Hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga trong lĩnh vực dầu khí bắt đầu từ những năm 60 của thế kỉ trớc, quan hệ này đợc nâng lên một bớc đáng kể trên nguyên tắc hợp tác hai bên c
Trang 1A mở đầu
1.Lý do chọn đề tài
1.1 Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga là mối quan hệ truyền thống lâu đời Từ những năm 50 của thế kỉ XX quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết và ngày nay là quan hệ hợp tác giữa Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với Liên bang Nga ngày càng đợc củng cố và phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực dầu khí
Hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga trong lĩnh vực dầu khí bắt đầu từ những năm 60 của thế kỉ trớc, quan hệ này đợc nâng lên một bớc
đáng kể trên nguyên tắc hợp tác hai bên cùng có lợi kể từ khi Chính phủ Cộnghoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ký Hiệp định ngày 19 tháng 6 năm 1981 về việc thành lập Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro với Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết để tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam
1.2 Vietsovpetro là xí nghiệp liên doanh đầu tiên ở Việt Nam giữa Việt Nam và Liên Xô tiến hành thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam Trong gần 30 năm qua Xí nghiệp liên doanh đã có những đóng góp
to lớn cho nền kinh tế Việt Nam, đặt nền tảng cho sự hình thành và phát triển của ngành công nghiệp mới ở nớc ta – ngành công nghiệp dầu khí
Vietsovpetro đợc đánh giá là liên doanh thành công nhất của Liên bang Nga ở nớc ngoài và là liên doanh thành công nhất, mẫu mực nhất của Việt Nam với nớc ngoài
“Xí nghiệp này đã trở thành một trong những xí nghiệp lớn nhất ở khu vực châu á - Thái Bình Dơng, và đứng vào hàng mời công ty khai thác dầu khí có hiệu quả kinh tế nhất thế giới Đến năm 2000 Xí nghiệp đã khai thác đợc 75 triệu tấn dầu, sản lợng hàng năm đạt hơn 12 triệu tấn Nh vậy Xí nghiệp liên doanh này trở thành một cơ sở sản xuất lớn nhất của nớc Nga ở nớc ngoài và
là cơ sở công nghiệp dầu của Việt Nam” [42;145]
1.3 Vietsovpetro trở thành biểu tợng cao đẹp cho mối quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam với Liên Xô trớc đây và Liên bang Nga hiện nay
Tìm hiểu quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga trong khuôn khổ Vietsovpetro nhằm làm sáng rõ mối quan hệ hữu nghị hợp tác giữaViệt Nam v Liên Xô, Liên bang Nga trong một lĩnh vực cụ thể để thấy đà Liên Xô, Liên bang Nga trong một lĩnh vực cụ thể để thấy đ ợc những đóng góp của phía Liên Xô, Liên bang Nga và Việt Nam trong sự phát triển, thành công của Vietsovpetro, cũng nh của ngành Dầu khí Việt Nam Từ
Trang 2đó thấy đợc triển vọng hợp tác giữa Việt Nam và Liên bang Nga ở lĩnh vực dầu khí trong những năm tiếp theo.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga về lĩnh vực dầu khí trong khuôn khổ Vietsovpetro là một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc Do vậy từ trớctới nay đã có nhiều tác giả trong và ngoài nớc nghiên cứu vấn đề này dới nhiều góc độ khác nhau
Có thể khái quát quá trình nghiên cứu Hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga về lĩnh vực dầu khí trong khuôn khổ Vietsovpetro qua một số nguồn t liệu mà chúng tôi tiếp cận đợc
Nổi bật nhất là cuốn “Vietsovpetro 20 năm xây dựng và phát triển” do Nhà
xuất bản chính trị quốc gia phối hợp với Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro biên soạn và xuất bản nhân kỷ niệm hai mơi năm ngày thành lập Vietsovpetro
Đây là cuốn sách có tính chất tổng kết, ghi lại quá trình xây dựng và phát triểncủa Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro từ 1981 đến 2001 Cuốn sách cũng đã bớc đầu trình bày các bài học kinh nghiệm trong lĩnh vực hợp tác liên doanh với nớc ngoài Ngoài ra cuốn sách có phần phụ lục, ghi lại các sự kiện, các kỳ họp của Hội đồng Xí nghiệp liên doanh, danh sách các cán bộ chủ chốt, các
đơn vị cơ sở của Vietsovpetro qua các thời kỳ Nhìn chung đây là công trình khá hoàn chỉnh về sự hình thành và phát triển của Xí nghiệp liên doanh
Vietsovpetro từ đầu cho đến năm 2001
Cuốn “Dầu khí Việt Nam”, tác giả Đoàn Thiện Tích, Nhà xuất bản Đại học
quốc gia thành phố Hồ Chí Minh năm 1999 Đây là cuốn sách trình bày tơng
đối đầy đủ về tiềm năng dầu khí của nớc ta, quá trình tìm kiếm, thăm dò dầu khí qua các giai đoạn Đồng thời cuốn sách cũng trình bày về sự hình thành, phát triển của ngành công nghiệp dầu khí non trẻ của Việt Nam cho đến hết thế kỷ XX và định hớng phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam những năm
tế đã đề cập đến lĩnh vực dầu khí, tác giả đã điểm qua việc ra đời Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro và kết quả khai thác của Xí nghiệp liên doanh đến
năm 1991 Hay Quan hệ Nga “ – Việt giai đoạn 1991 đến nay”, tác giả
Trang 3Nguyễn Thị Thanh Phơng, Học viện quan hệ quốc tế, Hà Nội 2000 ở luận văn này tác giả cũng đã nêu lên những thành tựu nổi bật mà Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro đạt đợc trong gần mời năm hợp tác với Liên bang Nga Ngoài các công trình kể trên, hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bangNga đợc các tác giả của ngành dầu khí đề cập đến rất nhiều trong các bài viết
đăng trên Tạp chí dầu khí Tiểu biểu nh: “Liên Xô và sự phát triển ngành công
nghiệp dầu khí Việt Nam” của Trơng Thiên, TCDK số 7.1987; “Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro, thành quả của 20 năm hợp tác Việt – Xô và Việt – Nga trong lĩnh vực dầu khí” của Nguyễn Giao, TCDK tháng 11.2001;
“Vietsovpetro – Biểu t ợng cao đẹp của tình hữu nghị và hợp tác Việt Nam – Liên bang Nga” của Trần Lê Đông, TCDK số 6.2005; “25 năm hợp tác Việt Nam – Nga trong khuôn khổ Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro” của Bùi
Đức Hạnh, TCDK số 7.2006; “Hợp tác Việt Nam – Liên bang Nga những chặng đờng lịch sử không thể nào quên”, của Bùi Đức Hạnh, Trần Hoàng
Anh, TCDK số 7.2005
Qua khảo sát nguồn t liệu, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau đây:
Hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga về lĩnh vực dầu khítrong khuôn khổ Vietsovpetro đã thu hút đợc sự quan tâm của nhiều nhànghiên cứu Đây thực sự là nguồn t liệu rất cần thiết giúp chúng tôi có mộtcái nhìn toàn diện hơn đến vấn đề đề tài đặt ra Những công trình mà chúngtôi dẫn ở trên đã ít nhiều đề cập đến Hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô,Liên bang Nga về lĩnh vực dầu khí trong khuôn khổ Vietsovpetro Tuy nhiên,
đa số các công trình cũng chỉ mới phản ánh đợc một cách khái quát vấn đề
mà đề tài chúng tôi đặt ra Nh vậy có thể nói rằng Hợp tác giữa Việt Nam vàLiên Xô, Liên bang Nga về lĩnh vực dầu khí trong khuôn khổ Vietsovpetrovẫn cha có công trình nào hoàn chỉnh và có hệ thống, dới góc độ sử học
Từ những kết quả nghiên cứu nói trên, chúng tôi cố gắng để xử lý t liệu, lựachọn, phân tích và tổng hợp nhằm giải quyết vấn đề theo nội dung đề tài đòihỏi Trong quá trình làm luận văn, chúng tôi tham khảo, tiếp thu chọn lọc và
từ góc độ lịch sử, tập trung trình bày một cách có hệ thống cụ thể Hợp tácgiữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga về lĩnh vực dầu khí trong khuônkhổ Vietsovpetro đến hết năm 2008
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Từ việc trình bày có hệ thống, toàn diện, sẽ cung cấp cho ngời học kiếnthức về lịch sử hợp tác kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hiện đại, đặc biệt là
Trang 4quan hệ hợp tác giữa hai nớc Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga trong lĩnhvực dầu khí
Tìm hiểu những nhân tố tác động đến quá trình phát triển quan hệ hợp táctrong lĩnh vực dầu khí giữa hai nớc, đồng thời chỉ ra những mặt thuận lợi, khókhăn và triển vọng cho thời kì mới
3.2 Nhiệm vụ
Nghiên cứu đề tài này đặt ra một số nhiệm vụ sau đây:
- Tìm hiểu những cơ sở hình thành, những nhân tố tác động đến mối quan
hệ hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga trong khuôn khổVietsovpetro
- Hệ thống hoá về hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga trongthăm dò địa chất và khai thác dầu khí trong khuôn khổ Vietsovpetro, là cơ sởcho việc trình bày nội dung cơ bản của đề tài
- Từ thực tiễn của quá trình quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô,Liên bang Nga về lĩnh vực dầu khí trong khuôn khổ Vietsovpetro, chúng tôiluận giải những mặt thuận lợi, khó khăn và một số triển vọng trong tơng lai
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tợng nghiên cứu
Hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga về lĩnh vực dầu khí trong khuôn khổ Vietsovpetro chủ yếu trong tìm kiếm thăm dò địa chất và khai thác dầu khí Tuy nhiên để hiểu rõ hơn về Vietsovpetro trong sự hợp tác
ấy đề tài không thể không đề cập đến quá trình ra đời, phát triển của
Vietsopetro
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian từ 1981 (ký hiệp định hợp tác dầu khí) đến nay
Nội dung: Đề tài nghiên cứu sự hợp tác thăm dò địa chất và khai thác dầu khí giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga do Vietsovpetro thực hiện Từ
đó khẳng định vai trò của Vietsovpetro trong mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga Nhận xét, đánh giá và xác định triển vọng hợp tác
Ngoài phạm vi thời gian và nội dung giới hạn trên, những vấn đề khác không nằm trong khung nghiên cứu của đề tài
5 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu gốc: Các văn kiện của Đảng về hợp tác với Liên Xô, Liên bang Nga; Các Hiệp định hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga;
Trang 5Các bài phát biểu của lãnh đạo Việt Nam, Liên Xô, Liên bang Nga; Các báo cáo tổng kết, phơng hớng của Vietsovpetro và ngành Dầu khí Việt Nam Số liệu của Vietsovpetro cung cấp.
Nguồn tài liệu nghiên cứu: Th viện Quốc gia Việt Nam; Th viện Viện Dầu khí Việt Nam; Th viện Viện nghiên cứu khoa học và thiết kế biển của
Vietsovpetro; Phòng truyền thống của Vietsovpetro; Phòng truyền thống của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam; Số liệu do Xí nghiệp liên doanh
Vietsovpetro cung cấp; Tham khảo Internet
5.2.Phơng pháp nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở thu thập đợc, bằng phơng pháp luận Mác – Lênin và các phơng pháp luận nghiên cứu lịch sử, chúng tôi cố gắng tái hiện khách quan chân thực
về Hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga về thăm dò địa chất và khai thác dầu khí trong khuôn khổ Vietsovpetro từ 1981 đến nay
Trong đó, đề tài chủ yếu sử dụng phơng pháp lịch sử kết hợp với phơng pháp logíc và các phơng pháp bộ môn nhằm giải quyết triệt để các vấn đề đặt ra
Quan điểm của Đảng về các vấn đề hợp tác quốc tế, đờng lối đối ngoại cũng đợc quán triệt trong quá trình nghiên cứu Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phơng pháp chuyên ngành và liên ngành nh: tổng hợp, thống kê, phân tích, đối chiếu, so sánh, suy luận lôgíc để giải quyết các vấn đề mà luận văn đặt ra
6 Đóng góp của luận văn
Đa ra một cái nhìn toàn diện dới góc độ sử học về quá trình hợp tác thăm
dò và khai thác dầu khí giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga trong khuôn khổ Vietsovpetro
Bớc đầu đánh giá về những lợi ích mà Việt Nam thu đợc trong quá trình hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga trong khuôn khổ
Vietsovpetro
Những kết quả thu đợc, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tới mối quan hệ giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga
đặc biệt trong lĩnh vực dầu khí, đồng thời góp phần tìm hiểu về hợp tác với
n-ớc ngoài trong dầu khí
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn đợc
bố cục thành ba chơng
Trang 6Ch¬ng 1: C¬ së cña sù Hîp t¸c gi÷a ViÖt Nam vµ Liªn X«, Liªn bang Nga
vÒ lÜnh vùc dÇu khÝ trong khu«n khæ XÝ nghiÖp liªn doanh Vietsovpetro
Ch¬ng 2: Hîp t¸c gi÷a ViÖt Nam vµ Liªn X« vÒ lÜnh vùc dÇu khÝ trong
khu«n khæ XÝ nghiÖp liªn doanh Vietsovpetro
Ch¬ng 3: Hîp t¸c gi÷a ViÖt Nam vµ Liªn bang Nga vÒ lÜnh vùc dÇu khÝ
trong khu«n khæ XÝ nghiÖp liªn doanh Vietsovpetro
b Néi dung
Ch¬ng 1
C¬ së cña sù hîp t¸c gi÷a viÖt nam vµ liªn x«, liªn bang nga vÒ lÜnh vùc dÇu khÝ trong khu«n khæ xÝ
nghiÖp liªn doanh vietsovpetro
1.1 DÇu khÝ v vai trß cña dÇu khÝ trong nÒn kinh tÕ quèc d©n à vai trß cña dÇu khÝ trong nÒn kinh tÕ quèc d©n
Dầu mỏ và khí đốt là một loại tài nguyên khoáng sản quý mà thiên nhiênban tặng cho con người So với các khoáng sản khác như: than đá, đồng, chì,
Trang 7nhôm, sắt…thì dầu khí được con người biết đến và sử dụng tương đối muộnhơn.
Dầu mỏ và khí đốt là hợp chất hyđrocacbon được khai thác lên từ lòng đất,thường ở thể lỏng và thể khí Ở thể khí, chúng bao gồm khí thiên nhiên và khíđồng hành Khí thiên nhiên là toàn bộ hyđrocacbon ở thể khí khai thác từgiếng khoan bao gồm cả khí ẩm, khí khô Khí đồng hành là khí tự nhiên nằmtrong các vỉa dầu dưới dạng mũ khí hoặc khí hoà tan và được khai thác đồngthời với dầu thô
Trong bảng tuần hoàn Menđêlêép, các nguyên tố cacbon và hyđro có đặctính kỳ diệu là trong các điều kiện nhiệt độ và áp suất khác nhau chúng kếthợp và tạo thành những hợp chất hyđrocacbon khác nhau Loài người đã sớmbiết sử dụng đặc tính quý giá để phục vụ nhu cầu cuộc sống của mình
Dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên đều là loại khoáng sản năng lượng, có tính
“linh động” cao Sau nữa, chúng có bản chất sinh thành, di cư, tích tụ gầngiống nhau Giống như nhiều loại tài nguyên khoáng sản khác, dầu khí đượchình thành do kết quả quá trình vận động phức tạp lâu dài hàng triệu năm vềvật lý, hóa học, địa chất, sinh học trong vỏ trái đất Theo quan điểm củanhiều nhà nghiên cứu, dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên đều được hình thành từcác đá có chứa vật chất hữu cơ (gọi là đá mẹ) bị chôn vùi dưới điều kiện ápsuất và nhiệt độ nhất định Sau đó chúng di chuyển đến nơi đất đá có độ rỗngnào đó (đá chứa) và tích tụ lâu dài ở đó nếu có những lớp đá chắn đủ khảnăng giữ chúng (đá chắn)
Công nghiệp khí và công nghiệp dầu có những đặc thù khác hẳn nhau.Trước hết, do tính linh động của khí, mỏ khí được khai thác với số rất ít giếngkhoan nhưng vẫn đảm bảo hệ số thu hồi cao Mặt khác, do giá trị thể tích củakhí thấp hơn nhiều lần nên giá vận chuyển, tàng trữ của khí cao, làm quá trìnhthương mại hóa khí thiên nhiên diễn ra chậm hơn thương mại hoá dầu mỏ.Thông thường, dầu mỏ sau khi khai thác có thể xử lý, tàng trữ và xuất khẩungay Khí thiên nhiên đòi hỏi phải có một kết cấu hạ tầng đủ mạnh để vận
Trang 8chuyển vào bờ, xử lý và phải có thị trường tiêu thụ Thêm nữa, quá trình xử lý
và dòng sản phẩm cũng như phương thức phân phối các sản phẩm khí và dầucũng hoàn toàn khác nhau Nhìn chung, công nghiệp khí đòi hỏi đầu tư lớnhơn, đồng bộ hơn Đồng bộ không chỉ trong ngành dầu khí, mà còn giữangành dầu khí với các ngành công nghiệp khác như điện, phân bón, nhựa,v.v Điều này tạo nên những mối liên hệ chặt chẽ giữa công nghiệp dầu khívới các ngành công nghiệp khác
Phương pháp tìm kiếm, thăm dò và khai thác các mỏ dầu và khí đốt có rấtnhiều điểm giống nhau Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, các tích tụ dầu mỏ
và khí đốt thường đi liền nhau, vì vậy, các nhà đầu tư luôn sẵn sàng nghiêncứu, phát triển, khai thác cả hai nguyên liệu này cùng lúc Cũng vì vậy, người
ta quen gọi ghép công nghiệp dầu mỏ và công nghiệp khí đốt thành một tênchung là công nghiệp dầu khí
Dầu khí được gọi là "Vàng đen” đóng vai trò quan trọng trong đời sốngkinh tế toàn cầu Dầu khí mang lại lợi nhuận siêu ngạch khổng lồ cho cácquốc gia và dân tộc trên thế giới đang sở hữu và tham gia trực tiếp kinh doanhnguồn tài nguyên trời cho này
Từ địa vị chưa mấy được chú ý vào đầu thế kỷ XX, dầu mỏ, với tư cáchmột nhân tố tạo nên sức mạnh quốc gia, đã khẳng định tầm quan trọng của nóngay trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, khi những chiếc máy bay chạy bằngđộng cơ đốt trong soán ngôi của các phương tiện di chuyển dùng ngựa vàthan Đến giữa thế kỷ XX, rất ít người còn hoài nghi về vai trò quan trọngkhông thể thiếu của dầu mỏ trong cán cân năng lượng toàn cầu Nửa cuối thế
kỷ XX, thế giới chứng kiến sự bứt phá và chiếm lĩnh vị trí thống soái của dầu
mỏ và khí thiên nhiên với nền công nghiệp và dịch vụ xã hội, bỏ xa nhiên liệuhóa thạch truyền thống là than đá Những năm đầu của thế kỷ XXI này đangđánh dấu sự vươn lên ngoạn mục của dầu mỏ và khí đốt khi các quốc gia giàuhai nguồn tài nguyên này dường như đang có khả năng khuynh đảo ít nhất làmột phần của thế giới văn minh bằng cách đóng hay mở các giếng dầu hoặc
Trang 9các đường ống dẫn khí Mấy năm nay, Iran vẫn bướng bỉnh với các nghịquyết của Liên hợp quốc và các cường quốc Âu - Mĩ về vấn đề hạt nhân cũngdựa vào thế có trữ lượng dầu gần 20 tỷ tấn, chỉ đứng sau Arập Xêút.Vênêzuêla, một trong những nước có trữ lượng dầu khổng lồ, cũng tỏ ra hếtsức ngang ngạnh trong quan hệ với Mĩ Quan hệ Nga – Ukraine, Nga –Belarus cũng lóc ấm (thậm chí đã quyết định thành lập Liên bang với nhau),lúc lạnh cũng vì khí đốt Rồi Trung Quốc, quốc gia có tốc độ phát triển kinh
tế cùng với tốc độ tăng trưởng nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới (trong khinguồn tài nguyên trong nước có hạn), đã có những hoạt động hết sức mạnh
mẽ để đẩy mạnh quan hệ hợp tác kinh tế với hầu hết các nước châu Phi cũngnhằm vào nguồn tài nguyên dầu khí từ lục địa này
Hiện nay, trong cán cân năng lượng, dầu khí vẫn giữ vai trò quan trọngnhất so với các dạng năng lượng khác “Cùng với than đá, dầu khí chiếm tới90% tổng tiêu thụ năng lượng toàn cầu” [73;20]
Không ít các cuộc chiến tranh, các cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị
có nguyên nhân sâu xa từ các hoạt động cạnh tranh sản xuất kinh doanh tronglĩnh vực dầu khí Kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế của các nước châu Á đếnnay, không một vấn đề nào tác động mạnh đến toàn cầu bằng vấn đề tăng giánhiên liệu trong nh÷ng n¨m vừa qua
Không phải ngẫu nhiên mà giá cổ phiếu của các công ty sản xuất kinhdoanh dầu khí biến động tùy thuộc rất lớn vào các kết quả tìm kiếm thăm dòcủa chính các công ty đó ở trên thế giới Lợi dụng hiện tượng biến động này,không ít các thông tin không đúng sự thật về các kết quả thăm dò dầu khíđược tung ra làm điêu đứng các nhà đầu tư chứng khoán trên lĩnh vực này,thậm chí làm khuynh đảo cả quyết sách của các quốc gia
“Có thể nói, dầu mỏ đã trở thành động lực phát triển của thế giới trên conđường tiến tới văn minh, đồng thời cũng là nguyên nhân gây ra biết bao biếnđộng xã hội để tàn phá nền văn minh đó.” [12;25]
Trang 10Đối với nước ta, vai trũ và ý nghĩa của dầu khớ càng trở nờn quan trọngtrong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ.
Khụng chỉ là vấn đề thu nhập kinh tế đơn thuần, trong những năm qua dầukhớ đó đúng gúp phần đỏng kể vào ngõn sỏch quốc gia, làm cõn đối hơn cỏncõn xuất nhập khẩu thương mại quốc tế, gúp phần tạo nờn sự phỏt triển ổnđịnh nước nhà trong những năm đầu đầy khú khăn của thời kỳ đổi mới
Hơn thế nữa, sự ra đời của ngành dầu khớ đỏnh dấu một sự kiện lớn tronglịch sử phỏt triển nền kinh tế quốc dõn Việt Nam – ngành kinh tế hoàn toànmới – ngành cụng nghiệp dầu khớ Trờn một ý nghĩa nhất định, từ thế bị động
ta chuyển sang thế chủ động trong việc thu hỳt vốn đầu tư, tiếp thu cụng nghệhiện đại của nước ngoài, phỏt triển ngành nghề dịch vụ, giải quyết cụng ănviệc làm
Đặc biệt, rồi đõy lĩnh vực chế biến dầu khớ (khõu hạ nguồn) phỏt triển,ngành dầu khớ cú thể chủ động đảm bảo cung cấp nhiờn liệu cho cỏc ngànhkinh tế quốc dõn đồng thời cung cấp nguyờn liệu cho cụng nghiệp hoỏ dầu,nhất là nguyờn liệu sản xuất sợi tổng hợp cho ngành cụng nghiệp dệt may, sảnxuất phõn đạm, chất nổ, chất dẻo, nguyờn liệu cho cỏc ngành cụng nghiệpkhỏc như dầu nhờn, nhựa đường, chất tổng hợp….Theo đú sự phỏt triển củalĩnh vực hạ nguồn sẽ gúp phần đảm bảo sự phỏt triển bền vững của ngànhDầu khớ Việt Nam
1.2 Vài nét về ngành Dầu khí Liên Xô
Liên Xô là một trong những nớc có nền công nghiệp lâu đời nhất trên thế
giới Công nghiệp dầu của nớc Nga đã có từ thế kỷ XIX Trong thời gian ấy, trên đất nớc Nga – ngời ta thấy có các mạch dầu rỉ ra trong nhiều năm, đặc biệt vùng Capca
Năm 1900, nớc Nga mới chỉ khai thác đợc 10 triệu tấn dầu từ 1700 giếng khoan (với chiều sâu trung bình 300m) của một vùng hẹp thuộc bán đảo Apserôn ở gần Bacu Lúc đó con số này chiếm hơn nửa tổng sản lợng dầu thế giới Trớc cách mạng tháng Mời nớc Nga mới chỉ có hai vùng Bacu và Grôzni cho dầu khai thác, hai vùng này chiếm 96% số dầu của nớc Nga lúc đó Trongcác kế hoạch phát triển kinh tế của Liên Xô, công nghiệp nặng mà nổi bật
Trang 11trong đó là ngành năng lợng luôn đợc đặt lên hàng đầu Cùng với điện, dầu
mỏ là nguồn năng lợng chủ yếu đợc Liên Xô tập trung phát triển Sau đại chiến thế giới lần thứ hai mức khai thác dầu ở Liên Xô không ngừng tăng lên Trong những năm 1930, nhờ tìm ra vùng chứa dầu khổng lồ ở Vonga – Uran nên mức khai thác đã tăng rất nhanh Sản lợng của vùng này đã vợt rất nhanh vùng Bacu Đến đầu những năm 1950, Liên Xô lại phát hiện ra một vùng chứadầu khí lớn đó là vùng Tây Xibiai, ở đây phát hiện đợc 120 mỏ với 58 mỏ dầu,
47 mỏ khí và 15 mỏ dầu khí
Vào giữa những năm 70 của thế kỷ XX, Liên Xô có gần 500 mỏ dầu khí
đang đợc khai thác Sản lợng khai thác dầu mỏ và khí thiên nhiên của Liên Xôkhông ngừng tăng lên và luôn là một trong những nớc dẫn đầu thế giới “Từ
1974, Liên Xô đã vợt Mĩ về sản xuất dầu mỏ: 1974, Liên Xô - 459 triệu tấn;
Mĩ – 435 triệu tấn; năm 1975, Liên Xô - 491 triệu tấn; Mĩ – 410 đến 415 triệu tấn” [39;92]
Trong công tác thăm dò dầu khí nói chung ở Liên Xô luôn đảm bảo sự cân
đối giữa công tác kế hoạch hoá ngành dầu khí với các ngành công nghiệp khác Trớc hết là vấn đề đầu t vốn, Liên Xô rất chú trọng đến việc làm thế nào
để phát triển các mỏ mới và tăng thêm trữ lợng với số vốn đầu t ban đầu rất hạn chế Liên Xô rất chú trọng đến công tác nghiên cứu tổng hợp và cơ sở lý thuyết của các phơng pháp thăm dò dầu khí “Chi phí cho giá thành công tác tìm kiếm – thăm dò dầu khí của Liên Xô chiếm khoảng 25% số vốn đầu t cho công nghiệp dầu khí Hàng năm, hiệu quả công tác tìm kiếm – thăm dò
đạt trung bình 20%” [56;123]
ở Liên Xô, việc đánh giá hiệu quả kinh tế phụ thuộc vào số lợng lỗ khoan sâu để phát hiện ra một mỏ Chính vì thế, Liên Xô đã không ngừng nghiên cứu để cải tiến các phơng pháp, cải tiến thiết bị sao cho có thể xác định chính xác các lợng thông tin ở dới sâu, dự kiến các triển vọng có chứa dầu của các cấu tạo dới đất một cách chính xác bằng các phơng pháp nhanh và rẻ tiền nhất, chủ yếu là các phơng pháp địa chất - địa vật lý nhờ kết quả nghiên cứu tổng hợp về các quy luật cơ bản của địa chất dầu khí, hạn chế đến mức tối thiểu khối lợng khoan sâu Liên Xô không đi theo con đờng của Mỹ chạy theo
số lơng lỗ khoan và mét khoan Vấn đề tăng hiệu quả của công tác khoan là hết sức cần thiết Do đó Liên Xô đã nghiên cứu và cải tiến tất cả các phơng pháp ứng dụng cho địa chất dầu khí
Trong phơng pháp địa chất, Liên Xô đã phát triển các khoa học dự đoán, chuyển các thông tin địa chất sang số liệu toán học đa vào máy tính điện tử để
Trang 12chọn phơng án tối u nhất Đồng thời Liên Xô còn lợi dụng các phơng pháp nghiên cứu địa hình, ảnh máy bay và vệ tinh nhân tạo, cấu trúc địa chất trên mặt tổng hợp thành những phơng pháp dự đoán mới có sự hỗ trợ đắc lực củatoán học tính toán và các máy tính điện tử có độ chính xác cao.
Đối với công tác địa vật lý, Liên Xô cải tiến và ứng dụng rộng rãi các
ph-ơng pháp xác định cấu tạo với độ chính xác cao, mà chủ yếu là phph-ơng pháp
địa chất phản xạ, nh phơng pháp điểm sâu chung (OGT), biểu đồ sóng ợc(MOG), địa chất lỗ khoan (SK) và có khoan thông số hỗ trợ Liên Xô còn
ng-sử dụng các phơng pháp mang tính chất tìm kiếm trực tiếp nh phơng pháp địa chấn thu sóng định hớng (RNP), trọng lực chính xác, phơng pháp thăm dò
điện theo các tiêu chuẩn điện dựa trên mạng lới khoan sâu, đến các chiều sâu
7 – 10 km và sâu hơn nữa bằng những máy thu sóng động đất tự nhiên
“Zemla” Phơng pháp ghi từ đợc ứng dụng rộng rãi để đúc kết tự động các tài liệu và vẽ các mặt cắt địa chất Các thiết bị và các phơng pháp về mặt địa vật
lý nêu trên đã nâng cao đáng kể hiệu quả của công tác thăm dò địa chấn “Vào những năm 70 của thế kỷ XX, Liên Xô có gần 2500 đội địa vật lý thăm dò đang tiến hành các công trình nghiên cứu phức tạp” [56;125] Các nhà địa chất thăm dò Liên Xô đã đóng góp một phần lớn vào việc phát hiện các mỏ dầu khổng lồ ở Tây Xibia, vùng Pêcôra, bán đảo Manguxlắc, Ucraina, Belôruxia, Pecmơ và vùng bờ biển Azecbaijan
Trong công tác khoan nhất là khoan sâu, tốc độ khoan của Liên Xô so với các nớc khác còn chậm Do đó Liên Xô đã ra sức hiện đại hoá các thiết bị khoan và dễ dàng khoan xuống các cấu trúc địa chất phức tạp Liên Xô đã nâng cao công suất máy khoan, chế độ khoan tối u và hợp lý hoá tổ chức Từ
1965, Liên Xô đã dùng khoan tuabin thay cho khoan rôto Các máy khoan tuabin đã giúp cho khoan dễ dàng ở các giếng khoan theo hớng ở miền núi, các chỗ dốc thành và ở ven biển Khoan tuabin giúp cho Liên Xô đạt đợc những chiều sâu tới 4000 – 5000 m Liên Xô cũng sử dụng các luỡi khoan bằng kim cơng Các tháp khoan đợc trang bị các móc treo tự động và các tời hơi để tháo lắp ống khoan đợc dễ dàng Các tháp khoan đợc trang bị bằng các thiết bị tự động hóa quá trình điều khiển và kéo hạ cần để giảm thời gian trong các lỗ khoan sâu Đồng thời Liên Xô phát triển các loại máy đổi áp có khả năng chịu đợc áp suất 350 – 700 at và cải tiến hệ thống đổ xi măng và dung dịch khoan Liên Xô đã chế tạo các loại máy khoan lắp sẵn từng bộ phậnlớn để chuyển đến nơi sử dụng đợc dễ dàng “Hàng năm Liên Xô sản xuất 500tháp khoan sâu và 1500 – 1600 thiết bị các loại dùng cho các giếng thăm do
Trang 13và lấy mẫu, các giếng nghiên cứu địa vật lý Thiết bị khoan của Liên Xô đợc
sử dụng rộng rãi ở nhiều vùng trong nớc và xuất khẩu ra nớc ngoài” [56;128] Trong công tác nghiên cứu khoa học dầu khí và tổng hợp các tài liệu địa chất vật lý, các nhà khoa học Liên Xô, đặc biệt là các viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, đã góp phần rất quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề
về nguồn gốc dầu mỏ Các nhà khoa học đã đề ra và theo thuyết nguồn gốc khoa học hữu cơ của dầu mỏ nh M.V Lômônôxốp, V.I Vernađxki, G.V Abikh, I.M Gubkin Các nhà khoa học nổi tiếng này đã nghiên cứu sâu sắc vềcác lĩnh vực lớn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn về thành phần, điều kiện thể nằm của dầu mỏ, các quy luật phân bố của dầu mỏ trong lòng đất Nhờ công tác nghiên cứu tổng hợp tốt có lý luận sâu sắc, các nhà nghiên cứu về địa chất dầu khí Liên Xô đã góp phần tìm ra các vùng chứa dầu khổng lồ ở Tây Xibia, vùng Vonga – Uran, vùng Manguxlắc và đang tiến hành các công tác nghiêncứu ở vùng thềm lục địa Liên Xô với diện tích tổng cộng 2,5 triệu kilômét vuông Đồng thời, họ áp dụng phơng pháp thăm dò trực tiếp dầu khí bằng các phơng pháp địa vật lý hiện đại
Nh vậy, Liên Xô sau chiến tranh thế giới thứ hai là nớc có tiềm lực lớn về dầu khí, ngành công nghiệp khai thác dầu khí của Liên Xô cũng tơng đối pháttriển Nhiều thành tựu mới của khoa học công nghệ đã đợc ứng dụng hiệu quả vào ngành dầu khí Điều đó đã dẫn sản lợng khai thác dầu khí ở Liên Xô không ngừng tăng cao Tỷ trọng dầu mỏ và khí đốt dần chiếm vị trí chủ yếu trong cơ cấu nhiên liệu của Liên Xô “Năm 1965, tỷ trọng của dầu mỏ và khí
đốt chiếm hơn một nữa cơ cấu nhiên liệu của Liên Xô, năm 1972 – 61,8% và
đến cuối những năm 70 (của thế kỷ XX) chiếm khoảng 2 phần 3” [39;91]
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, chính sách đối ngoại của Liờn Xụ là tích cực giỳp đỡ cỏc nước xó hội chủ nghĩa anh em về vật chất và tinh thần, tạo nờn những điều kiện thuận lợi cho cỏc nước anh em tiến hành cỏch mạng
xó hội chủ nghĩa và xõy dựng chủ nghĩa xó hội
Sự ra đời của Uỷ ban kinh tế đối ngoại (CKES) vào năm 1957 đánh dấumột bớc phát triển mới của hoạt động kinh tế đối ngoại Liên Xô: Không chỉdừng lại ở buôn bán quốc tế mà bắt đầu tham gia vào hoạt động sản xuất quốc
tế dới hình thức cấp tín dụng và trợ giúp kinh tế kỹ thuật cho các nớc XHCN
và các nớc đang phát triển Việc hợp tác với Liên Xô, đặc biệt là trong lĩnhvực dầu khí là rất thuận lợi
1.3 Vài nét về ngành Dầu khí Việt Nam
Trang 14Việt Nam trải qua gần một thế kỉ Pháp xâm lợc (1858-1954) là thời kì mà thế giới có những bớc phát triển khổng lồ về công nghiệp dầu khí Do chính sách khai thác thuộc địa chỉ chú trọng những mối lợi trớc mắt của thực dân Pháp, quá trình thăm dò, tìm kiếm dầu khí ở Việt Nam diễn ra tơng đối muộn
và chậm chạp hơn các nớc trong khu vực “Cho đến cuối 1954, cha có một công trình nào về tìm kiếm, thăm dò một cách có hệ thống đợc xúc tiến” [73;28]
1.3.1 Chủ trơng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển công nghiệp dầu khí Việt Nam
Cuối năm 1954 đầu năm 1955, ngay từ những ngày đầu được giải phúng, miền Bắc nước ta bước vào thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh, khụi phục
và phỏt triển kinh tế, éảng và Nhà nước đó cú chủ trương hỡnh thành ngành cụng nghiệp dầu khớ ở nước ta Cụng tỏc nghiờn cứu, tỡm kiếm, thăm dũ dầu khớ ở miền Bắc đó được Chớnh phủ Việt Nam Dõn chủ Cộng hũa bắt đầu triểnkhai một cỏch cú hệ thống
Sau cuộc đi thăm chính thức Liên Xô của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu năm 1955, hai nớc Việt Nam và Liên Xô đã có những thoả thuận quan trọng, “trong đó Liên Xô đặt ra chơng trình
to lớn và dài hạn nhằm giúp đỡ Việt Nam toàn diện về mọi mặt để nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh và bắt đầu xây dựng lại đất nớc”.[58;1] Trong các chơng trình giúp đỡ to lớn của Liên Xô cho Việt Nam, trớc hết làcác mục tiêu công nghiệp và điều tra tài nguyên thiên nhiên Chơng trình giúp
đỡ này cũng phù hợp với mục tiêu và các nhiệm vụ chiến lợc về kinh tế của
Vào những năm 1959-1961, Chỏnh chuyờn gia - Chỏnh kỹ sư Kitovanhi S.K và một nhúm cỏn bộ kỹ thuật Việt Nam do ụng Nguyễn Giao phụ trỏch
Trang 15đã tiến hành khảo sát từ vĩ tuyến 17 trở ra, nghiên cứu lịch sử phát triển địa chất của các trầm tích Cổ sinh, Tân sinh và Trung sinh, thu thập các mẫu đất
đá, các tài liệu cần thiết, đánh giá triển vọng từng vùng và lựa chọn các khu vực có khả năng để tiến hành tìm kiếm, thăm dò Kết quả nghiên cứu của Kitovanhi S.K và Nguyễn Giao - đồng nghiệp của ông - cùng các cộng sự, đãhoàn thành báo cáo: "Ðịa chất và triển vọng dầu khí ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" (1959-1961) Ðây là công trình có tính chất tổng hợp đầu tiên về triển vọng dầu khí ở miền Bắc Việt Nam Bằng những nỗ lực ban đầu, các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đã vượt qua mọi khó khăn trở ngại lập nên Bản đồ phân vùng triển vọng dầu khí Việt Nam tỷ lệ 1/500.000
Trong chuyến thăm chính thức Liên Xô, ngày 23-7-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm vùng dầu mỏ ở phía Bắc thành phố Bacu, thủ đô nước Cộng hòa Xô Viết Azecbaijan Tại đây, Người tìm hiểu công tác thăm dò, khai thác,vận chuyển, chế biến và phân phối dầu khí (khi đó Bacu là một trong những khu công nghiệp dầu khí lớn của Liên Xô) Khi trao đổi với các nhà lãnh đạo của nước Cộng hòa, với các kỹ sư, công nhân dầu khí, Người nói: "Sau khi Việt Nam kháng chiến thắng lợi, Azecbaijan nói chung và Bacu nói riêng phải giúp đỡ Việt Nam khai thác và chế biến dầu khí, xây dựng được những khu công nghiệp dầu khí mạnh như Bacu " [43;1] Theo tinh thần đó, Chính phủ Liên Xô đã cử nhiều chuyên gia, cán bộ kỹ thuật dầu khí đến Việt Nam, giúp đỡ máy móc, thiết bị, đẩy mạnh công cuộc tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở miền Bắc nước ta
Ngay những năm sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc, Ðảng, Chính phủ bắt đầu chọn cử một số học sinh đến các trường đại học ở Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa để nghiên cứu, học tập về khoa học - kỹ thuật - công nghệ dầu khí
Năm 1956, ở trong nước, Trường Ðại học Bách Khoa Hà Nội mở khoa kỹ
sư địa chất Năm 1961, lần đầu tiên ở nước ta, Trường Ðại học Tổng hợp Hà
Trang 16Nội mở ngành đào tạo mới - ngành địa vật lý gồm các chuyên môn: Địa chấn,điện, trọng lực, từ, xạ, carota Chính từ nơi đây, một số người sau khi tốt nghiệp đã về phục vụ ngành dầu khí Năm 1967, Tổng cục Ðịa chất cử một đoàn thực tập sinh hơn 60 người đến Liên Xô thực tập các chuyên môn địa chất, địa vật lý, địa hóa cổ sinh, trầm tích, thạch học phục vụ công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí trên đất liền và trên biển.
Một số sinh viên có điểm tốt nghiệp xuất sắc được lưu lại thêm 3 năm làm luận án phó tiến sĩ Hiện nay, phần lớn trong số họ giữ các cương vị chủ chốt trong lãnh đạo, quản lý và kỹ thuật ở Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro Ngoài ra, các hình thức đào tạo tại chức, chuyên tu, hàm thụ đã đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành
1.3.2 KÕt qu¶ t×m kiÕm vµ th¨m dß dÇu khÝ ë níc ta tríc 1975
đã nhanh chóng phát triển lớn mạnh trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong công cuộc khôi phục kinh tế và xây dựng đất nước sau chiến tranh
Kết quả công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở miền Bắc làm cơ sở cho việcđánh giá tổng quát tiềm năng dầu khí ở miền Bắc Việt Nam Sau này, những năm 1995-1997, Công ty Anzoil Australia sử dụng những kết quả nghiên cứu trước đây, tiến hành tái thăm dò vùng trũng sông Hồng và đã khoan một số giếng ở vùng Thái Thụy, đã phát hiện khí và dầu thô lưu lượng nhỏ
Xây dựng được đội ngũ đông đảo công nhân, cán bộ kỹ thuật dầu khí, tích lũy nhiều kinh nghiệm quý báu trong các khâu chuyên môn dầu khí, tiếp tục triển khai chiến lược dầu khí trong cả nước sau ngày thống nhất đất nước
1.3.2.2 MiÒn Nam
Trang 17Từ trước năm 1954, các biểu hiện dầu khí ở vùng Hậu Lộc - Quy Nhơn, HàTiên-Châu Ðốc đã sớm được các nhà địa chất Pháp quan tâm Sau đó dưới thời Mĩ - Ngụy, đã công bố các công trình của một số nhà địa chất Nam Việt Nam về kiến tạo, địa tầng và hóa thạch.
Vào những năm 1967-1968, Sở Hải dương học và Không lực Hoa Kỳ đã
đo từ hàng không phần đất liền Nam miền Nam và biển nông ven bờ Trong những năm 1968-1970, các Công ty Alpine Geophysical Corporation và Ray Geophysical Mandrel đã thực hiện 34.000km tuyến địa chấn khu vực trên thềm lục địa miền Nam
Năm 1968, chính quyền Sài Gòn đã tiến hành các cơ sở pháp lý cho toàn
bộ chính sách dầu lửa như tuyên bố về thềm lục địa, luật dầu lửa, hợp đồng đặc nhượng, sắc luật thành lập các cơ quan dầu lửa, phân lô đấu thầu Vào những năm 1973-1974, khi ở đồng bằng sông Hồng có các phát hiện khí ở Tiền Hải thì công cuộc khoan thăm dò dầu khí cũng được bắt đầu ở thềm lục địa phía Nam Năm 1973, chính quyền Sài Gòn đã đấu thầu đợt một trên 8 lô (mỗi lô rộng 6800km2) cho 4 nhóm công ty là PECTEN/Shell, Mobil OIL, SUNNINGDALE và ESSO Ðợt đấu thầu lần hai (1974) quy mô lớn hơn Có
5 nhóm công ty đã trúng thầu trên 9 lô: MOBIL-KAYO, PECTEN-BHP, UNION TEXAC/IOL, MARATHON và OMCO
Các nhà thầu nước ngoài đã đo gần 50.000 km tuyến địa chấn mật độ 4 x 4
km và 2 x 2 km, chuẩn bị các cấu tạo triển vọng để khoan những giếng tìm dầu khí đầu tiên Công tác khoan được triển khai vào cuối năm 1974 đầu năm
1975 với tổng số trên 17.000 mét khoan chủ yếu do PECTEN và MOBIL tiến hành, hoàn tất 5 giếng tìm kiếm - thăm dò, 1 giếng khoan chưa kết thúc Cuộctháo chạy tán loạn của chính quyền Sài Gòn mùa xuân năm 1975 đã chấm dứthoạt động tìm kiếm, thăm dò đầu tiên ở thềm lục địa Nam Việt Nam Tổng cục Dầu hỏa và Khoáng sản của Sài Gòn và các công ty nước ngoài không kịp đem đi nhiều tài liệu kỹ thuật có giá trị Những tài liệu địa vật lý và số liệu các giếng khoan như Dừa - 1X (PECTEN) trũng Nam Côn Sơn và giếng
Trang 18Bạch Hổ-1X, (MOBIL) trũng Cửu Long cũn sút lại chỳng ta đó thu thập được(trong đú cú thụng tin về việc phỏt hiện dầu khớ tại giếng) và tổng hợp làm tư liệu để đỏnh giỏ lại toàn bộ tiềm năng dầu khớ của thềm lục địa phớa Nam
1.3.3 Ngành dầu khí Việt Nam – sự hình thành về tổ chức và hoạt động tìm kiếm thăm dò
Với éại thắng mựa xuõn năm 1975, Tổ quốc ta đó hoàn toàn độc lập thống nhất, non sụng thu về một mối Cả nước ta tràn ngập trong niềm hõn hoan phấn khởi vụ hạn
Chỉ hơn 3 thỏng sau ngày miền Nam giải phúng, ngày 9-8-1975, Bộ Chớnh trị đó cú Nghị quyết số 244/NQTW về việc triển khai thăm dũ dầu khớ trong
cả nước Nghị quyết đó phõn tớch tỡnh hỡnh, chỉ rừ ý nghĩa chiến lược, tầm quan trọng, tớnh bức xỳc của việc thăm dũ dầu khớ trong bối cảnh kinh tế xó hội lỳc bấy giờ Nghị quyết 244/NQTW nhấn mạnh, để đưa đất nước ta đi lờn Chủ nghĩa xó hội phỏt triển toàn diện, hiện nay "Dầu khớ trở thành một vấn đềkinh tế và chớnh trị cú ý nghĩa chiến lược cần được Nhà nước coi là một trọngđiểm ưu tiờn trong kế hoạch kinh tế - tài chớnh và khoa học - kỹ thuật" [4;1]
éồng thời nghị quyết 244/NQTW cũng khẳng định chủ trương quyết định thành lập tổ chức quản lý ngành dầu khớ thống nhất trong cả nước
Sau này, trong quỏ trỡnh chỉ đạo, Nghị quyết 15 (khoỏ VI) Bộ chớnh trị càng chỉ rừ hơn: "éất nước ta cú nguồn tiềm năng dầu khớ đỏng kể ở thềm lụcđịa éảng, Nhà nước và nhõn dõn phải tập trung cố gắng đến mức cao nhất đểbiến tiềm năng đú thành hiện thực, từng bước đưa dầu khớ trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng trong chiến lược phỏt triển kinh tế trong những thập kỷ tới" [5;1]
Thực hiện nghị quyết của Bộ chớnh trị, Chớnh phủ ra Nghị định số 170/CP ngày 3-9-1975 do Phú Thủ tướng Lờ Thanh Nghị ký về việc thành lập Tổng cục Dầu mỏ và Khớ đốt Việt Nam, gọi tắt là Tổng cục Dầu khớ Việt Nam, là
tổ chức trực thuộc Hội đồng Chớnh phủ chịu trỏch nhiệm trước Nhà nước về toàn bộ hoạt động thăm dũ, khai thỏc, chế biến dầu khớ
Trang 19Tổng cục Dầu khí Việt Nam được hình thành trên cơ sở tách các tổ chức làm công tác dầu khí ở Tổng cục Ðịa chất, Tổng cục hóa chất ở miền Bắc và Tổng cục dầu hỏa và Khoáng sản ở miền Nam chuyển sang.
Tổng cục Dầu khí lúc đó có trụ sở tại 48-50 Nguyễn Thái Học, Hà Nội Tổng cục Ðịa chất đã bàn giao các đơn vị dầu khí như Liên đoàn 36, Ðoàn Ðịa vật lý 36F, Ðoàn nghiên cứu thí nghiệm 36B và thuyên chuyển một số cán bộ theo dõi dầu khí ở Tổng cục Hóa chất cho Tổng cục Dầu khí Ngày 12-09-1975, Trung ương Cục miền Nam có quyết định số 12/0075 do Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) ký về việc giải thể Tổng cục Dầu hỏa và Khoáng sản Toàn bộ tài liệu cơ sở vật chất và cán bộ bàn giao cho Tổng cục Dầu khí
và Tổng cục Hóa chất
Ban lãnh đạo Tổng cục Dầu khí Việt Nam ban đầu gồm: Nguyễn Văn Biên,Tổng cục trưởng; Lê Văn Cự, Tổng cục phó Bộ máy điều hành của Tổng cụckhi ấy gồm một số vụ, cục chủ yếu: Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Kế hoạch Kỹ thuật; Vụ Hợp tác Quốc tế; Vụ Tài chính kế toán, Cục xây dựng cơ bản, Văn phòng và Ban đại diện Tổng cục ở miền Nam
Ngày 6-11-1975, Tổng cục Dầu khí đã có Quyết định thành lập Công ty Dầu khí Nam Việt Nam (tiền thân của Công ty Dầu khí II) do ông Lê Văn Cự
- Tổng cục phó kiêm giám đốc công ty, các ông Nguyễn Ngọc Sớm, Trương Thiên là phó giám đốc Trực thuộc Công ty Dầu khí Nam Việt Nam có các đơn vị: Ðoàn dầu khí 21 do ông Lê Quang Trung làm đoàn trưởng đóng ở Vũng Tàu; Ðoàn dầu khí 22 do ông Trương Minh làm đoàn trưởng đóng ở Cần Thơ, và Trường công nhân kỹ thuật dầu khí Bà Rịa do ông Vinh làm hiệutrưởng
Ngày 22-11-1975, Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí Việt Nam, Ông Nguyễn Văn Biên ký quyết định 203/TCDK chuyển Liên đoàn 36 thuộc Tổngcục Ðịa chất sang trực thuộc Tổng cục Dầu khí
Như vậy là Tổng cục Dầu khí lúc đầu gồm: Bộ máy điều hành, Công ty dầukhí miền Bắc, Công ty dầu khí miền Nam, Viện Dầu khí Việt Nam, các công
ty dịch vụ và Trường đào tạo cán bộ công nhân Từ đây, ngành dầu khí Việt
Trang 20Nam bắt đầu bước vào giai đoạn phát triển mới: Giai đoạn tăng cường lực lượng mở rộng hợp tác liên doanh quốc tế, đẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí trên phạm vi cả nước.
Vào cuối năm 1976, để tăng cường cán bộ cho Tổng cục dầu khí, Bộ chính trị đã cử ông Ðinh Ðức Thiện làm Bộ trưởng phụ trách dầu khí
Mặc dù cơ cấu bộ máy tổ chức lúc đầu của Tổng cục dầu khí còn đơn giản, lực lượng còn ít, rất thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn, giỏi cả về công tác quản lý và kỹ thuật, trang bị lạc hậu song tất cả đều náo nức, hăng say lao vào công việc, vừa làm vừa học, vừa triển khai tổ chức thành lập các đơn vị
và kiện toàn bộ máy quản lý, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật Với nhịp độ làm việc rất khẩn trương, gấp rút, các đơn vị trực thuộc Tổng cục dầu khí đã hoàn thành một khối lượng lớn công việc Những kết quả khảo sát tìm kiếm, thăm dò dầu khí, những báo cáo đánh giá tổng quan tiềm năng dầu khí ở thềmlục địa phía Nam được hoàn thành trong thời kỳ này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, làm căn cứ khoa học cho việc hoạch định chiến lược phát triển Ngành dầu khí Việt Nam nói chung, và việc thành lập Xí nghiệp liên doanh
Vietsovpetro nói riêng
Tháng 12/1975, đoàn dầu khí 21 được hình thành ở Vũng Tàu để khảo sát, nghiên cứu cấu trúc địa chất trũng Cửu Long và vùng rìa kế cận Ðến cuối năm 1977, Ðoàn đã hoàn thành báo cáo tổng kết làm sáng tỏ về địa tầng, cấu trúc địa chất, địa chất thủy văn và đưa ra những nhận định, đề nghị cụ thể về triển vọng dầu khí của diện tích nghiên cứu
Những số liệu mới thu được trong công tác điều tra khảo sát, tìm kiếm, thăm dò dầu khí của Công ty dầu khí Nam Việt Nam, của đoàn dầu khí 21 và Ðoàn khảo sát Ðịa vật lý 22 có giá trị quan trọng trong những bước đi khởi đầu của ngành dầu khí Việt Nam Tuy nhiên những kết quả đạt được vẫn chưa đủ để làm cơ sở, căn cứ đánh giá thực tiễn Chạy đua với thời gian, khắcphục mặt yếu của chúng ta lúc bấy giờ về trang thiết bị kỹ thuật hiện đại và trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ chuyên môn, Tổng cục dầu khí Việt Nam đã
Trang 21ký hợp đồng với các đối tác nước ngoài, những công ty hàng đầu thế giới trong lĩnh vực dầu khí nhằm đẩy nhanh hơn nữa công tác tìm kiếm thăm dò Năm 1976, Công ty dầu khí Nam Việt Nam lần đầu tiên đã hợp đồng thuê công ty CGG đo 1200km tuyến địa chấn khu vực ở Ðồng bằng sông Cửu Long, ven biển Minh Hải - Thuận Hải và cấu tạo Bạch Hổ Các tài liệu này cho phép khép kín ranh giới Tây Nam của vùng trũng Cửu Long ở khu vực cửa sông Hậu - sông Tiền, phát hiện bồn Vĩnh Châu, phác họa những nét cấu trúc chính của đồng bằng sông Cửu Long và khẳng định sự hiện diện của cấu tạo Bạch Hổ.
Do thực tế yêu cầu công tác đòi hỏi mọi hoạt động dầu khí đều xuất phát từVũng Tàu nên Công ty Dầu khí Nam Việt Nam phải chuyển từ TP.Hồ Chí Minh xuống Vũng Tàu Chủ trương lúc bấy giờ là vừa di chuyển, vừa sửa chữa trụ sở, nhà cửa và vừa phải tiến hành công tác thăm dò Trụ sở của Công
ty dầu khí Nam Việt Nam khi ấy là nhà số 2, 4, 9 đường Hoàng Diệu - Vũng Tàu Chỗ ở sinh hoạt của cán bộ công nhân viên còn thiếu thốn, lương thực thực phẩm cực kỳ khó khăn - ăn bo bo, ngô thay gạo Nhưng chỉ trong thời gian ngắn Công ty đã ổn định được tổ chức, đời sống cho cán bộ công nhân viên
Năm 1978, trên cơ sở Ðoàn khảo sát địa vật lý 22, đoàn dầu khí Ðồng bằngsông Cửu Long được thành lập và đã hoàn thành hai giếng khoan tìm kiếm đầu tiên là Cửu Long-1(2120m) và Hậu Giang-1(1813m) tại Cà Cối và PhụngHiệp Nhưng cả hai giếng đều không đạt kết quả mong muốn
Song song với việc thăm dò Ðồng bằng sông Cửu Long, công tác thăm dò ngoài biển cũng được Tổng cục Dầu khí đẩy mạnh, triển khai quy mô lớn Ngày 28-8-1978, Công ty Dầu khí II được tách ra từ Công ty Dầu khí Nam Việt Nam để thực hiện nhiệm vụ thăm dò, khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam Dựa trên đánh giá tổng quan về triển vọng dầu khí, Công ty Dầu khí II đã thuê công ty Geco đo gần 19.000 km tuyến địa chấn trên các lô 09,
16, 17, 19, 20, 21 và cấu tạo Bạch Hổ (mạng lưới 1x 1 km) Ðây là những tài
Trang 22liệu chi tiết ban đầu rất quý báu làm cơ sở thực tế cho việc khoanh vùng các diện tích triển vọng, xây dựng các chương trình dài hạn khoan thăm dò dầu khí vào các năm tiếp theo (trong đó có cả Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro sau này).
Trong bước đầu hợp tác quốc tế thăm dò thềm lục địa Tổng cục Dầu khí Việt Nam đã ký hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí với các nhà thầu nước ngoài: Bow Valley(Canađa) (lô 28, 29), Agip (Italia) (lô 04, 12), Deminex (Cộng hoà liên bang Ðức) (lô 15) và đã giao cho Công ty Dầu khí II thực hiệnchức năng giám sát các hợp đồng này Năm 1978, Công ty Deminex và Agip cũng đã thuê Geco đo khoảng 11.000 km tuyến địa chấn tại các lô 09, 15 và
04, 12 để chọn vị trí cho các giếng khoan sâu tìm kiếm dầu khí đầu tiên
“Trong hai năm 1979-1980, các nhà thầu trên đã thực hiện khối lượng lớn tổng cộng trên 35.000m khoan, hoàn thành thi công 12 giếng tìm kiếm, thăm
dò, trong đó có một giếng phát hiện dầu của Deminex ở giếng 15-A-1X và 3 giếng phát hiện khí của Agip (4-A-1X, 12B-1X và 12C-1X)” [73;40] Mặc dùchưa có các giếng khoan thẩm lượng tiếp theo, các kết quả khả quan trên cho thấy khả năng phát hiện dầu trong vùng nước nông tại trũng Cửu Long có caohơn, trong khi trũng Nam Côn Sơn ở các vùng nước sâu hơn thiên về chứa khí Do các phát hiện dầu khí không lớn, đầu tư không đồng bộ trong điều kiện bị cấm vận, các công ty nước ngoài đã kết thúc hợp đồng sau khi hoàn thành những trách nhiệm ban đầu của mình
Qua thực tế làm việc với các công ty dầu nước ngoài giai đoạn này đã từng bước rèn luyện đào tạo đội ngũ cán bộ và công nhân kỹ thuật của Công ty Dầu khí II trưởng thành trong công tác ngoài thực địa và công tác xử lý phân tích, tổng hợp các tài liệu thu được Một trong những điển hình quý báu là công trình báo cáo kết quả 5 năm tìm kiếm, thăm dò dầu khí thềm lục địa 1976-1980 của tập thể tác giả phòng kỹ thuật thực hiện: "Cấu trúc địa chất và triển vọng dầu khí thềm lục địa phía Nam Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam", do Ngô Thường San, Nguyễn Văn Ðức, Nguyễn Ðăng Liệu chủ biên
Trang 23Vừa hợp tác quốc tế đa phương vừa kết hợp, hợp tác với Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết, từ năm 1979 Tổng cục Dầu khí đã giao cho Công ty Dầu khí II làm đầu mối trong việc chuẩn bị tài liệu địa chất, địa vật
lý thềm lục địa phía Nam và sử dụng đội ngũ cán bộ kỹ thuật để cùng các chuyên viên Liên Xô nghiên cứu hoạch định hướng đi mới: Thành lập Xí nghiệp Liên doanh dầu khí Việt-Xô
1.4 Sù h×nh thµnh hîp t¸c gi÷a ViÖt Nam vµ Liªn X« trong khu«n khæ
XÝ nghiÖp liªn doanh Vietsovpetro
1.4.1 Nh÷ng c¨n cø thùc tiÔn
1.4.1.1 TiÒm n¨ng dÇu khÝ ViÖt Nam
Ngay sau khi giành được độc lập, Ðảng và chñ tÞch Hå ChÝ Minh đã có chủ trương về phát triển ngành dầu khí Việt Nam Trong thời kỳ đất nước tạm thời bị chia cắt, chính quyền Sài Gòn cũ cũng có nhiều hoạt động về tìm kiếmdầu khí trên thềm lục địa phía Nam Sau ngày đất nước thống nhất, công tác thăm dò dầu khí ngoài biển cũng được đẩy mạnh Kết quả là công ty Denimex
đã có một phát hiện dầu ở trũng Cửu Long và công ty Agip đã phát hiện ba vỉa khí ở trũng Nam Côn Sơn Như vậy, trước khi Xí nghiệp liên doanh được thành lập, “trong giai đoạn từ 1968 - 1980, tại thềm lục địa phía Nam, đã có hơn 10 nhóm công ty dầu thăm dò, đo gần 80.000 km tuyến địa chấn, khoan
18 giếng thăm dò, trong đó 6 giếng đã phát hiện dầu khí” [73;47]
Trong giai đoạn chuyển tiếp 1979 - 1981, công tác thăm dò bổ sung do Tổng cục dầu khí biển thuộc Bộ công nghiệp khí Liên Xô thực hiện chủ yếu gồm nghiên cứu địa chấn và địa chất công trình Trên cơ sở kết quả của công tác này, các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đã đưa ra những kết luận có cơ
sở khoa học về triển vọng dầu khí ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam
Tóm lại, với những kết quả về điều tra khảo sát, tìm kiếm thăm dò dầu khí thu thập được từ năm 1960 đến thời điểm những năm 1980 đã cho phép chúng ta phân tích, đánh giá và khẳng định, nước ta rất có triển vọng về dầu khí Với những căn cứ ban đầu như vậy, để có cơ sở vững chắc cho việc xác
Trang 24định tiềm năng triển vọng dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam, công tác điều tra cơ bản, tìm kiếm thăm dò cần được đẩy mạnh hơn nữa.
1.4.1.2 T×nh h×nh bèi c¶nh trong níc vµ quèc tÕ
Đất nước ta cuối những năm 70 ®Çu nh÷ng n¨m 80 cña thÕ kû XX, gÆp mu«n vµn khã kh¨n sau hai cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc MÜ và một số nước phương Tây siết chặt lệnh cấm vận đối với Việt Nam, con đường sắt duy nhất nối Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa cũng không còn Kinh tế phát triển chậm, mất cân đối lớn: Thu không
đủ chi, xuất không đủ nhập, sản xuất không đủ tiêu dùng Khó khăn lớn nhất của nền kinh tế là thiếu lương thực và ngoại tệ “Ðể duy trì sự phát triển của nền kinh tế, hàng năm nước ta đã phải nhập trên 1 triệu tấn lương thực, 10 triệu tấn xăng và nhiều loại nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp trong nước”[73;47] Do sản xuất không đủ tiêu dùng, thiên tai liên tiếp xảy ra, nên một phần tiêu dùng xã hội phải dựa vào các nguồn vay và viện trợ của nước ngoài, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng Bên cạnh đó, khi chúng ta chưa khắc phục được hậu quả hết sức nặng nề của chiến tranh lâu dài để lại, thì lại phải tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, ở biên giới phía Bắc và Tây Nam Với một nền kinh tế có nhiều khó khăn như vậy, thì việc triển khai các hoạt động cần nhiều vốn là rấthạn chế Ðối với dầu khí, thì không những thiếu vốn, mà còn thiếu cả con người - những kỹ sư chuyên gia giỏi và công nhân bậc cao làm dầu khí - thiếu
cả kỹ thuật công nghệ Trong hoàn cảnh như vậy, chúng ta không có con đường nào khác là phải hợp tác với bên ngoài để tranh thủ vốn, kỹ thuật công nghệ và kinh nghiệm làm dầu khí Thực tế những năm 1976-1980 chúng ta cũng đã hợp tác với một số công ty dầu khí nước ngoài để tiến hành tìm kiếm thăm dò và cũng có được những kinh nghiệm bước đầu Nhưng thời kỳ nhữngnăm 1980-1981, Việt Nam chưa có luật đầu tư nước ngoài, chưa thực hiện đường lối đổi mới, đang bị Mỹ bao vây cấm vận, nên việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài là rất khó khăn, ngay cả trong lĩnh vực dầu khí, một lĩnh vực có
Trang 25sức hấp dẫn đặc biệt đối với cỏc nhà tư bản Ngay cả cỏc cụng ty tư bản trước đõy đó từng hợp tỏc với Việt Nam trong việc tỡm kiếm thăm dũ dầu khớ, thỡ nay do chớnh sỏch cấm vận của Mĩ (hầu hết cỏc thiết bị thăm dũ dầu khớ cụng nghệ cao đều do Mĩ chi phối và khống chế), cỏc cụng ty này cũng chấm dứt hoạt động thăm dũ tại cỏc lụ đó ký hợp đồng trước đú tại thềm lục địa phớa Nam, trả lại diện tớch cho Tổng cục dầu khớ Việt Nam vào năm 1980 Tỡnh thế đặt ra cho Việt Nam lỳc này rất bức bỏch, song cũng cú những thuận lợi rất cơ bản, đú là miền Nam hoàn toàn giải phúng, đất nước hũa bỡnh thống nhất, chớnh trị ổn định, uy tớn của Việt Nam đối với cỏc nước trong khu vực
và trờn thế giới ngày càng được nõng cao; sự giỳp đỡ to lớn và cú hiệu quả của Liờn Xụ
1.4.1.3 Hợp tác với Liên Xô để phát triển dầu khí
Việt Nam và Liờn Xụ đó cú mối quan hệ truyền thống từ lõu trờn rất nhiều lĩnh vực Liờn Xụ cũng đó từng giỳp đỡ, viện trợ và cử nhiều chuyờn gia sangViệt Nam làm việc trong lĩnh vực tỡm kiếm, thăm dũ dầu khớ mà khu vực trung tõm là chõu thổ sụng Hồng Quan hệ hợp tỏc và hữu nghị giữa chớnh phủ và nhõn dõn hai nước Việt Nam - Liờn Xụ đối với cụng cuộc xõy dựng vàbảo vệ tổ quốc Việt Nam thể hiện đầy tỡnh nghĩa anh em, vụ tư, trong sỏng đang phỏt triển đến đỉnh cao rực rỡ Trong giai đoạn này, sự hợp tỏc toàn diệngiữa nước ta với Liờn Xụ là một nhõn tố cực kỳ quan trọng, để giỳp cho chỳng ta khắc phục khú khăn và tiếp tục xõy dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xó hội Liờn Xụ đang tập trung giỳp Việt Nam xõy dựng cỏc cụng trỡnh cơ sở hạ tầng, cỏc trung tõm năng lượng, trong đú cú dầu khớ Hợp tỏc với Liờn Xụ trong lĩnh vực dầu khớ lỳc này là rất thuận lợi
Về tỡnh hỡnh dầu khớ thế giới cũng cú nhiều biến động, trong thập kỷ 70, nhiều nước trờn thế giới đang bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng năng lượng, nhiều cụng ty dầu khớ thế giới đó hướng hoạt động đầu tư ra cỏc khu vực mới Trước năm 1975, một số cụng ty dầu khớ thế giới đó thực hiện
Trang 26những cụng việc tỡm kiếm thăm dũ dầu khớ ở phớa Việt Nam và đạt được những kết quả khả quan.
Với nhu cầu tiếp tục xõy dựng chủ nghĩa xó hội sau chiến tranh, trong điều kiện tỡnh hỡnh trong nước và quốc tế như trờn, đó thỳc đẩy chỳng ta liờn kết, hợp tỏc một cỏch tự nhiờn với Liờn Xụ trong lĩnh vực thăm dũ và khai thỏc dầu khớ và tiến tới thành lập Xớ nghiệp liờn doanh Việt - Xụ vào năm 1981
Sự thành lập Xớ nghiệp liờn doanh Việt - Xụ trong hoàn cảnh đú là một đũi hỏi khỏch quan phự hợp với bước phỏt triển của tỡnh hữu nghị Việt - Xụ “Sau giải phóng miền Nam, ta có đặt vấn đề mời Liên Xô hợp tác thăm dò
và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam Khi đồng chí Lê Duẩn đặt vấn
đề này với Liên Xô, bạn cho biết là trớc đây Liên Xô mới chỉ thăm dò ở độsâu 100m và hơn nữa đang tiến hành thăm dò và khai thác ở biển Catxpiên, độsâu khoảng 20m; nhng những năm gần đây, bạn đã phát triển kỹ thuật thăm
dò ở độ sâu 100m và hơn nữa đang tiến hành thăm dò ở biển Ban Tích và vùngXakhalin ở Viễn Đông ý kiến này đợc báo cáo với Bộ chính trị và Bộ chínhtrị nhất trí cho đàm phán mời Liên Xô vào thềm lục địa phía Nam”[73;206] Một thực tế Liên Xô lúc đó là một nớc đứng đầu thế giới về khoa học cơ bản, đặc biệt là khoa học địa chất, nhng về kỹ thuật ứng dụng, nhất là thiết bị khai thác dầu khí thì vẫn còn hạn chế Lãnh đạo Đảng và Nhà nớc ta đã chủ
động xác định một thực tế khách quan nh vậy Song để khắc phục nhợc điểm này cũng không mấy khó khăn, giải pháp là khi chúng ta khai thác đợc dầu khí, chúng ta sẽ mua phơng tiện kỹ thuật hiện đại của các nớc t bản để trang
bị lại, ý đồ chiến lợc là ở chỗ chọn đúng đối tác và đầu t đúng hớng, phơng châm ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị
Sau khi đoàn đại biểu Việt Nam đứng đầu là Phó Thủ tớng chính phủ Lê Thanh Nghị giải trình tại Matxcơva vào tháng 9-1979 về vấn đề hợp tác với Liên Xô trong lĩnh vực dầu khí, theo chỉ đạo của lãnh đạo Liên Xô khi đó,
ông Arkhipov I.V – Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng bộ trởng, Baibakov N.K – Chủ nhiệm uỷ ban kế hoạch nhà nớc và các Bộ trởng Bộ công nghiệp Khí – ngài Obrusev S.A, Bộ Dầu – Dinkov V.A, Bộ Địa chất – Kozlovsky E.A đã trực tiếp xem xét và quyết định nh
… đã trực tiếp xem xét và quyết định nh một chơng trình quốc gia quan trọng Liên Xô đã huy động đợc các chuyên gia, nhà khoa học và những ngời tổ chức giỏi nhất trong lĩnh vực dầu khí tham gia trực tiếp vào dự án mà thời bấy
Trang 27giờ tơng đối phức tạp Đó là Thứ trởng thứ nhất Bộ Công nghiệp khí Zaixev
Iu V., Thứ trởng Bộ công nghiệp Khí Timonin V.I., Nikitin B.A., các lãnh
đạo của các tổ chức và bộ máy chuyên ngành nh Popov O.K., Aresev E.G., Seremeta O.O., Vovk V.X., Trugunov Iu.V… đã trực tiếp xem xét và quyết định nh Đồng thời, các tổ chức nghiên cứu khoa học, thiết kế, kết cấu chủ chốt của đất nớc Xô Viết cũng đã tham giavào dự án hợp tác này
Uỷ ban Nhà nớc về Quan hệ kinh tế đối ngoại Liên Xô đảm trách vai trò quan trọng trong toàn bộ công tác kể trên Uỷ ban đợc giao nhiệm vụ chuẩn bị
và soạn thảo (trớc năm 1981) các thoả thuận Liên Chính phủ, đông thời kiểm tra việc thực hiện toàn bộ chơng trình này “Những ngời tham gia vào dự án hợp tác luôn xác định nhiệm vụ chuyên môn và yêu cầu trí tuệ đi kèm với mệnh lệch của trái tim Tất cả cùng tin rằng, họ đang tham gia vào một công cuộc vĩ đại”[73;239]
Ngày 3-7-1980, tại phũng đại lễ của điện Kremli dưới sự chứng kiến của hai Tổng Bớ thư Lờ Duẩn và Leonid Iliych Brezhnev, Hiệp định giữa Chớnh phủ Cộng hũa Xó hội Chủ nghĩa Việt Nam và Liờn bang Cộng hũa Xó hội Chủ nghĩa Xụ Viết về việc hợp tỏc tiến hành thăm dũ địa chất và khai thỏc dầu khớ ở thềm lục địa phớa Nam Cộng hũa xó hội chủ nghĩa Việt Nam đó được ký kết Trờn cơ sở hiệp định này, những cụng việc chuẩn bị cho việc ký kết một hiệp định tiếp theo đó được hai phớa Việt Nam và Liờn Xụ xỳc tiến, đẩy mạnh Trong việc thành lập Xớ nghiệp liờn doanh, Bộ Cụng nghiệp dầu khớ Liờn Xụ và Ủy ban kế hoạch Nhà nước Liờn Xụ là hai cơ quan đó cú những ủng hộ rất tớch cực như đề nghị Chớnh phủ Liờn Xụ hợp tỏc với Việt Nam khảo sỏt thăm dũ dầu khớ Cỏc ụng Zaixev Iu.V., Ovanhộtxốp, Obrusep S.A., Seremeta O.O, Belianhin G.N là những người rất nhiệt tỡnh trong việc xõy dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật về triển vọng dầu khớ ở Việt Nam và tớch cực ủng hộ việc thành lập Xớ nghiệp liờn doanh Trong những năm 1979-
1981, Tổng cục dầu khớ biển thuộc Bộ Cụng nghiệp Dầu khớ Liờn Xụ đó thực hiện một khối lượng lớn cụng tỏc nghiờn cứu địa chấn và khảo sỏt địa chất cụng trỡnh tại thềm lục địa Nam Việt Nam Trờn cơ sở kết quả của cỏc cụng
Trang 28tác đó, các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đã đưa ra những kết luận có căn
cứ khoa học về triển vọng dầu khí cao ở thềm lục địa Việt Nam
Ðoàn chuyên gia dầu khí cao cấp đầu tiên của Liên Xô do ông Zaixev, Thứtrưởng thứ nhất Bộ Công nghiệp khí dẫn đầu, cùng nhiều chuyên gia chuyên ngành dầu khí đã đến Việt Nam, phối hợp cùng cán bộ khoa học kỹ thuật dầu khí Việt Nam tổng hợp, phân tích những nguồn tài liệu đã có từ trước để lập báo cáo tổng thể về thực trạng vấn đề dầu khí ở thềm lục địa do chính các chuyên gia Việt Nam - Liên Xô trực tiếp thực hiện Sau hơn ba tháng, bản báo cáo đã hoàn thành với một nhận định hết sức khả quan về trữ lượng dầu khí ở Việt Nam Báo cáo đã được gửi lên chính phủ hai nước Việt Nam - Liên
Xô Ðây là một trong những căn cứ thực tiễn quan trọng nhất, là yếu tố bảo đảm chắc chắn cho việc ký kết hiệp định chính thức thành lập Xí nghiệp liên doanh Việt - Xô
Một vấn đề được đặt ra là lựa chọn hình thức hợp tác khi thành lập Xí nghiệp liên doanh Việt Nam và Liên Xô sẽ chọn hình thức hợp tác nào cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế và đem lại hiệu quả cao nhất
Thực hiện hình thức hợp tác "phân chia sản phẩm", nhà thầu tự đầu tư, hoàn toàn chịu mọi rủi ro như đã áp dụng đối với các nhà thầu tư bản trước đây, đối với cả hai phía đều có nhiều khó khăn, bất lợi Phía Liên Xô do những khó khăn lúc bấy giờ về tài chính và kỹ thuật, chắc sẽ không đủ sức đầu tư và gánh chịu mọi rủi ro Phía Việt Nam thực hiện hình thức này tuy
"chắc chắn" nhưng lại không thể chủ động tham gia vào quá trình tìm kiếm, thăm dò, khai thác của đối tác đầu tư Và điều quan trọng là, dựa vào hình thức này ta không bao giờ xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành dầu khí hiện đại của Việt Nam và không thể nhanh chóng đào tạo được đội ngũ đông đảo những cán bộ, công nhân dầu khí có trình độ chuyên môn cao Như vậy, hình thức xí nghiệp liên doanh được quyết định như một sự lựa chọn tất yếu Xí nghiệp liên doanh trên nguyên tắc pháp lý "ngang nhau" đã giúp cả hai bên vượt qua được những khó khăn, đáp ứng được những yêu cầu
Trang 29trước mắt và lõu dài của mỡnh Thực tiễn xõy dựng và phỏt triển của Xớ
nghiệp liờn doanh Vietsovpetro đó khẳng định tớnh đỳng đắn và hiệu quả cao của hỡnh thức xớ nghiệp liờn doanh, khẳng định quyết tõm và chủ trương của hai éảng, hai Nhà nước trong lĩnh vực hợp tỏc tiến hành tỡm kiếm thăm dũ khai thỏc dầu khớ là sỏng suốt và đỳng đắn
1.4.2 Hiệp định 19-6-1981 - sự cụ thể hóa của chủ trơng hợp tác
1.4.2.1 Những căn cứ pháp lý
Xớ nghiệp liờn doanh Vietsovpetro được thành lập trờn cơ sở Hiệp định liờnChớnh phủ giữa Cộng Hũa Xó hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Liờn bang Cộng Hũa Xó hội Chủ Nghĩa Xụ Viết ký ngày 19-6-1981 tại Mỏtxcơva về việc thành lập Xớ nghiệp liờn doanh Việt - Xụ tiến hành thăm dũ địa chất và khai thỏc dầu khớ ở thềm lục địa phớa Nam Cộng hũa Xó hội Chủ nghĩa Việt Nam
Sự ra đời của Hiệp định này dựa trờn cơ sở phỏp lý chung là Hiệp ước hữu nghị hợp tỏc giữa Cộng hũa Xó hội Chủ nghĩa Việt Nam và Liờn bang Cộng hũa Xó hội Chủ nghĩa Xụ Viết ký ngày 3-11-1978 và Hiệp định Việt - Xụ về hợp tỏc tiến hành thăm dũ địa chất và khai thỏc dầu khớ ở thềm lục địa phớa nam Cộng hũa Xó hội Chủ nghĩa Việt Nam ký ngày 3-7-1980 Những căn cứ phỏp lý này bảo đảm cho Xớ nghiệp liờn doanh Việt - Xụ cú tư cỏch phỏp nhõn, hoạt động theo những điều quy định phự hợp với cụng ước quốc tế và phỏp luật của mỗi nước theo những điều thỏa thuận giữa hai Chớnh phủ, nhằmgiỳp đỡ lẫn nhau và đạt được mục tiờu chung mà liờn doanh đề ra Sự tồn tại
và phỏt triển của Xớ nghiệp liờn doanh cũng được phỏp luật và cụng ước quốc
tế thừa nhận và bảo vệ
Hiệp định ngày 3-7-1980 là một hiệp định khung, thỏa thuận về nguyờn tắcnhững cam kết giữa hai chớnh phủ Việt Nam và Liờn Xụ sẽ thành lập một Xớ nghiệp liờn doanh dầu khớ trờn cơ sở "ngang nhau"
Xỏc định căn cứ phỏp lý cho việc thành lập Xớ nghiệp liờn doanh: "Chớnh phủ Cộng hũa Xó hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chớnh phủ Liờn bang Cộng hũa
Xó hội Chủ nghĩa Xụ Viết sẽ thành lập trờn cơ sở ngang nhau một Xớ nghiệp
Trang 30liờn doanh Việt - Xụ về thăm dũ địa chất và khai thỏc dầu khớ ở thềm lục địa phớa Nam Cộng hũa Xó hội Chủ nghĩa Việt Nam, tại những vựng do bờn Việt Nam xỏc định với sự tham gia của cỏc tổ chức Liờn Xụ" (éiều 1) Nội dung éiều 1 chớnh là tiền đề cú tớnh nguyờn tắc cho hiệp định 19-06-1981 với việc thành lập Xớ nghiệp liờn doanh trờn tinh thần hữu nghị và hoàn toàn bỡnh đẳng "ngang nhau" về trỏch nhiệm, nghĩa vụ đúng gúp và quyền lợi kinh tế Xỏc định cụ thể trỏch nhiệm và những phần việc mà hai phớa phải thực hiện
để xõy dựng căn cứ thực tiễn và cơ sở vật chất - kỹ thuật cần thiết ban đầu cho sự ra đời của Xớ nghiệp liờn doanh (éiều 2 và éiều 3)
éặt cơ sở phỏp lý cho việc ký kết một hiệp định tiếp theo để cụ thể húa cỏc vấn đề về phỏp lý - tài chớnh, thương mại và cỏc vấn đề khỏc cú liờn quan đếnviệc thành lập và hoạt động của Xớ nghiệp liờn doanh (éiều 5)
1.4.2.2 Nội dung Hiệp định 19-6-1981
Hiệp định Liên Chính phủ giữa Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết về việc thành lập Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu và khí ở thềm lục địa phía nam Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (gọi tắt là Hiệp
định 19-6-1981) có 27 điều với những nội dung cơ bản sau đây:
- Xác định đối tợng hoạt động của Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro là tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu, khí ở thềm lục địa phía nam Việt Nam cũng nh nghiên cứu tổng hợp địa vật lý trong phạm vi toàn bộ thềm lục
địa Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
- Xác định các phía tham gia Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro là: Bên Việt Nam là Tổng cục Dầu khí Việt Nam; Bên Liên Xô là Bộ Công nghiệp Khí Liên Xô
- Vốn pháp định của Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro do các bên đóng góp ngang nhau
- Lợi nhuận của Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro đợc chia đều cho mỗi phía sau khi trừ phần để lại tiếp tục phát triển xí nghiệp và lập các quỹ dự trữ, quỹ đặc biệt
- Cơ quan lãnh đạo của Xí nghiệp liên doanh là Hội đồng Xí nghiệp liên doanh Uỷ ban Thanh tra Xí nghiệp liên doanh do Hội đồng bổ nhiệm để kiểmtra hoạt động tài chính và kinh doanh của Xí nghiệp liên doanh
Trang 31Ngày 19-11-1981, Hội đồng Bộ trởng (nay là Chính phủ) ký Quyết định số 136/ HĐBT cho phép Xí nghiệp liên doanh hoạt động trên lãnh thổ ở thềm lục
địa và trong vùng đặc quyền kinh tế Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Hiệp định 19-6-1981 quy định cụ thể những nguyên tắc cho sự thành lập, cũng nh hoạt động của Xí nghiệp liên doanh; trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của Xí nghiệp liên doanh và hai phía tham gia liên doanh; những u đãi đặc biệt mà Việt Nam và Liên Xô dành cho nhau trên tinh thần đoàn kết, hợp tác quốc tế vô sản Hình thức tổ chức của Xí nghiệp liên doanh nh một liên hiệp sản xuất – khoa học quốc doanh
Một vấn đề hết sức quan trọng đã đợc Hiệp định 19-6-1981 khẳng định là t cách pháp nhân của Xí nghiệp liên doanh Xí nghiệp liên doanh là pháp nhân của Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và hoạt động trên cơ sở Điều lệ của Xí nghiệp liên doanh Trong quá trình hoạt động của mình, Xí nghiệp liêndoanh phải tuân thủ pháp luật của Việt Nam và đợc quyền bình đẳng nh mọi doanh nghiệp là pháp nhân của Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Điều 3)
Cơ quan điều hành của Xí nghiệp liên doanh là Ban tổng Giám đốc do Hội
đồng Xí nghiệp liên doanh bổ nhiệm, các bên tham gia đề cử vào từ các công dân Việt Nam và Liên Xô
Về quyền lợi kinh tế, các bên đều đợc hởng ngang nhau từ kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh
Xí nghiệp liên doanh khai thác dầu sẽ đợc bán cho Petrovietnam theo giá xuất xởng và sau đó chia đều cho các phía tham gia
Trong trờng hợp Xí nghiệp liên doanh giải thể, việc giải quyết hoàn toàn dựa trên cơ sở thoả thuận của hai bên theo nguyên tắc "Bình đẳng, ngang nhau", không có sự ép buộc bằng các biện pháp hành chính, bằng sức mạnh, không phải nhờ sự can thiệp của "ngời thứ ba"
Tuy nhiên để thực hiện những cam kết về trách nhiệm nghĩa vụ và quyền lợi theo nguyên tắc "ngang nhau", cả hai phía Việt Nam và Liên Xô đều gặp những khó khăn, thách thức rất khó vợt qua Bởi vậy cả hai bên đều rất tôn trọng nguyên tắc "thoả thuận" dành cho nhau những u đãi đặc biệt một cách vô t, không tính toán thiệt hơn Những thoả thuận u đãi đặc biệt đợc ghi trong Hiệp định hoàn toàn phù hợp với: "Nguyên tắc đối xử u đãi" của Luật Kinh tế quốc tế và là sự phát huy những giá trị truyền thống cao đẹp trong quan hệ hợp tác hữu nghị vốn có giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nớc Liên Xô
sẽ dành cho Việt Nam những u đãi đặc biệt phù hợp với khả năng đóng góp để
Trang 32vợt qua những khó khăn về tài chính của một nớc nghèo, vừa ra khỏi chiến tranh, đang trong thời kì khủng hoảng.
Phần góp vốn của Việt Nam vào Xí nghiệp liên doanh sẽ đợc thực hiện bằng công tác khảo sát thiết kế, xây lắp, vận hành, cung cấp thiết bị vật t, nhà làm việc, nhà ở và nhà xởng sản xuất, cung cấp điện nớc v v
Phần góp vốn của Liên Xô vào Xí nghiệp liên doanh là những công việc do Liên Xô thực hiện nh nghiên cứu địa chất, khảo sát thăm dò, thiết kế, cung cấp thiết bị vật t dầu khí mà Việt Nam không cung cấp đợc, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm kỹ thuật và kiến thức về dầu khí, cử chuyên gia đến làm việc tại Xí nghiệp liên doanh cũng nh đào tạo cán bộ, công nhân kĩ thuật cho Việt Nam
Để tạo điều kiện cho bên Việt Nam góp vốn bình đẳng vào Xí nghiệp liên doanh, trong giai đoạn 1981-1985, bên Liên Xô còn dành cho Việt Nam các khoản vay với lãi xuất 4 %/ năm và trả nợ trong vòng 10 năm, kể từ năm
1986 Trong thực tế, “vốn pháp định của Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro tính đến ngày 1-1-1991 đợc xác định theo Hiệp định Liên Chính phủ (sửa đổi)
ký ngày 16-7-1991 là 1500 triệu USD, trong đó phần của mỗi bên tham gia Xínghiệp liên doanh là 750 triệu USD” [73;56]
Hiệp định tỏ rõ sự u ái của Nhà nớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua việc miễn thuế trực thu và lệ phí quốc gia cũng nh địa phơng tại Việt Nam đối với các công trình nằm trong thành phần của Xí nghiệp liên doanh sau khi xây dựng xong
Hiệp định cũng chỉ rõ, Xí nghiệp liên doanh đợc miễn thuế quan và lệ phí hải quan tại Việt Nam trong khi chuyển đến và chuyển đi các vật t, thiết bị và hàng hoá dùng cho việc xây dựng các công trình và hoạt động sản xuất của Xínghiệp, kể cả hàng hoá cung cấp tính vào phần vốn của Liên Xô
Các công nhân, viên chức Liên Xô của Xí nghiệp liên doanh đợc miễn các nghĩa vụ cá nhân đợc quy định trong pháp luật Việt Nam, cũng nh đợc miễn các khoản thuế trực thu và lệ phí có liên quan đến tiền lơng do Xí nghiệp liên doanh trả, thuế quan đối với đồ dùng cá nhân và đồ dùng gia đình, trong khi ởViệt Nam và trở về nớc (Điều 24)
Cùng với nhiều văn kiện khác, Hiệp định 19-6-1981 đợc Chính phủ hai nớc Việt Nam và Liên Xô ký kết, đã tạo dựng nền tảng pháp lý vững chắc cho sự thành lập và hoạt động có hiệu quả sau này của Xí nghiệp liên doanh
Vietsovpetro
1.4.3 Quá trình thành lập Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro
Trang 33Ngày 19-11-1981, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chớnh phủ) ban hành quyết định số 136 - HéBT cho phộp Xớ nghiệp liờn doanh hoạt động trờn lónh thổ ởthềm lục địa và trong vựng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hũa Xó hội Chủ nghĩa Việt Nam Hoạt động của Xớ nghiệp liờn doanh dựa trờn Hiệp định liờn chớnh phủ ký ngày 19-6-1981 Phạm vi hoạt động của Xớ nghiệp theo Hiệp định ngày 19-6-1981 bao gồm cỏc lụ 04, 05, 06, 09, 10, 11, 16 thềm lục địa Việt Nam Theo quyết định của kỳ họp thứ 16 Hội đồng Xớ nghiệp liờn doanhVietsovpetro thỡ từ 1-1-1994 phạm vi hoạt động của Xớ nghiệp liờn doanh bú hẹp trong phạm vi mỏ Bạch Hổ và mỏ Rồng.
Xớ nghiệp liờn doanh Vietsovpetro là liờn doanh đặc biệt giữa hai nhànước Bởi vậy chớnh phủ cú vai trũ rất lớn đối với sự phỏt triển của Xớ nghiệpliờn doanh Những vấn đề lớn liờn quan đến Xớ nghiệp liờn doanh đều dochớnh phủ quyết định Chớnh phủ can thiệp sõu vào kế hoạch Xớ nghiệp liờndoanh Tổng cụng ty dầu khớ Việt Nam tham gia với Xớ nghiệp liờn doanhtrong việc xõy dựng kế hoạch trờn cơ sở những định hướng của chớnh phủ
Tổ chức éảng ở Xớ nghiệp liờn doanh Vietsovpetro được Ban thường vụéặc khu Đảng ủy Vũng Tàu - Cụn éảo ra quyết định thành lập ngày 16-2-
1982, lỳc đầu là cấp Chi bộ, với 22 đảng viờn, 5 cấp ủy viờn éến cuối năm
1982 thỡ nõng lờn cấp éảng bộ cơ sở
Thời kỳ 1981 - 1990 ở Xớ nghiệp liờn doanh tồn tại song song hai tổ chứcéảng (éảng bộ phớa Việt Nam và éảng bộ phớa Liờn Xụ trong xớ nghiệp).Hai Đảng bộ cùng phối hợp chặt chẽ, lãnh đạo đảng viên của hai phía thamgia đi tiên phong trong việc tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của hai
Đảng, hai Nhà nớc và kế hoạch sản xuất kinh doanh đợc pháp lệnh hoá thôngqua các nghị quyết của Hội đồng Xí nghiệp liên doanh Đồng thời nhanhchóng tổ chức đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên chức Việt Nam để tiếntới tự chủ trong việc điều hành và duy trì các hoạt động của Xí nghiệp liêndoanh
Từ năm 1991 khi Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã, trong Xí nghiệp liêndoanh chỉ còn đảng viên Việt Nam Tuy hoạt động trong điều kiện mới vớinhiều khó khăn nhng Đảng bộ Xí nghiệp liên doanh đã phát huy vai trò lãnh
Trang 34đạo của mình, đa Xí nghiệp liên doanh không ngừng phát triển, cũng cố tốtmối quan hệ hợp tác hữu nghị truyền thống giữa cán bộ công nhân viên ViệtNam và Liên bang Nga.
Từ ngày bắt đầu hoạt động, “biờn chế của Xớ nghiệp liờn doanh cú 168 người, trong đú cú 58 người là cụng dõn Việt Nam và 110 người là cụng dõn Liờn Xụ” [73;57] Cơ cấu tổ chức ban đầu gồm Ban Tổng Giỏm đốc, Bộ mỏy điều hành với 30 phũng ban và 8 đơn vị thành viờn éõy là thời kỳ tổ chức bộ mỏy sơ khai để chuẩn bị cho cụng tỏc xõy dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục
vụ cho quỏ trỡnh thăm dũ, khai thỏc và xõy dựng cỏc cụng trỡnh dầu khớ biển
1.4.3.1 Ban Tổng Giám đốc
Ban Tổng Giỏm đốc là cơ quan điều hành của Xớ nghiệp liờn doanh, Ban Tổng Giỏm đốc gồm Tổng Giỏm đốc và cỏc Phú Tổng Giỏm đốc Do phớa Việt Nam thiếu cỏc cỏn bộ quản lý, cỏn bộ kỹ thuật chuyờn sõu về dầu khớ, nờn những năm đầu cỏc chức danh chủ chốt đều do phớa Liờn Xụ đảm nhận, phớa Việt Nam chỉ đảm nhận chức phú ở những lĩnh vực phự hợp với khả năng của mỡnh Trong những năm đầu tiờn, sau khi Xớ nghiệp liờn doanh Vietsovpetro ra đời, Liờn Xụ đó cử sang Việt Nam nhiều cỏn bộ cú kinh nghiệm quản lý và giỏi về chuyờn mụn, trong đú cú kỹ sư Mamedov, từng là Tổng Giám đốc Liên hiệp dầu khí biển Liên bang Caxpiên Tiến sỹ Ajanov, nguyên kỷ s trởng mỏ dầu Chiu-men nổi tiếng ở Liên Xô Ajanov là một kỹ s năng động, nhiều sáng kiến Khi làm việc ở mỏ Chiu-men, Liên Xô, ông từng
đợc thởng Huân chơng Lênin vì những công trình phát minh, cải tiến kỹ thuật trong việc khai thác dầu khí Đến Việt Nam, ông Mamedov là Tổng Giám đốc
đầu tiên của Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro Tiến sỹ Ajanov là Tổng Giám
đốc thứ hai của Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro Về phía Việt Nam ông Nguyễn Hòa, Tổng cục trởng Tổng cục dầu khí Việt Nam đợc cử làm phó Tổng Giám đốc thứ nhất đầu tiên của Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro Việchai phía cử các cán bộ dày dạn kinh nghiệm lãnh đạo Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro thể hiện sự quan tâm đặc biệt tới sự nghiệp hợp tác phát triển dầu khí Việt Nam “Chính phủ của hai nớc đã thống nhất đặt vị trí của Liên doanh Vietsovpetro ngang với đơn vị hành chính cấp bộ, lơng của Tổng Giám
đốc là mức lơng Bộ trởng (190 đồng), lơng của các phó Tổng Giám đốc là
Trang 35mức lơng Thứ trởng, các đơn vị trực thuộc gồm các Cục và Viện (sau này các Cục đổi thành các Xí nghiệp)” [73;236].
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Tổng Giỏm đốc được quy định
cụ thể trong điều 21, điều 22 Điều lệ Xớ nghiệp liờn doanh với những nộidung chủ yếu sau:
Tổng Giỏm đốc lónh đạo trực tiếp, điều hành toàn bộ cụng việc của Xớnghiệp liờn doanh, được sử dụng cỏc phương tiện tài chớnh, tài sản của Xớnghiệp liờn doanh và chịu trỏch nhiệm về toàn bộ cụng việc đú Tổng Giỏmđốc cú trỏch nhiệm bỏo cỏo cỏc hoạt động của mỡnh với Hội đồng liờn doanh Tổng Giỏm đốc thay mặt Xớ nghiệp liờn doanh trước cỏc tổ chức, cơ quan,
xớ nghiệp khỏc, trước tũa ỏn và Hội đồng trọng tài về vấn đề hoạt động của Xớnghiệp liờn doanh Được toàn quyền thay mặt Xớ nghiệp liờn doanh ký cỏchợp đồng, cỏc cam kết và giấy ủy nhiệm cần thiết
Trỡnh Hội đồng Xớ nghiệp liờn doanh phờ chuẩn cỏc dự thảo kế hoạch quyđịnh trong Điều lệ Xớ nghiệp liờn doanh và cỏc bỏo cỏo thực hiện kế hoạch Phờ chuẩn điều lệ về cỏc đơn vị cấu thành của Xớ nghiệp liờn doanh, cỏcquy định chức trỏch, nhiệm vụ của cỏn bộ cụng nhõn viờn Xớ nghiệp liờndoanh, thực hiện thang bảng lương do Hội đồng Xớ nghiệp liờn doanh phờduyệt
Thực hiện cỏc chức năng khỏc xuất phỏt từ Hiệp định và Điều lệ Xớ nghiệpliờn doanh, xuất phỏt từ thực tế hoạt động của Xớ nghiệp liờn doanh
Phú Tổng Giỏm đốc thứ nhất, trong trường hợp cần thiết, thay Tổng Giỏmđốc với đầy đủ quyền hạn, trỏch nhiệm của Tổng Giỏm đốc
Cỏc Phú Tổng Giỏm đốc phụ trỏch những phần việc của Xớ nghiệp liờndoanh được giao phú và chịu trỏch nhiệm về hoạt động của Xớ nghiệp liờndoanh phự hợp với nhiệm vụ được giao
Cỏc Tổng Giỏm đốc kể từ ngày đầu thành lập đến nay: Tổng Giỏm đốc đầutiờn: Mamedov é.G (1981 – 1984); Tổng Giỏm đốc thứ hai: Ajanov Ph.G(1984 – 1988); Tổng Giỏm đốc thứ ba: Vovk V.X (1988 – 1991); Tổng Giỏmđốc thứ t: Ngô Thờng San (1992 – 1996); Tổng Giỏm đốc thứ năm: Nguyễn
Trang 36Giao (1997 – 2000); Tổng Giỏm đốc thứ sáu: Trần Lê Đông (2001 – 2008);Tổng Giỏm đốc thứ bảy: Nguyễn Hữu Tuyển (hiện nay).
1.4.3.2 Hội đồng Xí nghiệp liên doanh
Hội đồng Xớ nghiệp liờn doanh là cơ quan quản lý cao nhất của Xớ nghiệpliờn doanh Trong thành phần của Hội đồng, mỗi phớa cú số ủy viờn bằngnhau do cỏc phớa tham gia Xớ nghiệp liờn doanh chỉ định Hội đồng Xớ nghiệpliờn doanh họp thường kỳ ớt nhất mỗi năm một lần và cú thể họp bất thườngkhi cú yờu cầu Cỏc Trưởng đoàn của Liờn Xụ và Việt Nam luõn phiờn làmchủ tịch cỏc kỳ cuộc họp của Hội đồng
Hội đồng Xớ nghiệp liờn doanh cú nhiệm vụ và quyền hạn sau:
Xỏc định phương hướng chung về hoạt động của Xớ nghiệp liờn doanh, phờchuẩn cỏc kế hoạch hoạt động, kế hoạch tài chớnh của Xớ nghiệp, phờ chuẩnquy chế lao động nội bộ, biện phỏp bảo vệ mụi trường, chuẩn bị cỏc kiến nghị
về mở rộng khu vực hoạt động của Xớ nghiệp liờn doanh trong trường hợp cầnthiết
Bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng Giỏm đốc, Phú Tổng Giỏm đốc thứ nhất vàcỏc Phú Tổng Giỏm đốc của Xớ nghiệp liờn doanh
Phờ chuẩn điều lệ hoạt động của Ban Thanh tra, bổ nhiệm Chủ tịch và cỏcthành viờn Ban Thanh tra, thụng qua quyết định, bỏo cỏo của Ban Thanh tra Thụng qua quyết định thành lập cỏc cơ quan chức năng, cỏc đơn vị trựcthuộc Xớ nghiệp liờn doanh
Xem xột và giải quyết cỏc vấn đề khỏc nảy sinh từ Hiệp định và thực tếhoạt động của Xớ nghiệp liờn doanh
1.4.3.3 Bộ máy điều hành
Bộ mỏy điều hành thực hiện chức năng quản lý, kiểm tra, tham mưu choban Tổng Giỏm đốc trong cỏc lĩnh vực chuyờn mụn về sản xuất, hoạt độngkinh tế - tài chớnh, khoa học, cụng nghệ, điều hành phối hợp giữa cỏc đơn vị
cơ sở
Trang 37Khi mới thành lập Xí nghiệp liên doanh, bộ máy điều hành có 30 phòngban Ðến năm 1982, cơ cấu tổ chức thay đổi, bộ máy điều hành giảm xuốngcòn 29 phòng và bắt đầu hình thành 8 đơn vị cơ sở
1.4.3.4 Qu¸ tr×nh thµnh lËp c¸c d¬n vÞ thµnh viªn
Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro là một tổ hợp sản xuất khép kín, nghĩa làdưới Xí nghiệp liên doanh có các đơn vị, mỗi đơn vị có một chức năng riêng,tất cả là để phục vụ cho công tác thăm dò khai thác dầu khí Xí nghiệp đều tự
lo được toàn bộ công việc dịch vụ, rất ít khi phải thuê bên ngoài
Từ năm 1982, cơ cấu tổ chức đã thay đổi Bộ máy điều hành từ 30 phòng,ban, đã giảm xuống 29 phòng và bắt đầu hình thành 8 đơn vị cơ sở, đó là cácđơn vị:
1 9-7-1982: Thành lập Cục vận tải ô tô, năm 1989 được đổi tên thành Xínghiệp vận tải ô tô
2 9-7-1982: Thành lập Cục dịch vụ kỹ thuật và đồng bộ hóa thiết bị, năm
1989 đổi tên thành Xí nghiệp đồng bộ hóa thiết bị vật tư
3 9-7-1982: Thành lập Ðội bảo vệ vũ trang
4 9-7-1982: Thành lập Phân Viện nghiên cứu khoa học và thiết kế, năm
1986 đổi thành Viện Nghiên cứu khoa học và thiết kế
5 9-7-1982: Thành lập Phòng Thông tin, năm 1986 đổi thành Ban Thôngtin
6 9-7-1982: Thành lập Phòng Y tế, năm 1989 đổi thành Ban Y tế, năm
1999 đổi thành Trung tâm Y tế
7 9-7-1982: Thành lập Xí nghiệp xây lắp các công trình biển
8 2-6-1983: Thành lập Cục khoan biển, năm 1989 đổi tên thành Xínghiệp khoan biển, năm 1996 đổi thành Xí nghiệp khoan biển và sửachữa giếng
9 2-6-1983: Thành lập Ðội phòng ngừa và khắc phục sự cố dầu khí phuntrào, năm 1989 đổi thành Trung tâm an toàn và bảo vệ môi truờng
Trang 3810.2-6-1983: Thành lập Trung tâm sửa chữa cơ điện, năm 1986 đổi thànhXưởng sửa chữa cơ khí trung tâm, năm 1989 đổi tên thành Xí nghiệpsửa chữa thiết bị cơ điện
11.2-6-1983: Thành lập Xí nghiệp địa vật lý giếng khoan
12.9-1-1984: Thành lập Cục vận tải biển, năm 1989 đổi thành Xí nghiệpvận tải biển và công tác lặn
13.26-10-1985: Thành lập Xưởng khai thác dầu khí, năm 1987 được nânglên thành Cục khai thác dầu khí và đến năm 1989 đổi thành Xí nghiệpkhai thác dầu khí
14.26-10-1985: Thành lập Nhóm nâng cao trình độ nghề nghiệp cho cán
bộ công nhân viên, năm 1989 đổi tên thành Trường kỹ thuật nghiệp vụ 15.15-8-1995: Thành lập Xí nghiệp Quản lý và khai thác các công trìnhkhí
16.14-5-1999: Thành lập Xí nghiệp Ðại Hùng
Trang 39Chơng 2
Hợp tác giữa việt nam và liên xô về lĩnh vực dầu khí trong khuôn khổ xí nghiệp liên doanh vietsovpetro
2.1 Hợp tác tiến hành khảo sát tổ hợp địa vật lý, khoan tìm kiếm, thăm
dò, khẳng định trữ lợng dầu và khí của các khu mỏ
Trớc khi thành lập Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro, trong các giai đoạn 1968-1975 và từ 1976-1981, công tác thăm dò địa chất do các công ty dầu khínớc ngoài thực hiện Mặc dầu khối lợng công việc thực hiện đã nhiều, nhng hiệu quả thu đợc rất ít không mấy khả quan Cho đến thời điểm đó, những vấn
đề quan trọng về dầu khí nh Việt Nam có dầu hay không, trữ lợng bao nhiêu,
có triển vọng khai thác công nghiệp hay không, vẫn cha có câu trả lời Trong khi đó mong muốn một nớc Việt Nam có dầu khí đã trở thành một niềm mơ -
ớc, khát vọng, của toàn Đảng, toàn dân ta, của các ngành, các cấp từ trung
-ơng đến địa ph-ơng
Để thực hiện nhiệm vụ này, năm 1981, cùng với việc đa mỏ khí Thái Bình vào khai thác phục vụ cho công nghiệp địa phơng, theo thoả thuận của hai Chính phủ Việt Nam và Liên Xô, Hiệp định về tìm kiếm, thăm do và khai thácdầu khí tại thềm lục địa Việt Nam đã đợc triển khai, làm cho các hoạt động dầu khí vùng biển phía Nam trở nên sôi động
Trải qua công tác khảo sát, tìm kiếm, thăm dò đầy khó khăn gian khổ, Xí nghiệp liên doanh đã đạt đợc những thành tựu rất cơ bản, mở ra triển vọng to lớn cho sự phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam
2.1.1 Phát hiện ra dầu khí và các tầng chứa dầu ở thềm lục địa Nam Việt Nam
Ngay từ khi thành lập Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro, công tác khảo sát các phơng pháp địa vật lý tìm kiếm và thăm dò dầu khí đã đợc tiến hành do Liên đoàn địa vật lý biển Viễn Đông Thái Bình Dơng thực hiện Nhà thầu cung cấp dịch vụ khảo sát có căn cứ ở Xakhalin, vùng Viễn Đông Liên Xô Năm 1980 tàu nghiên cứu khoa học Poisk và Iskatel đã thực hiện khảo sát thềm lục địa phía Nam nhằm khẳng định và làm sáng tỏ các thông tin địa chất
Trang 40trớc đây, đồng thời triển khai khảo sát địa vật lý khu vực trên toàn thềm lục
địa Việt Nam để đánh giá tiềm năng dầu khí Việt Nam
Hàng năm Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro đã tiến hành khảo sát địa vật
lý mạng lới khu vực, tìm kiếm và chi tiết Mạng lới tuyến khu vực bao gồm các phơng pháp địa chấn, từ trờng, trọng lực đã phủ toàn thềm lục địa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ vịnh Thái Lan đến vịnh Bắc Bộ nhằm
nghiên cứu các bồn trũng và xác định các triển vọng cho các giai đoạn tìm kiếm, thăm dò tiếp theo
Từ năm 1980 đến năm 1989, nhà thầu thực hiện khảo sát địa vật lý là Liên
đoàn địa vật lý biển Viễn Đông Liên Xô, sử dụng các tàu nghiên cứu khoa họcPoisk, Iskatel, Viện sĩ Gamburxev, Malgin Tàu địa vật lý Bình minh của
Đoàn địa vật lý Tổng cục Dầu khí đã thực hiện khảo sát địa chất mạng lới tìm kiếm, thăm dò ở vịnh Bắc Bộ
Để có cơ sở lập luận về triển vọng dầu khí và phơng hớng phát triển chủ yếutrong công tác thăm dò địa chất ở thềm lục địa nam Việt Nam, các chuyên gia
địa chất Liên Xô và Việt Nam đã tập hợp các tài liệu liên quan đến dầu khí và tiến hành phân tích, đánh giá, trên cơ sở đó quyết định tập trung toàn bộ công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí phía nam Việt Nam vào 7 lô có triển vọng dầu khí nhất thuộc trũng Cửu Long và nam Côn Sơn, đó là các lô: 09, 15, 16, 04,
và nghiờn cứu của tập thể cỏn bộ Xớ nghiệp liờn doanh Vietsovpetro
Việt Nam cú dầu ! éất nước cú dầu ! Tin vui đú truyền đi rất nhanh, tạo rakhụng khớ vui mừng phấn khởi khụng chỉ riờng cho Xớ nghiệp liờn doanh