1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết sống mòn của nam cao

46 4,7K 28
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết “Sống mòn” của Nam Cao
Tác giả Lê Thị Mỹ Hạnh
Người hướng dẫn TS. Đinh Trí Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 186,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Văn Hạnh với bài viết Nam Cao và khát vọng về một cuộc sống lơng thiện, xứng đáng in trong Nghĩ tiếp về Nam Cao - Hội nhà văn, H, 1992 đã nhận xét: “Trong tác phẩm của Nam Cao, co

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn -

Lê Thị Mỹ Hạnh

Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết

“Sống mòn” của nam cao

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Chuyên ngành: Văn học việt nam

Vinh - 2010

Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn -

Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết

“Sống mòn” của nam cao

Chuyên ngành: Văn học việt nam

Trang 2

Giảng viên hớng dẫn: TS Đinh Trí Dũng Sinh viên thực hiện: Lê Thị Mỹ Hạnh Lớp: 46E – Ngữ Văn

ơng đích thực, có sức vợt lên trên các bờ cõi và giới hạn, tìm đến đợc sự tri âm

tri kỷ và tạo đợc sự ám ảnh kỳ lạ đối với nhiều thế hệ công chúng

Là một tài năng lớn, một cây bút hiện thực xuất sắc, những tác phẩmcủa ông đã phản ánh chân thực cuộc sống ngột ngạt đen tối của xã hội thựcdân nửa phong kiến Đồng thời thể hiện sinh động, chân thực sự đau khổ, bếtắc cùng quẩn của những trí thức tiểu t sản nghèo và tầng lớp nông dân trớccách mạng tháng Tám Chúng tôi chọn tác giả Nam Cao để làm luận văn với

đề tài: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao Trớc

tiên xuất phát từ lòng say mê, yêu mến một nhà văn có tài, có đức trong vănhọc Việt Nam hiện đại

Trong chơng trình văn học ở nhà trờng phổ thông, Nam Cao là một tácgia có nhiều tác phẩm đợc tuyển chọn và đa vào giảng dạy trong nhà trờng

Đó là những tác phẩm tiêu biểu nh: Lão Hạc; Chí Phèo; Đời thừa; Đôi mắt; Một đám cới Đây thực sự là những tác phẩm xuất sắc, khẳng định vị trí nhà

văn trong văn chơng nhà trờng Vì vậy, tìm hiểu về đề tài: Thế giới nhân vật

Trang 3

trong tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ

và sâu sắc hơn về tác phẩm cũng nh hệ thống nhân vật trong Sống mòn Đây

cũng là một trong những cơ sở để hớng cho học sinh hiểu đợc thêm về tấmlòng và tài năng của một nhà văn lớn trong nền văn học Việt Nam, giúp chohọc sinh thấy đợc cái nhìn mới mẻ của nhà văn trong việc xây dựng các hìnhtợng nghệ thuật

Hơn nữa, đây là một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn và khoa học, nó sẽgóp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu con ngời và sáng tác của Nam Cao, khẳng

định những đóng góp của Nam Cao trong tiến trình phát triển của văn họcViệt Nam hiện đại

2 Lịch sử vấn đề

Nam Cao là một trong những nhà văn sớm đợc nghiên cứu và cũng làmột trong những nhà văn có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến Nghiêncứu về Nam Cao có thể kể từ năm 1941 với lời giới thiệu của Lê Văn Trơng,nhng chỉ thực sự bắt đầu từ những năm sau cách mạng tháng Tám Nhiều côngtrình nghiên cứu công phu, có tính khoa học cao đã đợc giới thiệu, có thể kể

đến bài viết của Nguyễn Đình Thi, chuyên luận Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất sắc của Hà Minh Đức, và hàng loạt bài viết, các công trình nghiên cứu

của các nhà văn, các học giả nổi tiếng nh Tô Hoài, Phong Lê, Nguyễn ĐăngMạnh, Nguyễn Minh Châu và nhiều bài viết của các nhà giáo, các sinh viên,học sinh đã và đang tiếp tục đợc giới thiệu trên các tạp chí, báo chí, các phơngtiện thông tin đại chúng

ở hai mảng đề tài nông dân và đề tài trí thức tiểu t sản bức tranh hiệnthực của Nam Cao không chỉ nghiêng về bình diện phản ánh, quan sát mà cònxâm nhập sâu vào trong bản chất những cái vặt vảnh, tủn mủn của đời sốnghằng ngày Trong sáng tác của Nam Cao, những điều tởng nh không đâu vào

đâu thờng lại tự tác động mạnh mẽ đến nhân cách con ngời “nh tảng đá đè trĩu lên lòng ngời”.

Theo sự thống kê trong Th mục về Nam Cao (Sách: Nam Cao - về tác gia tác phẩm của Bích Thu tuyển chọn và giới thiệu - Nxb Giáo dục năm

2001) thì tác giả đã thống kê đợc khoảng 200 công trình lớn nhỏ viết về NamCao và tác phẩm của ông Đặc biệt trong thập niên cuối thế kỷ, đã diễn ra haicuộc hội thảo khoa học về nhà văn Tháng 11/ 1991, viện văn học phối hợp vớihội nhà văn, hội văn nghệ Hà Nam Ninh và trờng Đại học s phạm Hà Nội I tổchức hội thảo khoa học nhân 40 năm ngày mất của Nam Cao (1951 - 1991).Kết quả của hội thảo là một cuốn sách giới thiệu những suy nghĩ và nhận thức

Trang 4

mới về nhà văn với tựa đề Nghĩ tiếp về Nam Cao do nhà xuất bản Hội nhà văn

ấn hành năm 1992 Đến tháng 10/1997, hội thảo khoa học nhân 80 năm ngàysinh Nam Cao (1917 - 1997) do Viện văn học tổ chức đã khẳng định rõ vị trí

và vai trò của nhà văn trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại

Nguyễn Đăng Mạnh với bài viết Nhớ Nam Cao và những bài học của

ông đã nói về sức hấp dẫn của ngòi bút Nam Cao trong việc phân tích tâm lý

và thái độ nhà văn

Nguyễn Văn Hạnh với bài viết Nam Cao và khát vọng về một cuộc sống lơng thiện, xứng đáng (in trong Nghĩ tiếp về Nam Cao - Hội nhà văn, H, 1992) đã nhận xét: “Trong tác phẩm của Nam Cao, con ngời sống trong một xã hội dữ dằn, cay nghiệt, hoàn cảnh nh muốn nghiền nát con ngời đi, nhng con ngời vẫn không chịu khuất phục, vẫn cố ngoi lên để sống, để bộc lộ tính cách, để làm ngời”.

Tác giả Đinh Trí Dũng trong bài viết: Bi kịch tự ý thức - nét độc đáo trong cảm hứng nhân đạo của Nam Cao đã đề cập đến bi kịch tự ý thức của những nhân vật trí thức tiểu t sản trong tác phẩm Nam Cao nh sau: “Nhìn thẳng vào sự thật bao giờ cũng khó khăn, và nhìn thẳng vào lơng tâm, tâm hồn mình càng khó khăn hơn Đó là một cuộc đấu tranh quyết liệt cần cả sự

hy sinh, lòng trung thực, thái độ dũng cảm và cả những ớc muốn cao cả Nam Cao đã chuẩn bị cho các nhân vật của mình một hành trang nh thế Ước muốn vơn lên những tầm cao, ớc muốn hoàn thiện nhân cách mình, đó là lý

do, cũng là cái đích để nhiều nhân vật tiểu t sản cảu Nam Cao hớng tới”.

Nói tóm lại, lịch sử nghiên cứu về Nam Cao là một lịch sử phong phú,

đa dạng, ngời ta đã khai thác, nghiên cứu tài năng này trên nhiều phơng diện,khía cạnh khác nhau nhng dờng nh vẫn cha đầy đủ, cha thỏa mãn Các bàinghiên cứu đã đề cập đến nhiều mặt thành công trong việc xây dựng nhân vật.Nhng nhìn chung các bài nghiên cứu này cha đi sâu phân tích một cách hệ

thống thế giới nhân vật trong “Sống mòn” Bởi vậy trong khóa luận này chúng

tôi sẽ cố gắng đi sâu tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm này Do hạn chế về thờigian và trình độ nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Nhng đây làtấm lòng mà chúng tôi muốn dành cho một nhà văn xuất sắc mà chúng tôiluôn yêu mến

3 Phơng pháp nghiên cứu.

Để đạt đợc mục đích đã đặt ra ở khóa luận này, chúng tôi sử dụng

Trang 5

ph-Phơng pháp hệ thống: Nhằm xem xét các nhân vật trong tác phẩmNam Cao nh một hệ thống có sự tác động và liên quan với nhau.

Phơng pháp phân tích nhân vật: Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi đặtnhân vật của Nam Cao trong sự so sánh, đối chiếu với các nhân vật của cácnhà văn cùng trào lu văn học hiện thực phê phán nh Ngô Tờt Tố, Vũ TrọngPhụng, Nguyễn Công Hoan để thấy đợc những nét chung và riêng, đồng thờithấy đợc những đóng góp to lớn của Nam Cao cho nền văn học nớc nhà

4 Cấu trúc luận văn.

Luận văn gồm có 3 phần:

Phần mở đầu.

Phần nội dung:

Chơng 1: Quan niệm nghệ thuật về con ngời của Nam Cao.

Chơng 2: Thế giới nhân vật và nghệ thuật thể hiện nhân vật trong tiểu

thuyết “Sống mòn”.

Chơng 3: Nhân vật Thứ - thành công nổi bật của Nam Cao trong tiểu

thuyết “Sống mòn”.

Phần kết luận.

Trang 6

Chơng 1:

Quan niệm nghệ thuật về con ngời của Nam Cao

1 Khái quát về sự nghiệp sáng tác của Nam Cao trớc cách mạng tháng Tám.

Nam Cao có sáng tác đăng báo từ năm 1936, nhng sự nghiệp văn học

của ông chỉ thực sự bắt đầu từ truyện ngắn Chí Phèo (1941) Sáng tác của

Nam Cao trớc cách mạng tập trung vào hai đề tài chính: Cuộc sống ngời tríthức tiểu t sản nghèo và cuộc sống ngời nông dân ở quê hơng

ở đề tài ngời trí thức tiểu t sản, đáng chú ý là các truyện ngắn: Những

truyện không muốn viết; Trăng sáng; Mua nhà; Truyện tình; Quên điều độ; Cời; Nớc mắt; Đời thừa và tiểu thuyết Sống mòn (1944) Trong những sáng

tác này, Nam Cao đã miêu tả hết sức chân thực tình cảnh nghèo khổ, dở sống

dở chết của những nhà văn nghèo, những “giáo khổ trờng t”, học sinh thất

nghiệp Nhà văn đặc biệt đi sâu vào những bi kịch tâm hồn của họ, qua đó

đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, vợt khỏi phạm vi của đề tài Đó

là tấn bi kịch dai dẳng, thầm lặng mà đau đớn của ngời trí thức có ý thức sâusắc về giá trị sự sống và nhân phẩm, có hoài bão lớn về một sự nghiệp tinhthần, nhng lại bị gánh nặng cơm áo và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm cho

“chết mòn”, phải sống cuộc “đời thừa” Những tác phẩm đó đã phê phán sâu

sắc xã hội phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con ngời, đồngthời đã thể hiện sự tự đấu tranh bên trong của ngời trí thức tiểu t sản trung thực

cố vơn tới một cuộc sống đẹp đẽ, thực sự có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sốngcon ngời

Nam Cao đã để lại chừng hai mơi truyện ngắn viết về cuộc sống tối

tăm thê thảm của ngời nông dân đơng thời Những truyện đáng chú ý là: Chí Phèo; Trẻ con không đợc ăn thịt chó; Mua danh; T cách mõ; Điếu văn; Một bữa no; Lão Hạc; Một đám cuới; Lang Rận; Dì Hảo; Nửa đêm

ở đề tài nông dân, Nam Cao thờng quan tâm tới những hạng ngời cốcùng , những số phận hẩm hiu, bị ức hiếp nhiều nhất Họ càng hiền lành, nhịnnhục thì càng bị chà đạp phủ phàng Ông đặc biệt đi sâu vào những trờng hợpcon ngời bị lăng nhục một cách độc ác, bất công, mà xét đến cùng, chẳng quavì họ đói nghèo, khốn khổ Tuy giọng văn lắm khi lạnh lùng, nhng kỳ thực,Nam Cao đã dứt khoát bênh vực quyền sống và nhân phẩm những con ngời bất

hạnh, bị xã hội đẩy vào tình cảnh nhục nhã đó (Chí Phèo; Một bữa no; T cách mõ; Lang Rận ) Viết về những ngời nông dân bị lu manh hóa, nhà văn đã kết

Trang 7

án sâu sắc cái xã hội tàn bạo tàn phá cả thể xác lẫn linh hồn ngời nông dân lao

động Đồng thời ông vẫn phát hiện và khẳng định bản chất lơng thiện đẹp đẽcủa họ, ngay trong khi họ bị vùi dập tới mất cả hình ngời, tính ngời Nhà văn

đã đặt ra vấn đề phải xác định “đôi mắt” đúng đắn để nhìn nhận về quần chúng Ông luôn có ý thức cố mà tìm hiểu cái bản tính tốt của ngời nông dân nghèo thờng bị che lấp, vùi dập Trong nhiều tác phẩm, Nam Cao không

những đã vạch ra nỗi khổ cùng cực của ngời nông dân mà còn thể hiện cảm

động bản chất đẹp đẽ, cao quý trong tâm hồn họ (Lão Hạc; Một đám cới; Dì Hảo ).

Có thể nói, dù viết về ngời trí thức nghèo hay ngời nông dân cùng khổ,Nam Cao luôn day dứt tới đau đớn trớc tình trạng con ngời bị xói mòn về nhânphẩm, thậm chí bị hủy diệt cả nhân tính, trong cái xã hội phi nhân đạo đơngthời

Cũng nh các nhà văn tiểu t sản khác cha nắm đợc chân lý cách mạng,Nam Cao không thấy đợc khả năng đổi đời của những con ngời khốn cùng và

triển vọng của xã hội Song trong truyện ngắn “Điếu văn” (1944), ông đã viết những dòng dự báo sôi nổi: “Sự đời không thể cứ mù mịt mãi thế này đâu T-

ơng lai phải sáng sủa hơn Một rạng đông đã báo rồi!” Có thể coi đó là lời

chào đón thắm thiết tia sáng rạng đông đang báo hiệu ở chân trời lúc bấy giờ

2 Khái niệm: Quan niệm nghệ thuật về con ngời.

Mọi ngời đều biết “Văn học là nhân học” (M Gorki), là nghệ thuật

miêu tả, biểu hiện con ngời Con ngời là đối tợng chủ yếu của văn học, là

“điểm nhìn” chính yếu của chủ thể sáng tạo nghệ thuật C.Mác cũng từng khẳng định: “Con ngời là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Có thể nói, con

ngời là trung tâm của mọi vấn đề trong cuộc sống Trong thế giới nghệ thuật,

quan niệm nghệ thuật về con ngời là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con

ng-ời đã đợc hóa thành các nguyên tắc, phơng tiện, biện pháp, thể hiện con ngng-ời trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tợng nhân vật trong đó”.

Vấn đề quan niệm nghệ thuật về con ngời thực chất là vấn đề tính năng

động của nghệ thuật trong việc phản ánh hiện thực, lý giải con ngời bằng cácphơng tiện nghệ thuật, là vấn đề giới hạn, phạm vi chiếm lĩnh đời sống của

Trang 8

một hệ thống nghệ thuật, là khả năng thâm nhập của nó vào các miền khácnhau của cuộc đời

Quan niệm nghệ thuật về con ngời là cách cắt nghĩa, cách đánh giá, lýgiải của nhà văn về phẩm chất, số phận và tơng lai của con ngời thông qua hệthống hình thức nghệ thuật mà nhà văn sáng tạo ra tác phẩm

Quan niệm nghệ thuật về con ngời chi phối sáng tác của nhà văn, vìthế, khi nghiên cứu về con ngời không phải nhìn nhận ở góc độ khách thể màphải xem xét con ngời dới lăng kính chủ quan của nhà văn và việc tìm hiểuquan niệm nghệ thuật về con ngời tức là đi vào khám phá cách cảm thụ vàbiểu hiện thế giới chủ quan của ngời sáng tạo trong tác phẩm văn học

Quan niệm nghệ thuật về con ngời là một phạm trù của thi pháp học,

nó hớng chúng ta nhìn về một đối tợng chính yếu của văn học, về quan niệmthẩm mĩ của ngời nghệ sĩ

Quan niệm nghệ thuật về con ngời cũng chịu ảnh hởng của quan niệmtriết học, của tôn giáo, của pháp luật, của đạo đức về con ngời Nhng quanniệm ngh thuật về con ngời là một giá trị độc đáo, không lặp lại các quanniệm trên Nó khác với quan niệm triết học về con ngời ở chỗ, triết học sửdụng t duy logic để khám phá trừu tợng về con ngời, còn nghệ thuật sử dụng tduy hình tợng để nói quan niệm về con ngời một cách cụ thể cảm tính thôngqua hệ thống hình thức tác phẩm

Nói đến quan niệm nghệ thuật về con ngời trớc hết là sự sáng tạo chủquan của ngời nghệ sĩ khi phát hiện những mặt khác nhau trong thế giới conngời còn bị che lấp Không nên đánh giá con ngời bằng những bản mẫu vềnhững giá trị cho trớc, cần phải khẳng định con ngời trong tình huống cụ thể

để lý giải và đánh giá nó Bởi vì con ngời là sản phẩm sáng tạo độc đáo củanhà văn, nó là cách đánh giá, lý giải, cắt nghĩa của nhà văn, nó đợc biểu hiệnbằng hình thức nghệ thuật

Bên cạnh đó quan niệm nghệ thuật về con ngời mang đến dấu ấn sángtạo cá tính nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn của nghệ sĩ

Quan niệm về con ngời là một sản phẩm của lịch sử, của văn học và ttởng Mỗi một thời đại thờng có một quan niệm riêng về con ngời Song vẫncòn có những điểm chung nhất định: Đó là những con ngời in dấu ấn xã hội,mang đậm dấu ấn của ngời nghệ sĩ, gắn với cái tôi của chủ thể sáng tạo Conngời còn đợc gắn với từng thể loại riêng và ở mỗi thể loại có một chức năng,phơng tiện biểu hiện riêng biệt

Trang 9

Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn học là tiêu chuẩn đánhgiá giá trị nhân đạo vốn có của văn học vì nó luôn hớng tới con ngời trong mọichiều sâu của nó Ngời sáng tạo nghệ thuật càng đi sâu khám phá, phân tích,

lý giải cặn kẽ mọi ngõ ngách của đời sống con ngời thì càng thể hiện giá trịnhân văn sâu sắc trong tác phẩm nghệ thuật

3 Mối quan hệ giữa quan niệm nghệ thuật về con ngời và thế giới nhân vật.

Muốn tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con ngời thì phải xuất phát từnhân vật, bởi vì nhân vật là phơng tiện chính để nhà văn thể hiện quan niệm vềcon ngời

Có thể nói, quan niệm về con ngời là yếu tố chủ đạo chi phối và quy

Kiểu nhân vật theo quan điểm thi pháp học đợc ngời đọc khái quát từvăn bản nghệ thuật của nhà văn, chứ không phải là những mô hình mang tính

lý thuyết ngoài tác phẩm Vì vậy, mỗi kiểu nhân vật là một biểu hiện của ýthức về giá trị con ngời của nhà văn Mỗi nhân vật là một sự đánh giá, một cáinhìn nghệ thuật của tác giả đối với sự sống của con ngời Nh vậy, một kiểunhân vật trong tác phẩm là một giới hạn về giá trị con ngời

4 Quan niệm nghệ thuật về con ngời của Nam Cao trong truyện ngắn và tiểu thuyết.

Nam Cao là một nhà văn hiện thực xuất sắc của văn xuôi hiện đại trớccách mạng 1945 Ông tiếp thu quan niệm về con ngời cá nhân, ông đi sâu thểhiện con ngời bị tha hóa, nhng ông cũng thấy đợc con ngời còn giữ đợc tínhngời Vì vậy tác phẩm của ông vừa đau đớn, vừa mạnh mẽ, nhức nhối NamCao là nhà văn đạt đợc những vấn đề bức xúc nhất, sâu sắc nhất, nhân vănnhất về con ngời

Con ngời trong tác phẩm của Nam Cao cũng thuộc phạm trù văn họchiện đại, nơi cá tính sáng tạo nhà văn đóng vai trò chủ đạo trong việc khắc họccon ngời, nơi con ngời cá nhân, số phận cá nhân đợc chú trọng miêu tả NamCao phản ánh con ngời lao động và con ngời trí thức nh các nhà văn hiện thựckhác Nhng qua các tác phẩm của mình, Nam Cao đã có một cách nhìn mới

Trang 10

mẻ, có chiều sâu và rất nhân bản về con ngời và ông cũng nhìn con ngời từnhiều góc độ.

Cũng nh các cây bút khác cùng trào lu nh Nguyễn Công Hoan, NgôTất Tố, Vũ Trọng Phụng con ngời trong tác phẩm của Nam Cao trớc cách

mạng là “con ngời xã hội” với đầy đủ các mối quan hệ phức tạp ở đời Đó là

con ngời mang bản chất xã hội, nó luôn đại diện cho một tầng lớp, một giaicấp hay một địa vị xã hội nào đó mà mang những nét tính cách của tầng lớp

ấy, giai cấp ấy

Đó là những ngời nông dân hiền lành chất phác nhng đời sống quá vất

vả, cơ cực Họ là “những ngời già không nơi nơng tựa, những em bé mồ côi không ai chăm sóc, những ngời đàn bà không biết đến hạnh phúc lứa đôi, gia

đình, vì nghèo, vì tàn tật, vì tệ nạn xã hội” (Nghèo; Dì Hảo; Lão Hạc; Một bữa no; Từ ngày mẹ chết; ở hiền ).

Nhà văn Nam Cao nhận thấy cuộc sống tối tăm, tù túng của những conngời chân lấm tay bùn nơi đồng quê chiêm trũng, sống trong một xã hội ngộtngạt Nam Cao còn nhận thấy những con ngời nông dân lơng thiện trở thànhnhững tên trộm cớp, lu manh, du thủ du thực Dới con mắt của Nam Cao,những con ngời phá phách này cùng với những ngời điên, những ngời câm,những ngời kỳ quặc đủ loại càng tô đậm thêm bộ mặt cùng quẩn, mất nhân

tính của xã hội nh: Chí Phèo (Chí Phèo); Trơng Rự (Nửa đêm); Trạch Văn

Đoành (Đôi móng giò); Lang Rận (Lang Rận) Cùng với những cái tên đó,

còn có không ít nhân vật nh một sự đối xứng, kết đôi với họ, gồm những: Thị

Nở, Nhi, mụ Lợi Những con ngời dị dạng do bẩm sinh hoặc do hoàn cảnh đã

Một loại nhân vật khác với những loại ngời trên ở chỗ họ có trình độhọc vấn, có ý thức hơn về thân phận, có nhiều băn khoăn về ý nghĩa của cuộc

sống, về giá trị làm ngời nh: Thứ (Sống mòn); Điền (Trăng sáng); Hộ (Đời thừa) Đó là những ngời thuộc tầng lớp trí thức tiểu t sản trong xã hội lúc bấy

giờ Họ bị giằng xé giữa cái sống, việc kiếm sống với làm nghệ thuật và phụng

Trang 11

thể thoát ly hiện thực vì miếng cơm manh áo, nhng không thể để hiện thực caynghiệt bóp chết bản chất nhân văn của mình, biến mình thành kẻ nhỏ nhen, rẻmạt.

Trong quan niệm nghệ thuật về con ngời trong tác phẩm của Nam Cao,trớc hết đó là những con ngời tha hóa và con ngời có ý thức Cũng nh VũTrọng Phụng thì Nam Cao nhận thấy quy luật tha hóa phổ biến lúc bấy giờ

Do đó trong tác phẩm của Nam Cao có hàng loạt các nhân vật tha hóa Đó là

những nhân vật bắt đầu tha hóa nh Trạch Văn Đoành trong “Đôi móng giò”, còn dấn sâu vào con đờng tha hóa thì có Chí Phèo (Chí Phèo); Trơng Rự (Nửa

đêm)

Bên cạnh con ngời tha hóa thì theo quan niệm của Nam Cao, con ngờiluôn có ý thức Trong những trang truyện của Nam Cao phản ánh quá trình thahóa, nhng Nam Cao vẫn tìm vào phần ý thức và lơng tâm của con ngời Dovậy, khác với Vũ Trọng Phụng chỉ phản ánh quá trình tha hóa còn đối vớiNam Cao thì trong quá trình tha hóa có sự hồi sinh, từ chỗ tha hóa, nhân vật

có lòng khát khao lơng thiện

Con ngời trong tác phẩm Nam Cao dù ở phơng diện nào, là trí thức haynông dân đều là con ngời có ý thức cuộc sống nh: Lão Hạc; Thứ; Hộ Họ khátkhao có một tri thức để đổi thay cuộc đời hay che chở cho những số phận éo letrong xã hội Con ngời có vốn tri thức nên họ đã nhận ra đợc hiện thực thốitha, họ không chấp nhận xã hội ấy Nhân vật Hộ; Thứ là những nhân vật hóathân từ cuộc đời Nam Cao Đây cũng chính là cái mới của Nam Cao

Nam Cao đã đặt ra vấn đề con ngời phải biết đấu tranh để thực hiện

nhân cách, Nam Cao đã đề cao nhân tính, đề cao phần ngời trong con ngời.

Chí Phèo vừa là con ngời đầy bi kịch, nhng đó cũng là con ngời có nhân tính,

có ý thức Đến với Lão Hạc trong truyện “Lão Hạc” thì Nam Cao đã đề cập

đến nhân cách của con ngời rất rõ nét ở hình tợng Lão Hạc Lão Hạc là mộtbần nông nghèo đói nhng vẫn có lòng tự trọng, lại là ngời thủy chung, có tâmhồn cao thợng, một phẩm chất trong sáng và một tâm hồn ngay thẳng, trongsạch và đau đớn

Qua hai hình tợng nhân vật Chí Phèo và Lão Hạc, Nam Cao đã pháthiện ra rằng, dù xã hội có mục nát, con ngời có nghèo đói bần cùng, bị thahóa, thậm chí bị đẩy vào dới đáy bùn nhơ của cuộc sống và xã hội, nhng nhântính con ngời luôn nguyên vẹn Có thể nói, đây là phần nhân tính cao đẹp ởnhững nhân vật của Nam Cao nh Lão Hạc, Chí Phèo, Điền, Hộ, Thứ Đó lànhững nhân cách sáng ngời, đó là những phẩm chất tốt đẹp của con ngời dù là

Trang 12

nông dân hay tầng lớp trí thức Dù xã hội có mục nát, có đầy đọa, chà đạp haythậm chí cớp đi quyền làm ngời, quyền sống của họ thì ở trong sâu thẳm tâmhồn họ, cái bản chất tốt đẹp mang tính chất truyền thống của văn hóa bản sắcdân tộc đó vẫn mãi trờng tồn và bất diệt.

Con ngời trong tác phẩm của Nam Cao phần lớn đều nhận thức đợccảnh ngộ riêng và sự phụ thuộc của con ngời vào hoàn cảnh nh một quy luật:

“Cuộc đời thì bất cứ hoàn cảnh nào cũng chảy trôi theo những định luật cha bao giờ lay chuyển đợc” Họ tỏ ra bi quan về cuộc đời chung là một hoàn cảnh

bi đát mà cái ác, cái dữ, thói đời giả dối, sự không may mắn đang nhuộm dầnnhững tâm hồn lơng thiện và càng lơng thiện trong sáng lại càng dễ bị nhuộm

đen

Trong hoàn cảnh bị đè nén, bị áp bức, bóc lột của xã hội cũ, Nam Caonhận thấy một bộ phận ngời nông dân biến đổi nhân hình lẫn nhân tính, trởthành những tên lu manh Chính hoàn cảnh sẽ trực tiếp chi phối tính cách vàkhả năng lý giải đổi thay và phát triển của tính cách nhân vật

Nam Cao không trực tiếp phát biểu quan niệm nghệ thuật về con ngờicủa mình mà thông qua những triết lý của các nhân vật Qua những triết lý ấy,

con ngời hiện lên với đầy đủ những khuôn mặt khác nhau.

Tuy nhiên, những con ngời ấy vẫn mong muốn làm một việc gì đó cóích cho đời, mong muốn đợc đổi thay số kiếp của mình Ngòi bút nhân đạocủa Nam Cao đã phát hiện ra những phẩm chất tốt đẹp còn lại trong nhữngcon ngời ấy Đây chính là một quan niệm mới mẻ về con ngời của Nam Cao

Với cái nhìn hiện thực một cách sắc sảo, Nam Cao đã nhìn nhận conngời một cách toàn diện ở đó, chúng ta luôn thấy con ngời luôn mang bảnchất giai cấp, con ngời bị hoàn cảnh chi phối nh một quy luật nghiệt ngã Ôngthấy rõ sự tha hóa biến chất của một số ngời, nhng đồng thời cũng phát hiện

và khẳng định những vẻ đẹp nhân phẩm trong mỗi con ngời

Quan niệm về con ngời với khát khao cống hiến, phát triển tài năngcũng là một đặc điểm nổi bật của quan niệm nghệ thuật về con ngời của NamCao Không chỉ đau đớn trớc tình trạng vì đời sống miếng cơm, manh áo làmcho con ngời bị thui chột đi tài năng, không đợc thỏa mãn khao khát sáng tạo

của mình nh Hộ trong “Đời thừa” hoặc Thứ trong tiểu thuyết “Sống mòn” Họ

là những ngời trí thức có những khát khao, hoài bão trong sự nghiệp văn

ch-ơng và đời sống Nhng họ đã phải chịu bi kịch sống nh cuộc sống thừa hoặc

đang chết dần, chết mòn đi

Trang 13

5 Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong “Sống mòn”.

Trong “Sống mòn”, Nam Cao cũng có quan niệm khá rõ ràng và nhất

quán về con ngời, bởi ông là ngời suốt đời nghiền ngẫm về con ngời, luôn tìm

hiểu, phân tích tâm lý con ngời Xuyên suốt toàn bộ tiểu thuyết “Sống mòn” là quan niệm nhân sinh sống - chết Từ đó Nam Cao đặt ra vấn đề: “Sống mòn” hay “chết mòn” của các nhân vật trí thức trong đó Nhờ có sự tự ý thức mà nhân vật đã nhận ra sự “mòn đi, rỉ ra”, không lối thoát, họ quay lng về phía

nào cũng thấy dựng lên những bức tờng ngăn cách

Mặc dù hoàn cảnh sống thật dữ dằn, nh nghiền nát con ngời đi nhng

họ vẫn không chịu khuất phục, vẫn cố ngoi lên để sống, để bộc lộ tính cách,

để làm ngời ý thức đợc mình là một trí thức với mặt mạnh, mặt tốt đẹp Conngời trong quan niệm của Nam Cao cũng ý thức đợc những vấn đề thói h tậtxấu của bản thân mình, dám nhìn thẳng vào lơng tâm mình, tâm hồn mình Vềvấn đề này, Nam Cao đã vợt lên trên các đồng nghiệp Nếu nh con ngời trong

“Tắt đèn”; “Bớc đờng cùng” luôn đợc nhìn theo một chiều, ở mức độ tuyệt đối

(nghĩa là tốt thì cực tốt, xấu thì cực xấu) thì con ngời trong quan niệm củaNam Cao lại đợc nhìn ở nhiều mặt, đa chiều Tốt hay xấu, cao cả hay thấp hèn

đều có thể có ngay trong một con ngời Nếu Thứ đã từng có ớc mơ khát khao

đem “góp sức mình vào công cuộc tiến bộ chung” thì chính Thứ cũng nhận thấy những thói h tật xấu “đáng khinh”, “nhu nhợc”, “hèn yếu”, cảm thấy mình

ích kỷ, nhỏ nhen trong từng việc nhỏ, tầm thờng trong suy nghĩ về những ngờixung quanh, về vợ con

Trong “Sống mòn” hiện lên hình ảnh buồn thảm, bi đát của những trí

thức tiểu t sản nghèo luôn bị miếng ăn hằng ngày riết nóng, săn đuổi Cái

nghèo triền miên, dai dẳng khiến con ngời “chết mòn” về tinh thần Họ thừa hiểu “không ai có thể sống mà không ăn” nhng để có đợc những bữa ăn hằng ngày, họ không thể không cảm thấy hèn, thấy nhục với “cái lối sống quá loài vật, chẳng biết việc gì ngoài việc kiếm thức ăn đổ vào cái dạ dày Có ai muốn gục mặt xuống làm gì? Đau đớn thay cho những kiếp ngời khao khát muốn v-

ơn lên cao nhng lại bị áo cơm ghì sát đất!”.

Tiểu thuyết “Sống mòn” với một nhóm những nhà giáo sống vật vã

trong cảnh đời tù túng, bế tắc, mòn mỏi đã có thể tạo trong nhận thức của ngời

Trang 14

đọc về một hoàn cảnh điển hình của xã hội Nguyễn Đình Thi đã nhận xét một

cách sâu sắc: “Sống mòn tả cuộc sống thiểu não, quẩn quanh, nhỏ nhen của mấy ngời trí thức tiểu t sản nghèo, một cuộc sống mù xám cứ “mốc lên, rỉ đi, mòn ra, mục ra” không có lối thoát Rộng hơn là vận mệnh mấy con ngời ấy,

ta thấy đặt ra một cách ảm đảm vấn đề vận mệnh chung của cả một xã hội chua xót đau đớn, buồn thảm, tủi nhục trong đó đời sống không còn ý nghĩa, quay về phía nào cũng thấy dựng lên những bức tờng bế tắc”.

Sức ép của hoàn cảnh đã đẩy cho nhân vật đến bớc đờng cùng Điều

đáng quý là nhân vật của Nam Cao không ngã quỵ trớc hoàn cảnh, và vẫn

mong ớc sự đổi thay “Thời thế đổi, lòng ngời đổi Thế kỷ sau sẽ lọc máu cho chúng ta trong trẻo lại Y thở dài nghĩ bụng: Nhng tại sao lại không nghĩ đến chuyện lọc máu ta ngay tự bây giờ”.

Nam Cao là một nhà văn của chủ nghĩa hiện thực tâm lý Điều đó cóquan hệ mật thiết với quan niệm về con ngời của ông Nam Cao viết trong

“Sống mòn”: “Sống tức là cảm giác và t tởng, sống cũng là hành động nữa,

nh-ng hành độnh-ng chỉ là phần phụ: Có cảm giác, có t tởnh-ng mới sinh ra hành độnh-ng”.

Một quan niệm về con ngời nh thế đã chi phối thi pháp chủ nghĩa hiện thựctâm lý của Nam Cao Sự chú ý đặc biệt tới thế giới bên trong của con ngời đãthờng xuyên chế ớc hứng thú nghệ thuật ngày càng tăng của nhà văn đối vớitính chất nhiều dự định của cá tính con ngời, động cơ nội tại của hành vi nhânvật và quan hệ phức tạp của nó với hiện thực xung quanh

Trang 15

Ch ơng 2 :

Thế giới nhân vật và nghệ thuật thể hiện nhân vật

trong tiểu thuyết “Sống mòn”

1 Giới thuyết khái niệm nhân vật.

Nhân vật là con ngời đợc nhà văn sáng tạo ra trong tác phẩm văn học

Nó có thể có tên hoặc không có tên, nhng nó tham gia vào bộc lộ chủ đề, bộc

lộ t tởng trong tác phẩm văn học

Trên đây là khái niệm mà ngời ta thờng dùng nhng thực chất kháiniệm nhân vật cần đợc hiểu rộng hơn Bởi vì ngoài việc con ngời là nhân vậttrong tác phẩm văn học, nó còn ợc biểu hiện trên nhiều phơng diện khác nhaunh: Nhân vật trong tác phẩm có khi là những con vật, thần linh, ma quái Nhngcon vật đợc nhân cách hóa có tính cách cuộc sống nh con ngời, có khi nhân

vật chỉ là hiện tợng tự nhiên “Trăng vào cửa sổ đòi thơ” và có lúc nhân vật chỉ

là một hiện tợng trong xã hội, chẳng hạn nh “đồng tiền” là nhân vật chính trong tác phẩm của Ban - Zắc hay “chiếc quan tài” là nhân vật chính trong truyện ngắn “Chiếc quan tài” của Nguyễn Công Hoan, hoặc “thời gian” là

của mình Chắc có lẽ đây là chỗ Nam Cao đã dành hết tâm huyết để thể hiện

Nhân vật “Giáo khổ trờng t” của Nam Cao nói chung đói khổ, trăn trở vật lộn

nhiều với hiện thực song rút cuộc rồi bế tắc không có lối thoát Trong tácphẩm có hai loại khác nhau

Trớc hết là loại ông giáo có vốn văn hóa khá hơn, có ý thức về bảnthân của mình, biết trọng danh dự, có nhiều ớc mơ tốt đẹp, nhng không thựchiện đợc, cuộc sống lùi dần vào ngõ cụt, không lối thoát Tiêu biểu cho loại

Trang 16

Nhân vật San, khi vào làm nghề thầy giáo mới qua đợc cái bằng tiểuhọc, vốn liếng văn hóa của y quá nghèo nàn Từ chỗ đó San nhận thức ít hơn

Thứ rất nhiều Rất nhiều khi đang sống mòn mà vẫn không hay biết.

Nhân vật Oanh thì trình độ cũng chẳng hơn gì nhân vật San Oanhcũng là con ngời ý thức về nhân cách kém, sống sít so, bần tiện với tất cả mọingời Mục đích sống của Oanh là cầu lợi, đem lợi nhuận về cho mình càngnhiều càng tốt Suốt ngày Oanh đứng trớc cái gơng ngắm soi hết hàng mi,hàng lông mày lá liễu với những bộ quần áo tân thời Nhng bản thân cô ta

cũng là con ngời đang tự sống mòn, cũng rơi vào tình trạng bi kịch không lối

Trong tiểu thuyết “Sống mòn” ngoài những thầy cô giáo, còn có thêm

một số nhân vật ngời lao động Đó là ông Học, thằng Mô, anh xe

Có thể nói, điệu “Sống mòn” dờng nh buồn thảm hơn, đơn điệu hơn

trong tác phẩm này đợc dệt bằng hàng loạt thói quen đợc làm nên bởi những

ông Học, những u em, những vợ chồng anh xe, những Mô

Ông Học bỗng trở nên một nhân vật rất rõ nét trong bức tranh “Sống mòn” Suốt ngày ở trần, ông huỳnh huỵch chạy ra chạy vào, ông xay đậu, ông

dội nớc, ông thổi kèn tàu rất hăng với con, ông tò mò xem ngó kiểm tra gian

thuê của vợ chồng anh xe: “Quái! Họ đốt nến à? Nến tốn hơn dầu nhiều chứ!

Mà thôi chắc là nến đèn xe, anh ta lấy cắp của chủ đây Nhng vợ chồng ngủ với nhau mà đốt nến thì độc đấy chứ chẳng chơi đâu Nến để thờ hay thắp

đám ma Vợ chồng mới lấy nhau mà thắp nến thì sái đấy”.

Ông Học cứ thổi kèn, cứ ăn mía lách – hai niềm vui gần nh say mê

trong cuộc đời ông, “cứ làm để có ăn, ăn để sống, sống để đợi chết”, thực đấy

mà không biết Chao ôi, một cuộc sống không tinh thần, không t tởng, sống utối chẳng khác gì con vật, nh thế cũng đủ là ao ớc của bao nhiêu con ngờitrong xã hội lúc bấy giờ! đau đớn quá

Trang 17

Và ngời u em, “lặng lẽ nh con ma ngồi vá bên một ngọn đèn con”, “lù

lù nh một đụn rạ biết đi” kia, chắc chẳng thể nào biết đợc rằng đời sống buồn

tẻ, nhẫn nhục, thầm lặng đến phát sợ kéo dài triền miên trong xã hội cũ

Họ rất bằng long ra mặt nh anh phu xe “có vẻ bằng lòng với đời mình lắm” Khốn nạn, nào có phải là cuộc sống, có đáng là cuộc sống, khi một

thằng xe ăn cơm chủ, mặc quần áo chủ, còn mỗi tháng hai đồng công thì thuênhà để ngủ với vợ hai

Còn Mô - một thằng ở của nhà trờng, sống nh vậy cũng “có lẽ bởi thói

đời quen” Thật ra dù không bằng lòng với hiện cảnh của mình, cũng không mấy ngời dám “mạnh bạo tìm những cuộc đổi thay”.

2.3 Một thế giới nhân vật “Sống mòn”.

Đi sâu vào miêu tả những lề thói đã tồn tại lâu đời trong xã hội, NamCao đã bóc trần cái vỏ của thực trạng đời sống, ông không hề che đậy hay thi

vị hóa những tập tục của đời sống, ông không né tránh khi miêu tả các nét

điệu “Sống mòn” buồn thảm vô nghĩa lý cứ ngày một thê lơng, mòn mỏi hơn vì

những tập tục đó

Những ông Học, thằng Mô, u em, anh xe đang sống mòn mà không

biết, luôn bằng lòng với thực tại

Oanh, San là những nhân vật đang tự sống mòn, cũng rơi vào tìnhtrạng bi kịch không lối thoát San đã nói bằng một giọng hả hê giả dối khi

chiến tranh nổ ra: “Sống thì sống hẳn, mà chết thì chết hẳn Cứ ngắc ngoải mãi thì chán lắm” Rõ ràng rằng, mỗi ngời đều mấp mé giữa sự sống và cái

chết

Thứ là ngời có học, có hoài bão vơn cao bay xa Thứ muốn học đểthành tài và đem cái tài của mình xóa đi bao nỗi bất công cay đắng ở quê nhà.Thứ vào Sài Gòn với sự hăm hở và nhiều dự định hết sức táo bạo lớn lao Nhnggiấc mộng tốt đẹp này đã tan thành mây khói khi cơn bệnh thập tử nhất sinh

đã đẩy trở lại Thứ về với quê hơng Để kiếm kế sinh nhai, nhen nhóm ớc mơhoài bão của mình, tiếp tục thứ dạy học trờng t do chính Đích và Oanh bỏ tiền

ra gây dựng Cái buổi ban đầu Thứ dạy một cách say mê, vô t Khi học tròtheo học ngày một đông hơn, Thứ bắt đầu tính toán lẽ thiệt hơn Thứ đã cốgắng vùng vẫy trong cái vũng lầy đang ngày càng thắt chặt lại của hoàn cảnh.Thứ buộc phải vừa chấp nhận vừa chống đối để tìm cách thoát ra Nỗi đau

Trang 18

đớn, day dứt của Thứ khi nghĩ rằng “đời y sẽ mốc lên, sẽ rỉ ra, sẽ mòn y sẽ chết mà cha làm gì cả, chết mà cha sống!”.

3 Đặc điểm nổi bật của nhân vật trong “Sống mòn”.

3.1 Sự kết hợp nhân vật tính cách với nhân vật t tởng.

Nhân vật tính cách là nhân vật thờng đợc xây dựng trong tác phẩm vănhọc với những tính cách nổi bật không lẫn với các nhân vật khác Đây là kiểunhân vật phức tạp

Vũ Trọng Phụng là một trong những cây bút xây dựng thành công rấtnhiều nhân vật tính cách nh Nghị Hách, Xuân tóc đỏ

Nam Cao cũng xây dựng thành công rất nhiều nhân vật tính cách trởthành những điển hình sinh động, sắc nét

Nhân vật anh Pha của Nguyễn Công Hoan, chị Dậu của Ngô Tất Tố lànhững con ngời tốt thuần nhất, trọn vẹn bởi tính cách của nhân vật là do bảnchất của giai cấp chi phối, quyết định Họ chìm nổi, thăng trầm về số phận màtĩnh tại, nguyên dạng về tính cách Chỉ đến khi các nhân vật Thứ, San củaNam Cao xuất hiện thì đã phá vỡ cái nhìn thuần nhất, phiến diện và tĩnh tại đểtạo ta một cái nhìn phức tạp hơn, đa chiều hơn và vì thế nhân vật tính cáchtrong tác phẩm của Nam Cao trở nên sâu sắc hơn

So với các nhân vật trong “Sống mòn” nh Thứ, San, Oanh, Đích với các nhân vật trong các tác phẩm trớc đó nh “Tắt đèn”; “Bớc đờng cùng” ta thấy nhân vật chị Dậu trong “Tắt đèn” là ngời rất ít suy nghĩ về bản thân mình,

những hành động của chị xuất phát từ đạo lý chứ không phải theo ý thức bêntrong nh nhân vật Thứ Chị hành động vì chồng, vì con, vì hoàn cảnh Trongkhi đó nhân vật Thứ luôn hành động theo sự điều khiển diễn biến của tâm lý.Vì thế nhân vật này luôn có sự dằng xé, đấu tranh trong chính nội tâm củamình, đó là cuộc đấu tranh vật lộn với bi kịch vỡ mộng, với gánh nặng cơm áo

và thực tại nghiệt ngã xung quanh mình

Nhân vật t tởng là loại nhân vật tập trung thể hiện một t tởng, một ýnghĩa tồn tại trong đời sống tinh thần của xã hội, và nhân vật t tởng cũng cóthể chứa đựng những phẩm chất, tính cách Nhng cá tính và tính cách khôngphải là hạt nhân tạo nên cấu trúc của nhân vật t tởng

Bằng tài năng và sự sáng tạo nghệ thuật nghiêm túc, nhân vật t tởngtrong tác phẩm của Nam Cao không hề khô khan cứng nhắc mà đầy cá tínhsinh động, và không ít nhân vật của ông trở thành bất tử trong lịch sử văn ch -

Trang 19

Những nhân vật Thứ, San, Oanh, Đích là những nhân vật t tởng trong

“Sống mòn” mỗi ngời có một tính cách riêng, tất cả cùng bổ sung và thể hiện

cuộc sống cùng quẩn, bế tắc của tầng lớp tiểu t sản nghèo lúc bấy giờ Và họluôn bị nỗi đau khổ của sự tự ý thức đè nặng lên vai mà không thoát ra đợc.Nhờ sự ý thức cao ấy mà ngời tiểu t sản của Nam Cao luôn đứng vững bên bờvực của sự tha hóa

Trong “Sống mòn”, Nam Cao đã có sự kết hợp giữa nhân vật tính cách

và nhân vật t tởng Chính vì thế, nhân vật của Nam Cao đã để lại một ấn tợngsâu sắc trong lòng ngời đọc

3.2 Mỗi nhân vật là một kiểu sống mòn.

Thứ là ngời đã từng có những ớc mơ, khát vọng cao đẹp “gom góp sứclực của mình vào công cuộc tiến bộ chung” nhng có lúc chính Thứ nhân ra mình cũng có những thói h tật xấu rất “đáng khinh” nh: “nhu nhợc”, “yếu hèn”,

sợ hãi sự đổi thay”, “sợ hãi những cái gì cha đến” hoặc tầm thờng nhỏ nhen

trong suy nghĩ về những ngời xung quanh, về vợ con, về miếng cơm manh áovụn vặt hằng ngày

Bên cạnh Thứ là San - một kẻ “phàm tục” trong hành vi nhng cũng có

những ớc mơ đẹp Thứ và San là hai nhân vật luôn bổ sung, soi rọi vào nhau để

và sốt sắng chuẩn bị đi đón Đích về Nhng sự vợt mình của Oanh cũng chỉ

dừng lại ở trong ý nghĩ, khi “đã nghĩ chín lại” Oanh lại trở về “lối suy nghĩ thông thờng của mỗi ngời”, bỏ hẳn cái dự định “không thể” không làm kia.

Sống trong xã hội thực dân nửa phong kiến thối nát, tối tăm, quan hệ

xã hội của các nhân vật “giáo khổ trờng t” trong tác phẩm Nam Cao rất đơn

điệu tẻ nhạt Các mối quan hệ xã hội của họ đợc tác giả thể hiện trong mộtkhông gian hoạt động quá chật hẹp, ngột ngạt Phạm vi đó là từ nhà trọ tới tr-ờng rồi từ trờng về nhà trọ và một vài điểm khác không đáng kể

Trang 20

Trớc hết ta hãy xét mối quan hệ giữa họ với nhau, biểu hiện rõ nhất ở

họ trong quan hệ là “bằng mặt không bằng lòng”, trong quan hệ hay tính toán,

có thể nói là “sỉn so” quá mức.

Cái buổi ban đầu Thứ dạy một cách say mê, vô t, Thứ soạn bài, giảngbài, chấm bài rất kỹ càng, bao nhiêu tâm lực, bao nhiêu thì giờ đều dùng cảcho nhà trờng, cho lũ học trò khi học trò theo học ngày một đông hơn Thứ

mới bắt đầu tính toán lẽ thiệt hơn, Thứ nghĩ rằng: “Nguyên một số sáu mơi

đồng kia, đã thừa đợc quá nửa rồi Lại còn tiền thu đợc cả bốn lớp kia, thế thì Oanh không phải khó nhọc gì, không phải một trách nhiệm gì, cái trách nhiệm hiệu trởng hoàn toàn Thứ phải đảm đơng, mà đợc lợi về cái trờng mỗi tháng trăm bạc sao lại vô lý thế ? ”

Mặc dù biết là nh vậy nhng Thứ lại chẳng giám nói thẳng những điều

đang băn khoan của mình ra với Đích hoặc với Oanh Sợ rằng quan hệ tìnhbạn mất mát, sứt mẻ hoặc là bạn đánh giá thấp về mình, cho rằng mình là conngời nhỏ nhen ích kỷ

Giữa Thứ và San trong “Sống mòn” cũng thế Tuy cùng chung lng đấu

cật với nhau, cùng chịu cảnh đời tù túng, cùng chia sẻ ngọt bùi nhng Thứ vàSan vẫn hay ghen tị lẫn nhau Tuy rằng sự ghen tị này không thể hiện ra bênngoài Thứ ngầm ghen với San khi thấy San suốt ngày diện những bộ quần áotân thời dạo đi dạo lại trớc trớc quán nhà cô Dung, thấy Thứ bực bội trớc t t-ởng của San muốn lấy một vợ ở nhà quê cày cấy ruộng vờn, một vợ ở nơithành thị để buôn bán Đến khi đợc tin cô Dung đi lấy chồng, Thứ cảm thấy hảdạ với San, sự ghen tức đó đợc tác giả chỉ rõ:

“Y cời sằng sặc, Thứ khinh sự trụy lạc ở tâm hồn, y hay ghen, chính y cũng không biết nữa, chỉ biết rằng y thấy ghét San và đến khi San bị bà béo trở mặt, Thứ ngấm ngầm hả dạ”.

Thứ và San cũng luôn luôn tính toán đến việc thu chi hàng ngày mộtcách chặt chẽ của cô giáo Oanh Cách phản đối của họ là tạo nên sự hài hớcchọc tức Oanh Khi làm đợc một hành động làm cho Oanh bực bội thì Thứ vàSan lại cảm thấy nh trút đợc nỗi băn khoăn về sự tính toán nhỏ mọn của mình

Trong bữa ăn, khi thức ăn đã hết cả hai cùng trao đĩa cho nhau “liếm đĩa”, liếm

đi liếm lại để ngầm chửi vào mặt Oanh

Trong quan hệ với những kẻ giàu sang Thứ và San mắc phải căn bệnh

“tự ti”, sợ sệt dẫn tới cách nhìn nhận về tầng lớp ngời này thiếu khách quan.

Trang 21

Khi định dọn đến nhà cụ Hải Nam - một lái buôn gỗ giàu có ở trong vùng Thứ

thấy ngại ngùng và khó xử Cái sợ này thực chất không phải là “hãi ngời” nh

nhiều ngời lầm tởng mà ở đây là sự mặc cảm với chính mình, với tầng lớp giaicấp của mình, để rồi dẫn tới những suy nghĩ và hành động thiếu chính xác

Trong quan hệ với những kẻ dới mình họ lại có thái độ khác hẳn Quan

hệ giữa Oanh và San với Mô là một ví dụ tiêu biểu Họ hay chì chiết, tính toán

đến quá mức nhiều khi là nhỏ nhen San rất ít khi cho Mô một đồng xu nhỏmặc dù y đã sai Mô làm rất nhiều việc lặt vặt Oanh với Mô cũng tơng tự nhthế Oanh cũng khiến, cũng sai Mô không kém San nhng số tiền công màOanh trả cho Mô không hơn đồng bạc, đến nh tiền mua mực cho học sinhOanh cũng giữ lấy, dành lấy để đi mua Bởi vì một lẽ cô biết rằng ở đấy cũng

có thể d ra một vài xu nhỏ Tuy công việc này trớc đây Đích vẫn thờng giaophó cho Mô

Thứ là ngời sống có nhân cách cao hơn, độ lợng hơn San và Oanh, Thứrất thông cảm và thơng Mô Mỗi kỳ lĩnh lơng Thứ không quên bớt lại cho Mômấy đồng xu nhỏ, mặc dù Thứ vẫn biết rằng ở nhà bố mẹ, vợ con y cũngkhông lấy gì làm sung sớng và đồng lơng của y mỗi tháng thu nhập chẳng

đáng là bao Có những khi cho Mô rồi Thứ phải thắt lng chịu đựng, bớt đi cáckhoản chi tiêu phụ khác Và có những khi Thứ đã tự cắt nghĩa về hành động

đó của mình:

“Đồng bạc có tầm thờng nh y vẫn làm ra bộ rẻ rúng nó quá thế đâu ?

Y cũng thấy to, cũng đáng cho y phải xít xao và đã hơn một lần, y nghĩ rằng mình không nên hào phóng quá với Mô Nếu y không thể bỏ hẳn hay rút bớt những số tiền vẫn cho Mô, chỉ vì tự ái đó thôi Y không muốn coi mình giảm giá đi.

Nhng để bù vào chỗ quăng ra để giữ thể diện kia, thờng thờng y vẫn phải làm khổ y một cách đáng thơng Y nhịn món nọ, rút món kia, đi bộ hàng

ba bốn cây số, để tránh một cái vé xe điện năm xu, rồi trở về mệt nhoài nằm

ra thẳng cẳng cho đã”.

Nhìn chung, xét cho đến cùng sự nhỏ mọn, tính toán đến mức nhỏ

nhen của Oanh và San hay sự “hào phóng” để rồi làm khổ bản thân mình nh

Thứ, ngời đọc cũng dễ dàng cảm thông với họ vì một lẽ họ cũng không lấy gìlàm sung sớng hay d dật Họ cũng khổ, cũng đói, cũng đang ở tình trạng bếquẩn cha có lối thoát Viết về những cái sỉn so, nhỏ nhen của những con ngời

Trang 22

này Nam Cao muốn đề cập đến cái bi kịch về cuộc sống vật chất của tầng lớptrí thức nghèo trong xã hội lúc bấy giờ.

Các nhân vật Thứ , San, Oanh trong tiểu thuyết “Sống mòn” là những

minh chứng khá tiêu biểu và sâu sắc cho sự mâu thuẫn giữa lẽ sống cao cả vàhành động thấp hèn Sống chung dới mái trờng t, cùng chung con đờng hoạt

động công tác Thế nhng cuộc đời đâu có nghĩa nh vậy là êm xuôi Thứ luônluôn nghĩ đến cao cả, muốn chiếm lĩnh lấy nó, muốn thoát ra khỏi những ýnghĩ cuộc sống vật chất nhỏ nhen phàm tục song Thứ cũng ích kỷ, nhỏ nhen,Thứ đồng tình với San, tính toán từng đồng xu nhỏ mọn, tính toán đến cả mớcá, cọng rau mà Oanh mua về cho cả mọi ngời cùng ăn Bên ngoài muốn caothợng với Oanh song lại có hành vi thấp kém, Thứ và San tìm đến cách trả đũaOanh vì căn bệnh keo bẩn, trong bữa ăn cả hai cùng liếm đĩa Nhân vật Sanmặc dù đã có vợ ở làng quê song lên phố lại có ý định tìm thêm một cô vợ hai

để thỏa mãn những lạc thú của chính mình

Thứ rất yêu vợ, thông cảm với vợ một nắng hai sơng với ruộng đồngsớm tối, chăm sóc cha mẹ già và cả những đứa con thơ Nhng nhiều lúc Thứlại dày vò vợ, nghi ngờ vợ không thủy chung với mình

Các nhân vật t tởng trong “Sống mòn” có quan hệ bổ sung đồng đẳng

với nhau Thứ, San, Oanh, Đích mỗi ngời có một nét tính cách riêng, họ bổsung đồng đẳng và cùng thể hiện chủ đề cuộc sống cùng quẩn, bế tắc của tầng

lớp tiểu t sản nghèo trong “Sống mòn” Thứ thờng thấy một phần con ngời mình qua những hành vi phàm tục của San Các nhân vật t tởng trong “Sống mòn” luôn bị nỗi đau khổ của sự tự ý thức đè nặng lên vai mà không thoát ra

đợc Nhng cũng chính nhờ sự tự ý thức cao ấy mà ngời trí thức nghèo trong tácphẩm của Nam Cao luôn đứng vững bên bờ vực thẳm của sự tha hóa, sống có

lơng tâm, tinh thần trách nhiệm trớc cuộc đời Đối với Thứ “Sống là để làm một cái gì đẹp hơn nhiều, cao quý hơn nhiều Phải gom góp sức lực của mình vào công cuộc tiến bộ chung Mỗi ngời chết đi phải để lại một chút gì cho nhân loại”.

Qua các nhân vật Thứ, San, Oanh tác giả gửi gắm tấm lòng, tình cảmnâng niu, yêu thơng nhân vật của mình và cũng phần nào gián tiếp lên án, phêphán xã hội đơng thời đã đẩy những con ngời lơng thiện vào ngõ cụt và bikịch

Trang 23

Chúng ta nhận thấy rõ trong “Sống mòn” cái bế quẩn đi đến bi kịch của

Thứ, San, Oanh Vấn đề mà tác giả muốn đề cập không chỉ là sự bế quẩn, bikịch của những con ngời này mà vấn đề của cả một tầng lớp trí thức nghèo lúcbấy giờ Họ khao khát, ớc mơ bay cao bay xa, khát khao đem tài năng củamình để phụng sự đất nớc rút cục đều vỡ mộng đi đến bế tắc không lối thoát

4 Nghệ thuật thể hiện nhân vật.

4.1 Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật.

“Trong các nhà văn hiện thực thời kỳ trớc cách mạng, Nam Cao là nhà văn có nhiều đóng góp về miêu tả tâm lý và khả năng phản ánh hiện thực qua tâm trạng Nam Cao thờng đi thẳng vào ý nghĩ của nhân vật hoặc để nhân vật tự bộc lộ những ý nghĩ thật của lòng mình, rồi tùy theo loại tính cách

mà sử dụng chất châm biếm pha lẫn vào dòng suy nghĩ một cách nghệ thuật”

(Hà Minh Đức)

Trong các tác phẩm của Nam Cao, số lợng nhân vật thờng rất ít ỏi.Xoay quanh số phận của vài ba nhân vật, xoáy sâu vào những tâm trạng, NamCao không phát triển câu chuyện bằng cách hành động, sự kiện mà chủ yếu

theo mạch phát triển tâm lý ít thấy ở một nhà văn nào “cái hằng ngày” đợc

khai thác nhiều nh Nam Cao Nhà văn trung thực với hiện thực ngay cả trongtừng chi tiết nhỏ, vì vậy nhân vật trở nên gần gũi, cụ thể hơn Đời sống bêntrong đợc soi rọi nhiều hơn Nhân vật của Nam Cao không phải là nhân vậthành động mà thờng đợc soi rọi chủ yếu qua tâm lý

Trong cách miêu tả tâm lý, Nam Cao có ý thức kết hợp con ngời vớihoàn cảnh xã hội Nhà văn có sử dụng hiểu quả nhiều biện pháp miêu tả tâm

lý so với nhiều cây bút hiện thực khác Khi thì tác giả bám sát nhân vật, kịp

thời phát hiện, miêu tả những yếu tố tâm lý mới xuất hiện trong nhân vật (Lão Hạc, Một đám cới) Khi thì chính nhân vật lại tự biểu hiện mình dới nhiều sắc thái (Sống mòn).

Nam Cao không bịa đặt, không nghĩ thay cho nhân vật của mình, nhàvăn bao giờ cũng đặt nhân vật hành động hay suy nghĩ đúng với thân phận và

cảnh ngộ của nó Với “Sống mòn” hoàn cảnh của Thứ trớc sau về cơ bản không

thay đổi Dòng tâm lý của Thứ đợc mở rộng trên nhiều hớng, qua đó bộc lộsâu sắc tính cách của Thứ Thứ suy xét, đánh giá mối quan hệ của mình đốivới San, Oanh, Đích, với gia đình, với xã hội Qua các mối quan hệ đa dạng,phức tạp đó, Nam Cao làm nổi bật lên đợc tâm lý, cốt cách con ngời tiểu t sản:

Ngày đăng: 18/12/2013, 21:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w