Vũ Hoàng Chơng, Quách
-Tấn Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam ( Hoài Thanh – Hoài Chân) và Nhà văn hiện đại (Vũ Ngọc Phan) qua mấy hiện tợng thơ mới” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một sẽ góp
phần làm rõ những giá trị độc đáo của những xu hớng phê bình văn học khácnhau xuất hiện trớc năm 1945 Hiễn nhiên, sự gặp gỡ nhất là sự khác biệt độc đáocủa hai tác phẩm phê bình này không nhất thiết phải tìm nơi 8 nhà thơ cùng đợchai tác giả quan tâm Nhng rõ ràng muốn phân biệt một cách dễ dàng và chínhxác thì việc đi vào các bài phê bình 8 nhà thơ kia là cần thiết hơn, thuyết phụchơn,
xác đáng hơn cả
2 Mặt khác hiện nay có nhiều tác giả và tác phẩm thơ mới đợc giảng dạy trongchơng trình phổ thông, đặc biệt là những tác giả đợc đa vào giảng dạy đó lại đều
có mặt trong hai cuốn phê bình trên Việc nghiên cứu đề tài này rất có ý nghĩa
đối với ngời giáo viên khi dạy về thơ mới, đặc biệt là những tác giả Thế Lữ, Lu
Trang 5Trong L, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử… Hơn thế, chúng ta sẽ có cái nhìn chính xác
và toàn diện hơn về thơ mới nói chung bên cạnh những tác phẩm trong chơngtrình
Một điều đáng lu ý rằng: Trong chơng trình sách giáo khoa mới hiện nay,
có đa vào nhiều bài phê bình văn học Vì thế hai tác phẩm “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một
và “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Nhà văn hiện đại” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một có thể coi là những tác phẩm mẫu mực, để rồi căn cứ vào
đó mà rút ra kinh nghiệm quý báu
3 Việc nghiên cứu đề tài này có một ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống vănnghệ đơng đại Nh chúng ta đã biết, phê bình văn học là một chuyên nghành hếtsức phức tạp bởi trong đó có nhiều tranh luận Các nhà nghiên cứu, phê bình vănhọc phần đa là dựa trên t tởng chủ quan của mình để đánh giá về một hiện tợngvăn học nào đó, vì thế sẽ có rất nhiều ý kiến đánh giá trái ngợc nhau… Chẳng hạnkhi thơ mới xuất hiện, ở thời kỳ trớc cách mạng tháng 8, có nhiều đánh giá về thơmới rất phức tạp: Có những ý kiến đa ra ủng hộ thơ mới nhng cũng có những ýkiến phản đối thơ mới đặc biệt là từ phía các nhà văn hiện thực; các nhà văn, cácnhà lí luận cách mạng tìm hiểu về các nhà phê bình trung đại có thể rút ra các bàihọc bỗ ích về phơng pháp, phong cách, thái độ và nhân cách nhà phê bình
văn H1995; “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Sự nghiệp phê bình văn học của Hoài Thanh” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , NXB GD 2003…Ng
-ời ta có phân biệt phơng pháp, phong cách phê bình của các tác giả trong hai tácphẩm trên những bình diện chung Nhng chắc chắn rằng, việc kết hợp nghiên cứuhai tác phẩm này qua một số hiện tợng thơ mới thì cha ai đề cập đến Vì vậy tôi
có thể khẳng định rằng đây là một đề tài mới mẻ, từ trớc đến nay cha ai nghiêncứu
III Giới hạn đề tài.
- Với đối tợng nghiên cứu là phê bình văn học, chủ yếu nêu phân tích để thấy
đợc sự tơng đồng và khác biệt trong phơng pháp nghiên cứu, phong cách phê bìnhcủa Hoài Thanh với “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một và Vũ Ngọc Phan với “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Nhà văn hiện đại
” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một
Trang 6- Với đối tợng là tác phẩm: Đề tài này tập trung chủ yếu vào 8 nhà thơ mới
đ-ợc cả hai nhà phê bình nghiên cứu Ngoài ra còn kết hợp với việc mở rộng ra nhữngtác giả thơ mới khác mà không phải là đối tợng chung của hai cuốn phê bình trên
nh Vũ Đình Liên, Huy Thông, Nguyễn Văn Cừ, Anh Thơ…trong “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việtnam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một và Tú Mỡ, Nam Hơng trong “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Nhà văn hiên đại” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , để qua đó, nêu bật đợcphong cách của hai nhà phê bình
IV Phơng pháp nghiên cứu:
- Với đề tài này, mục đích chính là nghiên cứu phê bình văn học chứ không
phải nghiên cứu bản thân sáng tác văn học Tuy vậy để tiến hành đợc đề tài này,song song với việc nắm đợc các nhận định, đánh giá của các tác giả Hoài Thanh,
Vũ Ngọc Phan về tác giả tác phẩm văn học thì cần có sự am hiểu sâu sắc chínhngay những tác phẩm văn học đó, đặc biệt là 8 nhà thơ mới đợc cả hai cuốn sáchtrên nghiên cứu
- Phơng pháp nghiên cứu cơ bản đối với đề tài này là phân tích, so sánh đốichiếu, ngoài ra còn sử dụng cả phơng pháp thống kê,loại biết
V Nhiện vụ đề tài và những đóng góp lớn có thể đạt đợc.
- Trình bày một số vấn đề thuộc về cơ sở lý thuyết của phê bình văn học
- Trình bày những vấn đề mà “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một của Hoài Thanh và
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Nhà văn hiện đại ” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một của Vũ Ngọc Phan đã phê bình các nhà thơ mới, đặc biệt là 8nhà thơ mới có mặt trong tác phẩm
Tổng hợp lại và trên cơ sở đó đối chiếu, so sánh hai cuốn sách đó để thấy đ
-ợc sự tơng đồng, đặc biệt là sự khác biệt trong phong cách và phơng pháp phê bìnhcủa hai tác giả
Trang 7B Phần nội dung.
Chơng 1 Nghiên cứu lý luận phê bình văn học và phê
bình văn học từ 1900 - 1945 1.1 Mấy vấn đề chung về nghiên cứu lý luận phê bình văn học.
1.1.1 Các vấn đề cơ bản và ranh giới giữa chúng.
Khi nói đến bất kỳ một nền văn học nào, ngời ta không chỉ nói đến nhàvăn và tác phẩm mà cần nói đến cả ngời đọc, ngời tiếp nhận những sáng tác vănhọc Đó là hai bộ phận của một nền văn học: Bộ phận sáng tác gồm các nhà văn
và tác phẩm, bộ phận nghiên cứu và tiếp nhận tác phẩm và ngời đọc Đặc biệtkhái niện đọc văn học bây giờ đợc hiểu khác trớc: Trớc kia đọc là hành vi đầutiên của ngời tiếp nhận khi tiếp xúc với văn bản ngôn từ của tác phẩm Nhngkhái niệm đọc văn bây giờ, văn hoá đọc bây giờ có nghĩa là tiếp nhận tác phẩm,nghiên cứu, đi vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm Quá trình hoàn chỉnh củamột nền văn học là từ tác giả đến tác phẩm và đến ngời đọc Cũng nh khái niệm
đọc hiện nay, khái niệm ngời đọc cũng mang tính bao quát, trong đó có cả ngờinghiên cứu phê bình và ngời đọc bình thờng Trong khái niệm đọc, ngời ta phânlàm hai loại: Ngời đọc bình thờng và ngời đọc đặc biệt (bao gồm các nhà nghiêncứu, phê bình, ngời dạy và ngời học văn học) Tuy nhiên loại ngời đọc đặc biệtphải là ngời đọc bình thờng hay nói chính xác hơn là có t cách của ngời đọc bìnhthờng trớc khi là ngời đọc đặc biệt
Nghiên cứu tiếp nhận văn học là công việc của ngời đọc, công việc nàyxuất hiện cùng lúc với quá trình sáng tác trong lịch sử văn học nhân loại, nghĩa là
Trang 8từ khi có văn học là bắt đầu có lý luận về sáng tác và tiếp nhận văn học Nếu chorằng văn học cổ đại HiLạp - LaMã là nền văn học đầu tiên của nhân loại, thì ngay
từ thời đó cũng đồng thời xuất hiện một nền lý luận phê bình văn học bên cạnhsáng tác mà ngời tiêu biểu nhất là Aristôt với tác phẩm “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Nghệ thuật thi ca” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Nghĩa
là từ thời cổ đại đã có nghiên cứu văn học Khoa nghiên cứu văn học bao gồm bangành theo quan điểm truyền thống, đó là lịch sử văn học, lý luận văn học và phêbình văn học Một quan điểm mới hiện nay bổ sung thêm một ngành là phơngpháp luận nghiên cứu văn học; nhng phần lớn ngời ta đi theo con đờng truyềnthống Nh vậy có 4 khái niệm cầm làm rõ:
1.1.1.1 Nghiên cứu văn học.
Nghiên cứu văn học hay còn gọi là khoa văn học, đúng hơn là khoa học về văn chơng Nghiên cứu văn học có nhiệm vụ bao trùm là nghiên cứu mọi phơng
diện của văn học: Từ bản chất, nguồn gốc, chức năng của văn học, quy luật tồn tại
và phát triển của một nền văn học, các thuộc tính của văn học, các loại hình vănhọc đến các hiện tợng văn học cụ thể… Nó đòi hỏi ngời nghiên cứu phải có hiểubiết, trí trức sâu rộng của nhân loại liên quan đến văn học nghệ thuật nh: Triếthọc,văn hoá học, tâm lý học, đạo đức học, tôn giáo học…
Nghiên cứu văn học là ngành đã xuất hiện từ thời cổ đại cả phơng Đông vàphơng Tây ở phơng Đông, Khổng Tử là trí thức đầu tiên có những ý kiến về vănchơng từ khoảng thế kỷ thứ V TCN Sau đó ở Trung Quốc xuất hiện một nhà lýluận văn học ở thế kỷ thứ VII đời nhà Lơng là Lu Hiệp với tác phẩm “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Văn tâm
điều long” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Ngay từ thời đó, ngời ta đã bàn đến 3 chức năng của văn học, ngời ta
đã xem xét đặc điểm các loại và trình bày những cách phân loại chúng Bớc quathời trung đại kéo dài, với những quan điểm mang tính quy phạm về văn học; từthế kỷ thứ XIX trở đi, trên phạm vi toàn thế giới , nghiên cứu văn học mới bắt đầuhình thành nh một khoa học thực sự, với ý thức đầy đủ về đối tợng, phơng phápcùng với việc xây dựng một hệ thống lý thuyết và khái niệm Cũng từ đây (từ thế
kỷ XIX) đã xuất hiện nhiều trờng phái nghiên cứu văn học khác nhau nh: Trờngphái nghiên cứu theo phơng pháp tiểu sử, trờng phái văn hoá lịch sử, trờng pháitâm lý học (nghiên cứu tâm lý sáng tác và tâm lý tiếp nhận), trờng phái văn học sosánh…
Từ đầu thế kỷ XX trở đi, nghiên cứu văn học ngày càng xuất hiện nhiều ờng phái hơn, do sự phát triển của khoa học và của lịch sử, chẳng hạn tr ờng pháihình thức Nga, trờng phái phân tâm dựa trên triết học phân tâm của Frớt, chủnghĩa cấu trúc, trờng phái xã hội học, trờng phái phê bình mới…
Trang 9tr-Bàn về khái niệm nghiên cứu văn học, có nhiều ý kiến Trên thế giới vẫn
có những ngời cho rằng: Không thể hiểu đợc tác phẩm văn học nếu không tựmình sáng tạo ra nó Cũng có ngời phủ nhận nghiên cứu văn học, không coi đó làmột dạng trí thức độc lập và họ đề xuất khái niệm: Tri thức nghiên cứu văn họcchỉ là tri thức bậc 2, tri thức bậc 2 đợc hình thành từ sự “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Sáng tạo bậc 2” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ; còn trithức bậc 1 do nhà văn sáng tạo ra trong tác phẩm và theo họ đó mới là tri thức cơbản của văn học Và từ đó, tri thức của nghiên cứu văn học, theo họ chỉ là miêu tảlại, tởng tợng lại sự sáng tạo của nhà văn, chứ thực sự chẳng có một sáng tạo nàocả
1.1.1.2 Lich sử văn học.
Lịch sử văn học là một nghành trong nghiên cứu văn học,là một khoa học
có nhiệm vụ nghiên cứu các quá trình văn học đang diễn ra trong quá khứ nh thếnào; nghiên cứu quy luật sinh thành, phát triển của các hiện tợng văn học diễn ratrong những điều kiện lịch sử nhất định, đó là những hiện tợng nh một tác giả,một tác phẩm, một giai đoạn hay một trào lu văn học Trong lich sử, văn học cũngthờng diễn ra những cuộc đấu tranh giữa các xu hớng, trào lu, các trờng phái vănhọc Nh vậy lịch sử văn học còn làm nhiệm vụ làm rõ cuộc đấu tranh này, hoặc
đánh giá đợc những thành tựu, hạn chế và nhợc điểm của từng thời kỳ văn họcdiễn ra trong quá khứ, thông qua đó dựng lên những mốc lớn của lịch sử văn học,bao gồm những sự kiện đã kết thúc một cách ổn định hoặc tơng đối ổn định
Ngời ta có thể viết lịch sử văn học thế giới, hoặc có thể nghiên cứu lịch sửvăn học từng khu vực của thế giới (nh văn học Mĩ Latinh, văn học phơng Tây, vănhọc Đông Nam á), ngời ta có thể nghiên cứu lịnh sử văn học dân tộc Việcnghiên cứu lịch sử văn học dân tộc là đối tợng chủ yếu của lịch sử văn học nóichung, trong đó có thể chia ra: Lich sử một thời kỳ văn học, một giai đoạn vănhọc (VD: văn học Lý Trần từ thế kỷ X - thế kỷ XIII ), lịch sử một trào l u vănhọc(VD: chủ nghĩa hiện thực phê phán ở Việt Nam), lịch sử một thể loại văn học
của một dân tộc (VD: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Truyện Kiều và thể loại truyện nôm” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ) “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một lịch sử tiểu thuyết
Trung Quốc” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một …), hoặc có thể kết hợp nghiên cứu lịch sử văn học một thời kỳ vớilịch sử một thể loại (VD: Các công trình nghiên cứu về thơ đờng hoặc Phan Cự
Đệ với công trình “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một )’
1.1.1.3 Lý luận văn hoc.
Lý luận văn học cũng là một ngành của nghiên cứu văn học, nghiên cứubản chất, nguồn gốc, chức năng xã hội thẩm mĩ của văn học Nó đồng thời nghiêncứu các quy luật phát triển của sáng tác văn học, những quy luật thuộc về đặc tr-
ng, thuộc tính của văn học Nói tóm lại, lý luận văn học nghiên cứu văn học về
Trang 10phơng diện lý thuyết và ngơi ta chia hệ thống ly thuyết dó của văn học thành 3nhóm:
- Lý thuyết về các đặc trng phản ánh hiện thực của văn học,gồm tính hìnhtợng của văn học, tính nghệ thuật, tính nội dung, tính dân tộc và tính giai cấp củavăn học Mặt khác còn có lý thuyết về lý tởng thẩm mĩ, thị hiếu và cảm xúcthẩm mĩ của ngời đọc, nó nghiên cứu quan hệ giữa thế giới quan và phơng phápsáng tác của nhà văn Từ đó cấp cho ngời nghiên cứu các nguyên tắc đánh giásáng tác văn học
- Th hai là nhóm lý thuyết về cấu trúc tác phẩm văn học: Nó nghiên cứucác khái niệm, các phạm trù nh nội dung, hình thức, mối quan hệ giữa nội dung
và hình thức trong tác phẩm, đề tài, chủ đề, cảm hứng, t tởng, nhân vật, cốttruyện…
- Thứ 3 là nhóm lý thuyết về các quá trình văn học: Nó nghiên cứu quátrình xuất hiện, tồn tại và phát triển của các kiểu phong cách, của các phơng phápnghệ thuật, các trào lu, các dòng các khuynh hớng văn học và cả lịnh sử thể loại
đầu thế kỷ XXI, khái niệm thơ mới đã thay đổi nội dung của nó và ngời ta chorằng đang có một thời đại mới của thi ca sẽ ra đời nh một hớng vận động của vănhọc đơng đại mà nội dung mới của thi ca là sáng tác tự do, thơ không vần, giữnhịp…
Vì vậy phê bình văn học hớng tới khám phá các nhân tố nghệ thuật mới
mẻ, có khả năng mở một quá trình mới trong văn học Đồng thời phê bình vănhọc cũng có nhiệm vụ chỉ ra các nhợc điểm, giới hạn của sáng tác So với nhucầu thẩm mĩ của thời đại và sự phát triển của bản thân nền văn hoá, phê bình vănhọc vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Mặc dù phê bình văn học xuấthiện từ thời cổ đại nhng phải đến thế kỷ XX mới có bớc ngoặt thật sự nhờ cáckhoa học liên quan đến nó, đặc biệt là sự ra đời của thi pháp học hiện đại Thipháp học hiện đại đã cung cấp cho phê bình văn học một phơng pháp khoa học
Trang 11mới mẻ, hiện đại, có khả năng đem lại tối đa hiệu quả của việc phê bình một cáchchính xác đối với các hiện tợng văn học.
1.1.1.5 Ranh giới giữa các khái niệm: lịch sử văn học,lý luận văn học và phê
bình văn học
Ba khái niệm lịch sử văn học, lý luận văn học và phê bình văn học là chỉ bangành trong khoa nghiên cứu văn học nhng mỗi ngành ấy lại hớng tới những đốitợng khác nhau, đồng thời giữa chúng lại có mối liên hệ gắn bó chặt chẽ vớinhau:
Nh đã biết, đối tợng của lịch sử văn học chủ yếu là phơng diện sinh thànhcủa văn học, nói về sự tồn tại, sự phát triển của các quá trình văn học Còn đối t -ợng chủ yếu của lý luận văn học lại là phơng diện cấu trúc, tức là lý thuyết củanhững tập hợp yếu tố và các mối liên hệ tổ chức bên trong, tạo nên những chỉnhthể của nền văn học Tuy vậy phơng diện cấu trúc (của lý luận văn học) và phơngdiện sinh thành (của lịch sử văn học) lại không tách rời nhau Nếu nghiên cứulịch sử văn học chỉ quan tâm đến quá trình phát sinh, tồn tại và phát triển của mộthiện tợng văn học mà không chú ý đến phơng diện cấu trúc của nó thì nghiên cứulịnh sử văn học chỉ còn là phép cộng ghi lại một cách máy móc những sự kiện vănhọc đã xảy ra mà thôi… Ngợc lại, lý luận văn học trong khi nghiên cứu phơngdiện cấu trúc tức là mối liên hệ và tổ chức bên trong của các chỉnh thể văn học màkhông đặt nó vào lịch sử văn học tức là không quan tâm đến phơng diện sinhthành ra nó thì lý luận văn học chỉ còn là những cấu trúc tĩnh tại, siêu hình vàthiếu sức sống, thoát ly khỏi thực tiễn đời sống văn học… Nh vậy, nghiên cứulịnh sử văn học sẽ không có kết quả nếu không có ánh sáng lý thuyết từ nhữngkiến thức về nguyên lý văn học, lý thuyết về những tác phẩm hay về phơng phápsáng tác để soi rọi Ngợc lại, ngời nghiên cứu lý luận văn học, sẽ đề xuất nhữngkhái niệm và tri thức trống rỗng mang tính công thức máy móc nếu họ không cókiến thức nhất định nào đó về lịnh sử văn học
Đến phê bình văn học, phê bình văn học hớng tới những hiện tợng văn học
đang vận động, đang diễn ra trớc mắt nhng những hiện tợng văn học này, có hiệntợng đã thành chỉnh thể (tác phẩm) và có những hiện tợng đang vận động để thànhchỉnh thể Vì lẽ đó nhà phê bình phải có kiến thức nhất định về lý luận văn học,
về cấu trúc tác phẩm, về các thuộc tính sáng tạo thì mới có thể có những nguyêntắc đúng đắn và đánh giá một cách chính xác đối với các hiện tợng văn học Nhvậy lý luận văn học cấp một chỗ dựa lý thuyết, một tiêu chí nghệ thuật, tiêu chí ttởng thẩm mĩ cho nhà phê bình trong khi tiến hành sự phê bình đối với một hiện t-ợng văn học
Trang 12Mặt khác, ngời làm phê bình văn học nếu không am hiểu đến mức độ nào
đó về văn học quá khứ của dân tộc thì mọi đánh giá của anh ta về văn học đơng
đại cũng theo một xu hớng chủ quan, thiếu tính lịch sử Bởi vì nghệ thuật cũnghơn bất cứ lĩnh vực hoạt động nào luôn có sự gắn bó máu thịt với truyền thống.Văn học của một thời đại dù mới đến đâu, dù tuyên bố cách tân đến đâu thì cũngkhông bao giờ giám đoạn tuyệt với quá khứ, với kinh nghiệm truyền thống Lịch
sử văn học có thể cung cấp cho nhà phê bình một chiếc chìa khoá, một cách nhìn
để đánh giá văn học đơng đại Ngợc lại, phê bình văn học đơng đại lại góp phầnhoàn chỉnh bộ mặt lịch sử văn học một thời kỳ Thông qua phê bình văn học, ng-
ời làm lịch sử văn học có thể tìm những tri thức mới để cung cấp những nhận
định mới về sự phát triển lịch sử văn hoá
Lịch sử văn học và phê bình văn học lại cung cấp những kiến thức, nhữngnhận định mang tính thực tiễn của văn học về từng nền văn học, từng tác giả tácphẩm, giúp cho lý luận văn học đi tới những khái quát mới, đề xuất những phạmtrù mới, khái niệm mới hoặc phát hiện những quy luật mới của tiến trình văn học
Đến lợt mình, lý luận văn học lại cung cấp quan điểm, nguyên lý, khái niệm,
ph-ơng pháp và những tri thức lý thuyết để tạo ra tiền đề lý luận cho việc nghiên cứulịch sử văn học và phê bình văn học Với ý nghĩa này, lý luận văn học có tínhcách một khoa học dẫn đờng, một phơng pháp luận cho cả lịch sử văn học và phêbình văn học
1.1.2 Lý luận phê bình truyền thống trong văn học trung đại.
Khi bàn về lý luận phê bình truyền thống trong văn học trung đại, một vấn
đề nổi lên gây nhiều tranh luận đó là: Có hay không có lý luận phê bình văn họcthời trung đại ? Có quan điểm cho rằng: Văn học thời kỳ trung đại cha có lý luận
và lại càng cha có phê bình văn học Quan điểm này sẽ là đúng nếu hiểu nghĩacủa khái niệm lý luận phê bình văn học một cách chặt chẽ, có nghĩa là nó phải làmột nghành khoa học riêng, có hệ thống khái niệm, lý thuyết, phơng pháp, có đốitợng xác định và có các nhà nghiên cứu phê bình chuyên nghiệp…tất cả các điềukiện đó ở thời trung đại cha có Nhng ỏ thời kỳ văn học trung đại Việt Nam trênthực tế cũng đã hình thành một kiểu lý luận phê bình văn học có tính đặc thù: Nócha phải là phê bình chuyên nghiệp, cũng cha có các nhà phê bình chuyên nghiệp
mà là một lối phê bình theo hớng ngẫu hứng; mặt khác đó là một kiểu phê bìnhtri âm tri kỉ…cho nên làm phê bình thời đó có nghĩa là tìm niềm đồng cảm tri âmvới ngời sáng tác Hơn thế, phê bình thời trung đại còn là phê bình theo kiểu tầmchơng trích cú… Đó là những đặc thù của phê bình văn học thời trung đại
Trang 13Đặc biệt, các ý kiến phê bình thời trung đại thờng nằm rải rác trong các lờibạt, lời tựa của một tập thơ hay một cuốn sách của các nhà nho VD: lời tựu trongtác phẩm “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Kiến văn tiểu lục” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một của Lê Quý Đôn, lời tựa trong “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Trích diễm thi tập” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một của Hoàng Đức Lơng (đời nhà Trần), hay lời bạt trong “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Tồn am di thảo” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một của PhạmNguyễn Du… có khi rất nhiều trờng hợp, các lời phê bình văn chơng đợc viếtthành thỏ (VD: bài thơ của Phạm Quý Thích vịnh “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Truyện kiều” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một )… hiện tợng nhvậy kéo dài cho đến văn học hiện đại Có ngời cho rằng phê bình văn chơng bằngthơ ở thời trung đại chứng tỏ rằng lý luận phê bình cha có một ranh giới rõ ràngxác định với sáng tác Tính không chuyên nghiệp đó đã làm cho các tác phẩm phêbình vụn vặt, chắp vá, ít ỏi Do cha có một đội ngũ nhà văn phê bình chuyênnghiệp nên công việc này thờng là công việc ngẫu hứng, tri âm giữa các nhà thơ.
Đó là thời kỳ mà văn học và tác phẩm văn học cha thành hàng hoá, văn học cha
có công chúng và ngời đọc rộng rãi, kỹ thuật in ấn còn thô sơ, lạc hậu… Cho nêntác phẩm văn học thờng chỉ đợc phổ biến trong một phạm vi hẹp, tức là chỉ nhữngngời có học mới đọc tác phẩm của nhau
Với kiểu phê bình nh vậy nên phê bình văn học thời trung đại còn mangnhiều hạn chế: Trớc hết phê bình chỉ hớng tới một số sáng tác cụ thể, tập trungvào một vài phơng diện nghệ thuật mà ngời phê bình cảm thấy thích thú Họ th-ờng tách mỗi yếu tố ra khỏi chỉnh thể nghệ thuật của tác phẩm và bình yếu tố đómột cách cô lập Lối phê bình ấy thờng thiên về các yếu tố ngôn ngữ là chính, vìvậy họ thờng đề xuất những khái niệm: thần cú, nhãn tự, niêm, dối, vần, luật…Ngời ta thờng chú ý đến những yếu tố mang tính chất tĩnh tại, bất biến của sángtác nh: công thức thể loại, kiểu kết cấu, mô hình cốt truyện, luật bố cục…Nh vậyphê bình thời trung đại thờng quan tâm đến việc nhà văn đã thể hiện các quy tắcnghệ thuật cố định nh thế nào mà rất ít quan tâm đến những sáng tạo độc đáo củanhà văn vợt ra ngoài công thức, mô hình… Mặt khác, những đánh giá phê bìnhthời trung đại thờng xuất phát từ trực cảm, do đó cũng có lúc khá kinh tế sâu sắcnhng đồng thời vì vậy mà thiếu tiêu chí đánh giá một cách toàn diện, thiếu căn
cứ khoa học khách quan, thờng sa vào ý tởng chủ quan…Sở dĩ có những hạn chế
đó là do khoa học cha phát triển, các ngành khoa học cha tách khỏi nhau để trởthành các ngành nghiên cứu chuyên nghiệp… Điều này ảnh hởng không nhỏ tớilĩnh vực nghiên cứu phê bình văn học
Đến thời kỳ hiện đại, phê bình văn học đã dần dần khắc phục đợc nhữnghạn chế trên, nó đã mang tính chuyên nghiệp thực sự Đặc biệt từ những năm 30của thế kỷ XX trở đi, phê bình văn học đã dần khẳng định đợc mình ở vị trí mới,
Trang 14nó đã trở thành một món ăn tinh thần, một đòi hỏi của độc giả đặc biệt là lớp độcgiả trí thức.
so với lĩnh vực sáng tác thì đà tiến của nghiên cứu phê bình chậm hơn Nhngkhông vì thế mà chúng ta phủ nhận những thành tựu to lớn của phê bình văn họctrong những năm đầu tiên của thế kỷ XX Nghiên cứu phê bình không còn là côngviệc tuỳ hứng tự phát mà đã trở thành công việc có ý thức, tuân thủ những nguyêntắc, phơng pháp và những cơ sở lý luận riêng của từng trờng phái, chẳng hạn: phêbình xã hội học, phê bình Macxít, ( đại biểu xuất sắc là Hải Triều), phê bình ấn t-ợng…Trong 3 nhánh: khảo cứu, lý luận và phê bình thì phê bình nổi bật hơn Thế
hệ đó có làm lý luận nhng tha thớt và cha có thành tựu đáng kể Thực ra lý luậnthời đó chủ yếu là biên dịch, trình bày cách hiểu lý luận văn học nớc ngoài Cònkhảo cứu cũng có những thành tựu nhất định khi các nhà văn khảo cứu văn học
cổ của nớc nhà hay văn học dân gian
Trong phê bình văn học, các nhà phê bình lúc ấy quan tâm đến hầu hết cácphơng diện của nền văn học, chẳng hạn: thị hiếu của ngời đọc, cuộc đời và nhâncách đạo đức của nhà văn, sự phát triển thể loại, mối quan hệ giữa đổi mới, cáchtân, học tập văn học phơng Tây với việc giữ gìn bản sắc văn học dân tộc, nhữngquan niệm mới mẽ của văn học, đặc sắc sáng tác của từng của từng tác giả…
Khi nói tới vai trò của nghiên cứu lý luận phê bình trong đời sống văn họccủa thời đại, có thể thấy trên hai phơng diện:
- Thứ nhất là lý luận phê bình có tác dụng nh một động lực vừa thúc đẩy,vừa định hớng cho sáng tác, giúp vào việc uốn nắn những khuynh hớng nghệ thuậtthiếu lành mạnh Chẳng hạn nh ý kiến của Hải Triều về văn học vị nhân sinh cótác dụng động viên, cổ vũ không chỉ đối với các nhà văn cách mạng nói riêng màcòn đối với hầu hết các nhà văn hiện thực phê phán “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Đề cơng văn hoá Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một của Đảng cộng sản năm 1943 có tác dụng lớn đối với nhà văn Việt Nam lúc bấy
Trang 15giờ…Ngoài ra, chính các cuộc tranh luận cũng giúp các nhà văn một cách nhìn,một quan điểm mới đối với nghệ thuật.
- Thứ hai là lý luận phê bình còn có vài trò lớn đối với ngời đọc: Tronghoàn cảnh mà một dân tộc trình độ học vấn cha cao thì vai trò của lý luận phêbình càng nổi bật Lý luận phê bình giúp công chúng hình thành những khuynh h-ớng thẩm mĩ lành mạnh, hớng ngời đọc đến với những tác giả tác phẩm tiến bộ.Mặt khác lý luận phê bình còn giúp ngời đọc điều chỉnh những khuynh hớng thẩm
mĩ lạc hậu Trong một thời đại mà thị hiếu thẩm mĩ của cônh chúng đã rất đadạng thì lý luận phê bình cũng trở thành hiện tợng đa xu hớng, thậm chí có những
xu hớng trái ngợc nhau và đây cũng nên coi là một hiện tợng bình thờng, tất yếu.Chẳng hạn nhóm “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Ngày nay” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một muốn công chúng đến với văn học lãng mạn thì họ
ra sức ca ngợi văn học lãng mạn… Còn nhóm hiện thực phê phán trong đó có NgôTất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, kể cả Thạch Lam… lại muốn đánh thức côngchúng bằng văn học hiện thực, bằng sự phê phán quyết liệt đối với hoàn cảnh thù
địch với con ngời Có những nhà văn mà ý kiến phê bình nằm ngay trong sángtác nh Nam Cao trong “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Trăng sáng” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Đời thừa” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một …
Nhìn chung lại, trong gần một nữa thế kỉ có thể tính đến hàng trăm tácphẩm lý luận phê bình, nó có thể là một cuốn sách, một chuyên luân, một sáchgiáo khoa, một tiểu luận nghiên cứu hoặc một bài báo phê bình… Có thể kể đếnnhững tác phẩn lý luận phê bình tiêu biểu sau:
- Việt Hán văn khảo, Phan kế Bính, 1918.
- Nam Âm thi thoại, Phan Khôi, 1918.
- Bàn về tiểu thuyết, Phan quỳnh, 1921.
- Quốc văn cụ thể, Bùi Kỷ, 1932.
- Phê bình và Cảo luận, Thiếu Sơn, 1933.
- Duy Tâm hay duy vật, Hải Triều, 1935.
- Việt Nam văn hoá sử cơng, Đào Duy Anh, 1938.
- Dới mắt tôi, Trơng Chính, 1939.
- Hàn Mặc Tử, Trần Anh, 1941.
- Thời thế với văn chơng, Hoàng Ngọc Khánh, 1941.
- Theo dòng, Thạch Lam, 1941.
- Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, 1942.
- Việt Nam văn học sử yếu, Dơng Quảng Hàm,1942.
- Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan, 1942 – 1943.
- Việt Nam cổ văn học sử, Nguyễn Đổng Chi, 1942.
- Văn học khái luận, Đặng Thai Mai, 1944.
Trang 16Trong số đó “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một của Hoài Thanh và “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Nhà văn hiện đại” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một của Vũ Ngọc Phan là hai công trình phê bình văn học nổi bật nhất của thời kỳ từ
đọc (nhà in Nguyễn Đức Phiên - tên thật của Hoài Chân) nhắc đến “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhânViệt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ngời ta thờng nhắc đến tên của Hoài Thanh ở đây cũng chỉ nói đếnHoài Thanh, nhng nh vậy không có nghĩa chúng tôi bỏ quên Hoài Chân
2.1 Phơng pháp và phong cách phê bình của Hoài Thanh trong Thi nhân“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một
Việt Nam ” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một đợc coi là những thành tựu đặc sắc của phê bình vănhọc trớc 1945 “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một xuất bản lầm đầu tiên năm 1942, đã đợc bạn
đọc bấy giờ nồng nhiệt đón nhận Hành trình của tác phẩm này cùng “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một nhiều nỗigian nan” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một nhng cho đến nay, với con số hơn 10 lần xuất bản, nó đã khẳng định đ-
ợc sức sống, vị trí của mình trong lòng bạn đọc
Sự ra đời của “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một là một lời tổng kết về quá trình pháttriển cũng nh những mặt điển hình của phong trào thơ mới năm 1932 – 1945.Bằng niềm đam mê, bằng những rung động tinh tế của tâm hồn và một bút pháp
đậm chất thơ, các tác giả đã xây dựng tác phẩm của mình thành một kiến trúcnghệ thuật độc đáo ở đó, lời phê bình của tác giả là sự hoà điệu với lời thơ củathi nhân để cùng hát lên bài ca dờng nh bất tận của những tâm hồn con ngời sầucảm, mộng mơ, buồn sâu, vui vội…
Không khí hoà thanh với bài ca nhiều giai điệu, nhiều cung bậc của 169 bàithơ mà một phần tâm huyết cuả tác giả “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một còn gữi gắm vào
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Một thời đại trong thi ca” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Trong bài tổng luận này, tác giả đã tổng kết lại biến
Trang 17cố lịch 1930 – 1945 mà trong đó có sự rung chuyển dữ dội của Thi ca Việt Namhiện đại: Từ những nguyên nhân sâu xa làm tan rã thơ cũ đến sự nảy nở, đấutranh và thắng lợi của thơ mới … Nói chung khi đọc “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , ngời
đọc dễ dàng nhận ra Hoài Thanh đã sử dụng một phơng pháp và phong cách phêbình khá độc đáo không hề giống với bất kỳ một tác phẩm phê bình văn học cùngthời nào, trong đó có ba điểm đáng chú ý:
2.1.1 Lấy hồn ta để hiểu hồn ng“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ời” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Hồn ngời” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một chính là đối tợng nhận thức của Hoài Thanh Hoài Thanhkhông sử dụng những khái niệm khoa học của các lý thuyết hiện đại, ông đã tìmthấy những hồn điệu trong cách dùng từ ngữ của truyền thống “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một phê” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một điểm” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ph-
ơng Đông “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Hồn ngời” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một của một thi nhân chính là cái nhìn tự nhận thức, sự biểuhiện cái sâu kín nhất ấy thành những cấu trúc nghệ thuật trên các thi phẩm cụthể “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Hồn ngời” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một trong thi ca, các nhà phê bình thời trung đại dùng thuật ngữ
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một thần” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một – cái thần của thơ để chỉ định Khi nắm bắt đợc “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một hồn” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một thần” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , chính làkhám phá đợc bản chất, là chiếm lĩnh đối tợng trong trạng thái chỉnh thể sinh
động và phơng pháp của Hoài Thanh tỏ ra rất hiệu quả
Với phơng pháp phê bình “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Lấy hồn ta để hiểu hồn ngời” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một tức là phê bình củaHoài Thanh là lối phê bình dựa trên tình cảm Hoài Thanh đã xuất phát từ sự rung
động, từ một thái độ trân trọng, quý mến tác phẩm nghệ thuật của các nhà thơ nhàvăn Tác phẩm nghệ thuật đợc Hoài Thanh coi là một “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một của tin” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một - “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một cuả tin gọi mộtchút này làm ghi” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một - và ông phê bình nghệ thuật từ một khả năng trực giác, nhạybén, một năng lực cảm thụ kỳ diệu Trực giác của Hoài Thanh không có nghĩa làmột sự đối lập với lí tính hoặc gạt bỏ lí tính; mà thực chất đó là một khả năng hoàquyện giữa cảm tính và lý tính nhng xuất phát từ cảm tính và đợc lí tính nâng đỡ.Kiểu t duy này trớc hết cần sự tinh nhạy rung động của cảm xúc tâm hồn, sau đómới tìm đến lí trí Cách t duy phê bình đó rất gần với t duy sáng tác của ngời nghệsĩ
Phong cách phê bình này có thể gọi là phong cách tình cảm Có ngời chorằng: Nếu nặng về phong cách tình cảm thì sẽ nhẹ về phong cách lí luận lí thuyếttrong trong phê bình Song thực ra Hoài Thanh không thiếu tri thức lí luận mà vấn
đề là ông không thích lí luận, nhất là những lí luận xa rời thực tiễn Ông muốnmột thứ lí luận tan biến vào cảm giác, hoà quyện vào tình cảm của nhà phê bình.Chính với phong cách này cho nên ông thờng chọn phê bình thơ, ông có thiên tínhthơ hơn là thiên tính văn xuôi – thiên tính thơ là thiên tính nữ - thờng gắn với sự
tế nhị, mềm mại, uyển chuyển
Trang 18Trong khi phê bình, Hoài Thanh vừa tiếp thu truyền thống phê bình của thờitrung đại đó là lối phê bình tri âm tri kỉ, khai thác khả năng của ngôn ngữ nghệthuật; đồng thời kết hợp với kiểu phê bình của chủ nghĩa ấn tợng phơng Tây (cụthể là nớc pháp thế kỉ XIX) Kiểu phê bình truyền thống là công việc tri âm, ngẫuhứng sau chén rợu, bàn trà Lối phê bình này thờng vụn vặt, tập trung vào một sốphơng diện nào đó theo kiểu tầm chơng, trích cú, nhận xét về những câu văn hay,câu thơ có thần hay nhãn từ trong bài Còn phê bình theo chủ nghĩa ấn tợng là lối
phê bình “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một in dấu ấn chủ thể nhà phê bình, nhà phê bình ca hát theo những dòng
cảm tởng ca hát theo những dòng cảm tởng, cảm xúc do một bài thơ, một nhịpthơ, một âm điệu của câu thơ rung lên, nhà phê bình xây dựng xung quanh mộtbài thơ hay nhiều tập thơ một lâu đài tráng lệ, những rung động tinh tế, đa ngời
đọc vào thế giới riêng của mình [6,74] Sự kết hợp này tạo cho lối phê bình củaHoài Thanh giàu t chất nghệ sĩ Nếu xét từ góc nhìn đơng đại thì lúc đó còn cómột số phơng pháp phê bình khác: phê bình xã hội, phê bình Macxít… ng HoàinhThanh đã đi theo hớng riêng của mình, kết hợp dân tộc với nớc ngoài tạo ra lối
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một văn phong phê bình cảm xúc” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , đầy ấn tợng
2.1.2 Bình thơ là đi tìm cái đẹp trong thơ.
Lối phê bình này giúp cho tác giả có sự tự do và phát huy đợc sự thành thựccủa mình Phong cách phê bình của Hoài Thanh thờng “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một bình” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một nặng hơn “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một phê” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ,bình cái hay cái đẹp trong thơ Nói thẳng ra là Hoài Thanh không thích chê cácvăn nghệ sĩ Đôi khi trong những trờng hợp cần thiết mà phải chê thì ông cũngchê rất khéo léo, rất tinh tế Hoài Thanh đã từng nói: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một thỉnh thoảng tôi có nói đếncái dở thì cũng cốt làm nổi cái hay mà thôi , chứ cái dở ở cuộc đời này thiếu gì màphải tìm ở trong thơ…” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,360] Hoặc trong lời cuối của “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ,Hoài Thanh nói: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một quyển sách này ra đời, cái điều tôi lo ngại nhất là mang tên nhàphê bình Hai chữ phê bình sao nghe khó chịu lắm, nó khệnh khạng nh một ônggiáo gàn Bình cũng đợc nhng phê, sao lại phê ?” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,371] Đây vừa là một thànhcông vừa là hạn chế trong cách phê bình của Hoài Thanh: thành công ở chỗ ông
đã có sự cảm nhận rất tinh tế, nhạy bén, phát hiện ra cái hay cái đẹp của tácphẩm…Nhng mặt khác, Hoài Thanh cha thể hiện hết đợc cái cốt lõi trong ý nghĩacủa hai chữ “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một phê bình” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Bỡi lẽ “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một là một tác phẩm phê bìnhmặc dù Hoài Thanh “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một rất ngại” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một quyển sách của ông sẽ mang tên “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một nhà phê bình” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một nhng thực tế các nhà nghiên cứu sau này vẫn thống nhất gọi “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một
là công trình nghiên cứu phê bình đầu tiên của Hoài Thanh Và khi đã gọi tên nhàphê bình tức là ngời đó sẽ đóng vai trò là ngời định hớng cách hiểu đúng đắn chongời đọc…Nhng Hoài Thanh chỉ chú ý tới mặt “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một bình” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một là chính, chỉ nói đến cái
Trang 19hay cái đẹp…Chính vì điều này mà Hoài Thanh bị Vũ Ngọc Phan “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một chê” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một phêbình rặt cái hay cái đẹp” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [16,15].Và chính bản thân Hoài Thanh cũng nhận ra
điều đó, ông thờng nói trong tuyển tập của mình sau này: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một say thơ cũng nh sayngời, có khi đúng, có khi sai, có khi đúng mặt này mà sai mặt khác Biết vậy nhng
đã say thì không dễ gì mà dứt ra đợc” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,374] Và kết quả là Hoài Thanh đã gặpkhông ít phiền phức Hoài Thanh có nói với Từ Sơn (con trai của Hoài Thanh):
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Một đời làm văn, cha chỉ tìm cái hay cái đẹp để bình Đó là điều ham muốn củacha Vậy mà cha đã vấp phải nhiều truyện phiền: kẻ yêu, ngời ghét Thậm chí chacòn bị vu cáo, bị nói oan Cha biết vậy nhng không thể sống khác, viết khác cáitạng của mình Điều mà cha có thể hoàn toàn yên tâm và tự hào trớc lúc đi xa vàcha đã sống và viết hoàn toàn trung thực Đó là cái quý nhất mà cha muốn để lạicho các con” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,396]
Mặt khác với quan niệm bình thơ là đi tìm cái đẹp trong thơ cho nên HoàiThanh rất trân trọng cái tình của nhà thơ Và trong phê bình, Hoài Thanh đã tìmthấy cái hay, cái độc đáo của mỗi nhà nhơ: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Cha bao giờ ngời ta thấy xuất hiệncùng một lần một hồn thơ rộng mở nh Thế Lữ, mơ màng nh Lu Trọng L, hùngtráng nh Huy Thông, trong sáng nh Nguyễn Nhợc Pháp, ảo não nh Huy Cận, quêmùa nh Nguyễn Bính, kỳ dị nh Chế Lan Viên…và tha thiết, rạo rực, băn khoăn
nh Xuân Diệu” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,34] Những nhận xét này là những nhận xét thích đáng cô
đọng, có thể khái quát đợc hồn cốt của mỗi thi nhân Qua đó Hoài Thanh cảmnhận đợc sự tinh tế trong những cái riêng, phong cách riêng, giọng điệu riêng củatừng nhà thơ để nhằm chứng minh cho quan điểm của mình: Văn chơng là văn ch-
ơng, cái đẹp là một giá trị tối cao của nghệ thuật Giọng điệu phê bình đó củaHoài Thanh chịu ảnh hởng của một số nhà phê bình Pháp, trong đó có Gide HoàiThanh yêu cái đẹp nhng đó phải là cái đẹp tinh tế nhẹ nhàng
2.1.3 Giọng điệu và lời văn phê bình duyên dáng, đầy chất thơ.
Giọng bình thơ của Hoài Thanh là giọng nhỏ nhẹ tâm tình, thỉnh thoảng
mang một chút dí dỏm kín đáo và thờng sử dụng lối nói ẩn dụ Cách bình thơ của
ông giản dị mà duyên dáng và đầy chất thơ Hoài Thanh bình thơ không theo kiểugiảng thơ tỉ mỉ nh Xuân Diệu, mà ông thờng dùng một vài câu để bình rồi dẫn raluôn thơ cho ngời đọc thởng thức
Một điều đặc biệt trong quan niệm của Hoài Thanh là ngời bình thơ nhmột ngời đệm đàn (một nhạc công), ngời đệm đàn không đợc làm mất tiếng hát,giọng ca của ca sĩ mà phải làm cho giọng hát của ca sĩ nổi bật lên Khi bình thơ,Hoài Thanh thờng dùng nhiều hình ảnh để ví von với sự sáng tạo của nhà thơ.Chẳng hạn nói về thơ Chế Lan Viên, ông so sánh với Tháp chàm trầm mặc, chắc
Trang 20chắn nhng lẻ loi bí mật…Hoặc khi nói về Thế Lữ, ông gọi Thế Lữ “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một nh vầng sao
đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam…” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,61] Đây là những hình
ảnh mang ý nghĩa khái niệm về đối tợng Hoài Thanh thờng tạo ra một không khí
đồng cảm, chia sẻ một cách thân tình đối với nhà thơ và ngời đọc Chính HoàiThanh đã từng tuyên bố: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Mỗi bài thơ hay là một cánh cửa mở cho tôi đi vào mộttâm hồn Cho nên gặp thơ hay là tôi triền miên trong đó, tôi ngâm đi ngâm lạihoài, lấy hồn tôi để hiểu hồn ngời Do đó những tâm hồn không có lối vào, nhữngtâm hồn bị bng bít thì tôi còn biết gì mà nói Chủ nhân không mở cửa tôi đànhchịu đứng ngoài… ” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,367]
2.2 Thi nhân Việt Nam với 8 hiện t“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ợng thơ mới
Thơ mới là phòng trào thơ hiện đại xuất hiện trong những năm 1932 –
1945 Dòng thơ này hình thành xác lập một quan niệm mới về con ngời, đó làcon ngời với t cách là cái tôi cá nhân cá thể trọn vẹn nhất Và Hoài thanh – một
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một siêu độc giả” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một lúc bấy giờ đã dựng lại diễn biến của phong trào thơ mới, nhà phêbình đã để công lao theo dõi, gắn bó với hoạt động phong trào thơ ca này trongmột thời gian không ngắn Đặc biệt với “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Hoài Thanh khôngnhững tổng luận đợc một thời đại trong thi ca, khái quát đợc một nền văn thơ màcòn có những nhận định rất chuẩn xác đối với phong cách của từng nhà thơ Cóthể nói Hoài Thanh đã thể hiện năng lực nắm bắt diện mạo phong cách của từngnhà thơ mới nh một năng khiếu bẩm sinh Với quan niệm: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một xem thơ tôi chỉ muốnhiểu một con ngời” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , Hoài Thanh chủ yếu dựa vào những văn bản thơ để phán đoán
về đặc sắc của hồn ngời với những cảm nhận thật tinh tế, sâu sắc Vì thế tuy đãhơn 60 năm kể từ ngày xuất bản “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , những nhận xét, đánh giácủa Hoài Thanh về thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử…những gơng mặt tiêu biểu của phong trào thơ mới là những điểm tựa đáng tin cậy
đối với những ngời nghiên cứu sau này
Với phơng châm: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Lấy hồn ta để hiểu hồn ngời” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , trong số hàng trăm tác giảtác phẩm cuả phong trào thơ mới, Hoài Thanh đã chọn đợc 45 nhà thơ với 149bài thơ tiêu biểu và Hoài Thanh đã lấy “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một hồn thơ” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một làm tiêu chí để phân biệt nhà thơnày với nhà thơ khác Qua các tác phẩm của các thi nhân, Hoài Thanh đã pháthiện ra những “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Hồn ngời” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một của thi nhân Chẳng hạn nh với Thế Lữ - nhà thơ mở
đầu của phong trào thơ mới - Hoài Thanh nhận xét: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một …Độ ấy thơ mới vừa ra đời.Thế Lữ nh vầng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,61]
Đối với Hoài Thanh , Thế Lữ có vai trò lớn lao trong phong trào thơ mới, là ng ời
đã nổ phát súng lệnh đầu tiên khởi đầu cho cả phong trào: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thế Lữ không bàn vềthơ mới, không bênh vực thơ mới, không bút chiến, không diễn thuyết, Thế Lữ chỉ
Trang 21lặng lẽ, chỉ điềm nhiên bớc những bớc vững vàng, mà trong khoảnh khắc cả hàngngũ thơ xa phải tan vỡ” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,61)] Để minh chứng cho nhận định của mình, HoàiThanh đã chỉ ra những điểm mới mẻ trong thơ Thế Lữ, đó là thể cách mới khôngchút rụt rè, mới từ số câu, số chữ, cách bỏ vần, cho đến tiết tấu âm thanh… Ngaycả những bài thơ thất ngôn, ngũ ngôn, lục bát, song thất lục bát của Thế Lữ cũngkhác xa; để rồi Hoài Thanh đã khẳng định lại một lần nữa: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thế Lữ đã làm rạn vỡnhững khuôn khổ ngàn năm không di dịch” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,61].
Quả thật khi đọc những vần thơ của Thế Lữ đợc công bố trên thi đàn, ngời
đọc thuở ấy bỗng “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một giật mình” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một bởi giọng thơ, số câu số chữ của thơ ,cũng nh nộidung của thơ có sự khác biệt hoàn toàn với thơ cũ mà họ vốn quen từ lâu Ta thấynhững vần thơ, câu thơ của Thế Lữ đã vợt ra ngoài cái khuôn khổ, bó buộc của thơ
cũ mà hồn thơ ấy đã bứt phá hoàn toàn, khẳng định đợc sự mới mẻ của mình đặcbiệt là về mặt câu chữ Về điều này, Hoài Thanh cũng đã nói: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Đọc đôi bài, nhất
là bài Nhớ rừng, ta tởng chừng thấy những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức
mạnh phi thờng Thế Lữ nh một viên tớng điều khiển đội quân Việt Ngữ bằngnhững mệnh lệnh không thể cỡng đợc” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,61] Hoài Thanh đã nhìn thấy những
đóng góp của Thế Lữ đối với đổi mới văn học, đồng thời ông đã rất tinh nhạytrong việc nhận xét ngôn ngữ của vị chúa tể muôn loài trong bài: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Nhớ rừng” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , đặcbiệt những câu nh:
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây giàVới tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núiVới khi thét khúc trờng ca dữ dội
Ta bớc chân lên, dõng dạc, đờng hoàng…” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Cũng nh nhiều nhà thơ mới đơng thời, Thế Lữ không tránh khỏi tâm trạngbuồn, sầu ảo nảo do cuộc đời tạo ra…Nói về điều này, ngời ta cho rằng Thế Lữ lànhà thơ đầu tiên mở ra nỗi buồn trong thơ mới Thấy buồn, thấy bơ vơ và lạc lỏnggiữa cuộc đời, các nhà thơ mới đã tìm cho mình những ngả đờng thoát li, tìm chomình những chốn thiên đờng để trú ẩn Đối với Thế Lữ, ông đã chọn chốn bồnglai tiên cảnh, chọn tôn giáo làm điểm tựa tâm hồn Ngay trong bài tổng luận “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Mộtthời đại trong thi ca” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , Hoài Thanh đã dựng lại một không gian trong thơ Thế Lữ:
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ…” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , đến bài phê bình về tác giả, Hoài Thanh mởrộng hơn: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Ngời lu luyến cảnh tiên trong tởng tợng, phảng phất nghe tiếng sáotiên, mải mê nhìn những nàng tiên…” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,62] Và để chứng minh cho ý kiến củamình có cơ sở, Hoài Thanh đã dẫn bằng những vần thơ tiêu biểu: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Đờng đi giữa đ-ờng phố rộn rịp, bỗng trông thấy những cành đào cành mai là ngời đã:
T
… ởng nhớ cảnh quê hơng
Trang 22Bồng lai muôn thuở vờn xuân thắm,Sán lạn, u huyền trong khói huơng…
Đơng cùng bầu bạn uống rợu, vừa ngà ngà say là ngời đã thoát trần bỏ bạnhữu ở lại để đi về chốn:
Lung linh vàng dội cung quỳnhNhịp nhàng biến hiện những mình Tiên nga
ở Xứ ta từ khi có ngời nói truyện tiên , nghĩa là từ khi có thi sĩ, cha bao giờ
ta thấy thế giới tiên có nhiều vẽ đẹp nh thế” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,62] Nh vậy cảnh tiến trở thànhnơi Thế Lữ thờng lui tới vui chơi, thởng ngoạn, nhng dù đi đến đâu cũng khôngthoát khỏi trần thế Vì vậy cảnh tiên thờng là những hình ảnh có thực ngoài đời.Hoài Thanh đã rất tinh nhạy, ông nhận ra thực chất của chốn “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một bồng lai tiên cảnh” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một trong thơ Thế Lữ: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một và nói cho đúng, thi nhân có lên tin cũng chỉ nói truyện dớitrần…Tôi muốn nói Thế Lữ vẫn nặng lòng trần” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,63] Hơn nữa Thế Lữ đặc biệt
có tài trong việc miêu tả màu sắc, âm thanh của cảnh vật, cho nên cảnh vật hiệnlên trong bài thơ Thế Lữ lung linh màu sắc, khiến ngời đọc lạc vào thế giới xa lạ.Ngay cả những bài miêu tả thiên nhiên rất quen thuộc, bình thơng nh ở một nơinào đó:
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Sáng hôm nay sơng biếc toả mờ mờ
Nh sơng khói đợm đầu cau mái rạ;
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Đôi mắt cô em nh say, nh đắm,
Nh buồn in hình ảnh giấc mơ xa” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một
Có khi thi nhân nh mải mê nghe tiếng hát của ngời đẹp:
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Tiếng hát trong nh nớc ngọc tuyền
Em nh hơi gió thoảng cung tiênCao nh thông vút, buồn nh liễu:
Nớc lặng, mây ngừng, ta đứng yên” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một
(Tiếng gọi bên sông)
Đọc những câu thơ của Thế Lữ, ta nhận thấy qua những vần thơ đó là một thứ tình cảm tuy không thiết tha, sâu sắc, không mãnh liệt nh của Xuân Diệu…mà tình cảm cuả Thế Lữ tởng nh chỉ thoáng qua, nhẹ nhàng không
định hình rõ nét, đúng nh Hoài Thanh đã nói: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Đối với họ thi nhân cha đủ
Trang 23thân mật để gọi bằng em: thi nhân chỉ dùng hai tiếng “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một cô em” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một nghe lẳng lơ
mà xa vời và thiếu tình ấn áp Có lẽ Thế Lữ là một ngời khát yêu, lòng mở sẵn để đón một tình duyên không tháy tới…” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,64] Và với 7 bài thơ đợc
Hoài Thanh trích dẫn trong “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một : Nhớ rừng, Tiếng trúc tuyệt vời, Tiếng sáo thiên thai, Bên sông đa khách, Cây đàn muôn điệu, Vẽ
đẹp thoáng qua, Giây phút chạnh lòng; ngời đọc hiểu hơn về hồn thơ Thế
và tình yêu không cỡng lại đợc sự nghiệt ngã của thời gian Vì lẽ đó tâm hồn thi sĩvừa náo nức, say mê lại vừa buồn thơng đau đớn Hoài Thanh đã cảm nhận mộtcách rất tinh tế tâm hồn nhà thơ Xuân Diệu, nên những bài thơ đợc nhà phê bìnhchú ý và đa vào “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một đều chứa đựng hai trạng thái cảm xúc này
của nhà thơ gồm 11 bài thơ: nh Nguyệt Cầm , Trăng , Đây mùa thu tới , “Nguyệt Cầm”, “Trăng”, “Đây mùa thu tới”, ”, “Trăng”, “Đây mùa thu tới”, “Nguyệt Cầm”, “Trăng”, “Đây mùa thu tới”, ”, “Trăng”, “Đây mùa thu tới”, “Nguyệt Cầm”, “Trăng”, “Đây mùa thu tới”, ”, “Trăng”, “Đây mùa thu tới”, Vội vàng , Lời kĩ nữ , tình trai
“Nguyệt Cầm”, “Trăng”, “Đây mùa thu tới”, ”, “Trăng”, “Đây mùa thu tới”, “Nguyệt Cầm”, “Trăng”, “Đây mùa thu tới”, ”, “Trăng”, “Đây mùa thu tới”, “Nguyệt Cầm”, “Trăng”, “Đây mùa thu tới”, ”, “Trăng”, “Đây mùa thu tới”,…Trong hai trạng thái cảm xúc đó thì có lẽ
phần đắm say rạo rực trong tâm hồn, cũng nh tâm lý muốn sống vội, sống cuốngquýt vẫn đậm hơn cả Hoài Thanh đã nói về điều này rất chuẩn xác, ta thấy nhàphê bình nh đã đọc đợc những suy nghĩ và tâm trạng của thi nhân: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thơ XuânDiệu còn là một nguồn sống rào rạt cha từng thấy ở chốn nớc non lặng lẽ nay.Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt,muốn tận hởng cuộc đời ngắn ngủi của mình Khi vui cũng nh khi buồn, ngời đềunồng nàn, tha thiết…[14,117] Chỉ với câu văn ngắn gọn, Hoài Thanh đã dựng lại
đợc toàn bộ phong cách thơ Xuân Diệu khi viết về tình yêu Quả thật trong thơcủa mình, Xuân Diệu đã tái hiện đầy đủ các cung bậc của tình yêu: Có khi là tìnhyêu đơn phơng của tràng trai đa tình, tình yêu đơn côi tuyệt vọng của ngời kĩ nữtrong “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Lời kĩ nữ” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một hay một tình yêu nồng nàn say đắm:
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Hãy sát đôi đầu ! hãy kề đôi ngựcHãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài
(xa cách)
Ta biết ràng Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới Chínhvì vậy những điểm cách tân của thơ mới so với thơ ca cổ điển, ta đều có thể dễ
Trang 24dàng bắt gặp trong thơ Xuân Diệu, đặc biệt là về lời thơ Đến thơ mới nói chung
và thơ Xuân Diệu nói riêng ta thấy có hiện tợng lời thơ điệu ngâm chuyển sang
điệu nói Cho nên lời thơ thoát khỏi tính ớc lệ tợng trng, trở thành lời riêng cá biệtcủa từng nhà thơ Hoài Thanh đã rất chú ý tới điều này, ông nhận xét về XuânDiệu: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Xuân Diệu dùng chữ đặt câu tây quá…” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Ngay lời văn Xuân Diệu cũng có
vẻ chơi vơi Xuân Diệu viết văn tựa trẻ con học nói hay nh ngời ngoại quốc mới
võ vẽ tiếng nam Câu văn tuồng bỡ ngỡ Nhng cái dáng bỡ ngỡ ấy chính là chỗXuân Diệu hơn ngời Dòng t tởng quá sôi nổi không thể đi theo những đờng cósẵn ý văn xô đẩy, khuôn khổ câu văn phải lung lay” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,119] Tại sao HoàiThanh lại đánh giá “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Xuân Diệu tây quá” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ? Mà thực sự là Xuân Diệu cũng Tâythật Bỡi lẽ Xuân Diệu đã tạo ra lối ghép chữ hoàn toàn khác lạ Chẳng hạn trong
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Vội Vàng” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , để diễn tả lòng khát khao giao cảm với thiên nhiên, với cuộc đời,Xuân Diệu đã dùng một loạt động từ mạnh: ôm, siết, cắn… vào những thực thể vôhình: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ôm sự sống” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một siết mây ma và gió lợn” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một hỡi xuân hồng ta muốn cắn vàongơi ” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Và trong tình yêu, ông mong sự giao cảm đến tuyệt đỉnh:
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Cho anh nghe đôi hàm ngọc của của răngTrong say sa, anh sẽ bảo em rằng
Gần thêm nữa thế vẫn còn xa lắm” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một
Nói đến Xuân Diệu, ngời ta không thể không nhắc đến Huy Cận – mộtnhà thơ khá tiêu biểu của phong trào thơ mới Xuân Diệu và Huy Cận có thể gọi
là một đôi tri kỉ, có lẽ vì vậy mà hồn thơ của họ có đôi nét giống nhau – ấy là nỗibuồn, nỗi sầu của con ngời tự thấy mình lẽ loi, bơ vơ trớc cuộc đời, không tìmthấy đợc sự giao hoà giao cảm với đời Nhng nếu thơ Xuân Diệu thiên về niềm rạorực, đắm say, khát khao giao cảm với cuộc đời thực tại thì Huy Cận lại chìm đắmtrong nỗi buồn triền miên không dứt Và ngời đọc thực sự nhận ra điểm nổi bật đótrong thơ Huy Cận khi tập “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Lửa thiêng” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ra đời năm 1941 khi làm “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân ViệtNam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , Hoài Thanh đã tuyển chọn và đa vào 11 bài thơ tiêu biểu cuả “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Lửa Thiêng” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một
đúng hơn là tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận: Buồn đêm ma, Đi giữa đờng thơm, Tràng Giang, Ngậm ngùi, Nhạc sầu, Thu rừng, Chiều xuân tình tự, Vạn lý tình,
Đẹp xa Chính Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một đã nói: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Cái buồn Lửa
Trang 25Thiêng là cái buồn toả ra từ đáy hồn một ngời cơ hồ không biết đến ngoại cảnh” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một
[14,135] và “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Huy Cận đã đi lợm lặt những chút buồn rơi rác để rồi sáng tạo nênnhững vần thơ ảo não” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,136] Đặc biệt Hoài Thanh cũng đã tỏ ra rất tinh tế khiphát hiện ra trong thơ Huy Cận “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một với một ít cát bụi tầm thờng, thi nhân lại có thể
đúc thành bao nhiêu châu ngọc” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,136] Tức là từ những hiện tợng rất bình ờng của cuộc sống nhng khi đi vào thơ Huy Cận, nó lại trở thành những hình ảnh
th-độc đáo, gợi sự liên tởng nơi ngời đọc Và để chứng minh cho nhận xét của mình,Hoài Thanh vừa bình, vừa đa ra dẫn chứng cụ thể: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Ngời đời sẽ ngạc nhiên vìkhông ngờ với một ít cát bụi tầm thờng…Ai có ngờ những bớc chân đã tan trên đ-ờng kia còn ghi lại trong văn thơ những dấu tích hẳn không bao giờ tan đợc:
Thôi đã tan rồi vạn gót hơngCủa ngời đẹp tới tự trăm phơngTan rồi những bớc không hò hẹn
Đã bớc trùng nhau một ngả đờngLại có khi suối buồn thơng cứ tự trong thâm tâm chảy ra lailáng không vớng chút bụi trần:
ôi! Nắng vàng sao mà nhơ nhung
Có ai đàn lẻ để tơ chùng ?
Có ai tiễn biệt nơi xa ấyXuôi bớc chân đây cũng ngại ngùng” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,136]
Thấy buồn, thấy bơ vơ, thi nhân tìm về quá khứ nh tìm về những khoảnh
khắc tơi đẹp của mình, để tìm niềm vui, niềm an ủi Nhà phê bình Hoài Thanh đã
nhận thấy đây là việc làm “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một táo bạo” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một bởi việc tìm về cảnh xa ngời xa đã bao ngờirơi vào tình trạng “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một sa lầy” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một – “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một khuôn sáo” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Nhng Huy Cận đã không rơi vào tìnhtrạng đó, thơ Huy Cận vẫn đứng vững bởi “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ngời đã làm thơ với những cái hình nhkhông có gì nên thơ, ngời tìm ra thơ trong những trốn ta tởng không có còn thơ
nữa” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,137] Và quả thực đúng nh Hoài Thanh kết luận: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ngời đã gọi dậy cái
hồn buồn của Đông - á, ngời đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấmngầm trong cỏi đất này” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,137]
Nhng thực tế con đờng tìm về quá khứ không đơn giản, nó thật xa vời, côtịch và “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một tứ bề càng vắng lặng, mênh mông” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Để rồi sau đó thi nhân vẫn rơi vàonỗi “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một buồn điệp điệp” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một sầu trăm ngả” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , nỗi buồn nh trải dài cùng năm tháng:
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Một chiếc linh hồn nhỏ Mang mang thiên cổ sầu” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một
(ê chề)
Trang 26Nếu nh khi phê bình thơ của Thế Lữ, Xuân Diệu hay Huy Cận, Hoài Thanh
đã phát biểu ngay từ đầu những cảm nhận của mình về những sáng tác thơ của họ,thì đến Hàn Mặc Tử, hình nhu Hoài Thanh có sự “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một rụt rè” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một hơn Cụ thể là HoàiThanh đã đi từ những ý kiến khác nhau của các nhà thơ, các nhà phê bình về thơHàn Mặc Tử, để rồi sau đó Hoài Thanh điềm tĩnh nhận xét từng tập thơ của HànMặc Tử một cách điểm qua nhng đã nêu bật đợc cái “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một hồn cốt” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ở từng tập thơ Tr-
ớc hết Hoài Thanh đã trích ra những ý kiến của các nhà phê bình khác mang tínhphê phán rất rõ: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Tôi đã nghe ngời ta mạt sát Hàn Mặc Tử nhiều lắm Có ngời
bảo: Hàn Mặc Tử thơ với thẩn gì! Toàn nói nhảm Có ngời còn nghiêm khắc hơn nữa: Thơ gì mà rắc rối thế ! Minh tởng có ý nghĩa khuất khúc, cứ đọc đi đọc lại hoài, thì ra nó lừa mình ! [14,98] ”, “Trăng”, “Đây mùa thu tới”, Ngay cả Xuân Diệu, nếu xét ở góc độ cùng lànhà thơ mới thì gọi là “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một cùng hội cùng thuyền” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một vớí Hàn Mặc Tử rồi, ấy thế màcũng có lúc Xuân Diệu đã nói về Hàn Mặc Tử khá “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một gay gắt” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một : “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một hãy so sánh thái
độ can đảm kia (thái độ những nhà chân thi sĩ) với những cách đột nhiên mà khóc,
đột nhiên mà cời, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: Tôi điên đây ! Tôi điên đây !
-Điên cũng không dễ làm nh ngời ta tởng đâu Nếu không biết điên, tốt hơn là cứtỉnh táo nh thờng mà yên lặng sống” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,199]
Sau đó Hoài Thanh lại tiếp tục trích ra những ý kiến đánh giá mang tínhchất ngợi ca Hàn Mặc Tử: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Nhng tôi cũng đã nghe những ngời ca tụng Hàn Mặc
Tử Trong ý họ, thi ca Việt nam chỉ có Hàn Mặc Tử Bao nhiêu thơ Hàn Mặc Tửlàm ra họ đều chép lại và thuộc hết…[14,199] hay “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một bài thơ đã biến thành bàikinh và ngời thơ đã trở nên một vị giáo chủ” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,199] Để chứng minh cho những
điều mình đã nói, Hoài Thanh đã “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một phụ hoạ” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một thêm bằng câu nói của Chế Lan Viên:
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một tôi xin hứa hẹn vơí các ngời rằng, mai sau, những cái tầm thờng, mực thớc kia
sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,199]
Nh vậy giữa hai trờng phái ý kiến trái ngợc nhau đó, Hoài Thanh đã đứng
về phía nào đây ? Khen hay chê ? Thật khó nhận thấy bởi trong bài viết của mình,Hoài Thanh rất “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một thận trọng” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một khi phát biểu ý kiến của mình đối với thơ ca HànMặc Tử Hoài Thanh vẫn tiếp tục trích dẫn ra những ý kiến của những nhà phêbình khác, chẳng hạn khi nhận xét về thơ Đờng luật Hàn Mặc Tử, Hoài Thanh đã
đa ra ý kiến đánh giá của tác giả Quách Tấn Phan Sào Nam đợc đăng trên báo với
đại ý: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Từ về nớc đến nay, tôi đợc xem thơ quốc âm cũng khá nhiều, song cha gặp
đợc bài nào hay đến thế…” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một (Ngời mới, số 6 năm 1940) (nói về ba bài: Thức khuya, Chửa hoang và Gái ở chùa của Hàn Mặc Tử) Hoài Thanh tỏ thái độ đồng
tình với nhận xét đó rồi trích ra cả những câu thơ Đờng luật mà mình cho là hay:
Trang 27“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Nằm gắng đã không thành mộngđợcNgâm tràn cho đỡ chút buồn thôi” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Với cái mạch cảm xúc đó, Hoài Thanh đã say sa với các tập thơ của Hàn
Mặc Tử, nhận xét từng tập một cách cụ thể, rõ ràng, qua đó ngời đọc hiểu hơn về
hồn thơ Hàn Mặc Tử với những tập nh: Gái quê, Hơng thơm, Mật đắng, Máu cuồng và hồn điên, Thợng thanh khí, Cẩm Châu Duyên…
Đặc biệt là cả hai vở kịch thơ: Duyên kỳ ngộ và Quần tiên hội Và trong “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một thi
nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Hoài Thanh giới thiêu với bạn đọc 7 bài thơ tiêu biểu của Hàn
Mặc Tử: Bẽn lẽn, Tình quê, Mùa xuân chín, Trờng tơng t, Ave Maria, Đêm xuân cầu nguyện, ra đời Nếu mới chỉ đọc phần đầu, ta tởng nh ngòi bút của Hoài
Thanh có phần “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một rụt rè” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , không dám đa ra những ý kiến phê bình của mình đối vớitác phẩm cuả Hàn Mặc Tử, tởng nh Hoài Thanh chỉ “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ẩn nấp” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một sau những nhà phêbình khác, tởng nh không còn thấy một Hoài Thanh đã từng say sa, từng triềnmiên cảm xúc với các thi nhân…Thực sự đến đây ta mới nhận ra ngòi bút củaHoài Thanh không hề thay đổi: Vẫn là những cảm nhận rất tinh tế của một conngời “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một lấy hồn ta để hiểu hông ngời” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Và hơn nữa, ngời đọc chúng ta nh có cảmgiác thậm chí Hoài Thanh có phần u ái hơn với Hàn Mặc Tử Bởi lẽ những tập thơtiêu biểu của Hàn Mặc Tử đều đợc Hoài Thanh cảm nhận và đánh giá rất chínhxác Ông thấy đợc màu sắc kỳ dị trong thơ Hàn Mặc Tử với những hình ảnh tangthơng, bi thảm Đặc biệt với những tập thơ đợc xếp vào trờng thơ “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một điên” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , HoàiThanh nh dẫn dắt ngời đọc vào một thế giới hoàn toàn xa lạ, ở đó có ánh trăng,
ánh nắng, có hơng khói hoà quyện vào nhau, mờ mờ ảo ảo Chẳng hạn khi nói về
tập hơng thơm, Hoài Thanh viết: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Ta bắt đầu bớc vào một nơi ánh trăng, ánh
nắng, tình yêu và cả ngời yêu đều nh muốn biến ra hơng khói” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,201] Hoặc khi
nói về tập Mật đắng, Hoài Thanh vẫn tiếp tục cái dòng suy tởng của mình: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Ta
vẫn đi trong mờ mờ Nhng thỉnh thoảng một luồng sáng lạ chói cả mắt Nguồnsáng toả ra từ một linh hồn vô cùng khổ não Ta bắt gặp dấu tích còn hoi hóp củamột tình duyên vừa chết yểu…” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,201] Thực ra những hình ảnh đó đối với tarất bình thờng nhng trong trí Hàn Mặc Tử – Một con ngời “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một sợng sần vì bệnhhoạn, điên cuồng vì đã quá đau khổ trong tình yêu” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một – thì lại rất dễ sợ Có khi chỉ
là một đám mây nhỏ in bóng dới dòng nớc cũng thành ra:
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Mây chết đuối ở dòng sông vắng lặng Trôi thây về xa tận cõi vô biên” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một
(Máu cuồng và hồn điên)
Đến đây, ngời đọc nhận thấy Hoài Thanh tỏ ra rất am hiểu thơ Hàn Mặc
Tử, nhà phê bình nh nắm bắt đợc cả tâm trạng của thi nhân, lý giải đợc những
Trang 28hình ảnh mà thi nhân đã sử dụng trong thi phẩm của mình Có lẽ điều đó xuấtphát từ sự đông cảm, xót thơng của nhà phê bình với những gì đau đớn nhất, cơcực nhất mà thi sĩ Hàn Mặc Tử đã phải trải qua Để rồi cuối cùng chính HoàiThanh đã quay lại tự trách những ngời làm công việc phê bình nh mình: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Không
có bao giờ tôi thấy cái việc phê bình thơ tàn ác nh lúc này Tôi nghĩ đến ngời đãsống trong một túp lều tranh…Mỗi bữa cơm đa đến ngời không sao nuốt đợc vì ănkhổ quá Cảnh cơ hàn ấy và chứng bệnh kinh khủng đã bắt ngời chịu bao nhiêuphũ phàng, bao nhiêu ruồng rẫy Sau cùng ngời bị vứt hẳn ra ngoài cuộc đời, bịgiữ riêng một nơi, xa hết thảy mọi ngời thân thích… Một ngời đau khổ nhờng ấy,lúc sống ta hững hờ bỏ quên, bây giờ mất rồi ta xem lại kẻ chê ngời khen Chêhay khen tôi đều thấy bất nhẫn” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,207]
Đọc những vần thơ của Hàn Mặc Tử, ngời đọc luôn thấy có sự đan xen giữamộng và thực, giữa sự sống và cái chết…Với cái mạch cảm xúc gần nh thế, đốivới Lu Trọng L, “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một trờng tình” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một của ông cũng có sự xen kẽ giữa mộng với thực VàHoài Thanh cũng đã cảm nhận rất rõ về điều ấy: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một …mỗi khi kể lại những chuyệnthực trong đời mình, ngời để xen vào rất nhiều chuyện mộng…Từ những kỷ niệmtơi sáng về ngời mẹ đã khuất, cho đến bao nhiêu buồn thơng, bao nhiêu chán nản,
bao nhiêu đau khổ về tình yêu, cả cái cảnh đời giá lạnh của đôi vợ chồng lúc tình già xế bóng, cùng cái thú ngây ngất của cuộc đời giang hồ, L đều kể cho ta nghe
một cách rất cảm động” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,281] Hoài Thanh còn khẳng định: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Mộng! Đó mới
là quê hơng của L” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,280] Từ những nhận xét ttên, nhà phê bình đã dẫn ranhững câu thơ tiêu biểu cho hồn thơ ấy:
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Còn đâu ánh trăng vàngMơ trên làn tóc rối ?
…
Đêm ấy xuân vừa sang
Em vừa hai mơi” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một
(Còn chi nữa - Tiếng thu)
Đến với thơ Lu Trọng L, ta nh đợc sống lại những trạng huống tinh vi trongthế giới tâm hồn của mỗi con ngời Đọc mỗi vần thơ, mỗi bài thơ ấy, ta có cảmgiác nh đợc hoà mình vào thế giới vừa mộng vừa thực mà thi nhân đã tạo ra, đúngthật là “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ta phiêu lu trong trờng tình cùng Lu Trọng L” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một nh Hoài Thanh đã nói
Say đắm trong giấc mộng tình yêu, trong những cảnh đời mà mộng nhiềuhơn thực…ở đó thi nhân đã tìm đợc cho mình một nguồn cảm hứng sáng tác đíchthực, để rồi sản sinh ra “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một những đứa con tinh thần” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ngoài “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một dự kiến ” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Vì thế, đọc
Trang 29thơ Lu Trọng L, ta không hề thấy có sụ gọt giũa về câu chữ, về hình ảnh mà chỉcảm thấy, nhìn thấy đợc tâm hồn nhà thơ đang trải dài trên trang sách Nhà phêbình Hoài Thanh đã rất tinh tế khi nhận ra đợc điều này: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Tôi biết có kẻ trách Lcẩu thả, lời biếng, không biết chọn chữ, không chịu khó gọt giũa câu thơ Nhng L
có làm thơ đâu, L chỉ để lòng mình tràn lan trên mặt giấy Tình đã gửi trong lờithơ, L không còn đoái hoài đến nữa ” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,281] Và Hoài Thanh còn nói trong lờikết với ý tơng tự nh vậy: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một …thơ L nhiều bài thực không phải là thơ, nghĩa lànhững công trình nghệ thuật, mà chính là tiếng lòng thổn thức cùng hoà theo tiếng
thổn thức cuả lòng ta” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,283] Và những bài thơ trong tập “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một tiếng thu” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một mà Hoài Thanh đã trích dẫn ra nh: Nắng mới, Thơ sầu rụng, Giang hồ, Tình điên, Còn chi nữa, Xuân về…có thể lấy làm minh chứng cho những điều ta đã nói.
Trở lại với khái niện ban đầu về phong trào thơ mới, điểm nổi bật nhất đểphân biệt phong trào thơ này với thơ ca trung đại trớc đó, ấy là sự khẳng định cáitôi cái nhân của ngời nghệ sĩ Các thi sĩ đã không còn bị gò bó trong cái khuônkhổ có sẵn, họ đợc phép sáng tác riêng theo những cảm hứng riêng của mình, theonhững hình thức thơ mà mình lựa chọn Nếu thế giới nghệ thuật trong thơ Thế Lữ
là chốn tiên cảnh mộng mơ, của Xuân Diệu là vờn tình ái đầy thiết tha rạo rực,của Huy Cận là không gian mênh mông của vũ trụ…thì Nguyễn Bính lại kháchẵn Ông chọn cho mình một không gian đầy quen thuộc để hồn thơ mình “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ẩnnáu” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một , đó là chốn làng quê yên ả thanh bình, với những “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một ngời nhà quê” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một mộc mạcgiản dị Tuy là nhà thơ xuất hiện vào thời điểm những năm cuối cùng của phongtrào thơ mới nhng không vì vậy mà Nguyễn Bính không gây đợc thiện cảm tronglòng ngời đọc Bởi lẽ đọc những bài thơ của Nguyễn Bính với hai mảng thơ chânquê và tha hơng, ta nh tìm thấy chính con ngời ta, gốc gác quen thuộc của ta từ x-
a Nhà phê bình Hoài Thanh đã nói: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một thơ Nguyễn Bính đã đánh thức ngời nhà quêvẫn ẩn náu trong lòng ta Ta bỗng thấy vờn cau bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiêncủa ta và những tính tình đơn giản của dân quê, là những tính tình căn bản của ta” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,337]
Quả thực trong thơ Nguyễn Bính đặc biệt với mảng thơ chân quê ta thấyxuất hiện một loạt những hình ảnh gần gũi quen thuộc với làng cảnh Việt Nam ta,
đó là giàn trầu, bụi chuối, khóm lau, là vờn chanh, dậu mồng tới Chẳng hạn nhnhững câu:
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Nhà nàng ở cạnh nhà tôiCách nhau cái dậu mồng tơi xanh rờn” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một
(Ngời hàng xóm )
Trang 30ở đó còn có cả những phong tục tập quán mang đậm bản sắc dân tộc nhnhững buổi hát chèo ở đình làng, những ngày lễ hội, tiêu biểu nh cảnh đi trẩy hộichùa cũng xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính:
“Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Trên đờng cát mịn một đôi cô
Yếm thắm, khăn thâm, trẩy hội chùaGậy trúc dắt bà già tóc bạc
Lần lần tràng hạt miệng nam mô” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một
(Xuân về)
Không gian trong thơ Nguyễn Bính là không gian đặc trng của xứ Bắc.không gian này ta còn bắt gặp trong thơ của Bàng Bá Lân với cảnh tra hè oi ảbuồn thiu trong bài “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Tra hè” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Hay những bức tranh nhộn nhịp sự sống trong thơ
Đoàn Văn Cừ nh Hoài Thanh đã nhận xét trong “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một : “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một bức tranhnào cũng đầy rẫy sự sống và rộn rịp những hình sắc tơi vui Mỗi bức tranh là mộtthế giới linh hoạt Ngời xem tranh hoa mắt vì những nét những màu hình nh rối rítcả lại, nhng nhìn kỹ thì màu nào nét nào cũng ngộ nghĩnh vui vui” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,183] HoàiThanh đã không quên dẫn ra những câu thơ tiêu biểu, kèm theo cả những lời giớithiệu rất cụ thể: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Đây, trong chợ tết, bên cạnh thầy khoá đang gò lng viết:
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằmMiệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏKia, giữa đám hội nhà quê:
Chiếc ô đen lẵng lặng tiến ra cầuTìm đến chiếc san màu bay trớc gió” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một [14,183]
Đọc những vần thơ của Nguyễn Bính hay Đoàn Văn Cừ, ta tởng nh nỗibuồn nỗi sầu trong thơ mới đã hoàn toàn khép lại ở thi sĩ Huy Cận, mà ngay cảHoài Thanh cũng có ý thừa nhận điều đó Nhng khi đợc tiếp xúc với hồn thơ của
Vũ Hoàng Chơng, ngời đọc thực sự thấy rằng đây mới là nhà thơ cuối cùng đóngkhép lại tất cả những gì buồn thơng sầu não nhất của những con ngời nhạy cảmvới thời thế Nhng nếu Thế Lữ tìm chốn thoát ly là cõi tiên xa vời, Huy Cận tìm
đến không gian bao la của vũ trụ để tìm niền vui, niền an ủi; Lu Trọng L thì lạcvào chốn trờng tình đầy mộng ảo…chung quy lại đều là những nơi thanh cao vớicảnh sắc tơi đẹp thì Vũ Hoàng Chơng lại khác: Thi nhân tìm cho mình một con đ-ờng riêng để thoát ly, đó là chìm ngập trong những cơn say triền miên mang phầntrụy lạc Hoài Thanh phát hiện ra trong thơ Vũ Hoàng Chơng có nhiều cái say nh-
ng ông lại biện minh cho những cái say ấy của thi sĩ rốt cuộc cũng chỉ để say thơ,tức là say để làm thơ: “Thi nhân Việt Nam” (Hoài thanh –Hoài Chân) với một Ngời say đủ thứ: say rợu, say đàn, say ca, say tình đong đ-
a Ngời lại còn hơn cổ nhân những thứ say mới nhập cảng: say thuốc phiện, say