1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hưng nguyên từ cao trào xô viết đến cách mạng tháng tám luận văn thạc sĩ lịch sử

92 697 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hưng Nguyên từ cao trào xô viết đến cách mạng tháng tám
Tác giả Nguyễn Hoàng Thu
Người hướng dẫn TS Trần Văn Thức
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 470 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách mạng Tháng Tám bùng nổ nhân dân Hưng Nguyên cùng với nhândân cả nước tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại, dưới sự chỉ đạo của Việt Minhliên tỉnh Nghệ - Tĩnh, nhân dân Hưng Nguyên nổi dậ

Trang 1

NGUYỄN HOÀNG THU

Người hướng dẫn: TS Trần Văn Thức

Trang 2

VINH- 2012

MỤC LỤC

Trang

Trang 3

Lịch sử Hưng Nguyên gắn chặt với lịch sử Nghệ An xứ sở mà bao đờinay thường được gọi là “phên dậu”, là “thánh địa”, là “đất đứng chân”… củacác anh hùng, hào kiệt trong các cuộc cầm binh giữ nước Từ xưa tới nay,Nghệ An là địa bàn chiến lược quan trọng Vì thế nhân dân Hưng Nguyênluôn có tinh thần đấu tranh, vùng lên chống kẻ thù, làm nên những trang sửoanh liệt Từ lâu không có một cuộc đấu tranh nào của nhân dân Nghệ An lạikhông có sự đóng góp to lớn về nhiều mặt của nhân dân Hưng Nguyên Từkhi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo, truyền thống yêu nước vàtinh thần cách mạng của nhân dân Hưng Nguyên càng được phát huy cao độ.Điển hình như phong trào Cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô ViếtNghệ Tĩnh, hay Cách mạng Tháng Tám năm 1945…

Cao trào Xô viết diễn ra mạnh mẽ ở Hưng Nguyên, đánh dấu sự ra đờicủa chính quyền Xô viết, mang lại quyền tự do dân chủ cho nhân dân, thểhiện bản chất ưu việt của chính quyền cách mạng Và cũng chính từ đây, nhândân Hưng Nguyên tỏ rõ khí thế sục sôi cách mạng, quyết tâm cao độ, làm cho

kẻ thù khiếp sợ, cổ vũ phong trào cách mạng trong cả nước

Trang 4

Cách mạng Tháng Tám bùng nổ nhân dân Hưng Nguyên cùng với nhândân cả nước tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại, dưới sự chỉ đạo của Việt Minhliên tỉnh Nghệ - Tĩnh, nhân dân Hưng Nguyên nổi dậy đấu tranh giành chínhquyền một cách nhanh chóng mà không đổ máu Với thắng lợi vẻ vang này,lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Hưng Nguyên cùng với nhân dân trongtỉnh và cả nước đứng lên làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.Thắng lợi trong cuộc tổng khởi nghĩa ở Hưng Nguyên đã góp phần vào thắnglợi chung của toàn dân tộc.

Nghiên cứu “Hưng Nguyên từ cao trào Xô viết đến Cách mạng Tháng

Tám” giúp chúng ta hiểu rõ hơn sự ra đời và phát triển của các Đảng bộ ở địa

phương, sự thành lập mặt trận chống Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng đồngthời bổ sung những thiếu sót mà các tài liệu khác chưa đề cập đến để làmsáng rõ hơn một thời kì lịch sử đầy biến động của Hưng Nguyên, góp phầnlàm phong phú thêm nội dung và tầm vóc Cách mạng Tháng Tám của dân tộc

Hưng Nguyên là một trong những huyện trung tâm của tỉnh Nghệ Annên việc ghi lại một phần trong chặng đường dài oanh liệt của lịch sử quêhương Hưng Nguyên, tổng kết quá trình xây dựng và lãnh đạo của Đảng bộ,phác họa những năm tháng đấu tranh của quần chúng dưới sự lãnh đạo củaĐảng là một yêu cầu cần thiết Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài này cònnhằm để phục vụ công tác giảng dạy lịch sử địa phương ở các trường THCS,THPT trên địa bàn huyện là một vấn đề quan trọng Qua đó để góp phần vàoviệc giáo dục truyền thống, tinh thần yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dântộc, ý thức xây dựng đất nước cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau, đặc biệt làthế hệ trẻ của huyện nhà

2 Lịch sử vấn đề.

Cao trào Xô viết và Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự kiện trọngđại nhất trong lịch sử dân tộc, đánh dấu sự biến đổi lớn lao trong tiến trìnhphát triển của đất nước Vì thế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn

Trang 5

đề này, nhưng đối với Hưng Nguyên thì chưa có công trình chuyên sâu nào cả

mà mới chỉ được trình bày một cách sơ lược trong một số cuốn sách:

Lịch sử Đảng bộ huyện Hưng Nguyên (Tập 1,2), Nxb Nghệ An có đề

cập đến vấn đề này nhưng không đáng kể

Luận án tiến sĩ: “Cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở Nghệ

An” của tiến sĩ Trần Văn Thức nghiên cứu một cách hoàn chỉnh và đầy đủ hệ

thống cuộc cách mạng Tháng Tám ở Nghệ An

Cách mạng Tháng Tám - Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội và các địa phương,

Nxb Sự thật Hà Nội có trình bày đến quá trình khởi nghĩa giành chính quyền

ở Nghệ An

Lịch sử Đảng bộ các xã trên địa bàn huyện có trình bày một cách sơlược về vấn đề này, mới chỉ là sơ thảo

Cách mạng Tháng Tám 1939-1945 của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng

tỉnh Nghệ An đề cập quá trình khởi nghĩa ở Nghệ An, về cuộc khởi nghĩa ởHưng Nguyên còn ít tư liệu

Lịch sử Đảng bộ Nghệ An của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng bộ Nghệ

An (1967), Lịch sử Đảng bộ Nghệ An sơ thảo tập 1 (1925-1954)

Các tài liệu trên mới chỉ giới thiệu sơ lược về hoàn cảnh lịch sử, quátrình chuẩn bị lực lượng, diễn biến, kết quả, ý nghĩa… mà chưa nêu lên đượcmột cách đầy đủ hệ thống về phong trào cách mạng ở Hưng Nguyên Nhưngđây sẽ là nguồn tư liệu quý và vô cùng quan trọng trong quá trình nghiên cứu

và thực hiện luận văn của chúng tôi

Để có một cái nhìn toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về lịch sử củaHưng Nguyên trong giai đoạn oanh liệt và hào hùng này nên tôi chọn đề tài

“Hưng Nguyên từ cao trào Xô viết đến Cách mạng Tháng Tám” làm tên đề

tài cho luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử của mình Qua luận văn này, chúngtôi mong muốn tái hiện một cách toàn diện về phong trào đấu tranh của nhândân Hưng Nguyên từ năm 1930 đến năm 1945, những đóng góp của nhân dân

Trang 6

Hưng Nguyên đối với lịch sử dân tộc, từ đó làm bật đặc điểm cuộc khởi nghĩaTháng Tám ở Hưng Nguyên, những khác biệt so với một số huyện trong tỉnh.Qua đó thấy được tinh thần chiến đấu anh dũng, vai trò của cách mạng ởHưng Nguyên đối với tiến trình phát triển của cách mạng tỉnh Nghệ An nóiriêng và cả nước nói chung.

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài luận văn nghiên cứu toàn bộ cuộc vận động Cách mạng, chuẩn bị

về mọi mặt để tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền ở Hưng Nguyên như:Xây dựng, phát triển và củng cố các cơ sở cách mạng, kết hợp đấu tranh chínhtrị và đấu tranh vũ trang trong giai đoạn từ 1930 đến 1945 và cuộc khởi nghĩagiành chính quyền ở Hưng Nguyên năm 1945

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn không gian là toàn bộ huyện Hưng Nguyên (tỉnh Nghệ An).Giới hạn thời gian tính từ cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930), đánh dấuquá trình Đảng ra đời trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, cho đến khicuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hưng Nguyên giành thắng lợi(19/08/1945)

Tuy nhiên, để làm rõ lịch sử Hưng Nguyên trong giai đoạn này, tác giả

có khái quát, so sánh tình hình Hưng Nguyên thời kỳ trước năm 1930 và thời

kỳ sau đó để có cái nhìn rõ hơn về lịch sử Hưng Nguyên trong giai đoạn này

3.3 Nhiệm vụ của đề tài

Thông qua nguồn tư liệu, luận văn phân tích một cách khoa học nhữngyếu tố thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên, xã hội, ảnh hưởng đến phongtrào cách mạng ở Hưng Nguyên giai đoạn từ 1930 đến 1945 Để từ đó nêu bậtđược vị trí chiến lược và truyền thống đấu tranh của nhân dân Hưng Nguyên.Trên cơ sở đó, luận văn khôi phục lại một cách có hệ thống thời kỳ đấu tranhgiành độc lập cho dân tộc 1930 – 1945 ở Hưng Nguyên Từ đó rút ra những

Trang 7

đặc điểm, ý nghĩa khởi nghĩa, những bài học kinh nghiệm quý báu về quátrình tập dượt cho cách mạng, về công tác xây dựng lực lượng và việc chớpthời cơ giành chính quyền.

4 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Các tác phẩm của chủ nghĩa Mác – Lênin bàn về chiến tranh nhân dân,khởi nghĩa vũ trang và đấu tranh vũ trang cách mạng Đây là cơ sở lý luận màchúng tôi vận dụng vào quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài

Các văn kiện Đảng, các bài nói, viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trongthời kỳ 1930 – 1945 Một số chỉ thị, nghị quyết của Xứ ủy Trung Kỳ, củaĐảng bộ tỉnh và Đảng bộ huyện Hưng Nguyên có liên quan đến vấn đề lựclượng cách mạng trong giai đoạn từ 1930 đến 1945 Đây là nguồn tư liệu quantrọng giúp chúng tôi có thể tiếp cận với những quan điểm, đường lối củaĐảng trong việc xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng

Các tài liệu lưu trữ tại kho lưu trữ Trung ương Đảng cộng sản ViệtNam, Ban Tuyên giáo tỉnh Nghệ An, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An, Bảotàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, Ban Tuyên giáo huyện ủy Hưng Nguyên, Phòng vănhóa huyện Hưng Nguyên… là nguồn tư liệu quý báu giúp chúng tôi nghiêncứu những vấn đề được đặt ra trong đề tài

Ngoài ra còn có những công trình nghiên cứu, những bài viết của một

số nhà nghiên cứu đăng trên các tạp chí, các bản hồi ký của một số người đãtrực tiếp tham gia phong trào cách mạng ở Hưng Nguyên, những lời kể củacác nhân chứng lịch sử - những người đã trực tiếp tham gia hoạt động lãnhđạo cuộc cách mạng ở Hưng Nguyên giai đoạn từ 1930 đến 1945 Đó lànhững nguồn tư liệu quý báu giúp chúng tôi nghiên cứu và làm sáng tỏ nhữngvấn đề được đặt ra trong đề tài

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 8

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử là chủyếu, kết hợp với phương pháp logic, với các phương pháp so sánh, đối chiếu,phân tích, tổng hợp để làm sáng tỏ nội dung của đề tài.

5 Đóng góp của luận văn

Thông qua nguồn tư liệu, luận văn phân tích một cách khoa học nhữngyếu tố thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên, xã hội, ảnh hưởng đến phongtrào cách mạng ở Hưng Nguyên giai đoạn từ 1930 đến 1945 Để từ đó nêu bậtđược vị trí chiến lược và truyền thống đấu tranh của nhân dân Hưng Nguyên.Trên cơ sở đó, luận văn khôi phục lại một cách có hệ thống phong trào cáchmạng ở Hưng Nguyên giai đoạn 1930 - 1945 Từ đó rút ra những đặc điểm, ýnghĩa khởi nghĩa, những bài học kinh nghiệm quý báu về sự chuẩn bị chocách mạng, về công tác xây dựng lực lượng và việc chớp thời cơ giành chínhquyền

Luận văn nhằm khôi phục một cách khách quan, toàn diện và có hệthống phong trào cách mạng ở Hưng Nguyên giai đoạn từ 1930 đến 1945

Luận văn nêu rõ đặc điểm quá trình chuẩn bị khởi nghĩa, ý nghĩa cuộcCách mạng Tháng Tám ở Hưng Nguyên

Luận văn là tài liệu tham khảo để nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch

sử địa phương

Luận văn góp phần vào việc giáo dục truyền thống, tinh thần yêu quêhương đất nước, lòng tự hào các thế hệ cha ông đã hy sinh trong sự nghiệp giànhđộc lập của dân tộc để các thế hệ hôm nay vững bước tiến vào thế kỷ XXI

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungchính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Hưng Nguyên trong phong trào cách mạng 1930-1931.Chương 2: Phong trào cách mạng ở Hưng Nguyên từ 1932-1945

Chương 3: Khởi nghĩa giành chính quyền ở Hưng Nguyên

NỘI DUNG

Trang 9

CHƯƠNG 1 HƯNG NGUYÊN TRONG PHONG TRÀO CÁCH MẠNG 1930-1931

1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và truyền thống yêu nước, cách mạng ở Hưng Nguyên

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Hưng Nguyên là huyện đồng bằng thuộc vùng lúa Nam Hưng Nghi củatỉnh Nghệ An, nằm về phía Tây thành phố Vinh Huyện Hưng Nguyên nằmtrong khoảng 18o 35 phút đến 18o 47 phút vĩ độ Bắc và 105o 35 phút đến 105o

40 phút kinh độ Đông

- Phía Bắc giáp huyện Nghi Lộc

- Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh

- Phía Đông giáp thành phố Vinh

- Phía Tây giáp huyện Nam Đàn

Hưng Nguyên gồm 1 thị trấn (Thị trấn Hưng Nguyên) và 22 xã Trungtâm huyện cách thành phố Vinh 5 Km, có đường quốc lộ 46 đi qua nối liềnVinh - Hưng Nguyên với các huyện phía Tây và phía Bắc của tỉnh Mặt khác

có Sông Lam chảy dọc ranh giới phía Nam và phía Đông Nam, nối liền HưngNguyên - Bến Thuỷ Sông Đào nối liền địa phận Hưng Nguyên - Vinh tạođiều kiện thuận lợi trong giao lưu đường thuỷ Đường sắt Bắc - Nam đi qua

có ga Yên Xuân ở phía Nam huyện, phía Đông Bắc có ga Vinh nên điều kiệnlưu thông bằng đường sắt cũng khá thuận lợi

Với vị trí địa lý như trên, Hưng Nguyên có nhiều lợi thế và tiềm năng

để phát triển một nền kinh tế đa dạng: Nông - lâm nghiệp, công nghiệp - tiểuthủ công nghiệp, dịch vụ thương mại, phát triển kinh tế nội tại cũng như giaolưu kinh tế với các huyện, thành phố trong tỉnh và các tỉnh trong vùng

Hưng Nguyên nằm trong vùng đồng bằng Nam Hưng Nghi của tỉnh,

so với Nam Đàn và Nghi Lộc thì Hưng Nguyên chủ yếu là đồng bằng, có

Trang 10

địa hình đồi núi ít hơn, đồi núi chủ yếu phân bố ở phía bắc của huyện Địahình huyện Hưng Nguyên thấp trũng Độ cao trung bình của bề mặt đồngbằng từ 1,5 m đến 2 m, nơi cao nhất là 3m, thấp nhất là 0,6m và thấp dần

từ Tây sang Đông

Từ thời Hùng Vương, Hưng Nguyên là một vùng đất có cư dân ngườiViệt cổ, thuộc bộ Hoài Hoan, một trong 15 bộ của nước Văn Lang Thời Bắcthuộc, Hưng Nguyên là một phần đất của huyện Hàm Hoan, thuộc quận Cửu

Chân, do nhà Hán đặt ra Theo sách “Nguyễn Trãi toàn tập”: “Năm 1469, vua

Lê Thánh Tông, hiệu Quang Thuận thứ 10, đã ra dụ điều chỉnh lại bản đồhành chính và chia đạo Nghệ An ra làm 8 phủ, 18 huyện, 2 châu Tên “huyệnHưng Nguyên” ra đời từ đó Hưng Nguyên cùng với Nam Đường lúc đó là haihuyện thuộc phủ Anh Đô, riêng Hưng Nguyên gồm 42 xã, 3 thôn, 3 sở, 2giáp” Thời thuộc Pháp, Hưng Nguyên là một phủ thuộc tỉnh Nghệ An gồm 6tổng, 109 làng xã có triện bạ

Hưng Nguyên ngày nay là huyện có quy mô trung bình trong tỉnh,chiều dài từ Bắc đến Nam khoảng 30 km, từ Đông sang Tây khoảng 15 km.Diện tích ruộng đất trước sau những năm 1930 là 36.661 mẫu, hiện nay là8.114 ha Tuy là huyện đồng bằng nhưng Hưng Nguyên cũng có núi, sông tôđiểm cảnh vật thêm hùng vĩ, tôn nghiêm

Núi Đại Hải, quen gọi là núi Lưỡi Hái, nằm dọc phía Tây Bắc, thuộc

địa phận làng Hương Cái, tổng Hải Đô cũ Sách “Đại Nam nhất thống chí” đã

viết “Thế núi cao lớn, ngay ngắn trông như bức bình phong… có lẽ vì biểndâu biến đổi từ xưa nên đặt tên núi là Đại Hải”

Núi Hùng Sơn, còn gọi là núi Thành ở phía Nam huyện là một dãy núimang những dấu ấn lịch sử “Núi Hùng Sơn, xưa gọi là núi Tuyên Nghĩa…; ởgiữa đồng bằng, nổi vọt lên một dãy núi cao lớn, hùng vỹ trông ra sông Lam”

Sông Lam, còn gọi là sông Cả, sông Thanh Long là con sông lớn nhấtcủa Nghệ An, bắt nguồn từ Thượng Lào, chảy về biển theo hướng Tây Bắc -

Trang 11

Đông Nam, qua 12 xã của Hưng Nguyên, từ xã Hưng Lĩnh phía Tây đến xãHưng Hòa phía Đông, trước khi chảy ra Cửa Hội Sông Lam bồi đắp phù sacho bãi ven sông, nhưng về mùa mưa cũng thường gây lụt lớn Sông Lam có

vị trí quan trọng về kinh tế, giao thông… đối với Hưng Nguyên nói riêng và

Nghệ An nói chung Sách “Đại Nam nhất thống chí” viết: “Sông Lam là sông

lớn vùng Nghệ An, xưa gọi là sông Thanh Long… phía Đông có bến đò làchỗ cư trú của khách buôn phương Bắc, nhà cửa, thuyền bè tấp nập, gọi làphố Phù Thạch, phía Tây phố trước kia là hành dinh của Trùng Quang đế nhàTrần Ở đây nước sông trong mát, cây cỏ xanh tươi, gần có phố, xa có thôn,phong cảnh như tranh vẽ thật là một nơi danh thắng ở Châu Hoan”

Hưng Nguyên ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa khá khắc nghiệt: mùa

hè thì nắng hạn, gió Tây Nam khô nóng, nhiệt độ có khi lên đến 39 - 40 độ C.Mùa mưa thì mưa to, bão lụt lớn Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945,lụt sông Lam thường dẫn đến nạn vỡ đê, gây mất mùa, đói kém HưngNguyên thường có những cơn lốc mạnh đổ bộ bất ngờ, gây thiệt hại về người

và của Mùa đông thường là những tháng mưa dầm, gió mùa Đông Bắc rét

ẩm, trời âm u, nhiệt độ có khi xuống dưới 10 độ C Các yếu tố thời tiết cùngvới sự chênh lệch lớn về nhiệt độ giữa mùa hè và mùa đông gây nhiều khókhăn cho trồng trọt, chăn nuôi và sức khỏe con người

Ngược lại, thiên nhiên cũng dành cho nhân dân ở đây những ưu đãinhư: đất bãi sông Lam là một vùng đất màu mỡ, được phù sa bồi đắp hàngnăm, thích hợp với nhiều loại cây công nghiệp và rau màu Vùng đồng lúa,khi có hệ thống thủy lợi tưới tiêu sẽ ngày càng cho năng suất cao Con sôngLam cùng với các sông đào, khe suối là nguồn nước tưới dồi dào và nguồnthủy sản nước ngọt quan trọng Dưới đất có khoáng sản quý như mỏ Mănggan ở Núi Thành Núi đồi có thể trồng cây lấy gỗ, làm nơi chăn thả trâu, bò…

Và vì vậy, cuộc đấu tranh với thiên nhiên đòi hỏi con người ở đây phải giàu

Trang 12

nghị lực, chí kiên cường, óc sáng tạo mới khai thác được những thuận lợi vàkhắc phục được thiên tai.

1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Hưng Nguyên vừa có thuận lợi ở gần thành phố Vinh, lại vừa có nhiềuđường giao thông thủy bộ đi qua như: đường xe lửa Bắc - Nam, đường quốc

lộ 1, đường 49 (nay là quốc lộ 46), đường số 8, tuyến đê 42, đường 12/9…,đường thủy sông Lam và các sông đào Nhờ vậy, người dân Hưng Nguyênxưa cũng như nay thuận tiện đi lại trong làm ăn, sinh sống, đồng thời tiếp xúcvới những luồng tư tưởng mới, mở rộng tầm mắt của mình

Kinh tế Hưng Nguyên trước đây chủ yếu là nền kinh tế tiểu nông vớicây trồng chính là lúa nước Do phương thức sản xuất phong kiến lâu đời kìmhãm, cộng với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, nông nghiệp Hưng Nguyêntrước đây rất kém phát triển Công trình thủy lợi hầu như không có, việc tướitiêu phụ thuộc vào thiên nhiên Công cụ sản xuất, tập quán canh tác lạc hậurất ít được cải tiến Bởi vậy, năng suất cây trồng rất thấp, mỗi vụ thườngkhông vượt quá 50 - 60 kg thóc/1 sào Đại bộ phận ruộng đất chỉ làm mộtnhiệm vụ, diện tích hoang hóa khá nhiều Có nơi hàng năm bỏ phần lớn diệntích không cày bừa Nạn hạn hán, lụt lội, vỡ đê, sâu bệnh phá hoại… liên tiếpxẩy ra Đói kém liên miên năm này qua năm khác, nạn đói giáp hạt “tháng ba,ngày tám” trở thành căn bệnh kinh niên

Chăn nuôi chủ yếu là trâu, bò, lợn, gà… cũng nằm trong tình trạng trìtrệ Các đồi cỏ ở Hải Đô, vùng núi Thành, các bãi cỏ vùng ven sông Lam,vùng Yên Lưu… có điều kiện để phát triển đàn trâu, bò… đông đúc Nhưng

do phần lớn trâu, bò trước đây đều nằm trong tay địa chủ, Nhà chung Nôngdân phần lớn là người nuôi lẻ, lại ít hiểu kỹ thuật chăn nuôi nên trâu bò ítđược chăm sóc, thường gầy yếu, có khi bị dịch bệnh chết hàng loạt

Ngoài nông nghiệp, nhân dân nhiều vùng ở Hưng Nguyên từ trước cònlàm một số nghề thủ công như: nghề đan dè cót ở Xuân Nha, nghề làm mũ

Trang 13

nón ở Rú Ráng, nghề dệt chiếu gon ở Yên Lưu, nghề đóng thuyền ở XuânGiang, Xuân Thủy, nghề thợ cưa ở Thành Công, Làng Cự, nghề dệt vải ởHoàng Cần, nghề nuôi tằm dệt lụa ở các xã dọc sông Lam, nghề thợ nề, thợmộc ở Láng Thôn, Chính Đích, nghề ép mía, trắc đường, nấu kẹo ở KhánhSơn, Phú Vinh, Long Giang, Yên Thái, nghề làm mĩ nghệ mây tre đan ở Yên

Xá, Yên Khang… Một số trong các nghề nói trên đã trở thành nghề truyềnthống gia đình, thu hút một lượng nhân công nhất định và cải thiện phần nàođời sống người dân các làng xã Giao lưu hàng hóa trên thị trường đáp ứngđược nhu cầu cần thiết thường ngày của từng địa phương Một số loại hànghóa như đường mật, mây tre đan, chiếu gon… được đưa đi tiêu thụ ở các thịtrường xa hơn Còn đại bộ phận các nghề thủ công khác là những nghề làm ăntrong những tháng nông nhàn của nông dân Nhìn chung, đời sống người thợthủ công không hơn gì nhiều so với người nông dân

Cùng cảnh với người nông dân là dân nghèo ven thành phố, ven chợ,ven sông… làm nghề buôn thúng bán mẹt, chèo đò, cào hến, cất vó, quăngchài… sống một cuộc sống bấp bênh

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), sau khi thực dân Phápthực hiện chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất tại Đông Dương, ởHưng Nguyên bắt đầu xuất hiện một số nhà buôn bán như buôn bò ở ChínhĐích, buôn gỗ ở Phù Long, mở lò gạch ngói, xưởng thuộc gia trâu bò… Saunhững năm 1930, có thêm một số nhà thầu khoán Khi Nhật nhảy vào, một sốnhà buôn bản xứ có quan hệ với hãng Âtka của Nhật, sự xuất hiện các hìnhthức kinh doanh công thương nghiệp có làm biến đổi ít nhiều bộ mặt kinh tếHưng Nguyên trong thời gian này Người nông dân, người dân nghèo có thêmmột số công việc làm ăn mới, nhưng cũng bắt đầu nếm trải thêm một hìnhthức bóc lột mới Giai cấp tư sản Hưng Nguyên mới được hình thành rất yếu

ớt, phần nhiều là điền chủ nhỏ, vốn liếng không có là bao lại bị tư bản Pháp

Trang 14

và bọn thống trị chèn ép, không mở mang được nên họ vẫn có ít nhiều tinhthần dân tộc, căm thù thực dân Pháp.

Với một nền kinh tế như vậy, nhân dân Hưng Nguyên nhất là nhân dânlao động, mặc dầu rất cần cù, chịu thương, chịu khó, vẫn quanh năm lam lũcực khổ Dưới chế độ phong kiến đã vậy, từ khi thực dân Pháp quàng lên đầu,lên cổ nhân dân ta ách thống trị của chúng và kế đến là phát xít Nhật, ngườidân lao động Hưng Nguyên càng phải chịu trăm bề cực khổ cay đắng Họluôn luôn nung nấu chí căm thù giặc cướp nước và giai cấp phong kiến tay saibán nước, sẵn sàng liên minh với giai cấp công nhân và các tầng lớp bị ápbức, bóc lột khác, vùng dậy đạp đổ chính quyền của giai cấp thống trị

Dân cư Hưng Nguyên phân bố không đều; và đặc điểm này vẫn tồn tạitới những năm gần đây, các vùng dọc sông Lam, ven Thành phố, dọc đườngquốc lộ có mật độ khá cao, còn vùng tổng Hải Đô cũ thì dân cư thưa thớt Dân

số toàn huyện năm 1930 là 56.000 nhân khẩu, trong đó đồng bào theo đạoThiên Chúa là 18% [1, tr13] Một số xã gần Nhà Chung Xã Đoài phần lớnđồng bào theo đạo Thiên Chúa như Hưng Trung, Hưng Yên, Hưng Tây

Hưng Nguyên là một huyện ngoại vi thành phố Vinh Về nguồn gốc thìVinh đã ra đời và mở rộng ra giữa vùng đất của Hưng Nguyên Thời thuộcPháp, phủ lỵ đóng ở làng Chân Đích (thuộc xã Hưng Chính hiện nay) cáchVinh khoảng 4 km Bộ máy cai trị toàn tỉnh Nghệ An trước đây của thực dânPháp đặt tại Vinh trực tiếp khống chế phong trào yêu nước và cách mạngHưng Nguyên cùng các phủ huyện lân cận khác Ở kề Vinh, Hưng Nguyên làmột trọng điểm đánh phá ác liệt của giặc Pháp trong cuộc chiến tranh xâmlược năm 1946 - 1954 và đế quốc Mỹ trong chiến tranh phá hoại 1964 - 1972

Mặt khác, do gần Vinh nên Hưng Nguyên trước đây là nơi cung cấpnhiều công nhân cho các nhà máy của Pháp ở Vinh Các làng như Yên Dũng,Lộc Đa, Đức Thịnh, Yên Lưu, Đức Quang… của tổng Yên Trường và một sốlàng xã khác ven thành phố, rất nhiều gia đình nông dân có cha mẹ, anh em,

Trang 15

bà con làm công nhân ở Vinh Đây là một đặc điểm thuận lợi cho việc hìnhthành khối liên minh công - nông Từ liên minh tự nhiên trong gia đình, làngxóm đến liên minh giai cấp, liên minh chính trị Ngày nay và mãi mãi saunày, đặc điểm thuận lợi này cùng với sự gắn bó lâu dài giữa Hưng Nguyên vàthành phố Vinh - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa với các cơ sở côngnghiệp lớn, ngày càng hiện đại của Nghệ An, là nguồn sức mạnh to lớn choHưng Nguyên về nhiều mặt trong hiện tại và cả trong tương lai.

Khi thực dân Pháp cai trị, chúng đã thực thi chính sách ngu dân Từnăm 1919, sau khi bỏ Hán học và các khoa thi hương, thi hội, bọn Pháp cho

mở một số ít trường học chữ quốc ngữ và chữ Pháp Toàn phủ Hưng Nguyênvới gần 6 vạn dân mà chỉ có 5 trường học ở 5 tổng Phù Long, Văn Viên,Thông Lạng, Đô Yên, Hải Đô gồm trên 300 học sinh Việc phổ biến rộng rãichữ quốc ngữ bị ngăn cấm [49, tr49]

1.1.3 Truyền thống yêu nước và cách mạng

Hưng Nguyên là một trong những vùng đất của Nghệ An giàu truyềnthống văn hóa, yêu nước và cách mạng Trong bất cứ hoàn cảnh nào, ngườidân Hưng Nguyên luôn giữ vững và phát huy tinh thần kiên trung, nghĩa khí,dũng cảm chống áp bức, bóc lột, chống ngoại xâm, bền bỉ, kiên cường khắcphục thiên tai, vượt qua bao cam go để dựng xây cuộc sống ngày càng tốt đẹp

Hưng Nguyên từng là lỵ sở của đạo Nghệ An qua các triều đại Trần

-Lê - Nguyễn suốt gần 300 năm Núi Lam Thành đã chứng kiến những chiếntích hào hùng chống quân xâm lược Minh gắn liền với tên tuổi nghĩa sĩ đạivương Nguyễn Biểu và Bình Ngô Thành Trận đánh núi Lam Thành (RúThành) gắn liền với câu chuyện huyền thoại khi Lê Lợi đánh 3 lần mà vẫnkhông công được thành, Ngài bèn cầu khấn thần sông Lam Đêm đến thầnsông Lam về báo mộng là nếu Lê Lợi đồng ý cho thần sông một bà vợ thìthần sẽ giúp công thành Một trong các bà vợ của vua là Phạm Thị Ngọc Trầnđồng ý quyên sinh xuống sông với điều kiện sau này con bà phải được làm

Trang 16

vua Con trai bà chính là Lê Nguyên Long, là vua Lê Thái Tông sau này Hiệnnay ở chân Rú Thành có đền vua Lê, nơi thờ bà Phạm Thị Ngọc Trần.

Từ năm 1885, sau khi Pháp đặt nền thống trị lên đất nước ta, nhiều sĩphu yêu nước ở Hưng Nguyên đã hưởng ứng mạnh mẽ phong trào đấu tranhnhư Văn Thân, Cần Vương, Đông Du, cùng các tầng lớp nhân dân phất cờđánh Pháp Hầu khắp các làng xã Hưng Nguyên đều có người tham gia nghĩaquân hoặc xuất tiền bạc, thóc gạo ủng hộ phong trào như cụ Nguyễn Thị Lânđược Phan Bội Châu suy tôn “Bậc nữ hào kiệt đất Lam Hồng”

Phong trào Văn Thân thất bại, nhiều sỹ phu ở Hưng Nguyên bị thựcdân Pháp bắt giam và chém giết: Ông Xuân Quát, Võ Trọng Việng… Nhưngcác sỹ phu và tướng lĩnh còn lại vẫn hoạt động sôi nổi ở Hưng Nguyên Nhiềunơi vẫn là cơ sở hoạt động, ăn ở, đi về của các ông Đội Quyên, Đội Quảng,Tổng Giáo Khánh… Khi Cường Để - một hoàng thân nhà Nguyễn tìm đườngsang Nhật để nhờ Nhật giúp chống Pháp, nhân dân một số nơi như LiễuXuyên, Yên Lưu đã từng bảo vệ, giúp đỡ

Kế đến phong trào Đông Du - một khuynh hướng mới lúc bấy giờ,nhiều người yêu nước ở Hưng Nguyên đã tích cực tham gia như ông Lê Quý,

Cử Lai, Khoa Nghĩa, Nguyễn Liên, Uông Đạt… Từ năm 1908, cụ Phan BộiChâu, người khởi xướng phong trào Đông Du, Duy Tân hội và du học sinhViệt Nam bị chính phủ Nhật trục xuất Một số người hoạt động ở HưngNguyên cũng bị Pháp bắt giam kết án tù, có người bị giam đến chết ở nhà laoVinh như ông Uông Đạt

Thất bại của các phong trào Văn Thân, Cần Vương và Đông Du, DuyTân hội không làm cho nhân dân Hưng Nguyên nhụt chí, nhiều nơi đã nổi dậyđấu tranh chống áp bức, bóc lột, chống cả thực dân Pháp lẫn phong kiến.Trước năm 1930, tại Hưng Nguyên đã xẩy ra 26 cuộc đấu tranh lớn nhỏ củanông dân, diễn ra trong 24 làng, thuộc 6 tổng Trong 26 cuộc có hai cuộc đánh

Trang 17

Tây đoan về bắt rượu, 10 cuộc chống chiếm đoạt ruộng đất, 14 cuộc chốngtham ô nhũng lạm trong sưu thuế và lợi dụng thờ cúng để chè chén [1, tr26].

Năm 1887, nhân dân lương - giáo Phú Vinh, Mỹ Dụ đấu tranh chốngbọn xấu trong cha cố âm mưu chiếm đoạt ruộng đất của dân Năm 1908, nôngdân Yên Dũng đấu tranh chống bọn chủ Pháp về cướp đất làm nhà máy Năm

1920, 1928 nhân dân Liễu Xuyên (Hưng Lĩnh hiện nay) và Phúc Mỹ (HưngChâu hiện nay) đấu tranh buộc bọn Pháp phải vác cả súng ống tháo chạy Từnăm 1920 đến 1928, nông dân nhiều làng như Yên Thái, Phù Xá, Hoàng Cần,

Cự Thôn, Ngọc Điền… đã liên tục nổi dậy đấu tranh đòi hào lý phải trả lạiruộng đất công đã chiếm đoạt để chia lại cho dân

Các cuộc đấu tranh đó của nông dân cùng các cuộc vận động tham giaphong trào Văn Thân, Cần Vương, Đông Du, Duy Tân hội là những sự kiệnthể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường, dũng cảm không chịukhuất phục của ông cha ta trước bạo lực bất công Tinh thần ấy thật là cao cả,thật đáng trân trọng, đáng giữ gìn và phát huy

Không những thế, Hưng Nguyên còn là quê hương của nhiều nhà yêunước khác như Đinh Bạt Tụy, Nguyễn Trường Tộ, Lê Hồng Phong, PhạmHồng Thái và là vùng đất có nhiều di tích lịch sử - văn hóa tâm linh như đềnHoàng Mười, đền Vua Lê, đền Thanh Liệt, chùa Hến,

1.2 Hưng Nguyên trong cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh

1.2.1 Từ khi phong trào bùng nổ đến trước ngày 12 tháng 9 năm 1930

Mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạophong trào cách mạng Đây là bước ngoặt quan trọng trong tiến trình pháttriển của lịch sử dân tộc Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranhcủa Nghệ An nói chung, của Hưng Nguyên nói riêng thời kì này diễn ra sôinổi, mạnh mẽ

Để phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng và hướng dẫn phong tràođấu tranh của quần chúng, tháng 4 năm 1930 Xứ uỷ Trung Kì xuất bản tờ báo

Trang 18

Người lao khổ Ở Hưng Nguyên, tờ báo Sản nghiệp của Huyện uỷ Hưng

Nguyên cũng được ra đời Tờ báo này đã góp phần quan trọng trong việctuyên truyền chủ trương của Đảng, tố cáo âm mưu, thủ đoạn phá hoại cáchmạng của địch, cổ vũ, hướng dẫn quần chúng đấu tranh trong cao trào cáchmạng 1930-1931 ở Hưng Nguyên

Nhân dân huyện Hưng Nguyên bị áp bức, bóc lột nặng nề Trong hoàncảnh áp bức đó nhân dân Hưng Nguyên đứng lên đấu tranh mạnh mẽ Sựmạnh mẽ đó được thể hiện với sự ra đời của các cơ sở Đảng Cộng sản trên đấtHưng Nguyên So với nhiều phủ huyện khác trong tỉnh, các cơ sở Đảng ởHưng Nguyên hình thành và phát triển khá sớm

Vùng tổng Phù Long, Thông Lạng, Nam Kim và Tràng Cát (Nam Đàn)

do Xứ uỷ Trung Kỳ trực tiếp gây dựng và phụ trách Vùng tổng Yên Trường,

Đô Yên, Văn Viên do tỉnh bộ Vinh-Bến Thuỷ gây dựng và phụ trách

Vùng tổng Hải Đô và xã Dương Xá (nay thuộc Hưng Lĩnh) do huyện

bộ Nam Đàn gây dựng và phụ trách

Ở Hưng Nguyên, chi bộ ghép Lộc Đa, Đức Thịnh, Yên Dũng ra đờisớm nhất Anh Hoàng Trọng Trì được cử làm Bí thư chi bộ Đây là một trongnăm chi bộ cộng sản đầu tiên của Nghệ An và cũng là chi bộ cộng sản đầutiên và duy nhất của Hưng Nguyên do Đông Dương cộng sản Đảng thành lập.Sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, Hoàng Trọng Trì được cử vào Banchấp hành Tỉnh bộ Vinh-Bến Thuỷ thì chi bộ này cũng chuyển thành các chi

bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Lộc Đa (3/1930), chi bộ Yên Dũng Thượng(4/1930)

Trên cơ sở phong trào cách mạng vùng Tổng Phù Long và Nam Kim(Nam Đàn), khoảng tháng 4/1930, Xứ uỷ Trung Kỳ cử Tôn Gia Tinh về bắtliên lạc với Lê Xuân Đào - một đảng viên Tân Việt hăng hái ở Phù Xá và hìnhthành nhóm cộng sản đầu tiên ở vùng này gồm ba người: Nguyễn HữuNhượng (ở Trung Cần, Nam Đàn), bí danh là Trúc; Nguyễn Thị Quỳnh Nga,

Trang 19

tức Thông Phia (ở Trung Cần), bí danh là Lam; Lê Xuân Đào tức Lê MạnhThân thường gọi là Chắt Lũ, bí danh là Giang Đây là chi bộ cộng sản TrúcLam Giang do Lê Xuân Đào làm bí thư Khoảng tháng 5/1930, chi bộ nàyphát triển được năm đảng viên mới, lập thành chi bộ Kim-Mộc-Thuỷ-Hoả-Thổ ở Phù Long - Nam Kim Và cứ theo cách làm vết dầu loang, hai chi bộTrúc - Lam - Giang và Kim - Mộc - Thuỷ - Hoả - Thổ lại tự nhận trách nhiệmphát triển thêm các chi bộ mới trong vùng như chi bộ Phù Xá thành lập tháng5/1930 và các chi bộ khác trong thời gian tiếp theo.

Như vậy, đến tháng 5/1930 đã có ba chi bộ cộng sản gồm trên 10 đảngviên cắm vào các điểm: các tổng Phù Long, Yên Trường của Hưng Nguyên

và tổng Nam Kim của Nam Đàn Địa bàn rộng, đảng viên còn ít, nhưng cácchi bộ đã mạnh dạn phân công đảng viên, đi xây dựng cơ sở đảng, cơ sở quầnchúng và phát động quần chúng đấu tranh Qua phong trào, số người tiên tiến,kiên quyết cách mạng, kiên quyết đấu tranh trong công nông và nhân dân laođộng xuất hện ngày càng nhiều và lần lượt được kết nạp vào Đảng

Các cơ sở Đảng phân công Đảng viên đi phát triển các tổ chức quầnchúng như Nông hôi đỏ, Thanh niên cộng sản đoàn, Cứu tế đỏ, Phụ nữ giảiphóng, Hội tán trợ… Giữa lúc đó, tin tức đấu tranh của công nông các nơi dồndập truyền về Công nhân nhà máy sợi Nam Định bãi công đòi tăng lương,giảm giờ làm được nông dân Yên Dũng cùng công nhân nhiều nhà máy khác

ở Vinh - Bến Thuỷ đồng tình ủng hộ Cũng trong tháng 4/1930, công nhân và

tù chính trị ở Hải Phòng chống toà án Pháp xử án trái phép

Những thắng lợi liên tiếp của phong trào cách mạng là thất bại nhụcnhã của kẻ thù Để ngăn chặn, dập tắt các cuộc bãi công nên tên công sứ, tổngđốc Nghệ An đã đưa ra các thủ đoạn mới đó là: Một mặt tập trung chuẩn bịđánh phá, mặt khác dùng kế dụ dỗ, mị dân hoặc răn đe, doạ dẫm Còn nhữngyêu sách trong các cuộc biểu tình của nhân dân bọn chúng cũng không chịuthực hiện Trước âm mưu của kẻ thù, phủ uỷ đẩy mạnh công tác tuyên truyền

Trang 20

để đưa cuộc đấu tranh lên mức độ cao hơn, chuẩn bị cho cuộc biểu tình khithời cơ xuất hiện.

Thực hiện lời kêu gọi của Xứ uỷ, Tỉnh uỷ Nghệ An chủ trương tổ chứcđấu tranh với quy mô lớn, huy động mọi lực lượng tham gia để áp đảo kẻ thù,buộc chúng phải thực hiện mọi yêu sách của nhân dân mà chúng đã chấp nhậntrong các cuộc đấu tranh trước Lúc này, phong trào đấu tranh của công nhân,nông dân Vinh - Bến Thuỷ, của nông dân Thanh Chương, Nam Đàn, ĐôLương cứ liên tiếp dâng lên Các báo của Xứ uỷ Trung Kỳ đăng lời kêu gọinhư tiếng kèn xung trận thôi thúc lòng người: “Nghệ An Đỏ đang đấu tranh,

cờ đỏ đã phấp phới bay cả tỉnh Nghệ, thời kì đấu tranh quyết liệt đã đến” Vớikhông khí sôi đông đó càng thôi thúc đảng viên, quần chúng nhân dân HưngNguyên đứng lên hành động

Đêm 30/4 và ngày 01/5/1930, hưởng ứng chủ trương của Đảng về kỉniệm ngày Quốc tế lao động 1/5, truyền đơn, cờ đỏ búa liềm xuất hiện lầnđầu tiên ở nhiều nơi: Lộc Đa, Đức Thịnh, Chợ Vực, Chợ Đón, Chợ Liễu,Thông Lạng… Có nơi như ở Đức Thịnh, khi rải truyền đơn, đảng viên đánh 3hồi trống đình để nhân dân ra xem Đặc biệt, ngày Quốc tế lao động 1/5/1930được công nhân Vinh - Bến Thuỷ và nông dân một số làng xã của HưngNguyên lần đầu tiên kỉ niệm công khai bằng cuộc biểu tình lớn: Cuộc biểutình ngày 1/5/1930

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng lấy ngày Quốc tế lao động1/5/1930, phát động một cao trào đấu tranh dân tộc dân chủ mạnh mẽ, biểudương sức mạnh liên kết công nông binh Xứ uỷ Trung Kỳ và Tỉnh uỷ Vinh -Bến Thuỷ quyết định tổ chức một cuộc biểu tình lớn vào ngày 1/5/1930 Đểchuẩn bị kế hoạch cho cuộc biểu tình, ngày 20/4/1930, đồng chí Lê Mao thaymặt Tỉnh uỷ Vinh - Bến Thuỷ triệu tập một cuộc họp tại nhà đồng chí HoàngTrọng Trì Đồng chí Nguyễn Phong Sắc thay mặt xứ uỷ Trung Kỳ về phụtrách Hội nghị nhất trí phát động phong trào cách mạng bằng cuộc biểu tình

Trang 21

kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1/5, biểu dương lực luợng, đưa yêu sách đòităng lương, giảm giờ làm, bỏ sưu, giảm thuế, phản đối khủng bố, ủng hộ cuộcbãi công của công nhân Nhà máy sợi Nam Định, ủng hộ Liên bang Xô Viết

Thực dân Pháp và Nam Triều cho mật thám và binh lính ngày đêm lùngsục khắp nơi Trước tình hình đó, tối ngày 30/4/1930, Tỉnh uỷ Vinh - BếnThuỷ triệu tập một cuộc họp khẩn cấp tại Yên Dũng hạ để điều chỉnh kếhoạch Theo kế hoạch mới, để đánh lạc hướng kẻ địch, một bộ phận côngnhân vẫn đi làm bình thường, đến 9 giờ sáng ngày 1/5/1930, công nhân nhàmáy nào thì tập trung tại nhà máy ấy Lực lượng dự định huy động là toàn thểcông nhân các nhà máy ở Vinh - Bến Thuỷ và nông dân các làng Lộc Đa, ĐứcThịnh, Yên Dũng, An Hậu, Đức Hậu thuộc tổng Yên Trường Đoàn biểu tình

dự định tập trung tại Quán Lau rồi tuần hành qua các nhà máy, qua ngã baBến Thuỷ, vào Yên Dũng hạ, ra đường quốc lộ 1, rồi lên Vinh, vây Toà sứ đểđưa yêu sách Không chủ trương vũ trang, bạo động Không may, người giaothông của Tỉnh uỷ bị địch bắt trên đường làm nhiệm vụ Kế hoạch bị lộ vàkhông đến được tới các chi bộ nông thôn

Các chi bộ vẫn làm theo kế hoạch cũ Mới 3, 4 giờ sáng, các làng YênDũng, Lộc Đa, Đức Thịnh, An Hậu, tiếng mõ đã nổi lên giục giã mọi ngườixuống đường đấu tranh

Sáng ra, gần 1000 nông dân đã tập trung tại cây số 4 trên đường Vinh Cửa Hội Hôm đó lại là ngày phiên chợ Vinh (3/4 âm lịch), nhiều người đichợ cũng nhập vào đoàn, nên đoàn biểu tình mỗi lúc một đông thêm Người đibiểu tình tay không, xếp thành hàng ba, cờ đỏ búa liềm đi đầu cùng nhiềubăng vải đỏ được căng lên với khẩu hiệu viết bằng sơn trắng Dưới sự chỉ huycủa đồng chí Hoàng Trọng Trì, đoàn biểu tình rầm rộ kéo đi, tiếng hô khẩuhiệu vang lên như sấm dậy:

Giảm thuế ruộng, bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế muối, thuế đò!

- Tịch thu ruộng công điền thổ chia cho dân cày nghèo!

Trang 22

- Cách mạng Việt Nam muôn năm!

Việt Nam cộng sản Đảng muôn năm!

- Tinh thần ngày Quốc tế lao động 1/5 muôn năm!

Và đây là lần đầu tiên từ đất nước Việt Nam, hàng ngàn công nôngcùng một lúc đã gửi lời chào đến anh chị em công nông toàn thế giới, đến quêhương cách mạng Tháng Muời:

- Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!

- Ủng hộ Liên bang Xô Viết!

Qua Quán Lau đến trước cửa Nhà máy Trường Thi, đoàn biểu tìnhdừng lại Cùng lúc đó, tri phủ Hưng Nguyên, cai tổng Yên Trường và mộtđoàn xe hơi chở đầy lính khố xanh từ phía tỉnh ập xuống Mặc cho bọn chúngphỉnh phờ, ngăn chặn, hàng ngàn người vẫn hô khẩu hiệu:

- Công nông binh liên hiệp lại!

- Chống khủng bố, chống đánh đập!

Khi đoàn tuần hành qua các nhà máy, tuy cổng đã bị bọn chủ ralệnh đóng chặt, anh chị em công nhân đổ xô ra phá hàng rào, vẫy taychào anh chị em nông dân, cùng hô vang khẩu hiệu đồng tình và cùnghát vang bài ca quốc tế:

“ Hỡi ai nô lệ trên đờiHỡi ai cực khổ đồng thời đứng lênBất bình này chịu sao yênPhá cho tan nát một phen cho rồi! ”

Gần đến Bến Thuỷ, một đoàn xe khác từ phía tỉnh chở đầy lính khốxanh, khố đỏ, lê dương ập xuống Chúng bắn hàng loạt súng chỉ thiên đedoạ và đòi giải tán cuộc biểu tình Nhưng đoàn người vẫn nắm tay nhau,bình tĩnh tiến bước Cổng nhà máy diêm, máy điện, máy cưa đều đóngchặt và có lính gác Đoàn người ào ào lướt tới Đồng chí Trần Cảnh Bình -một đảng viên cộng sản trong ban chỉ huy cuộc biểu tình, leo lên ngay cột

Trang 23

đèn, hướng vào các nhà máy phất cao cờ đỏ búa liềm, hô hào anh chị emcông nhân phối hợp đấu tranh Tiếng phá cổng ầm ầm, tiếng hô khẩu hiệu,tiếng hò hét vang động Bọn chủ Pháp trên các nhà gác hốt hoảng, xả đạnbắn đồng chí Bình ngã xuống, tay còn nắm chặt lá cờ đỏ búa liềm Đoànbiểu tình căm phẫn ào vào phá cửa nhà máy Bọn lê dương chồm lên địnhbắn thì những người đi đầu đã xông vào cướp súng trong tay chúng Bọnchúng hoảng loạn vừa lui vừa bắn bừa bãi vào đoàn biểu tình Bọn chủPháp trên các nhà gác cũng xả đạn như mưa, 6 người nữa ngã xuống, 18người bị thương, hàng chục người khác bị bắt.

Cuộc biểu tình bị đàn áp đẫm máu và phải giải tán nửa chừng Nhưng

kẻ thù không xoá được ý nghĩa đặc biệt và ảnh hưởng to lớn của nó Đây làlần đầu tiên dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, hai giai cấp công nhân vànông dân kề vai sát cánh xuống đường, trực diện đấu tranh với quân thù Báo

“Người lao khổ” - cơ quan của Xứ uỷ Trung Kỳ viết: “Thật là lần đầu tiên ở

Việt Nam, công nông binh gặp nhau giữa trận tiền”

Cuộc biểu tình ngày 1/5/1930 của nhân dân nhiều làng xã HưngNguyên là hành động cách mạng chan chứa tinh thần quốc tế vô sản Đây làtrận mở màn cho cao trào cách mạng 1930-1931 của Nghệ Tĩnh

Hành động khủng bố dã man, tàn bạo của kẻ thù trong cuộc biểu tình1/5/1930 đã phơi bày bộ mặt thật của chủ nghĩa thực dân cướp nước Chúngkhông ngần ngại vứt bỏ mặt nạ giả nhân, giả nghĩa “khai hoá văn minh” củachúng

Tin về cuộc biểu tình 1/5/1930 của công nông Hưng Nguyên bị đàn ápđược truyền đi nhanh chóng đã gây một làn sóng căm phẫn mạnh mẽ khôngnhững trong tỉnh mà trong cả nước Ngay tối hôm đó, các chi bộ Lộc Đa, ĐứcThịnh, Yên Dũng đã họp để kiểm điểm, rút kinh nghiệm, bàn kế hoạch ổnđịnh tinh thần, tư tưởng nhân dân và quyên góp, giúp đỡ, an ủi các gia đình cóngười hi sinh, bị thương, bị bắt Nhân dân nhiều nơi lại liên tiếp đứng lên đấu

Trang 24

tranh Ngày 25/5/1930, nông dân nhiều làng xã ở các tổng Phù Long, VănViên, Thông Lạng rải truyền đơn phản đối đế quốc Pháp bắn giết đồng bào vàđòi chúng thả những người bị bắt Ngày 30/8/1930, 100 nông dân Dương Xácùng 3000 nông dân Nam Đàn kéo đến huyện lỵ Nam Đàn đấu tranh buộc trihuyện phải ký nhận làm theo bản yêu sách Ngày 31/8/1930, nông dân nhiềulàng xã tổ chức những cuộc mít tinh nhỏ hưởng ứng các cuộc đấu tranh ở BếnThuỷ và Hạnh Lâm Ngày 11/9/1930, nông dân nhiều làng xã lại biểu tình,tuần hành, thị uy.

1.2.2 Giai đoạn đỉnh cao

1.2.2.1 Sự kiện ngày 12 tháng 9 năm 1930

Trước tình hình cách mạng sôi sục khắp nơi, những người cộng sảnHưng Nguyên thấy cần phải phát động một cuộc đấu tranh quần chúng thậtmạnh mẽ để vừa phối hợp với các nơi, vừa tập dượt, thử thách lực lượng quầnchúng, đồng thời đòi kẻ địch phải giải quyết một số yêu cầu bức thiết của đờisống quần chúng

Ngày 6/9/1930, đồng chí Lê Xuân Đào chủ trì cuộc họp các chi bộ.Đồng chí Lê Doãn Sửu được Tỉnh uỷ cử về phụ trách, chỉ đạo Sau khi đãthảo luận mục đích, ý nghĩa cuộc biểu tình, khẩu hiệu đấu tranh và kế hoạchtiến hành, hội nghị đã phân công cụ thể cho từng chi bộ, từng đảng viên và cử

ra ban chỉ huy cuộc biểu tình gồm 3 người:

Đồng chí Nguyễn Ngọc Ngoạn - Tổng chỉ huy

Đồng chí Bùi Ngọc Quyến - Phó chỉ huy

Đồng chí Nguyễn Thị Phia - Tuyên truyền cổ động

Đây là cuộc biểu tình vũ trang Lực lượng huy động gồm quần chúng 3tổng: Phù Long, Thông Lạng và Nam Kim Theo kế hoạch, đoàn biểu tình tậpkết tại đình Xuân Hoà, kéo xuống ga Yên Xuân, rồi tiến về phủ lỵ HưngNguyên để đưa yêu sách cho tri phủ

Trang 25

Chủ trương về cuộc biểu tình được quần chúng khắp nơi nhiệt tìnhhưởng ứng, nô nức tham gia Mới 3 giờ sáng, từng đoàn, từng đoàn quầnchúng mang theo gậy gộc, dáo mác, dây thừng, cờ đỏ búa liềm rầm rập đổ vềđình Xuân Hoà Đoàn của các làng Long Xuyên, Xuân Trạch, Mai Sơn, ĐồngChâu cũng vượt sông từ đêm 11/9 bằng nốc đò của vạn nghĩa sơn, kịp sangtập kết Đoàn biểu tình hàng ngũ chỉnh tề rầm rộ kéo xuống ga Yên Xuân, bắttrói xếp ga, cắt đứt dây điện thoại để triệt đường liên lạc của địch ChịNguyễn Thị Phia đứng lên một mô đất cao để diễn thuyết Chị vạch trần tội áccủa kẻ thù đối với nhân dân ta, nói rõ chủ trương làm cách mạng của Đảng,

hô hào quần chúng nhân dân đứng lên đánh đuổi đế quốc Pháp, đánh đổphong kiến, giải phóng đất nước Toàn thể nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng.Nhiều bó truyền đơn được tung lên trên các toa tàu Tiếng vỗ tay, tiếng hôkhẩu hiệu vang lên như sấm dậy:

- Đả đảo đế quốc Pháp

- Đánh đổ Nam triều phong kiến

- Bỏ sưu, giảm thuế, chia ruộng đất cho dân cày nghèo!

Một đội lính kéo đến, bắn lên trời, đòi giải tán cuộc biểu tình nhưngđoàn biểu tình vẫn hàng ngũ chỉnh tề, hùng dũng tiến bước, không hề đếm xỉa

gì đến binh lính địch Trên đường đi, đoàn đã gặp đoàn của nhân dân tổngNam Kim, như kế hoạch đã định hai bên nhập làm một Toàn đoàn thẳng tiến

về phủ lỵ Hưng Nguyên, dọc theo đường Phù Xá, Thông Lạng, Hoàng Cần,Thái Lão Tới làng nào, đoàn cũng dừng lại diễn thuyết, cổ động, hô khẩuhiệu và vạch trần tội ác của địch, cảnh cáo một số tên tay sai gian ác của bọn

đế quốc thực dân Số người tham gia cuộc biểu tình mỗi lúc một đông thêm,đầu đoàn đã tới Phù Xá mà cuối đoàn vẫn còn ở ga Yên Xuân Mặc cho trờimưa mỗi lúc một nặng hạt, đoàn vẫn vững vàng tiến bước trong trật tự

Trang 26

Khi đoàn đến Thái Lão, máy bay Pháp từ sân bay Vinh bất ngờ nhàođến vừa bắn liên thanh, vừa ném bom bừa bãi xuống đoàn người biểu tình.Hàng trăm người đã ngã xuống, đoàn biểu tình phải giải tán giữa chừng.

Buổi chiều, khi nhân dân các làng xã ra khâm lượm và chôn cất nhữngngười hi sinh, máy bay Pháp lại đến ném bom, bắn giết một lần nữa Hàngchục người nữa lại ngã xuống Cả hai lần bọn chúng đã làm 217 người chết và

125 người bị thương

Tỉnh ủy lập tức phát động phong trào đấu tranh tiếp tục chống Pháp.Nhiều cuộc đấu tranh ở các nơi liên tiếp nổ ra lên án đế quốc Pháp và Namtriều bắn giết, tàn sát dã man nhân dân Hưng Nguyên

Ngay trong đêm 12/9/1930, 4000 nông dân hai tổng Bích Hào và VõLiệt (Thanh Chương) biểu tình phản đối cuộc khủng bố của đế quốc

Sáng 13/9/1930, công nhân các nhà máy ở Bến Thủy bãi công để phảnđối vụ thảm sát ở Hưng Nguyên

Cũng trong ngày 13/9, Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức lễ truy điệu các chiến

sỹ hi sinh trong cuộc biểu tình ở Hưng Nguyên tại chợ Cồn (Thanh Chương).Tham dự buổi lễ này có đại biểu Trung ương, đại biểu các xứ Trung, Nam,Bắc, đại biểu các phủ huyện trong tỉnh và trên hai vạn nông dân huyện ThanhChương trong đó có một ngàn đội viên đội tự vệ đỏ làm nhiệm vụ canh gác,

bảo vệ Dưới tấm băng đỏ mang dòng chữ “Truy điệu những chiến sỹ vô danh

đã hi sinh vì nhiệm vụ để bênh vực lợi quyền cho quần chúng lao khổ ở An Nam” và hàng trăm lá cờ búa liềm, mọi người cúi đầu tưởng niệm những

đồng bào, đồng chí đã hi sinh Sau đó, phong trào tổ chức lễ truy điệu cácchiến sỹ đã hi sinh ở Hưng Nguyên được tiến hành trọng thể ở nhiều huyệntrong hai tỉnh, tạo nên sự phản ứng quyết liệt trong các tầng lớp nhân dânNghệ Tĩnh đối với đế quốc Pháp và tay sai [6, tr45]

Báo Người lao khổ - cơ quan của Xứ ủy Trung Kì số ra ngày 18/9/1930

đã tường thuật cuộc đấu tranh của nhân dân Hưng Nguyên: “Tin cuộc thảm

Trang 27

sát sáng 12/9 ở gần phủ Hưng Nguyên truyền đến, thì tức khắc ngay trong đêm bữa đó, 5000 anh chị em nông dân Nam Đàn tụ họp biểu tình, sống chết với đế quốc Pháp để bênh vực cho những anh chị em bị hại Anh chị em phá cầu, triệt đường, rồi đánh trống, phất cờ tiến đến huyện Nam Đàn; ai nấy cũng đều một lòng căm thù đế quốc, tình nguyện đi chết với anh, chị em Hưng Nguyên Thái

độ can đảm, hi sinh lạ thường của anh chị em làm cho bọn chúng phải kinh sợ” [9, tr370 - 371].

Cuộc biểu tình ngày 12/9/1930 tuy bị đàn áp đẫm máu, nhưng đã chứngminh hùng hồn sức mạnh vùng lên to lớn của nhân dân lao động HưngNguyên, đặc biệt là của giai cấp nông dân, khi có sự lãnh đạo của Đảng cộngsản Sự đàn áp dã man của địch không những không làm cho nhân dân HưngNguyên run sợ, chùn bước, mà làm lòng căm thù của họ đối với đế quốc Phápcướp nước và phong kiến tay sai bán nước thêm sôi sục Ngọn lửa đấu tranhnhư được đổ thêm dầu ngày càng bốc cao, làm chấn động cả thế giới Cái mặt

nạ “khai hoá văn minh” của “mẫu quốc” đã phải vứt bỏ Bộ mặt thật dã mantàn bạo của thực dân Pháp đã bị phơi trần Chúng vô cùng hoảng sợ và hết sứclúng túng trước làn sóng cách mạng ngày càng dâng lên mãnh liệt đang làmcho nền thống trị của chúng rung chuyển

Cuộc biểu tình ngày 12/9/1930 đã đi vào lịch sử Hưng Nguyên và NghệTĩnh như một bản anh hùng ca bất diệt 12/9/1930 làm chấn động dư luậnquốc tế, làm cho thế giới hiểu rõ tại Đông Dương đang có biến cố chính trị.Ngày 12/9 đã trở thành ngày Xô viết Nghệ Tĩnh, ngày kỷ niệm của toànĐảng, toàn dân ta Nghĩa trang liệt sĩ Thái Lão đời đời nhắc nhở các thế hệcon cháu tên tuổi và khí phách anh hùng của 217 liệt sĩ ngày 12/9/1930

Như vậy, phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh diễn ra sôi nổi, quyết liệt,mạnh mẽ ở Hưng Nguyên đã hòa cùng phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh khắpcác huyện khác trong tỉnh Nhưng qua diễn biến của phong trào chúng ta thấy

rõ điểm nổi bật, nét khác biệt của Hưng Nguyên Phong trào Xô viết Nghệ

Trang 28

-Tĩnh ở Hưng Nguyên với lực luượng đấu tranh chính là giai cấp nông dân vàgiai cấp công nhân, trong phong trào khối liên minh công - nông đã được hìnhthành, liên kết bền chặt

1.2.2.2 Sự ra đời của các chính quyền Xô viết xã thôn

Sau cuộc biểu tình ngày 12/9/1930, được Tỉnh uỷ Vinh - Bến Thuỷ uỷnhiệm, đồng chí Vương Thúc Kỳ (tức Quýnh) - Bí thư Huyện uỷ Nam Đàn vềtriệu tập hội nghị cán bộ ở Hưng Nguyên gồm đại biểu 5 tổng: Nam Kim(Nam Đàn), Phù Long, Thông Lạng, Văn Viên, Đô Yên Cuộc họp bàn kếhoạch ổn định lại tình hình, giúp đỡ các gia đình bị nạn và bàn kế hoạch tiếptục đấu tranh Chỉ trong một thời gian ngắn, tình hình được ổn định, phongtrào cách mạng lại trỗi dậy Các cơ sở Đảng và quần chúng được củng cố vàphát triển Đã đến lúc phải có một cấp bộ lãnh đạo thống nhất trên toàn lãnhthổ Để rồi sau Hội nghị đại biểu các chi bộ tại Phù Xá (10/1930), Phủ uỷ lâmthời Hưng Nguyên được thành lập

Sau khi được thành lập, Phủ uỷ đã chia nhau về các chi bộ, các cơ sởchỉ đạo phong trào, quyết không lùi bước Từ đó, phong trào cách mạng lạitiếp tục bùng lên sâu rộng, mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, hình thành một thếtrận mới dồn dập tấn công đối phương về nhiều mặt: chính trị, kinh tế, quânsự… tiến lên đỉnh cao từ tháng 10/1930 đến tháng 4/1931, làm rung chuyểntoàn bộ bộ máy cai trị của nhà cầm quyền ở đây

Trước ngày 12/9/1930, có 6 cuộc đấu tranh, thì từ đó đến tháng 5/1931

có tới 92 cuộc, trong đó tháng 10/1930 có 15 cuộc, tháng 2/1931 có 12 cuộc,tháng 4/1931 có 17 cuộc…

Trước ngày 12/9/1930, phong trào nổi lên chủ yếu ở Phù Long, ThôngLạng, Yên Trường và Nam Kim (Nam Đàn); sau đó đã lan rộng thêm đến ĐôYên, Văn Viên, Hải Đô, gồm trên 80 làng xã Giáo viên, học sinh các trườngtrong toàn phủ cùng bãi khoá hưởng ứng phong trào cách mạng của côngnông, đồng thời đòi thực hiện các quyền tự do, dân chủ trong nhà trường

Trang 29

Nội dung các cuộc đấu tranh đã kết hợp chính trị với kinh tế, với vũtrang thị uy, trấn áp địch… nên quần chúng khắp nơi càng hăng hái, sôi nổitham gia Từ tháng 10/1930, đã nổ ra 37 cuộc đấu tranh kinh tế ở nhiều làng

xã đòi cường hào, địa chủ trả lại các loại thóc, tiền…ruộng đất công họ chiếmdụng, đem chia cho dân cày nghèo

Các cuộc đấu tranh vũ trang liên tiếp nổ ra: ngày 11/10/1930 và07/11/1930, tự vệ và nông dân Phúc Hậu, Yên Thái, Long Giang, Nghĩa Liệt,Dương Xá đón đánh hai toán lính Tây và lê dương ở cầu Yên Xuân; tháng4/1931, nhân dân Phù Long mấy lần đón đánh binh lính hoặc đi phá đồn Cáccuộc tuần hành thị uy của các đội tự vệ đã hạn chế được hoạt động của binhlính các đồn, vừa trấn áp được bọn mật thám và tay sai

Các đòn tiến công quyết liệt và dồn dập của phong trào cách mạng vàođối phương đã hình thành nên thế trận mới: phe cách mạng tiến công, nhàcầm quyền Pháp và Nam triều bị động đối phó Thế trận này đã làm rungchuyển toàn bộ bộ máy cai trị của nhà cầm quyền ở đây và đưa tới sự ra đời

của chính quyền Xô viết xã thôn Báo Công luận 23/9/1930 và báo cáo của

Rô-banh, toàn quyền Đông Dương thú nhận: “Hầu hết tổng lý theo phe loạn(tức phe cách mạng) Hội tề không trả lời mệnh lệnh của cấp trên Các quanlại thì không còn uy tín gì nữa… Cộng sản đã thành lập các Xô viết hươngthôn…”

Ở các nơi như Hoàng Cần, Dương Xá, Thông Lạng, Phúc Mỹ, KhánhSơn, Lộc Điền, Yên Dũng, Cự Thôn… bộ máy hào lý hoàn toàn tê liệt, tan rã.Các thôn bộ, xã bộ nông hội Đỏ công khai đứng ra giải quyết mọi công việcnhư một chính quyền cách mạng, dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Đảng Họvận động quần chúng thực hiện các khẩu hiệu của Đảng nhằm xây dựng một

xã hội mới theo hình ảnh nước Nga mà họ đã cảm nhận được qua truyền đơn,sách báo của Đảng

Trang 30

Trong vòng chưa đầy 8 tháng, dưới sự chỉ đạo của Xứ uỷ và Tỉnh uỷ,Phủ uỷ Hưng Nguyên đã lãnh đạo các Xô viết đứng vững và thu được một sốthành quả quan trọng, rất có ý nghĩa:

Về chính trị: Lần đầu tiên trong lịch sử, người nông dân từng bị áp bức,

bóc lột, khinh rẻ được đứng ra giải quyết công việc của xã hội, của đời sốngchính mình với tư cách người chủ Dưới chính quyền Xô viết, mọi luật lệ của

đế quốc phong kiến bị xoá bỏ, quyền tự do dân chủ của nhân dân được ban

bố Quần chúng, nữ cũng như nam được tự do và bình đẳng tham gia các đoànthể cách mạng: 4450 nông dân đã trở thành Hội viên nông hội đỏ, lập thành

12 xã bộ, 76 thôn bộ, 150 thanh niên trở thành đoàn viên thanh niên cộng sảnĐoàn trong 14 tổ; 948 phụ nữ thành hội viên Hội phụ nữ giải phóng gồm 42

tổ Ngoài ra còn có 6 tổ cứu tế đỏ gồm 86 hội viên…

Mọi người được tự do hội họp, tự do thảo luận mọi công việc của xãhội Mọi người tự do xem truyền đơn, sách báo cách mạng, tự do nghe, diễnthuyết về cách mạng… Họ chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của “xã hội”

và sẵn sàng hi sinh tính mạng, tài sản vì “xã hội” Cán bộ, đảng viên say sưalao vào công việc của “xã hội”, quên cả việc nhà, quên cả mệt nhọc Chị emphụ nữ cũng “phá bỏ xiềng xích nô lệ giam hãm đàn bà xưa nay mà ra vai dựcuộc đấu tranh”

Về kinh tế: khắp nơi khẩn trương chấp hành chủ trương của Phủ uỷ

trong việc thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng và đã giành được thắnglợi to lớn: Dương Xá 250 mẫu ruộng đất công, Lộc Điền, Khánh Sơn mỗi nơi

180 mẫu, Đức Quang 123 mẫu, Yên Thái 81 mẫu… Tổng số ruộng đất côngthu hồi được là 1364 mẫu Nơi nhiều diện tích thì chia cho dân đinh, ngườinghèo được chia nhiều hơn, nơi ít diện tích thì cày chung Thật khó mà miêu

tả hết được nỗi sung sướng đến bàng hoàng của người nông dân khi đượccách mạng đem lại ruộng đất cho họ Được cày cấy trên mảnh đất thực sự củamình mà họ cứ tưởng như trong mơ Đó chính là sức mạnh đã gắn bó người

Trang 31

nông dân Hưng Nguyên với Đảng, với giai cấp công nhân ngay từ khi mớigặp Đảng Cũng vì lẽ đó nên ruộng đất là một trong những thành quả củachính quyền Xô viết được bảo vệ bền chắc nhất.

Cùng với việc thực hiện chính sách ruộng đất, nhiều nơi đã tịch thucác công quỹ như: “nghĩa thương, tuần sương, hoa ngư lạc túc”, cáckhoản do hào lý tham nhũng, phù thu lạm bổ… đem chia cho dân Long

Cù tịch thu được 2900 quan tiền; Yên Dũng 22 tạ thóc, 2200 quan tiền;Hoàng Cần, Phan Thôn, Phúc Mỹ mỗi nơi được 150 tạ… tất cả được đemchia cho dân cày nghèo

Đầu năm 1931, để giải quyết nạn đói trầm trọng, Phủ uỷ đã kịp thời đề

ra chủ trương phát động nông dân “vay lúa nhà giàu” Các chi bộ Đảng vànông hội đã lãnh đạo quần chúng đấu tranh với 77 địa chủ, 16 phú nông, lấyđược 773 tạ thóc, 24 tạ khoai và 16.450 quan tiền đem phân phát cho dân kịpthời chống đói và giúp đỡ những người bị nạn, những gia đình bị địch đốt phánhà cửa

Về sưu thuế, ở một số làng xã hào lý chưa nạp lên quan trên thì nhândân đấu tranh đòi họ phải trả lại cho dân, không được đem đi nạp Các thứthuế chợ, thuế đò… đều bị bãi bỏ Một số nơi đã xoá bỏ tô phụ như các lễ tết,

lễ mừng, lễ làm công không cho địa chủ… Đối với nợ nần của nông dân thìnông hội vận động đấu tranh đòi giảm lãi suất xuống 3%, có nơi đòi xoá nợ,đốt hết khế tự Đối với người đi ở, nông hội buộc các nhà chủ không được bắtxay lúa, giã gạo ban đêm, để anh chị em tự do đi dự các cuộc hội họp, míttinh, biểu tình, học chữ quốc ngữ…

Về quân sự: Thực hiện chủ trương của cấp trên, Phủ uỷ đã lãnh đạo

xây dựng các đội tự vệ đỏ (còn gọi là xích vệ) Nhiều làng xã đã tổ chứcđược đội tự vệ từ 30 đến 80 đội viên Mỗi đội có một ban chỉ huy, có đảngviên phụ trách do chi bộ cử, nơi chưa có chi bộ thì nông hội cử người phụtrách Tổng số có 49 đội tự vệ gồm 699 đội viên Nhiệm vụ của tự vệ thời

Trang 32

gian đầu là bảo vệ cơ quan, bảo vệ các cuộc họp, giữ trật tự trong các cuộcbiểu tình, mít tinh Khi địch khủng bố, tự vệ làm nhiệm vụ đi tiên phongtrong các cuộc biểu tình, đấu tranh của quần chúng, trấn áp bọn mật thám,phản động Trong khoảng 8 - 9 tháng (từ tháng 9/1930 đến tháng 5/1931),các đội tự vệ đã kết hợp với bạo lực chính trị của quần chúng tiến hành 54

vụ trấn áp, trừng trị 16 tên mật thám tay sai, 8 tên bang tá, chánh đoàn phu,

2 tên cai phó tổng phản động, làm chúng khiếp sợ phải chùn tay Một sốnơi, các đội tự vệ đã tổ chức các cuộc tập kích, phục kích địch đi tuần nhưcác trận ở cầu Yên Xuân, đồng Đồng Lợi…

Về sau, khi quân địch lập lại được bộ máy hào lý, một số nơi thực hiệnchủ trương của Đảng đã kịp thời lựa chọn những đội viên trung kiên, bí mật

bố trí vào các tổ chức phu đoàn của địch để làm nội ứng cho cách mạng

Về văn hoá - giáo dục: Đi đôi với việc giáo dục, giác ngộ chính trị, Phủ

uỷ chủ trương mở các lớp học chữ quốc ngữ, nâng cao dân trí, đồng thời vậnđộng cải cách phong tục tập quán Ở nhiều làng xã, chi bộ, nông hội đứng ra

tổ chức các lớp học, chọn thầy, vận động hội viên Các lớp thường được tổchức vào buổi trưa, tối theo từng nhóm 5-7 người, do những người biết chữtrong làng dạy Mọi người học đều được cấp giấy, bút, mực Có nơi số ngườihọc khá đông và có nề nếp như: Phù Xá có 70 học viên, Yên Dũng 75 họcviên, Đức Thịnh, Lộc Điền, Long Cù mỗi nơi 40 học viên… Thống kê trong

26 làng đã có 75 lớp gồm 690 học viên, 54 người dạy Nhờ có phong trào họcquốc ngữ, nhiều người đã biết đọc, biết viết, xem truyền đơn, đọc sách báo,đọc viết các khẩu hiệu của Đảng

Để giải phóng quần chúng khỏi vòng trói buộc của đồi phong, bãi tụcphong kiến, Phủ uỷ đã chỉ đạo các chi bộ, nông hội tích cực vận động cải cáchphong tục tập quán ở nông thôn như bài trừ nạn cờ bạc, rượu chè, bói toán,vận động bỏ váy mặc quần, bỏ đeo vòng khuyên…

Trang 33

Từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo, phong trào cáchmạng của nông dân và các tầng lớp nhân dân Hưng Nguyên đã nhanh chóngchuyển lên cao trào và dẫn đến việc thiết lập nên chính quyền Xô viết ở nhiềuthôn xã Với những thành quả thiết thực, khá toàn diện, chính quyền Xô viết

đã đứng vững trong 8 - 9 tháng giữa một hệ thống đồn bốt dày đặc, nằm sátnách trung tâm đầu não của bọn thống trị cấp tỉnh Trong lịch sử chống ngoạixâm, chống áp bức bóc lột, đây là lần đầu tiên hàng vạn công nông HưngNguyên từ kiếp nô lệ vùng lên giành được chính quyền về tay mình và giữđược chính quyền trong một thời gian khá dài Có thể nói, đây là cuộc tậpdượt quy mô lớn về giành và giữ chính quyền

1.2.3 Giai đoạn thoái trào

Nhận được báo cáo về việc thành lập chính quyền Xô viết ở một sốhuyện trong tỉnh Nghệ An, tháng 9/1930, Trung ương Đảng gửi ngay chỉ thịphê bình Xứ ủy Trung Kỳ làm như vậy là quá sớm, không đúng thời cơ, vìtrong cả nước chưa có tình thế cách mạng trực tiếp Đồng thời trung uqoqngĐảng cũng góp ý kiến cho Xứ ủy Trung Kỳ phải làm thế nào để duy trì đượcảnh hưởng của Đảng và chính quyền Xô viết trong quần chúng nhân dân; uốnnắn một số sai sót trong việc tổ chức biểu tình và chia ruộng đất công…

Chỉ thị này của Trung ương Đảng đã kịp thời giúp xứ ủy Trung Kỳ vàcác Đảng bộ Nghệ An và Hà Tĩnh sửa chữa những thiếu sót trong việc chỉ đạophong trào

Trong tháng 10/1930, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra thông cáocho toàn Đảng biết rõ tình hình ấy Bản thông cáo nhắc nhở các địa phươngphải lấy việc xảy ra ở Nghệ An làm kinh nghiệm để vận động quần chúng,nhất là quần chúng nông dân, cho đúng với nhiệm vụ chính trị của Đảng.Cuối cùng, Trung ương chỉ thị cho toàn Đảng phải hết sức vận động quầnchúng đấu tranh chống khủng bố trắng của đế quốc Pháp để ủng hộ Nghệ -Tĩnh đỏ

Trang 34

Sau chỉ thị đó của Ban chấp hành Trung ương Đảng, cuối năm 1930 đầu năm 1931, hạn hán mất mùa nặng, nạn đói xẩy ra nghiêm trọng Chủnghĩa tư bản lâm vào một cuộc khủng hoảng hết sức trầm trọng, hậu quả trút

-cả lên đầu nhân dân ta

Trước cao trào cách mạng đang dâng lên cuồn cuộn là ở Nghệ Tĩnh Đếquốc Pháp phần nào được rảnh tay ở các nơi khác nên có điều kiện tập trunglực lượng đàn áp khốc liệt phong trào Nghệ Tĩnh nói chung và Hưng Nguyênnói riêng Chúng đưa thêm những tên tay sai mới khét tiếng gian ác về chốngphá phong trào cách mạng Nghệ An: tên Nguyễn Khoa Kỳ làm tổng đốc Nghệ

An, tên Tôn Thất Đính làm tri phủ Hưng Nguyên, tên Tôn Thất Đàn, thượngthư bộ hình từ triều đình Huế, tức tốc ra Nghệ Tĩnh để trổ tài khuyển mã

Chúng tăng cường mật thám hỗ trợ cho bộ máy hào lý ở hương thônđang hoang mang, rệu rã trước sức tấn công kịch liệt của phong trào quầnchúng cách mạng Vừa đàn áp khủng bố, vừa lừa bịp dụ dỗ, chúng còn tăngcường hệ thống đồn bốt nhằm ngăn chặn và dập tắt phong trào cách mạng củaquần chúng đang lên Tháng 6/1930 mới có một bốt Tây đóng ở Lộc Đa thìđến tháng 10/1930, chúng đã bố trí cả một hệ thống đồn bốt dày đặc ở HưngNguyên Đến đầu năm 1931 số bốt lên đến 14 cái Riêng ở tổng Phù Long,chúng đóng đến 4 đồn, trong đó 2 đồn do sĩ quan Pháp trực tiếp chỉ huy Đãthế, chúng lại chuyển đổi binh lính Nghệ Tĩnh đi nơi khác, đưa binh lính cácnơi về Nghệ Tĩnh, hòng phá thế liên minh giữa công nông và binh lính, gây rachia rẽ giữa các vùng trong nước

Ngày 6/10/1930, hai làng Yên Phú, Yên Thọ gồm 400 nóc nhà dân bịbinh lính về đốt trụi, hàng trăm gia đình phải sống trong cảnh màn trời chiếuđất, đói rét, cực khổ…

Tình hình phát triển nhanh chóng, có tính chất đột biến của phong tràocách mạng ở Nghệ Tĩnh và việc nhà cầm quyền thi hành chính sách khủng bốtrắng ở đây, đã được Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam theo dõi sát, đồng

Trang 35

thời trung ương đã có những nhận định hết sức sáng suốt và đưa ra những chỉdẫn uốn nắn kịp thời, cụ thể nhằm hạn chế bớt khó khăn, tổn thất, bảo vệ vàduy trì được phong trào và cơ sở cách mạng, bảo vệ được những thành quảcủa chính quyền Xô viết.

Tiếp thu các chỉ thị của cấp trên, vận dụng tình hình, đặc điểm địaphương, Phủ uỷ đã đề ra những biện pháp uốn nắn phong trào đấu tranh củaquần chúng, mở rộng phong trào ra đồng đều hơn và đưa phong trào đi vàochiều sâu, nhằm giành lại những quyền lợi thiết thực hàng ngày của quầnchúng như: đòi lại những khoản tiền của hào lý nhũng lạm, chia lại ruộng đấtcông cứu đói… Từ đó mà tập hợp được đông đảo lực lượng quần chúng đitheo cách mạng Về quy mô và hình thức đấu tranh, Phủ uỷ chủ trương tổchức những cuộc mít tinh, biểu tình nhỏ để vừa có tác dụng giáo dục, độngviên sâu rộng, vừa tránh được sự khủng bố đàn áp của địch, hạn chế nhữngcuộc tập trung quần chúng quá đông và ồ ạt không cần thiết

Phủ uỷ cũng chủ trương dùng hình thức toà án cách mạng xét xử vàtrừng trị một số tên tay sai, mật thám nguy hiểm để thị uy, trấn áp kẻ địch,bảo vệ cơ sở và phong trào; xử tội một vài tên lợi dụng danh nghĩa cộng sản

đi cướp bóc, doạ nạt quần chúng, để quần chúng khỏi hiểu lầm cách mạng.Đối với bọn a tòng tay chân ít nguy hiểm thì giáo dục, giác ngộ, buộc phải hốicải Phủ uỷ lại đề ra tổ chức tự vệ đỏ để bảo vệ cơ quan, bảo vệ quần chúngtrong đấu tranh, đồng thời kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị,tạo thành áp lực mạnh buộc kẻ địch phải thực hiện những yêu sách của ta

Giữa lúc đó, Xứ uỷ Trung Kỳ và Tỉnh uỷ đề ra chủ trương thanh Đảng:

“… Đuổi sạch sành sanh ra ngoài hết thảy trí, phú, địa, hào…”

Tháng 1/1931, Tỉnh uỷ điều động Lê Xuân Đào, Nguyễn Thị Phia đicông tác khác, đưa 2 huyện uỷ viên Nam Đàn tạm thay và đến tháng 5/1931thì tổ chức bầu lại Phủ uỷ Hưng Nguyên gồm các đồng chí:

1 Võ Trọng Nhỏ (tức Kế) ở Phù Xá - Bí thư

Trang 36

2 Nguyễn Ngọc Ngoạn (tức Tân) ở Xuân Hoà - Phó bí thư

3 Lê Viện (tức Sơn Hải) ở Phúc Mỹ - Phủ uỷ viên

4 Hoàng Em (tức Cầm) ở Phúc Mỹ - Phủ uỷ viên

5 Nguyễn Ngô Dật (tức Thuỷ) ở Phúc Mỹ - Phủ uỷ viên

Chủ trương thanh Đảng chưa thật chính xác đã làm cho một bộ phậnđảng viên hoang mang, dao động Tình trạng đó ảnh hưởng xấu đến phongtrào cách mạng

Thời gian này, nhà cầm quyền bắt đầu phản kích phong trào cáchmạng, tăng cường đàn áp khủng bố khốc liệt hơn nữa Binh lính các đồn đilùng sục ráo riết, bắn giết bừa bãi không cần xét xử Một đoàn “liêm phóng”gồm những tên mật thám sành sỏi ở các nơi được đưa về Vinh Hai Sở mậtthám Nghệ An, Hà Tĩnh đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Sở mật thámBắc kỳ và Trung kỳ Đế quốc Pháp còn bày thêm những trò như: “Hội đồngđại hào mục”, “Hội đồng tộc biểu”… để tập hợp lực lượng “dẹp loạn cộngsản” Bọn phản động đội lốt thiên chúa giáo cũng kích động giáo dân chốnglại cách mạng Bộ máy hào lý những nơi đã bị quần chúng đánh đổ dần dầnhoạt động trở lại Những địa chủ, cường hào bị đấu tranh trước đó tìm cách trảthù đảng viên và quần chúng cách mạng

Nhiều cán bộ, đảng viên bị bắn giết, nhiều người bị bắt đi tù đày biệt

xứ, một số thiếu kiên định chịu nằm im hoặc ra đầu thú Số cán bộ mới tuynhiệt tình, có quyết tâm cách mạng, nhưng thiếu kinh nghiệm chỉ đạophong trào và che dấu lực lượng, nên các cơ sở đảng ngày càng bị phá vỡnghiêm trọng Từ tháng 6/1930 đến cuối tháng 8/1931, toàn bộ Phủ uỷ lầnlượt bị bắt, 10 Bí thư chi bộ và hơn 1/2 số đảng viên hi sinh hoặc bị bắt.Các chi bộ lần lượt bị tan vỡ Nhiều cán bộ Nông hội, Thanh niên, tự vệcũng hi sinh hoặc bị bắt

Trang 37

Phong trào quần chúng thiếu lãnh đạo, xuống dần và đến đầu tháng9/1931 thì hầu như tan rã, chỉ còn một vài nơi hoạt động lẻ tẻ đến đầunăm 1932.

Tiểu kết chương 1

Hưng Nguyên là một huyện đồng bằng, có đồng rộng, sông sâu, có núiđồi xen kẽ tạo nên một vùng quê đa dạng về duyên cách địa lý, hiểm thế vềquân sự, thuận lợi về giao thông, phong phú về kinh tế Nhưng dưới chế độphong kiến thực dân, Hưng Nguyên vẫn là một vùng quê với nền kinh tế tựcung tự cấp manh mún, lạc hậu Vì thế người dân ở đây phải chịu đựng muônvàn khó khăn, gian khổ, phải vật lộn với thiên tai khắc nghiệt, đấu tranh quyếtliệt chống mọi thế lực đè nén, áp bức để tồn tại và phát triển Trong quá trìnhđấu tranh ấy con người Hưng Nguyên đã không ngừng sáng tạo để hun đúccho mình những phẩm chất cao quý

Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhất là từ khi nhân dânđược tiếp thu tư tưởng cách mạng tiến bộ của Nguyễn Ái Quốc thì phong tràođấu tranh của quần chúng nhân dân lên cao Trước tình hình đó, đòi hỏi phải

có một tổ chức cách mạng tiến bộ để lãnh đạo phong trào

Trước yêu cầu của Lịch sử, mùa xuân năm 1930 Đảng Cộng sản ViệtNam ra đời đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng sâu sắc về giai cấp lãnh đạo vàđường lối cứu nước ở nước ta Dưới sự lãnh đạo của Đảng phong trào đấutranh diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ, đều khắp mà điển hình nhất là cao trào XôViết Nghệ - Tĩnh

Mặc dù cuối cùng bị địch khủng bố, đàn áp hết sức dã man nhưngphong trào cách mạng 1930 – 1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh đã đểlại cho chúng ta những bài học vô cùng sâu sắc, cả những bài học thành cônglẫn những bài học chưa thành công

Trang 38

CHƯƠNG 2 PHONG TRÀO CÁCH MẠNG Ở HƯNG NGUYÊN

TỪ NĂM 1932 ĐẾN NĂM 1945

2.1 Đấu tranh phục hồi lực lượng cách mạng 1932 - 1935

Chúng ta biết rằng sau khi phá vỡ cơ sở Đảng và dập tắt phong tràocách mạng ở Hưng Nguyên, các thế lực phản cách mạng cấu kết với nhauđiên cuồng đàn áp, thực hiện âm mưu xóa sạch những thành quả cách mạngtrong thời kỳ 1930- 1931 Nơi đâu chúng cũng cho lính lùng sục bắt bớ, tratấn, giam cầm Các đồn bang tá ngày càng chật ních những người cộng sản và

cả những người dân vô tội Ở nhiều “làng đỏ”, chúng cho đốn tận gốc các bờtre, cây cổ thụ để dễ kiểm soát Chúng cố tình gây cho nông thôn HưngNguyên một không khí hoang vắng, rùng rợn Đêm đêm, trong các xóm làngkhông ngớt tiếng súng bắn chỉ thiên, tiếng mõ cầm canh, tiếng bước chân củaTây và lính đồn đi lùng sục

Với những chính sách, thủ đoạn đó của thực dân Pháp đã dẫn tới sựthay đổi trong thái độ chính trị của các giai cấp ở Việt Nam

Giai cấp địa chủ phong kiến, đặc biệt là bọn đại địa chủ quan lại đượcPháp ban cho phẩm hàm chức tước này nọ, bọn phản động nấp trong hàngngũ cha cố ở Nhà Chung xã Đoài thì trước sau vẫn ôm chân đế quốc Pháp đểtiếp tục bóc lột nhân dân, đàn áp cách mạng

Giai cấp tư sản thì chán nản, đầu hàng, tiêu cực

Giai cấp tiểu tư sản thì hoang mang, dao động, căm ghét thực dân Phápnhưng cũng kém phần tin tưởng vào cách mạng

Còn giai cấp công nhân và nông dân, người trực tiếp gánh chịu lớnnhất, nặng nề nhất hậu quả của chính sách bóc lột, khủng bố, tàn sát dã mancủa thực dân Pháp và tay sai rất uất ức căm ghét kẻ thù

Trang 39

Như vậy, tình hình phong trào lúc này rất bi đát Nhưng cán bộ, đảngviên và quần chúng cách mạng ở Hưng Nguyên bị giam cầm trong các nhà tù

đế quốc, trừ một số ít đầu hàng, thoái hóa còn hầu hết họ vẫn hy vọng ở ngàymai, vẫn giữ vững chí khí cách mạng, kiên trì đấu tranh vượt lên mọi nguyhiểm, gian lao, rèn luyện, học tập, tìm cách liên hệ với bên ngoài nhận tin tứcchờ ngày vượt ngục trở về xây dựng lại phong trào cách mạng Với niềm tin,khí tiết và đạo đức cách mạng của các chiến sỹ cộng sản, việc đấu tranh với

đế quốc trong lao ngục vẫn diễn ra thường xuyên với nhiều hình thức Cũng

từ trong lao tù, nhiều gương sáng nổi lên đã gây được ảnh hưởng tốt đẹp đếncác đồng chí khác và có ý nghĩa to lớn trong quá trình chuẩn bị khôi phục tổchức Đảng ở Hưng Nguyên Trong Đảng bộ, nhiều đồng chí như Võ TrọngCánh, Lê Xuân Đào, Nguyễn Hữu Lễ, Phan Văn Lương, Hoàng Viện, VõTrọng Ân… là những đảng viên tiêu biểu cho chí kiên trung, cho khí tiết anhhùng của người cộng sản

Khi bị địch bắt tra tấn, đồng chí Võ Trọng Cánh - người đảng viên chỉhuy cuộc đấu tranh của nông dân với tập đoàn địa chủ Trung Mưu đã nóithẳng vào mặt kẻ thù rằng: “chúng tao tổ chức ra đảng để hoạt động cho dân,không phải để khai cho chúng mày” Cuối cùng không khai thác được gì,chúng đã đem đồng chí ra xử bắn ngày 2/4/1931 Đồng chí Lê Xuân Đào trênđường đi công tác cho xứ uỷ Trung Kỳ ngày 27/3/1932 bị địch vây bắt ởChùa Kẻ Trẹ - Đôn Nhượng (Hưng Đạo hiện nay) Mặc dầu chỉ có một mình,đồng chí đã dùng súng cá nhân kháng cự kịch liệt cả với lũ giặc có đủ súngđạn, không chịu để chúng bắt Cuối cùng đồng chí đã anh dũng hi sinh trướcmũi súng của quân thù Đồng chí Nguyễn Hữu Lễ - đảng viên thuộc chi bộLong Cù, xuất thân từ một gia đình nông dân theo đạo thiên chúa, bị địch đem

ra xử bắn ngày 30/3/1931 Bọn giặc đã bày trò cho cha cố đến rửa tội, đồngchí Lễ đã nói thẳng: “Chúng tôi là những người yêu nước, thương nòi, không

có tội gì mà rửa, ông muốn rửa tội thì đi rửa cho quân cướp nước và bán

Trang 40

nước” Trước giây phút bị xử bắn, đồng chí đã hô to khẩu hiệu “Đảng cộngsản Đông Dương muôn năm” Đồng chí Phan Văn Lương, đảng viên thuộcchi bộ Hải Quận (Hưng Trung ngày nay) cũng xuất thân từ một gia đình nôngdân theo đạo thiên chúa Bị giặc bắt và tra tấn hết sức dã man, đồng chí không

hề khai báo nửa lời mà còn mắng nhiếc quân giặc cướp nước và lũ tay sai bánnước, đồng chí đã bình thản và anh dũng hi sinh trước mũi súng quân thù

Các đồng chí Hoàng Viện, phủ uỷ viên, đảng viên thuộc chi bộ PhúcMỹ; Võ Trọng Ân, thuộc chi bộ Phù Xá là những người sớm giác ngộ cáchmạng, mặc dù phải vào tù ra tội nhiều lần, các đồng chí vẫn một lòng trungkiên, bất khuất, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng vì dân, vì nước, vì lý tưởngcộng sản

Những tấm gương sáng của các đảng viên tiêu biểu, đấu tranh bấtkhuất, dũng cảm hi sinh đã có tác dụng to lớn nung nấu chí căm thù giặc,củng cố và nâng cao lòng tin vào Đảng, vào cách mạng trong quần chúngnhân dân

Trong nhà tù, trại giam, các cuộc đấu tranh của chính trị phạm cộng sảnliên tiếp nổ ra dưới nhiều hình thức như tuyệt thực, làm “reo” không đi hànhdịch… Nhiều đồng chí như Nguyễn Ngô Dật, Võ Trọng Ân, Hoàng Em, LêViện… đã cùng các đồng chí khác lập ra chi bộ Đảng nhà tù, tổ chức viết báo,làm thơ học tập văn hoá, chính trị, trao đổi kinh nghiệm… chuẩn bị cho cuộcđấu tranh sau khi ra tù “biến cái rủi thành cái may” Các đồng chí đã biến nhà

tù đế quốc thành trường học cách mạng Nhờ vậy, khi được ra tù, tuy còn bịquản thúc, kiểm soát nghiêm ngặt và có khi chưa bắt được liên lạc với Đảng,nhiều cán bộ, đảng viên và quần chúng trung kiên đã tìm cách gặp lại các cơ

sở cũ qua các đám tang, lễ cưới, ngày giỗ, ngày tết… Họ thăm dò, tìm hiểu lạinhau, cùng nhau trao đổi tình hình thời cuộc và cùng nhau hứa hẹn tiếp tụchoạt động

Ngày đăng: 18/12/2013, 21:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam Huyện Hưng Nguyên (2000), Lịch sử Đảng bộ huyện Hưng Nguyên (1930 - 1945), Tập 1, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Hưng Nguyên (1930 - 1945)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam Huyện Hưng Nguyên
Nhà XB: NxbNghệ An
Năm: 2000
2. Ban chấp hành Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam Huyện Hưng Nguyên (2008), Lịch sử Đảng bộ huyện Hưng Nguyên (1945 - 2005), Tập 2, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Hưng Nguyên (1945 - 2005)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam Huyện Hưng Nguyên
Nhà XB: NxbNghệ An
Năm: 2008
3. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2010), Nghệ An những tấm gương cộng sản, Tập3, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An những tấm gươngcộng sản
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
4. Hội nông dân tỉnh Nghệ An (1997), Lịch sử phong trào nông dân Nghệ An (1929 - 1997), Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phong trào nông dân Nghệ An(1929 - 1997)
Tác giả: Hội nông dân tỉnh Nghệ An
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 1997
5. BNCLS Đảng tỉnh ủy Nghệ Tĩnh (1987), Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ An, Sơ thảo Tập 1 (1925-1954), Nxb Nghệ An, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sảnViệt Nam tỉnh Nghệ An
Tác giả: BNCLS Đảng tỉnh ủy Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 1987
6. BNCLS Đảng tỉnh ủy Nghệ Tĩnh (1981), Những sự kiện lịch sử của Đảng bộ Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ Tĩnh, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những sự kiện lịch sử của Đảngbộ Nghệ Tĩnh
Tác giả: BNCLS Đảng tỉnh ủy Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nxb Nghệ Tĩnh
Năm: 1981
7. BNCLS Đảng Trung Ương (1967), Tìm hiểu Cách mạng Tháng Tám, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Cách mạng Tháng Tám
Tác giả: BNCLS Đảng Trung Ương
Nhà XB: NxbSự thật
Năm: 1967
8. BNCLS Đảng Trung Ương (1971), Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Tác giả: BNCLS Đảng Trung Ương
Nhà XB: NxbSự thật
Năm: 1971
9. BNCLS Tỉnh Nghệ Tĩnh (1984), Lịch sử Nghệ Tĩnh, Tập 1, Nxb Nghệ Tĩnh, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nghệ Tĩnh
Tác giả: BNCLS Tỉnh Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nxb NghệTĩnh
Năm: 1984
10. BNCLS Đảng Tỉnh ủy Nghệ An (1966), Cách mạng Tháng Tám 1939- 1945, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng Tháng Tám 1939-1945
Tác giả: BNCLS Đảng Tỉnh ủy Nghệ An
Năm: 1966
11. BNCLS Đảng Tỉnh ủy Nghệ An, Văn kiện Đảng bộ Nghệ An 1939- 1945, Lệnh khởi nghĩa của ủy ban khởi nghĩa Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng bộ Nghệ An 1939- 1945
12. BNCLS và địa lý Nghệ Tĩnh (1985), Nghệ Tĩnh 40 năm sự kiện và con số, Nxb Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ Tĩnh 40 năm sự kiện và con số
Tác giả: BNCLS và địa lý Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nxb Nghệ Tĩnh
Năm: 1985
13. Ban nghiên cứu Văn Sử Địa (1957), Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạngcận đại Việt Nam
Tác giả: Ban nghiên cứu Văn Sử Địa
Nhà XB: Nxb Văn Sử Địa
Năm: 1957
14. Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Nghệ An, tiểu ban nghiên cứu lịch sử Đảng (2000), Nghệ An đỏ, Hồi ký, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An đỏ
Tác giả: Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Nghệ An, tiểu ban nghiên cứu lịch sử Đảng
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2000
16. Trường Chinh (1974), Cách mạng Tháng Tám Việt Nam, Nxb Sự Thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng Tháng Tám Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Sự Thật Hà Nội
Năm: 1974
17. Trường Chinh (1975), Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1975
18. Báo Kháng địch, số 1, ra ngày 15/6/1945, Phông tư liệu Sưu tập sách, báo, truyền đơn của Đảng 1925 – 1945, Kho lưu trữ Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, ĐVBQ số 226 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kháng địch
19. (2005), Cách mạng Tháng Tám trong tiến trình lịch sử dân tộc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng Tháng Tám trong tiến trình lịch sử dân tộc
Nhà XB: Nxb Chínhtrị Quốc gia
Năm: 2005
20. (2005), Cách mạng Tháng Tám Một sự kiện vĩ đại của thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng Tháng Tám Một sự kiện vĩ đại của thế kỷ XX
Nhà XB: NxbChính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
21. Cách mạng Tháng Tám - Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội và các địa phương, Quyển 1, Nxb Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng Tháng Tám - Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội và các địa phương
Nhà XB: Nxb Sử học

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w