1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hội nghị lần thứ 16 của diễn đàn hợp tác kinh tế châu á thái bình dương (APEC) tại pêru

137 549 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hội nghị lần thứ 16 của diễn đàn hợp tác kinh tế châu á – thái bình dương (APEC) tại pêru
Tác giả Trần Thị Hằng Phương
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Cụng Khanh
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Danh Mục Các Chữ Viết TắtABAC Hội đồng t vấn APEC AFTA Khu mậu dịch tự do ASEAN AFTA APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình DơngASEAN Hiệp hội các nớc Đông Nam Á DDA Vòng đàm p

Trang 1

Lời cảm ơn

Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè và người thân Với những tình cảm chân thành và trân trọng nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Công Khanh, người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy giáo, cô giáo khoa Lịch sử, khoa Sau đại học trường Đại học Vinh, Lãnh đạo trường THPT Nghi Lộc 3, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình làm luận văn.

Cuối cùng, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp

đã giúp đỡ, động viên, khuyến khích tôi an tâm học tập và hoàn thành luận văn này.

Vinh, tháng 12 năm 2009

Trần Thị Hằng Phương

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU Tr. 1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Nguồn tư liệu 8

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Bố cục của luận văn 9

B NỘI DUNG Chương 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA HỘI NGHỊ LẦN THỨ 16 DIỄN ĐÀN HỢP TÁC KINH TẾ CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG (APEC) 10 1.1 Khái quát quá trình hoạt động của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) từ khi ra đời đến 2008 10 1.1.1 Bối cảnh ra đời của APEC 11

1.1.2 Các mục tiêu, nguyên tắc hoạt động của APEC 15

1.1.3 Đánh giá chung về thành tích và đóng góp của APEC 21

1.2 Bối cảnh thế giới và khu vực 27

1.2.1 Bối cảnh thế giới khi khai mạc APEC 16 27

1.2.1.1 Nguyên nhân khủng hoảng tài chính 27

1.1.2.2 Diễn biến của khủng hoảng tài chính 30

1.2.2 Tình hình khu vực châu Á với khủng hoảng tài chính 32 Tiểu kết chương 1 33 Chương 2: MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA HỘI NGHỊ LẦN THỨ 16 CỦA DIỄN ĐÀN HỢP TÁC KINH TẾ CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG (APEC) 2.1 Tiến trình của Hội nghị cấp cao APEC 16 35

2.1.1 Khai mạc Hội nghị cấp cao APEC 16 35

2.1.2 Nội dung Hội nghị cấp cao APEC 16 39

Trang 3

2.1.2.1 Hội nghị Liên bộ trưởng ngoại giao và kinh tế APEC lần 20 40

2.1.2.2 Hội nghị cấp cao các nhà lãnh đạo kinh tế thành viên APEC 16 44

2.1.3 Bên lề Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 16 tại Pêru 50

2.1.4 Bế mạc Hội nghị cấp cao APEC 16 52

2.2 Những nghị quyết (kết quả) chủ yếu của Hội nghị 56

2.2.1 Về vấn đề khủng hoảng tài chính toàn cầu 56

2.2.2 Về vấn đề Vòng đàm phán thương mại Đôha 58

2.2.3 Về vấn đề an ninh lương thực 63

Tiểu kết chương 2 63 Chương 3: NHỮNG NHẬN XÉT VỀ HỘI NGHỊ LẦN THỨ 16 CỦA DIỄN ĐÀN HỢP TÁC KINH TẾ CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG (APEC) 3.1 Vai trò của Hội nghị đối với APEC 65

3.1.1 Vai trò tích cực 65

3.1.2 Những hạn chế 71

3.2 Đóng góp của Pêru đối với APEC 16 73

3.3 APEC 16 và Việt Nam 75

3.3.1 Tổng quan về sự tham gia của Việt Nam vào APEC 75

3.3.2 Một số kết quả của Việt Nam khi tham gia APEC 77

3.3.3 Những đóng góp của Việt Nam với sự phát triển APEC và APEC 16 81 Tiểu kết chương 3 91

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 4

Danh Mục Các Chữ Viết Tắt

ABAC Hội đồng t vấn APEC

AFTA Khu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình DơngASEAN Hiệp hội các nớc Đông Nam Á

DDA Vòng đàm phán thơng mại Đôha

EU Liên minh châu Âu

FTAAP Khu vực mậu dịch tự do châu Á - Thái Bình DơngGATT Hiệp định chung về thuế quan và thơng mại

GNP Tổng sản phẩm trong nớc

G7 Gồm các nớc Mỹ, Canađa, Anh, Pháp, Đức, ý, NhậtIMF Quỹ tiền tệ thế giới

NAFTA Khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mỹ

NICs Các nớc công nghiệp mới

ODA Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức

PECC Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dơng

PNTR Quy chế thơng mại bình thờng vĩnh viễn

PIF Diễn đàn các đảo Thái Bình Dơng

WB Ngân hàng Thế giới

WTO Tổ chức Thơng mại Thế giới

Trang 5

A - MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

1.1 Vào những năm 90 của thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều biếnđộng Xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế diễn ra nhanh chóng đã tác độngtrực tiếp, toàn diện đến tất cả các quốc gia trên thế giới về kinh tế, chính trị, xãhội, vừa mở ra thời cơ và đồng thời là thách thức mới cho sự phát triển của từngquốc gia Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương (Asia-PacificEconomic Cooporation forum - APEC) được thành lập tháng 11- 1989 Trongthời gian ngắn, APEC đã phát triển nhanh chóng về mọi mặt từ 12 thành viên(1989) lên 21 thành viên (1998) Châu Á- Thái Bình Dương vốn là một trongnhững khu vực có nền kinh tế phát triển năng động của thế giới Khu vực này có

vị trí ngày càng quan trọng và trở thành trọng điểm chiến lược của các nước lớn

từ cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI Trong số 14 nền kinh tế lớn nhất thế giới

và GDP lớn hơn 500 tỷ USD thì có 7 thành viên kinh tế là thành viên của APEC,trong đó có 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Nhật Bản Ngoài ra, còn cómột nền kinh tế đứng thứ 5 thế giới là Trung Quốc; và các nền kinh tế là “conrồng” ở châu Á (Xingapo, Hồng Công, Hàn Quốc), các nền kinh tế phát triểnnhư Ôxtrâylia, Niu Dilân, Canađa và các thị trường mới triển vọng như Nga,Chilê Về thực lực, APEC là thị trường sản xuất và tiêu thụ rộng lớn với “tổngsản phẩm quốc dân GNP chiếm khoảng 1/2 tổng sản phẩm toàn thế giới, tổngkim ngạch mậu dịch hàng hoá chiếm tới 46% tổng kim ngạch mậu dịch toàn cầu.APEC là một đối tác quan trọng trong quan hệ kinh tế, thương mại quốc tế,chiếm tới 71% tổng thương mại toàn cầu”,[2; 7] và là một thực thể của khu vựcchâu Á- Thái Bình Dương, đi đầu trong việc thúc đẩy tự do hoá mậu dịch, đầu tư

và hợp tác kinh tế- kỹ thuật

1.2 Diễn đàn Hội nghị APEC 16 diễn ra trong bối cảnh các nhà lãnh đạo 21nền kinh tế vành đai Thái Bình Dương đứng trước sức ép lớn đó là cuộc khủng

Trang 6

hoảng tài chính toàn cầu Cần có những giải pháp nhằm ngăn chặn cuộc khủnghoảng tài chính tiếp tục lây lan và khôi phục Vòng đàm phán Đôha về tự do hoáthương mại toàn cầu đang có nguy cơ đổ vỡ Vào thời điểm này tất cả các thànhviên APEC đang chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và tốc

độ tăng trưởng cao mà khu vực đã đạt được trong một thập niên qua có thể sẽsuy giảm Các nhà nghiên cứu đều coi tình hình kinh tế ở Mỹ là một cuộc khủnghoảng nghiêm trọng nhất trong hơn 50 năm qua Cuộc khủng hoảng trong hệthống tài chính Mỹ đã lan sang các khu vực kinh tế khác và gây thiệt hại chotoàn bộ nền kinh tế nói chung và sẽ phải mất một thời gian dài để nền kinh tế lớnnhất thế giới có thể phục hồi cho dù kế hoạch cứu nguy tài chính lớn đã đượctriển khai Trên bình diện toàn cầu lần đầu tiên từ khi được thành lập, khu vực sửdụng tiền tệ chung Ơurô chính thức bị suy thoái Các nền kinh tế lớn ở Tây Âunhư Italia, Đức, Anh và Tây Ban Nha đều bị suy thoái trong quý III Ở khu vựcchâu Á, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới là Nhật Bản, cũng chính thức thừa nhậnsuy thoái Chính phủ Xingapo cho biết nền kinh tế nước này đã suy giảm trongquý III - 2008 Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) mới đây đã thừanhận khủng hoảng toàn cầu đã lan rộng từ lĩnh vực tài chính sang lĩnh vực kinh

tế Với vai trò là Diễn đàn hợp tác kinh tế, thương mại quan trọng hàng đầu trongkhu vực và trên thế giới, APEC tỏ rõ quan tâm mạnh mẽ với cam kết cụ thểnhằm tạo động lực hơn nữa thúc đẩy giải quyết khủng hoảng

1.3 Với sự phát triển và hợp tác đạt nhiều thành tựu quan trọng, Việt Nam

đã nhanh chóng chủ trương cải thiện và thành lập quan hệ với các nước châu Thái Bình Dương trực tiếp là với tổ chức Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á- TháiBình Dương - APEC, nhằm tạo môi trường khu vực thuận lợi và tranh thủ cácnguồn lực bên ngoài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đấtnước Đảng và Nhà nước ta đã coi việc phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác

Trang 7

Á-với các nuớc trong khu vực Á-với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế này là một địnhhướng quan trọng trong cuộc sống đối ngoại đổi mới của Việt Nam.

Quá trình hoạt động đối ngoại của Việt Nam với khu vực châu Á- TháiBình Dương ngày càng thu được kết quả tốt đẹp Cho đến những năm 90 của thế

kỷ XX, Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ với tất cả các nước thành viênAPEC, khép lại quá khứ nặng nề thù địch, thoát ra khỏi thế bị biệt lập với khuvực, đặc biệt là sự kiện Việt Nam được kết nạp làm thành viên chính thức của tổchức APEC (11- 1998)

Với những lý do trên nên chúng tôi đã chọn đề tài “Hội nghị lần thứ 16của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương (APEC) tại Pêru” làmluận văn thạc sĩ sử học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, khu vực châu Á- Thái Bình Dương ngàycàng được dư luận chú ý bởi tiềm năng phát triển và vai trò, vị trí to lớn của nóđối với đời sống kinh tế, chính trị và an ninh thế giới Xuất phát từ nhu cầu tìmhiểu về khu vực vị trí địa lý, lịch sử, văn hoá mà các học giả trong và ngoài nước

đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về các nước trong khu vực, giới thiệunhững nét cơ bản về đất nước, con người văn hoá- xã hội các giai đoạn lịch sửphát triển của một số quốc gia thuộc khu vực châu Á- Thái Bình Dương, đồngthời có đề cập đến mối quan hệ giữa các nước trong khu vực

Sau khi APEC ra đời năm 1989 để đáp ứng lòng mong muốn tìm hiểu về tổchức khu vực này, nhiều cuốn sách của các tác giả trong và ngoài nước viết vềAPEC được công bố như: “Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương(APEC)” của Vụ Tổng hợp kinh tế Bộ Ngoại giao, Nhà xuất bản Chính trị Quốcgia 1998 “Châu Á- Thái Bình Dương tìm kiếm một hình thức hợp tác mới chothế kỷ XXI” (1998),Viện thông tin Khoa học Xã hội, Hà Nội Những ấn phẩmtrên đã làm rõ sự ra đời, mục tiêu, nguyên tắc hoạt động và phát triển của APEC,

Trang 8

khẳng định giá trị vai trò vị thế của tổ chức APEC đối với sự phát triển kinh tếcủa các thành viên trong khu vực, tương lai của APEC Mối quan hệ giữa ViệtNam với các thành viên APEC cũng được các nhà nghiên cứu, các học giả ngàycàng quan tâm và được phản ánh qua những công trình đăng tải trên các báo, tạpchí, luận văn, luận án và các chuyên đề, đề tài khoa học Trong đó có thể liệt kêmột số bài tiêu biểu như “Lợi ích và vai trò của APEC đối với nền kinh tế thànhviên” của Luận Thuỳ Dương đăng trên tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 66 tháng9/2006 “Châu Á- Thái Bình Dương trong chính sách đối ngoại Liên bang Nga”của Nguyễn Hoàng Giáp, Phan Văn Rân, được đăng trên Tạp chí Nghiên cứuQuốc tế số 4, tháng 12/1995, “25 năm quan hệ Việt Nam – Nhật Bản” củaDương Phú Hiệp đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản số 1/1993; “Quan hệkinh tế Việt Nam- Hàn Quốc” của Hoa Hữu Lân trên tạp chí Những vấn đề kinh

tế thế giới số 6 tháng 6/1995

Bạn đọc còn có thể tìm thấy những thông tin về quá trình quan hệ ngoạigiao và quan hệ kinh tế đối ngoại giữa Việt Nam với các thành viên APEC quacác ấn phẩm như: “Năm năm Việt Nam gia nhập APEC” của Đỗ Như Đính trênTạp chí Cộng sản số 28 tháng 10/2003: “Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á- TháiBình Dương và những tác động đối với Việt Nam và Nhật Bản” của Học việnQuan hệ Quốc tế ấn hành năm 1996; “APEC và sự tham gia của Việt Nam” của

Vũ Tuyết Loan ở Tạp chí Cộng sản năm 2006

Các quan hệ song phương giữa Việt Nam với các thành viên APEC đã đượcnhiều ấn phẩm sách, báo, tạp chí đề cập đến Nhưng nhìn chung cho đến naychưa có công trình nào chính thức viết về quan hệ đa phương Việt Nam- APECmột cách hoàn chỉnh, mang tính khoa học từ khi thành lập và phát triển cho đếnnay đặc biệt là tại hội nghị APEC 14 vai trò vị trí của Việt Nam được nâng lêntầm cao mới trên trường quốc tế đó là những kết quả, ý nghĩa to lớn mà ViệtNam đạt được sau một thời gian dài hội nhập kinh tế khu vực với quốc tế

Trang 9

Việc nghiên cứu các đường lối, chủ trương chính sách đối ngoại của Đảng

và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới, trước xu thế hội nhập nói chung và vềquan hệ Việt Nam với APEC nói riêng còn hạn chế Vấn đề này được đề cậptrong các bài tạp chí dưới dạng giải thích hoặc phân tích một số quan điểm chủtrương chính sách đối ngoại của Đảng như ấn phẩm: “Ngoại giao Việt Nam gópphần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc”, Nguyễn Mạnh Cầmđược ấn hành trong Tạp chí Cộng sản số 14 tháng 8/1995; “Châu Á - Thái BìnhDương một hướng lớn trong chính sách đối ngoại của Nhà nước ta” của tác giả

Vũ Khoan đăng trên tạp chí Cộng sản tháng 7/1993; “Đổi mới kinh tế Việt Nam

và chính sách kinh tế đối ngoại” của tác giả Võ Đại Lược Nhà xuất bản Khoahọc Xã hội, Hà Nội năm 1995; “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trongcộng đồng thế giới” của Đỗ Mười do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nộinăm 1996; “Đăng cai APEC 2006: Một bước đi quan trọng trong chính sách đốingoại của Việt Nam” của Phạm Sanh Châu được đăng tải trên Tạp chí Nghiêncứu Quốc tế số 66 tháng 9/2006

Với Hội nghị lần thứ 16 của APEC diễn ra tại Pêru vào tháng 11.2008 thì

có thể liệt kê một số bài viết tiêu biểu như: “Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp táckinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 20 cần năng động” của TrùngDương được đăng trên báo An ninh cuối tháng (11.2008); “Hội nghị các nhàlãnh đạo APEC lần thứ 16: Sẽ gỡ bỏ rào cản thương mại” đăng trên báo Đầu tư(26.11.2008); “APEC cam kết hành động đối phó khủng hoảng tài chính” đượcđăng trên Báo nhân dân cuối tuần (30.11.2008); “Những thách thức đối với khuvực châu Á – Thái Bình Dương” của Tổng thống Nga Đ.Mét-vê-đép được đăngtrên Báo Quân đội nhân dân (21.11.2008)

Như vậy, nhìn chung có thể thấy thực tế là cho đến nay gần như chưa cócông trình hay ấn phẩm nào nghiên cứu một cách cơ bản quá trình ra đời và pháttriển của Diễn đạt hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương (APEC), về APEC

Trang 10

16 và những đóng góp to lớn của Việt Nam từ khi gia nhập vào tổ chức APECđến nay Vì vậy đề tài mà chúng tôi nghiên cứu hiện nay cũng đang là vấn đềmang tính cấp thiết và mới mẻ.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu như tên đề tài của luận văn đã chỉ rõ là Diễnđàn hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương (APEC) 16 tại Pêru Vì vậy đểlàm rõ vấn đề mà đề tài đã chọn, chúng tôi tập trung làm sáng tỏ được nhữngnhân tố tác động đến hội nghị APEC lần thứ 16 và những nội dung chủ yếu màHội nghị APEC 16 đã nêu ra để nhằm giải quyết những vấn đề hiện nay nhưkhủng hoảng tài chính; tăng giá lương thực và hàng hoá; Vòng đàm phán Đôha

Từ đó mà đề tài phải làm nổi bật lên vị thế đóng góp của Hội nghị trong việc giảiquyết những vấn đề khó khăn hiện nay đó là vấn đề khủng hoảng tài chính toàncầu, tăng giá lương thực và hàng hoá và Vòng đàm phán Đôha, đóng góp củaPêru đối với Hội nghị Như vậy mới có thể giải quyết được nội dung chính mà đềtài đã chọn làm luận văn tốt nghiệp

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi thời gian nghiên cứu luận văn tập trung giải quyết nội dung chínhcủa đề tài từ Hội nghị lần thứ 16 Diễn đàn hợp tác châu Á – Thái Bình Dương(APEC) tại Pêru Nhưng để đảm bảo tính logíc của một đề tài khoa học lịch sử,luận văn đề cập đến quá trình thành lập, phát triển của Diễn đàn hợp tác kinh tếchâu Á – Thái Bình Dương (APEC) và những tác động của hội nghị này

Đây là Hội nghị quan trọng vì nó diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới ở vàogiai đoạn khó khăn nghiêm trọng, khủng hoảng về tài chính, nhiên liệu, lươngthực đã tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế thế giới, làm giảm tốc độ tăngtrưởng, lạm phát tăng cao nên đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu để làm nổi bậtđược vai trò là một tổ chức hợp tác khu vực, tìm kiếm con đường để bảo đảm sự

Trang 11

ổn định và phồn vinh cho khu vực trong giai đoạn khó khăn này Đồng thời thấyđược sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình đúng đắn linh hoạt của Đảng và Nhà nước tatrước xu thế hội nhập kinh tế khu vực đã từng bước nâng cao vị thế của dân tộcViệt Nam lên tầm cao mới trên trường quốc tế

4 Phương pháp nghiên cứu:

Với đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định như trên, để giải quyếtnhững vấn đề do đề tài luận văn đặt ra thì về mặt phương pháp luận chúng tôidựa vào chủ nghĩa duy vật biện chứng và đặc biệt là chủ nghĩa duy vật lịch sửcùng với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp cậnnhững quan điểm mới nhất, những tư duy mới của Đảng và Nhà nước ta tronglĩnh vực đối ngoại cũng như xu thế hội nhập kinh tế quốc tế để làm kim chỉ namcho việc xử lý những nguồn tài liệu và tiếp cận với thông tin mới một cách chínhxác hơn

Còn về mặt phương pháp cụ thể trong luận văn chúng tôi chủ yếu sử dụngcác phương pháp lịch sửvà phương pháp logic Ngoài ra, luận văn còn sử dụngphương pháp đối chiếu và so sánh kết hợp các phương pháp chuyên môn nhưphân tích, tổng hợp thống kê Những phương pháp này được sử dụng phù hợpvới yêu cầu từng chương, từng tiết luận văn nhằm khôi phục lại một cách chânthực khách quan bức tranh tổng hợp về tổ chức Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC)

Đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta từ khi Việt Nam gia nhập APECđến nay được trình bày theo trình tự thời gian và mang tính chất khoa học đượcphân tích, so sánh các sự kiện thành tựu kết quả, ý nghĩa theo thời gian phát triểncủa lịch sử Để từ đó làm nổi bật vị thế đóng góp, triển vọng của Việt Nam trong

tổ chức APEC và trên trường quốc tế

5 Nguồn tài liệu:

Luận văn được thực hiện dựa trên những nguồn tài liệu chủ yếu sau đây:

Trang 12

Nguồn tài liệu liên quan đến đường lối đối ngoại của Đảng nói chung và vềquan hệ Việt Nam- APEC nói riêng bao gồm:

- Các tác phẩm, bài viết, lời phát biểu nhận xét của các đồng chí lãnh đạoĐảng và Nhà nước về lĩnh vực đối ngoại Đây là nguồn tài liệu cơ bản quantrọng, nó không chỉ trang bị về mặt nhận thức lý luận mà còn cung cấp nội dungquan điểm, chủ trương đường lối, ngoại giao của Đảng và Nhà nước Việt Namvới các nước trong khu vực và thế giới

- Nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước bằng tiếngViệt hoặc tài liệu dịch

- Các bài viết đăng trên tạp chí, báo, các thông tin ở Thông tấn xã Việt Nam, Bộngoại giao, qua các thời kì đã được cập nhật hàng ngày, nên mang tính thời sựnóng bỏng và độ chính xác cao cũng như mang tính khoa học để phục vụ cho đềtài

- Các kỷ yếu, chuyên đề, hội nghị khoa học, luận văn và luận án tiến sỹ, đề tàinghiên cứu khoa học có liên quan đến nội dung luận văn đều được chúng tôi khaithác sử dụng để phục vụ cho đề tài

Như vậy, nhìn chung các nguồn tài liệu trên đều ít nhiều có liên quan nộidung của đề tài nên được chúng tôi đi sâu vào khai thác, sử dụng một mặt là kếthừa những thành tựu mà các học giả, các nhà nghiên cứu đi trước mặt khác làphát huy sáng tạo để đề tài hoàn thành một cách tốt nhất

6 Đóng góp của luận văn:

Đề tài luận văn mà chúng tôi đã chọn có những đóng góp thiết yếu sau:

- Là công trình được tập trung nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triểncủa tổ chức Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương (APEC), đặc biệt

là về Hội nghị lần thứ 16 Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương

Trang 13

(APEC) tại Pêru, để người đọc hiểu được những vấn đề cơ bản và tương đối đầy

đủ về tổ chức kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương

- Không chỉ dừng lại ở đó đề tài còn tập trung phân tích, lý giải làm nổi bật lênđóng góp, triển vọng nhằm nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, để

từ đó có thể nhận thấy được sự phát triển của Việt Nam qua từng chặng đườnglịch sử và những thành tựu trong hơn 10 năm qua kể từ khi tham gia APEC

- Góp một phần nhỏ vào việc cung cấp tư liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy

và học tập về mảng đề tài quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với các tổ chức kinh

tế khu vực và thế giới

7 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo và mục lục, nộidung của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Những nhân tố tác động đến Hội nghị 16 của Diễn đàn hợp táckinh tế châu Á – Thái Bình Dương APEC

Chương 2: Một số hoạt động chủ yếu của Hội nghị 16 Diễn đàn hợp táckinh tế châu Á – Thái Bình Dương APEC

Chương 3: Những nhận xét về Hội nghị 16 của Diễn đàn hợp tác kinh tếchâu Á – Thái Bình Dương APEC

Trang 14

Ra đời năm 1989 chỉ với 12 thành viên ban đầu, bao gồm: Ôxtrâylia, Brunây,

Canađa, Inđônêxia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaixia, Niu Dilân, Philíppin,Xingapo, Thái Lan và Mỹ, APEC đã nhanh chóng mở rộng số lượng thành viêncủa mình từ 17 lên 21 với sự góp mặt của Trung Quốc, Hồng Công và Đài Loan(1991), Mêhicô, Papua Niu Ghinê (1993), Chilê (1994), Pêru, Nga, Việt Nam(1998)

Xét theo quy mô GDP, hiện nay APEC là tổ chức hợp tác kinh tế khu vực

có quy mô lớn nhất thế giới, với tổng GDP của các nền kinh tế APEC hiện chiếmkhỏng 60% tổng GDP toàn thế giới (26 nghìn tỷ USD) và 40% tổng dân số thếgiới (2,6 tỷ người) Nhiều nước lớn trong khu vực phụ thuộc rất lớn vào quan hệbuôn bán và đầu tư với các nền kinh tế khác trong APEC Chẳng hạn 80% tổngthương mại của Trung Quốc được thực hiện với các nền kinh tế châu Á – TháiBình Dương, con số đó đối với Nhật Bản là 70%

Không chỉ lớn về số lượng thành viên, quy mô GDP và dân số, APEC cũngnhanh chóng mở rộng lĩnh vực hợp tác cả về chiều rộng, lẫn chiều sâu Các nộidung thảo luận trong APEC không còn tập trung vào các vấn đề hợp tác mangtính chung chung nữa, mà đã đi vào những biện pháp và cách thức cụ thể để thựchiện các mục tiêu Bôgo, thúc đẩy hợp tác kinh tế - kỹ thuật (ECOTECH), cácgiải pháp để kết thúc Vòng đàm phán Đôha (DDA) về chương trình nghị sự pháttriển của WTO Về hình thức, các đề nghị của APEC chỉ mang tính khuyễnnghị, không có tính ràng buộc cao Tuy nhiên, một khi các khuyến nghị này được

Trang 15

các nhà lãnh đạo cấp cao APEC đưa ra thì tự thân các khuyến nghị này đã có cáccam kết chính trị rất lớn đi kèm theo nó Ngoài các vấn đề hợp tác kinh tế, từ sau

sự kiện 11.9.2001 đến nay, APEC cũng đang mở rộng đáng kể lĩnh vực hợp tác,bàn sang các vấn đề chống khủng bố và an ninh con người

1.1.1 Bối cảnh ra đời của APEC

Có thể coi sự khởi thuỷ của APEC bắt nguồn từ thập kỷ 60 và đầ 70 củathế kỷ XX Trong thời kỳ này, nước Nhật phục hồi nhanh chóng về kinh tế,chính phủ cùng với các công ty lớn của Nhật được sự hỗ trợ của Mỹ đã từngbước mở rộng và thiết lập quan hệ kinh tế, chính trị với các nền kinh tế ở ĐôngBắc và Đông Nam Á Với những thất bại về quân sự ở Việt Nam và ĐôngDương đầ những năm 1970, ảnh hưởng chính trị và kinh tế của Mỹ ở khu vựcĐông Á cũng giảm dần Và cũng từ đầu năm 1970 trở đi, Nhật Bản đã vượt Mỹ

để trở thành nguồn đầu tư và cung cấp viện trợ lớn nhất trong khu vực

Với sức mạnh đang tăng lên ở cả trong nước và khu vực, cộng với việcnhiều nước trong khu vực bớt đi sự lo ngại về sự nổi lên của chủ nghĩa quânphiệt Nhật, đã khiến nhiều nhân vật trong chính giới và học giả Nhật tự tin hơntrong việc đưa ra các sáng kiến về liên kết kinh tế cho toàn bộ khu vực châu Á –Thái Bình Dương Thật ra ý tưởng về Cộng đồng Thái Bình Dương đã đượcNhật Bản ấp ủ từ cuối thế kỷ XIX, khi một số nhà trí thức Nhật nêu ra viễn cảnh

về “Kỷ nguyên Thái Bình Dương”, trong đó Nhật Bản đóng một vai trò chủ chốt.Trong Chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật cũng đưa ra sáng kiến thiết lập Khối ĐạiĐông Á bao gồm hầu hết các nước Đông Á hiện nay Tuy nhiên, sáng kiến trênchưa được thực hiện thì Nhật đã bị thất bại thảm hại Năm 1966, Ngân hàng châu

Á (ADB) được thành lập với sáng kiến và sự hỗ trợ tài chính rất lớn của Chínhphủ Nhật Bản Tuy nhiên, việc Bộ ngoại giao Nhật Bản đưa ra “Chính sách châu

Á – Thái Bình Dương” được nhiều nhà quan sát trong và ngoài khu vực coi là nỗlực quan trọng của Nhật trong việc xây dựng một tổ chức thương mại khu vực

Trang 16

Sau đó, Bộ ngoại giao Nhật và nhà kinh tế Kiyoshi Koijma đã đưa ra sáng kiếnthiết lập Khu vực Thương mại tự do Thái Bình Dương – PAFTA bao gồm Mỹ,Nhật, Niu Dilân, Canađa và Ôxtrâylia Mục đích của PAFTA là thành lập khuvực thương mại tự do bao gồm các nền kinh tế tư bản phát triển ở khu vực châu

Á – Thái Bình Dương và làm đối trọng với Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC),nhưng sáng kiến này đã sớm thất bại do chỉ nhận được sự ủng hộ hạn chế củamột số nước

Sau đó, Nhật Bản lại đưa ra sáng kiến thiết lập Hội đồng Kinh tế lòng chảoThái Bình Dương (PBEC) tháng 4.1967 gồm các tổ chức kinh tế khu vực và Hộinghị đầu tiên về thương mại và phát triển Thái Bình Dương (PAFTAD) năm

1968 chỉ bao gồm các nhà kinh tế Sau khi sáng kiến về PAFTA thất bại, Kojimalại đưa ra đề nghị thiết lập Tổ chức Phát triển và Thương mại Thái Bình Dương(OPTAD) dựa trên mô hình của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD).Theo Kojima, OPTAD sẽ bao gồm các nước không cộng sản ở khu vực TháiBình Dương, bao gồm cả một số nước Mỹlatinh tiếp giáp với khu vực Thái BìnhDương Cũng giống như các sáng kiến trước đây của Nhật Bản, sáng kiến nàynhận được rất ít sự quan tâm của các nước trong khu vực Nhưng sáng kiến nàylại giupa thúc đẩy sự ra đời của Hội đồng Hợp tác kinh tế Thái Bình Dương(PECC) - một diễn đàn có sự tham gia của giới học giả, đại diện kinh doanh vàcác quan chức chính phủ Sau đó, Hội nghị này chuyển thành Hội đồng Hợp táckinh tế Thái Bình Dương và Hội đồng đã họp phiên đầu tiên tại Canberra(Ôxtrâylia) cuối năm 1980 với sự tham gia của đại diện các nước Mỹ, Nhật,Canađa, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Hàn Quốc, Malaixia, Thái Lan, Inđônêxia,Xingapo và Philíppin Sau đó, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Công, Nga, Mêhicô,Chilê, Pêru và Diễn đàn Nam Thái Bình Dương cũng đã gửi đại diện đến tham

dự các Hội nghị của PECC một đặc trưng của PECC là các sáng kiến, đề nghị

Trang 17

của Hội nghị này chỉ mang tính khuyến nghị và không có tính ràng buộc (giốngnhư một trong những nguyên tắc hoạt động của APEC sau này).

APEC ra đời năm 1989 trong bối cảnh có nhiều chuyển biến quan trọng vềchính trị và kinh tế trên thế giới và ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Về chính trị, sau thời kỳ dài đối đầu căng thẳng, từ giữa những năm 80 cảhai siêu cường Mỹ và Liên Xô đều nhận thấy cần phải có sự điều chỉnh chiếnlược quan trọng theo hướng cải thiện quan hệ và thúc đẩy hợp tác để giải quyếtcác điểm nóng trên phạm vi toàn cầu Sự thay đổi này đã đưa đến sự tan băngtrong quan hệ giữa các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, khu vựcvốn bị chia rẽ sâu sắc do sự tranh giành ảnh hưởng giữa các nước lớn Ý thức hệkhông còn là rào cản chủ yếu trong quan hệ giữa các nước trong khu vực nữa.Đồng thời việc xử lý một số điểm nóng trong khu vực (vấn đề Campuchia, tranhchấp lãnh thổ ở Biển Đông, tình hình trên bán đảo Triều Tiên ) cũng đã có một

số chuyển biến theo chiều hướng tích cực Bên cạnh đó, sự hậu thuẫn của Mỹcho sự ra đời của một tổ chức hợp tác kinh tế thuần tuý mang tính kinh tế cũng lànguyên nhân quan trọng tạo điều kiện cho sự ra đời của APEC

Như vậy, tuy là một diễn đàn thuần tuý mang tính kinh tế, nhưng ngay bảnthân sự ra đời của APEC đã cho thấy sự gắn kết của APEC với môi trường anninh khu vực và các tính toán chính trị của các nền kinh tế thành viên

Về kinh tế, bất chấp căng thẳng về chính trị trong khu vực châu Á – TháiBình Dương thời kỳ Chiến tranh lạnh, quan hệ kinh tế giữa các nước và nền kinh

tế trong khu vực vẫn được duy trì và thúc đẩy mạnh mẽ Chính làn sóng đầu tư

và buôn bán trong khu vực, vốn được thúc đẩy từ đầu những năm 70, đã tạo ra sựphụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia và các nền kinh tế trong khu vựcchâu Á – Thái Bình Dương, nơi có các nền kinh tế hàng đầu thế giới như Mỹ,Nhật Bản, các con rồng như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Công, Xingapo và cácnền kinh tế đang trỗi dậy mạnh mẽ như Trung Quốc, các nước ASEAN Chính

Trang 18

sự lệ thuộc ngày càng tăng về kinh tế đã gắn kết sự lệ thuộc về an ninh giữa họvới nhau vì sự bất ổn về kinh tế hay an ninh ở một nước sẽ tác động đến cácnước khác, cũng như đến toàn bộ khu vực Bên cạnh đó, một số nước ASEAN vàĐông Á bước đầu thấy được nguy cơ sự chuyển dịch quyền lực kinh tế trên thếgiới với khả năng ra đời của hai khối mậu dịch khổng lồ ở chau Âu và Bắc Mỹ,

do đó, họ muốn có một diễn đàn bàn việc thúc đẩy hợp tác trong khu vực đủmạnh để có thể làm đối trọng với hai khối kinh tế kia Tuy muốn có một khốikinh tế riêng của khu vực, nhưng nhiều nước Đông Á lại muốn tổ chức mới rađời phải là khối kinh tế mở, chứ không phải khối kinh tế đóng kín, bởi bản thân

họ là những nền kinh tế phát triển dựa vào xuất khẩu và muốn tiếp tục đượchưởng lợi từ sự mở cửa tiếp tục của hệ thống kinh tế thế giới, cũng như của cáckhu vực Một nguyên nhân khác nữa là các nền kinh tế trong khu vực lo ngạitrước nguy cơ đổ vỡ của Vòng đàm phán Urugoay có thể đưa lại những hậu quảtiêu cực khó lường hết đối với triển vọng phát triển kinh tế của họ, vốn phụthuộc rất nhiều vào thương mại

Nắm bắt được những thay đổi mau chóng của tình hình kinh tế, chính trị và

an ninh trong khu vực, Ôxtrâylia đã đưa ra đề nghị về việc tổ chức một cuộc họpcấp Bộ trưởng của các nền kinh tế trong khu vực nhằm thiết lập một cơ chế cấpchính phủ để thảo luận cách thức thúc đẩy hợp tác kinh tế khu vực châu Á – TháiBình Dương Đề nghị này do Thủ tướng Ôxtrâylia, Bob Hawk, đưa ra vào tháng1.1989 nhân chuyến thăm Hàn Quốc và đã nhanh chóng nhận được sự hưởngứng của hầu hết các nước và các nền kinh tế trong khu vực Cuộc họp sau đó củacác Bộ trưởng Ngoại giao và Thương mại của 12 nền kinh tế châu Á – Thái BìnhDương tháng 11.1989 được xem là sự khởi đầu của tiến trình mới trong khu vực

về hợp tác kinh tế - một tiến trình mà không một nền kinh tế nào muốn bỏ lỡnhịp vì họ muốn được thể hiện vai trò và trên hết là muốn tham gia, chứ khôngmuốn bị bỏ qua trong các bàn thảo về hợp tác và tương lai phát triển kinh tế của

Trang 19

khu vực Đánh giá về sự ra đời của APEC, cựu Ngoại trưởng Inđônêxia, AliAlatas, đã nhận xét rằng đó là sự hội tụ của một loạt nhân tố như: cách tiếp cậnmang tính thực dụng về các lĩnh vực chủ yếu liên quan đến lợi ích quốc gia củacác thành viên hết sức đa dạng trong khu vực; cách tiếp cận khéo léo và mềmdẻo liên quan đến các nguyên tắc hoạt động của APEC; các cuộc tham khảo ýkiến rộng lớn của Ôxtrâylia trong việc phát triển khái niệm APEC Yếu tố kháckhông kém phần quan trọng là sự thay đổi trong môi trường kinh tế và chính trị ởkhu vực và quốc tế đã làm cho nhiều chính phủ trong khu vực nhận thấy sự cầnthiết phải thiết lập một diễn đàn liên chính phủ để tham khảo ý kiến và hợp táctrong các vấn đề kinh tế.

1.1.2 Các mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của APEC

Ngay tại cuộc họp đầu tiên cấp Bộ trưởng, các thành viên APEC đã xem xét

và thảo luận khá kỹ về mục tiêu cơ bản và nguyên tắc hoạt động của APEC.Trong Tuyên bố tóm tắt của chủ tịch cuộc họp, Ngoại trưởng Gareth Evans củaÔxtrâylia đã tóm lược các mục tiêu và nguyên tắc đó như sau:

- Mục tiêu thúc đẩy hợp tác của APEC là duy trì sự tăng trưởng và phát triểnbền vững trong khu vực, do đó đóng góp vào sự tăng trưởng, phát triển của nềnkinh tế thế giới;

- Hợp tác trong APEC cần phải thừa nhận tính đa dạng của khu vực, bao gồm

sự khác biệt về hệ thống kinh tế, xã hội và trình độ phát triển của các nền kinh tếthành viên;

- Sự hợp tác này cần phải có sự cam kết đối với đối thoại mở và nhất trí, tôntrọng một cách bình đẳng quan điểm của tất cả các thành viên tham gia;

- Sự hợp tác cần phải dựa trên cơ sở tham khảo ý kiến mang tính không chínhthức giữa các thành viên;

- Sự hợp tác cần phải tập trung vào các lĩnh vực kinh tế nhằm thúc đẩy lợi íchchung và cùng có lợi;

Trang 20

- Phù hợp với lợi ích của các nền kinh tế thành viên APEC, sự hợp tác trongAPEC phải hướng tới mục tiêu tăng cường hệ thống thương mại đa phương mở,APEC không nên tham gia vào việc thành lập một khối thương mại riêng;

- Hợp tác trong APEC cần phải nhằm vào việc tăng cường các lợi ích từ sựphụ thuộc lẫn nhau, cả trong phạm vi khu vực và trong phạm vi toàn cầu, baogồm cả việc khuyến khích sự lưu thông hàng hoá, dịch vụ, vốn và công nghệ;

- Hợp tác trong APEC cần phải bổ sung, chứ không phải làm giảm vai trò củacác tôe chức trong khu vực như ASEAN và các thiết chế mang tính tham khảo ýkiến ít chính thức hơn như Hội đồng Hợp tác kinh tế Thái Bình Dương;

- Sự tham gia của các nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương vào tiến trìnhAPEC cần phải được đánh giá dựa trên sự liên kết kinh tế của họ đối với khu vực

và trong tương lai APEC có thể được mở rộng trên cơ sở của sự nhất trí giữa cácthành viên

Do sự đa dạng của các nền kinh tế APEC, trong quá trình phát triển củamình, các thành viên APEC đã phát triển cách tiếp cận mang tính đặc trưng củaAPEC, với các thành tố chính như sau:

* Nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau

Bình đẳng và tôn trọng được xem là nguyên tắc cơ bản, nguyên tắc cốt lõitrong các hoạt động của APEC Nguyên tắc này được hình thành và xây dựngngay từ khi APEC mới ra đời Theo nguyên tắc này, tất cả các thành viên APEC,

dù lớn, dù nhỏ hay giàu, nghèo đều bình đẳng, tôn trọng, có tiếng nói và vai trònhư nhau trong các hoạt động và tham khảo ý kiến lẫn nhau trong tiến trình pháttriển của APEC Có lẽ trong các tổ chức hợp tác khu vực hiện nay trên thế giới,không một tổ chức nào có sự đa dạng và khác biệt giữa các thành viên về trình

độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội như APEC Do đó, sự bình đẳng, tôn trọng

và hiểu biết lẫn nhau giữa các thành viên là điều hết sức cần thiết cho APEC hoạtđộng và vận hành một cách có hiệu quả Trong tiến trình APEC, các thoả thuận

Trang 21

đạt được trên cơ sở nhất trí, do đó sẽ khó cho các thành viên lớn nào tìm cách ápđặt ý chí hay luật chơi của mình cho các thành viên khác.

* Nguyên tắc cùng có lợi

Một nguyên tắc cơ bản khác của APEC là nguyên tắc cùng có lợi Chúng tađều rõ, ngay từ khi ra đời, APEC đã xác định được ba mục tiêu cơ bản của mìnhlà: Tự do hoá thương mại; Thuận lợi hoá thương mại và đầu tư; Hợp tác kinh tế

và kỹ thuật (ECOTECH) Việc thúc đẩy và thực hiện ba mục tiêu này đáp ứngđược lợi ích không chỉ của các thành viên phát triển, mà của cả các thành viênđang phát triển nữa

Mục tiêu của việc thúc đẩy tự do hoá thương mại và thuận lợi hoá đầu tư lànhằm thúc đẩy thương mại, các hoạt động kinh tế và đầu tư, giảm các chi phígiao dịch và các chi phí gián tiếp khác Nếu mục tiêu này được thực hiện thì tínhhiệu quả của các nền kinh tế APEC sẽ được nâng lên rõ rệt, nhiều công ăn việclàm mới được tạo ra từ việc mở rộng các hoạt động thương mại và đầu tư Hiệnnay, các nền kinh tế APEC đang đặt mục tiêu giảm tiếp 5% tổng chi phí giaodịch cho giai đoạn 2006 – 2010 Việc thực hiện mục tiêu thứ nhất và thứ hai sẽđem lại nhiều lợi ích hơn cho các thành viên phát triển do tính cạnh tranh hànghoá và dịch vụ của họ cao hơn và tiềm năng đầu tư ra bên ngoài của họ cũng lớnhơn Còn thực hiện mục tiêu thứ ba lại có lợi hơn cho các nền kinh tế đang pháttriển trong APEC Việc thực hiện mục tiêu này sẽ đảm bảo việc sử dụng có hiệuquả hơn và hợp lý hơn các nguồn tài nguyên, công nghệ, nguồn lực, kỹ năng laođộng của từng nền kinh tế thành viên (đặc biệt là các thành viên đang phát triển),cũng như của toàn khu vực Tuy lợi ích mà các thành viên thu nhận được từ việcthực hiện ba mục tiêu này có khác nhau, nhưng cách tiếp cận này của APEC chothấy, các thành viên đều mong muốn tất cả đều được hưởng lợi, và không thànhviên nào bị loại khỏi tiến trình chung của APEC Như vậy cùng có lợi vừa là

Trang 22

nguyên tắc hoạt động, vừa là nền tảng đảm bảo cho sự phát triển tiếp tục vàthành công của APEC trong tương lai.

* Nguyên tắc mở

Do hầu hết các nền kinh tế thành viên APEC đều phụ thuộc vào việc xuấtkhẩu và thị trường của nhau, nên ngay từ đầu các thành viên APEC phản đối chủtrương, thiết lập APEC thành khối kinh tế đóng và ủng hộ việc xây dựng chủnghĩa khu vực mở

Theo cách tiếp cận này, tự do hoá thương mại và đầu tư trong phạm vi cácnền kinh tế APEC về nguyên tắc sẽ được áp dụng đối với các thành viên khôngphải APEC Ngoài ra, APEC còn có nghĩa vụ đóng góp và thúc đẩy tự do hoáthương mại và đầu tư trên phạm vi toàn cầu, chứ không chỉ trong phạm viAPEC Đây là cách tiếp cận khác với cách tiếp cận của Liên minh châu Âu, theo

đó Liên minh này chỉ mở cửa đối với các thành viên nội khối, còn đóng cửa đốivới các thành viên bên ngoài Cách tiếp cận dựa trên nền tảng chủ nghĩa khu vực

mở được thể hiện khá rõ trong tiến trình APEC thời gian qua và qua lập trườngtích cực của APEC trong việc ủng hộ tự do hoá thương mại toàn cầu và kết thúcnhanh Vòng đàm phán Đôha về phát triển Như vậy, APEC không chỉ thúc đẩy

tự do hoá thương mại và đầu tư trong nội khối, mà còn là cầu nối củng cố mốiliên hệ giữa các thành viên APEC với thị trường thế giới

* Nguyên tắc tự nguyện và phối hợp hành động

Nguyên tắc này được hình thành từ sau Hội nghị Ôsaca năm 1995 TrongTuyên bố Ôsaca, các nhà lãnh đạo kinh tế APEC đã quyết định lựa chọn nguyêntắc này dựa trên tính đặc thù của APEC, đó là kết hợp giữa nguyên tắc tự nguyện

và nguyên tắc hành động tập thể Theo nguyên tắc này, việc thực hiện tự do hoáthương mại có thể được thực hiện thông qua các cam kết đơn phương của từngnền kinh tế thành viên hoặc các sáng kiến tập thể với mục tiêu trước mắt là thựchiện chương trình hành động Ôsaca và hướng đến mục tiêu cuối cùng là mục tiêu

Trang 23

Bôgo Việc thực hiện đơn phương có nghĩa từng thành viên có nghĩa vụ thựchiện cam kết mà không thông qua việc ký kết các thoả thuận chính thức vàAPEC cũng không đưa ra các biện pháp chế tài đối với các thành viên nêu như

họ không thực hiện đúng các cam kết tự nguyện của mình Tuy nhiên, trong thực

tế hoạt động của APEC, các cam kết tự nguyện cũng có tính ràng buộc khá cao

và được các thành viên tuân thủ khá nghiêm túc do: Thứ nhất, nhiều thoả thuậnquan trọng đạt được ở cấp cao, nên các cam kết này phần nào thể hiện ý chíchính trị của các thành viên và đồng thời cũng là những sợi dây ràng buộc chínhtrị khá chắc đòi hỏi các thành viên phải có nghĩa vụ tuân thủ và thực hiện nghiêmchỉnh Nói cách khác các thoả thuận cấp cao trong APEC còn được gọi là các

“hiệp định quân tử” hay “luật mềm” Thứ hai, việc đạt được các thoả thuận trongkhuôn khổ APEC càng ngày càng phức tạp vì không chỉ liên quan đến thươngmại, đầu tư mà đã nhanh chóng mở rộng sang các lĩnh vực khác Do việc đạtđược các thoả thuận này đòi hỏi có sự tham gia thương lượng và thoả hiệp lâudài giữa các thành viên, nên họ có nhu cầu thực hiện nghiêm túc để khỏi bị mangtiếng là làm mất thời gian chung hay cản trở sự hợp tác trong APEC Thứ ba,việc thực hiện các thoả thuận này chính là một trong những lý do tồn tại củaAPEC và sự tham gia của các thành viên vào tổ chức này, do vậy các thành viênđều cảm thấy phải có nghĩa vụ về mặt “đạo lý” làm cho APEC tiếp tục tồn tại vàphát triển

Như vậy, việc áp dụng nguyên tắc tự nguyện và nhất trí phản ánh đúng tính

đa dạng và trình độ phát triển hiện nay của APEC Tuy nhiên, trong thực tiễnhoạt động, có nhiều vấn đề APEC cần thảo luận và tham khảo ý kiến rộng rãihơn đề đạt được sự nhất trí Trong trường hợp như vậy, APEC để ngỏ vấn đề đểmột số thành viên phát triển hơn đi tiên phong trong một số lĩnh vực và khi đãtìm được bước đi, cách làm phù hợp thì dẫn dắt các thành viên khác đi theo Việc

áp dụng cả hai cách đi như trên là nhằm tìm ra cách thức phù hợp nhất trong điều

Trang 24

kiện hiện nay của APEC để tiến tới thực hiện các mục tiêu tự do hoá trong toànkhu vực.

* Nguyên tắc tiệm tiến

Do có sự chênh lệch rất lớn về trình độ phát triển kinh tế, mức độ tự do hoá

và các ưu tiên khác trong phạm vi quốc gia giữa các nền kinh tế APEC, nên trênthực tế khó có thể thực hiện đồng thời mục tiêu tự do hoá thương mại và thuậnlợi hoá đầu tư trong các nền kinh tế thành viên APEC Chính vì vậy, APEC đã ápdụng phương cách tiếp cận khôn ngoan là tiến trình tự do hoá từng bước đề thựchiện mục tiêu cuối cùng đã đề ra Điều này được thể hiện rất rõ trong Tuyên bốBôgo, với thời hạn tự do hoá thương mại và đầu tư đối với các nền kinh tế pháttriển của APEC là năm 2010 và đối với các nền kinh tế đang phát triển là 2020.Như vậy, các nền kinh tế đang phát triển sẽ có thêm thời gian để điều chỉnh cơcấu kinh tế của mình nhằm hoà nhập với tiến trình tự do hoá thương mại và đầu

tư chung của cả khu vực

APEC không chỉ có cách tiếp cận tiệm tiến trong lĩnh vực tự do hoáthương mại và đầu tư, mà còn áp dụng cách tiếp cận này đối với việc thể chế hoá

tổ chức này Một số thành viên phát triển của APEC, đặc biệt là Mỹ, muốn biếnAPEC thành một tổ chức có cơ cấu hoạt động chặt chẽ, dựa trên các quy địnhpháp lý, có cơ chế giải quyết tranh chấp để nâng cao tính ràng buộc đối với cácquyết định của mình Tuy nhiên, các nước đang phát triển kiên trì với lập trườngphát triển tiệm tiến của APEC và lập trường này đã nhận được sự ủng hộ của cácthành viên APEC Quan điểm phát triển tiệm tiến không có nghĩa là ngăn cản cácthành viên khác có các thoả thuận riêng, mà tất cả cùng hướng tới thực hiện mụctiêu cuối cùng là thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư, đẩy nhanhtiến trình thể chế hoá trong APEC Chính vì vậy, mà nhiều thành viên APEC chorằng việc hình thành một số FTA và RTA trong khuôn khổ APEC không cản trở

Trang 25

việc thực hiện mục tiêu chung của APEC, mà trái lại còn giúp thúc đẩy tiến trìnhnày nhanh hơn nữa.

1.1.3 Đánh giá chung về thành tích và đóng góp của APEC

Cho đến nay, các thành viên APEC đã đi được nửa chặng đường trong việctheo đuổi các mục tiêu Bôgo, chủ yếu dựa trên ba trụ cột là tự do hoá thươngmại, thuận lợi hoá thương mại và đầu tư, hợp tác kinh tế - kỹ thuật Trong gần 20năm qua, các nền kinh tế APEC đã tiến nhanh hơn các khu vực khác trong việc

mở cửa thị trường cho thương mại và đầu tư quốc tế, dẫn đến tốc độ tăng trưởngkinh tế của khu vực đạt khá cao Đồng thời, các thành viên APEC cũng đã cảithiện đáng kể mức sống và phúc lợi xã hội của người dân khu vực Chính việcduy trì cam kết mở cửa thị trường đã giúp các nền kinh tế Đông Á hồi phụcnhanh chóng sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 và lấy lại đà tăng trưởngnăng động vào đầu thế kỷ XXI Tuy nhiên, APEC cũng phải đối mặt với nhữngthách thức to lớn, đặc biệt là thời hạn 2010 để các nền kinh tế phát triển phải tự

do hoá thương mại đang đến gần

Trong lĩnh vực tự do hoá thương mại và đầu tư, các thành viên APEC đãgiảm được mức thuế quan trung bình từ 16,9% năm 1989 xuống còn 5,5% năm

2004 Thương mại hàng hoá và dịch vụ giữa các thành viên APEC đã tăng hơn

ba lần từ 1989 đến 2003, và chiếm một tỷ trọng ngày càng lớn trong GDP củacác nền kinh tế APEC (từ 13,8% năm 1989 lên 18,5% năm 2003) Nhiều hàngrào phi thuế quan trong khu vực như hạn nghạch, giấy phép xuất nhập khẩu, trợcấp xuất khẩu đã được dỡ bỏ, góp phần giảm thiểu mức bảo hộ và minh bạch hoáchế độ thương mại Thương mại dịch vụ giữa các thành viên APEC cũng tăngđáng kể nhờ nỗ lực dỡ bỏ những hạn chế tiếp cận thị trường, trao đổi quy chế tốihuệ quốc, đãi ngộ quốc dân và phi điều tiết Tuy nhiên, cơ cấu thuế quan củaAPEC tiếp tục gây trở ngại cho xuất khẩu của các nền kinh tế đang phát triển,đặc biệt là đối với các sản phẩm có hàm lượng lao động cao Nông nghiệp tiếp

Trang 26

tục là lĩnh vực có hàng rào bảo hộ cao nhất, trong đó các nền kinh tế lớn củaAPEC duy trì mức thuế rất cao đối với các sản phẩm nông nghiệp đến từ các nềnkinh tế đang phát triển Các hành động chống phá giá được các nền kinh tế pháttriển sử dụng ngày càng nhiều, đe dọa đến các thành quả cắt giảm thuế quan Vềđầu tư, nói chung khu vực châu Á – Thái Bình Dương ngày càng mở cửa đối vớiđầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhất là từ khi APEC thông qua Các nguyêntắc đầu tư không bắt buộc (NBIP) năm 1994 Tuy nhiên, cho đến nay các thànhtựu tự do hoá đầu tư của các thành viên APEC chủ yếu là thông qua các kênhđơn phương và song phương Quy chế đãi ngộ quốc dân trong lĩnh vực đầu tưchưa được áp dụng rộng rãi, nhiều hạn chế đối với quyền sở hữu nước ngoài vẫnđược áp đặt trong các lĩnh vực đầu tư chủ chốt.

Thuận lợi hoá thương mại và đầu tư là lĩnh vực thành công hơn cả trong hợptác APEC, trở thành hướng ưu tiên hợp tác của APEC sau khi một số chươngtrình tự do hoá bị đổ vỡ Năm 2002, APEC đã đưa ra Kế hoạch hành động thuậnlợi hoá thương mại (TFAP) nhằm giảm thiểu các hàng rào trong biên giới đối vớithương mại, phát huy thương mại phi giấy tờ, tăng cường minh bạch hoá Hiệnnay, APEC đã hoàn thành hơn một nửa số biện pháp đề ra trong TFAP và chuẩn

bị đưa một chương trình toàn diện về thuận lợi hoá kinh doanh, dựa trên nhữngthành quả của TFAP Một kết quả rõ rệt nhất là APEC đã thực hiện xong giaiđoạn TFAP1 là giảm 5% tổng chi phí giao dịch cho giai đoạn 2001 – 2005.Trong 2006, APEC đưa ra TFAP2 với mục tiêu tiếp tục giảm 5% chi phí giaodịch trong giai đoạn 2006 – 2010 Có thể đánh giá lĩnh vực thuận lợi hoá thươngmại và đầu tư là một sự chuyển hướng chiến lược của hợp tác APEC đầu thế kỷXXI

APEC đã đi đầu trong việc gắn kết tự do hoá, thuận lợi hoá thương mại vàđầu tư (TILF) với hợp tác kinh tế - kỹ thuật (ECOTECH) với phương châm thúcđẩy tăng cường năng lực sẽ làm tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư diễn ra

Trang 27

nhanh hơn APEC đã có nhiều hoạt động, chương trình cụ thể (hiện ECOTECH

có trên 200 dự án triển khai mở rộng) để thu hẹp khoảng cách công nghệ giữacác thành viên, thúc đẩy phát triển bền vững, thịnh vượng chung thông qua việcphát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ kỹ thuật, khuyến khích các doanh nghiệp vừa

và nhỏ Tuy nhiên, hợp tác ECOTECH gặp nhiều khó khăn về tài chính, chưatương xứng với hợp tác TILF Các thành viên đang phát triển của APEC rất kỳvọng vào ECOTECH và coi tăng cường năng lực là điều kiện tiên quyết cho việctheo đuổi các mục tiêu Bôgo Nếu các hoạt động hợp tác trong ECOTECHkhông được coi trọng, có khả năng các nền kinh tế đang phát triển sẽ xem xét lạicam kết của họ đối với Mục tiêu Bôgo

Ngoài bản thân tiến trình hợp tác trong cơ chế APEC (chủ yếu thông qua các

Kế hoạch hành động tập thể - CAP) các thành viên APEC còn sử dụng nhiềukênh phối hợp để hiện thực hoá các Mục tiêu Bôgo, bao gồm các hành động tự

do hoá đơn phương của các thành viên, các hành động đa phương trong khuônkhổ WTO, và các hành động ưu đãi thông qua các thoả thuận thương mại khuvực và các thoả thuận song phương khác Theo Hội đồng Hợp tác kinh tế TháiBình Dương (PECC), khi đánh giá tiến độ của APEC phải tính đến các hoạt độngcủa các thành viên APEC trong các kênh hợp tác nói trên Trong khuôn khổGATT/WTO, APEC đã góp phần tích cực vào việc hoàn tất Vòng đàm phánUrugoay, đồng thời đóng vai trò chủ chốt trong việc thúc đẩy Hiệp định côngnghệ quốc tế (ITA) trong WTO Tất cả các thành viên APEC đều đã hoặc sắp trởthành thành viên WTO Hiện nay APEC đang khẳng định quyết tâm kết thúcthắng lợi Vòng đàm phán Đôha về chương trình nghị sự phát triển Đôha, thúcđẩy cơ chế nhóm đại diện của APEC tại Giơnevơ nhằm tăng tiếng nói và vai tròcủa APEC trong việc thúc đẩy Vòng đàm phán Đôha Đánh giá giữa kỳ về tiến

độ thực hiện Mục tiêu Bôgo của APEC đã khẳng định: Những thành tích ấntượng của APEC trong việc xử lý các vấn đề thuận lợi hoá thương mại và đầu tư

Trang 28

đã giúp đưa những vấn đề này vào chương trình nghị sự tự do hoá thương mạitoàn cầu của WTO Tuy nhiên, tính hữu hiệu của APEC trong cuộc đàm phánWTO bị hạn chế do trên thực tế các thành viên APEC lại bị chia rẽ thành cácnhóm lợi ích mâu thuẫn nhau trong hầu hết các vấn đề chủ chốt của WTO Chính

vì vậy, các thành viên APEC vẫn chưa đạt đến vị thế một nhóm tham vấn cố kếttrong các cuộc đàm phán WTO, ngoại trừ trên vấn đề thuận lợi hoá thương mại

do trong lĩnh vực này APEC đã đi trước WTO khá xa

Mặt khác, APEC cũng tiến hành thúc đẩy tự do hoá kinh tế thông qua cácHiệp định thương mại khu vực (RTA) và Hiệp định thương mại tự do (FTA)

“chất lượng cao” Hiện nay các nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương có xuhướng theo đuổi các thoả thuận thương mại ưu đãi để xúc tiến tự do hoá kinh tếvới tốc độ nhanh hơn APEC và WTO, phục vụ tốt nhất lợi ích phát triển của họ.APEC thừa nhận vai trò tích cực của các thoả thuận thương mại ưu đãi và pháthuy mối liên hệ tích cực giữa các thoả thuận này và công cuộc tự do hoá thươngmại ở cấp độ rộng lớn hơn như liên khu vực và toàn cầu Đồng thời, APEC cũngđịnh hướng, tác động cho các thoả thuận đó thực sự minh bạch, toàn diện, phùhợp với các nguyên tắc của WTO như mô tả trong bản hướng dẫn mô hình mẫuRTA/FTA của APEC 2004 Do các thoả thuận thương mại ưu đãi có tính chấtphân biệt đối xử, có thể gây tổn hại đến các nền kinh tế khác, APEC đã tìm cáchhạn chế những tác động tiêu cực của các thoả thuận này thông qua phát huy các

mô hình mẫu “chất lượng cao” để đảm bảo rằng chúng sẽ đóng góp cho việcthực hiện các Mục tiêu Bôgo Tuy nhiên, bản thân các RTA/FTA cũng không đủ

để thoả mãn thời hạn 2010, cả về tốc độ, số lượng và phạm vi bao quát khu vựccủa các RTA/FTA

Tại Hội nghị cấp cao lần thứ 15 được tổ chức ở Xítni (Ôxtrâylia), đã tậptrung vào một loạt vấn đề nổi cộm mang tính toàn cầu như: sự thay đổi khí hậu

và phát triển sạch, ủng hộ hệ thống thương mại đa biên và WTO, thành lập khu

Trang 29

vực mậu dịch tự do FTAAP, cải cách APEC Ngoài những vấn đề nêu trên, Hộinghị cấp cao APEC 15 cũng tập trung vào một số nội dung đang được quan tâm

đó là; kết nạp thành viên mới, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, cải cách cơ cấu kinh

tế và các rào cản thương mại sau biên giới, các vấn đề về chống khủng bố, anninh y tế, đối phó với tình trạng khẩn cấp, chống tham nhũng

Kết thúc Hội nghị, các nhà lãnh đạo APEC đã nhất trí thông qua Tuyên bốchung về các vấn đề đã thảo luận tại hội nghị như “Tuyên bố Xítni về biến đổikhí hậu, an ninh năng lượng và phát triển sạch” và “Tuyên bố riêng của các nhàlãnh đạo APEC về Vòng đàm phấn Đôha”

Trong “Tuyên bố Xítni về biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng và pháttriển sạch”, các nhà lãnh đạo APEC kêu gọi một thoả thuận hợp tác quốc tế mới

về biến đổi khí hậu cho giai đoạn 2012, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nângcao hiệu quả sử dụng năng lượng bằng cách hợp tác để đạt mục tiêu mong đợi vềgiảm cường độ sử dụng năng lượng trên toàn khu vực xuống ít nhất 25% vàonăm 2030 (lấy năm 2005 làm mốc), hợp tác để đạt mục tiêu mong đợi về tăng độche phủ rừng của toàn APEC lên thêm ít nhất 20 triệu hecta tất cả các loại rừngvào năm 2020 Nhưng để thực hiện được vấn đề này không dễ, bởi vì đối vớinhiều thành viên phát triển trong APEC, để tiến đến nền sản xuất sạch như hiệnnay thì họ đã gây ra lượng khí thải sau hàng trăm năm công nghiệp hoá và nhiềunước vẫn chưa đưa ra cam kết cắt giảm cụ thể Còn đối với các thành viên đangphát triển, đang tiến hành công nghiệp hoá, việc giảm khí thải lúc này có nghĩa làphải đầu tư mới về công nghệ sạch hoặc phải giảm sản xuất công nghiệp gây ảnhhưởng tiêu cực đến việc làm và thu nhập của người dân Chính vì sự khác biệtnày mà APEC khó có thể đưa ra một giải pháp chung về giảm khí thải toàn cầu.Bản thân nghị định thư Kyôtô về thay đổi khí hậu được ký cách thời điểm diễn raHội nghị APEC 15 này không lâu nhưng vẫn chỉ có giá trị trên giấy tờ

Trang 30

Trong “Tuyên bố riêng về Vòng đàm phán Đôha”, các nhà lãnh đạo APECcam kết phấn đấu trong năm 2007 các cuộc đàm phán trong khuôn khổ VòngĐôha sẽ bước vào chặng cuối.Về vấn đề này cũng không dễ gì đạt được Từ năm

2001 đến nay, từ hội nghị thượng đỉnh tại Thượng Hải, Mexicô, Băng Cốc,Santiagô, Busan đến Hà Nội hầu như năm nào các nhà lãnh đạo APEC cũng đều

có những văn kiện hoặc thông điệp riêng thúc đẩy vấn đề này nhưng đều khôngthực hiện được Bởi lẽ trong APEC, ý chí chính trị thì có, nhưng để đưa ra đượccon số cụ thể về giảm trợ cấp nông nghiệp, một nhân tố quyết định thành côngcủa Vòng Đôha thì cũng còn nhiều bất đồng Hơn nữa EU, đối tác quyết địnhchính đối với tiến bộ trong vấn đề nông nghiệp thì nằm ngoài APEC và khôngchịu sức ép trực tiếp từ APEC Chỉ sau 2013 EU mới có thể triển khai vấn đề cảicách chính sách nông nghiệp

Về vấn đề kết nạp thành viên mới thì APEC đang trì hoãn, bởi tổ chứckhông muốn việc mở rộng làm chậm động lực hướng tới “hội nhập khu vực vànền kinh tế mở” Quyếtt định này của các nhà lãnh đạo APEC khiến nguyệnvọng xin gia nhập APEC của các nước và vùng lãnh thổ như Ấn Độ, Lào, MôngCổ tạm thời chưa được đáp ứng

Vấn đề chống khủng bố và các vấn đề an ninh con người khác như chốngthiên tai, dịch bệnh sẽ tiếp tục được các nhà lãnh đạo APEC thảo luận và camkết giải quyết nhưng sẽ là những cuộc thảo luận thường xuyên trong APEC Như vậy điểm qua một số vấn đề lớn được thảo luận trong hội nghịthượng đỉnh APEC lần 15 xem chừng ít có triển vọng tạo kết quả đột biến.Không phải không có ý khi nhiều nhà bình ch rằng APEC là “con hổ khôngrăng” Nói như thế không có nghĩa là APEC không có giá trị riêng của nó Nhưmột chính khách đã từng nói, việc tạo ra được một diễn đàn chung để các nướcthành viên trò chuyện tăng cường hiểu biết và cam kết xây dựng hoà bình, ổnđịnh và thịnh vượng trên thế giới thay vì xung đột đã là điều quá tốt đẹp Trong

Trang 31

bối cảnh cạnh tranh chiến lược gia tăng giữa các nước lớn, giá trị của APEC với

tư cách là một diễn đàn như vậy có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết

1.2.Bối cảnh thế giới và khu vực.

1.2.1.Bối cảnh thế giới khi khai mạc APEC 16.

Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 16 diễn ratrong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu và kinh tế thế giới trì trệ, cuộckhủng hoảng sâu rộng nhất trong vòng gần 100 năm trở lại đây, vì thế, các nhàlãnh đạo vành đai Thái Bình Dương đứng trước sức ép lớn phải tìm ra giải phápngăn chặn “bệnh dịch” khủng hoảng tiếp tục lây lan và khôi phục Vòng đàm phánĐôha về tự do hoá thương mại toàn cầu đang hấp hối Do vậy, lãnh đạo 21 nềnkinh tế thành viên APEC được trông đợi sẽ ra lời kêu gọi tiếp tục mở cửa thịtrường, phát triển thương mại thế giới và coi đây là giải pháp hữu hiệu chống lạikhủng hoảng

1.2.1.1 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính

Cơn bão tài chính dẫn tới khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang tác độngnghiêm trọng đến đời sống của hầu hết người dân trên thế giới, đe dọa kéo lùinhững thành tựu phát triển của một số nước trong nhiều năm qua Vậy nguyênnhân của cuộc khủng hoảng tài chính là do đâu? Chúng ta cùng tìm hiểu xem.Khi tìm hiểu về nguyên nhân cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, một sốnhà phân tích cho rằng cần nhìn nhận vấn đề bắt đầu từ giai đoạn bùng nổ và vỡ

“bong bóng” thị trường tài chính châu Á cuối thập niên 1990 Khi đó, để đưa nềnkinh tế thoát khỏi khủng hoảng Chủ tịch dự trữ Liên bang Mỹ (FED) AlanGreenspan đã tìm cách hỗ trợ các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư, giúp

họ không bị vỡ nợ Năm 2000, khi thị trường chứng khoán thế giới bắt đầu giảmmạnh và chìm vào suy thoái, FED giảm mạnh lãi suất Lãi suất thấp hơn khiếnviệc hoàn trả các khoản vay thế chấp dễ dàng hơn Điều này thúc đẩy nhu cầu vềnhà ở tăng lên, khi hàng triệu gia đình ở Mỹ tận dụng lãi suất giảm để vay thêm

Trang 32

vốn, thậm chí từ các tài sản thế chấp của họ còn nằm ở ngân hàng, để đầu tư vàothị trường bất động sản Vô hình chung, lãi suất thấp đã kéo giá bất động sản leothang Đến năm 2006, lãi suất cơ bản và nợ quá hạn bắt đầu tăng trở lại, nhưng tốc

độ cho vay của các ngân hàng vẫn không chậm lại

Sau thời gian nới lỏng các tiêu chuẩn để đẩy mạnh cho vay mua nhà đấtlàm các khoản nợ xấu tăng lên, các ngân hàng và công ty tài chính tìm cách gỡ gạcbằng việc “sáng tạo” ra những “sản phẩm phức tạp” Họ trộn lẫn các khoản nợ xấuvới một khoản vay thế chấp chất lượng cao, rồi bán trọn gói nợ này cho kháchhàng theo cái gọi là cổ phiếu “an toàn hoá” Vào mùa hè 2007, IMF bắt đầu đưa rahàng loạt cảnh báo khi nhận thấy lượng tiền thông qua các khoản “an toàn hoá”tăng nhanh chóng

Thực tế là khi giá nhà đất tuột dốc không phanh ở Mỹ, hàng loạt nhà cửa bịtịch biên đã dẫn đến sự sụp đổ của các công ty tài chính.Thừa nhận sai lầm khi nớilỏng việc quản lý các ngân hàng và các định chế tài chính, cựu Chủ tịch FEDGreenspan cho rằng ông đã đặt quá nhiều niềm tin vào khả năng tự điều chỉnh củathị trường tự do mà không lường hết được sức mạnh tự huỷ diệt của mô hình chovay thế chấp Các chuyên gia kinh tế cũng chỉ trích ông Greenspan là người gây rakhủng hoảng khi khuyến khích thị trường nhà đất bùng nổ “bong bóng” vì duy trìlãi suất thấp trong thời gian quá dài, nhưng không kiểm soát nổi rủi ro từ các hìnhthức cho vay thế chấp

Bên cạnh những nguyên nhân kể trên thì một lý do ít được nhắc đến là sựthiếu cân bằng về chính trị trên thế giới, đây là một tiến trình phức tạp gồm nhiềubước:

Hàng hoá sản xuất từ Đông Á, cùng với nhu cầu tiêu thụ dầu hoả tăng nhanhkhiến các nước chủ yếu là Trung Quốc và Trung Đông tích tụ một số ngoại tệkhổng lồ nằm trong tay nhà nước và các tập đoàn

Trang 33

Số tiền thặng dư này quá lớn và phải tìm nơi an toàn để đậu, không có chỗnào tốt hơn là gửi vào ngân hang Âu-Mỹ vốn được thế giới tin tưởng là nhữngđịnh chế vững chãi.

Tiền ào ạt đổ vào Hoa Kỳ dùng trong nhiều việc: cung cấp tín dụng dễ dãi đểdân Mỹ mượn nợ với lãi suất thấp tiêu xài thoải mái (vì hàng hoá Trung Quốc vàdầu hoả Trung Đông thiếu người tiêu thụ thì sẽ bị thặng dư); gián tiếp trang trảicho cuộc chiến tại Iran (vì các nước trên thế giới, kể cả Trung Quốc và TrungĐông vẫn lệ thuộc vào chiếc dù quân sự của Mỹ bảo đảm cho các hành langnguyên vật liệu và mậu dịch toàn cầu)

Hai khía cạnh đầu nhằm bảo vệ và ổn định thị trường; mục tiêu còn lại là phảisinh lời Đầu tư vào công nghệ tại Hoa Kỳ không lợi nhuận được so với vùngĐông Á vì giá nhân công và các luật lệ chặt chẽ về an toàn và môi trường, nên chỉcòn một hướng là địa ốc vì trái đất của Mỹ nhiều và giá hạ(so với Tokyô, BắcKinh, Thượng Hải, Sài Gòn, Hà Nội) và nhân công ngành xây dựng rẻ (do có didân bất hợp pháp)

Dân Mỹ thiếu nợ nhiều, ngành công nghiệp và sản xuất tại Hoa Kỳ lại khôngtạo đủ công ăn việc làm cho người mua nhà nên hệ thống ngân hàng và đầu tư tại

Mỹ mở ra những sáng kiến “khuấy nước lã thành hồ” bán nhà đất cho cả nhữngngười không đủ tiền mua, bơm giá và tạo thành một trái bóng khổng lồ trên thịtrường địa ốc

Kinh tế Hoa Kỳ phát triển hơn 6 năm (2001-2007), nhưng đến năm 2008 sựmất thăng bằng trở thành hiển nhiên là dân Mỹ không gánh nổi nợ, nên bị mất nhà,giá nhà thấp xuống, ngân hàng lỗ là vì nợ không thanh toán, các thủ đoạn “khuấynước lã thành hồ” lúc trước lại chằng chịt nên không ai biết rõ lỗ bao nhiêu khiếngiữa các ngân hàng cũng không còn tin tưởng cho vay mượn lẫn nhau Tiền bạclưu thông dễ dàng trong khung cảnh toàn cầu hóa nên các ngân hàng châu Âucũng bị liên đới thiệt hại nặng Những nguồn tiền từ Đông Á và Trung Đông

Trang 34

không còn chỗ chảy vì mất niềm tin vào thị trường Âu-Mỹ hậu quả là từ khủnghoảng địa ốc dẫn đến khủng hoảng tài chính, và nguy cơ khủng hoảng tín dụng –tín dụng không còn gì khác hơn là niềm tin Các chính phủ Âu-Mỹ phải vội vãnhảy vào bơm tiền để cứu vãn và tạo lại niềm tin là tiền bạc trong hệ thống ngânhàng Âu-Mỹ vẫn được bảo đảm, thì mới hy vọng mọi người trở lại đầu tư muasắm.

1.2.1.2 Diễn biến của cuộc khủng hoảng

Hệ thống tài chính ngân hàng của Mỹ cuối năm 2007 và năm 2008 độtnhiên lâm vào một trong những cuộc khủng hoảng chưa từng có Hàng trăm tỷUSD đã tiêu tan Chúng tôi xin tóm tắt lại diễn biến của cuộc khủng hoảng tồi tệnhất trong gần 80 năm qua để tiện theo dõi

Vào tháng 6.2007 hai quỹ phòng hộ của Bear Stearns – ngân hàng đầu tưlớn thứ 5 của Mỹ, quỵ ngã sau khi đánh cược vào các chứng khoán được đảmbảo bằng các khoản cho vay bất động sản dưới chuẩn của Mỹ Tháng 7 đếntháng 9 năm 2008 ngân hàng IKB của Đức trở thành ngân hàng đầu tiên tại châu

Âu chịu ảnh hưởng bởi những khoản đầu tư xấu trên thị trường cho vay dướichuẩn ở Mỹ Trong khi đó, ngân hàng SachsenLB của Đức phải nhận sự cứu trợ

từ chính phủ

Ngày 14.9.2007, lần đầu tiên trong hơn một thế kỷ khách hàng ùn ùn kéođến bủa vây đêr đòi rút tiền ở một ngân hàng lớn tại Anh-Ngân hàng cho vay thếchấp Northern Rock-Ngân hàng lớn thứ 5 tại Anh

Ngày 15.10.2007, Citigroup-Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ đãcông bố lợi nhuận quý 3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và trích lập dựphòng lên tới 6,5 tỷ USD,Giám đốc điều hành Citigroup Charies Prince từ chứcvào ngày 4.11.2007

Ngày 17.12.2007, cuộc khủng hoảng tín dụng đã lan sang châu Ôxtrâyliavới nạn nhân là Tập đoàn Centro Properties, một chủ sở hữu của các phố buôn

Trang 35

bán lớn của Mỹ tại Ôxtrâylia sau khi tập đoàn này đưa ra cảnh báo lợi nhuậngiảm Cổ phiếu Centro Properties đã tụt giá 70% tại các giao dịch ở Xít ni.

Ngày 11.1.2008 Bank of America-ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi

và vốn hoá thị trường đã bỏ ra 4 tỷ USD để mua lại Countrywide Financial saukhi ngân hàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản chovay khó đòi quá lớn

Ngày 30.1.2008, ngân hàng lớn nhất Thuỵ Sỹ UBS công bố trích lập dựphòng 4 tỷ USD, nâng tổng số tiền trích lập dự phòng lên 18,4 tỷ USD do nhữngthất thoát liên quan đến cuộc khủng hoảng cho vay cầm cố

Ngày 28.2.2008, ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách cácnạn nhân của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn với tổng giá trị tài sản mấtgiá là 1,36 tỷ euro

Ngày 11.7.2008, Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát ngânhàng IndyMac Bancorp Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớnnhất từ trước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trongvòng 11 ngày

Để vực dậy thị trường tài chính các ngân hàng đã hạ lãi suất còn 1%, thậmchí lãi suất ngắn hạn xuống gần bằng 0% nhưng không thể ngăn chặn xu hướngrớt giá nhà đất Mặc dầu vậy, nhưng tình hình cũng không sáng sủa trở lại màdiễn biến tồi tệ hơn Ngày 12.9.2008, các quan chức tài chính cấp cao của Mỹ đãphải nhóm họp để tìm cách ngăn nguy cơ phá sản của ngân hàng có lịch sử 160năm là Lehman Brothers Kết quả, thương lượng bất thành và chính phủ từ chốicứu Lehman Brothers như đã từng làm với Bear Stearns trước đó

Ngày 15.9.2008, đây là ngày tồi tệ nhất tại phố Wall kể từ khi thị trườngnày mở cửa trở lại sau vụ khủng bố hai toà tháp đôi tại Mỹ tháng 9.2001.Lehman Brothers sụp đổ đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ; Merrill Lynch bịBank of America Corp thâu tóm, America International Group-tập đoàn bảohiểm lớn nhất thế giới mất khả năng thanh toán do những khoản thua lỗ liênquan tới nợ cầm cố Ngày 16.9.2008, FED lại phải đồng ý chi 85 tỷ USD để cứu

Trang 36

AIG bên bờ vực sụp đổ này.Và trong suốt tháng 9.2008 đa số ngân hàng lớn của

Mỹ đều lần lượt bị phá sản do đã đánh cựơc rất lớn với thị trường cho vay thếchấp

Để tự cứu mình các ngân hàng khác củg cố nguồn tài chính bằng cáchngừng cho vay, dẫn tới tình trạng rối loạn tín dụng Không có nguồn tín dụng rẻ

và dễ dàng “bôi trơn” cho cả nền kinh tế Mỹ và Anh bắt đầu rơi vào suy thoái,kéo theo nền kinh tế toàn cầu Khủng hoảng tài chính nhanh chóng chuyển sangkhủng hoảng kinh tế, mở rộng từ Mỹ tới châu Âu rồi lan sang các thị trường mớinổi Một loạt các quốc gia phải cầu cứu các định chế tài chính quốc tế, một sốchính phủ sụp đổ do không chống chọi nổi với cơn bão tài chính như Iceland,Hungary

Đứng trước tình hình khủng hoảng tài chính toàn cầu,nó đã tác động rất lớnđến hầu hết nền kinh tế của các nước trên thế giới vì vậy yêu cầu đặt ra cho các

tổ chức, chính phủ là phải giải quyết khủng hoảng, tìm cách cứu nguy cho nền

kinh tế của thế giới thoát khỏi cơn bão tài chính này

1.2.2 Tình hình khu vực châu Á với khủng hoảng tài chính.

Hội nghị APEC năm 2008 diễn ra trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế ,đỉnh điểm là khủng hoảng tín dụng tại Mỹ và nó đã tác động tiêu cực đến nền kinh

tế thế giới nói chung và khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng, làm giảmtốc độ tăng trưởng, lạm phát tăng cao Vòng đàm phán Đôha về tự do hoá thươngmại tiếp tục bế tắc, chủ nghĩa bảo hộ có xu hướng tăng ở một số nơi Trong bốicảnh đó, APEC tiếp tục khẳng định là cơ chế hợp tác quan trọng với chủ đề “Mộtcam kết mới đối với sự phát triển của khu vực châu Á - Thái Bình Dương” APECtập trung thảo luận các vấn đề lớn: Đối phó tình trạng giá lương thực và hàng hoátăng, thúc đẩy Vòng đàm phán Đôha, hội nhập kinh tế khu vực, biến đổi khí hậu,

an ninh năng lượng, con người Năm 2008, hợp tác APEC tiếp tục được thúc đẩy,góp phần giải quyết nhiều vấn đề kinh tế, chính trị của khu vực Trong đó, tạothuận lợi cho thương mại và đầu tư trở thành ưu tiên chính, hợp tác kỹ thuật nhằmxây dựng năng lực, thu hẹp khoảng cách giữa các thành viên, phát triển nguồn

Trang 37

nhân lực, được đề cập nhiều hơn trong APEC Trong bối cảnh cuộc khủng hoảngtài chính toàn cầu đẩy kinh tế thế giới, trong đó hầu hết các nền kinh tế thành viênAPEC, trước nguy cơ suy thoái, hợp tác thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực đượcchú trọng hơn hết Đồng thời theo sáng kiến của Pêru, chủ nhà APEC 16 là tăngcường sự tham gia và trách nhiệm xã hội của khu vực tư nhân trong tiến trình hộinhập kinh tế khu vực

và hơn 50% thương mại thế giới

APEC được thành lập nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trongcác nền kinh tế thành viên, tăng cường tinh thần cộng đồng và mối liên hệ trongkhu vực vì sự phồn thịnh của nhân dân toàn khu vực Từ khi thành lập năm 1989,APEC mặc dù là một diễn đàn đối thoại, không phải là một tổ chức nhưng cácthành viên APEC luôn luôn nỗ lực hợp tác hỗ trợ nhau trong xây dựng và pháttriển kinh tế cũng như trên các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội Ngay từkhi ra đời, APEC đã được sự quan tâm và hưởng ứng rộng rãi của nhiều nướctrong khu vực, trong đó có các nước lớn có tiềm lực kinh tế hùng mạnh như Mỹ,Nhật Bản, Canađa, Ôxtrâylia

Các Hội nghị cấp cao và cấp Bộ trưởng của APEC đã đưa ra các chươngtrình hành động, kế hoạch hợp tác trên từng lĩnh vực cùng với mục tiêu và nguyêntắc hoạt động và cơ cấu tổ chức được sắp xếp một cách chặt chẽ với quy mô tươngđối lớn, rõ ràng, cụ thể và ngày càng được các thành viên tăng cường cải tiến cơchế và phương thức hoạt động nhằm thực hiện hợp tác có hiệu quả và khôngngừng nâng cao vị thế của APEC trên trường quốc tế

Trang 38

Diễn đàn APEC lần thứ 16 được tổ chức tại Thủ đô Lima (Pêru) vàotháng 11.2008, theo đề xuất của nước chủ nhà Pêru Hội nghị lần này sẽ có chủ đề

“Một cam kết mới với sự phát triển của khu vực châu Á - Thái Bình Dương” Theo

đó, các nhà lãnh đạo dự kiến tập trung những vấn đề như: Khủng hoảng tài chínhtoàn cầu, đối phó với việc tăng giá lương thực, hàng hoá, Vòng đàm phán Đôha,hội nhập kinh tế khu vực, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, biến đổi khí hậu,

an ninh con người Diễn đàn lần này diễn ra trong bối cảnh các nhà lãnh đạo vànhđai Thái Bình Dương đứng trước sức ép lớn phải tìm giải pháp ngăn chặn “bệnhdịch” khủng hoảng tiếp tục lây lan và khôi phục Vòng đàm phán Đôha về tự dohoá thương mại toàn cầu đang có nguy cơ đổ vỡ

Trang 39

CHƯƠNG 2

MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA HỘI NGHỊ LẦN THỨ 16 DIỄNĐÀN HỢP TÁC KINH TẾ CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG (APEC) 2.1.Tiến trình của Hội nghị APEC 16

2.1.1 Khai mạc Hội nghị cấp cao APEC 16

Theo đặc phái viên Thông tấn xã Việt Nam, vào 13 giờ ngày 22 tháng 11,theo giờ địa phương (sáng 23 tháng 11, theo giờ Việt Nam), phiên họp kín thứnhất của Hội nghị cấp cao các nhà lãnh đạo Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á -Thái Bình Dương lần thứ 16 (Hội nghị cấp cao 16) đã khai mạc tại Trung tâmHội nghị Bộ quốc phòng ở Thủ đô Li - ma của Pêru, dưới sự chủ toạ của Tổngthống nước chủ nhà A-lan Gác-xi-a Pê-rết Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết,đại diện nền kinh tế Việt Nam, tham dự phiên họp

Tại phiên họp, các nhà lãnh đạo APEC đã thảo luận các chủ đề: khủnghoảng tài chính toàn cầu, tình hình bất ổn định giá lương thực và hàng hoá vàvòng đàm phán Đôha trong khuôn khổ tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).Trong bối cảnh thế giới đang đương đầu với cuộc khủng hoảng tài chính trầmtrọng nhất từ sau Đại khủng hoảng 1929 – 1933, các nhà lãnh đạo khẳng định,APEC cần thể hiện quyết tâm mạnh mẽ với những cam kết cụ thể nhằm tạothêm động lực thúc đẩy giải quyết khủng hoảng Các nhà lãnh đạo đánh giá caoTuyên bố Oa-sinh-tơn về Thị trường tài chính và kinh tế thế giới của Hội nghịcấp cao G-20 ngày 15.11.2008 được tổ chức tại Oa-sinh-tơn (Mỹ)

Phát biểu ý kiến tại phiên họp, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết hoannghênh chính phủ các nền kinh tế thành viên APEC và các thể chế tài chínhquốc tế đã triển khai nhiều biện pháp nhanh, mạnh để ngăn chặn sự sụp đổ củathị trường tài chính và hạn chế tác động của khủng hoảng Chủ tịch nước đềnghị các nền kinh tế lớn cần mở cửa thị trường, khôi phục lòng tin, chống mọi

Trang 40

hình thức bảo hộ, thúc đẩy Vòng đàm phán Đôha sớm đạt kết quả, đồng thờicần tiếp tục dành ưu tiên giải quyết những thách thức về đói nghèo, dịch bệnh,môi trường Chủ tịch nước cũng đề nghị các nước sản xuất lương thực cần pháthuy hết nguồn lực để đẩy mạnh sản xuất, khẳng định Việt Nam sẵn sàng hợptác với các thành viên trong vấn đề bảo đảm an ninh lương thực thông qua hỗtrự kỹ thuật, chia sẻ kinh nghiệm và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp Nhằm chia

sẻ gánh nặng của các thành viên đang phát triển trong việc thực hiện nhữngmục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, Việt Nam và Hàn Quốc đề nghị các nền kinh

tế phát triển trong APEC, cam kết tiếp tục viện trợ vốn ODA cho các thànhviên đang phát triển Sáng kiến này được đánh giá cao và sẽ được ghi nhậntrong Tuyên bố của các lãnh đạo về kinh tế toàn cầu

Tại phiên họp kín thứ nhất, lãnh đạo các nền kinh tế thành viên APEC đãnhất trí thông qua Tuyên bố Li-ma về kinh tế toàn cầu, khẳng định quyết tâmchung của các nhà lãnh đạo APEC tiếp tục cải cách tài chính tại các nền kinh

tế thành viên, cải cách hệ thống tài chính quốc tế, chống lại các động thái bảo

hộ và thúc đẩy WTO đạt thoả thuận về phương thức cắt giảm thuế trong tháng12.2008 Tuyên bố cũng nhấn mạnh cam kết của APEC về tăng cường hội nhậpkinh tế khu vực, tiếp tục các nỗ lực giải quyết vấn đề đói nghèo, bệnh tật,khủng bố, biến đổi khí hậu và thực hiện các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ.Tuyên bố Li-ma là một kết quả quan trọng của Hội nghị cấp cao APEC 16, thểhiện sự ứng phó kịp thời của APEC và gửi đi một thông điệp tích cực đối vớikhu vực và thế giới

Ngay sau phiên họp kín thứ nhất, các nhà lãnh đạo APEC đã có cuộc đốithoại trực tiếp với Hội đồng tư vấn kinh doanh APEC (ABAC), gồm đại diệncác doanh nghiệp hàng đầu trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương Các nhàlãnh đạo khẳng định APEC đã và sẽ hợp tác chặt chẽ nhằm giải quyết khủnghoảng, tiếp tục thúc đẩy hội nhập kinh tế nhằm tạo môi trường ngày càng mở

Ngày đăng: 18/12/2013, 21:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w