Một lần nữa trong cuốn giáo trình Văn học Việt Nam 1900 – 1945 của NXB Giáo dục năm 1997, Phan Cự Đệ nhận định: “Tiểu thuyết – tự truyện dễ tạo nên ở bạn đọc một sự đồng cảm, gần gũi và
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Trang 2-&²& -Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tự truyện là một loại thể loại mới, ra đời với cuộc vận động hiện đạihoá của văn học Việt Nam thế kỷ XX và hiện nay đang đợc bạn đọc đón nhận rấtnồng nhiệt Đây là một thể loại nhằm đáp ứng nhu cầu, ớc muốn chia sẻ, giãi bàycủa chủ thể sáng tác…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằngNếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằngtrong lĩnh vực văn xuôi, thể loại tự truyện coi trọng cá nhân hơn cả Bởi nhiều lý
do, trong nền văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, tự truyện ngày càng phát
triển và thu đợc những thành tựu đáng trân trọng Trong đó, Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Sống nhờ của Mạnh Phú T là các cuốn dành đợc nhiều sự
quan tâm của độc giả
1.2 Nguyên Hồng và Mạnh Phú T đợc xem là những hiện tợng độc đáo,tiêu biểu cho văn học Việt Nam trớc cách mạng tháng Tám Với năng lực sángtác dồi dào trên nhiều lĩnh vực hai tác giả này đã đóng góp đáng kể cho sựnghiệp văn học dân tộc Trong đó các tiểu thuyết tự truyện góp phần làm vẻ vangcho văn nghiệp của họ Tìm hiểu tiểu thuyết tự truyện của các nhà văn trên tahiểu thêm về thế giới tâm hồn và phong cách của từng cây bút, đồng thời cũngthấy nét chung trong sáng tác của hai tác giả Vậy nên, muốn tiếp cận với sựnghiệp văn chơng của Nguyên Hồng và Mạnh Phú T không thể không nghiêncứu các tự truyện của các nhà văn này
1.3 Thể loại là một trong những phạm trù cơ bản nhất của lịch sử văn học,một đối tợng quen thuộc của nghiên cứu phê bình, giảng dạy văn học Đặc trngthể loại quy định cách kiến thiết, tổ chức tác phẩm (đối với ngời sáng tác), quy
định hớng tiếp cận (đối với ngời tiếp nhận) Do đó, tìm hiểu thể loại tự truyện
qua Những ngày thơ ấu và Sống nhờ sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn đặc điểm của
thể loại tự truyện, giảng dạy tốt hơn các tác phẩm này ở các bậc nhà trờng hiệnnay
Trang 31.4 Từ trớc tới nay đã có hàng chục công trình nghiên cứu, bài viết về
một cách có hệ thống về hai tác phẩm này từ đặc trng của thể loại và vận dụngphơng pháp so sánh để thấy nét tơng đồng về khác biệt giữa chúng với nhau cũng
nh với tác phẩm cùng loại khác Vì thế đề tài “thể loại tự truyện qua Những
góp khiêm tốn về mặt lý luận, về phơng diện sáng tác cũng nh giảng dạy trongnhà trờng
2 Lịch sử vấn đề
Thể loại tự truyện xuất hiện muộn vào nửa đầu thế kỷ XX Do thành tựunghiên cứu về thể loại này cha nhiều Nhng có một số ý kiến rất đáng đợc ghinhận
Các tác giả trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học nhận định tự truyện là:
“Tác phẩm văn học thuộc loại tự sự, tác giả tự viết về cuộc đời mình” [16; 329].
Lại Nguyên Ân cũng có cùng quan điểm với các tác giả trên và nhấn
mạnh thêm: “Tác phẩm tự truyện có thiên hớng lý giải cuộc sống đã qua của tác giả …Do vậy tự truyện th Do vậy tự truyện th ờng viết khi tác giả đã trởng thành, đã trải qua phần lớn các đoạn đời mình” [2; 363, 364]
Nguyên Hồng và Mạnh Phú T là hai tác giả tiêu biểu cho văn học hiện
thực phê phán 1930 – 1945 Những ngày thơ ấu (1938), Sống nhờ (1942) là
hai tác phẩm xuất sắc của hai ông và cho thể loại tự truyện cho nên có khá nhiều
đánh giá của các nhà nghiên cứu
Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, đã điểm rất trúng mặt mạnh, mặt yếu của
khá nhiều cây bút Ông đánh giá cao tính chân thực của cuốn tự truyện Những
ngày thơ ấu: “Trong Những ngày thơ ấu, Nguyên Hồng đã cho ta biết hẳn một
quãng đời quá khứ của ông Lối tự truyện này ở Anh, ở Mỹ, ở Nga, rất thịnh hành; Nhng ở Việt Nam ta, viết đợc tôi cho là can đảm lắm ” [29; 45].
Ông cho rằng Nguyên Hồng lúc viết cuốn tự truyện Những ngày thơ ấu
đã “trút bỏ hết những thành kiến”, “đặt mình lên trên tất cả d luận nên ông đã”
đạt đợc cái tầm chân thực mà thờng chỉ các nhà văn Anh hay các nhà văn Nga mới đạt tới” [29; 217].
Trang 4Năm 1983 khi viết lời giới thiệu tuyển tập Nguyên Hồng, Phan Cự Đệ
nhận xét về cuốn tiểu thuyết tự truyện Những ngày thơ ấu Ông cho rằng sức
hấp dẫn của tiểu thuyết tự truyện này là ở “những cảm xúc tơi mới, trong sáng dào dạt của một cây bút trẻ đang dễ xúc động, dễ ngạc nhiên trớc cuộc sống, bởi những kỷ niệm đau xót, những rung động chân thành của một linh hồn trẻ dại
nhận thấy “Những ngày thơ ấu là những lời tâm sự thiết tha, thầm kín, những
hồi ức của một cái tôi đau khổ tự trình bày cuộc đời riêng t của mình lên trang giấy một cách chân thành, tin cậy” [9; 461] Thông cảm, đồng cảm sâu sắc với tác giả của cuốn truyện Phan Cự Đệ viết: “Trong tập hồi ký xúc động này Nguyên Hồng đã lắng nghe đợc những âm vang sâu lắng của tâm hồn, ghi nhận những cảm giác tinh tế từ bên trong và miêu tả chúng bằng cái nhìn hồn nhiên, t-
ơi sáng của tuổi thơ, khiến cho ta có cảm tởng thú vị nh đợc đa trở về thời thơ ấu của nhân loại” [9; 462].
Một trong những nhà phê bình luôn dành tài năng tâm huyết của mình cho
những sáng tác của Nguyên Hồng đó là Nguyễn Đăng Mạnh Ông viết: “Nói đến thế giới nhân vật của Nguyên Hồng không thể không kể đến hình ảnh cảm động của những trẻ em nhà nghèo Đó là những sinh mệnh đáng thơng, những số phận tội nghiệp mà chính ông đã trải qua thời thơ ấu Những hình tợng nhân vật này,
dù đợc khắc hoạ đậm nét hay chỉ thấp thoáng, đều hết sức ám ảnh đối với tâm t
ngời đọc” và cho rằng “Những ngày thơ ấu là tập hồi ký về tuổi thơ Nguyên
Hồng Nội dung và thể tài của tác phẩm đều rất phù hợp với phong cách của nhà văn Mỗi chơng sách là một kỷ niệm, một bài thơ trữ tình ghi lại những rung
động cực điểm của một linh hồn trẻ dại”[29; 85].
Một lần nữa trong cuốn giáo trình Văn học Việt Nam 1900 – 1945 của
NXB Giáo dục năm 1997, Phan Cự Đệ nhận định: “Tiểu thuyết – tự truyện dễ tạo nên ở bạn đọc một sự đồng cảm, gần gũi và tin cậy, một sự xúc động sâu
cái tôi tâm sự thầm kín với bạn đọc nh với những ngời thân nhất của mình, đã tạo ra một mối quan hệ dân chủ, tin yêu và thông cảm lẫn nhau giữa nhà văn và công chúng …Do vậy tự truyện th điều ta muốn nhấn mạnh là khi Nguyên Hồng viết tiểu thuyết mang lối tự truyện anh không sử dụng những sự kiện của cái hôm nay mà là những hồi ức, những kỷ niệm Qua sự chọn lọc và sự đào thải của thời gian, những kỷ niệm, những cảm giác từ tuổi ấu thơ còn lại đến bây giờ, phải là những gì thật sự lắng đọng, mạnh mẽ và sâu sắc đến mức có thể đi mãi với ta trong suốt cuộc đời…Do vậy tự truyện thở nớc ta, có lẽ Những ngày thơ ấu đã mở đầu thể loại tiểu thuyết tự
Trang 5Cũng nh Nguyễn Đăng Mạnh, nhà phê bình Phan Cự Đệ rất quan tâm đến
màu sắc trữ tình, lãng mạn trong Những ngày thơ ấu: “Nguyên Hồng đã miêu tả
một thiên nhiên đầy thanh sắc và tất cả đều đợc thể hiện qua màu sắc chủ quan
Nhà thơ Huy Cận trong bài Một vài kỷ niệm về Nguyên Hồng, viết “Tôi
yêu văn Nguyên Hồng có tâm hồn, một thứ lửa rạo rực bên trong Nhiều đoạn
trong Những ngày thơ ấu có chất thơ kín đáo, chất thơ toát lên từ cuộc đời chứ
nhất là một số nhà văn tiểu thuyết thứ bảy” [29; 214].
Về số lợng, tự truyện và hồi ký của Nguyên Hồng không nhiều, nhng tự
truyện của ông là một mảng sáng tác quan trọng Vơng Trí Nhàn viết: “Cũng nh văn Thạch Lam, văn Nguyễn Tuân, văn xuôi Nguyên Hồng là một thứ sản phẩm giàu tính chất tự truyện Trong thế giới nhân vật của Nguyên Hồng đợc nhìn nhận, xét đoán, rồi rên rỉ phẫn nộ, đau khổ …Do vậy tự truyện th là nhờ cái nhìn của nhân vật chính, đó là nhân vật mang tính chất tự truyện của ông” [29; 214].
Nhà văn Bùi Hiển trong Nguyên Hồng - ánh sáng và cát bụi đã khẳng
định giá trị bền vững của Những ngày thơ ấu Ông gọi ra cái tạng của Nguyên
Hồng là “bồng bột, thiết tha” Trong cuốn tự truyện đầy xúc động của mình
Nguyên Hồng đã: “khát khao ghi liền một mạch cái nỗi niềm tâm sự …Do vậy tự truyện th viết cho chính mình, viết để giải thoát mình khỏi tất cả những nỗi ám ảnh nặng nề, những oán hờn cay đắng, và cả những lời xót thơng quằn quại đang cứu lòng mình nh bấy nhiêu lỡi dao sắc nhọn” [29; 214].
Nguyễn Đăng Điệp cũng viết : “Nguyên Hồng có cách viết hồi ký rất riêng Nhà văn không hề tái hiện sự kiện theo kiểu biên niên khô cứng mà trên cái nền sự kiện, biến cố, ông tập trung vào những điểm chính yếu, sinh động nhất để dựng lại linh khí thời quá vãng Cái mà Nguyên Hồng quan tâm hơn cả
là làm sao để thể hiện một cách thật chính xác tâm trạng mình trong những thời khắc khó quên ấy Hồi ký của ông, vì thế, có thể coi là hồi ký tâm trạng ” [29;
231] Tác giả cho rằng, đặc điểm nữa dễ nhận ra trong hồi ký Nguyên Hồng làchất thơ, chất trữ tình trỗi át chất phân tích, tự sự Thực ra điều này xuất phát từmạch chung của Nguyên Hồng, thứ văn giàu tình cảm nồng say Nguyễn Đăng
Điệp viết tiếp: “Văn ông đã nói đợc nỗi lòng của ông, tâm trạng của ông Điều
này đợc thể hiện một cách nhuần nhuyễn trong Những ngày thơ ấu, khiến cho
tác phẩm trở thành một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyên Hồng góp vào nền văn học Việt Nam hiện đại” [29; 234, 235].
Trang 6Trần Đăng Xuyền trong cuốn Nhà văn – hiện thực đời sống và cá tính
niềm khao khát thể hiện đầy đủ, sâu sắc và đến tận cùng những nỗi khổ đau uất
ức của những ngời dân lao động nghèo khổ mà trớc hết là phụ nữ và những đứa trẻ bất hạnh Một tình cảm vừa nồng nàn, sôi nổi, vừa mãnh liệt, thống thiết đối với những con ngời cùng khổ, những con ngời dới đáy của xã hội số phận chịu
đủ khổ đau bất hạnh trên đời, qua đó, thể hiện niềm tin không gì lay chuyển đợc
ở phẩm chất tốt đẹp của nhân dân lao động” [77; 305].
Từ nhận xét của các nhà văn, nhà phê bình về Nguyên Hồng nói trên, cóthể nhận thấy, đóng góp của ông đối với văn học Việt Nam trớc cách mạngtháng Tám nói chung và thể loại văn tự truyện là đáng đợc ghi nhận
Mạnh Phú T xuất hiện trên văn đàn muộn hơn nhiều nhà văn khác, có lẽ
do vậy mà cha đợc chú ý nhiều Song ông thực sự là cây bút có năng lực: chỉtrong vòng 4 năm (từ 1939 - 1942) mà có đến 5 tiểu thuyết và một tập truyệnngắn đợc xuất bản Ông cũng là một gơng mặt đáng đợc ghi nhận trong trào luhiện thực phê phán 1930 – 1945
Trong số các tác phẩm của ông, Sống nhờ là cuốn tự truyện có nội dung
hiện thực phong phú, giàu tính trữ tình, mang tinh thần nhân đạo chân thật vàthắm thiết nhất Cũng nh các nhà văn khác cùng thời, Mạnh Phú T đã lột tảnhững hiện thực xấu xa của xã hội lúc bấy giờ, đặc biệt là những mâu thuẫn daidẳng bên trong gia đình nông dân do chế độ t hữu và tâm lý cổ hủ của ngời sảnxuất nhỏ gây ra
So với Nguyên Hồng ý kiến về Mạnh Phú T không nhiều bằng, nhng đã cónhững bài viết đề cập và đánh giá cao những giá trị nội dung t tởng trong cácsáng tác của ông Sau đây là một số bài viết tiêu biểu:
Bùi Huy Phồn (Tạp chí văn nghệ số 30/1959) với bài viết Sống nhờ của
tiểu thuyết ý kiến của tác giả của bài viết nói chung là đúng mực và xác đáng
khi khẳng định những thành công và giá trị cơ bản của tác phẩm Ông viết: “ Bộ mặt trái của xã hội cũ ở nông thôn Việt Nam thối nát, lọc lừa, kèn cựa tàn nhẫn với cái luân lí vô lí vô đạo đức không còn chút gì nhân đạo của bộ thống trị xa kia Thông qua các nhân vật đợc phản ánh lại tuy cha đầy đủ nhng cũng khá là chân thực” [55; 110]
Trang 7Bên cạnh đó ông cũng đa ra nhận xét đáng lu ý về vấn đề quyền sống củangời phụ nữ Việt Nam và quyền sống của trẻ mồ côi trong xã hội cũ Họ đều trở
thành những nạn nhân đáng thơng bị tớc đoạt về tình cảm và “bị tớc đoạt quyền sống tối thiểu của con ngời Thân phận ngời phụ nữ Việt Nam thông qua mẹ Dần cũng chỉ là một thứ hàng đổi chác rẻ mạt luôn luôn đợc đa lên bàn tính” [55;
111, 112]
Viết ái (Báo văn học số 77.1960) đã viết bài Đọc Sống nhờ của Mạnh
Sống nhờ để nêu bật những thành công và nhợc điểm của cuốn tiểu thuyết đó.
Tác giả đánh giá cao tính nhân đạo và giá trị tố cáo của tác phẩm Sống nhờ cũng
nh vị trí xứng đáng của nhà văn trong dòng văn học Việt Nam hiện thực đơng
thời Sau đó bài viết khẳng định: “Nghệ thuật của Mạnh Phú T trong Sống nhờ
đã đạt đến độ chín và điêu luyện hơn so với những tác phẩm trớc kia …Do vậy tự truyện th và Sống
Sau đó sáu năm, Nguyễn Đức Đàn trong cuốn Mấy vấn đề văn học hiện
nhờ và coi đó là một “cuốn tiểu thuyết tự truyện về cuộc sống đoạ đày của một
em bé, nạn nhân của xã hội phong kiến thối nát”[8; 43].
Nguyễn Trác trong Lịch sử văn học Việt Nam, tập 5, NXB GD, HN, 1962
cũng nhắc đến Mạnh Phú T tới ba lần khi viết về sự phát triển của tiểu thuyếttrong dòng văn học hiện thực nớc ta từ 1930 – 1945 nói chung và chặng đờng
1940 – 1945 nói riêng Tuy chỉ điểm qua nhng Sống nhờ đã đợc nêu lên nh
một sự khẳng định về mặt đề tài và chủ đề Đó là “chuyện về chuỗi ngày nhọc nhằn tủi nhục mà những ngời lao động ở nông thôn kéo dài lê thê vô vọng trong gia đình Mạnh Phú T kết án cái xã hội vì tiền mà cả những ngời thân thích cũng
đối xử với nhau không ra gì” [49; 115, 173, 179].
Năm 1983, NXB văn học cho tái bản lần hai cuốn tiểu thuyết Sống nhờ.
Phần giới thiệu đa ra những nhận xét đánh giá một cách cô động và hoàn chỉnh
về giá trị nội dung t tởng của cuốn sách Sống nhờ, khẳng định: “Sống nhờ khai
thác những mâu thuẫn dai dẳng bên trong những gia đình nông dân do chế độ t hữu và tâm lý cổ hủ của ngời sản xuất nhỏ gây ra …Do vậy tự truyện th Qua Sống nhờ một vấn đề khác cũng nổi lên khá đậm là tình cảnh ngời phụ nữ đầy ải bởi những hủ tục
phong kiến” [69; 3] Kết luận, Sống nhờ “là một trong những tác phẩm có giá trị
trong trào lu văn học hiện thực những năm 1940 - 1945” [66; 4] là rất xác đáng
Trang 8Nguyễn Hoành Khung (trong Từ điển văn học tập 2, NXB KHXH 1983 1984) đã điểm qua về nội dung và nghệ thuật của Sống nhờ: “tác phẩm chủ yếu
-đi vào quan hệ gia đình ở nông thôn, nghiêng về sinh hoạt, phong tục, và ở
Mạnh Phú T trong Sống nhờ vừa có sự phân tích sắc sảo, tỉnh táo, vừa thấm đợm trữ tình Tác phẩm có những trang linh hoạt và cảm động” [52; 312]
Vũ Ngọc Phan, trong phần giới thiệu Sống nhờ đã đánh giá “là tác phẩm
tiêu biểu và có giá trị hơn cả của Mạnh Phú T, cũng nh hầu hết sáng tác của
ông Sống nhờ có tính chất Việt Nam đặc biệt” [52; 313].
Năm 2001 NXB văn học cho ra đời cuốn Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt
chủ biên đã tóm tắt chi tiết khá đầy đủ về nội dung tác phẩm Sống nhờ Tác giả
nhấn mạnh đến giá trị hiện thực của tác phẩm và cho rằng: “Tiểu thuyết có ý nghĩa xã hội trong việc tố cáo chế độ phong kiến đã chà đạp lên quyền sống của con ngời Mạnh Phú T đã tỏ ra am hiểu phong tục, tập quán của ngời dân thôn quê Ông có nhận xét tinh tế, cùng một giọng văn thành thực và xúc động …Do vậy tự truyện th Nghệ
thuật trong Sống nhờ đã đạt đến độ chín khi thể hiện thế giới nội tâm phong phú
và phức tạp của con ngời …Do vậy tự truyện th Với Sống nhờ nhà văn đã tạo đợc vị trí nhất định trong dòng văn học hiện thực Việt Nam” [51; 893].
Bên cạnh các ý kiến của các nhà văn, nhà phê bình kể trên, có thểthấy các nhận xét về Nguyên Hồng và Mạnh Phú T qua một số luận văn,luận án sau đây:
Lê Hồng Mi với luận án tiến sĩ năm 2005: Lời văn nghệ thuật của
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Nguyên Hồng và Mạnh Phú T là hai hiện tợng độc đáo Tuy nhiên trong
Trang 9Trình bày cơ sở hình thành và phát triển của thể loại tự truyện trong vănhọc Việt Nam thời kỳ 1930 -1945.
Tìm hiểu một số đặc trng về nội dung của thể loại tự truyện và sự thể hiện
của chúng qua hai cuốn Những ngày thơ ấu và Sống nhờ.
Chỉ ra những đặc trng về nghệ thuật của thể loại tự truyện biểu hiện qua
Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng và Sống nhờ của Mạnh Phú T.
ở mức độ nhất định, chúng tôi cố gắng so sánh với các tác phẩm tự truyệncủa Nam Cao, Tô Hoài …Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằng, từ đó, làm sáng tỏ thêm các đặc điểm về nội dung vànghệ thuật của thể loại tự truyện và hai cuốn của Nguyên Hồng và Mạnh Phú T
Những ngày thơ ấu và Sống nhờ Từ đó góp phần hữu ích cho việc phê bình
nghiên cứu, giảng dạy và học tập tác phẩm Nguyên Hồng và Mạnh Phú T trongnhà trờng
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn chúngtôi triển khai trên ba chơng:
Chơng 1 Một số vấn đề lý thuyết về thể loại tự truyện Vị trí văn học của
hai tự truyện Những ngày thơ ấu và Sống nhờ
Chơng 2: Đặc trng nội dung thể loại tự truyện đợc thể hiện qua Những
ngày thơ ấu và Sống nhờ
Chơng 3: Đặc trng nghệ thuật của thể loại tự truyện qua hai cuốn Những
ngày thơ ấu và Sống nhờ
Nội dung
Ch ơng 1
Một số vấn đề lý thuyết về thể loại tự truyện vị trí văn
1.1 Khái niệm tự truyện
Trang 10Trong thực tế văn học, cùng một tác phẩm có khi ngời ta gọi bằng nhiềuthể loại khác nhau, nhất là cha có sự phân biệt rõ ràng giữa hồi ký và tự truyện.
Đây là hai khái niệm gần gũi, vì thế tài liệu này gọi là tự truyện, tài liệu kia gọi
là hồi ký Do chúng có những điểm giống nhau rất cơ bản nên nhiều khi các nhànghiên cứu không phân biệt Nhng xét về mặt lý luận chúng tôi nhận thấy giữachúng có những nội dung không trùng khít
Cả hồi ký và tự truyện đều kể lại, thuật lại cái đã qua Nhng ở hồi ký, viết
về cái đã qua có khi tác giả là nhân vật trung tâm, có khi tác giả đợc nghe, đợcsống trong không khí đó và kể lại ở tự truyện cái tôi của ngời viết là trung tâm,trung tâm của sự kiện, của cách trần thuật, là truyện của chính mình, tác giả giãibày những điều mình đã chứng kiến và trải nghiệm Còn hồi ký cha hẳn lấy mình
ra làm chính mà chỉ viết ra để ngời khác biết về lịch sử, con ngời, văn hoá, dân
tộc Võ Nguyên Giáp viết hồi ký Nhân dân ta rất anh hùng (do Hữu Mai ghi
lại) kể lại rất tự hào về nhân dân ta trong những ngày cách mạng Nhng ông chỉ
là ngời chứng kiến, là thành viên của lịch sử chứ cha phải là trung tâm của câuchuyện Hồi ký đó trực tiếp mang không khí, bóng dáng của lịch sử, còn tựtruyện gắn liền với số phận cá nhân, qua cá nhân biết về lịch sử chứ không trựctiếp viết lịch sử Một tác phẩm tự truyện đợc coi là giá trị là tác phẩm phản ánhchân thực đời t của chủ thể sáng tác và đời t đó bằng cảm xúc và các thủ phápnghệ thuật riêng nhà văn tác động sâu sắc đến sự đồng cảm và xúc động của ng-
ời đọc Hơn nữa từ cái nhìn về cuộc đời riêng tác giả cho ta hiểu về con ngời, xãhội, thời đại Cái sung sớng của ngời đọc là tiếp xúc với tác phẩm “vừa thấy cả
cây vừa thấy cả rừng” Các tác phẩm tự truyện nh Những ngày thơ ấu, Cỏ dại,
có sức sống vững bền trong lòng bạn đọc gần một thế kỷ qua
Là một thể tài mang tính giáp ranh, tự truyện vẫn có sự khác biệt so vớicác thể tài lân cận nh tiểu sử, nhật ký, tự thuật…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằng Nếu ngời viết tự truyện tậptrung vào quá trình hình thành và lịch sử thế giới nội tâm của mình trong sự tơngtác với thế giới bên ngoài, thì các tác giả ghi lại tiểu sử, hồi ký, nhật ký…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằng ờng th
lu ý đến cái thế giới bên ngoài ấy, đến những ngời mình đã gặp, những việc mình
đã thấy hoặc đã tham dự Nhất là ít có ranh giới tuyệt đối giữa tự truyện và hồi
ký ở những tác phẩm cụ thể ta dựa vào điểm trội của tác phẩm đó về hồi ký hay
tự truyện để xác định thể loại cho chúng
Trang 11Tự truyện còn tơng đối gần gũi với tiểu thuyết, nhất là tiểu thuyết có nhânvật kể chuyện ở ngôi số ít (tôi), có tham vọng ghi lại lịch sử tâm hồn con ngời từ
“cái nhìn bên trong” Do đó ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu gọi một số tác
phẩm là tiểu thuyết tự truyện, chẳng hạn Sống nhờ và Những ngày thơ ấu Cách
gọi nh vậy cũng có cơ sở vì: Cũng nh tiểu thuyết, các tự truyện nhìn nhận cuộcsống dới góc độ đời t cá nhân, nhân vật trong tự truyện cũng là những con ngờinếm trải, thành phần tạo nên tác phẩm không chỉ cốt truyện và tính cách nhânvật mà còn những suy t của nhân vật về thế giới, đời ngời, phân tích cặn kẽ diễnbiến tình cảm…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằngNhng trong tiểu thuyết con ngời cá nhân là bất kỳ ai trong xã hộigây đợc sự xúc cảm cho ngời viết đều có thể trở thành nhân vật trung tâm, còntrong tự truyện cái tôi của tác giả nhất thiết phải là trung tâm của tác phẩm Hơnnữa, khoảng cách giữa ngời trần thuật và nội dung trần thuật trong tự truyệnkhông những bị xoá bỏ nh trong tiểu thuyết mà còn trùng khít trong bản thân tácgiả Vậy nên, đặt tên gọi tiểu thuyết tự truyện cho các tác phẩm này sẽ khái quát
đầy đủ hơn những đặc điểm thể loại của chúng Nhất là các tác phẩm này ra đờitrong thời điểm mà sự đan xen thể loại đang diễn ra mạnh mẽ trong văn học.Mặc dù vậy, nếu nắm vững lý thuyết thể loại và xem xét tính trội của chúng ởtrong từng cuốn sách ta dễ dàng nhận diện và định hớng tên gọi thể loại cho mỗi
một tác phẩm cụ thể Chúng tôi cho rằng xếp Những ngày thơ ấu và Sống nhờ
vào thể loại tự truyện là phù hợp căn cứ vào tính trội về thể loại này của chúngthể hiện trong hai cuốn nói trên
Trang 12Tự truyện là một thể loại thuộc loại hình văn học tự sự do tác giảviết về cuộc đời mình, nó khác hẳn với bản tự thuật về tiểu sử, lý lịch củanhà văn “Nếu tự thuật yêu cầu nhà văn phải trình bày một cách súc tíchnhững sự kiện xảy trong cuộc đời nhà văn thì tự truyện lại yêu cầu nhà văntái hiện lại đoạn đời đã qua của mình trong tính toàn vẹn cụ thể – cảmtính phù hợp với lý tởng xã hội thẩm mỹ” [16; 389] Nhà văn viết tựtruyện nh đợc sống lại một lần nữa đoạn đời đã qua của mình, đời t củanhà văn chỉ là chất liệu hiện thực đợc tác giả sử dụng với nhiều mục đíchkhác nhau Họ thờng chỉ chọn một hay vài ba quãng đời nào đó để lạitrong mình ấn tợng sâu sắc nhất, có ảnh hởng quan trọng với hớng đi cuộc
đời mình và dựng lại cả một bức tranh toàn cảnh sinh động, chân thực vềcuộc sống mà trong đó bản thân con ngời tác giả là nhân vật hoạt độngchính Trong tác phẩm tự truyện những sự việc những, biến cố, nhữngnhân vật v.v…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằngđều đợc lấy từ cuộc đời thật của tác giả, ít có sự h cấu thêmhoặc không có sự h cấu tự do nh trong các tác phẩm thuộc loại tiểuthuyết.Chúng tôi nhận thấy, một cách sâu sắc, cái mà tự truyện thu hútmạnh mẽ ngời đọc là ở chỗ: nó sống động, bề bộn, phức tạp, nhiều nghịch
lý và bất ngờ nh cuộc sống thật đang diễn tiến, nó lôi cuốn con ng ời tacùng can dự và nghĩ suy về nhân tình thế thái của một thời đã qua trong sựliên tởng và ám ảnh gợi ra từ những câu chuyện đợc kể lại Đọc tự truyện,ngời ta thấy cái thú vị nồng nàn là đợc sống sâu rộng hơn, thấm thía hơn,vì ở đời không ai đợc sống trọn vẹn, không một ai đợc sống với tất cả giácquan, rung động với tất cả mọi hành vi cùng tởng tợng bồng bột thâmtrầm Nhất là cùng hồi tởng lại quá khứ của mình trong mối liên t ởng vớituổi thơ, tuổi trẻ của chính tác giả, đối tợng chính mà tự truyện hớng tới
Tự truyện là thể loại ra đời muộn vào đầu thế kỷ XX, nhng thu đợc không
ít thành tựu Sự phát triển của thể loai văn học này đã đem đến cho văn học ViệtNam sự mới mẻ, đa dạng và phong phú với sự tham gia sáng tác của không ít nhàvăn đơng thời nh Nguyên Hồng, Mạnh Phú T, Tô Hoài, Nam Cao…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằng.Có thể nóithể loại tự truyện mặc dù cha thật nhiều về số lợng, song mãi mãi có chỗ đứngriêng, một con đờng đi riêng để tiếp cận với bạn đọc xa gần trong cả nớc
1.2 Cơ sở hình thành và phát triển của thể loại tự truyện
1.2.1 Bối cảnh lịch sử
Trang 13Mỗi một thể loại có chức năng, nội dung, thi pháp riêng Nó ra đời đềuchịu sự tác động của hoàn cảnh lịch sử Với những thể loại xuất hiện vào thời đại
bị sự ràng buộc nghiêm khắc của quy phạm, luật lệ không thể có đợc sự sáng táctheo ý muốn chủ quan của tác giả Nữ sĩ Hồ Xuân Hơng xa dù cố gắng phá cách
đến đâu cũng không vợt qua đợc hàng rào của thể thơ đờng luật Chỉ trên nềntảng của một xã hội mới, văn học khi đó thực sự mới phát huy quyền làm chủcủa mình Cùng với quá trình hiện đại hoá của dân tộc thể loại tự truyện đã ra
đời Đây là thể loại thể hiện ý thức cá nhân của con ngời rất rõ rệt, nhất là cái tôicủa tác giả đợc xem là trung tâm, là linh hồn của câu chuyện kể, điều mà vănhọc trớc đó cha có đợc Do đó, phạm trù thể loại mang đậm tính lịch sử, thời đại,tính dân tộc
Thể loại tự truyện ra đời vào giai đoạn 1930 – 1945 của lịch sử Đây làthời kỳ đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp hết sức gay gắt, từ đó dẫn đếnnhững cuộc đấu tranh trên lĩnh vực t tởng, ý thức hệ, những sự tác động qua lạihết sức phức tạp của khuynh hớng và phơng pháp sáng tác khác nhau Đó là thời
kỳ chủ nghĩa thực dân kiểu cũ sắp đến ngày cáo chung trên bán đảo Đông Dơng,thực dân Pháp ngày càng phơi trần bộ mặt nham hiểm và tàn bạo, còn bọn phátxít Nhật thì nuôi tham vọng làm bá chủ vùng châu á - Thái Bình Dơng nhng từnăm 1930 dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dơng, phong trào côngnhân và các phong trào yêu nớc khác nh những đợt sóng thần, ngày một dângcao
Đấu tranh dân tộc đấu tranh giai cấp tất yếu sẽ dẫn đến những cuộc đấutranh của các hình thái ý thức trong kiến trúc thợng tầng Hệ t tởng t sản (baogồm cả t tởng thực dân) cấu kết với hệ t tởng phong kiến lỗi thời Đấu tranhchống lại hệ t tởng thống trị đó là hệ t tởng vô sản và những khát vọng dân tộcdân chủ xã hội chủ nghĩa của tầng lớp nông dân, tiểu t sản thành thị yêu nớc.Trong lĩnh vực văn học, đó là cuộc đấu tranh, đồng thời cũng là sự tác động qualại giữa các nền văn học cách mạng, văn học hiện thực phê phán, văn học lãngmạn tiến bộ và văn học lãng mạn tiêu cực tiến bộ trộn lẫn với văn học suy đồikhác
Trang 14Do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 -1933 của nền kinh tế tbản của chủ nghĩa t bản, thực dân Pháp càng tăng cờng bóc lột nhân dân ta.Chúng đặt thêm nhiều thứ thuế mới và còn khuyến khích dân ta vào lối sống ănchơi sa đoạ, nhằm mục đích phục vụ chính sách ngu dân và truỵ lạc hoá thanhniên Xã hội thực dân phong kiến, ở nông thôn cũng nh thành thị ngày càng bộc
lộ những ung nhọt đang tấy lên, công khai trầm trọng không thể nào che dấu
đ-ợc Song song với chính sách bóc lột về kinh tế là chính sách khủng bố trắngnhằm đàn áp khởi nghĩa Yên Bái và phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh Vì thế mâuthuẫn giai cấp và dân tộc càng thêm gay gắt
Bầu không khí tâm lý xã hội Việt Nam trớc cách mạng tháng Tám cónhiều biến động đổi thay phức tạp Có thể nói sự gặp gỡ với phơng Tây là “cuộcbiến thiên lớn nhất của lịch sử Việt Nam từ mấy mơi thế kỷ” Trớc khi Pháp sangxâm lợc, Việt Nam là một xã hội phong kiến phơng Đông Con ngời gắn bó với
họ hàng, làng xóm, bền chặt nghĩa tình trong luỹ tre xanh ngắt bốn mùa Nhngvới chính sách khai hoá thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam đã biến
động dữ dội Làng xóm xơ xác, nông nghiệp phá sản, thành thị xuất hiện Sự
xuất hiện của đô thị đã đổi chiều hớng lu tán của ngời nông dân, xô đẩy họ ùn
ra thành phố Nhng thành phố đông đúc những ngời nông dân và thợ thủ công bịphá sản đáng lẽ làm đội quân hậu bị cho công nghiệp thì ngoài một số trở thànhcông nhân nhà máy, hầm mỏ, hoặc đi phu làm đờng, làm đồn điền, phần lớn cònlại biến thành anh bồi, anh xe, những vú em, con sen, những ngời buôn thúngbán mẹt và không ít trở thành gái điếm, lu manh
Xã hội Việt Nam chuyển mình một cách đau đớn, nhục nhã sang h ớng
t sản Ngời dân Việt Nam bàng hoàng, ngơ ngác trớc sự đổi thay đó Nhng cái
mới vẫn thâm nhập Nó chi phối sự suy nghĩ, tác động đến tâm lý xã hội.Cuộc sống tràn ra khỏi luân thờng đạo lý, nhân tình thế thái Nh thơ Tản Đàphải xót xa:
Văn minh Đông
Rày lúc cơng thờng đảo ngợc ru?”
Trang 15Trong hoàn cảnh đó ngời ta phải tỉnh táo, tính toán, tự ý thức phải sốngcho riêng mình trong điều kiện xã hội rộng lớn phức tạp Trong đời sống tinh
thần ngời Việt, một khát vọng mới xuất hiện: mỗi con ngời phải đợc sống nh
một cá nhân có cá tính Nhng đất nớc nớc rơi vào tay giặc, làm nghẹt thở cả dân
tộc Bi kịch ấy của thời đại đang diễn ngấm ngầm trong tâm hồn ngời dân nớcViệt, nhng sâu sắc nhất là những trí thức, những thanh niên Đó là những con ng-
ời cá nhân tự ý thức về bản ngã, đòi khẳng định cái tôi, có nhu cầu phơi trải, nói
rõ những điều u uất, khát vọng thành thực Con ngời cũng cảm thấy bơ vơ, cô
đơn giữa cái hỗn độn của thời đại Hiện thực đó rất phản ánh rõ ràng, chân thựcnhất ở trong các tự truyện
Tất cả những tiền đề xã hội trên đã làm xuất hiện trên văn đàn nền văn họchiện thực phê phán nhằm đáp ứng một phần cơ bản của cuộc đấu tranh dân tộc
và giai cấp lúc bấy giờ Các nhà văn tiến bộ, bạn đờng của giai cấp công nhân
nh Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Mạnh Phú T, NamCao, Nh Phong…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằng.đã sử dụng chủ nghĩa hiện thực nh vũ khí chiến đấu Thể loại
tự truyện với u thế phản ánh số phận, khát vọng của con ngời cá nhân, qua đócòn khái quát lên vấn đề dân tộc sinh động, cụ thể, đã góp phần tố cáo xã hộithực dân nửa phong kiến làm phai nhạt tình ngời, băng hoại đạo đức lối sống vàchà đạp lên ớc mơ, quyền sống, quyền hạnh phúc của con ngời
1.2.2 Môi trờng văn hoá, văn học và sự hình thành phát triển của thể
loại tự truyện trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Trớc sự xâm lợc của thực dân về văn hoá, chúng ta đã thay đổi văn họctheo con đờng hiện đại hoá mà vẫn giữ đợc bản sắc dân tộc Sự thành công củachúng ta không chỉ ở chỗ đã làm thất bại những âm mu văn hoá nô dịch mà còntìm đờng tiến bộ cho văn học nớc nhà Về cuộc tiếp xúc Đông - Tây đây là một
sự nếm thử của một dân tộc bản địa phơng Đông đối với văn hoá phơng Tây, củavăn hoá một nớc đi xâm lợc và nớc bị xâm lợc Trong cả khối lợng đồ sộ của củavăn học phơng Tây tràn vào nớc ta, ngừơi Việt Nam đã chọn lựa cái gì gần gũi,thích thú, phù hợp Họ đã lấy, bỏ và lựa chọn Rất nhiều cái không đợc chú ý,nhiều cái bị vứt bỏ, nhiều cái đợc du nhập thử thách và cải tạo đa vào vốn củadân tộc.Văn học tự truyện của ta cũng có sự ảnh hởng ít nhiều từ Pháp Cuốn tự
truyện đầu tiên ở Pháp là Những lời tự thú của Rouseau Đây là cuốn tác giả thể
hiện mình nh một kẻ xng tội rất xúc động, hồn nhiên, chân thành Tuy nhiên cáctác giả đã dân tộc hoá thể loại cho phù hợp với lịch sử, văn hoá, con ngời ViệtNam
Trang 16Trong những năm 1930 -1945, một lớp nhà văn Tây học rất trẻ và khá
đông đảo tham gia tích cực vào việc sáng tác tạo ra một không khí mới, cách tântrong hầu hết các thể loại văn học Bên cạnh các cây bút lãng mạn tạo nên sựcách tân của văn học Việt Nam thời kỳ này, thì các nhà văn hiện thực phê phán
nh Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố, Nam Cao,…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằngcó vai trò rất tolớn Cùng với không khí mới đợc tạo ra, nhịp độ phát triển trong 15 năm này rấtmau lẹ cả về số lợng và chất lợng Nguyên nhân chủ yếu là do tiềm lực văn hoá,văn học của dân tộc đến giai đoạn này đợc giải phóng Sức sống ấy nh nhiều nhànghiên cứu văn học sử nhận xét, chủ yếu qua tầng lớp trí thức Tây học đầy tâmhuyết với tiếng mẹ đẻ, với văn chơng và tinh thần trách nhiệm với đất nớc Một
đặc điểm không kém phần quan trọng của văn học giai đoạn này là có sự phânhoá thành nhiều bộ phận, khuynh hớng Có thể thấy rõ có hai khuynh hớng: Vănhọc công khai, hợp pháp và văn học bất hợp pháp, bí mật Tiêu chuẩn để phânbiệt là thái độ của ngời cầm bút đối với chính quyền thực dân phong kiến
Văn học bất hợp pháp (đúng hơn đợc bán công khai trong những năm
1936 – 1939) thuộc dòng văn học cách mạng vô sản Đó là Hồ Chí Minh, TốHữu, Trờng Chinh, Xuân Thuỷ Họ coi văn học là vũ khí đấu tranh cách mạng,tạo hình tợng ngời chiến sĩ say mê lý tởng, khát khao chiến đấu, sẵn sàng xả thânvì sự nghiệp của dân tộc, giai cấp, nhân loại trên tinh thần lạc quan tin tởng vàothắng lợi, bất chấp khó khăn trớc mắt Mặc dù có một số hạn chế, song đóng gópcủa bộ phận văn học này rất đáng ghi nhận và còn tác động không nhỏ đến dòngvăn học công khai hợp pháp
Văn học công khai, hợp pháp: Bộ phận này chịu sự kiểm soát gắt gao củachính quyền thực dân (trừ một giai đoạn “dễ thở” 1936-1939 nh đã nêu trên).Khác với bộ phận bất hợp pháp, bộ phận công khai không thuần nhất Có thểthấy rõ hai trào lu văn học lãng mạn và hiện thực phê phán Mặc dù văn họccông khai để lại không ít tác phẩm tầm thờng, thâm chí đọc hại, song đóng gópcủa nó không nhỏ có “vai trò quyết định trong công cuộc hiện đại hoá văn học n-
ớc nhà” [40; 21]
Trang 17Báo chí quốc ngữ đặc biệt phát triển mạnh vào thế kỷ XX: Nam kỳ kinh
nổi tiếng đều tham gia viết báo Báo chí góp phần đẩy nhanh sự phát triển củatiếng Việt, trở thành nơi rèn luyện thử thách tay nghề của các nhà văn nói chung
và của các cây bút viết tự truyện nói riêng Bên cạnh đó là sự phát triển của
nghề in ấn, xuất bản Trớc khi thực dân Pháp xâm lợc Việt Nam, nghề in ở nớc
ta chủ yếu dừng lại ở việc in khắc gỗ thủ công các văn bản chữ Nôm và chữ chữHán, hiệu quả thấp Từ khi thực dân Pháp sang xâm lợc, nghề in đã thực sự pháttriển theo hớng hiện đại Chỉ từ năm 1862 đến 1932 ở Sài Gòn đã xuất hiện 74nhà in Từ 1918 đến 1932 cũng ở Sài Gòn có tới 39 nhà xuất bản Chính sự pháttriển của nghề in và xuất bản đã tạo điều kiện cho sự phổ biến một cách rộng rãicác tác phẩm văn học tự truyện, đẩy nhanh quá trình vận động tiến đến hiện đạihoá của thể loại này
Hiện đại hoá là quá trình tất yếu của văn học Nó xuất hiện từ nhu cầu vận
động nội tại của văn học Từ tác động của hoàn cảnh xã hội, từ đòi hỏi của côngchúng và từ kết quả của sự giao lu văn hoá giữa các quốc gia, dân tộc Văn họchiện thực phê phán 1930 – 1945 hình thành và phát triển trong hoàn cảnh lịch
sử văn hoá - xã hội có những nét đặc thù Trong lịch sử văn học dân tộc xuấthiện một trào lu văn học tiến bộ, có vị trí quan trọng và đóng góp to lớn vào quátrình phát triển và hiện đaị hoá văn học Việt Nam Đây là thời kỳ văn học ảnh h-ởng của văn minh phơng tây, văn học phơng Tây ngày càng thấm nhuần t tởngdân chủ, quan tâm đến cuộc sống, đến thân phận, đến nhu cầu cá nhân Đã là conngời cá nhân thì có nhu cầu giải bày, bộc bạch mình, quá trình hình thành, conngời cá nhân trong xã hội hiện đại cùng với sự cá thể hoá hoạt động sáng tạonghệ thuật, đồng thời cũng là quá trình văn học đem cuộc sống trần tục hàngngày vào văn chơng Con ngời bình thờng và thế giới nội tâm trở thành đối tợngmiêu tả của nhà văn Nhà văn sử dụng hiên thực nh chất liệu để thể hiện ý tởngcủa mình, trong đó các mối quan hệ gia đình, xã hội đợc nhà văn khai thác mộtcách triệt để Thể loại tiểu thuyết đợc đã đợc đón nhận bởi sự quan tâm đi sâuphản ánh vận mệnh của cá nhân, những cảnh đời và thân phận của con ngờitrong xã hội lúc bấy giờ Thời gian, không gian đợc mở rộng đa chiều, khôngnhất thiết tuân theo trật tự trớc sau Kết cấu mở, ngôn ngữ gần gũi, gắn với lời ăntiếng nói hàng ngày Nghệ thuật trần thuật linh hoạt, ngời kể chuyện hoán vị ởcác ngôi khác nhau…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằng.Giọng điệu đa thanh, in đậm dấu ấn phong cách của chủthể sáng tác
Trang 18Công cuộc hiện đại hoá văn học dân tộc là cả một quá trình vận động đổi
mới và phát triển không ngừng của các thể loại Cấu trúc văn học có thay đổi.
Bên cạnh thơ còn có nhiều thể loại mới ra đời và phát triển: tiểu thuyết, truyệnngắn, tuỳ bút, kịch, dịch thuật, phóng sự, tuỳ bút, nghiên cứu, phê bình…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằngtrong
đó không thể không ghi nhận những đóng góp đáng kể của thể loại tự truyện
Đây là một thể loại triển vọng thể hiện sức vóc và tr ởng thành của một nền vănhọc Cùng với sự thắng thế của chữ quốc ngữ và sự ảnh hởng sâu sắc của vănhọc phơng Tây, tiểu thuyết tự truyện Việt Nam nửa đầu thế kỷ đã thực sự đónggóp vào quá trình hiện đại hoá, tạo nên một giai đoạn phát triển rực rỡ của nềnvăn xuôi hiện đại trên hành trình văn học thế kỷ XX Những cây bút tiêu biểucho thể loại này lúc bấy giờ là Nguyên Hồng, Mạnh Phú T, Tô Hoài, NamCao…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằng
Từ trớc tới nay tự truyện đã đi qua một con đờng dài ở thể kỷ XVIII cácnhà văn đã sử dụng đời t của bản thân nh một chất liệu để nhận thức, khám phá
ra toàn bộ sự đa dạng và phức tạp trong toàn bộ hành động tâm lý và đời sốngtình cảm của mỗi cá nhân con ngời Song viết về cái tôi của con ngời trong thời
kỳ đó cha phải hoàn toàn đợc xã hội thừa nhận Ngời ta chỉ coi đó là quyền đợcthú tội trớc cha cố và xem việc nói về mình trong tác phẩm là việc không ra gì
Đầu thế kỷ XIX, qua thơ trữ tình ngời ta bộc lộ nhiều lĩnh vực riêng t, họ viết vềbản thân để phơi trải các mối quan hệ giữa con ngời với hoàn cảnh xã hội Mãi
đến đầu thế kỷ XX, thế kỷ của sự đổi mới văn học, thế kỷ chứng kiến sự pháttriển đột ngột của thể loại thì mọi điều cấm kỵ mới đợc phá bỏ Nhà văn đã thuậtlại cuộc đời mình, thông qua đó phản ánh số phận của dân tộc, cộng đồng, thời
đại Có thể nói tự truyện có khả năng bao quát hầu khắp các phơng diện của cuộcsống: đời t, thế sự, sử thi Nhà văn mặc dù lấy cái tôi của tác giả làm trung tâmsong qua cái tôi đó còn mở rộng ra nhiều cảnh đời, nhiều số phận, nhiều mốiquan hệ xã hội
1.3 Vị trí của hai cuốn tự truyện Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng và Sống nhờ của Mạnh Phú T
Trang 19Bàn về thể loại tự truyện, không thể không nhắc đến Nguyên Hồng - ngời
mở đầu, cũng là ngời đặt nền móng cho thể loại văn học này phát triển trên đấtnớc ta Ngày nay, thể loại tự truyện đang rất đợc bạn đọc a chuộng bởi sự chânthành, xác thực trong nội dung kể, sự lôi cuốn với nghệ thuật trần thuật mới mẻ,nhất là sự gần gũi, tâm tình của nhân vật tôi mang hình bóng tác giả dờng nh
muốn đem hết gan ruột của mình ra mà bày tỏ, mà sẻ chia Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng và Sống nhờ của Mạnh Phú T là hai cuốn tiêu biểu cho thể
loại văn học nói trên Thông qua các tác phẩm cụ thể, chúng tôi muốn phác hoạchân dung thể loại và vị trí văn học của chúng trong nền văn học nớc nhà
Nguyên Hồng tên thật là Nguyễn Nguyên Hồng, sinh năm 1918, ở Nam
định, song phần lớn cuộc đời ông sống ở các xóm lao động của thành phố CảngHải Phòng Ông là một trong những nhà văn xuất sắc của dòng văn học hiện thực
1930 – 1945 Nguyên Hồng sớm đến với nghề văn và thành công ngay từ tác
phẩm ban đầu Bỉ vỏ (1938) đợc d luận hoan nghênh và chúng ta đã có một nhà
văn trẻ triển vọng nhiều tiềm năng Sau đó Những ngày thơ ấu ra đời lại một lần
nữa khẳng định năng lực sáng tạo của tác gia văn học này Một đời văn liên tụcsáng tác trên 40 năm, đã để lại một khối lợng tác phẩm lớn ở cả hai thời kỳ trớc
và sau cách mạng Các tác phẩm của Nguyên Hồng khá phong phú, đa dạng vềthể loại nh truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi ký, tự truyện…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằngMỗi thể loại đều mangphong cách riêng Ông đợc nhà nớc trao giải thởng Hồ Chí Minh đợt 1 năm
1996, phần thởng cao quý giành cho những đóng góp của ông đối với không chỉnền văn học mà còn với cả sự phát triển của văn hoá dân tộc
Trang 20Với lòng nhiệt tình sôi nổi hiếm có, một sức viết bền bỉ, một trái tim trìumến với cuộc đời, Nguyên Hồng đã khiến nhiều thế hệ độc giả ngỡng mộ Sau
Những ngày thơ ấu Nguyên Hồng đã cho ra mắt bạn đọc rất nhiều tác phẩm tiêu
biểu: Cuộc sống (1942), Hai dòng sữa (1943), Hơi thở tàn (1944), Vực thẳm (1944), Ngọn lửa (1945)…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằngĐọc các tác phẩm của Nguyên Hồng ta thấy nổi bậtlên trong đó một tấm lòng đối với những con ngời cơ cực bần cùng chính bởi vậynhà thơ Xuân Diệu đã mệnh danh ông là “nhà văn của những ngời khốn khổ…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằngcái văn của Nguyên Hồng là cái văn hớng về những ngời cùng khổ, cái văn của
một chủ nghĩa nhân đạo thống thiết ” Hà Minh Đức gọi Nguyên Hồng là “Nhà văn của những xóm thợ, những ngời cùng khổ”, còn Nguyễn Đăng Mạnh thì cho
rằng: “Nhìn những nhân vật lao động của Nguyên Hồng bao giờ cũng đầy sức
sống vạm vỡ, khoẻ khoắn, không phải chỉ ở thể chất mà từ trong tâm hồn toả ra
và truyền tới ngời đọc ” Ông còn nói về “chủ nghĩa nhân đạo thống thiết”, vềchất thơ, cảm hứng trữ tình, màu sắc Hải Phòng và khẳng định Nguyên Hồng lànhà văn hiện thực mang phong cách lãng mạn Nguyễn Minh Châu nói NguyênHồng là nhà văn của “thập loại chúng sinh” và “nhìn trong toàn bộ tác phẩm củaNguyên Hồng, chúng ta bỗng thấy ngổn ngang gò đống kéo lên biết bao nhiêu làhạng ngời, là mẫu ngời của xã hội cũ và điều khiến cho ngày nay dới chế độXHCN những ngời đọc cùng yêu mến và kính trọng Nguyên Hồng là cái tinhthần nhân bản vững chắc của ông, là bao giờ ông cũng đặt niềm tin vững chắcvào cái cốt lõi tốt đẹp của tính cách những ngời lao động nghèo khổ ” Phan Cự
Đệ cho rằng cảm hứng chủ đạo của Nguyên Hồng “dờng nh bắt nguồn từ mộtchủ nghĩa nhân đạo sâu sắc đối với lớp ngời cùng khổ” Nhà văn Chu Nga chorằng: “Nguyên Hồng góp vào dòng văn học hiện thực phê phán về căn bản vẫn làmột tiếng nói yêu thơng, nhân đạo, có phê phán, nhng không mỉa mai trào lộng
nh Nguyễn Công Hoan, không chì chiết và đau đớn nh Nam Cao, hay sâu caynặng nề nh Ngô Tất Tố, mà sôi nổi lạc quan, tràn đầy một lòng tin ở ngày mai t-
ơi sáng vì nhìn thấy đợc những phẩm chất đẹp đẽ ở những con ngời nghèo khổhôm nay”
Thời trẻ của Nguyên Hồng đi qua những ngày tháng lam lũ, khốn khổ Đó
là cậu bé mồ côi, bố chết sớm, mẹ bị khinh rẻ phải đi tha phơng cầu thực Cậu bélớn lên trong tình cảnh thiếu ăn, thiếu mặc, nay đây, mai đó, chung đụng với đủhạng ngời Nỗi uất ức, tủi nhục, thúc dục nhà văn sáng tạo nên cuốn hồi ký tự
truyện Những ngày thơ ấu – sáng tác đợc coi nh là tác phẩm tự truyện đầm đìa
nớc mắt và chứa đựng biết bao phẫn uất, căm giận
Trang 21Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng có 9 chơng, mỗi chơng là một kỷ
niệm sâu sắc về thời thơ ấu cay đắng, rất ít niềm vui của tác giả Chú bé Hồng ra
đời là kết quả của cuộc hôn nhân miễn cỡng không tình yêu; chú lớn lên trongkhông khí giả dối, lạnh lẽo của một gia đình không hạnh phúc Ngời bố phẫn chísống lặng lẽ u uất với bàn đèn thuốc phiện và trở thành truỵ lạc Ngời mẹ trẻtrung có trái tim khao khát yêu đơng song đành chôn vùi tuổi thanh xuân bên ng-
ời chồng nghiện ngập Gia đình ngày càng sa sút rồi cuối cùng sụp đổ hẳn Bốchết, ngời mẹ trẻ “cùng túng quá, phải bỏ con đi tha phơng cầu thực” Đứa trẻ đã
mồ côi cha lại xa mẹ, sống bơ vơ trong sự ghẻ lạnh cay nghiệt của họ hàng và trởnên đói rách, lêu lổng Tác phẩm có những chơng cảm động kể lại nỗi đớn đautủi nhục của tuổi thơ bị hắt hủi phũ phàng: những lần bị thầy phạt quỳ vô lý, tàn
ác; đêm Nô en bị đuổi khỏi nhà thờ, lủi thủi trong ma gió lạnh lẽo…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằng Cũng cónhững kỷ niệm êm ái của đứa bé khi nằm trong lòng mẹ để mẹ vuốt ve; nhữnglúc nằm trên bãi cỏ sân trờng dới bóng cây, thả hồn theo đám mây trắng bồngbềnh lắng nghe tiếng ve râm ran trên cành phợng; hoặc những khi mơ màng, đểmặc cho trí tởng tợng tuổi thơ đa vào những cuộc phiêu lu đầy hấp dẫn…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằng Nhữnggiấc mơ “đằm thắm và say sa đã rung động và mơn man cõi lòng” ấy chỉ cànglàm thấm thía cảnh trơ trọi đáng thơng của “đứa bé côi cút cùng khổ” Từ tìnhcảnh và tâm sự của đứa bé bị đầy đoạ, tác phẩm cũng toát lên bộ mặt lạnh lùngtàn ác của xã hội đồng tiền đầy bất công Cái xã hội mà tình máu mủ cũng trởnên khô héo, mà cánh cửa nhà thờ đêm Nô en cũng chỉ mở ra cho đám ngời giàusang khệnh khạng và khép lại trớc kẻ nghèo trơ trọi, hèn hạ, cái xã hội của bọn Tsản sống nhỏ nhen chỉ biết ganh ghét, giả dối, độc ác…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằng
Cùng thời đại với Nguyên Hồng, trong dòng văn học hiện thực phê pháncòn nổi lên tác giả Mạnh Phú T Ông tên thật là Nguyễn Văn Thứ, sinh năm
1913 ở Hải Dơng Trong những năm 1939 – 1942 ông đã sáng tác những tác
phẩm nổi tiếng nh: Làm lẽ (1939), Gây dựng (1941), Nhạt tình (1942), Ngời vợ
già (1942)…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằng Trong các sáng tác của Mạnh Phú T trớc cách mạng có thể thấymột tấm lòng cảm thông sâu xa của ông đối với số phận của những ngời phụ nữ -
số phận mà cuộc đời của họ không chỉ chịu sự chà đạp của chế độ thực dânphong kiến mà họ còn chịu sự đè nén của những lễ giáo phong kiến, những hủtục, những quan niệm của xã hội Tuy là một cây bút trẻ, nhng ông đã thể hiệnmột cái nhìn sâu sắc của mình đối với số phận của những con ngời cùng khổ.Những tác phẩm của mạnh Phú T đã nói lên nỗi khổ đau của những ngời bình th-ờng mà anh gần gũi ở nông thôn tối tăm thời trớc…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằng Trong những tác phẩm đó
thì Sống nhờ là tác phẩm thành công nhất.
Trang 22Quãng đời thơ ấu của Mạnh Phú T gắn với làng quê Việt Nam trớc Cáchmạng tháng Tám 1945 Trong bức tranh làng quê ấy, ta bắt gặp những con ngờihàng ngày phải sống vất vả, lam lũ để kiếm từng miếng ăn Vì thế cuộc sống của
họ đầy những bon chen, nhỏ nhen, những tiếng chí chát, những lời chửi, nhữnglời cạnh khóe Những đứa trẻ đáng lẽ tuổi thơ phải đợc sống trong sự bình yênhạnh phúc, đầm ấm của gia đình nhng ngay từ khi còn còn rất nhỏ, chúng đãphải sống trong sự ghẻ lạnh của những ngời thân của cả hai bên nội, ngoại và sựlạnh lùng giữa những ngời thân trong họ hàng Có thể nói, đây là một phần hiệnthực nông thôn Việt Nam trớc Cách mạng tháng Tám đợc thể hiện rất sống động
trong Sống nhờ.
Mạnh Phú T là nhà văn thuộc các cây bút trẻ của trào lu hiện thực phê
phán Ông bắt đầu xuất hiện trên văn đàn từ 1939 với tiểu thuyết đầu tay là Làm
đó có thể thấy rằng ngay từ khi mới vào nghề, Mạnh Phú T đã chứng tỏ mình làmột cây bút bản lĩnh, sớm có ý thức và khả năng khẳng định bản sắc độc đáo của
mình Đến năm 1942 ông cho ra đời tiểu thuyết tự truyện Sống nhờ Vũ Ngọc Phan cho rằng Sống nhờ là tác phẩm tiêu biểu và có giá trị hơn cả của Mạnh Phú
T, cũng nh hầu hết sáng tác của ông, tác phẩm “có tính chất Việt Nam đặc biệt”
Với Sống nhờ, tác giả đã khai thác những vấn đề chất chứa sau luỹ tre
làng do xã hội cũ để lại Những quyền lợi ích kỷ, những toan tính nhỏ nhen làmphơng hại đến những tình cảm tốt đẹp vốn có ở nông thôn Cùng với số phận củangời phụ nữ, trẻ em mồ côi là vấn đề đợc Mạnh Phú T quan tâm Ông đến vớivăn học không chỉ từ năng khiếu mà từ những bức xúc trớc những bất công củaxã hội đơng thời Nhiều nhà nghiên cứu văn học đã khẳng định là việc đi vàocuộc sống thờng nhật vào tác phẩm vào tác phẩm làm cho sáng tác của ông cónét đặc sắc riêng
Trang 23Sống nhờ là tác phẩm có tính chất tự truyện, đợc xem là tác phẩm xuất
sắc nhất trong cuộc đời sáng tác của Mạnh Phú T Tác phẩm đợc kể từ ngôi thứnhất, thuật lại thời thơ ấu của nhân vật Dần - hình ảnh của bản thân tác giả Dần
mồ côi bố ngay từ khi trong bụng mẹ Ngời mẹ goá trẻ của Dần không sống nổitrong cảnh bị nhà chồng ghét bỏ, hắt hủi, đã bỏ Dần ở lại để đi bớc nữa Thế là
mẹ Dần bị coi là “đi theo trai”, bị khinh ghét, không đợc gặp Dần và cấm khôngcoi đó là con của mình Dần mồ côi cha, nay lại mất mẹ, bắt đầu cuộc đời “sốngnhờ” đầy tủi nhục Bà nội Dần cùng đứa cháu mồ côi ở chung với ngời chú lớncủa Dần Mặc dù có gần hai mẫu ruộng của bà giao cho chú cày cấy thu hoa lợihai bà cháu vẫn bị đối xử nh những kẻ sống nhờ, phải làm lụng vất vả mà vẫn bịnhiếc móc Bảy, tám tuổi, Dần đã phải đi chăn trâu cả ngày Không ở đợc vớichú lớn, hai bà cháu lại lủi thủi lại sang ở với chú hai Song tình cảnh cũng chẳngkhá gì hơn ở đâu, Dần cũng phải đầu tắt, mặt tối, bị đánh đập Tuy Dần đ ợc bànội và trớc kia khi còn ở chung còn đợc ngời cô út che chở, đùm bọc; nhng ngờicô dịu hiền thơng cháu ấy cũng thiệt phận chết sớm, còn bà nội Dần cũng chẳnggì hơn Dần: cũng bị các chú bạc đãi, hắt hủi Dần nhớ mẹ đến quặn lòng, mấylần trốn đi tìm mẹ nhng lại trở về với nỗi tuyệt vọng sâu xa và phải hứng chịunhững trận đòn của các chú Sau Dần bỏ nhà bên nội tìm về với bà ngoại Nhngcác cậu, mợ, các dì của Dần cũng chẳng tử tế gì hơn đối với đứa cháu mồ côi.Rồi lớn lên, Dần cũng đợc đi học Bà nội, bà ngoại Dần đã chắt bóp tằn tiện gópnhau nuôi Dần ăn học, những mong sau này có chút địa vị, gia đình cũng đợc mởmặt với dân làng Ban đầu, Dần chẳng lo học, chỉ mải ăn chơi đua đòi lêu lổng
Về sau, hiểu đợc tình thơng và sự trông đợi của bà nội, bà ngoại, Dần tu tỉnh họchành Nhng việc sinh sống ở quê ngày càng khó khăn Cả hai bên nội ngoại đều
sa sút, không còn có thể nuôi Dần ăn học đến nơi đến chốn Bà nội Dần phải ra
đầu làng dọn quán bán nớc để sống Thế là mới năm thứ nhất Thành chung, Dầnphải thôi học Giờ đây bớc vào đời, Dần càng cảm thấy thấm thía tình cảnh trơtrọi của mình…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằng
Trang 24Nhìn chung, cùng với sự tác động của văn hoá phơng tây, nền văn họcViệt Nam giai đoạn 1930 – 1945 đã có sự phát triển khá phong phú đa dạng.Nếu so với các tên tuổi xuất hiện trong giai đoạn trớc, nh Nguyễn Công Hoan,
Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Tam Lang…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằng thì Nguyên Hồng và Mạnh Phú Txuất hiện muộn hơn: Nguyên Hồng từ phong trào Mặt trận dân chủ (1936 -1939), còn Mạnh Phú T lại đầu những năm 40 Đó chính là thuận lợi lớn của hai
ông: kế thừa sự phản ánh quá trình bần cùng hoá, lu manh hoá của nông dân vàdân nghèo thành thị trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế; đồng thời làm rõ bộ mặtxã hội, thân phận của ngời dân sống trong chế độ thực dân phong kiến lúc bấygiờ
Chủ nghĩa nhân đạo trong các tác phẩm của Nguyên Hồng và Mạnh Phú
T là thật thắm thiết Các ông không chỉ thừa kế, mà góp phần phát huy truyềnthống nhân đạo chủ nghĩa trong văn hoá dân tộc Việt Nam Những tác phẩm củahai nhà văn đã góp phần giúp chúng ta hiểu thêm về hiện thực cuộc sống của đấtnớc ta trong một giai đoạn lịch sử đồng thời đem đến cho ngời đọc một tiếng nóitràn đầy tinh thần nhân văn cao đẹp
Nói tóm lại, thể loại tự truyện dù ra đời muộn nhng không phải vì thế màkhông chiếm đợc u thế trên văn đàn Với khả năng giãi bày tâm t của chính tácgiả một cách chân thành, trung thực nó đã thu hút đông đảo bạn đọc nhiều thế
hệ Hình thức thể hiện của thể loại này cũng đa dạng, linh hoạt, phù hợp với nhịpthở của thời đại Nhất là đánh trúng vào nhu cầu giải phóng con ngời cá nhân
khỏi những ràng buộc khuôn phép chật chội trớc đó Những ngày thơ ấu và
Sống nhờ là những tác phẩm u tú của thể loại này thời kỳ trớc cách mạng tháng
Tám Đến hôm nay dù có nhiều tác phẩm mới thuộc thể loại này ra đời, nhngnhững trang văn thống thiết nỗi lòng của hai tác giả Nguyên Hồng và Mạnh Phú
T vẫn mãi còn ngân nga trong lòng bạn đọc
Ch ơng 2 :
ngày thơ ấu và Sống nhờ
2.1 Cảm hứng
Trang 25Theo Từ điển tiếng việt, Nxb KHXH, 1963 định nghĩa: “Cảm hứng sự xúc
động trong lòng sinh ra hứng thú” Từ khái niệm từ vựng trên, chúng tôi có thể
đa ra nhận định về cảm hứng trong tác phẩm văn học chính là sự hứng thú, say
mê hoặc suy t trớc một hay nhiều sự vật, hiện tợng trong đời sống hoặc bản thânngời viết Từ đó nhà văn bọc lộ thái độ, nhận thức t tởng hay tình cảm của chínhmình
Cảm hứng trong mỗi một tác phẩm là sự xúc động chủ quan của tác giả trớchiện thực khách quan hoặc hiện thực của chính cuộc đời mình, gần gũi và thânthuộc Sự hứng thú đó phụ thuộc vào sự xúc động hay cảm nhận của tác giả trongtừng thời điểm nhất định Nhng cũng có khi do sự chi phối của t tởng mà có nhữngloại cảm hứng tồn tại trong suốt quá trình sáng tác của nhà văn Chẳng hạn cảmhứng nhân đạo trong sáng tác của Nam Cao, Nguyên Hồng …Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằnghay cảm hứng phêphán trong các tác phẩm Nguyễn Công Hoan, Vũ trọng Phụng…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằng
Phải chăng nền tảng của cảm hứng là tình cảm của nhà văn? Cảm hứng lànhững phút dây thần diệu bùng phát do sự tích tụ, dồn nén lâu ngày tạo thành cái
“thần”, cái “linh hồn” cho tác phẩm Bên trong cảm hứng là thái độ của ngờinghệ sĩ với đối tợng đợc miêu tả và với ngời đối thoại trong hay ngoài tác phẩm,
là chất giọng bắt nguồn từ đạo đức của tác giả
Nếu trong truyện ngắn nhân vật tôi tác giả cùng với những cảm hứng dùmãnh liệt đến đâu cũng ít đợc trực tiếp bộc lộ Còn trong các tự truyện thì lại
khác Ngời viết có thể bộc lộ trực tiếp tất cả những cảm xúc thông qua ngôn ngữ
bằng điệu cảm của chính mình, không cần lời của một ai khác
Trang 26Cảm hứng trong tác phẩm tự truyện đó là sự hồi tởng, nghĩ suy về nhữngngày tháng đã qua của cuộc đời mình Mà chủ yếu là tuổi thơ, tuổi trẻ của tác giả
- nhân vật trung tâm của tác phẩm Kỷ niệm hớng về là quảng thời gian vui ít,buồn nhiều của tác giả Bởi vậy, cảm hứng trong các tác phẩm vừa có sự phêphán, tố cáo lại vừa có sự đồng cảm nhân đạo với những ngời cùng khổ Nhânvật “tôi” hiện lên trong tất cả sự mất mát thiệt thòi nhng cũng đẹp trong nhữnggiấc mơ, dự định về những gì tơi sáng, tốt đẹp trong cuộc đời Hầu hết các tựtruyện đều viết về tuổi thơ, là “những rung động cực điểm của một linh hồn trẻdại” Ngời viết muốn đem tất cả những tình cảm ra để giải bày và chắc chắn còngửi gắm ớc nguyện về cuộc sống tốt đẹp cho thế hệ mai sau Thông điệp thẩm
mỹ của các tự truyện là ở chỗ, nhà văn viết về cuộc đời mình, nhng không phảichỉ để giải toả mà còn thông qua số phận của riêng mình, phản ánh số phận củacộng đồng, quốc gia, dân tộc Hơn nữa, ngời đọc luôn cảm nhận đợc sự chânthành trong mỗi câu chuyện kể Mỗi câu chuyện là những cung bậc tình cảmkhác nhau Có lúc nhân vật tôi hiện lên trong sự tủi cực, căm hờn, có lúc xót xa,cay đắng nhng cũng có khi đắm đuối trong những tình cảm, dự định ngọt ngàocủa tuổi thơ, tuổi trẻ Nhân vật tôi cũng không dấu điểm những ích kỷ, hẹp hòi
do sự chèn ép quá mức của hoàn cảnh nhng lại đẹp hơn trong sự đấu tranh đểgiữ gìn lơng tâm trong sáng của mình Những ớc mơ trong tác phẩm tự truyệnthờng để lại ấn tợng sâu sắc nhất trong lòng ngời đọc Chỉ trong những giấcmơ, ớc ao của nhân vật chính ta mới thực sự cảm nhân sự dằn vặt, lo âu, trở trăn
mà cuộc sống không thoả mãn những khát khao, nhỏ nhoi, bình dị của họ
Đứng ở góc độ cảm hứng, chúng tôi muốn bàn về đặc trng của thể loại tựtruyện Cùng một chủ đề nh nhau, đồng nhất theo một cờng độ cảm xúc nh nhaunhng nếu ngời sáng tác dùng các thể loại khác nhau để thể hiện thì sẽ có sự khácnhau Chẳng hạn với truyện ngắn tác giả chỉ có quyền bộc lộ cảm xúc qua nhânvật, thì tự truyện là sự bộc lộ trực tiếp của chủ thể Với thể loại tự truyện chấtliệu ngôn ngữ đợc sử dụng ở đây là những chi tiết hiện thực trực tiếp gắn liền vớimôi trờng xảy ra câu chuyện Tính hiện thực ở đây thiên về mặt phản ánh quátrình xảy ra theo logíc tự nhiên; ngời viết dĩ nhiên không cần phải sáng tạo nhiều
và bày tỏ ngay cảm xúc của mình
Trang 27Giống nh tự truyện hồi ký cũng xúc động trớc hiện thực đã qua Nhng hiệnthực đó là hiện thực khách quan bên ngoài tác giả, tác giả là ngời chứng kiến, ghilại và bày tỏ thái độ còn tự truyện là sự nhìn nhận, thái độ tình cảm của bản thânmình Do đó, giọng điệu của các tự truyện chủ yếu là hoài niệm xót xa, suy ttriết lý về nhân sinh cuộc đời kết tinh từ chính những trải nghiệm thật của tácgiả Nh vậy, nếu truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi ký, tác giả cảm hứng trớc nhữngvấn đề khách quan bên ngoài và qua hiện thực khách quan đó nhà văn bày tỏ thái
độ của mình thì tự truyện là sự xúc động trực tiếp về chính cuộc đời mình Chínhvì vậy sự sâu sắc, chân thực, dễ đợc đồng cảm là u điểm của thể loại văn họcnày
2.1.2 Cảm hứng của Nguyên Hồng và Mạnh Phú T trong hai tự truyện
tác phẩm để lại trong lòng bạn đọc nhiều ấn tợng sâu sắc Khơi nguồn cho haitác phẩm không phải là những điều mới lạ, những sự kiện lớn lao mà chính lànhững kỷ niệm về tuổi thơ cay đắng của các tác giả Từ nỗi khổ của bản thân,các tác giả bày tỏ sự cảm thơng với những số phận cùng cảnh ngộ Đồng thời lên
án xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ là nguyên nhân gây nên nhữngcảnh ngộ éo le cho con ngời
Hai cảm hứng xuyên suốt, bao trùm lên hai tác phẩm là cảm hứng nhân
đạo và cảm hứng phê phán Hai cảm hứng này vừa tách biệt, lại vừa có mối
quan hệ với nhau Quan hệ này là mối quan hệ nhân quả
Đối với Nguyên Hồng ngay từ buổi đầu cầm bút ông đã xác định trách
nhiệm của mình: “Tôi sẽ viết về những cảnh đói khổ, về những áp bức, về những trái ngợc bất công Tôi sẽ đứng về phía những con ngời bị lầm lạc, bị đày đoạ, bị lăng nhục” Khi cầm bút Nguyên Hồng chịu áp lực từ sự thôi thúc bên trong để
nói lên nỗi thống khổ của con ngời, trớc hết la ngời lao động để bênh vực họ
Ông viết về họ bằng cả trái tim thấu hiểu và sự cảm thông chân thành với “mộtniềm tin tởng thắm thiết”, một tình “yêu thơng đắm đuối”, một niềm đồng cảmsâu sắc với những ngời “cùng một hoàn cảnh, cùng một đời sống thấp kém và tối
tăm vì thiếu thốn mọi thứ, vì phải chịu đựng đủ mọi thứ” Trong Bớc đờng viết
văn ông đã tâm sự: “Tôi không viết đợc những chuyện tình yêu phù phiếm, bừa
bãi, những chuyện khơi gợi tình cảm thấp hèn, những chuyện để chiều ý, để cầu lấy chút khen ngợi hay sự nhắc nhở của bọn vô công rồi nghề, phè phởn khô
niệm, đối với ng“ ời cầm bút không có gì cô độc, nhỏ nhen bằng phải xa rời cuộc sống và với bất kỳ tác phẩm nào thiếu cái đó là không có tất cả, là hết”.
Trang 28Từ quan điểm văn chơng ấy, nhà văn đã thể hiện nhất quán trong các tácphẩm của mình Ông đợc mệnh danh là “nhà văn của những ngời cùng khổ”, “ làGorky của Việt Nam” hay ngời ta nói đến “Cảm hứng cần lao trong sáng tác của
học hôm nay về cơ bản vẫn là tiếng nói yêu thơng, nhân đạo, có phê phán nhng không mỉa mai trào lộng nh Nguyễn Công Hoan, không chì chiết và đau đớn nh Nam Cao, hay sâu cay, nặng nề nh Ngô Tất Tố, mà sôi sục một niềm lạc quan, tràn đầy một lòng tin vào ngày mai tơi sáng vì nhìn thấy đợc những phẩm chất
Nhà văn Bùi Hiển viết về cảm hứng trực tiếp khi Nguyên Hồng viết
Những ngày thơ ấu là: “Ông khát khao ghi liền một mạch cái nỗi niềm tâm sự …Do vậy tự truyện th viết cho chính mình, viết để giải thoát mình khỏi tất cả những nỗi ám ảnh, nặng
nề, những oan hờn cay đắng, và cả những xót thơng quằn quại đang cứa lòng mình nh bao mũi dao sắc nhọn” [29; 214].
Trang 29Mặc dù, sống trong hoàn cảnh thiếu vắng tình yêu thơng của cha và mẹ,lại vừa chịu sự đày đoạ của đói, rét “chiếc chăn tôi đắp …Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằngvừa ngắn, hẹp lại vừamỏng”, nhng tâm hồn bé Hồng vẫn nh những vì sao lấp lánh giữ bầu trời thămthẳm tràn đầy tình yêu thơng và lòng nhân ái Những lời nói ngây thơ của em
động viên bà khi gia đình rơi vào cảnh sa sút “để con đi học rồi con xây lại nhàcho bà” đã phần nào làm giảm bớt không khí u ám đang bao trùm lên gia đình.Trong tâm t của em vẫn tồn tại ngời mẹ dịu dàng, một ngời mẹ “chỉ vì sợ hãinhững thành kiến cổ hủ mà xa rời các con” Mẹ đi để lại Hồng sống trong cảnhnghèo đói của gia đình bên nội, trong cách c xử cay nghiệt của bà cô, nhng cậu
bé vẫn giành cho mẹ một tình yêu thơng sâu lắng Ngời cô hỏi Hồng, có vàoThanh Hoá chơi với mẹ không và còn đợc đi thăm em bé nữa ở vào tuổi củaHồng, khi nghe mẹ sinh thêm em bé có thể các em không thích vì ghen với em
bé sợ mẹ giành hết tình thơng cho em Còn Hồng cảm thấy đau đớn nhng emkhông hề trách mẹ Em hiểu và thông cảm với hoàn cảnh của mẹ Hai tiếng em
bé mà ngời cô cố tình ngân dài càng khiến Hồng thơng mẹ hơn Những lời nóicủa bà cô cố tình bôi nhọ danh dự của mẹ không làm lay chuyển tình cảm yêuthơng mẹ của chú bé Mà chính điều này càng làm chú thêm yêu thơng mẹ hơn.Chú “cời dài trong tiếng khóc” nhng vẫn hỏi cô: “Sao cô biết mẹ con có con” Vàngời cô thản nhiên kể lại hoàn cảnh đáng thơng của mẹ của mẹ chú với rắp tâmgieo rắc vào đầu óc chú sự hoài nghi và lòng khinh miệt với ngời mẹ Hình ảnh
mẹ “ăn vận rách rới, mặt mày xanh bũng ngời gầy rạc đi” qua lời kể của côkhông khiến chú khinh miệt mẹ mà còn thấy mẹ đáng thơng hơn Chú thấy cổhọng mình “nghẹn ứ khóc không ra tiếng” Bé Hồng có suy nghĩ rất ngời lớn
“giá những cổ tục đầy đoạ mẹ tôi là một hòn đá hay cục thuỷ tinh, đầu mẫu gỗ tôi quyết định vồ lấy ngay mà cắn, mà nhai, mà nghiền cho kỳ nát vụn mới thôi”.
Hồng muốn chia sẽ những vất vả cay cực với mẹ Thơng mẹ nhà văn hết sức cămgiận những cổ tục đã đày đoạ ngời mẹ thân yêu của chú, muốn nghiền nát nhnggì làm mẹ phải khổ cực, gia đình phải tan nát Điều đó chứng tỏ rằng, dù khi đó
ông con rất nhỏ tuổi nhng đã hình thành tình cảm vững bền đối với mẹ Tình yêu
ấy thật bao la, không có một thế lực nào có thể chia cắt đợc Càng sắp đến ngàygiỗ đầu thầy, bé Hồng càng trông mẹ trở về Hình ảnh ngời mẹ luôn thờng trựctrong tâm trí chú, bởi vậy khi mới chỉ thoáng thấy ngời ngồi trên xe kéo giống
mẹ, bằng những trực giác hết sức tinh tế và nhạy bén, thêm vào đó là tình cảmnồng nàn Hồng dành cho mẹ, chú đã nhận ra đó chính là mẹ mình Hình ảnh em
“hồng hộc, trán đẫm mồ hôi” chạy theo xe tay, đến nơi gặp mẹ thì khóc nức nở,chứng tỏ em là cậu bé rất nhạy cảm Lúc đó, em vừa ủi thân vừa sung sớng nêntiềng khóc vỡ oà ra Song Hồng vẫn quan sát và cảm nhận sự thay đổi của mẹ
Trang 30“nhận ra mẹ trông còm cõi xơ xác quá” Tình thơng mẹ trào dâng trong lòng của
Hồng: “Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao nhiêu lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả
ra lúc đó thơm tho lạ thờng” Gặp mẹ, Hồng sung sớng cực điểm Chú hết sức
cảm động, trèo lên xe mà “ríu cả chân lại” Tác giả đã miêu tả cụ thể những chitiết, tình tiết của hai mẹ con gặp nhau sau một năm dài xa cách Cậu bé Hồng vớitâm hồn trong sáng, ngây thơ giàu lòng hiếu thảo, đã thổ lộ niềm vui sớng hạnhphúc của đứa con sau bao nhớ nhung, chờ đợi giờ đây lại đợc sống trong lòng
mẹ Bao cử chỉ thân thơng, trìu mến hoà quyện tình mẹ con Mẹ “xốc nách” conlên xe, rồi lấy vạt áo nâu “thấm nớc mắt cho con” Con ngắm nhìn gơng mặt mẹ,cảm nhận mùi “thơm tho lạ thờng” phả ra từ quần áo, từ khuôn miệng nhai trầuxinh xắn của mẹ Hồng cảm thấy nh mê man trong sự sung sớng hạnh phúc Ao -
ớc về một gia đình sum họp quá lớn khiến Hồng không còn nhớ “mẹ tôi đã hỏitôi và đã trả lời những câu gì” Sự thiếu vắng tình thơng của mẹ bấy lâu khiếnHồng cảm nhận rõ hơn sự “êm dịu vô cùng” từ ngời mẹ Trong mắt Hồng “gơngmặt mẹ tôi vẫn tơi sáng với đôi mắt trong và nớc da mịn làm nổi bật màu hồngcủa hai gò má” [32; 42, 43, 44, 45]
Những suy nghĩ của Hồng càng bộc lộ rõ nét thơ trẻ trong tâm hồn cậu.Lúc này, Hồng chỉ là một chú bé con, trở về trong lòng mẹ yêu dấu, rất ngây thơ
và trong trắng Điều đó cho ta thấy tấm lòng hiếu thảo của đứa con đối với mẹvẫn luôn luôn sáng trong nh ngọc
Đối với mẹ, Hồng có một tình cảm, tình thơng yêu đặc biệt Đối với mọingời cũng vậy, Hồng biết rủ lòng thơng với một em bé bán nớc, Hồng đã khuyênbạn trả lại tiền cho em bé: “Thôi mày ạ, trả lại cho nó mấy xu đi” [28; 80] DùHồng bị đẩy đến cùng đờng, phải đánh đáo để kiếm tiền nuôi thân, nhng em vẫn
có tình thơng đối với những đứa trẻ cùng cảnh ngộ
Trang 31Không chỉ thế, tình yêu thơng, nhân ái cũng đợc tác giả thể hiện cả tronggiấc mơ Hồng và Quế sống phiêu lu trong rừng sâu núi thẳm nhiều thú dữ, Hồngnghĩ: “ở chốn rừng núi hoang vu kia, là đàn ông, tôi phải biết hy sinh cho ngờibạn gái trôi dạt với mình…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằng” và nói với em Quế: “Em ăn đi, anh no rồi Anh khoẻ anh ăn ít cũng đợc Còn em yếu đuối em phải ăn nhiều thì mới có sức cùng anh đánh nhau với thú dữ chứ” [32; 62] Lúc này, Hồng tỏ ra rất chững chạc, tự
coi mình là “đàn ông” phải chịu nhiều “hy sinh” vất vả, mình “khoẻ” hơn emQuế nên “ăn ít” cũng đợc Hồng thơng em Quế “yếu đuối” nên bảo em “phải ănnhiều” để có sức chống lại những thú dữ trong rừng núi hoang vu này Tình th-
ơng yêu đứa em gái nhỏ của Hồng dạt dào vô bờ, mãi còn khắc sâu trong lòngngời đọc
Trong tác phẩm Những ngày thơ ấu, Hồng đã sống những năm tháng ấu
thơ phải xa mẹ, lăn lộn, chống chọi với bao giông bão cuộc đời Hoàn cảnh đócàng khiến Hồng luôn ao ớc có một mái ấm gia đình, đợc sống trong lòng yêuthơng đùm bọc của cha mẹ luôn cháy bỏng trong lòng em Hồng mong muốn
“phải bé lại và lăn vào lòng một ngời mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của ngời mẹ,
để bàn tay ngời mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lng cho, mới thấy ngời mẹ có một êm dịu vô cùng” [32; 45] Sau bao ngày chờ đợi, mong
ngóng đợc mẹ ấp ủ, nâng niu, nay gặp lại mẹ Hồng muốn mình “bé lại” để đợc
“lăn vào lòng”, để đợc “áp mặt vào bầu sữa nóng”,…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằngNỗi khao khát đợc gặp mẹcủa cậu bé Hồng thật mãnh liệt, nó chẳng khác nào sự trong chờ của một ngời bộhành giữa sa mạc mong muốn đợc trong thấy dòng suối mát lạnh
Trang 32Niềm khao khát đợc sống một cuộc sống gia đình vui vẻ và đầm ấm của
Hồng đợc hiện lên trong cả giấc mơ, em mơ thấy: “Em gái tôi bê một cái rổ con
đựng bỏng cốm, khoai lang, lạc rang và bánh khảo Tôi, tôi bê một rổ to đầy những vỏ hến, hộp thuốc phiện, ống sữa bò hạng nhỏ, dao, thớt con và những đôi
đũa bằng que tăm …Do vậy tự truyện th Đồ ăn thức đựng của em Quế tôi xếp có thứ tự vào những
rổ con treo trên cái chân niễng giả làm cành cây Vì không cất cẩn thận nh thế, nhỡ ra lúc vắng nhà, đi săn bắn, đánh cá hay đi tìm kiếm các kho vàng ngọc châu báu, hùm beo đến phá phách huỷ hoại đi, thì hai nhà phiêu lu kia biết lấy gì mà ăn uống để có sức vật lộn với những ma bão gió tuyết và cầm thú hung ác”
[28; 61] Sự tởng tợng ngây ngô của hai đứa trẻ là đợc sống một cuộc đời phiêu
l-u trong rừng, có một giỏ đựng đầy thức ăn, đợc đi săn bắn, đánh cá Cũng có khi
“hai nhà phiêu lu” đi tìm kiếm những kho báu quý giá Hồng mơ thấy đợc sốnghạnh phúc bên đứa em gái nhỏ, đợc vui chơi, đùa nghịch nh bao đứa trẻ khác.Giấc mơ của Hồng thật giản dị nhng với em đó mãi chỉ là giấc mơ và Hồngkhông bao giờ có thể thực hiện đợc giấc mơ đó Niềm khao khát của em về cuộcsống tơi vui, hạnh phúc đã bị những con ngời vô nhân đạo, bị những hủ tục lạchậu trong xã hội đầy những sự rối ren, mục nát dập tắt
Đọc Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, chúng ta lại liên tởng tiểu thuyết Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố Trong tác phẩm Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã
miêu tả cảnh ngộ đáng thơng của gia đình chị Dậu Vì không đủ nộp su chochồng ngời phụ nữ giàu lòng vị tha, thơng chồng, quý con nhất mực ấy bị cuộcsống đẩy vào hoàn cảnh không thể không bán đứa con đứt ruột đẻ ra lấy tiền nộp
su cho chồng, cứu chồng thoát khỏi cảnh ngộ ốm đau, mà vẫn bị cùm trói đánh
đập khó mà sống nổi Cảm hứng bi kịch đã khiến ngòi bút Ngô Tất Tố tập trung,xoáy sâu vào bi kịch phải bán con của chị Dậu: Càng ngày chị Dậu càng phải đi
đến quyết định không thể không bán đứa con trong khi càng ngày chị càng pháthiện ra ở nó có những đức tính tốt đẹp, mà lúc thờng cha bộc lộ hết Bi kịch củangời mẹ đứt ruột bán con ấy đợc miêu tả, đan cài chồng chéo với bi kịch của đứa
bé gái mới 7 tuổi đầu, mà đã giàu đức hy sinh và lòng hiếu thảo Càng thơng yêucha mẹ, càng quyến luyến lũ em, cái Tý càng nhận ra tình thế đau đớn không saotránh khỏi của mình bị đem bán để lấy tiền chuộc cha Đứa bé gái hoá ra còngiàu đức hy sinh hơn cả ngời lớn Từ chỗ van xin, lạy lục, khóc lóc thảm thiết,khi đã thấu hiểu cảnh ngộ của cha mẹ, nó đã cắn răng chịu đựng, chấp nhận để
mẹ đem bán cho nhà Nghị Quế lấy tiền nộp su, cứu cha thoát khỏi cảnh cùm trói,
đánh đập
Trang 33Ai đã từng đọc Tắt đèn đều cảm thấy đau đớn, xót xa trớc những tiếng kêu
thơng thống thiết của một gia đình nông dân nghèo và đặc biệt là cái Tý – một
bé gái lên bảy tuổi nức nở trong mái nhà tranh của một xóm nghèo giữa những
ngày đốc su, đốc thuế hãi hùng thời Pháp thuộc Còn đọc Những ngày thơ ấu,
chúng ta không chỉ thấy nhà văn viết về tình trạng không may mà bé Hồng –tác giả Nguyên Hồng sau này, gặp phải trong cuộc sống Số phận của mẹ Hồngcũng rơi vào cảnh éo le giống nh nhiều ngời phụ nữ khác Hồng đã nhìn thấy vàcòn thấy rất rõ, thầy và mẹ mình sống gợng ép bên nhau trong một cuộc hônnhân ép buộc: “Thầy tôi và mẹ tôi, cả hai đều thản nhiên che dấu cả một lòng
đau đớn” “Thầy mẹ tôi không bao giờ nhìn thẳng vào nhau mà gọi hỏi nhau, cời nói với nhau Trong con mắt nụ cời của hai thân tôi bao giờ cũng đợm vẻ trầm lặng, chua chát, buồn tủi Sự đau đớn âm thầm ấy theo dõi mãi mãi thầy tôi và
hai con ng
con có phúc lọt lòng vào một cửa giàu có và hiếm hoi, hai ngời càng cố phải gần gũi nhau trong sự êm ấm giả dối vô cùng” [28; 16].
Trang 34“Những buổi chiều vàng lặng lẽ, lạnh lẽo của mùa đông, những buổi chiều mà bụi ma nh có một thứ tiếng van lơn thầm thì trong hơi gió vi vu, lửa lò than rực rỡ vờn lên chân tờng, những ánh hồng lấp lánh rủ rê tâm trí ngời ta vào những cõi buồn nhớ, là những buổi chiều làm tê tái mẹ tôi hơn hết” [28; 6] Ngời
đàn bà ấy đã bị lễ giáo phong kiến trói buộc vào một ngời chồng già khắc khổ vànghiện ngập, đôi lúc vẫn để cho trái tim đập mạnh theo “tiếng kèn rộn rã tng
bừng” của một anh cai H nào đó “những con mắt của mẹ tôi sáng lên nhìn nhìn ngời thổi kèn và gò má của mẹ tôi ửng hồng khi gặp mắt long lanh của ng ời đàn
ông nọ chiếu tới” [28; 14, 15]…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằng Mặc dù sống bên cạnh một ngời chồng không
có tình thơng yêu nhng ngời đàn bà ấy vẫn cố gắng nhẫn nhục tần tảo nuôichồng, nuôi con vẫn luôn tơi cời tha gửi dịu dàng với chồng, dành cho con một
tình thơng yêu vô bờ bến Bắt đầu cuộc đời một bà mẹ sống thầm lặng nh “cái bóng ngắn của bức tờng dày mãi mãi thuần phục ở dới chân để rồi sẽ tan xuống
đất nếu ánh sáng soi tắt”; khi ngời chồng chết bà phải tha phơng cầu thực tìm
cách nuôi con và chịu đựng mọi khinh bỉ, ruồng bỏ của gia đình nhà chồng Điều
đáng nói là những thế lực đó đã ăn sâu vào tâm lý con ngời và đã ám ảnh đời
sống của con ngời “phong tục và lễ nghi cổ hủ đã bắt ngời mẹ coi sự sinh nở khi cha đoạn tang chồng cũ ghê tởm hơn là tội ác xấu xa nhất Và các thành kiến gông cùm từ ngàn xa truyền lại đã nâng một đứa con trai cha đầy mời bốn tuổi lên địa vị cao trọng để mẹ nó phải khuất phục, cầu khẩn!” [28; 69] Đó là số
phận bà mẹ Nguyên Hồng Một cuộc đời sống vật vờ, thầm lặng, chua xót bêncạnh ngời chồng không yêu, thêm vào đó là sự khinh rẻ, ruồng bỏ của nhàchồng, là miệng lỡi thế gian cay độc nh những làn roi quất túi bụi vào thể xác,tinh thần chỉ vì tội “sinh nở khi cha đoạn tang chồng” Từ cuộc đời đau khổ vànhẫn nhục của mẹ mình Nguyên Hồng đã thơng yêu biết bao bà mẹ Việt Namkhác bị lễ giáo phong kiến và những lề thói khắc nghiệt của xã hội cũ vùi dập
đày đoạ “ngời phụ nữ ấy là một bà mẹ trẻ, nghèo khổ cần cù nhẫn nại giàu lòng
vị tha và đức hy sinh, có một bản năng tự nhiên của một ngời phụ nữ là thèm khát sự sinh nở và yêu thơng con tha thiết”(Nguyễn Đăng Mạnh).
Trang 35Cảnh ngộ và thân phận ngời phụ nữ trong tác phẩm Nguyên Hồng thật là
đáng thơng Nhà văn đã ghi lại đợc những nỗi khổ điển hình của ngời đàn bàViệt Nam trong những năm dài tăm tối trớc cách mạng tháng Tám Hình tợngnhân vật phụ nữ chiếm 2/3 trong thế giới nhân vật của Nguyên Hồng trớc cáchmạng Nhân vật phụ nữ đã trở thành nhân vật tâm huyết của nhà văn Trả lời giáo
s Nguyễn Đăng Mạnh về nhân vật phụ nữ trong tác phẩm của mình, Nguyên
Hồng đã nói: “Có lẽ tôi chú ý đến những con ngời cực khổ đáng thơng nhất trong xã hội cũ nên tự nhiên viết về ngời phụ nữ đấy thôi” Qua những trang viết của
Nguyên Hồng ta có cảm giác dờng nh tạo hoá sinh ra họ là để gánh chịu mọi đauthơng, bất hạnh, mọi tai hoạ cơ cực nhất; cả đời làm việc quần quật vì chồng con,gia đình Đó là ngời phụ nữ - những con ngời mà sự “vất vả, lam lũ chồng chấtlên đầu, lên cổ họ gần nh là một dĩ nhiên, cả sự làm tôi đòi, cho họ hàng, cha
mẹ, chồng con”
Cảm hứng trong tác phẩm Sống nhờ, đợc Mạnh Phú T thể hiện trên
những trang văn giàu hình ảnh và đậm chất dân gian Qua cuộc đời của chínhmình ông bộc lộ tấm lòng nhân đạo cao cả với con ngời và thái độ phê phán xãhội chà đạp lên hạnh phúc bình dị của con ngời Nhà văn miêu tả một cách chânthực hoàn cảnh, cuộc sống của cậu bé Dần Ngay những lời mở đầu của tác
phẩm, ngời đọc đã biết đến số phận của nhân vật: “vừa mới lọt lòng mẹ, tôi đã là
đứa trẻ mồ côi; Mẹ tôi có thai tôi đợc ngoài năm tháng thì cha tôi mất” [66; 7].
Thật bất hạnh cho một đứa trẻ sinh ra mà cha biết đến ngời cha của mình Trongtrí óc non nớt của đứa trẻ, hình ảnh về một ngời cha luôn luôn đợc vẽ bằng sự t-
ởng tợng, liên tởng “ngay từ khi lên bốn lên năm, đi chơi với các trẻ con hàng xóm, thấy chúng thờng khoe thầy, hỏi thầy tôi đâu Rồi từ đó, những chuyện liên quan đến cha tôi, tôi đều nghe ngóng: trí non nớt của tôi nh bị xúc động bởi một
điều gì đó bí hiểm, kỳ lạ” [66; 8] Ngời mẹ goá còn rất trẻ của Dần không sống
nổi trong cảnh nhà chồng ghét bỏ hắt hủi, đã bỏ Dần ở lại để “đi bớc nữa”, “mẹtôi nuôi tôi đến năm lên sáu, bỏ tôi lại rồi đi lấy chồng” [66; 15] Thế là mẹ Dần
bị coi là “đi theo trai” bị khinh ghét không đợc gặp Dần và cấm không đợc coi
đó là con của mình Dần đã mồ côi cha, nay lại xa mẹ, bắt đầu cuộc đời “sống nhờ ” đầy tủi nhục Đó là cả một chuỗi ngày sống vất vởng, bơ vơ, cô đơn, không
có sự dạy dỗ, che chở của ngời cha, thiếu sự nâng niu âu yếm của ngời mẹ Thêmvào đó là sự hắt hủi, hành hạ của các chú, thím Không chấp nhận cảnh sống nhvậy, Dần phản kháng bằng cách bỏ nhà đi lêu lổng và trở thành một đứa trẻ hhỏng Lớn lên, Dần đợc gia đình cho đi học nhng đành phải bỏ giữa chừng vì ởquê hai bà nội, ngoại của Dần không còn khả năng chu cấp
Trang 36Nh vậy, với thể loại tự truyện bằng những chi tiết, cụ thể sinh động, MạnhPhú T đã tái hiện tuổi ấu thơ của một cậu bé đáng thơng với bao khổ đau mấtmát Hình ảnh Dần trong những giai đoạn khác nhau, với những biến đổi trongcuộc đời đã giúp ngời đọc cảm nhận đợc tình cảnh tội nghiệp, thân phận nhỏ bécủa cậu bé mồ côi Thế nhng trong sâu thẳm tâm hồn cậu bé, vẫn là một đứa trẻnon nớt, ngây thơ Ngày đầu tiên phải xa mẹ, “tôi ra ngồi ở đầu hè, dựa lng vàomột góc cột, tỷ tê khóc” [66; 25] Và khi bất ngờ đợc gặp lại mẹ “tôi cứ trố mắtnhìn mẹ tôi, bỏ rơi những quả vải trên đất không buồn nghĩ đến nhặt” Sự xúc
động nghẹn ngào khi tởng phải rời xa mẹ mãi mãi, giờ đây lại đợc trở về tronglòng mẹ, khiến Dần sung sớng đến bàng hoàng Nhng sự gần gũi, âu yếm của mẹdành cho Dần không đợc lâu Mẹ Dần đi lấy chồng Bị mọi ngời trêu, Dần “cãilại: - U tôi bảo u tôi đi chơi đấy chứ Ngày mai lại về” Dần vẫn tin mẹ sẽ trở vềvới em Nhng xót xa hơn khi Dần hiểu rằng, từ nay nó đã bứt lìa khỏi tình mẫu tử
thiêng liêng, cao quý “tôi đành yên lặng, đờ đẫn nhìn mẹ tôi đi xa dần Mẹ tôi đi
đợc một quãng đờng, cơn khóc bật lên từ trong cuống họng tôi Tôi định gọi to
mẹ tôi, nhng tôi lại lo lo, sợ sợ Khi mẹ tôi đã đi khuất hẳn, tôi vẫn còn sụt sịt khóc Tôi quay trở lại và lúc đó tôi bỗng khóc to và kêu lên: - U ơi! Là u ơi! Cứ thế trong một lúc lâu.” [66; 29, 30, 32] Dần đã sớm nhận ra thân phận của mình,
cho nên nó “lo lo, sợ sợ” Tiếng gọi mẹ không thể cất lên thành lời Nỗi đau nhnghẹn ứ trong cổ họng Khi nhớ mẹ, Dần nhờ bạn viết th cho mẹ nhng cậu khôngbiết viết gì Tình cảm dành cho mẹ thật lớn lao, nỗi nhớ mẹ dạt dào trong lòngnhng cậu bé không thể diễn đạt nó thành lời Phải chăng, nỗi đau trong lòng cậu
bé đã quá lớn, hơn nữa sự ngây thơ, trong trẻo của tâm hồn con trẻ khiến nhữngtình cảm ấy không thể bộc lộ ra ngoài
Trang 37Cậu bé Dần trong Sống nhờ mồ côi cha mẹ, sống lay lắt trong sự bố thí, khinh rẻ, hắt hủi của chú thím, của dì Còn cậu bé Hồng trong Những ngày thơ
ấu thì lại rơi vào cảnh ngộ đáng thơng khác Hồng thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu cả
tình thơng của gia đình ngời thân Những đứa trẻ này khiến chúng ta liên tởng
đến nhân vật Tý trong tác phẩm Tắt đèn Vì gia đình nghèo đói mà Tí đã trở
thành một món hàng, trở thành công cụ của bọn cờng hào địa chủ Nó bị dồn ép
đến bớc đờng cùng của nghèo đói, bất hạnh Cu Bởi trong Cỏ dại may mắn hơn
dù nghèo đói nhng em vẫn đợc sống trong tình thơng yêu của mẹ, gia đình bênngoại Mỗi tác phẩm là một cảnh đời, một số phận của những đứa trẻ trong xãhội cũ nhng chúng đều có những điểm chung Chúng đều là những đứa trẻ sớmphải xa rời, thiếu tình yêu thơng của ngời mẹ, phải bơn chải với sóng gió cuộc
đời, phải làm đủ mọi nghề để mu sinh Chúng thật sự thiếu thốn cả về vật chấtlẫn tinh thần Những đứa trẻ nghèo đói ấy là nạn nhân của xã hội, đầy rẫy bấtcông ngang trái, một xã hội vô nhân đạo đã cớp đi những ngày tháng tốt đẹp nhấtcủa các em Tuổi ấu thơ nghèo đói bất hạnh của những nhân vật trẻ thơ trong cáctác phẩm cũng là tuổi thơ của biết bao đứa trẻ thơ khác trong xã hội đơng thời.Vì vậy, viết về cuộc đời trẻ thơ và của chính tuổi thơ của mình các tác giả đã thể
hiện sự uất ức và hơn hết là tình yêu thơng tha thiết và lòng cảm thông sâu sắc
đối với trẻ em Đồng thời các nhà văn cũng cất lên tiếng nói tố cáo tội ác của xã
hội cũ đanh thép
Từ cảnh ngộ và tâm sự của những đứa bé côi cút, cùng khổ qua các tác
phẩm tự truyện Những ngày thơ ấu và Sống nhờ, các tác giả cho chúng ta thấy
bộ mặt lạnh lùng, tàn nhẫn của xã hội thợng lu tiểu t sản nhỏ nhen, giả dối, độc
ác, đầy rẫy những hủ tục nghiệt ngã khiến cho tình họ hàng thân thích cũng trởnên khô héo, lạnh lùng, một xã hội đầy rẫy những thành kiến cổ hủ đã bóp nghẹtquyền sống, quyền hạnh phúc của con ngời, đặc biệt là của trẻ em Cảm hứngphê phán của các tác giả bao trùm lên những tự truyện
Trang 38Chúng tôi nhận thấy, nhân vật trẻ thơ trong các tác phẩm trên đều là những
đứa trẻ bất hạnh Nhng ở các em vẫn lấp lánh vẻ đẹp của tâm hồn Các em vẫnluôn tràn đầy tình yêu thơng, sẵn sàng chia sẽ những khó khăn với bạn bè, vớinhững ngời kém may mắn hơn mình Chúng vô t hồn nhiên nhng lại rất nhạycảm với nỗi đau của ngời khác Dù phải sống trong những hoàn cảnh tối tăm đến
đâu chúng vẫn là những đứa trẻ giàu tình cảm và có tấm lòng hết sức nhân hậu.Trong tâm hồn chúng luôn ngời lên nét đẹp của lòng “tơng thân, tơng ái” Viết
về những số phận trẻ thơ nghèo, các nhà văn đã khắc hoạ hết sức thành công bứctranh hiện thực vô cùng đen tối của xã hội thực dân nửa phong kiến Đây lànhững ác phẩm có sức tố cáo mảnh liệt và đồng thời thể hiện tấm lòng yêu th-
ơng, sự cảm thông chân thành, sâu sắc với những đứa trẻ nghèo, bất hạnh
Cảm hứng trong các tự truyện là cảm xúc trực tiếp, nó bắt nguồn từ sự trảinghiệm của chính tác giả Đó có thể là cảm hứng nhân đạo, cảm hứng phê phán,cảm hứng cần lao, cảm hứng tự trào…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằngCác cảm hứng ấy nóng bỏng trong nhữnghoài niệm xót xa hay thiết tha chân thành trong những suy t, triết lý…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằngBằng tìnhcảm chân thành và sự trải nghiệm đó các tác giả đã truyền cho ngời đọc sự xúc
động khôn nguôi về những cảnh đời Đúng nh lời của nhà văn Nguyễn Khải đãkhẳng định cái làm nên giá trị của một tác phẩm là tình cảm và “tình cảm làkhâu đầu tiên cũng là khâu cuối cùng trong quá trình xây dựng một tác phẩmnghệ thuật”
2.2 Cái nhìn hiện thực
2.2.1 Cái nhìn đặc trng về hiện thực của thể loại tự truyện
Cái nhìn là một năng lực tinh thần đặc biệt của con ngời, nó có thể thâmnhập vào sự vật, phát hiện đặc điểm của nó mà vẫn ở ngoài sự vật, bảo lu toànvẹn thẩm mỹ của sự vật, do đó cái nhìn đợc vận dụng muôn vẻ trong nghệ thuật
Nghệ thuật không thể thiếu cái nhìn M.Khrapchencô nhận xét: “Chân lý ở cuộc sống trong sáng tác nghệ thuật không tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối với thế giới, vốn có ở từng nghệ sĩ thực thụ” [36; 66] Nhà văn
Pháp Macxen Pruxt có nói: “Đối với nhà văn cũng nh đối với nhà hoạ sĩ, phongcách không phải là vấn đề kỹ thuật mà là vấn đề cái nhìn” Do vậy cái nhìn làbiểu hiện của tác giả Cái nhìn thể hiện trong tri giác, cảm giác, quan sát, do đó
nó có thể phát hiện cái đẹp, cái xấu, cái hài, cái bi…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằng Cái nhìn bao quát khônggian và thời gian, bị không gian, thời gian chi phối Cái nhìn xuất phát từ một cáthể mang thị hiếu và tình cảm yêu ghét Cái nhìn gắn với liên tởng, tởng tợng,cảm giác nội tâm, biểu hiện trong ví von, ẩn dụ, đối sách…Nếu thơ trữ tình, bộc lộ rõ cái tôi thì có thể thấy rằng Cái nhìn có thể đem
Trang 39Cái nhìn thể hiện trong chi tiết nghệ thuật bởi vì chi tiết là điểm rơi của cáinhìn Khi nhà văn trình bày cái họ nhìn thấy cho ta cùng nhìn thấy thì ta đã tiếpthu đợc cái nhìn của họ, tức là đã bớc vào phạm vi ý thức của họ, chú ý cái mà
họ chú ý Khi ta nhận thấy nhà văn này chỉ chú ý cái này, nhà văn kia lại chú ýcái kia tức là ta đã nhận ra con ngời nghệ sĩ của tác giả
Nếu văn học lãng mạn nhìn cuộc đời thi vị hoá và thờng chú ý đến nhữngcâu chuyện tình lãng mạn thì văn học hiện thực nhìn cuộc đời chân thực, kháiquát chân dung con ngời, thời đại Tuy vậy, mỗi thể loại khác nhau mức độ chânthực cũng khác nhau Nếu trong truyện ngắn phản ánh hiện thực theo hớng táitạo, h cấu thì tự truyện nhìn hiện thực nh nó vốn có Nhà văn tự kể về đời mình
và trung thực chân thành với lời kể đó Và cái nhìn trong tác phẩm tự truyện là
cái nhìn gần, cái nhìn gắn với đời t của bản thân tác giả, khác với cái nhìn xa về
thế giới bên ngoài tác ở một số thể loại khác
Hiện thực trong tự truyện là quá khứ, là cái đã qua, nên cái nhìn của chủ
thể sáng tạo là cái nhìn phán xét, chiêm nghiệm Họ chiêm nghiệm về bản thân,
về nhân tình thế thái, về xã hội Thái độ của họ trong các tác phẩm hầu nh ít có
sự ngợi ca mà chủ yếu là phê phán bởi cái mà họ đã trải qua là những ngày tháng
đau đớn, tủi hờn Tuy vậy bao trùm lên các tác phẩm không phải là không khí u
ám, bi luỵ mà vẫn chói sáng một niềm tin tởng ở sự vơn lên, ở bản lĩnh, ở nhữnggiấc mơ tơi đẹp Nhà văn tự truyện ý thức sâu sắc về cuộc đời, thân phận củamình và bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ với những số phận cùng cảnh ngộ Do đógiá trị nhân văn, nhân sinh trong các tự truyện là cái nhìn hiện thực, trái timnóng bỏng yêu thơng và cá tính, tài năng của những ngời cầm bút Cái nhìn hiệnthực còn chịu sự chi phối và quyết định từ cảm hứng của nhà văn
2.2.2 Cái nhìn hiện thực của Nguyên Hồng và Mạnh Phú T trong hai
tự truyện Những ngày thơ ấu va Sống nhờ
Trang 40Xã hội Việt Nam những năm 1930 là xã hội thực dân nửa phong kiến vớibao biến động dữ dội Cuộc sống của ngời dân đã từ lâu luôn chịu bao áp bứcnặng nề, ngột ngạt, khốn khổ, đói rách Đến giai đoạn này, cuộc sống oi bức,cùng quẫn kéo dài nên nhiều ngời phải bỏ quê ra thành phố, tha phơng cầu thực,rồi lại bị chính xã hội độc ác vô lơng tâm biến thành những lu manh, gái điếm.Một số phu phen, thợ thuyền đã có những phản ứng tiêu cực: họ sa vào con đờngrợu chè, cờ bạc hút sách và ngày càng dấn thân vào con đờng tội lỗi Những ngờicòn lại thì quần quật đầu tắt mặt tối chịu đựng bao nỗi đày đoạ do miếng cơmmanh áo và hủ tục lạc hậu Những đứa trẻ sớm lăn lộn trong cuộc đời, xa rời mái
ấm gia đình vì miếng cơm manh áo, kiếm sống Nguyên Hồng và Mạnh Phú Tkhông chỉ nhìn thấy mà còn thấy rất rõ, không chỉ bằng mắt mà bằng điệu cảmcủa chính mình và trải nghiệm của bản thân Do đó, hiện thực trở nên chân thực,
sinh động, thấm thía trong hai cuốn tự truyện Những ngày thơ ấu và Sống nhờ.
Trong thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng, ta thấy rõ sự chi phối củamột lối nhìn triêng của nhà văn đối với hiện thực, một tấm lăng kính có độ chiếtquang riêng, cấu tạo bởi nhiều yếu tố t tởng và văn hoá khác nhau Đó là tinhthần lạc quan của một ngời dân lao động, là triết lý không thành văn của họ vềcuộc đời, là những giấc mơ đẹp trong truyện cổ tích Mặt khác, cảm quan tôngiáo đã khúc xạ vào nhân vật, khiến cho nhân vật của ông đẹp đẽ trong cả nhữngtình huống khốc liệt nhất Có ngời nói, đọc văn Nguyên Hồng thấy nặng nề căngthẳng Ông nh muốn dồn lên vai nhân vật của mình tất cả những đau thơng bấthạnh của kiếp ngời Đây là một cảm nhận không sai Bởi Nguyên Hồng là mộtcây bút hiện thực phê phán, nhân vật của ông là hiện thân của những nỗi khổ củacon ngời Việt Nam trớc cách mạng tháng Tám Nhng bên cạnh đó, do ảnh hởngcủa cảm quan tôn giáo, Nguyên Hồng đã lấy đau thơng làm sức nặng thử tháchsức bền đức tin – một thủ pháp nghệ thuật nhất quán khi xây dựng tất cả cácnhân vật Và nh vậy cảm hứng chủ đạo của Nguyên Hồng đó là từ cực khổ, lam
lũ ông ngợi ca, khẳng định vẻ đẹp và sự vơn lên của con ngời Đó là cái nhìn
thánh thiện trong cảm hứng nhân đạo thống thiết của nhà văn Vì thế bao giờ
Nguyên Hồng cũng chủ động ngòi bút của mình trong sự đối lập giữa thiện và
ác, giữa ánh sáng và bóng tối, giữa linh hồn và thể xác, giữ thánh thiện và tầmthờng Nguyễn Tuân là một ngời bạn hiểu về tính cách Nguyên Hồng nhận xét:
“Tôi là một thằng thích phá đình, còn anh là ngời tạc tợng đúc chuông”