Trong những năm qua, những thành tựu trên lĩnh vực chính trị ngoại giao, sự phát triển kinh tế năng động và sự ra đời của các cơ chế hợp tác nh AFTA,ARF và ý tởng xây dựng Cộng đồng ASEA
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Nguyễn Văn Đông
Hợp tác của hiệp hội các quốc gia đông nam á (asean) với liên minh châu
âu (EU) và các nớc đông bắc á trong diễn đàn hợp tác á - âu (Asem)
từ 1996 đến 2006
Trang 2Chơng 2: Hợp tác kinh tế, chính trị - an ninh của Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam á (ASEAN) với Liên minh châu Âu (EU)
và các nớc Đông Bắc á trong Diễn đàn hợp tác á - Âu (1996 - 2006)
2.2.3 Hợp tác chính trị – an ninh 622.3 Hợp tác ASEAN - Các nớc Đông Bắc á 672.3.1 ASEM – nhân tố mới trong quan hệ hợp tác giữa ASEAN và các nớc
Đông Bắc á
67
Trang 32.3.2 ASEAN – Trung Quốc 69
Chơng 3: Vai trò và triển vọng của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
(ASEAN) trong Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM)
87
3.1 Vai trò của ASEAN trong ASEM 873.1.1 ASEAN khởi xớng ý tởng Hợp tác á - Âu 873.1.2 ASEAN là cầu nối trong mở rộng quan hệ hợp tác giữa châu á và châu Âu 913.1.3 Vị trí của ASEAN trong Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM) 993.2 Triển vọng hợp tác của ASEAN trong ASEM 104
Chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
AEBF Asia – Europe Business Forum Diễn đàn doanh nghiệp á - Âu
AECF Asia Europe Cooperation Framewok Khuôn khổ hợp tác á - Âu
AFTA ASEAN Free Trade Area Khu mậu dịch tự do ASEAN
Apec Asia- Pacific Economic Cooperation Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á -
Thái Bình Dơng
Asean Association of South- East Asian
ASEF Asia – Europe Foundation Quỹ á - Âu
ASEM Asia - Europe Meeting Hội nghị á - Âu
EMM Economic Ministers Meeting Hội nghị Bộ trởng Kinh tế
Trang 4Gdp Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
IPAP Investment Promotion Action Plan Kế hoạch hành động xúc tiến thơng
mại
OdA Offcial Developvment assistance Viện trợ phát triển chính thức
SOMTI Senior Officers Meeting on Trade
ZOPFAN Zone of Peace Free and Neutrality Khu vực hoà bình, tự do và trung lập
A Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệ quốc tế nhanh chóng chuyển
từ cục diện đối đầu, chạy đua vũ trang, sang xu hớng “hoà bình, hợp tác, cùngphát triển”, xu hớng này đang trở thành chủ đạo trong các mối quan hệ quốc tế
Để phù hợp với xu thế phát triển ấy, nhiều nớc và khu vực trên thế giới đã
đẩy nhanh quá trình khu vực hoá và toàn cầu hoá, tích cực mở cửa hội nhập, tạokhông gian quan hệ trên mọi lĩnh vực, khai thác những u thế có lợi nhất cho côngcuộc phát triển quốc gia Bên cạnh những mối quan hệ, hợp tác truyền thống, mộtloạt quan hệ khác đợc tạo dựng, hình thành theo hình thức đa phơng hoá, đa dạnghoá Các mối quan hệ không chỉ thu hẹp giữa hai hoặc vài ba quốc gia, lãnh thổ,
mà còn sống động phát triển mạnh mẽ trong mối bang giao liên khu vực, giữachâu lục này với châu lục khác Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của các tổ chứckhu vực nh ASEAN, APEC, EU về cả quy mô lẫn phạm vi hợp tác đã phản ánh rõnét xu thế ấy
Trong bối cảnh quốc tế nh vậy, các nớc châu á và châu Âu đã nhận thấycần tạo dựng mối liên hệ chặt chẽ, thiết thực trên nhiều lĩnh vực, nhằm khai thác
và tận dụng những lợi ích phù hợp với nhu cầu của mỗi quốc gia, đồng thời gópphần vào sự phồn thịnh và phát triển chung của toàn khu vực và trên thế giới
Điều này đợc thể hiện rất rõ trong tiếng nói chung của các nớc thuộc hai châu lụcqua Hội nghị á - Âu (asia - Europe Meeting: ASEM), chính thức ra đời và đivào hoạt động từ tháng 3/1996 Đây là bớc đột phá mới trong quan hệ giữa haichâu lục đợc coi là có lịch sử và văn hoá lâu đời nhất trên thế giới Tìm hiểu vềASEM, đặc biệt là tìm hiểu về hợp tác của ASEAN với các đối tác trong Diễn
Trang 5đàn hợp tác á - Âu sẽ giúp chúng ta hiểu đợc thực lực của ASEAN hiện tại, cũng
nh vai trò và vị thế của tổ chức này đối với châu lục và thế giới trong xu thế hộinhập, hợp tác hiện nay
1.2 Kể từ khi ra đời cho đến năm 2006, với cơ chế hoạt động là Hội nghị
Thợng đỉnh 2 năm một lần, ASEM trở thành một diễn đàn mở và không chínhthức của 39 thành viên đến từ hai châu lục á - Âu Trải qua hơn 10 năm pháttriển, Diễn đàn hợp tác á - Âu đã có những đóng góp đáng kể vào việc mở rộngcác quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa châu á và châu Âu, đặc biệt ASEM đã đạt đ-
ợc nhiều thành tựu trên cả 3 trụ cột chính: kinh tế, chính trị và văn hoá
Vì lẽ đó, ASEM đang thu hút sự chú ý của nhiều quốc gia ở cả hai châulục Các nớc nh ấn Độ, Australia, Niu Dilân, Pakistan và cả cờng quốc á - ÂuLiên bang Nga đều thể hiện mong muốn đợc tham gia Với t cách là thành viênsáng lập, sự phát triển của ASEM sẽ là cơ hội tốt để ASEAN hội nhập với cộng
đồng quốc tế Nghiên cứu về ASEM giúp chúng ta hiểu rõ hơn về xu thế pháttriển, triển vọng và thách thức của hình thức hợp tác mới mẻ này
1.3 Trong khuôn khổ hợp tác á - Âu, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
(ASEAN) có một vai trò và vị trí khá quan trọng Vai trò và vị trí đó không chỉ
đ-ợc thể hiện ở chỗ các nớc ASEAN khởi xớng ý tởng sáng lập và tích cực tham giathúc đẩy mối quan hệ này, mà quan trọng hơn là đã tạo ra một mô hình hợp tácliên kết khu vực khá điển hình, độc đáo
Trong những năm qua, những thành tựu trên lĩnh vực chính trị ngoại giao,
sự phát triển kinh tế năng động và sự ra đời của các cơ chế hợp tác nh AFTA,ARF và ý tởng xây dựng Cộng đồng ASEAN với 3 trụ cột chính là Cộng đồngkinh tế, Cộng đồng chính trị - an ninh, Cộng đồng văn hoá - xã hội đã và đangtạo ra những cơ sở mới cho liên kết khu vực và hội nhập quốc tế của ASEANtrong đó có hợp tác á - Âu Với ASEAN, ASEM là một trong những sân chơichiến lợc ở thời điểm hiện tại cũng nh trong tơng lai Nghiên cứu vấn đề này sẽgiúp chúng ta có đợc một cách nhìn sâu hơn về những vẫn đề mang tính chiến lợccủa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) trong quá trình hội nhập toàndiện hơn vào thế giới
1.4 Việt Nam là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
(ASEAN) Từ năm 1995, sự phát triển của ASEAN sẽ tác động trực tiếp đến côngcuộc xây dựng và phát triển của Việt Nam trong quá trình đổi mới Tham giaASEM với t cách là thành viên của ASEAN, Việt Nam sẽ mạnh mẽ hơn trongviệc thể hiện quan điểm và nguyện vọng của mình trớc những cờng quốc có nềnkinh tế phát triển hơn gấp bội, qua đó thu hút đợc nhiều nguồn vốn đầu t vànhững lợi ích trên các lĩnh vực chính trị - an ninh, kinh tế, văn hoá - xã hội, phục
vụ thiết thực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng nh quá trình xâydựng và bảo vệ tổ quốc Trớc tình hình đó, việc nghiên cứu hợp tác của ASEAN
Trang 6mang ý nghĩa khoa học mà còn đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra trong chính sáchhội nhập của Đảng - Chính phủ Việt Nam Trên cơ sở đó giúp chúng ta đề ranhững giải pháp, chủ trơng, chính sách phù hợp, thúc đẩy các mỗi quan hệ hợptác có hiệu quả hơn trong hiện tại và tơng lai
Xuất phát từ thực tế nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề Hợp tác của Hiệp hội“
các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) với Liên minh châu Âu (EU) và các nớc
Đông Bắc á trong Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM) từ 1996 đến 2006” làm đề
tài luận văn thạc sĩ của mình
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Qua hơn 10 năm hoạt động, sự hợp tác á - Âu đã gặt hái đợc nhiều thànhtựu và có những đóng góp to lớn vào việc thúc đẩy các quan hệ hợp tác giữa châu
á và châu Âu nói chung, giữa EU và Đông á nói riêng, điều này đã từng bớcnâng cao uy tín và vị thế của hai châu lục này trớc thế giới
Trên thực tế, ASEM là một thực thể rất lớn về chính trị, kinh tế, khoa họccông nghệ và có sự đa dạng các nền văn hoá, đến cuối năm 2006, số thành viên
đã lên tới 39 (10 nớc thành viên ASEAN, 25 nớc thành viên Liên minh châu Âu
và Chủ tịch Uỷ ban châu Âu, 3 nớc Đông Bắc á là Nhật Bản, Trung Quốc, HànQuốc) và sẽ còn tăng trong tơng lai Chính vì ASEM là một thực thể rất đa dạng
và phức tạp cho nên đã có rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nớcquan tâm
Có thể khái quát quá trình nghiên cứu về tiến trình hợp tác á - Âu từ khi ra
đời cho đến nay qua một số nguồn t liệu trong nớc mà chúng tôi đã tiếp cận đợc:
Nổi bật nhất là cuốn “Tiến trình hợp tác á - Âu và những đóng góp của Việt
Nam” do GS Nguyễn Duy Quý chủ biên, NXB KHXH Hà Nội 2006 Cuốn sách
này trình bày về quá trình thành lập, phát triển cũng nh những thành tựu và hạnchế của tiến trình ASEM sau hơn 8 năm phát triển, qua đó nêu lên những cơ hội,thách thức và triển vọng phát triển của ASEM trong những năm sắp tới Ngoài racác tác giả còn đề cập đến vấn đề triển vọng tham gia ASEM của Việt Nam Nhìnchung, đây là một công trình mang tính chất tổng quan về tiến trình hợp tác á -
Âu cho nên các vấn đề hợp tác cụ thể giữa các bộ phận cấu thành ASEM ch a đợcquan tâm
Cuốn “ASEM 5 - cơ hội và thách thức trong tiến trình hội nhập á - Âu”,
NXB Lý luận chính trị, Hà Nội 2004 của Hoàng Lan Hoa đã trình bày về thể thứchoạt động, cơ chế hoạt động, nguyên tắc hoạt động cũng nh các lĩnh vực hoạt
động cơ bản khác của ASEM Điều quan trọng ở đây là tác giả đã trình bày khá
cụ thể về các kỳ hội nghị cấp cao ASEM từ năm 1996 đến năm 2002 và những
đóng góp tích cực của ASEM trong phát triển quan hệ á - Âu Công trình nàygiúp chúng ta phần nào thấy đợc bản chất và những mục đích chung của tiếntrình hợp tác á - Âu (ASEM)
Trang 7Cuốn “Lịch sử Đông Nam á” do GS Lơng Ninh chủ biên, NXB Giáo dục,
Hà Nội 2005 trình bày “đại cơng một lịch sử Đông Nam á, nhng là một khu vựclịch sử, có quan hệ gần gũi, có nhiều duyên nợ với nhau, với các sự kiện đồngthời tơng tác giữa các quốc gia khu vực theo lát cắt thời gian, nhng vẫn giữ tínhriêng biệt, tơng đối hệ thống của từng quốc gia/vùng” Một nội dung khá quantrọng mà các tác giả đã đề cập đến đó là quá trình hội nhập, hợp tác và phát triểncủa các quốc gia Đông Nam á cũng nh sự liên kết khu vực của ASEAN từ năm
1991 - 2005 Đây thực sự là nguồn tài liệu cần thiết để chúng tôi sử dụng trongquá trình thực hiện đề tài
Trong cuốn “Liên kết kinh tế ASEAN vấn đề và triển vọng” của Trần Đình
Thiên, NXB Thế giới năm 2005, tác giả đã chỉ ra viễn cảnh của Đông Nam á kể từsau cuộc khủng hoảng tiền tệ (1997) với sự xuất hiện một xu hớng nổi bật là cáccông thức sáng kiến liên kết và hợp tác khu vực lấy ASEAN làm trụ liên tục đợc đa
ra tạo sức hấp dẫn đối với các đối tác bên ngoài Tuy vậy, tác giả mới chỉ trình bày
ở dạng khái quát, lĩnh vực hợp tác chính trị - an ninh vẫn đang còn bỏ ngỏ
Trên thực tế, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết liên quan
đến tiến trình hợp tác á - Âu, tiêu biểu nh: “Liên minh châu Âu với tiến trình
ASEM” của Nguyễn An Hà, Nghiên cứu châu Âu số 3/2004; “Về hợp tác á - Âu những năm đầu thế kỷ XXI” của Đào Minh Hồng, Nghiên cứu Đông Nam á số
5/2004; “ASEM châu Âu hớng về châu á - châu á hớng về châu Âu”, Đỗ Hiền, Nghiên cứu Đông Nam á số 6/2003; “ASEM thành tựu và vấn đề”, Bùi Huy Khoát, Nghiên cứu châu Âu số 5/2004; “ASEM 5 thách thức trong quan hệ á -
Âu”, Phạm Quang Minh, Nghiên cứu Đông Nam á số 5/2004; “ASEM triển vọng trong những năm sắp tới”, Nguyễn Thu Mỹ, Nghiên cứu Đông Nam á số 2/2006;
“Thử nhận diện vai trò của ASEM trong những năm đầu thế kỷ XXI”, Nguyễn Văn Tận, Nghiên cứu châu Âu số 5/2004; “Đôi nét về hợp tác kinh tế trong khuôn khổ
Diễn đàn hợp tác á - âu (ASEM)”, Vũ Chiến Thắng, Nghiên cứu châu Âu số
2/2002; Những công trình này giúp chúng ta có đợc diện mạo tổng quan về Diễn
đàn hợp tác á - Âu nói chung
Các bài viết tiêu biểu về Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) vớiquá trình hội nhập á - Âu và quan hệ với các đối tác chính của ASEAN trong
diễn đàn này là: “Điểm tơng đồng và dị biệt giữa ASEAN và EU những thách
thức trong bối cảnh toàn cầu hoá”, Ngô Hồng Điệp, Nghiên cứu châu Âu, số
6/2005; “ASEAN một đối tác chiến lợc của liên minh châu Âu”, Đặng Minh Đức, Nguyễn An Hà, Nghiên cứu châu Âu, số 2/2003; “Đông Nam á trong chiến lợc
châu á mới của Liên minh châu Âu”, Bùi Huy Khoát, Nghiên cứu châu Âu, số
2/2005; “Vai trò của Thái Lan trong việc liên kết giữa châu á và châu Âu”, Nguyễn Ngọc Lan, Nghiên cứu Đông Nam á, số 4/2004; “ASEM 5 vai trò và
những đóng góp của Việt Nam” Nguyễn Thu Mỹ, Nghiên cứu Đông Nam á, số
Trang 8cứu Đông Nam á, số 3/2004; “ASEAN và hợp tác á - Âu”, Phạm Đức Thành,
Nghiên cứu Đông Nam á, số 5/2004…
Có thể thấy rằng, nghiên cứu Diễn đàn hợp tác á - Âu và sự tham gia củaASEAN đã đợc rất nhiều tác giả quan tâm, các công trình ít nhiều đã đề cập đếnnhiều khía cạnh và góc độ khác nhau Đây thực sự là nguồn t liệu rất cần thiếtgiúp chúng tôi có một cái nhìn toàn diện hơn đến vấn đề đề tài đặt ra Tuy nhiên,việc nghiên cứu về ASEAN trong Diễn đàn hợp tác á - Âu mới chỉ trong phạm vicác bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành một cách khái quát, yêucầu có cái nhìn tổng quan hơn về vấn đề này vấn còn bỏ ngỏ
Trên cơ sở những công trình nghiên cứu nêu trên, chúng tôi cố gắng để xử
lý t liệu, lựa chọn, phân tích và tổng hợp nhằm giải quyết vấn đề theo nội dung đềtài đòi hỏi để có cái nhìn rõ nét hơn về vấn đề này Trong quá trình làm luận văn,một mặt chúng tôi kế thừa những thành tựu của các học giả, các nhà nghiên cứu
đi trớc, mặt khác cố gắng giải quyết các mối quan hệ hợp tác về kinh tế và chínhtrị của ASEAN với các đối tác chính trong Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM) từ
1996 đến 2006
Tiếp cận nguồn t liệu trong khả năng hạn chế của mình, chúng tôi nhận
thấy việc lựa chọn đề tài Hợp tác của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam“ á (ASEAN) với Liên minh châu Âu (EU) và các nớc Đông Bắc á trong Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM) từ 1996 đến 2006” mang tính khoa học và có ý nghĩa
thực tiễn sâu sắc, vừa tầm với một luận văn cao học thạc sỹ
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Luận văn xác định đối tợng nghiên cứu là: Hợp tác của Hiệp hội các quốcgia Đông Nam á (ASEAN) với Liên minh châu Âu (EU) và các nớc Đông Bắc átrong Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM) Tuy nhiên, để có thể hiểu rõ hơn vềASEAN trong quá trình ấy, đề tài không thể không đề cập tới quá trình ra đời,phát triển của ASEAN, ASEM
đến Hội nghị thợng đỉnh ASEM VI tại Helsinki (Phần Lan)
Về nội dung, đề tài nghiên cứu về quan hệ hợp tác chính trị - an ninh, kinh
tế giữa ASEAN và các đối tác chính trong ASEM là Liên minh châu Âu (EU),nhóm nớc phát triển Đông Bắc á Từ đó làm sáng tỏ vai trò, lợi ích ASEAN thu
đợc trong Diễn đàn hợp tác á - Âu, khẳng định vị thế và uy tín ngày càng lớn củaASEAN trên trờng quốc tế Ngoài ra, thông qua việc trình bày mối quan hệ hợp
Trang 9tác giữa ASEAN và các đối tác chính trong ASEM chúng tôi hy vọng sẽ đa ranhững nhận xét bớc đầu về triển vọng phát triển của tiến trình hợp tác á - Âunhững vẫn đề liên quan đến ASEAN và Việt Nam trong những năm sắp tới
Ngoài phạm vi về thời gian và nội dung giới hạn trên, những vấn đề kháckhông nằm trong khung nghiên cứu của đề tài
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi khai thác các nguồn tài liệu sau:
Nguồn tài liệu gốc bao gồm: Các tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị cấp cao
á - Âu từ lần thứ I đến lần VI; các bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của cácnguyên thủ quốc gia thành viên khi tham gia vào Diễn đàn hợp tác á - Âu(ASEM); các văn kiện Đảng, các văn kiện ngoại giao của chính phủ Việt Nam vàmột số bài phát biểu của các nhà lãnh đạo bộ ngoại giao Việt Nam
Nguồn tài liệu nghiên cứu đợc thu thập từ các th viện nh: Th viện Nghệ
An, Th viện quốc gia, Th viện Trờng Đại Học Vinh, Đại Học KHXH & NhânVăn, Đại Học S Phạm Hà Nội, Phòng t liệu của Viện nghiên cứu Đông Nam á,Viện nghiên cứu Châu Âu và TT Thông tấn xã Việt Nam Các bài viết liên quan
đến đề tài đã đợc đăng trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành, báo Nhân dân
và các loại báo tiếng Việt khác
Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo thêm nguồn tài liệu trên mạng Internet,trang Web chính thức của ASEM và trang Web các Hội nghị cấp cao liên quan
đến đề tài
4.2 Phơng pháp nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở nguồn tài liệu thu thập đợc, bằng phơng pháp luận Mác - Lênin vàcác phơng pháp nghiên cứu lịch sử, chúng tôi cố gắng tái hiện khách quan chânthực về hợp tác kinh tế, chính trị - an ninh của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
á (ASEAN) với Liên minh châu Âu (EU) và các nớc Đông Bắc á trong Diễn đànhợp tác á - Âu từ 1996 đến 2006 Trong đó, đề tài chủ yếu sử dụng phơng pháplịch sử kết hợp với phơng pháp lôgic và các phơng pháp bộ môn nhằm giải quyếttriệt để những vấn đề mà luận văn đặt ra
Bên cạnh đó, quan điểm của Đảng về các vấn đề quốc tế, đờng lối đốingoại cũng đợc chúng tôi quán triệt trong quá trình nghiên cứu Ngoài ra, luậnvăn còn sử dụng các phơng pháp chuyên ngành và liên ngành nh: tổng hợp, thống
kê, phân tích, đối chiếu, so sánh và suy luận lôgic để giải quyết các vấn đề màluận văn đặt ra
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn có những đóng góp nhất định sau:
- Đa ra một cái nhìn toàn diện hơn dới góc độ sử học về quá trình hợp tác
Trang 10- Bớc đầu đánh giá vai trò, vị thế, và những lợi ích mà ASEAN thu đợctrong tiến trình hợp tác á - Âu.
- Với những kết quả đạt đợc, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảocho những ai quan tâm đến ASEAN và ASEM Đồng thời, góp phần tìm hiểuquan điểm của một số tổ chức khu vực, quốc gia về vấn đề hội nhập, hợp táccùng phát triển đối với cộng đồng thế giới
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungchính của luận văn đợc triển khai trong 3 chơng:
Chơng 1: Khái quát về Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) và
Diễn đàn hợp tác á - Âu (asem)
Chơng 2: Hợp tác kinh tế, chính trị - an ninh của Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam á (ASEAN) với Liên minh châu Âu (EU) và các nớc Đông Bắc
á trong Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM) (1996 - 2006)
Chơng 3: Vai trò và triển vọng của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
(ASEAN) trong Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM)
Trang 11B Nội dung
Chơng 1 Khái quát về Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN)
và Diễn đàn hợp tác á - Âu (asem) 1.1 Khái quát về Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) (1967 - 2006)
1.1.1 Sự ra đời Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN)
Sau chiến tranh thế giới hai, xu hớng khu vực hoá trên thế giới ngày càngtrở nên phổ biến Hàng loạt các tổ chức khu vực ở các châu lục trên thế giới hìnhthành, điển hình là Tổ chức các nớc Trung Mỹ - OCAS (1951), Cộng đồng kinh
tế châu Âu - EEC (1957), Thị trờng chung Trung Mỹ - CACM (1961), Hội mậudịch tự do Mỹ Latinh - LAFTA (1961)… Những sự kiện này đã tác động mạnh
mẽ đến Đông Nam á, khu vực có nhiều quốc gia mới giành đợc độc lập đang cónhu cầu gắn kết lại với nhau trong quá trình phát triển
Đầu năm 1958, Thủ tớng Malaixia - ápđun Raman đã kêu gọi các nhàlãnh đạo các quốc gia Đông Nam á tổ chức hội nghị để bàn việc “thống nhấthành động trong khu vực” Nhng do khu vực còn có nhiều bất đồng cha đợc giảiquyết nên lời kêu gọi của ápđun Raman cha có nớc nào hởng ứng Đến tháng4/1958, ông tiếp tục đa ra đề nghị thành lập một tổ chức khu vực bao gồm các n-
ớc Malaixia, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam Trong chuyếnthăm chính thức Philippin (1/1959), áp đun Raman cùng Tổng thống PhilippinCáclôt Gaxia đã thông qua thông cáo chung kêu gọi ký kết Hiệp ớc hữu nghị vàkinh tế Đông Nam á (SEAFET) và mời Inđônêxia tham gia nhng không thànhcông Các nớc Đông Nam á tỏ ra thận trọng và cha thực sự mặn mà với ý tởngtốt đẹp này Năm 1961, các nớc Malaixia, Thái Lan và Philippin đã thoả thuậnthành lập Hội Đông Nam á (ASA) Tuy nhiên, những mâu thuẫn giữa các thànhviên trong tổ chức này về biên giới, lãnh thổ … đã dẫn đến sự tan rã của ASA sauhai năm tồn tại Tháng 8/1963, theo sáng kiến của Tổng thống PhilippinMacapagan, ba nớc Philippin, Malaixia, Inđônêxia đã đi đến thoả thuận về việcthành lập một tổ chức mới với tên gọi MAPHILINDO nhng cũng chỉ tồn tại trongmột thời gian ngắn ngủi Nhìn chung, sự ra đời các tổ chức này đã phản ánh yêucầu cần phải thành lập một tổ chức khu vực, nhng không tồn tại đợc lâu do điềukiện cha chín muồi
Cũng trong những năm 60 của thế kỷ XX, sự phức tạp của tình hình thế giới
và khu vực đã tác động mạnh mẽ đến xu hớng liên kết ở Đông Nam á Cuộc chiếntranh Đông Dơng đang biến Đông Nam á thành địa điểm tranh giành giữa các nớclớn Vai trò của Liên Xô, Trung Quốc ngày càng tăng tại khu vực này Mối quan
hệ tay ba Mỹ - Xô - Trung trở nên phức tạp, Đông Nam á rất dễ trở thành con bàicho các cờng quốc mặc cả với nhau “Các quốc gia này nhận thức rằng cách tốt
Trang 12nhất để giảm sự chi phối của các nớc lớn là liên kết với nhau và dựa vào nhautrong một tổ chức khu vực vừa để đảm bảo hoà bình, an ninh khu vực, vừa tạo nênmột sức mạnh tập thể để đối phó với các nớc lớn Bên cạnh đó, mục tiêu ngăn chặn
ảnh hởng của chủ nghĩa cộng sản ở trong nớc và từ bên ngoài cũng đợc đặt ratrong bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh đang bao trùm lên toàn thế giới”.[53;468]
Cuối năm 1966, Ngoại trởng Thái Lan gửi đến Ngoại trởng các nớcInđônêxia, Malaixia, Philippin và Singapore bản dự thảo về việc thành lập một tổchức khu vực ở Đông Nam á Sau nhiều cuộc thảo luận, ngày 8/8/1967, Ngoại tr-ởng 5 nớc đã họp ở Băng Cốc (Thái Lan) đa ra tuyên bố Băng Cốc chính thứcthành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (Association of Southeast AsianNations - ASEAN)
Tuyên bố Băng Cốc là văn kiện đầu tiên, quan trọng nhất nêu rõ 7 mục tiêuhoạt động của ASEAN, tập trung vào việc thúc đẩy tăng trởng kinh tế, tiến bộ xãhội và phát triển văn hoá, đồng thời cũng nêu rõ mục tiêu chính trị cơ bản là đảmbảo ổn định an ninh và phát triển cho toàn bộ khu vực Đông Nam á và từng nớcASEAN Mặt khác, ASEAN cũng đại diện cho ý chí tập thể của các nớc ĐôngNam á gắn bó với nhau và phấn đấu cho nhân dân và các thế hệ mai sau có hoàbình, tự do và thịnh vợng Tuy vậy, Tuyên bố Băng Cốc không phải là một hiệp
định có tính pháp lý ràng buộc các hội viên một cách chặt chẽ, điều đó cho thấytrong buổi đầu tồn tại ASEAN là tổ chức phối hợp hoạt động, dung hoà lợi íchgiữa các nớc thành viên
Sự ra đời của ASEAN đã báo hiệu một thời kỳ mới trong các mối quan hệ
ở Đông Nam á, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết thoả đáng các mâuthuẫn, tranh chấp trong nội khối và ngăn chặn những nguy cơ can thiệp từ bênngoài, góp phần duy trì hoà bình, ổn định trong khu vực
1.1.2 Hoạt động và thành tựu của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) (1967 - 2006)
Trong giai đoạn 1967 - 1976, tình hình khu vực và thế giới có nhiềuchuyển biến phức tạp tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của ASEAN.Các nớc ASEAN rất lo ngại khi Mỹ từng bớc giảm dần vai trò ở Đông Dơng, Anhrút quân khỏi khu vực có thể làm xuất hiện “khoảng trống quyền lực”, cơ hội đểcác nớc lớn khác có thể lợi dụng can thiệp vào Đông Nam á Cũng vào thời giannày, nội bộ một số nớc ASEAN trở nên phức tạp do các cuộc xung đột sắc tộcgiữa ngời Hoa và ngời Mã Lai ở Malaixia (1969), phong trào li khai ở Minđanao(Philippin), cuộc đấu tranh vũ trang của những ngời cộng sản ở Inđônêxia… Vìthế, hoạt động của ASEAN thời kỳ này mang đậm tính chất chính trị Hợp táckinh tế tuy là mục tiêu chính đợc nêu trong Tuyên bố Băng Cốc nhng cha đợcquan tâm một cách thích đáng
Trang 13Ngày 27/11/1971 tại Cuala Lămpơ (Malaixia), Ngoại trởng ASEAN đã đa
ra Tuyên bố về khu vực hoà bình, tự do và trung lập (ZOPFAN Declaration)
“Tuyên bố ZOPFAN (hay còn gọi là Tuyên bố Cuala Lămpơ) thể hiện ý thức tự ờng của các quốc gia Đông Nam á, nhằm hạn chế sự dính líu của các cờng quốcbên ngoài, thể hiện lập trờng trung lập hoá và mong muốn thoát ra khỏi sự ràngbuộc vào các khối liên minh quân sự của các thành viên ASEAN trong bối cảnhchiến tranh lạnh”[53;472] Đến nay, ZOPFAN vẫn là một ý tởng chính trị - anninh quan trọng ASEAN tiếp tục theo đuổi Hiệp ớc Thân thiện và hợp tác ĐôngNam á (TAC) và Hiệp ớc về khu vực không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) đợccoi là hai công cụ chủ yếu để thực hiện ZOPFAN
c-Về cơ cấu tổ chức của ASEAN trong Tuyên bố Băng Cốc bao gồm: “Hộinghi bộ trởng ngoại giao ASEAN (AMM) là cơ quan hoạch định chính sách caonhất của ASEAN, đợc tổ chức hàng năm luân phiên tại các nớc thành viên, chịutrách nhiệm bàn về những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến ASEAN, kể cảviệc tiếp nhận hay kết nạp thêm thành viên mới; Một uỷ ban thờng trực ASEANgồm đại sứ các nớc ASEAN và do Ngoại trởng nớc chủ nhà làm Chủ tịch, thựchiện nhiệm vụ của tổ chức trong thời gian giữa hai cuộc họp Bộ ngoại giao, theodõi việc thực hiện các nghị quyết chính của AMM; Các uỷ ban thờng trực gồmcác chuyên gia và cán bộ cho từng lĩnh vực hoặc vấn đề hợp tác cụ thể; Uỷ ban
th kí quốc gia của mỗi nớc thành viên phục vụ công việc của tổ chức và cuộc họphàng năm hoặc cuộc họp bất thờng của các Ngoại trởng [53;470] Khi mới thànhlập, bộ máy của ASEAN chỉ có 8 uỷ ban phụ trách các lĩnh vực khác nhau
Đến năm 1976, tại Hội nghị thợng đỉnh lần thứ nhất họp tại Bali(Inđônêxia) đã đa ra 3 quyết định lớn về cơ cấu tổ chức, bao gồm Hiệp địnhthành lập ban th kí ASEAN (trụ sở đặt tại Giacácta - Inđônêxia); thành lập 5 uỷban hợp tác kinh tế để đẩy mạnh hợp tác kinh tế; thể chế hoá cuộc họp Bộ trởngKinh tế ASEAN (AEM) Đến nay, ASEAN đã cơ bản hoàn thiện về cơ cấu tổchức, đáp ứng đợc nhu cầu phát triển của các thành viên và quá trình hội nhậpvào cộng đồng quốc tế
Về nguyên tắc hoạt động, ASEAN tuân thủ nguyên tắc đồng thuận, bình
đẳng, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, luân phiên tổ chức cáccuộc họp và đề cử chủ tịch Hiệp hội
Trong hợp tác kinh tế, các nớc ASEAN đã thể chế hoá đợc một số chơngtrình hợp tác kinh tế Điểm nổi bật nhất về hợp tác kinh tế giai đoạn này là tháng3/1969, Quỹ ASEAN chính thức thành lập nhằm tài trợ cho các dự án chung củaASEAN Sau đó, một số cơ quan chuyên trách nh Phòng thơng mại và côngnghiệp ASEAN (1972), các câu lạc bộ để trao đổi thông tin chuyên ngành, thuhút khách du lịch, phát triển dịch vụ; các uỷ ban về hợp tác tài chính, tiền tệ,
… ợc thiết lập
Trang 14Qua 8 năm đi vào hoạt động, mặc dù chỉ đạt đợc những thành tựu rất hạnchế nhng những hoạt động của ASEAN đã đặt nền móng ban đầu cho sự hìnhthành nhận thức chung, thống nhất giữa các nớc thành viên Đây chính là cơ sởvững chắc tạo tiền đề cho ASEAN phát triển sau này.
Vào giữa những năm 70 của thế kỷ XX, quan hệ giữa ASEAN với các nớc
Đông Dơng bắt đầu có sự cải thiện ASEAN đã chủ động đa ra những cơ chế hoạt
động mới nhằm thúc đẩy quá trình liên kết khu vực Tháng 2/1976, tại Bali(Inđônêxia) Hội nghị thợng đỉnh ASEAN lần thứ nhất đã thông qua hai văn kiệnquan trọng là Hiệp ớc thân thiện và hợp tác ở Đông Nam á (Treaty of Amity andCooperation in Southeast Asia - TAC) và Tuyên bố hoà hợp ASEAN (Declaration
Tháng 8/1977, Hội nghị cấp cao lần thứ hai của các ASEAN đã thông quaTuyên bố Cuala Lămpơ (Kuala Lumpur Declaration 1977), khẳng định lại camkết Bali và tuyên bố hoà hợp ASEAN, nhằm tỏ rõ mong muốn phát triển quan hệhoà bình và cùng có lợi với tất cả các nớc trong khu vực
Từ năm 1979 đến năm 1989, hoạt động của ASEAN hầu nh tập trung vàovấn đề Campuchia Các nớc ASEAN chủ trơng liên kết với nhau dùng các biệnpháp ngoại giao, sử dụng các diễn đàn quốc tế phản đối Việt Nam đa quân vàoCampuchia và duy trì quân đội ở nớc này Từ khi Việt Nam từng bớc rút quân vàtiến hành giải pháp chính trị để giải quyết vấn đề Campuchia, các nớc ASEAN đãchuyển sang khuyến khích và thúc đẩy quá trình đối thoại giữa hai nhóm nớc.Với t cách là một tổ chức khu vực, ASEAN đã đóng góp một phần quan trọngtrong việc đề ra những giải pháp chính trị toàn diện cho cuộc xung độtCampuchia ASEAN đợc d luận quốc tế đánh giá cao và trở thành một tổ chức có
uy tín trong việc giải quyết các vấn đề khu vực
Cùng với sự phát triển về cơ cấu tổ chức, ngày 7/1/1984, Brunây đợc kếtnạp thành thành viên thứ 6 của ASEAN tại Giacácta (Inđônêxia) Tháng 12/1987,Hội nghị thợng đỉnh lần thứ 3 của ASEAN tổ chức tại Manila (Philippin) đãthông qua Tuyên bố Manila bày tỏ quyết tâm của các thành viên trong việc thúc
đẩy hợp tác an ninh - chính trị, kinh tế và các lĩnh vực khác
Trang 15Nhìn chung, trong giai đoạn này ASEAN đã có những thành công tơng đốilớn “Một là, ASEAN đã thành công trong việc tạo dựng một cơ cấu quan hệ ổn
định giữa các nớc thành viên để xử lí và kiềm chế mâu thuẫn một cách hoà bình.Mặc dù những tranh chấp song phơng cha phải đã giải quyết xong, nhng trênthực tế đã không để xẩy ra chiến tranh hay xung đột vũ trang giữa các nớc thànhviên Môi trờng hoà bình và ổn định đã tạo điều kiện để một số nớc ASEAN đạt
đợc tốc độ tăng trởng cao trong phát triển kinh tế Hai là ASEAN đã thành côngtrong việc nâng cao uy tín của mình trong các vấn đề khu vực trên diễn đàn quốc
tế, thể hiện qua những đóng góp vào việc thúc đẩy tiến trình tìm ra giải phápchính trị toàn diện cho vấn đề Campuchia”[53;509]
Mặt khác, ASEAN còn thành công trong việc đối thoại với các cờng quốcngoài khu vực nhằm hợp tác phát triển kinh tế, củng cố an ninh - chính trị và hoàbình khu vực
Về hợp tác kinh tế - thơng mại, Tuyên bố hoà hợp ASEAN đã nhấn mạnhchơng trình hợp tác kinh tế, thúc đẩy việc cải tổ bộ máy hợp tác kinh tế giữa cácnớc thành viên Theo đó Hiệp định u đãi thơng mại (Preferential TradeArrangements - PTA) đợc kí kết (2/1977) nhằm thoả thuận một số u đãi thơngmại để tạo khuôn khổ tổng thể cho việc mở rộng buôn bán giữa các nớc ASEAN.Hiệp định u đãi thơng mại PTA đã tạo ra nguồn động lực mới cho thơng mạiASEAN, tuy nhiên kim ngạch thơng mại giữa các nớc cũng chỉ chiếm từ 15 đến20% tổng kim ngạch ngoại thơng của ASEAN Để đẩy nhanh quá trình hợp tác,từng bớc tiến tới liên kết công nghiệp, ASEAN đa ra chơng trình các dự án côngnghiệp (AIP) Từ năm 1980, ASEAN quyết định xây dựng năm công trình côngnghiệp lớn ở 5 nớc do các nớc thành viên cùng sở hữu đầu t với tỷ lệ 60% của n-
ớc chủ quản và 40% của các nớc còn lại Ngoài ra, ASEAN còn phát triển nhiềuloại hình hợp tác trong các lĩnh vực chuyên ngành nh khoa học công nghệ, vănhoá, y tế, giáo dục
Tại Hội nghị thợng đỉnh ASEAN - 3 (1987), lần đầu tiên thuật ngữ “Hợptác chuyên ngành” (Functional Cooperation) đợc chính thức sử dụng Tuyên bốManila đã nêu rõ phải phát triển giáo dục, tăng cờng hiểu biết trong ASEAN, đẩymạnh trao đổi thông tin, thúc đẩy sự tham gia của thanh niên và phụ nữ, các tổchức phi chính phủ vào nỗ lực phát triển hợp tác y tế, lao động, luật pháp, dân số,văn hoá - xã hội, khoa học - công nghệ, môi trờng Nhìn chung, hợp tác ASEANtrong lĩnh vực này mới chỉ đạt đợc những kết quả rất khiêm tốn Nguyên nhânchính là do những tác động của những vấn đề chính trị xung quanh cuộc khủnghoảng khu vực về vấn đề Campuchia
Về hợp tác với các nớc ngoài khu vực, ngay từ đầu ASEAN đã nhận thức
rõ tầm quan trọng của hành động tập thể trong các vấn đề quốc tế Từ năm 1976,
Trang 16EEC, Mỹ, Hàn Quốc và sau đó đã từng bớc ký Hiệp định hợp tác với các đối tácnày Hàng năm, ASEAN còn có các cuộc gặp chính thức ở cấp Bộ trởng với cácnớc thứ ba trong dịp hội nghị thờng niên của các Ngoại trởng (AMM) Trên cơ sở
đó, ASEAN tiếp tục thu hút vốn đầu t nớc ngoài, tranh thủ sự viện trợ của các nớcphát triển và đẩy mạnh quan hệ với các nớc thứ ba Năm 1987, kim ngạch thơngmại hai chiều giữa Nhật và ASEAN đạt 35,5 tỷ USD, giữa Mỹ và ASEAN đạt 27
tỷ USD Đây là một tiền đề hết sức quan trọng tạo đà cho sự phát triển của tổchức trong giai đoạn sau
Thập niên cuối cùng của thế kỷ XX đã chứng kiến những biến động to trênbàn cờ chính trị quốc tế: Chiến tranh lạnh chấm dứt, Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô
và Đông Âu sụp đổ, trật tự hai cực Ianta tan rã Cũng trong thời gian này, cuộccách mạng khoa học và công nghệ phát triển với tốc độ cao tác động sâu rộng tớimọi mặt của đời sống xã hội quốc tế Xu thế hoà bình hợp tác và phát triển trởthành xu thế chủ đạo chi phối quan hệ quốc tế ở từng khu vực cũng nh trên phạm
vi toàn cầu Cùng với vấn đề Cămpuchia đợc giải quyết, những biến cố lịch sử đó
đã trực tiếp tác động đến khu vực Đông Nam á, tạo cơ hội để các nớc trong khuvực có điều kiện xích lại gần nhau, cùng hợp tác hội nhập để biến Đông Nam áthành khu vực hoà bình, độc lập, ổn định và phát triển
Mở đầu cho quá trình đó là việc Việt Nam trở thành thành viên chính thứccủa ASEAN (7/1995), sự kiện trọng đại này mở ra triển vọng cho sự liên kết toànkhu vực, đồng thời đánh dấu kết thúc sự đối đầu ý thức hệ t tởng chính trị - quân
sự giữa hai nhóm nớc ở Đông Nam á Do tình hình chính trị ở Campuchia cha ổn
định nên tại Hội nghị Ngoại trởng lần thứ 30 của ASEAN (8/8/1997) chỉ kết nạpLào và Mianma Đến ngày 30/4/1999, Campuchia mới chính thức trở thành thànhviên thứ 10 của ASEAN Việc mở rộng ASEAN - 6 đến ASEAN - 10 đã nâng cao
vị thế của ASEAN trong khu vực châu á - Thái Bình Dơng và trên trờng quốc tế
Trong giai đoạn 1990 - 2006, ASEAN đã đạt đợc những thành tựu hết sức
to lớn trên tất cả các lĩnh vực
Trớc hết là thành tựu về hợp tác nội bộ trên lĩnh vực an ninh - chính trị,thành công đáng kể nhất chính là các quốc gia thành viên ASEAN đã tìm đợctiếng nói chung trong hàng loạt các vấn đề quốc tế và khu vực Tháng 12/1995,Hội nghị cấp cao lần thứ 5 của ASEAN ở Băng Cốc (Thái Lan) đã ký Hiệp ớc vềkhu vực phi vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) Đây là một bớc tiến quan trọng trongviệc thực hiện hoá t tởng ZOPFAN, đặt cơ sở pháp lí cho các nớc cùng tham giacác hiệp ớc quốc tế về giải trừ quân bị và không phổ biến vũ khí hạt nhân Ngoài
ra nó còn phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chung của các nớc thành viên, gópphần nâng cao uy tín của ASEAN trên trờng quốc tế
Từ Hội nghị cấp cao ASEAN 8 (11/2002) ở Lào, các nhà lãnh đạo các n
-ớc thành viên đã bàn bạc và khẳng định việc thực hiện các biện pháp tập thể để
Trang 17cùng nhau giải quyết những vấn đề an ninh - chính trị chung của khu vực Sau vụkhủng bố ở đảo Bali (Inđônêxia - 10/2002), Hội nghị AMM - 36 ở Phnôm Pênh(6/ 2003) đã đa ra ý tởng thành lập Cộng đồng an ninh ASEAN (ASC) ý tởngnày đã đợc Hội nghị cấp cao ASEAN - 9 (11/2003) ở Bali khẳng định trong Tầmnhìn ASEAN - 2020, nhằm hớng tới xây dựng một Cộng đồng ASEAN đoàn kết,vững mạnh dựa trên ba trụ cột là an ninh, kinh tế và văn hoá - xã hội.
Về hợp tác với an ninh với bên ngoài, các nớc châu á - Thái Bình Dơngsau chiến tranh lạnh nhận thức rõ tầm quan trọng của việc giữ gìn an ninh và cụcdiện chính trị cân bằng, ổn định trên cơ sở hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau nhằmphucn vụ mục tiêu phát triển kinh tế Xuất phát từ nhận thức đó, các nớc ASEAN
đa ra sáng kiến về việc xây dựng Diễn đàn an ninh khu vực Tại Hội nghị AMM
-24 (7/1993) ở Singapore đã đa ra quyết định thành lập Diễn đàn an ninh khu vựcASEAN (ASEAN Regional Forum - ARF) Ngày 25/7/1994 tại Băng Cốc, ARFchính thức tuyên bố thành lập
Đến nay, ARF đã có tới 27 thành viên Theo quy định, ARF đợc tổ chứchàng năm với sự tham gia của cấp Bộ trởng và tiến hành luân phiên tại các nớcASEAN theo sự điều phối của ASEAN Thông qua quá trình đối thoại, các chủ
đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống đợc đa ra thảo luận, đặc biệt
là những vấn đề mang tính thời sự có khả năng tác động tiêu cực tới sự phát triểncủa khu vực Đông Nam á Điều này đã góp phần thúc đẩy quan hệ đối thoại, hợptác và tăng cờng hiểu biết, tin cậy lẫn nhau không những giữa các nớc ASEANvới nhau mà còn đối với các nớc lớn khác trong khu vực và trên thế giới Từ Diễn
đàn an ninh khu vực ASEAN, nhiều sáng kiến về vấn đề an ninh khu vực đ ợc kíkết nh: Hiệp ớc về xây dựng Bộ quy tắc ứng xử biển Đông (1998) Tuyên bố hợptác chống khủng bố để đảm bảo an ninh biên giới, Tuyên bố chung về chống cớpbiển (6/2003), đàm phán về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên…
Tuy vậy, để ARF tiếp tục là kênh đối thoại quan trọng trong việc bảo vệhoà bình, an ninh khu vực, ARF phải có những bớc đi phù hợp với các nớc thànhviên, ASEAN phải là nòng cốt và đóng vai trò đầu tàu trong các hoạt động củaDiễn đàn
Để thúc đẩy chính sách đa phơng hoá, đa dạng hoá quan hệ với các nớc lớn
và các tổ chức khu vực, quốc tế, ASEAN đề ra ý tởng và vận động thành lập Diễn
đàn hợp tác á-Âu (Asia Europe Meeting – ASEM) Tháng 3/1996, Hội nghị cấpcao á - Âu lần thứ nhất (ASEM - 1) đợc tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) với sựtham gia của 25 quốc gia và Chủ tịch Uỷ ban châu Âu, đánh dấu sự ra đời củaDiễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM)
Từ sau Hội nghị thợng đỉnh ASEAN lần thứ 4 Singapore (1/1992) quan hệcủa ASEAN với các đối tác mới trong khu vực châu á - Thái Bình Dơng đợc đẩy
Trang 18mạnh lên cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Đến tháng 7/1996, ASEAN đã thiết lậpquan hệ đối thoại đầy đủ với Trung Quốc, Liên bang Nga và ấn Độ Riêng đốivới Mỹ, Nhật Bản, EU, Canađa và Australia là những đối tác chiến lợc luôn đợcASEAN coi trọng và không ngừng củng cố trong quá trình hợp tác cùng pháttriển Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997, ASEAN chủ động đề nghịthành lập cơ chế hợp tác mới: ASEAN + 3 (Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc)nhằm thúc đẩy, mở rộng quá trình hợp tác trên các lĩnh vực chính trị kinh tế - th-
ơng mại giữa 10 nớc ASEAN với 3 nớc Đông Bắc á
Cùng với những hoạt động về hợp tác an ninh - chính trị, hợp tác kinh tế đãtrở thành lĩnh vực u tiên hàng đầu trong các hoạt động của ASEAN Về hợp táckinh tế nội khối, việc thiết lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (ASEAN FreeTrade Area - AFTA) đợc thông qua tại Hội nghị thợng đỉnh ASEAN - 4 ởSingapore (1992) đã thể hiện quyết tâm và sự thích ứng mới của ASEAN với tìnhhình chính trị, kinh tế trong khu vực và thế giới Mục tiêu chủ yếu của AFTA làtạo một môi trờng thơng mại - đầu t u đãi trong khu vực trên cơ sở loại bỏ cáchàng rào thuế quan và phi thuế quan, thực hiện Hiệp định về Chơng trình thuếquan u đãi hiệu lực chung (CEPT) theo một lộ trình nhất định và sẽ loại bỏ hoàntoàn thuế quan giữa các nớc trong ASEAN vào năm 2015 Việc thực hiện AFTA
sẽ tạo cho ASEAN một thị trờng thống nhất, một môi trờng kinh tế năng động vớikhả năng thu hút vốn đầu t trực tiếp từ nớc ngoài AFTA chính là chiếc cầu nối đểcác nớc ASEAN tham gia một cách đầy đủ và có hiệu quả hơn vào các tổ chức th-
ơng mại quốc tế nh APEC, WTO
Để thúc đẩy tiến trình AFTA, các nớc ASEAN đã thông qua Chơng trìnhhợp tác công nghiệp (AICO) năm 1996, Hiệp định khung về Khu vực đầu tASEAN (AIA) năm 1998 nhằm tạo ra khu vực kinh tế phát triển năng động cósức cạnh tranh cao ở Đông Nam á
Mặt khác, để thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các thành viên, ASEAN đa rahàng loạt các chơng trình hợp tác nh: Chơng trình hợp tác tiểu vùng sông MêCông (1995), Chơng trình hành động Hà Nội (1998), Sáng kiến hội nhập ASEAN(2000), Tuyên bố Hà Nội về thu hẹp khoảng cách phát triển nhằm tăng cờng liênkết ASEAN (2001), thực hiện các dự án trong sáng kiến liên kết ASEAN (IAI) Tháng 11/2003, tại Hội nghị thợng đỉnh ASEAN - 9 ở Bali (Inđônêxia) các nhàlãnh đạo ASEAN đã thoả thuận về việc thiết lập Cộng đồng kinh tế ASEAN(ASEAN Economic Community - AEC) Đây là lần đầu tiên khái niệm cộng
đồng kinh tế ASEAN đợc sử dụng chính thức, với mục tiêu đến năm 2020 AEC
sẽ là một khu vực sản xuất và thị trờng chung với việc hàng hoá, dịch vụ, đầu t,nguồn nhân lực có tay nghề và cả vốn đầu t đợc luân chuyển tự do
Trong quan hệ ngoại khối, ASEAN tiếp tục chủ trơng mở rộng và phát triểnquan hệ kinh tế lên một tầm cao mới Đối với các nền kinh tế lớn nh Cộng đồng
Trang 19châu Âu (EC) (từ 1993 EC đổi thành EU), Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc … ,ASEAN luôn xem đây là các đối tác chiến lợc trong quá trình mở rộng quan hệthơng mại và đầu t theo hớng hình thành các khu vực mậu dịch tự do chung Vớicác đối tác lớn khác nh ấn Độ, Nga, Australia, Niu Dilân, ASEAN cũng cónhững bớc đi hợp lí nhằm thắt chặt hơn các mối quan hệ hợp tác trên cơ sở đôibên cùng có lợi
Không chỉ tăng cờng hợp tác kinh tế đa phơng, từng thành viên ASEANcũng đã nỗ lực mở rộng hợp tác liên kết song phơng với các nớc và các tổ chứckhác
Nhìn lại quá trình phát triển, thành công của ASEAN đạt đợc chủ yếu thểhiện trên hai bình diện chính sau đây:
Thứ nhất, ASEAN đã liên kết đợc 10 nớc Đông Nam á thành một thực thểkinh tế - chính trị đoàn kết, nhất trí, có cơ chế giải quyết mâu thuẫn, xung đột bằngbiện pháp hoà bình và thúc đẩy hợp tác kinh tế Nguyên tắc nhất trí (consensus) vàviệc đề ra những mục tiêu đúng đắn để đảm bảo đợc “tính thống nhất trong đadạng” đã tạo nên ý thức cộng đồng và sức mạnh cho ASEAN
Thứ hai, ASEAN đã phát huy tối đa tính tự chủ, tự cờng khu vực, lôi kéocác nớc, các thực thể kinh tế - chính trị lớn nhất trên thế giới cùng đối thoại, hợptác Với những sáng kiến và hoạt động có hiệu quả về chính trị - an ninh và kinh
tế, ASEAN đang ngày càng có vai trò quan trọng trên các Diễn đàn quốc tế vàkhu vực châu á - Thái Bình Dơng [53;583]
Ngoài những thành công, ASEAN cũng phải đối mặt với rất nhiều khókhăn và thách thức trong quá trình phát triển và hội nhập nh: trình độ và mứcsống có những chênh lệch rất lớn, sự khác biệt về chế độ chính trị và hệ t tởng,những tranh chấp do lịch sử để lại (biên giới, lãnh thổ, lãnh hải), những mâuthuẫn về sắc tộc, tôn giáo, làn sóng li khai, chủ nghĩa khủng bố… Mặt khác, doASEAN là một tổ chức liên chính phủ nên trong quá trình tồn tại và phát triển đãgặp phải mâu thuẫn giữa yêu cầu tôn trọng quyền lợi của từng thành viên với sựthống nhất chung của tất cả các nớc
Trong quan hệ đối ngoại, ASEAN không tránh khỏi việc phải chịu áp lực từcác nớc lớn An ninh của ASEAN gắn liền với an ninh của khu vực châu á - TháiBình Dơng và liên quan đến chính sách của các cờng quốc lớn trên thế giới
Về triển vọng phát triển của ASEAN, tháng 11/2003 Hội nghị cấp caoASEAN - 9 ở Bali (Inđônêxia) đã đa ra lộ trình thực hiện Tầm nhìn ASEAN 2020.Trong Tuyên bố hoà hợp ASEAN II, các nhà lãnh đạo ASEAN khẳng định khuônkhổ tiến tới Cộng đồng ASEAN là Cộng đồng an ninh ASEAN (ASC), Cộng đồngkinh tế ASEAN (AEC), Cộng đồng văn hoá - xã hội ASEAN (ASCC) Hình ảnh vềmột cộng đồng ASEAN là triển vọng của một khu vực Đông Nam á thống nhất
Trang 20trong đa dạng, hoà bình, an ninh và thịnh vợng, mở ra một bớc ngoặt mới trên con
đờng phát triển của khu vực có nền kinh tế năng động này
Từ việc tìm hiểu sự ra đời, quá trình phát triển và những thành tựu củaASEAN có thể nhận thấy mục tiêu cao nhất của ASEAN đợc nêu trong Tuyên bốBăng Cốc và thực hiện trong quá trình phát triển là thắt chặt quan hệ kinh tế -chính trị - xã hội nội khối, mở rộng quan hệ đối ngoại, không phân biệt chế độchính trị - xã hội, hợp tác cùng phát triển Đây là điểm căn bản, thống nhất và làcơ sở để ASEAN tiếp tục đa ra những sáng kiến về hợp tác với các đối tác bênngoài, trong đó có ASEM
1.2 Khái quát về quá trình ra đời và phát triển của Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM)
1.2.1 Sự ra đời của Diễn đàn hợp tác á - Âu (asem)
1.2.1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực
Bớc vào thập niên cuối cùng của thế kỉ XX, nhân loại chứng kiến những sựkiện lịch sử quan trọng: sự kết thúc chiến tranh lạnh, sự sụp đổ của chế độ Xã hộichủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu Cũng từ đây, “Thế giới đang chuyển mạnh từchạy đua quyết liệt về quân sự, tranh giành những khoảng trống quyền lực sangcạnh tranh kinh tế, chiếm lĩnh các thị trờng Sức mạnh kinh tế ngày càng có vaitrò quyết định vị thế của mỗi nớc trên trờng quốc tế”[65;17]
Để củng cố quyền lực và vai trò trong các mối quan hệ quốc tế, Mỹ đã
điều chỉnh chiến lợc, chính sách đối ngoại với mục đích là tăng cờng sức mạnhkinh tế và những lợi ích về an ninh, chính trị Tuy nhiên, do hậu quả của cuộcchạy đua vũ trang, sức mạnh của nền kinh tế Mỹ bị suy giảm trong tơng quan sosánh với Liên minh châu Âu và Nhật Bản Trong khi đó nền kinh tế Trung Quốclại đang phát triển mạnh mẽ với tốc độ cao và ổn định Bức tranh kinh tế thế giớibắt đầu có sự thay đổi theo chiều hớng tích cực
Đi cùng với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là sựtan rã của mô hình kinh tế tập trung kế hoạch, nền kinh tế thị trờng trở nên phổbiến và thắng thế với nhiều hình thức, nhiều mức độ, góp phần tăng cờng xu thế
tự do hoá kinh tế vừa hợp tác, vừa cạnh tranh trên cấp độ toàn cầu Những tiến bộ
về khoa học và công nghệ, đã tác động to lớn đến từng cá nhân, doanh nghiệp,các tổ chức và các quốc gia trên toàn thế giới Điều quan trọng là nó làm thay đổicác phơng thức thơng mại quốc tế, cũng nh các phơng tiện sản xuất trong nềnkinh tế Đến lúc này “sự phát triển của xã hội không còn dựa chủ yếu vào cácnguồn tài nguyên thiên nhiên mà chủ yếu dựa vào những nguồn lực có yếu tố trithức, nguồn lực con ngời, dần dần hình thành nền kinh tế tri thức là những yếu tố
đầu vào quan trọng của hệ thống sản xuất, quản lí”[62;29] Toàn cầu hoá kinh tếtrở thành một xu thế phổ biến trong quan hệ quốc tế “Quá trình này một mặt gắnkết các nớc lại với nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết vào một làng toàn cầu thông
Trang 21qua việc mở rộng thị trờng quốc tế và công nghệ thông tin hiện đại, mặt khác lạilàm gia tăng và làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng đang tồn tại trong việcphân bổ của cải và nguồn tài nguyên giữa các quốc gia và ngay trong một quốcgia”[65;19] Tất cả những thay đổi trên đều tác động to lớn đến nền kinh tế -chính trị của thế giới
Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, xu hớng liên kết kinh tế khu vực cũng pháttriển mạnh mẽ với nhiều hình thức, nhiều cấp độ khác nhau ở châu Âu, trên cơ
sở Cộng đồng kinh tế châu Âu EEC (1957) với sáu nớc thành viên là Pháp, Đức,Italia, Bỉ, Hà Lan, Lucxembua, thì đến năm 1992 thông qua Hiệp ớc Maastrichts,Liên minh châu Âu (EU) chính thức đợc thành lập Đây là một tổ chức khu vực
đạt mức độ liên kết rất cao với thị trờng thống nhất, có nghị viện chung, có đồngtiền chung và đang tiến tới thông qua hiến pháp chung ở châu Mỹ, khối thị tr-ờng chung Nam Mỹ - MERCOSUR cũng tuyên bố thành lập vào năm 1991 Mộtnăm sau, Hiệp định thành lập Khu mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) đợc ký kếtvới sự tham gia của Mỹ, Canađa, Mêhicô ở châu á, Hiệp hội các quốc gia ĐôngNam á (ASEAN) cũng tăng cờng liên kết kinh tế khu vực bằng việc thành lậpKhu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA (1992) Không chỉ liên kết ở quy môchâu lục, năm 1989 đã xuất hiện mô hình liên kết xuyên châu lục đó là sự ra đờicủa Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dơng (APEC) Ngoài ra, nhữngnăm 90 còn đánh dấu sự trỗi dậy của các nền kinh tế Đông á nh Hàn Quốc,Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Malaixia, Thái Lan, biến châu á - Thái BìnhDơng thành một khu vực kinh tế năng động với vai trò ngày càng quan trọngtrong nền kinh tế thế giới
Cùng với xu thế toàn cầu hoá, diện mạo kinh tế thế giới có nhiều thay đổi,dần dần hình thành ba trung tâm kinh tế lớn là Bắc Mỹ, Tây Âu và Đông á “Bộ
ba này chiếm tới 85 - 98% các hoạt động trong các lĩnh vực mậu dịch quốc tế, đầu
t trực tiếp công nghệ thông tin và GDP Do sức mạnh kinh tế của nó, bộ ba kinh tếtrên đang chi phối sự phát triển của nền kinh tế thế giới và sẽ là lực lợng quyết
định diện mạo của kinh tế toàn cầu trong thế kỉ XXI”[65;21] Mỗi quan hệ giữa bộ
ba kinh tế này bắt đầu thay đổi theo xu hớng tích cực Nếu đầu những năm 90 củathế kỉ XX, giữa các cực trong bộ ba kinh tế này diễn ra một cuộc cạnh tranh rấtkhốc liệt do sự vơn lên mạnh mẽ của Đông á khiến cho nhiều ngời ở Tây Âu vàBắc Mỹ lo ngại thì giữa những năm 90 mỗi quan hệ giữa các chủ thể trong bộ ba
đó có sự thay đổi Các cờng quốc đóng vai trò hạt nhân nhận thấy rằng trong bốicảnh thế giới có nhiều thay đổi, sự hợp tác giữa các nền kinh tế sẽ đồng nghĩa với
sự phát triển, là hợp với xu thế của thời đại ngày nay
Nh vậy, trớc khi ASEM ra đời, mối quan hệ giữa châu á và châu Âu cha
t-ơng xứng với vị trí và tiềm năng vốn có Nhận ra sự thiếu cân bằng trong tam
Trang 22kinh tế thế giới tổ chức tại Singapore năm 1994, Thủ tớng nớc chủ nhà đã đề xuất
ý tởng tổ chức một cuộc gặp gỡ cấp cao giữa các nhà lãnh đạo châu á và châu
Âu đặt nền tảng đầu tiên cho tiến trình hội nhập toàn diện á - Âu
đánh dấu Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM) chính thức ra đời
Ngay từ thời cổ đại, con đờng “Tơ lụa”, buôn bán trao đổi hàng hoá giữachâu á và châu Âu đã hình thành và phát triển Đến thế kỉ XIII, Maco Polo tìm
ra châu á và tiếp tục mở rộng con đờng này Sang thời Phục hng, khi hàng hảicủa châu Âu phát triển mạnh, thông qua các cuộc phát kiến địa lí (thế kỉ XV,XVI) ngời châu Âu đã biết tới châu á nh một trong những khu vực giàu có nhấtthế giới Từ đó, quan hệ buôn bán và văn hoá giữa các nớc của hai châu lục liêntục phát triển cho tới khi phần lớn các nớc châu á bị đặt dới ách thống trị của cácnớc thực dân phơng Tây
Bớc sang thế kỉ XX, nhất là từ sau chiến tranh thế giới lần hai, phong trào
đấu tranh giải phóng dân tộc ở châu á phát triển, các nớc thực dân phơng Tây lầnlợt phải công nhân và trao trả độc lập cho nhiều dân tộc ở châu á Cũng từ đây,quan hệ giữa châu Âu và châu á đã có nhiều cải thiện và chuyển sang một giai
đoạn phát triển mới
Trên bình diện khu vực, mặc dù ASEAN đợc thành lập từ năm 1967, nhngphải đến 11/1972, quan hệ giữa ASEAN và Cộng đồng châu Âu (EC) mới đợcthiết lập thông qua cuộc gặp gỡ chính thức tại Brussels (Bỉ) Đến 3/1980, Hiệp
định hợp tác giữa hai bên đã đợc ký kết với mục tiêu là phát triển kinh tế - thơngmại, văn hoá - xã hội trên cơ sở đôi bên cùng có lợi
Nh vậy, các mối quan hệ trên đã tạo ra những tiền đề cho sự phát triểnquan hệ hợp tác chính thức giữa hai châu lục ở thời kì hậu chiến tranh lạnh Họcgiả Fumiaki Takahashi ngời Nhật Bản nhận định: Chiến tranh lạnh chấm dứt đãlàm phân tán quyền lực thành nhiều cực phụ thuộc lẫn nhau Chính sự phụ thuộcnày là cơ sở cho mối liên hệ giữa châu á và châu Âu Tuy nhiên, hợp tác á - Âumuốn phát triển lên tầm cao mới còn phải xuất phát từ nhu cầu của bản thân cácnớc châu á và châu Âu
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, vị trí của ASEAN trong chiến lợc toàncầu và khu vực của các nớc lớn bị giảm sút Hơn nữa việc thành lập Khu vực mậu
Trang 23dịch tự do Bắc Mỹ và sự thống nhất thị trờng Liên minh châu Âu vào năm 1992
đã làm cho những khu vực này trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu t trên thếgiới Và hệ quả là luồng vốn FDI, nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế củacác nớc ASEAN bị giảm đi so với trớc Bên cạnh những trở ngại trên con đờngphát triển kinh tế, ASEAN lại phải đối diện với những thách thức về an ninh nảysinh từ bên trong khu vực Mặc dù vấn đề Campuchia cơ bản đã đợc giải quyếtvới việc ký kết Hiệp định Pari (10/1991), nhng vẫn còn nhiều vấn đề do lịch sử
để lại ở các nớc Đông Nam á nh chủ nghĩa li khai ở Inđônêxia, xung đột sắc tộc
ở Philippin, tranh chấp Biển Đông Từ năm 1992, khi Mỹ và Nga rút bỏ sự có mặt
ở Đông Nam á thì những quan ngại về an ninh của ASEAN lại càng tăng lên vì ở
đây xuất hiện một “khoảng trống quyền lực”
Để đối phó với tình trạng trên, ASEAN đã tiến hành thành lập Khu vựcmậu dịch tự do ASEAN - AFTA, đa ra sáng kiến thành lập Diễn đàn an ninh khuvực ASEAN - ARF nhằm lôi kéo sự tham gia của nhiều cờng quốc, tăng cờnghợp tác quốc tế nhất là với những khu vực đạt tới trình độ liên kết cao và ngàycàng có sức mạnh về kinh tế
Với EU, ASEAN nhận thấy, muốn tiếp tục duy trì sự phát triển với tổ chứcnày thì cần phải có một khuôn khổ hợp tác lớn hơn khuôn khổ ASEAN - EU hiện
đang trì trệ do chính sách của cả hai bên
Với các nớc Đông Bắc á, đứng trớc một châu Âu hùng mạnh, họ nhận thấyrằng các cơ chế hợp tác song phơng không còn hữu hiệu nh trớc nữa, cần phải tậphợp các nớc trong khu vực Đông á có cùng lợi ích lại để tạo ra một cơ chế tập thểmới nhằm đáp ứng đợc các đòi hỏi mở của thị trờng châu Âu Chính vì thế, sángkiến tổ chức hội nghị hợp tác á - Âu của ASEAN đã đợc các nớc Đông Bắc ánhiệt thành ủng hộ bởi nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi của họ
Về phía EU, sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, tham vọng muốn thay thế
vị trí của Liên Xô trong chiến lợc toàn cầu xuất hiện Trong chính sách an ninhchung, Liên minh châu Âu đã đa ra mục tiêu là đảm bảo sự có mặt của mình trêntất cả các khu vực của thế giới, nhất là châu á EU còn cho rằng, các lợi ích kinh
tế ngày càng tăng của châu Âu cần đợc sự hỗ trợ bằng việc đảm bảo một môi ờng ổn định và dân chủ ở châu á EU cần có mặt về chính trị - an ninh ở khu vựcnày, nơi đợc xem là khu vực phát triển năng động nhất và sẽ là một trong nhữngtrụ cột của kinh tế thế giới trong thế kỉ XXI “Sự trỗi dậy của châu á đang làmthay đổi một cách sâu sắc sự cân bằng của thế giới về sức mạnh kinh tế Khi sứcmạnh của châu á tăng lên trong nền kinh tế toàn cầu thì sức ép của nó ngày càngtăng về một vai trò lớn hơn trong các công việc thế giới”[44;9] Một số nhà lãnh
tr-đạo châu Âu nhận thấy rằng, chính sách “Lẩn trốn khỏi châu á” nh trớc đây đãthu hẹp ảnh hởng của châu Âu ở khu vực châu á và ngăn cản châu Âu khai thác
Trang 24cấp cho họ Chiến lợc châu á mới (NAS) đã đợc Hội đồng châu Âu thông qua(12/1994) và đợc Nghị viện châu Âu phê chuẩn vào năm 1995 Đây chính là mộtchiến lợc toàn diện, lâu dài nhằm giúp EU mở rộng các quan hệ hợp tác với châu
á trên tất cả các phơng diện khi tình hình thay đổi
Cũng trong thời gian này, sự ra đời của APEC cũng là một nhân tố xúc tácnữa buộc châu Âu phải có cách nhìn nhận khác về châu á Năm 1989, khi sángkiến thành lập APEC đợc đa ra, châu Âu đã ngoảnh mặt làm ngơ Khu vực nàychỉ thực sự thức tỉnh khi Hội nghị thợng đỉnh APEC - 1 đợc tổ chức tai Siatơnnăm 1993 Sự kiện này cho thấy rằng, lần đầu tiên trong lịch sử, một hội nghịquốc tế diễn ra mà không có sự tham gia của bất kì một quốc gia châu Âu nào.Mặc dù sau đó Nghị viện châu Âu đã tìm cách để EU tham gia vào APEC dớimột vài hình thức nhng đã bị từ chối Vì vậy, tham gia vào tiến trình hợp tác á -
Âu là cơ hội để EU bắc cầu nối tiếp với APEC
Nhân tố rất quan trọng xúc tiến nhanh quá trình ra đời của ASEM là nhucầu hợp tác ngay trong bản thân châu á và châu Âu Chính sự thiếu vắng mốiliên hệ giữa hai châu lục á - Âu đã gây ra sự mất cân bằng trong tam giác kinh tếthế giới Mỹ có thể lợi dụng cơ hội này để khai thác quan hệ với EU thông quaNATO và quan hệ với Đông á thông qua APEC Do đó, hợp tác á - Âu đợc chờ
đợi sẽ làm giảm bớt sự phụ thuộc vào Mỹ
Ngoài ra, trong quan điểm của châu Âu, Đông á tuy là khu vực phát triểnnăng động nhng vấn tiềm tàng nguy cơ căng thẳng, xung đột, tranh chấp Châu á
sẽ là vị trí quan trọng mà châu Âu muốn đóng vai trò Hơn nữa châu Âu cha từ
bỏ ý định áp đặt điều kiện và truyền bá các quan điểm về nhân quyền, dân chủ,
hệ thống chính trị xã hội cho châu á
Nh vậy, trớc ngỡng cửa thế kỉ XXI, sáng kiến tổ chức Hội nghị thợng đỉnh
á - Âu hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của các bên Chính sự tơng đồng về lợiích đã gắn kết hai châu lục lại với nhau trong xu thế đối thoại hoà bình, hợp táccùng phát triển Năm 1996, tại Băng Cốc (Thái Lan), ASEM - 1 đã thông qua đợcnhững chơng trình và các hoạt động cụ thể, điều đó cho thấy quyết tâm của cácnhà lãnh đạo Đông á và Liên minh châu Âu trong việc biến ASEM từ ý tởngthành một tiến trình hợp tác giữa hai châu lục á - Âu Chính những thành công b-
ớc đầu của ASEM - 1 đã cho thấy chủ trơng của các nhà lãnh đạo á - Âu là khéplại quá khứ để xây dựng quan hệ mới vì lợi ích của mỗi khu vực nói riêng và lợiích của toàn nhân loại nói chung ASEM ra đời đã hoàn tất việc tạo ra cạnh thứ bacủa tam giác kinh tế toàn cầu với ba cực là Tây Âu, Đông á và Bắc Mỹ
1.2.1.3. Mục đích, nguyên tắc hoạt động và cơ cấu tổ chức của ASEM.
Mục đích của ASEM : Xuất phát từ nhu cầu hợp tác á - Âu, ASEM đã ra
đời với mục đích là tạo dựng một mối quan hệ đối tác mới toàn diện giữa haichâu lục á - Âu vì sự tăng trởng mạnh mẽ hơn nữa để hớng tới thế kỉ XXI Trong
Trang 25đó tập trung vào ba mục tiêu chính là: Thúc đẩy đối thoại chính trị để tăng cờnghơn nữa sự hiểu biết lẫn nhau và thống nhất quan điểm của cả hai châu lục đốivới các vấn đề chính trị – an ninh và xã hội của thế giới; Xây dựng quan hệ đốitác một cách toàn diện và sâu rộng giữa hai châu lục nhằm thúc đẩy trao đổi th-
ơng mại và đầu t giữa các thành viên; Tăng cờng hợp tác trong các lĩnh vực khoahọc kĩ thuật, môi trờng, phát triển nguồn nhân lực… để tạo sự tăng trởng bềnvững ở cả châu á và châu Âu Mục đích này chỉ có thể đạt đợc trên cơ sở cácnguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau cùng có lợi giữa các đối tác ASEM
Về nguyên tắc hoạt động: ASEM là một diễn đàn đối thoại không chính thứchoạt động theo nguyên tắc đồng thuận, cùng nỗ lực tạo dựng một mối quan hệ đốitác mới toàn diện Nguyên tắc đồng thuận đợc cụ thể hoá theo hớng: “Bình đẳng t-
ơng trợ lẫn nhau cùng có lợi; ASEM là một tiến trình mở và tiệm tiến, không chínhthức nên không nhất thiết phải thể chế hoá; Tăng cờng nhận thức và hiểu biết lẫnnhau thông qua một tiến trình đối thoại và tiến tới hợp tác trong việc xác định cụ thểcác u tiên cho các hoạt động phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau trong khuôn khổ ASEM;Triển khai đồng đều cả ba lĩnh vực hợp tác là: Tăng cờng đối thoại chính trị; Thúc
đẩy hợp tác kinh tế; Đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực khác; Việc mở rộng kếtnạp thêm thành viên thực hiện trên cơ sở nhất trí chung của các vị đứng đầu nhà nớc
và chính phủ của các quốc gia [28;37]
Cơ cấu tổ chức và tính chất của ASEM: Theo thoả thuận của các nớc thànhviên, thể thức cao nhất của ASEM là Hội nghị cấp cao đợc tổ chức hai năm một lầnluân phiên ở cả hai châu lục á và Âu Tất cả các vấn đề quan trọng đều đợc đa raxem xét tại Hội nghị cấp cao, và các tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị sẽ quy định ph-
ơng hớng, nội dung của ASEM Tiếp đến là Hội nghị cấp Bộ trởng Ngoại giao, Bộtrởng Kinh tế, Bộ trởng Tài chính đợc tổ chức mỗi năm một lần Cũng theo quy định
về thể thức hoạt động của ASEM, Hội nghị cấp Bộ trởng thuộc các lĩnh vực khác sẽkhông họp thờng niên mà chỉ tổ chức khi cần thiết
Về cơ chế hoạt động, ASEM thực hiện cơ chế điều phối Các Bộ trởngNgoại giao và Thứ trởng Ngoại giao chịu trách nhiệm điều phối chung toàn bộhoạt động của ASEM Các Bộ trởng Kinh tế và các quan chức cấp cao về thơngmại và đầu t (SOMTI), các Bộ trởng và Thứ trởng các ngành chịu trách nhiệm
điều phối hợp tác trong các lĩnh vực cụ thể đợc phụ trách
ASEM ra đời và đi vào hoạt động chính là chiếc cầu nối giữa châu á vàchâu Âu sau một thời gian dài bị lãng quên Tuy vậy, do sự khác nhau về văn hoánên châu á và châu Âu có những cách tiếp cận khác nhau với vấn đề hợp tác.Nếu châu Âu nhấn mạnh tính pháp lí và thể chế hoá thì châu á nhấn mạnh tínhtiệm tiến và tính tự nguyện với cơ chế lỏng lẻo theo phơng cách Đông Phơng Vềmặt lí thuyết, thì sự khác biệt này ngăn cách hợp tác Hợp tác chỉ có thể thành
Trang 26Âu đã phần nào chấp nhận cách của châu á, nhờ vậy hợp tác trong ASEM đãthành công
Trong ASEM - 1 không có chơng trình nghị sự định trớc mà chỉ có cáccuộc thảo luận phi chính thức Các nhà lãnh đạo hai châu lục không thể chế hoáASEM Tuyên bố của Chủ tịch ASEM - 2 đã khẳng định lại điều này Tuy nhiên,
để duy trì sự tồn tại của ASEM, các thành viên đã đồng ý họp thợng đỉnh hai nămmột lần và giữa hai cuộc họp cấp cao có các cuộc họp cấp Bộ trởng và các cuộchọp quan chức để theo dõi việc thực hiện thoả thuận ASEM không có ban th kí
mà chỉ có nhóm điều phối viên bao gồm một nớc châu Âu và một nớc châu á đểgiải quyết công việc hàng ngày ASEM cũng không có một hiệp ớc chính thức
mà chỉ có Tuyên bố của Chủ tịch hội nghị làm văn bản hợp tác Điều đó có nghĩa
là ASEM không phải là diễn đàn để thoả thuận mà chỉ có tính chất tham khảo.Nhng về lâu dài không loại trừ khả năng ASEM sẽ đợc củng cố về mặt tính chấtdới tác động của châu Âu và mong muốn của châu á về một diễn đàn ASEM cóhiệu quả hơn
Nh vậy, khác với các tổ chức hợp tác liên khu vực đợc thành lập trớc đó,ASEM có những đặc điểm riêng, phù hợp với sự đa dạng về tầm cỡ lãnh thổ, quymô dân số, truyền thống lịch sử, văn hoá, thể chế chính trị và trình độ phát triển,mức độ hiểu biết lẫn nhau giữa các đối tác Để vợt qua những trở ngại đó, cácnhà lãnh đạo ASEM đã xây dựng một cơ chế hợp tác vừa tôn trọng sự đa dạngcủa các đối tác, vừa thúc đẩy các quan hệ hợp tác Từ sự đa dạng về thành viên,tính chất của ASEM đợc xác định là một Diễn đàn phi chính thức, phi thể chếhoá Do đó, ASEM đợc lập ra là để bổ sung chứ không phải lặp lại công việc đã
đợc tiến hành bởi các diễn đàn khu vực và quốc tế khác
Hợp tác trong khuôn khổ ASEM là hoạt động đa chiều kích, đợc triển khai
đồng đều phù hợp với ba trụ cột của ASEM để đảm bảo quan hệ đối tác toàndiện; ASEM nhấn mạnh vào quan hệ đối tác bình đẳng, có lợi cho quá trình đốithoại, hợp tác; tiêu điểm của ASEM chính là Hội nghị cấp cao ASEM là sángkiến từ trên xuống, nó đợc khai sinh từ một hội nghị cấp cao Đặc điểm này chothấy cam kết mạnh mẽ của các đối tác thành viên trong Diễn đàn hợp tác á - Âu
Trên cơ sở mục tiêu, nguyên tắc và cơ chế hoạt động, nền tảng của ASEMxoay quanh trọng tâm của ba lĩnh vực chính trị, kinh tế tài chính và văn hoá cũng
nh các lĩnh vực khác Sự hợp tác toàn diện của ASEM cho thấy, “nó không chỉ nhằmmục đích tăng cờng quan hệ hợp tác, hiểu biết lẫn nhau giữa châu á và châu Âu màcòn mang lại sự hoà bình, ổn định và cân bằng trong phát triển kinh tế của toàn cầutrên cơ sở cân bằng giữa ba đại khu vực của thế giới á - Âu – Mỹ”[28;39]
1.2.2 Quá trình phát triển của Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM) từ 1996 đến 2006 1.2.2.1. Quá trình phát triển của ASEM
Trang 27Từ năm 1996 đến nay, ASEM trải qua hai giai đoạn phát triển Trong mỗigiai đoạn phát triển đó, ASEM từng bớc trởng thành và hoàn thiện về mọi mặtnhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của các thành viên và xu thế phát triển chungcủa thế giới.
Giai đoạn 1: Từ sau khi thành lập cho đến cuối năm 2003, ASEM chủ yếutập trung vào hai hoạt động chính: Xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ hợp tác á
- Âu, cơ cấu tổ chức và điều phối các hoạt động của tiến trình; Tiến hành cáchoạt động đối thoại hợp tác trên cả ba trụ cột chính trị, kinh tế, văn hoá [65;124].Những nội dung này đợc thể hiện rất rõ trong các Hội nghị thợng đỉnh và các Hộinghị quan chức cấp cao của ASEM
Ngay sau hội nghị thành lập (1996), ASEM đã xúc tiến mạnh mẽ nhiều hoạt
động hợp tác nhằm phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Tại Hội nghị các Bộtrởng Ngoại giao (FMM) ở Singapore (2/1997) Quỹ á - Âu (ASEF) đợc thành lậpvới nguồn đóng góp tự nguyện từ các thành viên Hoạt động của ASEF đợc tiếnhành thông qua ba chơng trình chính: Chơng trình trao đổi tri thức; chơng trìnhtrao đổi văn hoá; và chơng trình trao đổi nhân dân với nhân dân, do Ban thống đốc
điều hành Trong lĩnh vực kinh tế cũng diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi Tháng9/1997, Hội nghị Bộ trởng Tài chính lần thứ nhất tại Băng Cốc (Thái Lan) và Bộ tr-ởng Kinh tế tại Makuhari (Nhật Bản) đã thúc đẩy hợp tác giữa hai khu vực trongthơng mại, đầu t và hỗ trợ tài chính Các kế hoạch xúc tiến đầu t (IPAP) và thuậnlợi hoá thơng mại (TFAP) cũng đợc chuẩn bị để đệ trình “Một không khí hợp táchào hứng đã lan tràn khắp cả châu á và châu Âu Nhng chính trong lúc châu Âu
đang say sa khám phá lại châu á, thì một cơn bão khủng hoảng tài chính – tiền tệ
đã ập tới châu lục này” [65;68] Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ Thái Lan sau đó lannhanh sang các nớc ASEAN và các nớc Đông á khác Trong một thế giới đangtoàn cầu hoá về kinh tế, các nền kinh tế quốc gia đã trở nên phụ thuộc lẫn nhau,cho nên nếu không sớm khắc phục khủng hoảng nguy cơ lây lan sang các nềnkinh tế, nhất là các nền kinh tế đang phát triển là rất lớn Do vậy, giúp đỡ châu ákhắc phục hậu quả của khủng hoảng đã trở thành một yêu cầu cấp bách đặt ra chocộng đồng quốc tế, trong đó có các đối tác ASEM
Hội nghị cấp cao á - Âu lần thứ hai (ASEM - 2) đợc tổ chức tại Luân Đôn(4/1998), đã ra Tuyên bố về tình hình tài chính và kinh tế châu á, trong đó nhấnmạnh ảnh hởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tới kinh tế toàn cầu Cần phải tăng c-ờng vai trò của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đối với các mỗi quan ngại toàn cầu
Hội nghị đã xem xét những kết quả đạt đợc của hợp tác á - Âu từ ASEM– 1 và tái khẳng định vai trò của ASEM trong việc tăng cờng quan hệ đối tácgiữa châu á và châu Âu trên tất cả các lĩnh vực hợp tác Hội nghị đã thảo luận vềmột khuôn khổ hợp tác á - Âu và quyết định thành lập nhóm Tầm nhìn á - Âu
Trang 28ASEM bớc vào thế kỉ XXI Nhóm cũng có nhiệm vụ đánh giá thành tựu và đa ranhững khuyến nghị nhằm củng cố ASEM.
Bên cạnh những vấn đề chung, ASEM – 2 đã đi sâu thảo luận từng lĩnhvực hợp tác giữa hai khu vực
Về đối thoại chính trị, Hội nghị đánh giá cao Hội nghị Bộ trởng ngoại giaoASEM (2/1997) đợc tổ chức tại Singapore, và các cuộc gặp gỡ của các quan chứccấp cao khác đã góp phần cải thiện sự hiểu biết, tình đoàn kết trong việc thảoluận các vấn đề quốc tế và khu vực vì lợi ích chung của hai châu lục Các nhàlãnh đạo ASEM – 2 cũng đồng ý mở rộng đối thoại chính trị á - Âu sang cácvấn đề an ninh chung, khẳng định vai trò của ARF và các kết quả thực chất thu đ-
ợc trong các biện pháp xây dựng lòng tin (CBMs)
Đối với các vấn đề toàn cầu, Hội nghị đánh giá cao những kết quả đạt đợctrong việc cải tổ Liên Hợp Quốc, các lĩnh vực kiểm soát vũ khí, giải trừ quân bị vàkhông phổ biến vũ khí giết ngời hàng loạt… vấn đề Campuchia, Bán đảo Triều Tiên,Côxôvô đợc thảo luận nh là những vấn đề thuộc lợi ích chung
Về hợp tác kinh tế, các nhà lãnh đạo ASEM nhất trí củng cố hơn nữa WTO
nh một diễn đàn đa phơng chính thức cho đàm phán và cung cấp các phơng tiệncho quá trình tự do hoá thơng mại trên cấp độ toàn cầu Để hỗ trợ thiết thực chocác nớc châu á cải cách hệ thống tài chính, vợt qua khủng hoảng, Hội nghị quyết
định thành lập Quỹ tín thác á - Âu (ASEM Trust Fund) do một số nớc EU vàTrung Quốc tài trợ đặt tại ngân hàng thế giới với số tiền là 43,5 triệu USD Thôngqua hai kế hoạch hành động: Kế hoạch hành động thuận lợi hoá thơng mại(TFAP), Kế hoạch hành động xúc tiến đầu t (IPAP) và Nhóm chuyên gia đầu t(IEG)
Về hợp tác trong các lĩnh vực văn hoá - xã hội, ASEM – 2 khẳmg định tầmquan trọng của việc thúc đẩy hơn nữa những sáng kiến trong các lĩnh vực văn hoá,xã hội nhằm củng cố và đa dạng hoá hợp tác giữa cộng đồng các nhóm chuyên gia,các nhóm nghiên cứu ở hai châu lục Hội nghị hoan nghênh thành lập quỹ á - Âu vàcác sáng kiến của tổ chức Hội nghị các nhà lãnh đạo trẻ ASEM
Đối với các lĩnh vực khác, ASEM - 2 bày tỏ sự quan tâm tới các vấn đềtoàn cầu nh phát triển nguồn nhân lực bao gồm quản lí giáo dục, chống đóinghèo, nâng cao sức khoẻ cộng đồng, phúc lợi cho trẻ em và phụ nữ Các vấn đềliên quan đến môi trờng, buôn lậu, rửa tiền và các loại tệ nạn xã hội khác đềuphải đợc quan tâm và cùng nhau giải quyết
Để thực hiện những quyết định của ASEM – 2, trong giai đoạn 1998 –
2000, các Hội nghị Bộ trởng Tài chính, Bộ trởng Kinh tế, Bộ trởng Khoa học vàCông nghệ lần lợt đợc tiến hành nhằm triển khai cụ thể các lĩnh vực hợp tác màHội nghị thợng đỉnh đã thông qua Những hoạt động đó đã từng bớc khôi phục
Trang 29nền kinh tế Đông á sau cuộc khủng hoảng tài chính và điều quan trọng là nó đãlàm thay đổi trong quan hệ mậu dịch giữa hai châu lục có lợi cho châu á.
Tháng 10/2000, Hội nghị thợng đỉnh á - Âu (ASEM – 3) đợc tổ chức tạiXơun (Hàn Quốc) với chủ đề “Quan hệ đối tác vì phồn vinh và ổn định trongthiên niên kỉ mới” Đây là Hội nghị cấp cao á - Âu đầu tiên trong thế kỉ XXI nên
nó mang rất nhiều ý nghĩa
Sau những thảo luận về những phát triển mới trong tình hình quốc tế vàkhu vực nh sự phục hồi kinh tế ở các nớc châu á bị ảnh hởng bởi cuộc khủnghoảng Việc Campuchia tham gia ASEAN và những tiến bộ trong hợp tác Đông
á, việc Triều Tiên tham gia ARF hay châu Âu đa đồng Euro vào sử dụng đã gópphần vào sự nghiệp hoà bình và an ninh khu vực cũng nh phát triển về hợp tác anninh trong bối cảnh mới
Về đối thoại chính trị, Hội nghị đã ra “Tuyên bố Xơun về hoà bình củaBán đảo Triều Tiên” đồng thời kêu gọi các bên tiếp tục phát huy những kết quả
đạt đợc và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lôi kéo CHDCND Triều Tiêntham gia vào các cuộc đối thoại đa phơng Hội nghị còn thảo luận các vấn đề khuvực khác nh vấn đề Đông Timo, Nam Âu và Trung Đông Đối với các vấn đềquốc tế, ASEM – 3 hoan nghênh kết quả đạt đợc của Hội nghị thiên niên kỷdiễn ra tại Tổng hành dinh của Liên Hợp Quốc (9/2000) Các vấn đề cân bằng và
ổn định toàn cầu, tăng cờng các sáng kiến toàn cầu và khu vực về kiểm soát vũkhí, giải trừ quân bị và không phổ biến vũ khí giết ngời hàng loạt cũng đợc đặcbiệt nhấn mạnh Các nhà lãnh đạo còn bày tỏ cam kết đối với việc giải quyết cácvấn đề toàn cầu nh di c bất hợp pháp, tội phạm xuyên quốc gia, rửa tiền, chủnghĩa khủng bố, cớp biển buôn bán phụ nữ, trẻ em, và tình trạng giảm môi trờng
tự nhiên
Về hợp tác kinh tế và tài chính, các nhà lãnh đạo ASEM quyết định “thúc
đẩy liên kết kinh tế hơn nữa giữa các đối tác ASEM nh là một yếu tố sống còncủa quan hệ đối tác mạnh mẽ giữa hai khu vực”[65;84] Để thúc đẩy hơn nữaquan hệ hợp tác đầu t, các nhà lãnh đạo yêu cầu Bộ trởng Kinh tế duy trì đà tiếntriển để đảm bảo các giải pháp đợc thực hiện một cách có hiệu quả Hội nghịnhấn mạnh vai trò của Diễn đàn doanh nghiệp á - Âu (AEBF) trong thúc đẩy đốithoại và hợp tác giữa cộng đồng doanh nghiệp hai khu vực về thơng mại và đầu t.Các nhà lãnh đạo mong muốn AEBF sẽ đóng góp vai trò tích cực hơn nữa trongcác hoạt động thực hiện TFAP và IPAP Hội nghị hoan nghênh những tiến bộ đạt
đợc trong việc thực hiện những nguyên tắc tài chính vững chắc, để giám sát ngânhàng một cách có hiệu quả cũng nh những thành tựu của Quỹ tín thác ASEMtrong việc làm giảm nhẹ ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính tới các nớcchâu á
Trang 30Về hợp tác trong lĩnh vực văn hoá - xã hội và các lĩnh vực khác, các nhàlãnh đạo ASEM đánh gia cao vai trò quan trọng của ASEF, nhấn mạnh tầm quantrọng của hợp tác giáo dục cũng nh phát triển nguồn nhân lực, các nguồn lực xãhội, nhằm giảm bớt sự chênh lệch về kinh tế – xã hội trong từng nớc cũng nhgiữa các thành viên ASEM Ngoài ra, ASEM - 3 đã có một quyết định rất quantrọng đó là thông qua Khuôn khổ hợp tác á - Âu 2000 (AECF) AECF đã vạch ratầm nhìn, những nguyên tắc và mục tiêu, lĩnh vực u tiên và cơ chế của hợp tác á
- Âu trong thập niên đầu của thế kỉ XXI
Từ những kết quả của Hội nghị cấp cao Xơun, khác với hai hội nghị trớcchủ yếu nhấn mạnh nhiều vào trụ cột kinh tế, ASEM – 3 đã chú trọng nhiều hơntới trụ cột chính trị Đây có thể xem là mốc lịch sử quan trọng trong quá trìnhphát triển của tiến trình ASEM Cũng từ sau Hội nghị cấp cao á - Âu lần thứ 3,ASEM tiến hành nhiều hoạt động nhằm thúc đẩy hợp tác giữa hai châu lục
Các Hội nghị Bộ trởng Ngoại giao (FMM – 3) tại Bắc Kinh (5/2001) vàFMM – 4 tại Madrid (6/2002) cũng đã thảo luận hàng loạt vấn đề từ cải tổ Liên HợpQuốc tới tình hình Đông Timo, những phát triển mới trong ASEAN + 3 tới sự cầnthiết tăng cờng Hợp tác á - Âu trong lĩnh vực chống tội phạm xuyên quốc gia, chủnghĩa khủng bố quốc tế và thúc đẩy sự hiểu biết giữa các dân tộc khác nhau
Đáng chú ý nhất sau ASEM – 3 là Hội nghị Bộ trởng tài chính ASEM lầnthứ 3 (FinMM – 3) ở Kôbê (1/2001) với mục đích là tăng cờng hơn nữa Hợp tác
á - Âu trong lĩnh vực kinh tế – tài chính và học tập kinh nghiệm của nhau Hộinghị FinMM – 3 còn thông qua chơng trình hỗ trợ Quỹ Tín thác á - Âu giai
đoạn hai Đến FinMM – 4 họp tại Côpenhagen (7/2002) vấn đề tăng cờng vaitrò của hệ thống tài chính quốc tế trong việc chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế
nh chống rửa tiền, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động khủng bố đợc chú trọng
Đầu thế kỉ XXI, tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến hết sứcphức tạp Mặc dù Nga và các nớc châu á đã vợt qua đợc cuộc khủng hoảng tàichính nhng thế giới vẫn còn đó sự tiềm tàng của các cuộc khủng hoảng Trong khi
đó, quá trình toàn cầu hoá kinh tế đang ngày càng làm sâu sắc thêm khoảng cáchgiàu nghèo Chiến tranh cục bộ và các xung đột sắc tộc, tôn giáo vẫn diễn ra ởnhiều châu lục Chủ nghĩa khủng bố đang lan tràn từ á sang Âu và cả Mỹ gâykinh hoàng cho thế giới bằng việc đánh sập toà tháp đôi Trung tâm thơng mại thếgiới ở New York làm hàng ngàn ngời chết trong ngày 11/9/2001 “Sự kiện này ảnhhởng nặng nề tới tình hình chính trị, kinh tế toàn cầu, đợc nhiều ngời nhìn nhận
nh là thời điểm kết thúc của thời kì hậu chiến tranh lạnh” [62;25]
Trong bối cảnh đó, tháng 9/2002 tại Côpenhagen (Đan Mạch), Hội nghịthợng đỉnh á - Âu lần thứ t đợc tổ chức dới chủ đề “Thống nhất và lớn mạnhtrong đa dạng”
Trang 31Về đối thoại chính trị, những thách thức về an ninh mới sau vụ khủng bốngày 11/9/2001 và mối đe dọa từ chủ nghĩa khủng bố quốc tế đã đợc các nhàlãnh đạo ASEM cụ thể bằng việc thông qua Tuyên bố Côpenhagen về hợp tácchống khủng bố quốc tế Hội nghị đã hoan nghênh những kết quả đạt đợc trongTuyên bố chung liên Triều (15/6/2002) và tái khẳng định sự ủng hộ của ASEM
đối với tiến trình hoà giải và hợp tác giữa hai miền Triều Tiên Hội nghị thảo luận
về tình hình ở Iraq, Trung Đông, hoan nghênh việc EU phát hành đồng tiền Euro
và những kết quả khả quan trong tiến trình kết nạp thêm thành viên, coi đây lànhững nhân tố có tác động tích cực tới nền kinh tế thế giới
Về hợp tác kinh tế, sau những biến động ở châu á, các nhà lãnh đạoASEM đã nhất trí với nhau là cần phải tránh việc phân chia thế giới thành ba khốiNAFTA, EU và châu á ASEM đang tạo nên một biện pháp hiệu quả cho việctham khảo và đối thoại tại vòng đàm phán Doha Tuy vậy, cần phải công bằng,minh bạch, đảm bảo sự tiến bộ đồng đều về các mặt trong chơng trình Doha củaWTO ASEM – 4 nhất trí hành động vì một quan hệ đối tác kinh tế chặt chẽ hơn
và giao nhiệm vụ cho các Điều phối viên ASEM thành lập nhóm đặc nhiệm xemxét các hoạt động trong cả ba lĩnh vực trụ cột của kinh tế là đầu t, thơng mại vàtài chính nhằm cân nhắc kế hoạch hành động
Để triển khai lĩnh vực này, hàng loạt các hoạt động ở cấp Bộ tr ởng trởxuống đợc tiến hành Tháng 6/2003, Hội nghị các quan chức cấp cao về Mậudịch và Đầu t (SOMTI – 9) đợc tổ chức tại Pari Sau khi đánh giá kết quả đã đạt
đợc trong việc thực hiện chơng trình TFAP và IPAP, Uỷ ban châu Âu đa ra chiếnlợc cải thiện quan hệ kinh tế với ASEAN thông qua sáng kiến Mậu dịch xuyênkhu vực EU – ASEAN (TREATI) nhằm hình thành một khuôn khổ thoả thuậnsong phơng cho việc tăng cờng hợp tác và đối thoại trong các lĩnh vực khác nhauliên quan đến lợi ích kinh tế của cả hai bên Hội nghị EMM – 5 (7/2003) tạithành phố Đại Liên cũng đã thảo luận về những triển vọng phát triển của kinh tếtoàn cầu và tác động của chúng tới cả hai châu lục
Về văn hoá - xã hội và các lĩnh vực khác, ASEM – 4 đặc biệt nhấn mạnhtới giá trị của sự đa dạng về văn hoá và văn minh giữa các nớc ASEM, tầm quantrọng của giáo dục và phát triển nguồn nhân lực và khẳng định quyết tâm thựchiện những cam kết tại Hội nghị Thợng đỉnh thế giới về phát triển bền vững cũng
nh Hiệp định khung của Liên Hợp Quốc trong việc đối phó với những thay đổi vềkhí hậu và Nghị định th Kyôtô
Nh vậy, ASEM – 4 đã tạo nên nhiều động lực mới cho sự phát triển quan
hệ giữa hai châu lục á - Âu, nó thể hiện quyết tâm của các nhà lãnh đạo trongviệc chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế cũng nh việc trao đổi về văn hoá, vănminh giữa hai châu lục
Trang 32Giai đoạn 2 bắt đầu từ năm 2004, ASEM đã có sự phát triển cả về lợng vàchất Số lợng tham gia đã tăng từ 26 đến 39 thành viên, điều này đã làm choASEM trở thành một tổ chức hợp tác liên khu vực thu hút tới 2,3 triệu ngời chiếm40% dân số và 50% GDP của thế giới ASEM đang quyết tâm chuyển sang mộtgiai đoạn phát triển mới năng động hơn, thực chất hơn.
Trong giai đoạn này, ASEM đang phải đối diện với nhiều khó khăn vàthách thức mới do tình hình thế giới và hai khu vực diễn ra nhiều sự kiện quantrọng Mỹ phát động chiến tranh xâm lợc Iraq, lật đổ chính phủ hợp pháp SátđamHútxen Cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế do Mỹ cầm đầu đã khôngmang lại kết quả nh mong muốn, các hoạt động của bọn khủng bố quốc tế ngàycàng tăng và đang diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới
Trên quy mô khu vực, cả châu á và châu Âu đang trải qua những bớc tiếnquan trọng Liên minh châu Âu tiến hành đợt mở rộng mới với việc kết nạp thêm 10thành viên đến từ Trung, Đông Âu (4/2004) Trớc đó, vào tháng 10/2003, ASEAN
đã quyết định đa hội nhập ở khu vực Đông Nam á lên một nấc thang mới với việcquyết định thành lập Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột: Cộng đồng an ninh,Cộng đồng kinh tế và Cộng đồng văn hoá - xã hội vào năm 2020
Trong bối cảnh đó, ngày 8/10/2004, Hội nghị cấp cao á - Âu lần thứ năm(ASEM – 5) đã đợc tổ chức tại Hà Nội (Việt Nam) với sự tham gia của 38 thànhviên và Chủ tịch Uỷ ban châu Âu Chủ đề của Hội nghị lần này là “Tiến tới quan
hệ đối tác á - Âu sống động và thực chất hơn” Sau hai ngày thảo luận với baphiên họp kín bàn về các vấn đề “Tình hình quốc tế và những thách thức toàn cầumới”, “Thúc đẩy quan hệ đối tác kinh tế á - Âu trong bối cảnh Toàn cầu hoá vàChủ nghĩa khu vực mở”, “Đa dạng văn hoá và các nền văn hoá dân tộc trong thời
đại thông tin và toàn cầu hoá”, ASEM – 5 đã công bố ba văn kiện hết sức quantrọng mang tích bớc ngoặt đối với sự phát triển của tiến trình
Khác với các Hội nghị cấp cao trớc, ASEM – 5 nhấn mạnh nhiều hơn tớihợp tác kinh tế và văn hoá, điều này đã đánh dấu sự chuyển biến của tiến trình hợptác á - Âu sang một giai đoạn mới Cùng với nó, những cải tiến về cơ chế điều phối
và quản lí các hoạt động của ASEM đợc thông qua nhằm tạo điều kiện thuận lợi chocác hoạt động hợp tác giữa hai châu lục trong những năm sắp tới
Trong Tuyên bố của Chủ tịch á - Âu lần thứ năm, các nhà lãnh đạo saukhi xem xét những thay đổi của tình hình chính trị thế giới đã nhất trí cho rằng;
Xu hớng chủ đạo vấn là hoà bình, hợp tác cùng phát triển Từ quan điểm nh vậy,các nhà lãnh đạo khẳng định quyết tâm giải quyết những thách thức và mối đedọa toàn cầu mới theo cam kết đối với chủ nghĩa đa phơng và một trật tự thế giớicông bằng, hợp lí trên cơ sở các quy định, trong đó Liên Hợp Quốc đóng vai tròtrung tâm Tại ASEM – 5, các nhà lãnh đạo đã lên án mạnh mẽ hành độngkhủng bố và khẳng định lại cam kết chống lại chủ nghĩa khủng bố dới mọi hình
Trang 33thức và biểu hiện Tuy vậy, cuộc chiến chống khủng bố phải đợc tiến hành phùhợp với các nguyên tắc của Hiến chơng Liên Hợp Quốc và những quy định cơbản của luận pháp quốc tế, bao gồm cả nguyên tắc không can thiệp, tôn trọngtoàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, tôn trọng nhân quyền và pháp quyền.
Về hợp tác kinh tế, trong Tuyên bố Hà Nội về quan hệ hợp tác á - Âu chặtchẽ hơn, các nhà lãnh đạo ASEM – 5 đã xác định các nguyên tắc nền tảng choviệc xây dựng quan hệ đối tác kinh tế là: cam kết với kinh tế thị trờng, hợp tácchặt chẽ hơn giữa chính phủ và doanh nghiệp, tự do hoá và chủ nghĩa khu vựckhông phân biệt đối xử, phù hợp với những quy định của WTO, tôn trọng lẫnnhau và quan hệ đối tác bình đẳng, với nhận thức rằng các nền kinh tế á - Âu làrất đa dạng Thế nhng, việc xây dựng quan hệ đối tác kinh tế á - Âu chặt chẽ hơn
đó là một quá trình lâu dài
Về hợp tác văn hoá, các nhà lãnh đạo ASEM – 5 cho rằng: “Đối thoại vàhợp tác giữa các nền văn hoá và văn minh là một trong những biện pháp hữu hiệu
để nâng cao sự hiểu biết và khoan dung, tránh hiểu nhầm và xung đột giữa cácdân tộc”[65;117] Trong Tuyên bố ASEM về văn hoá và văn minh, các nhà lãnh
đạo ASEM – 5 khẳng định, đa dạng văn hoá là cơ hội to lớn để xây dựng mộtthế giới hoà bình và ổn định hơn Trong khuôn khổ ASEM, đóng vai trò quantrọng trong quá trình thúc đẩy đối thoại văn hoá và văn minh là quỹ á - Âu Saukhi ra đời, quỹ ASEF đã hoạt động nh là cầu nối giữa các xã hội dân sự thôngqua các chơng trình tăng cờng giao lu tri thức, văn hoá
Về phơng hớng hoạt động của đối thoại văn hoá và văn minh, ASEM - 5 đãnhấn mạnh những u tiên: “Giáo dục, giáo dục đại học và đào tạo; Giao lu và hợptác văn hoá; Trao đổi ý tởng và tri thức, khuyến khích sáng tạo; Thúc đẩy du lịchvăn hoá bền vững và có trách nhiệm; Bảo vệ và phát triển các nguồn lực văn hoá;Tăng cờng năng lực của quỹ á - Âu”[65;119]
Tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị cấp cao á - Âu lần thứ năm còn công bố 9sáng kiến về hợp tác kinh tế, đầu t, thơng mại, khoa học – kĩ thuật, công nghệthông tin, văn hoá - xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo
Tháng 9/2006, ASEM – 6 tổ chức tại Helsinki – Phần Lan đã đa ra chủ
đề “Mời năm ASEM: Thách thức toàn cầu – ứng phó chung” Tham dự Hội nghịthợng đỉnh lần này, các vị trởng đoàn của 39 thành viên chủ yếu là các Nguyênthủ quốc gia hoặc ngời đứng đầu chính phủ (trừ Anh, Thụy Điển và Mianma).Chính sự hiện diện của nhiều nguyên thủ quốc gia trong Hội nghị lần này đã chothấy ASEM ngày càng có vai trò và vị trí đối với sự phát triển chung của hai châulục Với tinh thần hợp tác, ASEM – 6 đã thu đợc những kết quả rất quan trọngthể hiện trong Tuyên bố của chủ tịch Hội nghị, Tuyên bố Helsinki về tơng lai củaASEM và một số quyết định quan trọng khác
Trang 34Trớc hết, “các vị lãnh đạo á -Âu đã đánh giá cao thành tựu 10 năm hợp tác
á - Âu, thúc đẩy hoà bình, ổn định, hợp tác và khẳng định tầm quan trọng của haichâu lục á - Âu, những chủ thể chính trị, kinh tế quan trọng toàn cầu Nhìn lại mộtthập kỉ tiến trình ASEM, Hội nghị cho rằng việc thiết lập diễn đàn là một quyết
định đúng đắn Sự ra đời của ASEM là mốc lịch sử và là động lực thúc đẩy sự pháttriển quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa châu á và châu Âu”[29;8]
Đối với các vấn đề khu vực và quốc tế, các nhà lãnh đạo á - Âu đánh giácao tiến trình liên kết châu Âu, ủng hộ tiến trình xây dựng cộng đồng Đông á vàHội nghị cấp cao Đông á lần đầu tiên tổ chức ở Cuala Lămpơ (12/2005), đồngthời nhấn mạnh vai trò đầu tàu của ASEAN trong tiến trình đó Với vấn đề TriềuTiên, các nhà lãnh đạo nhấn mạnh rằng: Phi hạt nhân hoá bán đảo Triều Tiên
đóng vai trò quyết định cho việc gìn giữ hoà bình, ổn định ở Đông Bắc á, cầngiải quyết vấn đề hạt nhân thông qua đàm phán, thơng lợng hoà bình Hội nghịcũng trao đổi ý kiến về tình hình ở Mianma, Đông Timo, Afganixtan, Iraq, vấn
đề hạt nhân của Iran Tuyên bố của Chủ tịch ASEM – 6 còn nhấn mạnh tầmquan trọng của: những nỗ lực đa phơng về giải trừ quân bị, không phổ biến vũ khígiết ngời hàng loạt, cam kết chống khủng bố và các vấn đề toàn cầu khác; sự pháttriển mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hoá; cần sớm triệu tập Hội nghị các Bộ trởngKinh tế để kiểm điểm lại việc thực hiện Tuyên bố Hà Nội về Đối tác kinh tế chặtchẽ hơn nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác á - Âu
Tiếp đó, Tuyên bố nhấn mạnh những nhân tố phát triển bền vững là pháttriển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trờng cũng nh sự tác động qua lại lẫn nhaugiữa các nhân tố đó Riêng về vấn đề giao lu và đối thoại giữa các nền văn hoá -văn minh, các nhà lãnh đạo đã đánh giá cao Kế hoạch hành động về văn hoá, đợcthông qua tại Hội nghị Bộ trởng Văn hoá ASEM lần thứ hai tại Pari (2005), hoannghênh Malaixia đứng ra tổ chức Hội nghị Bộ trởng Văn hoá ASEM lần thứ ba
Đối với Tuyên bố về thay đổi khí hậu, ASEM cam kết hành động khẩn cấpvới quyết tâm cao nhằm bình ổn mật độ khí thải gây hiệu ứng nhà kính, giảm ônhiễm không khí và cải thiện môi trờng toàn cầu, đầu t công nghệ tài chính cho hợptác phát triển năng lợng mới, hợp tác chia sẻ thông tin cảnh báo về thiên tai
Ngoài ra, Hội nghị còn thông qua Tuyên bố về tơng lai của ASEM vàquyết định một số vấn đề quan trọng nh vấn đề tiếp tục quá trình mở rộng ASEM,
và thông qua quyết định kết nạp 6 thành viên mới là Ân Độ, Mông Cổ, Pakitxtan,Ban th kí ASEAN, Bungari, Rumani vào thời gian tới
Trải qua hơn một thập kỉ phát triển, thông qua ASEM, hợp tác giữa haichâu lục á - Âu về các phơng diện chính trị, kinh tế, văn hoá không ngừng pháttriển Hơn nữa, hợp tác của ASEM không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ song ph-
ơng mà còn đợc xúc tiến mạnh mẽ trong các tổ chức đa phơng nh Liên HợpQuốc, WTO Điều này đã góp phần làm cho vai trò và vị thế của ASEM ngày
Trang 35càng đợc nâng cao trên trờng quốc tế Với những kết quả bớc đầu đó, chúng ta cóthể khẳng định rằng sự ra đời và phát triển của ASEM là phù hợp với nhu cầu củahai khu vực á - Âu và xu thế phát triển chung của thế giới
1.2.2.2. Triển vọng phát triển của Diễn đàn hợp tác á - Âu
Trong thập niên đầu tiên thế kỉ XXI, tình hình chính trị - an ninh và kinh tếthế giới đang diễn ra hết sức đa dạng, và có những tác động rất lớn tới sự phát triểnchung của lịch sử nhân loại Trong bối cảnh đó, nhu cầu tăng cờng hợp tác quốc tếnói chung và hợp tác á - Âu nói riêng đang đứng trớc những thử thách và vận hộimới Để cho hợp tác á - Âu trở nên sống động hơn, thực chất hơn với những mụctiêu và dự án hợp tác cụ thể, các thành viên ASEM sẽ phải làm gì để đạt đợc mục
đích của mình? Triển vọng phát triển của ASEM sẽ ra sao?
Theo cách nhìn của các đối tác thành viên, triển vọng ASEM trong nhữngnăm sắp tới tiếp tục có những tiến triển tốt đẹp ASEM sẽ từng bớc hoàn thiện vềmọi mặt để trở thành sân chơi lí tởng cho cả châu á và châu Âu trong quá trìnhhợp tác toàn diện, cùng phát triển
Theo quan điểm của Trung Quốc, tơng lai của ASEM là sáng sủa Về
ph-ơng diện chính trị “không có xung đột nào về lợi ích giữa châu á và châu Âu, haibên chia sẻ nhận thức cũng nh có quan điểm chung về một loạt các vấn đề quốc
tế chủ yếu, đặt nền tảng vững chắc cho việc mở rộng và tăng cờng hợp tác á - Âucông bằng và hữu nghị trong tơng lai” [65;294] Về phơng diện kinh tế, các quốcgia châu á và châu Âu có thể bổ sung cho nhau, mặc dù vấn còn nhiều khác biệt
về chính trị, trình độ phát triển, hệ thống giá trị, di sản lịch sử và văn hoá Nh ngnếu hai bên thực hiện hợp tác theo nguyên tắc bình đẳng, hữu nghị, thoả hiệpcùng có lợi thì mọi vấn đề sẽ trở nên dễ dàng hơn Từ quan điểm đó, Trung Quốccho rằng hợp tác á - Âu trong những năm sắp tới nên phát triển theo các hớngsau: ASEM cần trở thành một mô hình hợp tác liên khu vực đặt trên cơ sở bình
đẳng cùng có lợi; ASEM cần đóng một vai trò lớn hơn trong việc thúc đẩy hợptác giữa hai châu lục, và cần tiến hành một chơng trình hợp tác dài hạn trên cơ sởnhững nguyên tắc cùng có lợi và bổ sung cho nhau; ASEM nên trở thành mộtkênh chính để trao đổi văn hoá, văn minh giữa phơng Đông và phơng Tây;ASEM nên tạo ra một động lực quan trọng để thúc đẩy việc thiết lập một trật tựkinh tế và chính trị quốc tế mới Cả hai châu lục có lợi ích chung trong việc duytrì hoà bình thế giới và tăng cờng sự phát triển chung
Với Nhật Bản, ASEM sẽ rất có triển vọng phát triển nếu có đợc nhữngkhuôn khổ hợp tác cụ thể trong các lĩnh vực để giúp cho quan hệ á - Âu trởthành một mối quan hệ hợp tác toàn diện giống nh trong mối quan hệ xuyên ĐạiTây Dơng giữa châu Âu và Mỹ Để tiến tới thực hiện đợc điều này, trớc hết cầnphải xây dựng một mối quan hệ tam giác thực sự giữa ba khu vực trên thế giới là
Trang 36châu á và châu Âu Từ đó, tạo động lực biến ASEM thành một thể chế chínhthức cho khuôn khổ hợp tác giữa các quốc gia ở hai châu lục á - Âu Ngoài ra,cần biến ASEM thành một diễn đàn hợp tác mở hơn nữa cho việc tăng cờng giao
lu giữa các xu hớng văn hoá và chính trị, tạo ra nguồn sức mạnh to lớn thúc đẩy
sự phát triển thịnh vợng
Chính phủ Hàn Quốc cũng có những đánh giá hết sức tích cực về triểnvọng của ASEM trong tơng lai Hàn Quốc đã đa ra những gợi ý sau: ASEM cầntiếp tục phát triển dựa trên cơ sở “Khuôn khổ hợp tác á - Âu 2000” để có thểhình thành những nguyên tắc và tầm nhìn cụ thể hơn cho ASEM, từ đó tiến tớithể chế hoá tiến trình này làm cho ASEM trở thành một cơ chế hợp tác chínhthức giữa các quốc gia ở hai châu lục á - Âu; Châu á và châu Âu cần tăng cờnghơn nữa đối thoại chính trị và an ninh với nhau về những phát triển chính trị gần
đây ở hai khu vực; Hai châu lục cần tích cực thảo luận các vấn đề kinh tế mà cảhai đang cùng đối mặt một cách thực sự và củ thể, cũng nh thống nhất đa ra cáccách giải quyết có tính khả thi; Hai khu vực cần tăng cờng cộng tác trong cáclĩnh vực giáo dục, xã hội và văn hoá trong khi tích cực khuyến khích sự tham giacủa khu vực t nhân vào nỗ lực của ASEM; Cần có một sự thống nhất tập thể đểtăng cờng các giá trị toàn cầu về dân chủ và nhân quyền
Các nớc ASEAN, chủ nhân của ý tởng thiết lập quan hệ hợp tác á - Âuluôn chia sẻ và luôn có cách nhìn tích cực đối với triển vọng của ASEM ASEANtin tởng rằng, trong tơng lai ASEM sẽ đem lại lợi ích thiết thực hơn nữa cho haichâu lục á - Âu và ASEM sẽ đóng một vai trò quan trọng hơn nữa trong việc giảiquyết các vấn đề quốc tế
Đối với quan điểm của Liên minh châu Âu, ASEM là cơ hội tuyệt vời đểthúc đẩy các mối quan hệ hợp tác giữa hai châu lục á - Âu ở thời điểm hiện tạicũng nh tơng lai Hơn nữa, hợp tác á - Âu là một nội dung quan trọng trongChiến lợc châu á mới (NAS) do Uỷ ban châu Âu đa ra Theo một số học giả ởchâu Âu, ASEM cần một cơ cấu có tính chất hỗ trợ nào đó trong khi duy trì tínhchất phi chính thức của cuộc đối thoại Nói cách khác, việc thành lập Ban th kí ảo
là khả năng mà ASEM cần nghĩ đến trong thời gian tới
Những quan điểm của các đối tác chính trong ASEM đều rất lạc quan vềtriển vọng phát triển của tiến trình hợp tác á - Âu Tuy nhiên, để ASEM pháttriển hơn nữa thì cần có những biện pháp cụ thể trong các trụ cột, tránh tình trạngchồng chéo trong các lĩnh vực hợp tác Trong đó vấn đề thể chế hoá ASEM đã đ-
ợc một số đối tác đặt ra, nhng đây là một vấn đề lớn liên quan đến sự tồn vongcủa ASEM nên cần phải có thời gian để nghiên cứu, bàn bạc trớc khi đa ra quyết
định
Rõ ràng, khi nhận định về tơng lai của ASEM, các đối tác thành viên, Hộinghị thợng đỉnh, Hội nghị các quan chức cấp cao đều rất kỳ vọng sự phát triển
Trang 37theo hớng tích cực của ASEM trong thời gian tới Đây cũng là nguyện vọng cùnghợp tác phát triển của nhân dân hai châu lục á - Âu.
Những hình dung về một tơng lai tốt đẹp của ASEM đang mới chỉ là mongmuốn chủ quan của các đối tác, mặc dù những viễn cảnh đó đều đợc xây dựngtrên những tiền đề nhất định ASEM muốn phát triển đang còn phải tuỳ thuộc rấtnhiều vào các nhân tố khác nh sự phát triển của hợp tác Đông á, chính sách của
Mỹ đối với ASEM hay sự mở rộng và phát triển của Liên minh châu Âu (EU).Những nhân tố này vừa có khả năng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của tiếntrình hợp tác á - Âu
Vậy triển vọng của ASEM trong những năm sắp tới sẽ ra sao? Theo dự báocủa học giả Singapore Yeo Lay Hwee, trong tơng lai ASEM có thể phát triển theo
ba kịch bản sau: Kịch bản 1, ASEM vận động theo mô hình Khối thịnh vơngchung Kịch bản này đợc xây dựng trên giả định là môi trờng chiến lợc ở châu ávẫn tiếp tục ổn định; Kịch bản 2, ASEM trở thành một diễn đàn hiệu lực và hiệuquả Giả định là Đông á trở thành một thực thể mạnh và hội nhập, tạo nên mộtcực quan trọng trong nền kinh tế và chính trị thế giới; Kịch bản 3, ASEM nh một
định chế bao trùm (Meta – regime) [48;28]
Mặc dù dự báo của Yeo Lay Hwee đa ra từ năm 2002, nhng cho đến nayxung quanh vấn đề này vấn đợc rất nhiều học giả khác quan tâm và có nhữngcách nhìn nhận, đánh giá khác nhau về tính hợp lí và không hợp lí của những giả
định đó khi nói đến tơng lai ASEM
Nói tóm lại trong những năm sắp tới, ASEM sẽ đi vào hoạt động thực chấthơn ASEM có thể sẽ đợc thể chế với việc thành lập một ban th ký ảo, và tuỳthuộc vào hiệu quả hoạt động và mức độ hợp tác, một ban th ký thật có thể đợcthành lập ASEM sẽ vẫn là một tiến trình hợp tác phi chính thức giữa châu á vàchâu Âu Trong lòng ASEM sẽ xuất hiện các liên minh tự nguyện giữa các thànhviên để tiến hành trớc một số dự án hợp tác phù hợp với lợi ích và mong muốncủa hai bên Tơng lai ASEM sẽ thực sự sống động và thức chất hơn trong quátrình hợp tác toàn diện giữa hai châu lục á - Âu
Có thể dễ dàng nhận thấy, trớc khi thành lập ASEM, quan hệ giữa ASEAN
- EU và các nớc Đông Bắc á nhìn chung còn cha tơng xứng với tiềm năng của cảhai bên EU và Đông Bắc á cha nhìn nhận ASEAN nh một đối tác chiến lợc dovậy thành tựu đạt đợc trong quá trình hợp tác còn rất khiêm tốn Đến giữa thậpniên 90, cùng với xu thế toàn cầu hoá, ASEM ra đời thực sự đã tạo một sân chơimới cho quá trình hợp tác với bên ngoài của ASEAN, trong đó EU và các nớc
Đông Bắc á, những thành viên chủ chốt của ASEM đợc ASEAN đặc biệt quantâm
Trang 38Chơng 2 hợp tác kinh tế, chính trị - an ninh của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) với liên minh
châu âu (EU) và các nớc đông bắc á trong
diễn đàn hợp tác á - Âu (1996 - 2006) 2.1 Những thuận lợi và khó khăn của ASEAN trong tiến trình hợp tác á - Âu
2.1.1 Những thuận lợi của ASEAN trong ASEM
ASEAN là nơi sản sinh ra ý tởng triệu tập Hội nghị cấp cao á - Âu ý tởngnày đợc các nớc Đông Bắc á, EU ủng hộ và nhanh chóng trở thành hiện thực từtháng 3/1996 Sau khi ASEM ra đời, với t cách là đối tác chính, ASEAN có cơ hộitham gia vào các hoạt động đa dạng, phong phú ở nhiều cấp độ của tiến trình này.Các nhà lãnh đạo và các quan chức cấp cao của ASEAN có điều kiện tiếp xúc th-ờng xuyên với các nhà lãnh đạo và các quan chức cấp cao của tất cả các đối tácASEM Thông qua các cuộc tiếp xúc trao đổi đó, ASEAN có cơ hội thể hiện quan
điểm của mình về các vấn đề quốc tế và khu vực, cũng nh có cơ hội hiểu rõ hơn vềcác đối tác ASEM Ngợc lại, các đối tác ASEM cũng có đợc các thông tin chínhthức về ASEAN, giúp họ xoá bỏ những hiểu lầm, nghi kỵ trớc đây và có sự mạnhdạn hơn khi đầu t vào ASEAN
Tuy nhiên, sự hiểu biết không thể chỉ đợc nuôi dỡng thông qua các cuộcthơng lợng giữa chính phủ với chính phủ Nó cũng không thể chỉ tiến hành thôngqua các cuộc tiếp xúc doanh nghiệp á - Âu Một khu vực rộng lớn của xã hội cần
đợc lôi cuốn vào Tri thức, các nhà lãnh đạo văn hoá, thanh niên và giới truyềnthông cũng đóng vai trò quan trọng Thông qua các hoạt động hợp tác kinh tế,các cuộc tiếp xúc văn hoá - giáo dục, ASEAN đã góp phần quan trọng vào việctăng cờng sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau giữa châu á và châu Âu Đây là cơ sởquan trọng nhất cho sự hợp tác lâu dài, bền vững Tham gia ASEM, với sự xáclập và mở rộng các mối quan hệ, những đóng góp tích cực của ASEAN đối vớitiến trình hợp tác á - Âu đã làm cho vị thế của ASEAN ngày càng nâng cao trêntrờng quốc tế Từ đó, ASEAN sẽ có điều kiện thuận lợi để thực hiện các mốiquan hệ hợp tác song phơng với các đối tác ASEM khác và tranh thủ đợc sự ủng
hộ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế
Để phù hợp với nhu cầu hợp tác cùng phát triển và đối phó với những vấn
đề toàn cầu, ASEM ngày càng mở rộng về số lợng thành viên cũng nh các lĩnhvực hợp tác Chính sự phát triển về chất của ASEM đã giúp cho vai trò của Diễn
đàn này ngày càng đợc nâng cao trong các mối quan hệ đa dạng của quốc tế vàcòn là một cơ hội khách quan thuận lợi cho các thành viên tham gia ASEM pháttriển, nhất là khu vực có nền kinh tế năng động nh ASEAN
Trớc khi ASEM thành lập, ASEAN đợc xem là khu vực có vị thế chiến lợcquan trọng cho những cờng quốc quan tâm tới châu á - Thí Bình Dơng Là nơi có
Trang 39nguồn tài nguyên phong phú, nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, vị tríthuận lợi trong giao thơng quốc tế Điều đặc biệt là trong nhiều năm liền ASEAN
đợc cộng đồng quốc tế đánh giá là khu vực có nền kinh tế tăng trởng cao và năng
động nhất thế giới ASEAN trở thành thị trờng đầu t và thơng mại hấp dẫn củanhiều nớc trên thế giới ASEM ra đời đã tạo nên một thị trờng hết sức rộng lớn vớinhiều cấp độ khác nhau về trình độ kinh tế, về mức sống của nhân dân, về nhu cầuhàng hoá Do vậy, tham gia Diễn đàn này, ASEAN sẽ có điều kiện khai thác, pháthuy đợc hết tiềm năng kinh tế của mình
Mặc dù ASEM không phải là một cơ chế hợp tác chính thức giữa châu á
và châu Âu, nhng việc tham gia của các chơng trình hợp tác ASEM đã giúpASEAN đợc hởng lợi từ các nguồn lực đa phơng của ASEM Tại Hội nghị cấpcao ASEM - 2 tổ chức ở Luân Đôn (4/1998), các nhà lãnh đạo 26 đối tác ASEM
đã quyết định thành lập Quỹ tín thác á - Âu đặt trong ngân hàng thế giới với sốvốn ban đầu là 43 triệu USD do 8 đối tác á - Âu và Uỷ ban châu Âu đóng góp.Sau những thành công ban đầu, Hội nghị cấp cao ASEM - 4 (2002) đã quyết địnhxúc tiến giai đoạn 2 của Quỹ tín thác á - Âu với số tiền đóng góp là 37 triệuUSD Nh vậy, tổng số vốn của Quỹ tín thác ASEM lên tới hơn 80 triệu USD Nh -
ng điều quan trọng là Quỹ á - Âu đã sử dụng số tiền đó để hỗ trợ cho các nớcchâu á khắc phục khủng hoảng, thông qua việc cải cách hệ thống tài chính, ngânhàng, doanh nghiệp, xoá đói giảm nghèo và cải cách hệ thống an ninh xã hội,trong đó ASEAN là trọng điểm đợc ASEM quan tâm
Ngoài ra, với việc tham gia tích cực vào Kế hoạch hành động thuận lợi hoáthơng mại và Kế hoạch xúc tiến đầu t của ASEM cũng đã đa lại nhiều lợi ích choASEAN Việc các đối tác ASEM xoá bỏ bớt các rào cản đối với mậu dịch và đầu
t, hàng hoá của các nớc ASEAN đã có thể tiếp cận các thị trờng rộng lớn củaASEM một cách dễ dàng hơn Nhờ đó quan hệ buôn bán giữa ASEAN và các đốitác ASEM đang ngày càng mở rộng
Các nhà đầu t ASEM cũng đã có mặt ở hầu hết các lĩnh vực của đời sốngkinh tế xã hội ASEAN Nhìn chung, các dự án đầu t của ASEM triển khai tốt,nhiều dự án hoạt động có hiệu quả cao ASEAN còn nhận đợc từ các nớc ASEMnguồn viện trợ phát triển lớn, trong đó EU, Nhật Bản vẫn là những nhà tài trợ lớnnhất Chính những viện trợ này đã góp phần tích cực vào công cuộc phát triểnkinh tế – xã hội ASEAN trong thời gian qua
Hợp tác văn hoá là một trong ba trụ cột chính của Hợp tác á - Âu Tại Hộinghị cấp cao ASEM – 5 (10/2004), các nhà lãnh đạo ASEM đã ra Tuyên bố về
đối thoại giữa các nền văn hoá - văn minh, trong đó nhấn mạnh “đa dạng văn hoá
là di sản chung của nhân loại, cần tăng cờng sự thống nhất trong đa dạng và tôntrọng giá trị bình đẳng của tất cả các nền văn hoá văn minh, đặc biệt nhấn mạnh sự
Trang 40công nghệ thông tin, truyền thông và toàn cầu hoá, bác bỏ sự áp đặt và phân biệtgiá trị văn hoá dới bất cứ hình thức nào và biểu hiện nào…”[93;7]
Từ việc nhấn mạnh tầm quan trọng và tiềm năng của hợp tác á - Âu trongnhiều lĩnh vực nh phát triển xã hội, lao động và việc làm, giáo dục và đào tạo, y
tế, môi trờng Các nhà lãnh đạo ASEM nhất trí sẽ tăng cờng hợp tác trên nhữnglĩnh vực này, xem đây là những cơ sở quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho cácnớc thành viên ASEM trong đó có ASEAN mở rộng giao lu, trao đổi đối thoạivăn hoá một cách bình đẳng, trên tinh thần tôn trọng bản sắc văn hoá của nhau,trên tinh thần “thống nhất trong đa dạng” văn hoá
2.1.2 Những khó khăn của ASEAN trong ASEM
Trong Diễn đàn hợp tác á - Âu, tuyệt đại đa số các thành viên là đi theochế độ t bản chủ nghĩa và đang ở trong giai đoạn phát triển cao, chỉ có một nhómcác nớc có sự tơng đồng về chế độ chính trị nh Trung Quốc, Việt Nam và Lào
Dù rằng các nhà lãnh đạo ASEM đã cam kết tôn trọng “thống nhất trong đa dạng,tôn trọng bản sắc văn hoá của từng dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộcủa nhau …” nghĩa là sự khác biệt về hệ t tởng, thể chế chính trị, văn hoá không
ảnh hởng đến quan hệ hợp tác giữa các nớc Nhng trong thực tế, những sự khácbiệt và bất đồng về hệ t tởng và hệ thống chính trị là điều không tránh khỏi.Những vấn đề nhạy cảm khó có tiếng nói chung giữa châu á và châu Âu chứa
đựng tiềm tàng những yếu tố có thể gây trở ngại trong quan hệ giữa các đối tácthành viên ASEM
ASEAN là một tổ chức thành viên của ASEM, nhng ngay trong bản thân nónhiều khi cũng nảy sinh những yếu tố bất đồng về kinh tế và chính trị cần nhiềuthời gian để giải quyết Mặt khác, trong nội bộ ASEAN luôn xuất hiện những vấn
đề nổi cộm làm cả thế giới quan tâm nh vấn đề Campuchia, Mianma, cuộc khủnghoảng tài chính – tiền tệ (1997), đến cuộc đấu tranh và giành độc lập của nhândân Đông Timo (2002), và mới đây là cuộc khủng hoảng chính trị ở Thái Lan.Những khó khăn trong nội bộ chắc chắn sẽ làm ảnh hởng đến sự phát triển chungcủa cả khu vực và làm giảm sức mạnh chính trị của ASEAN trong các mối quan hệquốc tế Trong Diễn đàn hợp tác á - Âu, ASEAN vốn đã ở thế yếu hơn so với EU
và các nớc Đông Bắc á, nếu những khó khăn này không sớm đợc giải quyếtASEAN sẽ luôn bị thiệt thòi trong các mối quan hệ đó là điều không tránh khỏi
Mặc dù đợc coi là khu vực có nền kinh tế phát triển năng động, nhng khitham gia vào ASEM, sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa ASEAN và các
đối tác là rất lớn Do vậy, trong quá trình hội nhập, ASEAN sẽ phải đối mặt vớirất nhiều khó khăn và thử thách
Hiện nay, nhiều nớc ASEAN đang ở vào giai đoạn đầu của quá trình côngnghiệp hoá, giữa ASEAN và nhiều đối tác ASEM có khoảng cách khá xa về trình