1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hướng dẫn dạy đọc hiểu văn bản kí trong chương trình ngữ văn THPT hiện nay

118 3,4K 21
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hướng dẫn dạy đọc hiểu văn bản kí trong chương trình ngữ văn thpt hiện nay
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Hồ Quang
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Khoá luận
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 540,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù trong chương trình SGK ngữ văn phổ thông hiện nay, số lượngcác tác phẩm kí được đưa vào khá nhiều gồm 8 tác phẩm ở chương trình Ngữvăn cơ bản và 12 tác phẩm ở chương trình Ngữ văn

Trang 1

MỤC LỤC

Trang MỞ ĐẦU………1

1 Lí do chọn đề tài……… 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu ……… 2

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu……… 4

4 Phương pháp nghiên cứu……….5

5 Cấu trúc của khoá luận………5

Chương 1: GIỚI THUYẾT VỀ LOẠI HÌNH KÍ VĂN HỌC VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN BẢN KÍ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT……….7

1.1 Giới thuyết về loại hình kí văn học……… 7

1.1.1 Khái niệm kí văn học……… 7

1.1.2 Đặc trưng của loại hình kí văn học……… 9

1.1.3 Phân biệt kí văn học và kí báo chí, kí văn học với truyện……… 29

1.1.4 Sự phân loại kí văn học……… 31

1.2 Đặc điểm văn bản kí trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay……… 33

1.2.1 Khái quát về chương trình Ngữ văn THPT hiện nay 33

1.2.2 Khái quát về văn bản kí trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay………38 1.2.3 Đặc điểm của văn bản kí trong chương trình Ngữ văn lớp 10….42

Trang 2

1.2.4 Đặc điểm của văn bản kí trong chương trình Ngữ văn lớp 11….451.2.5 Đặc điểm của văn bản kí trong chương trình Ngữ văn lớp 12….47

Chương 2: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

DẠY ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN KÍ TRONG CHƯƠNG TRÌNH

NGỮ VĂN THPT HIỆN NAY……… 51 2.1 Những thuận lợi và khó khăn khi dạy đọc - hiểu văn

bản kí trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay……… 51

2.1.1 Thuận lợi………512.1.2 Khó khăn………52

2.2 Một số định hướng dạy đọc - hiểu văn bản kí trong

Trình Ngữ văn THPT hiện nay………53

2.2.1 Phải bám sát vào đặc trưng thể loại khi dạy đọc - hiểu

văn bản kí………532.2.2 Phải chú trọng nguyên tắc tích hợp khi dạy đọc - hiểu

văn bản kí……….602.2.3 Phải chú ý đặc điểm riêng của từng bộ SGK khi

dạy đọc - hiểu văn bản kí………63

2.3 Các phương pháp và hình thức dạy đọc - hiểu văn bản

trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay……… 65

2.3.1 Các phương pháp dạy đọc - hiểu văn bản kí trong

chương trình Ngữ văn THPT hiện nay……….662.3.2 Các hình thức dạy đọc - hiểu văn bản kí trong

Trang 3

Chương 3: THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM……… 85

Vào phủ chúa Trịnh………86

Ai đã đặt tên cho dòng sông………97

KẾT LUẬN………109

TÀI LIỆU THAM KHẢO……….110

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT

SGK: Sách giáo khoa

SGV: Sách giáo viên

GV: Giáo viên

Trang 4

HS: Học sinh

Nxb: Nhà xuất bản

THCS: Trung học cơ sở

THPT: Trung học phổ thông

CNTT: Công nghệ thông tin

Các chú thích tài liệu trích dẫn: Bao gồm số thứ tự của tài liệu trong thư

mục Tài liệu tham khảo và số thứ tự trang chứa trích dẫn Ví dụ, kí hiệu [5,210] nghĩa là số thứ tự củ tài liệu trong thư mục Tài liệu tham khảo là 5, nhận định

được trích dẫn nằm ở trang 210 của tài liệu này

Lời cảm ơn

Trong quá trình học tập ở trường Đại học Vinh, tôi đã tiếp thu được những tri thức quý báu của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn Khoá luận này được hoàn thành ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo hướng dẫn TS Lê Thị Hồ Quang, những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn và sự động viên của bạn bè Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo hướng dẫn, cùng tất cả các thầy cô trong khoa Ngữ văn và bạn bè đã giúp tôi hoàn thành khoá luận này./

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Kí là một loại hình văn học đặc thù, có khả năng tác động mạnh mẽ tớinhận thức và tình cảm của độc giả, bởi kí mang thông tin xác thực về người thật,việc thật Tác dụng của kí trong việc cung cấp tri thức và giáo dục nhân cách chobạn đọc, cụ thể là cho những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, là rất lớn

Kí khắc sâu vào tâm trí HS niềm tin vào sự thật, vào quan niệm nhân sinh đúngđắn, niềm say mê trước cái đẹp của nhân cách con người, của thiên nhiên Chính vì vậy, cần có những định hướng dạy học đúng đắn để có thể phát huy tối

đa những giá trị nhân sinh – thẩm mĩ của loại tác phẩm này trong nhà trường phổthông

1.2 Mặc dù trong chương trình SGK ngữ văn phổ thông hiện nay, số lượngcác tác phẩm kí được đưa vào khá nhiều (gồm 8 tác phẩm ở chương trình Ngữvăn cơ bản và 12 tác phẩm ở chương trình Ngữ văn nâng cao) thế nhưng cho đếnnay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu và đưa racác định hướng cụ thể về việc dạy đọc - hiểu các văn bản kí ở trường phổ thông.Việc dạy đọc - hiểu văn bản kí ở trường phổ thông hiện nay còn gặp không ítkhó khăn, xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó, cần kể đến là do sự thiếuhụt về những tri thức về lí thuyết thể loại, tri thức về phương pháp luận vàphương pháp dạy đọc – hiểu văn bản kí

1.3 Là những sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường sư phạm, không lâunữa, chúng tôi sẽ trở thành những giáo viên trực tiếp giảng dạy tại các trườngphổ thông Vì vậy, công trình nghiên cứu này là hành trang để chúng tôi bước

Trang 6

vào nghề, nó trang bị cho chúng tôi một bộ phận kĩ năng cần thiết của người giáoviên trong hoạt động dạy học văn ở trường phổ thông hiện nay.

Trên đây là những lí do cơ bản thúc đẩy chúng tôi lựa chọn đề tài Hướng dẫn dạy đọc - hiểu văn bản kí trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Vấn đề phương pháp dạy học văn trong nhà trường phổ thông đã nhận được

sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Một số công trình đã đề cập đến vấn đề

này, tiêu biểu là cuốn Phương pháp dạy học văn do tác giả Phan Trọng Luận chủ

biên (1988) Ở công trình này, tác giả đã dành một phần tương đối dài để nghiêncứu về phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường Công trìnhnghiên cứu của tác giả vừa cung cấp các vấn đề có ý nghĩa phương pháp luậnnhư "phương pháp dạy học là gì?" lại vừa chỉ ra được các thủ pháp, biện pháp cókhả năng mang lại hiệu quả trong dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trườngphổ thông Tuy nhiên, hạn chế của công trình này là ở chỗ nó mới chỉ đề ra đượcnhững nguyên tắc và phương dạy học chung cho tất cả các thể loại văn học chứchưa chỉ ra được cách dạy riêng đối với từng thể loại Song cũng phải thừa nhậnrằng, cuốn sách này ra đời đã có vai trò mở đường cho các công trình nghiên cứu

về phương pháp dạy học tác phẩm thuộc từng thể loại cụ thể ra đời

Khoá luận của chúng tôi nghiên cứu về vấn đề định hướng và phương phápdạy đọc - hiểu văn bản kí ở trường phổ thông hiện nay Vấn đề đó đã được tác

giả Nguyễn Viết Chữ đề cập đến trong cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể) (2001) Ở cuốn sách này, tác giả đã trực tiếp đề ra những

biện pháp dạy học tác phẩm kí ở trong nhà trường Theo tác giả: "Với loại kí (tuỳ

bút) giàu chất trữ tình, chất thơ như Cây tre Việt Nam của Thép Mới, Đường chúng ta đi của Nguyễn Trung Thành, ta nên vận dụng con đường "theo bước tác

Trang 7

dung tưởng tượng tái hiện" [2,133] Những định hướng mà tác giả Nguyễn ViếtChữ đưa ra hết sức ngắn gọn và ở một mức độ tương đối nào đó, nó cũng gópphần cung cấp cho GV một số biện pháp cụ thể trong dạy học tác phẩm kí Song

có lẽ vì quá ngắn gọn nên nó chưa đầy đủ và còn phiến diện

Ngoài ra, vấn đề nghiên cứu này còn được thể hiện trong một số cuốn sáchnói về phương pháp phân tích, bình giảng tác phẩm văn chương trong nhà trườngchẳng hạn như bộ sách phân tích tác phẩm Ngữ văn 10, 11, 12 (Trần Nho Thìnchủ biên), các cuốn sách giảng văn trong nhà trường phổ thông (Nguyễn ĐăngMạnh chủ biên), v.v đã cung cấp cho GV những định hướng để phân tích vănbản văn học trong chương trình, trong đó có các văn bản kí Trong số những

sách tham khảo này, chúng tôi khá tâm đắc với công trình Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông - Một góc nhìn, một cách đọc của tác giả Phan Huy

Dũng Cuốn sách là sự tập hợp các bài viết đăng trên báo của tác giả trong suốthai mươi năm qua như lời tác giả tâm sự Tuy nó không trực tiếp chỉ ra cácphương pháp dạy đọc - hiểu văn bản kí trong nhà trường phổ thông nhưng quamột số văn bản kí cụ thể, tác giả cũng đã đưa ra được một số gợi ý bổ ích vềphương pháp, mặc dù nhiều khi phương pháp ẩn dưới những lời bình cụ thể

Cùng với quá trình đổi mới cơ chế dạy học văn, bộ SGK Ngữ văn tích hợp được xuất bản Ở bộ sách này có phần "Hướng dẫn học bài", phần này không chỉ

cung cấp cho HS các câu hỏi để các em tìm hiểu văn bản mà nó còn góp phầnhướng dẫn GV trong quá trình dạy học Khi bàn về lịch sử nghiên cứu vấn đềphương pháp dạy đọc - hiểu văn bản kí ở trường phổ thông, chúng ta không thể

không nhắc đến bộ SGV Ngữ văn tích hợp Ở bộ sách này, các tác giả đã nêu ra

những phương pháp cụ thể đối với việc dạy đọc - hiểu một tác phẩm kí cụ thể để

GV tham khảo Nó được thể hiện trong phần hai: "Phương pháp và tiến trình tổ chức dạy học" của cuốn sách Những giải pháp mà SGV đề xuất rất cụ thể, rõ

ràng, có tác dụng lớn trong việc giúp GV tiến hành giờ dạy học văn bản kí đạt

Trang 8

được hiệu quả Song nó chỉ hướng dẫn cách dạy cho những bài kí cụ thể trongchương trình chứ chưa đưa ra được định hướng và phương pháp chung cho việcdạy đọc - hiểu văn bản kí ở trường phổ thông hiện nay Ngoài ra, khi dạy đọc -

hiểu văn bản kí, GV có thể tham khảo bộ sách Thiết kế bài giảng (Nguyễn Văn Đường chủ biên), Thiết kế giáo án (Nguyễn Hải Châu chủ biên) Tuy nhiên,

cũng như bộ SGV, bộ sách tham khảo này chưa đề xuất được những phươngpháp chung cho việc dạy đọc - hiểu văn bản kí ở trường phổ thông mà nó mớichỉ dừng lại hướng dẫn GV dạy các bài đọc - hiểu văn bản kí cụ thể

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã có những đóng gópkhá quan trọng đối với hoạt động dạy đọc - hiểu văn bản kí ở trường phổ thônghiện nay Tuy nhiên ở các cuốn sách này còn tồn tại một hạn chế chung là chỉ đivào một bài kí cụ thể theo một hướng nhất định Vì thế mà chúng chưa thể trởthành những tài liệu có ý nghĩa chỉ đạo chung về mặt nguyên tắc và phương phápcho việc dạy đọc - hiểu toàn bộ các văn bản kí ở trường phổ thông hiện nay

Như vậy, lịch sử nghiên cứu của đề tài Hướng dẫn dạy đọc - hiểu văn bản

kí ở trường phổ thông hiện nay còn khá mới mẻ Có thể khẳng định rằng từ trước

tới nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đềnày Chính vì vậy, khoá luận của chúng tôi hứa hẹn sẽ cung cấp những hướng đimới trong việc dạy đọc - hiểu văn bản kí ở trường phổ thông hiện nay để bạn đọctham khảo

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Ở khoá luận này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu vấn đề "Hướng dẫn dạy đọc - hiểu văn bản kí trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay" trên một số phương diện

định hướng và phương pháp giảng dạy

Trang 9

3 2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khoá luận của chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản dướiđây:

- Giới thuyết về khái niệm kí văn học, tìm ra những đặc trưng cơ bản của nó;khảo sát đặc điểm của văn bản kí ở trường THPT hiện nay

- Đề xuất một số định hướng và phương pháp dạy đọc - hiểu văn bản kí ởtrường THPT hiện nay

- Thiết kế hai giáo án thể nghiệm: Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác và

Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường

4 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương phápnghiên cứu sau:

Phương pháp khảo sát - thống kê

Phương pháp miêu tả - so sánh

Phương pháp phân tích - tổng hợp

5 Cấu trúc của khoá luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài có cấu trúc gồm ba chương:

Chương 1: Giới thuyết về loại hình kí văn học và đặc điểm của văn bản kí

trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay

Trang 10

Chương 2: Một số định hướng và phương pháp dạy đọc - hiểu văn bản kí ở

trường phổ thông hiện nay

Chương3: Thiết kế giáo án thể nghiệm

Trang 11

Chương 1

GIỚI THUYẾT VỀ LOẠI HÌNH KÍ VĂN HỌC VÀ ĐẶC ĐIỂM VĂN BẢN

KÍ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT HIỆN NAY

1.1 Giới thuyết về loại hình kí văn học

1.1.1 Khái niệm kí văn học

Kí có nghĩa gốc là "ghi chép" về sự vật, sự việc diễn ra trong đời sống Kháiniệm kí (tiếng Nga: Ocherk; tiếng Pháp: essai, reportage) cũng đã có mặt trongnhiều từ điển chuyên ngành cũng như các công trình nghiên cứu lí luận văn học

Từ điển thuật ngữ văn học (do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi

đồng chủ biên) đã định nghĩa về kí như sau: "Kí là một loại hình văn học trunggian nằm giữa báo chí và văn học Kí bao gồm nhiều thể, chủ yếu dưới dạng vănxuôi tự sự như bút kí, hồi kí, du kí, nhật kí, phóng sự, tuỳ bút và cả hồi kí tựtruyện"[36,162] Định nghĩa này thiên về nhấn mạnh các đặc điểm hình thức củaloại hình kí Các tác giả chủ yếu nói đến tính chất trung gian và tính nhiều biếnthể của loại hình văn học đặc biệt này ,…

Tác giả Lại Nguyên Ân trong cuốn 150 thuật ngữ văn học cũng khẳng định

tính chất trung gian có ở loại hình kí khi ông định nghĩa về nó: "Kí là tên gọichung của một nhóm thể tài nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài vănhọc (báo chí, ghi chép) chủ yếu là văn xuôi tự sự" [1,179] Tính chất trung giantrong tác phẩm kí được biểu hiện ở điểm kí vừa mang đặc điểm của các văn bảnhành chính công vụ, lại vừa mang giá trị văn học

Trang 12

Giáo trình Lí luận văn học (do Trần Đình Sử chủ biên) cũng nhấn mạnh đến

hai tính chất này của kí: "Kí là loại hình văn học có nhiều biến thể", và "Kí làmột loại hình văn học trung gian" [26,356] Trên thực tế không chỉ riêng kí mới

có sự phong phú về thể loại mà từ xa xưa loại hình truyện cũng bao gồm nhiềuthể loại như: truyện chí quái, chí nhân, truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết,…Tuy nhiên có thể thấy thể loại của kí đa dạng và phức tạp hơn Về tính trunggian, kí là loại hình thể hiện đậm nét nhất đặc điểm này

Cũng đi vào nhấn mạnh tính nhiều biến thể của kí "Bao gồm nhiều thể khácnhau như kí sự, phóng sự, tuỳ bút, bút kí, nhật kí, v.v" [5,210], nhưng giáo trình

Lí luận văn học (do Hà Minh Đức chủ biên) còn nhấn mạnh: "Kí văn học là thể

loại cơ động, linh hoạt, nhạy bén trong việc phản ánh hiện thực ở cái thế trực tiếpnhất, ở những nét sinh động và tươi mới nhất" [5,210] Ở đây, tác giả khi bàn về

kí đã nói đến một đặc trưng rất cơ bản của kí, đó là sự năng động, nhạy bén trongphản ánh hiện thực Bất cứ loại hình văn học nào cũng bắt rễ từ cuộc sống, làtấm gương phản chiếu cuộc sống nhưng kí là loại hình văn học tiên phong, điđầu trong việc phản ánh hiện thực Nó luôn bám sát cuộc sống ở cái thế trực tiếpnhất Định nghĩa này nhấn mạnh đặc điểm về nội dung rất quan trọng làm nênđặc trưng riêng biệt của kí so với các loại hình văn học khác

Theo công trình Lí luận văn học - Vấn đề và suy nghĩ (do Nguyễn Văn Hạnh,

Huỳnh như Phương đồng chủ biên), kí "là ghi chép, về nguyên tắc là viết về sựthật mắt thấy tai nghe, do vậy, không chấp nhận hư cấu, bịa đặt Ngoài ra, kí cóthể có cốt truyện hay không có cốt truyện, có nhân vật hay không có nhân vật.Trong trường hợp có cốt truyện có nhân vật thì kí về mặt kết cấu giống nhưtruyện Kí cũng có thể chứa đựng các yếu tố trữ tình ở các mức độ khác nhau"[25,99] Với định nghĩa này, tác giả đã đề cập đến phương diện cốt truyện vànhân vật trong kí Kí không đặc trưng bởi cốt truyện và nhân vật, nhưng nếu có

Trang 13

trên thực tế cốt truyện trong truyện thường chặt chẽ hơn cốt truyện của kí Cốttruyện của kí nhiều khi rất lỏng lẻo, có trường hợp tác phẩm kí không có cốttruyện, tác giả kí tự do bộc lộ cảm xúc của mình Chính vì thế mà "Kí cũng cóthể chứa đựng các yếu tố trữ tình ở các mức độ khác nhau".

Nhìn chung, khi định nghĩa về kí, các tác giả đều nhấn mạnh về giá trị vănhọc của nó, bởi vì, kí trong các định nghĩa này chính là kí văn học (Nó cũng làđối tượng khảo sát cơ bản của đề tài này, vì thế ở các phần sau, có lúc chúng tôichỉ gọi vắn tắt là kí (hoặc tác phẩm kí) thì xin hiểu đấy là loại hình kí văn học).Trên cơ sở tham khảo tài liệu của các nhà nghiên cứu lí luận, trong giới hạn mộtkhóa luận, chúng tôi hiểu về khái niệm này như sau:

Kí là một loại hình văn học trung gian, nằm giữa văn học và báo chí Kí baogồm nhiều thể như kí sự, nhật kí, bút kí, tuỳ bút, v.v Đây là một loại hình vănhọc năng động, đi đầu trong việc khám phá hiện thực cuộc sống ở thế trực tiếpnhất Bên cạnh giá trị tác động nhân sinh - xã hội mạnh mẽ, các tác phẩm kí còn

có giá trị nghệ thuật cao

1.1.2 Đặc trưng của loại hình kí văn học

Đến nay, việc xác định đặc trưng của kí cho đến nay vẫn đang còn nhiều ýkiến chưa hoàn toàn thống nhất Có nhiều ý kiến cho rằng đặc trưng của kí baogồm: kí viết về người thật, việc thật; có tính chính luận; tính chủ quan; tính nghệ

thuật cao; v.v Tác giả Hoàng Ngọc Hiến trong Năm bài giảng về thể loại lại đưa

ra các đặc trưng của kí như sau: kí gần gũi với văn báo chí, vẫn có thể có nhữngphẩm giá của văn học; kí là sự hợp nhất truyện và nghiên cứu; kí là “sự nhứcnhối của trí tuệ” Về tính hư cấu ở trong kí cũng có hai quan điểm, một quanđiểm cho rằng kí không có hư cấu và quan niệm khác lại khẳng định kí có hư cấunhưng trong phạm vi giới hạn của kí Trên cơ sở tham khảo ý kiến của các nhà

Trang 14

nghiên cứu đi trước, sau đây chúng tôi sẽ trình bày một số đặc trưng cơ bản củaloại hình kí văn học để bạn đọc tiện theo dõi

1.1.2.1 Kí luôn bám sát những vấn đề nhân sinh - thế sự nóng hổi của thực

tế đời sống

Văn học bắt nguồn từ cuộc sống và nhà văn là người thư kí trung thành củathời đại Kí là một loại hình văn học mang tính thời đại, người viết kí luôn lànhững chiến sĩ xung kích trên mặt trận văn chương Do vậy một đặc trưng rấtquan trọng của loại hình văn học năng động này là “luôn bám sát vào các vấn đề

nhân sinh - thế sự nóng hổi của thực tế đời sống" Nói cách khác, đối tượng nhận

thức phản ánh cơ bản của kí chính là những vấn đề nhân sinh - thế sự mang ýnghĩa xã hội rộng lớn, cấp bách

Đến với các tác phẩm kí, ta luôn bắt gặp hình ảnh cuộc sống được phản ánh

đa chiều, phong phú về nhiều lĩnh vực: chính trị, đạo đức, văn hoá Kí còn cungcấp cho người đọc những khám phá mới về địa lý, phong cảnh của đất nước

trong một loạt tuỳ bút - bút kí của Nguyễn Tuân như Cô Tô, Sông Đà,v.v Bên

cạnh đó, kí còn mang đến cho người đọc những tri thức về văn hoá của dân tộc,

thể hiện trong hàng loạt bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường như Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu, Ai đã đặt tên cho dòng sông, v.v Kí không chỉ đi vào văn hoá, địa lí phong cảnh mà nó còn phản ánh lịch sử đấu tranh của dân tộc ta Tuỳ bút kháng chiến, Tình chiến dịch của Nguyễn Tuân hay thiên kí sự Họ sống và chiến đấu của Nguyễn Khải đều là tấm gương phản chiếu hiện thực lịch sử -

cách mạng của dân tộc Như vậy, đặc điểm này cho người đọc thấy được phạm

vi, giới hạn hiện thực được mô tả trong kí hết sức rộng lớn và phong phú Có thểnói kí có thể bao quát được mọi đối tượng liên quan đến nhân sinh - thế sự củacon người trong đời sống thực tế

Trang 15

Kí có thể có mặt ở nhiều lĩnh vực để phản ánh kịp thời nhanh nhạy nhữngvấn đề bức thiết của cuộc sống Chính vì vậy mà đối tượng nhận thức - thẩm mĩcủa kí rất phong phú, bao gồm cả vấn đề nhân sinh - thế sự, các sự kiện chính trị

- xã hội, hình ảnh thiên nhiên, v.v Viết về những vấn đề nhân sinh tức là kí đangphản ánh về cuộc sống muôn màu muôn vẻ của con người Vai trò là "chiến sĩxung kích của kí" được thể hiện rõ ở thể loại phóng sự Ở Việt Nam, phóng sựgiai đoạn 1930 - 1945 có ý nghĩa xã hội hết sức nóng bỏng Chúng ta biết đến

phóng sự Việc làng, Tập án cái đình của Ngô Tất Tố; Tôi kéo xe của Tam Lang:

và đặc biệt là Kĩ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô của Vũ Trọng Phụng Đây đều

là những sản phẩm tinh thần của những cây bút phóng sự tên tuổi và đồng thờicũng là những nhà hoạt động xã hội sôi nổi Vũ Trọng Phụng vừa là nhà văn lạivừa là cây bút báo chí sắc sảo Vì thế tác phẩm của ông luôn đem đến cho ngườiđọc cái nhìn đa diện về hiện thực xã hội thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam

Đặc biệt là ở hai thiên phóng sự Kĩ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô, tác giả

dường như đã bóc trần bộ mặt thật của xã hội thực dân nửa phong kiến ở ViệtNam Xã hội đầy rẫy những thói hư tật xấu và con người đứng trước nguy cơ bịphong hoá về đạo đức: thanh niên trai tráng ngập sâu vào bàn đèn thuốc phiện,các cô gái thi nhau lấy chồng Tây để được sung sướng, v.v Đó là những tệ nạncủa cuộc sống thành thị mà qua trang phóng sự của Vũ Trọng Phụng nó đã đượcphơi bày ra ánh sáng Khác với Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố có sở trường viết

về nông thôn Tuy nhiên nhà văn không phản ánh hiện thực nông thôn trên diệnrộng, ông chỉ tập trung đi sâu vào khai thác những hủ lậu đè nặng lên vai người

nông dân Việt Nam vào thời điểm đó: "Những việc tôi làm, bất kỳ việc nào, tuy không phát đạt, nhưng không thất bại bao giờ, chẳng lãi nhiều thì lãi ít Vậy mà cuộc đời lại nghèo xơ, nghèo xác, ăn không đủ, mặc không đủ Cả nhà có một thằng con, đành để nó phải dốt nát Ông bảo là vì cớ gì? Ấy là lỗi gánh việc làng" (Việc làng) Lời nói của một cụ già trước lúc lâm chung đã cho ta thấy được

bộ mặt thật của nông thôn Việt Nam thời bấy giờ Người dân chìm đắm trong

Trang 16

nghèo khổ, không đủ ăn, không đủ mặc bởi một lí do lớn hơn bất kỳ lí do khác,

đó là những hủ tục đã ăn sâu vào đời sống, bọn quan lại đã lợi dụng những hủtục này để vơ vét của cải của người dân Đây là một trong những vấn đề nhứcnhối của hiện thực xã hội Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945 Qua trang kí của cácnhà văn như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Tam Lang,… hiện thực đó đượcphản ánh đa chiều, sắc nét hơn Bằng những trang viết giàu chất hiện thực và ýnghĩa tố cáo xã hội ấy, một mặt, các nhà văn bộc lộ thái độ căm phẫn trước sự vôlương và tàn bạo của bọn quan lại, đồng thời họ còn bày tỏ sự cảm thông, niềmxót thương trước cuộc sống lầm than của người dân Việt Nam

Đối tượng nhận thức - thẩm mĩ của kí còn là những vấn đề thế sự, liên quan

đến vận mệnh của dân tộc Kí sự Họ sống và chiến đấu của Nguyễn Khải viết về

cuộc sống và những chiến công thầm lặng của những chiến sĩ trên đảo Cồn Cỏ:

"Những người sống và chiến đấu trên hòn đảo mờ xanh kia, ở tận mãi chân trời kia, đã không còn bí ẩn và khó hiểu nữa Chúng tôi đã đến với họ, đã sống với

họ và điều phát hiện quan trọng nhất là họ rất giống với chúng ta: giàu lí tưởng

và lòng tin, rất giản dị và khiêm tốn ( ) Cũng như khi cần thiết chúng ta sẽ trở thành những chiến sĩ gang thép, và mỗi mảnh đất ta đang đứng cũng sẽ là một mảnh đất anh hùng" Họ là những chiến sĩ anh hùng sống và chiến đấu trên một

mảnh đất anh hùng Tác giả viết về họ với sự ngưỡng mộ và lòng biết ơn chânthành Qua những số phận, những mảnh đời của Ấp, Bắc, Bích, Nguyễn Khảimuốn nói về một vấn đề thế sự có ý nghĩa sâu sắc: cả dân tộc đang bước vào thời

kì đấu tranh cách mạng và mỗi người dân Việt Nam hãy là một chiến sĩ chiếnđấu anh dũng cho từng nắm đất, giọt mồ hôi, cây lá,… của quê hương Điều này

cũng được thể hiện rõ trong Kí sự Cao - Lạng của Nguyễn Huy Tưởng và các tập

kí sự của tác giả Trần Đăng sau Cách mạng tháng Tám Như vậy, các vấn đềnhân sinh - thế sự đã trở thành đối tượng nhận thức - thẩm mĩ của kí văn học

Trang 17

Nói về đối tượng nhận thức - thẩm mĩ của kí không thể không đề cập đến

quan điểm, thái độ của tác giả trước hiện thực Trong Thượng kinh kí sự, Lê

Hữu Trác miêu tả hiện thực cuộc sống xa hoa có thực nơi phủ chúa Qua đó,người đọc nhận ra được thái độ mỉa mai, phê phán của tác giả; đồng thời ta còncảm nhận được thái độ yêu thích cuộc sống an nhàn, không màng danh lợi của vịHải Thượng Lãn Ông tài giỏi và nhân cách Ngoài việc nhận thức phản ánh vềhiện thực đời sống nhân sinh thế sự của con người, thái độ tình cảm của conngười, kí còn xây dựng hình tượng thiên nhiên thành đối tượng nhận thức - thẩm

mĩ Kí phong cảnh mang đến cho người đọc những giây phút được thoải mái thảhồn mình chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên của đất nước mình Đọc tuỳ bút

Sông Đà ta được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của một dòng sông mang dáng hình của quê hương, xứ sở vừa mềm mại trữ tình lại vừa hùng vĩ, hung dữ: "Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình" và "Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như van xin, rồi lại như khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo" Và làm sao ta có thể thờ ơ trước dòng sông Hương thơ mộng khi khám phá Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường Và còn bao nhiêu khung

cảnh thiên nhiên khác nữa trong những trang kí đầy tài hoa và phóng túng của

Vũ Bằng, Thạch Lam

Điều gì đã thôi thúc tác giả kí sáng tác ra những tác phẩm kí có thể đi sâu vàonhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nắm bắt những vấn đề thời sự nóng bỏngnhất? Phải chăng là do nhu cầu ghi chép, phản ánh hiện thực nhằm tác động vàođời sống xã hội của các nhà văn Những người viết kí thông thường là những câybút lão luyện Họ tìm đến kí không phải là để thử nghiệm mà để phản ánh đượcnhững vấn đề bức thiết đang đặt ra cho con người và xã hội Vì vậy các nhà vănđồng thời cũng là những nhà hoạt động xã hội, những nhà cách mạng trực tiếp

tham gia chiến đấu ở chiến trường Nam Cao trong nhật kí Ở rừng đã thể hiện

được một vấn đề xã hội có ý nghĩa cấp bách Đó là vấn đề mối quan hệ giữa sống

Trang 18

và viết Những ngày tháng được ngủ chung lán trong rừng với đồng bào Thổ,nhà văn hiểu họ hơn và càng ý thức mạnh mẽ hơn về nhiệm vụ của một nhà văn.

Và tác giả đã nhận ra rằng: "Bây giờ đây tôi thấy yên lòng về những bài viết cỏn con của tôi hơn Nó chẳng nói được điều gì sâu sắc lắm đâu Nhưng nó làm cho người đọc hiểu biết hơn, tin tưởng vào cuộc kháng chiến của ta hơn, nó đẩy họ cũng hăng hái giúp ích cho cuộc kháng chiến của toàn dân và gợi cho họ những việc họ có thể làm để giúp ích cho kháng chiến" Có thể nói vấn đề mối quan hệ

giữa sống và viết đã thôi thúc tác giả viết nên tập nhật kí đậm tính chất văn họcnày Từ sự thôi thúc trước các vấn đề nhức nhối của cuộc sống các tác giả kí vớitinh thần "dấn thân" đã góp một phần công sức của mình vào sự nghiệp đổi mớitoàn diện đất nước Đóng góp này không chỉ có ở tác phẩm của Nam Cao, mà nócòn được thể hiện sâu sắc qua hàng loạt tác phẩm kí của các tác giả kí sau Cách

mạng tháng Tám như Tiếng đất của Hoàng Hữu Cát, Cái đêm hôm ấy đêm gì của

1.1.2.2 Kí luôn đề cao tính thông tin xác thực trong mô tả, trần thuật

Kí là loại hình văn học hết sức cơ động và linh hoạt, vì vậy mà nó có khảnăng phản ánh hiện thực một cách nhạy bén, kịp thời Tính xác thực của conngười, sự việc được nói đến trong kí được đảm bảo một cách cao độ Ở đâychúng ta cần có cái nhìn so sánh về hai khái niệm "chân thực" và "xác thực"

"Chân thực" là một thuật ngữ thuộc phương pháp sáng tác hiện thực chủ nghĩacòn "xác thực" là thuật ngữ tính chất do loại hình quy định Do thuộc hai lĩnh

Trang 19

vực khác nhau nên hai khái niệm này không hoàn toàn trùng khít nhau mặc dùchúng đều chỉ về một tính chất, đó là sự thật Nếu như "chân thực" là phản ánhđược một khía cạnh nào đó của vấn đề, về bản chất của cuộc sống thì "xác thực"ngoài phần "chân thực" còn có địa chỉ cụ thể, rõ ràng đáng tin cậy.

Có rất nhiều thể loại văn học cũng nói về sự thật nhưng nếu như ở cácthể loại này, sự thật như là cái nguyên cớ để tác giả bộc lộ tư tưởng của mình thìtuyên ngôn về sự thật trở thành lẽ sống, thành đặc trưng nổi bật nhất của kí vănhọc Hoàng Phủ ngọc tường nhấn mạnh tính chất này ở loại hình kí: "…cùng vớicảm xúc văn học, bút kí còn chứa đựng cái cõi thực vốn là bản gốc của tác phẩm.Sức nặng ấy được chuyển đi, không giống như một cảm giác mĩ học, mà như

một quả táo Newton rơi xuống tâm hồn người đọc" Hoàng Phủ Ngọc Tường nói

đến sự thật vốn là cốt lõi của thể loại bút kí và đồng thời nó cũng là đặc tính củaloại hình kí văn học nói chung Phản ánh trung thực, chính xác người thật, việcthật là một yêu cầu cấp thiết của kí nói chung và thể loại bút kí nói riêng Bởivậy tiếp xúc với bất cứ tác phẩm kí nào người đọc đều bắt gặp trong đó cái cốtlõi của người thật, việc thật được phản ánh một cách xác thực Dù là kí ở thời đạinào thì người đọc vẫn nhận thức được người thật, việc thật mà người viết kí thể

hiện trong tác phẩm của mình Đến với Tiên tướng công niên phả lục của tác giả

Trần Tiến, ta bắt gặp cuộc đời thân phụ tác giả hiện lên rõ nét từ lúc sinh ra cho

đến lúc từ giã cõi đời: "Tướng công sinh ra lại lắm bệnh, không dám để ở cùng, phải nuôi ở bên ngoại Khi tướng công lớn lên thì bị mồ côi, nhưng ngài ra sức học hành, lấy văn chương để hiển danh với đời, nối tiếp đỗ đại khoa, làm quan

30 năm, chức vị thấp và tản mạn" Mặc dù tác phẩm chưa thoát khỏi tính chất của

văn học chức năng, vẫn chịu sự quy định của hình thức niên phả song chỉ bằngmấy nét phác thảo của Trần Tiến mà cuộc đời Trần Cảnh - thân phụ ông hiện lênrất cụ thể, với những sự kiện có thật trong cuộc đời từ lúc sinh ra cho đến khilàm quan rồi gặp những điều phiền toái ở chốn công đường Trong đoạn trích

Trang 20

Cha tôi (trích Đặng Dịch Trai ngôn hành lục của Đặng Huy Trứ), tác giả đã nói

về chuyện thi cử của mình một cách thành thực như nó vốn có

Kí văn học luôn đề cao tính xác thực của thông tin, sự kiện Vì thế, các tácgiả kí thường chú trọng vào việc đưa ra các dẫn chứng số liệu cụ thể, chính xác

Trong Bản án chế độ thực dân Pháp, tác giả đã đưa ra số liệu thuyết phục: "Tổng cộng có bảy mươi vạn người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp; và trong số ấy, tám vạn người không bao giờ con trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa" Con số này là sự minh chứng cho tội ác dã man của thực dân Pháp

cũng như nỗi thống khổ của người dân An-Nam đồng thời khơi dậy lòng cămthù, kêu gọi tinh thần đấu tranh của nhân dân Cũng giống như bút kí chính luận,thể phóng sự rất hay sử dụng số liệu để minh chứng cho những vấn đề mà tác giả

đặt ra Ở phóng sự Lục xì, Vũ Trọng Phụng đã dẫn ra rất nhiều số liệu, như: "Năm

1937, Hà Nội có 5000 gái điếm, 16 nhà thổ chung, 15 nhà điếm riêng, 377 phòng ngủ trong các nhà săm" Các số liệu mà tác giả đưa ra đã phần nào cho ta

thấy được sự đề cao tính thông tin xác thực ở trong kí Dường như ở đây, nhàviết kí đã hoá thân thành nhà thám tử tài ba, để nói cho đến tận cùng sự thật

Việc đề cao tính thông tin xác thực ở trong kí đồng nghĩa với việc tácgiả đưa các sự kiện, con người của đời sống vào thẳng trang sách Với nhữngtrang hồi kí của mình, Tô Hoài đã mang đến cho bạn đọc những bức chân dungxác thực của những nhà văn tên tuổi như Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính, XuânDiệu, v.v Đúng như Trần Đức Tiến nhận xét: "Bằng cuốn sách của mình, lầnđầu tiên ông đã để cho thế hệ cầm bút chúng tôi nhìn một số "nhân vật lớn" củavăn chương nước nhà từ một cự ly gần (…) Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng chúngtôi cũng hầu như không có cơ hội để gần gũi, thậm chí để biết mặt (…) Bây giờqua Tô Hoài, chúng tôi được "nhìn" gần - một khoảng cách quá tàn nhẫn, nhưngchính vì thế mà chân thực và sâu sắc" Những con người có thật ở ngoài đời đã

Trang 21

dung các nhân vật văn học hiện lên trung thực hơn bao giờ hết Và qua ngòi bútcủa mình, nhà văn cho ta thấy được "ảo mộng của Nguyễn Tuân, "sự bê tha củaNguyễn Bính", "tình trai của Xuân Diệu", v.v Đó là những chuyện có thực vềnhững nhà văn lớn mà giờ đây qua dòng hồi kí của Tô Hoài, bạn đọc mới có thểnhận chân ra được

Kí nhằm thông tin về sự thật và sự thật ở trong kí mang ý nghĩa nhân sinh

Đến với Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi hay Họ sống và chiến đấu của

Nguyễn Khải ta mới thấm thía được thông tin sự thật - nhân sinh của kí văn học.Thông qua hình tượng chị Út Tịch hay hình ảnh những người lính đang ngàyđêm sống và chiến đấu trên đảo Cồn Cỏ, các nhà văn đã nêu bật được tinh thầnanh dũng, kiên cường của con người Việt Nam trước mưa bom, bão đạn của kẻthù Từ đó, tác giả muốn thức tỉnh lòng yêu nước và tinh thần dân tộc của ngườidân Việt Nam

Tính xác thực trong kí còn gắn liền với tư tưởng và quan niệm của con người

ở mỗi thời đại khác nhau, của những hệ tư tưởng khác nhau trong xã hội

về sự thật Kí Việt Nam thời phong kiến chịu ảnh hưởng của Đạo giáo, Phật giáo

và đặc biệt là Nho giáo với tư tưởng "trung quân ái quốc" Vì thế quan niệm về

sự thực của kí vẫn mang không khí trang trọng của thời đại, ví dụ như Thượng kinh kí sự, Bắc hành tùng kí,v.v Còn tính xác thực của kí Việt Nam giai đoạn

1954 - 1965 mang theo một quan niệm tư tưởng mới Đó là hệ tư tưởng củanhững con người mới - con người xã hội chủ nghĩa, vừa chiến đấu vừa xây dựngđất nước Vì thế, sự thực trong kí nó có mặt ở cả trên chiến trường và trong lĩnhvực sản xuất xây dựng xã hội chủ nghĩa của đất nước Sự thật trong những văn

bản kí thời đại này thường mang tính chất dân chủ Ta thấy rõ điều này trong Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi của Nguyễn Tuân hay Buổi chợ trung du, v.v

Trang 22

Kí cũng là một loại hình văn học ra đời nhằm thoả mãn nhu cầu thẩm

mĩ của con người Kí không chỉ mang thông tin sự thật mà ở kí còn thể hiện

"thông tin thẩm mĩ" Và để cung cấp thông tin thẩm mĩ cho bạn đọc, kí phải sửdụng hư cấu như một thủ pháp nghệ thuật Văn học thuộc về quy luật của sángtạo nghệ thuật mà đã thuộc về quy luật này thì văn học tất yếu phải có hư cấu

Và kí văn học là một loại hình văn học vậy nên nó không thể thoát ra khỏi quyluật của hư cấu nghệ thuật Ở đây chúng ta cần có một cái nhìn mang tính tươngđối với tính chất hư cấu ở trong kí văn học Quan niệm cho rằng kí có hư cấunhưng trong một chừng mực nhất định có cơ sở từ một cách hiểu khác về hư cấu

Đó là hiểu hư cấu với nghĩa là nhà văn có thể thay đổi ít nhiều trật tự tự nhiênvốn có của đối tượng nhưng không làm hưởng đến tính xác thực của đối tượng.Hoàng Phủ Ngọc Tường cho rằng: "Hư cấu là một thao tác trí tuệ và tồn tại trong

kí như một phẩm chất mĩ học" và tác giả đã bộc lộ suy nghĩ chủ quan của mình:

"Tôi không tin rằng cái gì được gọi là văn học mà không có hư cấu Một bút kígiỏi theo tôi phải là một sự hư cấu được ráp lại từ những mảnh thực tế khác nhaunhư những mảnh vá nhưng không làm lộ rõ mối chỉ và nếp gấp Bút kí chỉ trọnvẹn khi chứa đựng trong nó tầm văn hoá của người viết" (chuyển dẫn [7; 16]).Hoàng Phủ Ngọc Tường nói đến tính chất hư cấu ở trong thể loại bút kí nhưngthực chất là để nhà văn nói rộng ra đặc trưng này ở trong kí văn học Theo ông,

hư cấu trở thành một phẩm chất mĩ học - một phẩm chất đặc biệt làm nên sứchấp dẫn của kí Điều gì làm nên tính linh hoạt và hấp dẫn ở kí nếu không phải làtính chất hư cấu có mức độ của loại hình này? Đành rằng kí phải viết về ngườithật việc thật nhưng trong người thật, việc thật cũng có những thành phần xácđịnh và thành phần không xác định Và tính chất hư cấu có mức độ của kí đượcthể hiện rõ ở chỗ này Đối với những thầnh phần xác định như lai lịch, quê quán,ngoại hình, không gian, thời gian,… nhà văn không được phép hư cấu còn đốivới những thành phần không xác định như nội tâm nhân vật, hình tượng nhân vật

Trang 23

phụ, cảnh thiên nhiên… nhà văn hoàn toàn có thể sử dụng biện pháp hư cấu như

là một loại vũ khí đắc lực của nghệ thuật

Nội tâm nhân vật là một trong những thành phần không xác định Nó là đối

tượng có thể được hư cấu của kí Thiên kí sự Họ sống và chiến đấu của Nguyễn

Khải viết về con người và cuộc chiến đấu trên đỏ Cồn Cỏ Đó là những conngười có thực trên hòn đảo anh hùng, là Ấp, Bắc, Bích, Khoa, v.v… Tuy nhiênnếu Nguyễn Khải chỉ đơn thuần viết về những con người ấy một cách xác thựcnhư chính bản thân họ trong cuộc đời thực thì liệu tác phẩm có thể để lại những

ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả không? Cái tài của nhà văn Nguyễn Khải là

đã khéo léo vận dụng trí tưởng tượng của mình một cách linh hoạt để lắp ghép,chắp nối các sự kiện tạo nên những dòng chảy miên man của cuộc sống Nhàvăn không ép mình theo cái khuôn của sự thật, nhưng cũng không tô hồng haybôi đen hiện thực mà nét tinh tế trong tài năng văn chương của ông là trên cáinền của hiện thực nhà văn đã sử dụng bút pháp tưởng tượng để cho ta nhữngtrang kí đầy xúc động về đời sống tinh thần của các chiến sĩ trên hòn đảo nhỏnày Nhà văn đã khai thác nội tâm nhân vật qua cuốn nhật kí gối đầu giường củaBích, qua bức thư dặn dò của người anh trai với anh lính đảo và đó còn là nhữnglời tâm sự của cô gái hậu phương gửi đến chàng trai nơi hòn đảo xa xôi Nhữngngười lính ở đảo Cồn Cỏ không chỉ gan dạ, dũng cảm luôn sẵn sàng đối mặt vớihiểm nguy mà ở họ còn có một đời sống tâm hồn phong phú, giàu tình yêuthương Sử dụng hư cấu ở điểm này đã giúp Nguyễn Khải tạo ra được chất bình

dị đời thường trong tâm hồn người lính đảo, tạo điều kiện để nhân vật gần gũihơn với cuộc sống

Hư cấu còn được các tác giả kí sử dụng như một vũ khí đắc lực để miêu tả

thiên nhiên Đến với Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường ta

bắt gặp một dòng sông Hương mang vẻ đẹp của người con gái Huế dịu dàng,nhân hậu và đầy ân tình, ân nghĩa Đó vừa là dòng sông Hương có thực của xứ

Trang 24

Huế lại vừa là dòng sông trong tâm tưởng của tác giả, nó được xây dựng dựa trên

sự hợp lưu giữa tình yêu quê hương xứ sở với sự tài hoa trong cách sử dụng thủpháp hư cấu hợp lí của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Trong sáng tác kí văn học, nhà văn không được quá mạnh tay khi sử dụngthủ pháp hư cấu bởi lẽ cái cốt lõi của kí là đề cao tính thông tin xác thực

Vì thế nếu hư cấu vượt qua mức độ cho phép của kí thì tác phẩm đó sẽ khôngcòn thuộc loại hình kí nữa mà nó đã bước sang địa hạt của một loại hình văn họckhác Như vậy, các tác giả kí luôn có ý thức đề cao tính thông tin xác thực trongtác phẩm kí của mình Chính vì thế mà ở những trang kí của họ, thủ pháp hư cấukhông những không vi phạm vào tính thông tin xác thực của kí mà còn có tácdụng bồi đắp cho hình tượng thẩm mĩ trong kí thêm sinh đông, cuốn hút độc giả

1.1.2.3 Kí có đặc thù riêng trong cách tổ chức không gian, thời gian và xây dựng hình tượng tác giả

Bất cứ một loại hình văn học nào cũng quan tâm đến việc tổ chức khônggian, thời gian và xây dựng hình tượng tác giả Tuy nhiên, mỗi loại hình văn học

có cách thức tổ chức thời gian, không gian và xây dựng hình tượng tác giảriêng Kí cũng mang đến cho văn học một hướng đi rất độc đáo về đặc điểm này

Thực chất, nói đến cách thức tổ chức thời gian, không gian ở trong

kí là chúng ta đang nói đến nghệ thuật trần thuật của kí Vậy, nghệ thuật trầnthuật trong kí có gì đặc biệt về phương diện không gian và thời gian? Người viết

kí rất tôn trọng trật tự thời gian của sự việc trong đời sống Chính vì vậy, thờigian trong tác phẩm kí diễn ra theo trật tự trước sau, sự kiện nào xảy ra trước thìghi trước, sự kiện nào xảy ra sau thì ghi sau Với kí thì thời gian trần thuật vàthời gian sự kiện gần như đồng nhất với nhau Sự rút ngắn tới mức tối đa khoảngcách giữa thời gian sự kiện và thời gian trần thuật là một đặc điểm thuộc về nghệ

Trang 25

điểm này được thể hiện rõ nét Chẳng hạn, viết về nhân vật Trần Quốc Tuấn, tácgiả đã đi theo mạch của thời gian sự kiện trong cuộc đời thực của nhân vật:

"Tháng 6, ngày 24, sao sa: Hưng Đạo Đại Vương ốm", "Mùa thu, tháng 8, ngày 20, Hưng Đạo Đại Vương mất "…Ở những tác phẩm kí thiên về thuật chuyện, kể

việc, sự tổ chức thời gian trần thuật theo thời gian sự kiện trở thành đặc điểm nổi

bật Ở hồi kí Những năm tháng không thể nào quên, Võ Nguyên Giáp đã tổ chức

thời gian trần thuật theo hướng này Tác giả hồi tưởng lại hình ảnh của Chủ tịch

Hồ Chí Minh trong những ngày đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám Ở tác phẩm,

này thời gian trần thuật gần như trùng khít với thời gian sự kiện: "Tháng Tám năm 1945, Bác nhân danh nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc", "Đầu tháng Chín, Bác ra mắt nhân dân với danh hiệu Chủ tịch Hồ Chí Minh", "Tháng Chạp, Bác viết một bài "Tự phê bình" cho đăng lên các báo" Thời gian liên tiếp nhau, tuân

theo trật tự trước sau của thời gian sự kiện trong hiện thực Điều này góp phầntạo được sức thuyết phục cho loại hình kí Về không gian, kí cũng có cách tổchức riêng Nếu như trong truyện ngắn hay tiểu thuyết, các nhà văn có thể hư cấu

về không gian thì với kí, thủ pháp hư cấu không được phép sử dụng ở phươngdiện này Không gian trần thuật trong các tác phẩm kí là những không gian cóthực, cụ thể và xác định Đó là những vùng đất, những miền quê, tên làng, tênxóm hết sức chính xác; nó không mơ hồ như không gian "ở một làng nọ" trongtruyện kể dân gian mà ta vẫn thường gặp Ở bất cứ tác phẩm kí nào, ta cũng bắtgặp hình ảnh không gian được phản ánh chính xác đến từng địa điểm Tuỳ bút

Sông Đà của Nguyễn Tuân đưa ta đến với địa danh sông Đà nơi miền Tây Bắc của Tổ quốc; với Ai đã đặt tên cho dòng sông, Hoàng Phủ Ngọc Tường đưa ta đến với dòng sông Hương, với xứ Huế mộng mơ, tươi đẹp… Không gian trong

tác phẩm kí được mở rộng, rất phong phú nhưng bao giờ cũng thể hiện được tính

cụ thể và chính xác của nó Với việc đưa vào tác phẩm kí của mình những địadanh cụ thể như vậy, kí đã hướng người đọc luôn dõi theo tác phẩm với một sự

tin tưởng tuyệt đối Chẳng hạn đọc Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi thì

Trang 26

"lòng yêu thương và ngưỡng mộ đối với người anh hùng đã trở nên sâu nặnghơn, nỗi ước muốn gặp mặt càng thúc giục hơn, khi người ta biết rằng một người

mẹ như vậy đã sống thực, và đã đánh giặc ở một mảnh đất gọi là xã Tam Ngãi,huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh có thực của Tổ quốc" (chuyển dẫn [4; 427]) Nhưvậy, cách tổ chức thời gian, không gian trong kí mang một nét riêng, không lẫnvới loại hình văn học nào khác Đó cũng chính là điểm đặc sắc về nghệ thuật trầnthuật trong kí Bên cạnh cách thức tổ chức thời gian, không gian, kí còn đặc biệt

ở ngôn ngữ trần thuật Có thể nói ở các tác phẩm kí mà chủ yếu là các tác phẩm

kí hiện đại, ngôn ngữ trần thuật cũng được tác giả rút gọn tới mức tối đa Chẳng

hạn, ở tác phẩm Đốt cháy vị trí Thái Đào của Kim Lân, ngôn ngữ trần thuật hết

sức ngắn gọn:

"- A lô, ba dô ca sẵn sàng! Còn 3 phút nữa! Còn 2 phút nữa!

Một ánh chớp sẹt ngang đêm tối.

Uỳnh! Đoàng!"

Yếu tố nào đã làm nên những điểm độc đáo của kí về phương diện nghệ thuậttrần thuật? Phải chăng là để gắn kết được các yếu tố thời gian, không gian, ngônngữ, giọng điệu,… trong tác phẩm của mình, người viết kí phải xây dựng đượchình tượng tác giả Hình tượng tác giả luôn xuất hiện trong tất cả các tác phẩmvăn học Tuy nhiên, hình tượng tác giả trong tác phẩm kí được xây dựng theomột đặc trưng riêng

Hình tượng tác giả có một vị trí quan trọng trong tác phẩm kí Tác giả La

Khắc Hoà, trong giáo trình Lí luận văn học (tập 2) cho rằng: "Tác giả kí là người

tham gia trực tiếp vào thế giới hình tượng nghệ thuật của tác phẩm, phát huy khảnăng quan sát, liên tưởng, tưởng tượng, nối kết các chi tiết, sự kiện, trực tiếptrình bày tư tưởng, tình cảm của mình để hướng dẫn người đọc cảm thụ cuộc

Trang 27

sống theo những định hướng nào đó" [16; 373] Như vậy, hình tượng tác giả trởthành một nhân vật của tác phẩm kí Và đây là nhân vật trung tâm có vai trò gắnkết các sự việc, sự kiện và trực tiếp bộc lộ quan điểm của mình Trong kí, hìnhtượng tác giả thường được cụ thể hoá trong nhân vật người kể chuyện; có khitrực tiếp xưng "tôi" và tham gia vào mọi sự kiện trong tác phẩm; có khi trực tiếptham gia bình luận, đánh giá, bộc lộ quan điểm, thái độ trước các vấn đề nóng

bỏng của hiện thực, v.v Với văn bản kí Cha tôi, ta bắt gặp hình tượng tác giả

được cụ thể hoá trong nhân vật người kể chuyện Nhà văn đã hoá thân vào tácphẩm trở thành nhân vật người kể chuyện Qua lời kể chuyện của nhân vật này,bạn đọc thấy được thái độ có thực của thân phụ tác giả trước việc con trai mìnhthi đỗ và cả quan niệm rất sâu sắc của Đặng Dịch Trai về việc đỗ - trượt trong thi

cử Ở Thượng kinh kí sự, hình tượng tác giả hoá thân vào hình tượng nhân vật tôi

và tham gia trực tiếp vào mọi sự kiện trong tác phẩm Mở đầu câu chuyện, nhân vật tôi được triệu vào phủ chúa để chữa bệnh cho cha con chúa Trịnh Sâm Câuchuyện tiếp tục phát triển qua lời kể của nhân vật tôi Qua lời kể của nhân vật tôi,quang cảnh và cung cách sinh hoạt nơi phủ chúa hiện lên thật sinh động và cụthể Đó là cuộc sống quyền quý, xa hoa của những con người nơi đây Nhân vậttôi không chỉ tham gia vào mọi sự kiện trong tác phẩm mà còn trực tiếp đưa ra

lời bình luận, đánh giá, bộc lộ thái độ của mình trước hiện thực: "Tôi nghĩ bụng: mình vốn con quan, sinh trưởng ở chốn phồn hoa, chỗ nào trong cấm thành mình cũng đã từng biết Chỉ có những việc ở trong phủ chúa là mình mới nghe nói thôi Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳn người thường" Đó là thái độ mỉa mai, phê phán cuộc sống xa hoa, lãng phí của bọn vua chúa Người lái đò Sông Đà cũng mang đến cho bạn đọc một hình

tượng tác giả đang trực tiếp đứng ra bình luận và bộc lộ quan điểm trước hiệnthực cuộc sống nơi vùng Tây Bắc của Tổ quốc

Trang 28

Cơ sở tâm lí của hình tượng tác giả kí chính là "cái tôi" nhân cách của tácgiả ở ngoài đời Vì vậy, bạn đọc khi tiếp xúc với tác phẩm kí, có thể nhận rađược sự gần gũi về đặc điểm tiểu sử, tính cách giữa hình tượng tác giả với conngười thật của tác giả ở ngoài đời Tuy nhiên không thể đồng nhất hai đối tượngnày, bởi lẽ hình tượng tác giả là một hình tượng nghệ thuật và nó được xây dựngtheo những nguyên tắc nghệ thuật tương ứng Hình tượng tác giả trong văn bản

kí rất đa dạng, bởi nó gắn liền với sự khác nhau trong ý thức của mỗi tác giả về

vai trò xã hội và tư thế văn học của mình Do đó mà hình tượng tác giả trong kí

sự không giống với hình tượng tác giả trong tuỳ bút, hoặc hình tượng tác giả trong nhật kí… Mỗi thể loại lại xây dựng một hình tượng tác giả riêng Ở thể kí

sự, hình tượng tác giả thường là nhân vật tôi, tham gia trực tiếp vào câu chuyện;

ở thể tuỳ bút, hình tượng tác giả là người kể chuyện, trực tiếp bình luận và bộc lộ quan điểm trước hiện thực… Trong bài Tựa "Trích diễm thi tập", Hoàng Đức

Lương đã xây dựng một hình tượng tác giả rất sinh động, chân thực Đó là hìnhtượng một người nghệ sĩ có trái tim nhạy cảm, mang trong mình nỗi đau của trí

thức Đại Việt thời bấy giờ: "Than ôi! Một nước văn hiến, xây dựng đã mấy trăm năm, chẳng lẽ không có quyển sách nào làm căn bản, mà phải tìm xa xôi để học thơ văn đời nhà Đường Như thế chả đáng thương xót lắm sao!" Đến với Kí sự Cao - Lạng, ta bắt gặp một hình tượng tác giả năng nổ, lăn lộn nơi chiến trường; qua nhật kí Ở rừng của Nam Cao, người đọc thấy được hình tượng của một tác giả luôn băn khoăn trước vấn đề sống và viết; với tuỳ bút Sông Đà của Nguyễn

Tuân ta cảm nhận được nét riêng của hình tượng một tác giả thích chủ nghĩa xêdịch, thích khám phá những vùng đất mới, đầy bí mật Có thể nói chính hìnhtượng tác giả đã góp phần làm tăng sức thuyết phục và sự rung động thẩm mĩđến bạn đọc

Như vậy hình tượng tác giả trở thành yếu tố trung tâm gắn kết mọi yếu

tố khác trong tác phẩm, làm nên sức hấp dẫn của loại hình kí văn học Tác

Trang 29

giả tham gia vào tác phẩm kí như một nhân vật đang quan sát và thể nghiệm đờisống, vì thế mà nó tạo được độ tin cậy nơi người đọc về không gian, thời gian,chi tiết sự kiện trong tác phẩm kí Đồng thời qua hình tượng tác giả kí, cái tôicủa người viết kí cũng được thể hiện đậm nét Phải chăng chính hình tượng tácgiả đã làm nên diện mạo riêng của cái tôi tác giả trong kí

1.1.2.4 Kí kết hợp đa dạng, linh hoạt các phương thức chiếm lĩnh đời sống

Một đặc trưng cần nói đến ở kí là khả năng kết hợp đa dạng nhiều phươngthức phản ánh, chiếm lĩnh đời sống, như là tự sự, nghị luận và trữ tình Cácphương thức này được phối hợp linh hoạt với nhau tạo nên sức hấp dẫn của loạihình kí

Một số nhà nghiên cứu khi bàn về kí cho rằng kí " là một biến thể của loại tự sự" Nhận định này cũng có cơ sở của nó Bởi đối tượng phản ánh của kí, nhưtrên chúng tôi đã trình bày, bao gồm các thông tin về nhiều mặt của đời sống xãhội, trong đó có lớp thông tin - sự việc, thông tin - con người Vì vậy, trước hết

kí chiếm lĩnh đời sống bằng phương thức tự sự, tức là kể về con người, về các sựkiện diễn ra trong đời sống Tiêu biểu cho phương thức này có thể loại kí sự.Ngay ở cái tên thể loại đã cho ta hình dung được phần nào đối tượng phản ánh vàphương thức phản ánh của nó Kí sự thường kể về sự vật, sự việc Thiên kí sự

Họ sống và chiến đấu kể về những người anh hùng trên đảo Cồn Cỏ, với nhiệm

vụ thiêng liêng: ngày đêm canh giữ cho biển trời của Tổ quốc Tác giả sử dụngphương thức tự sự rất linh hoạt Nguyễn Khải kể chuyện một cách sinh động,quan sát rất chăm chú và đặc biệt là giọng kể đôi lúc rất thủ thỉ, tâm tình, vì thế

mà ngòi bút tác giả có thể đi sâu vào những góc cạnh trong đời sống tâm hồn củangười chiến sĩ trên đảo Cồn Cỏ

Trang 30

Tuy nhiên kí không chỉ chiếm lĩnh đời sống bằng phương thức tự sự Màphương thức tự sự trong kí được kết hợp nhuần nhuyễn với phương thức nghịluận, tức là ở trong kí có sự kết hợp giữa phương thức kể, tả với sự đánh giá, bànluận về các vấn đề xã hội Và ở một số tác phẩm kí có sự nghiêng hẳn về phía

phương thức nghị luận, chẳng hạn như bút kí chính luận Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc Ở tác phẩm này, ngoài việc đưa ra các dẫn chứng để

minh chứng cho dã tâm xâm lược của kẻ thù, tác giả còn trực tiếp bình luận vềvấn đề đó Trong tác phẩm, nhà văn đã bình giá rất đắt về sự miệt thị của kẻ xâm

lược dành cho "người bản xứ": "Trước năm 1914, họ chỉ là những tên da đen bẩn thỉu, giỏi lắm thì chỉ biết kéo xe tay và ăn đòn của các quan cai trị nhà ta Ấy thế

mà cuộc chiến tranh vui tươi vừa bùng nổ, thì lập tức họ biến thành những đứa

"con yêu", những người "bạn hiền" của các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, thậm chí của cả các quan toàn quyền lớn, toàn quyền bé nữa Đùng một cái, họ (những người bản xứ) được phong cho cái danh hiệu tối cao là "chiến sĩ bảo vệ công lí

và tự do" Nguyễn Ái Quốc dùng những từ ngữ giàu hình ảnh để bình giá về thái

độ đối xử của các quan cai trị thực dân đối với người dân An Nam như "da đen bẩn thỉu", "con yêu", "bạn hiền", "chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do" Qua đó bộ mặt đểu

cáng của bọn thực dân đã bị lật tẩy Trước chiến tranh chúng tỏ thái độ khinhmiệt người dân bản xứ nhưng khi có chiến tranh xảy ra thì chúng lại xem họ lànhững tấm bia đỡ đạn Bằng những lời lẽ sắc bén, nhà văn đã chỉ ra được tínhchất bịp bợm, mị dân của quan cai trị phụ mẫu

Các tác giả kí đã khéo léo kết hợp giữa phương thức tự sự, nghị luận

và trữ trình Sự linh hoạt trong cách phối hợp các phương thức chiếm lĩnh đờisống này thể hiện rõ trong nhiều thể loại của kí đặc biệt là ở các thể bút kí và tuỳ

bút Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường hay Sông Đà của

Nguyễn Tuân không chỉ là những trang kí hấp dẫn về phong cảnh thiên nhiêntươi đẹp của quê hương xứ sở mà đó còn là sự say đắm, tiếng reo vui trước cảnh

Trang 31

thiên nhiên đẹp Nguyễn Tuân không ngần ngại khi bộc lộ cảm xúc của mình:

"Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên sông Đà, tôi đã xuyên qua dòng nước mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh cánh hến của Sông Gâm, Sông

Lô Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa" Bên cạnh việc miêu tả vẻ đẹp của Sông Đà, nhà văn còn thể hiện một cái

nhìn say đắm, đầy ngưỡng mộ trước dòng Sông Đà vừa hùng vĩ lại vừa dịu dàng

Dòng sông Hương trong tuỳ bút Ai đã đặt tên cho dòng sông được xây dựng

bằng sự kết hợp linh hoạt các phương thức này Nhà văn không chỉ kể về sôngHương từ điểm nhìn lịch sử với những chiến công oanh liệt, đánh giá bình luận

về dòng sông từ góc nhìn văn hoá mà còn miêu tả nó với một cái nhìn trữ tình,say đắm Dòng sông ấy rất đẹp, rất Huế và rất thơ mộng khi nhà văn từ dòng

sông ấy mà liên hệ đến Truyện Kiều của Nguyễn Du Và đặc biệt đó là dòng

sông hội tụ mọi vẻ đẹp quyện hoà giữa thiên nhiên và con người khi tác giả miêu

tả: "Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya" Sông Hương là vậy đó, bỗng

chốc dưới ngòi bút tinh tế của Hoàng Phủ Ngọc Tường nó đã được thổi hồn rấtHuế và cũng rất Việt Nam

Văn hào vĩ đại của nước Nga - M Gorki đã có lí khi cho rằng: "Kí là sự hợpnhất truyện và nghiên cứu" Ở đây tác giả muốn nhấn mạnh sự hợp nhất giữa

tư duy nghệ thuật và tư duy nghiên cứu ở trong kí Sự kết hợp này đã được

thể hiện ngay từ những tác phẩm kí trung đại Trong Vũ trung tuỳ bút của Phạm

Đình Hổ, đặc trưng này được thể hiện rõ, đặc biệt là ở đoạn miêu tả cách uốngchè của người xưa Mở đầu đoạn, tác giả giới thiệu về xuất xứ của nét phong tục

này: "Cách uống chè thì trong sách "Kiên bào" đã nói rõ Họ Lư, họ Lục nổi tiếng

về uống chè Đến đời Tống, mới thấy bày đồ ấm chè, hoả lò, cấp thiêu, đại khái cũng là những đồ để pha chè Có ông Giới Phủ thưởng chè Dương Tiễn, ông Tử

Trang 32

Chiêm thưởng chè Vân Long Từ đời Minh, đời Thanh trở xuống, cách chế chè càng tinh, đồ dùng chè càng đủ" Phải là một con người am hiểu sâu sắc về nét

đẹp văn hoá trong cách uống chè thì tác giả mới đưa ra được những tri thứcmang tính khảo cứu về phong tục bổ ích đến vậy Không chỉ miêu tả cách uốngchè bằng tư duy nghiên cứu mà tác giả còn tả về nó bằng những câu văn hết sức

trữ tình: "Chè tàu thú vị ở chỗ tính nó sạch sẽ, hương nó thơm tho Buổi sớm gió mát, buổi chiều trăng trong, với bạn rượu nàng thơ cùng làm chủ khách mà ung dung pha ấm chè tàu ra thưởng thức thì có thể tỉnh được mộng trần, rửa được lòng tục" Bằng những câu văn rất êm ả, trữ tình, nhà văn khiến người đọc có cảm

giác như chính mình đang được thưởng thức hương vị "thơm tho, tinh sạch" củachè trà - một nét đẹp của văn hoá ẩm thực của người phương Đông

Ở các tác phẩm kí hiện đại, sự kết hợp này càng rõ nét hơn Nguyễn Tuân làngười có biệt tài trong việc kết hợp tri thức của nhiều ngành nghệ thuật và ngoài

nghệ thuật Trong tuỳ bút Sông Đà, nhà văn đã khéo léo kết hợp giữa kiến thức

về văn chương với kiến thức của các ngành điện ảnh, địa lí, lịch sử, v.v Ở tácphẩm này, có đoạn tác giả khai thác hình tượng Sông Đà bằng tư duy nghiên

cứu: "Sông Đà khai sinh ở huyện Cảnh Đông, tỉnh Vân Nam lấy tên là Li Tiên (theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì tên Trung Quốc của Sông Đà là Bả Biên Giang) mà đi qua một vùng núi ác, rồi đến gần nửa đường thì xin nhập quốc tịch Việt Nam, trưởng thành mãi lên và đến ngã ba Trung Hà thì chan hoà vào sông Hồng Từ biên giới Trung - Việt tới ngã ba Trung Hà là 500 cây số lượn rồng rắn, và tính toàn thân sông Đà thì chiều dài là 883 nghìn thước mét chảy qua hai nước Việt Nam, Trung Quốc" Tư duy nghiên cứu ẩn dưới lớp ngôn từ hình

ảnh, uyển chuyển và linh hoạt Với những đoạn miêu tả như thế này, nhà văn đãmang đến cho người đọc những hiểu biết lí thú và bổ ích về kích thước, hìnhdáng của con Sông Đà hùng vĩ Tuy nhiên "Kí là sự hợp nhất truyện và nghiêncứu", kí không chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức của con người mà cao hơn,

Trang 33

kí đem đến cho người đọc sự rung động thẩm mĩ Nếu Nguyễn Tuân chỉ đơn

thuần nghiên cứu về lịch sử, địa lí của Sông Đà thì liệu tuỳ bút Sông Đà của ông

có để lại được những ấn tượng sâu đậm trong lòng độc giả hay không? Đến vớitác phẩm này, ta không chỉ được cung cấp những tri thức lí thú về hình dáng,kích thước của Sông Đà mà còn được chiêm ngưỡng một dòng sông có vẻ đẹp đa

dạng, vừa hùng vĩ, hiểm trở lại vừa dịu dàng, trữ tình: "Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân trời Tây Bắc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân" Nếu thiếu những đoạn văn miêu tả đầy chất thơ như thế này thì

tựa hồ như trang kí của Nguyễn Tuân sẽ thiếu đi chất men tình cuốn hút độc giả

Tư duy nghiên cứu kết hợp linh hoạt với tư duy nghệ thuật đã làm nên sức hấpdẫn của trang kí Nguyễn Tuân nói riêng và loại hình kí văn học nói chung

Trên đây là một số đặc trưng cơ bản làm nên sức sống của kí trên sân khấuvăn học Việt Nam Những đặc trưng này đã chứng minh được tính đặc thù củaloại hình kí

1.1.3 Phân biệt kí văn học với kí báo chí, kí văn học với truyện

1.1.3.1 Phân biệt kí văn học với kí báo chí

Kí văn học và kí báo chí đều là kí, đều mang nghĩa gốc là "ghi chép" sự việc,

vì thế chúng đều đặt tính chất trần thuật xác thực về người thật, việc thật lênhàng đầu Xưa nay nhiều quan niệm đồng nhất kí văn học với kí báo chí xem kívăn học có sự xâm nhập của kí báo chí Tuy nhiên trên thực tế không phải nhưvậy, bởi lẽ nếu như kí báo chí chủ yếu cung cấp thông tin cho người đọc, nóhoàn toàn mang tính thời sự thì kí văn học bên cạnh chức năng đó nó còn có vaitrò bồi đắp tư tưởng thẩm mĩ cho độc giả Nói như vậy có nghĩa là kí văn họcthường xuyên mang đến cho bạn đọc những khoái cảm thẩm mĩ, những rungđộng thẩm mĩ thực sự Nếu như kí báo chí chỉ thuần tuý cung cấp thông tin, sự

Trang 34

kiện thì ngược lại kí văn học có một vai trò quan trọng trong việc hướng thiệncho con người Như chúng ta đã biết, cái đích cuối cùng của văn chương làhướng con người đến cái Chân, cái Thiện, cái Mĩ Kí là một loại hình văn học,vậy nên nó không nằm ngoài quy luật tất yếu của văn học.

Một điểm khác biệt dễ nhận thấy giữa kí văn học và kí báo chí là nếu như

kí báo chí tuyệt đối không sử dụng hư cấu nghệ thuật thì kí văn học sử dụng

hư cấu như là một thủ pháp để tái hiện sự thật Song hư cấu nghệ thuật trong kívăn học được sử dụng có mức độ để không vi phạm nguyên tắc tôn trọng sự thậtcủa nó

1.1.3.2 Phân biệt kí văn học với truyện

Xưa nay ranh giới giữa truyện và kí là một vấn đề đang còn nhiều tranhluận Bởi lẽ truyện là thể loại thuộc loại hình văn học tự sự, kí là một biến thểcủa loại hình tự sự nên giữa hai thể loại có những điểm tương đồng vì chúng đềunằm trong quy luật loại hình của văn học tự sự Tuy nhiên giữa chúng vẫn cónhững điểm khác nhau căn bản Những điểm khác nhau này đều do nguyên tắccủa thể loại quy định

Nếu như truyện (bao gồm truyện vừa, truyện ngắn, tiểu thuyết) sử dụng thủpháp hư cấu là một thủ pháp nghệ thuật chính để xây dựng hình tượng nhân vậtthì tính hư cấu có mức độ trong kí không nhằm mục đích xây dựng nhân vậttrong sự phát triển toàn vẹn về tính cách Điểm khác biệt này dẫn đến một sựkhác biệt về cách miêu tả nhân vật trong hai loại hình này Truyện thường miêu

tả nhân vật trong mối tương quan với hoàn cảnh để từ đó nhân vật bộc lộ tínhcách của mình Kí văn học đi theo một con đường riêng, nó chủ yếu sử dụng thủpháp tả, kể và thuật nên đối tượng thẩm mĩ của kí chủ yếu là một trạng thái dân

sự, xã hội, đạo đức, thế sự, nhân sinh, thiên nhiên, v.v

Trang 35

Một đặc trưng quan trọng của kí là phản ánh xác thực về người thật, việcthật có nghĩa là kí dựa vào người thật, việc thật để xây dựng cốt truyện trong khi

đó truyện không lấy tiêu chí là phải bám vào người thật việc thật để xây dựng cốttruyện Truyện chủ yếu xây dựng điển hình nghệ thuật bằng cách nhào nặn lạiqua ống kính và bàn tay của người nghệ sĩ Vì thế điển hình nghệ thuật trongtruyện được nhà văn lựa chọn từ hàng trăm, hàng nghìn nguyên mẫu có thật ởngoài đời với những chi tiết tiêu biểu để sáng tạo nên nhân vật Còn điển hìnhnghệ thuật trong kí được xây dựng trực tiếp từ một điển hình có thật trong xãhội Hình tượng tác giả trong truyện không phải lúc nào cũng trực tiếp lắng nghe,quan sát các sự việc để kể chuyện nhưng với kí, tác giả là người trực tiếp chứngkiến, chủ động nói về người thật việc thật

Có thể dễ dàng nhận thấy, kí văn học có sự đa dạng về thể loại hơn truyện.Truyện trong văn học thành văn gần như chỉ có ba thể loại cơ bản là truyện vừa,truyện ngắn, tiểu thuyết thì thể loại của kí hết sức phong phú và phức tạp, baogồm: kí sự, bút kí, tuỳ bút, hồi kí, nhật kí, phóng sự, v.v

1.1.4 Sự phân loại kí văn học

Có nhiều tiêu chí để phân loại kí văn học nhưng ở đề tài này, chúng tôi đi

theo tiêu chí mà tác giả La Khắc Hoà trong giáo trình Lí luận văn học (do Trần

Đình Sử chủ biên) đã lựa chọn Đó là phân loại kí dựa vào sự có mặt của phươngthức phản ánh đời sống trong việc tham gia vào cấu trúc thể loại Dựa vào tiêuchí này, ta có thể chia kí thành hai nhóm thể loại Nhóm thứ nhất bao gồm nhữngthể loại thiên về tự sự tức là thiên kể việc và tả vật như: kí sự, phóng sự, nhật kí,hồi kí Nhóm thứ hai thiên về trữ tình với các thể loại tiêu biểu như: bút kí, tuỳbút, v.v

1.1.4.1 Kí sự

Trang 36

Khi tìm hiểu về kí văn học người ta rất quan tâm đến kí sự Bởi lẽ đây

là một thể tài quan trọng của kí Nó ghi chép, tái hiện khá đầy đủ, hoàn chỉnh vềmột sự kiện, một câu chuyện Ưu thế của kí sự là qua câu chuyện, sự việc được

kể nó đã mở ra cho người đọc hướng tiếp cận mới Người đọc có thể mở rộngnhãn quan của mình, đồng thời thấy rõ được sự quan sát tinh tường của người

viết kí Thể loại kí này có rất nhiều tác phẩm nổi tiếng, tiêu biểu như Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác, Họ sống và chiến đấu của Nguyễn Khải, Kí sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng, v.v.

1.1.4.2 Phóng sự

Là thể loại trung gian giữa kí báo chí và kí văn học Phóng sự nặng về ghichép sự kiện, mang tính thông tin nhằm cung cấp kịp thời nhu cầu thông tin củacon người Do vậy nó gần gũi với kí báo chí hơn là kí văn học Nhưng nó vẫnmang tính chất văn học thể hiện ở việc phóng sự sử dụng những hình tượng độcđáo, ngôn từ văn chương để miêu tả sự việc Điển hình là các phóng sự của Vũ

Trọng Phụng như Kĩ nghệ lấy tây, Cơm thầy cơm cô, Lục xì Ngoài ra còn có các phóng sự của Ngô Tất Tố như Việc làng, Tập án cái đình

1.1.4.3 Nhật kí

Đây là thể loại thiên về bộc lộ tâm tư tình cảm hơn là thiên về thể hiện nộidung sự kiện Vì thế nó mang tính chất cá nhân đậm đặc Tuy nhiên đây vẫn làmột thể loại quan trọng của kí văn học, có nhiều tập nhật kí đã trở thành những

tác phẩm văn học có giá trị Điển hình như nhật kí Ở rừng của Nam Cao, Nhật kí Nguyễn Huy Tưởng, Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm, Mãi mãi tuổi hai mươi của

Nguyễn Văn Thạc

1.1.4.4 Hồi kí

Trang 37

Thể loại này còn có tên gọi khác là hồi ức Đây là một thể loại khá đặc biệttrong kí Nó đặc biệt là bởi hồi kí chủ yếu ghi lại những sự việc, biến cố xảy ratrong quá khứ, được thể hiện qua sự hồi tưởng của tác giả kí hoặc là của mộtnhân vật mà tác giả quen biết Đối với hồi kí thì tính chân thật của câu chuyện,

sự việc, tình tiết được tôn trọng ở mức cao và thời gian, địa điểm phải chính xác.Các tác giả kí cũng khá thành công với thể loại này, chẳng hạn như Tô Hoài với

một loạt hồi kí như: Cỏ dại(1943), Cát bụi chân ai(1990), Chiều chiều(1997), v.v

1.1.4.5 Bút kí

Thể loại này được xếp vào nhóm thể loại nghiêng về trữ tình, có thể bộc

lộ nhiều cung bậc cảm xúc Đây là thể loại thể hiện rõ sự kết hợp giữa ba phươngthức tự sự, trữ tình và nghị luận ở trong kí Vì đây là thể loại trung gian giữa kí

sự và tuỳ bút nên nó vừa kể việc, tả vật nhưng đồng thời cũng bộc lộ cảm xúcchủ quan của người viết Với thể loại này, chúng ta được thưởng thức những tác

phẩm đặc sắc của Hoàng Phủ Ngọc Tường như: Rất nhiều ánh lửa, Ai đã đặt tên cho dòng sông, Đời rừng, Trên đỉnh Phu Văn Lâu,… và rất nhiều tác phẩm xuất

sắc khác nữa Các tác phẩm bút kí vừa mang đậm đặc trưng của kí văn học lạivừa thể hiện được đặc trưng riêng do nguyên tắc thể loại quy định

1.1.4.5 Tuỳ bút

Là một thể loại kí tương đối phóng khoáng, tự do trong việc thể hiện cảm xúccủa người viết Do đó thể loại này có khi gần với thể loại trữ tình song về bảnchất nó vẫn là thể loại của kí văn học Bởi tuỳ bút cũng dựa trên cơ sở của việcghi chép những sự việc và con người cụ thể, có thực để tác giả bộc lộ cảm xúccủa mình Nguyễn Tuân là người đóng dấu ấn quan trọng cho tuỳ bút với các tác

phẩm nổi tiếng như: Tuỳ bút kháng chiến, Sông Đà, Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi, v.v.

Trang 38

1.2 Đặc điểm của văn bản kí trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay

1.2.1 Khái quát về chương trình Ngữ văn THPT hiện nay

1.2.1.1 Chương trình Ngữ văn THPT hiện nay được biên soạn theo hướng tích hợp và tích cực

Sự đổi mới về cơ chế dạy học văn đã kéo theo sự ra đời của bộ SGKNgữ văn tích hợp Đổi mới cơ chế và phương pháp dạy học văn là nhằm mụctiêu phát huy được tính tích cực chủ động của HS trong giờ học Bên cạnh đóSGK Ngữ văn còn được biên soạn theo hướng tích hợp để tạo điều kiện cho các

em chiếm lĩnh một khối lượng thông tin đồ sộ được cập nhật từ nhiều ngànhkhoa học và nghệ thuật trong cuộc sống Có thể nói một đặc điểm khác biệt củachương trình Ngữ văn THPT hiện nay so với chương trình Văn học chỉnh lí hợpnhất năm 2000 mà ta có thể dễ dàng nhận ra, đó là chương trình mới được biênsoạn theo hướng dạy học tích hợp và tích cực

Trước hết chương trình Ngữ văn THPT hiện nay được biên soạn theo hướngtích hợp Nếu như trước đây, trong chương trình Văn học chỉnh lí hợp nhất ba bộphận tri thức được biên soạn độc lập, tách rời nhau thì hiện nay, chương trìnhmới được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp Tích hợp là sự gắn kết, phối hợpgiữa các tri thức của ba phân môn: Đọc - hiểu, Làm văn và Tiếng Việt với nhau

và đó còn là sự phối hợp tri thức giữa môn Văn với nhiều môn học, nhiều lĩnhvực khác như lịch sử, chính trị, địa lí,… Mục đích của nguyên tắc này là nhằmhình thành và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng về nghe, nói, đọc, viết

Khi tiếp xúc với chương trình SGK Ngữ văn hiện nay, ta dễ dàng nhận thấyphần đọc - hiểu văn bản được sắp xếp đầu tiên Sau đó, các bài làm văn và tiếngViệt được biên soạn sao cho có sự gắn kết với các tri thức có trong phần đọc -

Trang 39

hiểu văn bản Chẳng hạn trong chương trình Ngữ văn lớp 10, tập 2 (bộ sách nâng

cao), sau một loạt bài đọc - hiểu về văn học trung đại thì có bài tiếng Việt Luyện tập về từ Hán Việt mà các từ Hán Việt được sử dụng rất nhiều trong các văn bản

văn học trung đại Cũng trong chương trình Ngữ văn lớp 10, tập 1 (bộ sách nâng

cao), sau bài đọc - hiểu về tục ngữ dân gian có bài làm văn Quan sát, thể nghiệm đời sống Như vậy có thể thấy rằng, giữa ba hợp phần này có mối liên hệ với

nhau rất mật thiết Phần đọc - hiểu văn bản cung cấp cho các em ngữ liệu để các

em tiến hành luyện tập ở phần làm văn và tiếng Việt Ngược lại phần tiếng Việt

có đóng góp rất quan trọng trong việc giúp học sinh giải mã ngôn từ của văn bản,đồng thời học tiếng Việt là để rèn luyện cho HS nói và viết tiếng Việt hay hơn Chương trình Ngữ văn THPT hiện nay được biên soạn theo hai trục tích hợpchính: đọc - hiểu và làm văn Đây không phải là hai phân môn thuộc bộ mônNgữ văn; thực chất đó là hai hoạt động quan trọng nhất mà giáo viên dạy văncần rèn luyện cho HS khi dạy bộ môn này Tất cả những tri thức của ba hợp phầntrong môn Ngữ văn đều được tích hợp xung quanh hai trục này Hoạt động đọc -hiểu văn bản cũng cần được trang bị những kiến thức và kĩ năng cần thiết cótrong hợp phần làm văn và tiếng Việt Hoạt động làm văn cũng cần được cungcấp các thông tin về tiếng Việt, văn hoá, lịch sử trong quá trình tạo lập văn bản.Như vậy, xoay quanh hai trục tích hợp: đọc - hiểu và làm văn, các tri thức về vănhoá, văn học, tiếng Việt trở thành những tri thức công cụ có tác dụng giúp HSkhám phá văn bản và tạo lập được văn bản

Quan điểm biên soạn chương trình Ngữ văn hiện nay theo hướng tích hợp điliền với nguyên tắc tích cực, tức là nhằm mục đích khơi dậy tính chủ thể sáng tạovốn tiềm tàng ở học sinh Chủ thể của hoạt động dạy học chính là giáo viên vàhọc sinh, trong đó HS là đối tượng tiềm tàng năng lực sáng tạo và người giáoviên khi tổ chức quá trình dạy học cần có ý thức để thức dậy những năng lựctiềm ẩn này Để phát huy được tính tích cực chủ động ở HS, chương trình Ngữ

Trang 40

văn THPT cũng được biên soạn theo một hướng riêng khác với chương trình

Văn học chỉnh lí hợp nhất Hệ thống câu hỏi ở phần "Hướng dẫn học bài" của hợp

phần đọc - hiểu văn bản mang tính gợi mở nhiều hơn, yêu cầu HS không chỉ táihiện tri thức mà còn phải tìm ra con đường giải quyết mới trước một tình huống

có vấn đề Phía dưới mỗi bài đọc - hiểu còn có thêm phần "Luyện tập" (ở sách cơ bản) và nó được được thay bằng phần "Bài tập nâng cao" ( ở sách nâng cao) Phần

này yêu cầu HS tự mình vận dụng các kiến thức vừa mới khám phá từ văn bản

để giải quyết bài tập, do đó nó có tác dụng khơi dậy ở các em tính tự giác, tíchcực Ở hợp phần làm văn, cách biên soạn cũng có nhiều thay đổi so với trướcđây Nếu như trong chương trình Văn học chỉnh lí hợp nhất, các nhà biên soạnchỉ chú trọng đưa vào chương trình các văn bản nghị luận văn học thì trongchương trình Ngữ văn hiện nay, phần nghị luận xã hội được các soạn giả rấtquan tâm Với hướng đi mới này, hoạt động làm văn trong nhà trường phổ thông

có thể trang bị cho các em những kĩ năng cần thiết trong việc tạo lập một vănbản nghị luận mang tính xã hội Nó là hành trang để sau này các em có thể vậndụng các kĩ năng này vào việc tạo lập các văn bản trong đời sống như: các bàidiễn thuyết chính trị trước đám đông,…

Có thể nói, chương trình Ngữ văn hiện nay được biên soạn theo nguyên tắctích hợp và tích cực là một đặc điểm quan trọng, có tác dụng chỉ đạo trong việcdạy học văn ở nhà trường phổ thông hiện nay Nhờ hướng đi mới này mà mônNgữ văn trong nhà trường mang ý nghĩa thiết thực hơn đối với HS, nó vừa đảmbảo đặc trưng văn chương lại vừa thể hiện được tính chất công cụ của môn học

1.2.1.2 Đặc điểm phần đọc - hiểu văn bản trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay

Đọc - hiểu văn bản là một hợp phần quan trọng trong chương trình Ngữ văn

ở trường THPT hiện nay Số lượng các đơn vị bài đọc - hiểu chiếm tỉ lệ cao nhất

Ngày đăng: 18/12/2013, 21:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Viết Chữ (2005), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể), Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể)
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2005
3. Phan Huy Dũng (2009), Tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông - Một góc nhìn, một cách đọc, Nxb giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông - Một góc nhìn, một cách đọc
Tác giả: Phan Huy Dũng
Nhà XB: Nxb giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
4. Phan Cự Đệ chủ biên (2005), Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỉ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ chủ biên
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2005
5. Hà Minh Đức chủ biên (2000), Lí luận văn học, Nxb giáo dục, Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức chủ biên
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2000
6. Nguyễn Văn Đường chủ biên (2008), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10, tập 2, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10, tập 2
Tác giả: Nguyễn Văn Đường chủ biên
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2008
7. Nguyễn Văn Đường chủ biên (2008), Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 11, tập 1, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 11, tập 1
Tác giả: Nguyễn Văn Đường chủ biên
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2008
8. Nguyễn Văn Đường chủ biên (2008), Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 12, tập 1, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 12, tập 1
Tác giả: Nguyễn Văn Đường chủ biên
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2008
9. Nguyễn Hồng Hà (2007), Phong cách kí Hoàng Phủ Ngọc Tường, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách kí Hoàng Phủ Ngọc Tường
Tác giả: Nguyễn Hồng Hà
Năm: 2007
10. Hoàng Ngọc Hiến (1992), Năm bài giảng về thể loại, Trường viết văn Nguyễn Du - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm bài giảng về thể loại
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Năm: 1992
11. Phan Trọng Luận chủ biên (1988), Phương pháp dạy học văn, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Trọng Luận chủ biên
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1988
12. Phan Trọng Luận tổng chủ biên (2008), Ngữ Văn 10, tập 2, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Văn 10, tập 2
Tác giả: Phan Trọng Luận tổng chủ biên
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2008
13. Phan Trọng Luận tổng chủ biên (2008), Ngữ văn 10, tập 2, Sách giáo viên, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10, tập 2
Tác giả: Phan Trọng Luận tổng chủ biên
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2008
14. Phan Trọng Luận tổng chủ biên (2008), Ngữ Văn 11, tập 1, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Văn 11, tập 1
Tác giả: Phan Trọng Luận tổng chủ biên
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2008
15. Phan Trọng Luận tổng chủ biên (2008), Ngữ Văn 11, tập 1, Sách giáo viên, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Văn 11, tập 1
Tác giả: Phan Trọng Luận tổng chủ biên
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2008
16. Phan Trọng Luận tổng chủ biên (2008), Ngữ Văn 12, tập 2, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Văn 12, tập 2
Tác giả: Phan Trọng Luận tổng chủ biên
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2008
17. Phan Trọng Luận tổng chủ biên (2008), Ngữ Văn 12, tập 2, Sách giáo viên, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Văn 12, tập 2
Tác giả: Phan Trọng Luận tổng chủ biên
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2008
18. Phương Lựu chủ biên (2006), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
19. Nguyễn Đăng Na (2007), Con đường giải mã văn học Việt Nam trung đại, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường giải mã văn học Việt Nam trung đại
Tác giả: Nguyễn Đăng Na
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2007
20. Nguyễn Khắc Phi tổng chủ biên (2008), Ngữ Văn 6, tập 2, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Văn 6, tập 2
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi tổng chủ biên
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2008
21. Nguyễn Khắc Phi tổng chủ biên (2008), Ngữ Văn 7, tập 2, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Văn 7, tập 2
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi tổng chủ biên
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Văn bản kí trong chương trình Ngữ văn THCS - Hướng dẫn dạy đọc   hiểu văn bản kí trong chương trình ngữ văn THPT hiện nay
Bảng 2 Văn bản kí trong chương trình Ngữ văn THCS (Trang 43)
Hình   tượng   sông   Hương   được   nhìn   từ  phương diện địa lí - Hướng dẫn dạy đọc   hiểu văn bản kí trong chương trình ngữ văn THPT hiện nay
nh tượng sông Hương được nhìn từ phương diện địa lí (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w