1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu (đường biển) của các công ty giao nhận vận tải khu vực thành phố hồ chí minh

173 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (10)
    • 1.1 Lý do chọn đề tài (10)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (12)
    • 1.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu (12)
    • 1.4 Phương pháp nghiên cứu (13)
    • 1.5 Tính mới của đề tài (14)
    • 1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (14)
    • 1.7 Cấu trúc của luận văn (15)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT (16)
    • 2.1 Dịch vụ và chất lƣợng dịch vụ (16)
      • 2.1.1 Dịch vụ (16)
        • 2.1.1.1 Khái niệm dịch vụ (16)
        • 2.1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ (17)
      • 2.1.2 Chất lƣợng dịch vụ (0)
        • 2.1.2.1 Chất lƣợng dịch vụ (0)
        • 2.1.2.2 Các mô hình nghiên cứu về chất lƣợng dịch vụ (0)
    • 2.2 Đặc điểm của dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu bằng container (LCL/LCL) . 15 (24)
      • 2.2.1 Phương thức vận tải hàng lẻ bằng container (LCL/LCL) (24)
        • 2.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của phương thức vận tải hàng lẻ bằng container (LCL/LCL) (24)
        • 2.2.1.2 Vai trò của vận chuyển hàng lẻ bằng container (25)
        • 2.2.1.3 Quy trình vận tải hàng lẻ (LCL/LCL) đối với khách hàng công ty GNVT (28)
      • 2.2.2 Thực trạng dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu bằng container tại khu vực cảng TPHCM (31)
      • 2.3.1 Khái nhiệm hành vi mua của tổ chức (32)
        • 2.3.1.1 Khái niệm về thị trường các doanh nghiệp (32)
        • 2.3.1.2 Hành vi mua của tổ chức (33)
      • 2.3.2 Quy trình mua hàng của tổ chức (33)
      • 2.3.3 Các mô hình hành vi mua của tổ chức (34)
        • 2.3.3.1 Mô hình của Webster và Wind (1991) (34)
        • 2.3.3.2 Mô hình tổng hợp của Sheth (1973) (37)
    • 2.4 Các nghiên cứu liên quan (39)
    • 2.5 Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất (46)
      • 2.5.1 Các giả thiết nghiên cứu (46)
      • 2.5.2 Mô hình đề xuất (50)
  • CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU (51)
    • 3.1 Quy trình nghiên cứu (51)
    • 3.2 Nghiên cứu định tính (52)
    • 3.3 Xây dựng thang đo (53)
      • 3.3.1 Xây dựng thang đo định tính (53)
      • 3.3.2 Xây dựng thang đo định lƣợng sơ bộ (0)
      • 3.3.3 Thang đo định lƣợng chính thức (0)
    • 3.4 Nghiên cứu định lƣợng (60)
      • 3.4.1 Mẫu nghiên cứu (60)
      • 3.4.2 Phân tích hệ số Cronbach’s Alpha (61)
      • 3.4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA (61)
      • 3.4.4 Phân tích hồi quy (62)
      • 3.4.5 Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu (63)
  • CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (64)
    • 4.1 Mẫu nghiên cứu (64)
    • 4.2 Phân tích hệ số Cronbach’s Alpha (66)
    • 4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA (69)
      • 4.3.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA biến phụ thuộc (70)
    • 4.4 Kết quả kiểm định tương quan và hồi quy (70)
      • 4.4.1 Kết quả kiểm định tương quan (70)
      • 4.4.2 Kết quả kiểm định hồi quy bội (71)
    • 4.5 Kiểm định các sai phạm trong phân tích hồi quy (73)
      • 4.5.1 Hiện tƣợng đa cộng tuyến (0)
      • 4.5.2 Kiểm định phân phối chuẩn phần dƣ (74)
    • 4.6 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu (76)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (79)
    • 5.1 Kết luận (79)
    • 5.2 Đề xuất kiến nghị (81)
      • 5.2.1 Kiến nghị về thành phần tin cậy (82)
      • 5.2.2 Kiến nghị về thành phần đảm bảo (83)
      • 5.2.3 Kiến nghị về thành phần đáp ứng (84)
      • 5.2.4 Kiến nghị về thành phần đồng cảm (86)
      • 5.2.5 Kiến nghị về thành phần giá cả (87)
      • 5.2.6 Kiến nghị về thành phần danh tiếng (89)
      • 5.2.7 Một số kiến nghị khác (91)
    • 5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo (92)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM ------ ĐẶNG HUỲNH KHA ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ KHAI THÁC HÀNG LẺ XUẤT KHẨU ĐƯỜNG BIỂN CỦA CÁC CÔNG TY G

TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Lý do chọn đề tài

Với sự ra đời và tiêu chuẩn hóa của container đã giúp tiết kiệm đáng kể chi phí, đảm bảo tính thuận tiện và khả thi của việc sử dụng kết hợp nhiều phương thức vận tải Cũng từ đó, khái niệm vận tải đa phương thức cũng được ra đời, theo đó hàng hóa không cần phải dỡ ra và xếp lại vào container khi chuyển tiếp giữa các hình thức vận tải (chẳng hạn từ tàu lên xe tải) Với hệ thống mạng lưới vận tải container rộng khắp, kết hợp với hình thức vận tải đa phương thức, vận tải container đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong thương mại toàn cầu

Trong vận tải container, hai hình thức hay đƣợc nhắc đến là vận chuyển nguyên container (FCL) và vận chuyển hàng lẻ (LCL) Bên cạnh đó cũng tồn tại những kết hợp giữa hai hình thức này để phù hợp với nhu cầu của người gửi hàng, chẳng hạn FCL/LCL hoặc ngƣợc lại.Vận tải container đòi hỏi rất nhiều nhân lực tham gia, ngoài hãng tàu, cảng, công ty cho thuê container, còn những công ty trung gian rất quan trọng làm giao nhận (freight forwarder) hay người điều hành khai thác tàu nhưng không sở hữu và không thuê tàu (NVOCC)

Hiện nay, cùng với sự tăng cao về sản xuất, các hoạt động vận chuyển và phân phối hàng hóa đã trở thành một trong những yếu tố sống còn quyết định đến doanh thu của phần lớn doanh nghiệp Có thể nói việc tối ưu hóa chi phí vận tải chính là bước đầu tiên mà các doanh nghiệp phải thực hiện trên con đường cạnh tranh hàng hóa trên thị trường của mình Nhanh- đúng tiến độ-chi phí rẻ là những gì mà các doanh nghiệp cần cho các hoạt động vận tải mà trong đó nổi bật nhất chính là vận chuyển hàng lẻ (LCL) Vận chuyển hàng lẻ đã và đang đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động xuất nhập khẩu của bất kỳ quốc gia nào Cùng với vận chuyển hàng nguyên container, vận chuyển hàng lẻ đã đáp ứng đƣợc nhu cầu kinh doanh xuất nhập khẩu hết sức linh động và đa dạng của các doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế

Trong dịch vụ vận chuyển hàng lẻ (LCL), có 2 đối tƣợng khách hàng chính mà các công ty gom hàng lẻ cần quan tâm chính là các công ty XNK và các công ty GNVT Về căn bản các công ty XNK (chủ hàng) thực hiện việc thuê vận chuyển trực tiếp với công ty gom hàng lẻ hoặc thông qua một công ty GNVT Tuỳ thuộc vào đặc tính của hàng hoá, phong cách kinh doanh riêng mà các công ty XNK sẽ đƣa ra quyết định của mình Công ty GNVT là trung gian, nhận vận chuyển hàng của chủ hàng sau đó sử dụng lại dịch vụ của công ty gom hàng lẻ để đưa hàng đến tay người mua ở cảng đến Ngoài thu xếp việc vận chuyển, các công ty GNVT còn cung cấp nhiều dịch vụ phụ trợ khác nhƣ: dịch vụ tƣ vấn, thông quan, các vấn đề liên quan đến chứng từ, quản lý tồn kho, logistics,…đồng thời cũng nắm vững những kiến thức kĩ năng trong nghiệp vụ giao nhận hàng hoá Do vậy, khi tiến hành lựa chọn dịch vụ của một công ty gom hàng lẻ, các công ty GNVT sẽ đƣa ra các lựa chọn khắc khe hơn cũng nhƣ xây dựng một khung các tiêu chí nhằm tìm kiếm dịch vụ tốt nhất, chất lƣợng nhất nhƣng vẫn đảm bảo đƣợc giá cả phù hợp

Quay trở lại tình hình thực tế của Việt Nam, hiện chỉ có 25 doanh nghiệp logistics đa quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam nhƣng chiếm tới 80% thị phần cung cấp dịch vụ logistics, trong khi hơn 1.200 doanh nghiệp nội địa nhƣng chỉ chiếm khoảng 20% thị phần (chuyên trang Kinh Tế - báo Pháp Luật ngày 6 tháng 8 năm 2015

– Đánh mất miếng bánh 35 tỉ đô)

Cuối năm 2015, Việt Nam chính thức tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), rồi sau đó là ASEAN+6 và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Đây sẽ là cơ hội lớn cho ngành XNK nói chung cũng nhƣ lĩnh vực logistics và dịch vụ khai thác hàng lẻ nói riêng có thể vươn ra tìm tiếng nói của mình Song quan trọng nhất là các DN cung cấp dịch vụ khai thác hàng lẻ XK phải có dịch vụ, chất lƣợng tốt, giá cả hợp lý, thời gian giao hàng nhanh mới tăng khả năng cạnh tranh và có nhƣ vậy thì các DN XNK trong nước mới ủng hộ DN logistics nội cũng như tránh nguy cơ logistics Việt Nam sẽ bị DN ngoại chiếm lĩnh hoàn toàn Đánh giá đƣợc tầm quan trọng của dịch vụ khai thác hàng lẻ XK trong giai đoạn hiện nay cũng nhƣ khi tiếp cận tốt đối tƣợng khách hàng khó tính là các công ty GNVT thì việc thu hút khách hàng là các công ty XNK hoàn toàn dễ dàng hơn, đó sẽ là cơ hội để doanh nghiệp sáng tạo, đổi mới, xây dựng các chiến lược mới trong tương lai Đây cũng là lý do mà đề tài “Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu (đường biển) của các công ty Giao nhận vận tải khu vực thành phố Hồ Chí Minh” đƣợc tác giả lựa chọn làm đề tài nghiên cứu.

Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài đƣợc nghiên cứu với các mục tiêu sau:

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu của các công ty GNVT

- Đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu của các công ty GNVT

- Đề xuất một số giải pháp nhằm giúp cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ khai thác hàng lẻ đƣa ra các chiến lƣợc kinh doanh thu hút thêm khách hàng mới, duy trì khách hàng hiện tại, tăng doanh số, lợi nhuận và mở rộng thị phần.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: là quyết định lựa chọn dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu và nhữngyếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn

 Đối tượng khảo sát: các công ty GNVT có sử dụng dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu bằng container của các doanh nghiệp gom hàng lẻ

 Phạm vi nghiên cứu: Bao gồm:

- Các công ty GNVT hoạt động tại khu vực miền Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và lƣợng hàng lẻ của những công ty này tập kết chủ yếu tại các cảng của khu vực

- Nghiên cứu đƣợc thực hiện với loại hình xuất khẩu

- Nghiên cứu đƣợc thực hiện trong vòng 6 tháng, từ tháng 10 năm 2015 đến tháng

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng kết hợp giữa phương pháp định tính và phương pháp định lượng, được thực hiện qua hai bước:

Bước 1: Nghiên cứu sơ bộ

Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm đánh giá và điều chỉnh mô hình nghiên cứu, xây đựng bảng câu hỏi cho nghiên cứu định lƣợng.Tác giả sử dụng kỹ thuật phỏng vấn nhóm với 10 chuyên gia, chuyên viên là những người có kinh nghiệm và hiểu biết ở lĩnh vực hàng lẻ XK của các công ty GNVT, các công ty gom hàng lẻ có hoạt động lâu năm trong ngành

Bước 2: Nghiên cứu chính thức Đây là bước nghiên cứu định lượng, được thực hiện bằng bảng câu hỏi thông qua việc phỏng vấn trực tiếp và gửi qua thƣ điện tử đến các chuyên viên của các công ty GNVT Bước này được thực hiện nhằm mục đích xác định các thành phần cũng như giá trị và độ tin cậy của thang đo ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu của các công ty GNVT

Mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên, thuận tiện

Sử dụng thang đo Likert 5 bậc khoảng (từ 1: hoàn toàn không đồng ý, đến 5: hoàn toàn đồng ý) để lƣợng hoá

Kết quả khảo sát đƣợc nhập liệu vào phần mềm xử lý số liệu thống kế SPSS 20.0 để tiến hành: (1) xác định mức độ tương quan của các biến quan sát trong thang đo với nhau thông qua đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha, kế đến thu nhỏ, tóm tắt và sắp xếp lại các biến quan sát nhằm xác định các biến có ảnh hưởng đến quyết định của các công ty GNVT nhờ phân tích nhân tố EFA; (2) xác định trọng số của các biến ở phần (1) đến biến sự lựa chọn bằng cách kiểm định tương quan hồi quy bội tuyến tính và (3) kiểm định các giả thuyết trong viêc quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ khai thác hàng lẻ XK của các công ty GNVT của các đám đông quan sát thông qua kiểm định hồi quy bội.

Tính mới của đề tài

Tính đến thời điểm hiện tại có rất nhiều nghiên cứu về lĩnh vực dịch vụ logistics ở cả trong và ngoài nước Các nghiên cứu ở nước ngoài như của McGinnis và Cộng sự (1995); IWLA (2003); Yael Perlm An và Cộng sự (2009); Barthel và Cộng sự (2010); các nghiên cứu thực tế tại thị trường Việt Nam nói chung và thị trường TP HCM nói riêng của SCM (2008); Nguyễn Thuý Nga (2014); Lê Tấn Bửu và Cộng sự (2014) Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến Chất lƣợng dịch vụ logistics, đánh giá, đo lường sự hài lòng của khách hàng đối với ngành logistics nói chung cũng như đánh giá hành vi của các doanh nghiệp XNK trong quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ logistics hoặc các quyết định về lựa chọn hãng tàu chứ chƣa đi sâu vào vào dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu Ngoài ra, các nghiên cứu về dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu trước đây nghiên cứu chủ yếu là phân tích hoạt động khai thác hàng lẻ tại một số công ty cụ thể: Trần Minh Khôi (2006) Đề tài “Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu (đường biển) của các công ty Giao nhận vận tải khu vực thành phố Hồ Chí Minh” đi sâu vào phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ khai thác hàng lẻ XK, cụ thể tại địa bàn Đông và Tây Nam bộ, khu vực cạnh tranh sôi nổi ở lĩnh vực khai thác hàng lẻ xuất khẩu của Việt Nam Hướng tiếp cận hoàn toàn mới đó là các công ty GNVT, một trong những khách hàng chủ chốt trong dịch vụ khai thác hàng lẻ XK hiện tại.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Xây dựng thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ khai thác hàng lẻ XK

- Là tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành Thương mại và những nhà nghiên cứu quan tâm đến hành vi của doanh nghiệp trong việc lựa chọn nhà cung cấp Ý nghĩa thực tiễn

- Là cơ sở để các công ty gom hàng lẻ nắm bắt các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của các công ty GNVT, từ đó đề ra các chiến lƣợc cạnh tranh thích hợp.

Cấu trúc của luận văn

Nội dung của luận văn bao gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT

Dịch vụ và chất lƣợng dịch vụ

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ:

Theo Luật giá năm 2012: Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩmViệt Nam theo quy định của pháp luật

Còn trong kinh tế học: Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhƣng là phi vật chất Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ

Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và đƣợc trả công [Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB Đà Nẵng, tr256]

Theo Philip Kotler (2006): “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”

PGS.TS Nguyễn Văn Thanh cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn”

Dịch vụ là một ngành kinh tế mà kết quả hoạt động sản xuất không đem lại sản phẩm vật chất hữu hình, nhƣng đem lại lợi ích có giá trị kinh tế, quá trình sản xuất và tiêu thụ sản ra đồng thời và không có khả năng lưu trữ (Bùi Thanh Tráng, 2014, trang

Các định nghĩa nêu trên về dịch vụ về cơ bản giống nhau, bởi vì tất cả đều nêu lên những đặc điểm cơ bản của dịch vụ Thứ nhất, dịch vụ là một “sản phẩm”, là kết quả của quá trình lao động và sản xuất nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người Thứ hai, khác với hàng hóa là vật hữu hình, dịch vụ nhiều khi là vô hình, là phi vật thể

WTO đã phân loại dịch vụ thành 12 ngành, cụ thể là: (1) Dịch vụ kinh doanh;

(2) Dịch vụ liên lạc; (3) Dịch vụ xây dựng thi công; (4) Dịch vụ phân phối; (5) Dịch vụ giáo dục; (6) Dịch vụ môi trường; (7) Dịch vụ tài chính; (8) Dịch vụ liên quan đến sức khoẻ và dịch vụ xã hội; (9) Dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan đến lữ hành; (10) Dịch vụ giải trí, văn hoá và thể thao; (11) Dịch vụ vận tải; (12) Dịch vụ khác: gồm bất kỳ các loại dịch vụ nào không thuộc 11 ngành dịch vụ kể trên (Đoàn Thị Hồng Vân, 2013, trang 80)

2.1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ

Dịch vụ có những đặc trƣng riêng giúp phân biệt giữa dịch vụ và hàng hóa vật chất thông thường được thể hiện ở 4 đặc điểm như sau (Parasuraman và cộng sự 1985):

- Vô hình (Intangible): dịch vụ là một sản phẩm vô hình không tồn tại dưới dạng vật thể, không thể sờ nắm, nếm, ngửi đƣợc mà chỉ có thể cảm nhận đuợc khi sử dụng hay mua dịch vụ đó Nhƣ vậy, dịch vụ không thể cân, đo, đong đếm, thống kê, thử nghiệm, chứng nhận trước khi cung cấp để đảm bảo CLDV

- Không đồng nhất (Heterogeneity): Dịch vụ thường thay đổi tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người thực hiện, thời gian thực hiện, đối tượng và địa điểm phục vụ Đồng thời, dịch vụ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khó kiểm soát và không tiêu chuẩn hóa đƣợc cũng nhƣ cảm nhận của từng khách hàng, đối tƣợng khác nhau sẽ quyết định CLDV

- Không thể tách rời đƣợc (Inseparability): Quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời phản ánh tính không thể tách rời của dịch vụ Hai quá trình này gắn liền với nhau chứ không giống nhƣ hàng hóa hữu hình đƣợc sản xuất, nhập kho, phân phối qua nhiều bước trung gian và cuối cùng mới đến tay người tiêu dùng

- Không thể dự trữ (Perishability): Do quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời nên dịch vụ không thể hoàn trả, thu hồi hay bán lại

Trong một thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng định nghĩa cũng nhƣ đo lường chất lượng dịch vụ.Theo Tổ chức quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000 đã đƣa ra định nghĩa về chất lƣợng nhƣ sau: “Chất lƣợng là khả năng tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan” Từ định nghĩa trên ta thấy rằng nếu một sản phẩm vì một lý do nào đó không đƣợc khách hàng chấp nhận thì bị coi là chất lƣợng kém, cho dù trình độ công nghệ chế tạo ra sản phẩm đó rất hiện đại Tuy nhiên, định nghĩa và phương pháp đánh giá chất lượng được các nhà nghiên cứu hay đề cập trong các nghiên cứu của mình là: Chất lƣợng dịch vụ đƣợc xem nhƣ khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ và nhận thức của khách hàng khi sử dụng dịch vụ (Parasurman,

Zeithaml and Berr, 1985, 1988) Các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh sự khác biệt giữa chất lƣợng mang tính khách quan và cảm nhận chất lƣợng (Garvin 1983, Dodds và Monroe 1984, Holbrook và Corfman 1985, Jacoby và Olson1985, Zeithaml 1987)

Đặc điểm của dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu bằng container (LCL/LCL) 15

2.2.1 Phương thức vận tải hàng lẻ bằng container (LCL/LCL)

2.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của phương thức vận tải hàng lẻ bằng container

Thuật ngữ LCL/LCL có thể hiểu như sau: Người vận chuyển hay người giao nhận làm nhiệm vụ gom hàng – nhận nhiều lô hàng khác nhau để đóng chung vào một container – và có trách nhiệm đóng hàng vào và dỡ hàng ra khỏi container (Đoàn Thị Hồng Vân, 2013, trang 485) Đây là phương thức gửi hàng vì người gửi hàng không đủ lượng hàng để xếp đầy container nên phải gửi hàng lẻ Và người kinh doanh vận chuyển hàng lẻ được gọi là người gom hàng (Consolidator) sẽ tập trung các lô hàng lẻ của nhiều chủ hàng (công ty XNK hoặc công ty GNVT) rồi sắp xếp, phân loại, kết hợp các lô hàng lẻ đóng vào container, niêm phong kẹp chì theo quy định của thủ tục xuất khẩu và hải quan, xếp container xuống bãi chứa ở cảng đến và giao hàng cho người nhận

2.2.1.2 Vai trò của vận chuyển hàng lẻ bằng container

Vai trò đối với chủ hàng

Phương thức vận tải LCL mang lại nhiều lợi ích cho chủ hàng đặc biệt khi chủ hàng là các doanh nghiệp nhỏ và vừa khi mới bắt đầu kinh doanh Điều này có thể được lý giải rằng các doanh nghiệp mới khởi nghiệp thường có quy mô xuất khẩu hàng hóa không lớn, nhu cầu vận chuyển hàng hóa một lần thường không sử dụng hết khoảng không gian của một container loại nhỏ nhất 20’ là khoảng 33.1 m 3 hàng hóa

Do vậy, sẽ là không hiệu quả khi các doanh nghiệp này mua cước của cả một container để rồi vận chuyển số lƣợng hàng hóa còn nhỏ bé của mình

Bảng 2.1 Kích thước của container theo chuẩn ISO

Loại container Container 20' Container 40' Container 45' kích thước trong dài 5,758 m 12,132 m 13,556 m rộng 2,352 m 2,352 m 2,352 m cao 2,385 m 2,385 m 2,698 m

Do tiết kiệm được nhiều chi phí từ việc sử dụng lưu cước hàng LCL, các doanh nghiệp có thể giảm giá thành sản phẩm xuất khẩu Từ đó tăng sức cạnh tranh về giá cho hàng hóa của họ, thị phần thế giới của họ ngày càng lớn và nhu cầu xuất nhập hàng hóa lại càng tăng từ đó quay lại góp phần phát triển tiếp tục dịch vụ vận chuyển LCL

Cũng có một số loại hàng hóa có dung lƣợng hàng xuất hoặc nhập rất lớn nhƣng vì cường độ xuất không cao hoặc kích thước hàng hóa không lớn nên nhu cầu thuê cả không gian của một container trong một lần xuất hoặc nhập là không cần thiết

Thủ tục vận chuyển hàng lẻ ngày nay đã đƣợc các công ty gom hàng thực hiện chuyên nghiệp và giảm giá thành rất thấp Chính vì thế mà hoạt động này hết sức tiện lợi cho người xuất khẩu.Người xuất khẩu có thể yên tâm về chất lượng hàng hóa trong quá trình vận chuyển cũng như tính bảo đảm cho việc nhận hàng hóa của người nhận hàng

Chủ hàng khi sử dụng phương thức vận tải LCL/LCL có được thuận lợi là chỉ cần giao dịch với một công ty giao nhận là có thể gửi hàng đi đến nhiều địa điểm khác nhau trên khắp thế giới thay vì phải tìm kiếm từng hãng tàu khác nhau cho mỗi lô hàng LCL khác nhau, vì mỗi hãng tàu chỉ cung cấp dịch vụ LCL cho một số tuyến nhất định là thế mạnh của họ Ngoài ra, một người gom hàng cũng có thể cung cấp dịch vụ nhận hàng - giao hàng tận nhà cho chủ hàng mà dịch vụ này thì hãng tàu không cung cấp

Như vậy có thể tóm gọn lợi ích của người gửi hàng như sau: Người gửi hàng chịu mức cước thấp hơn và được hưởng chất lượng dịch vụ tốt hơn Người gửi hàng tăng lợi nhuận đầu tƣ Những tài sản lẽ ra phải đầu tƣ vào lĩnh vực logistics thì nay đƣợc khai thác cho việc kinh doanh chính của doanh nghiệp do vậy hiệu quả cao hơn Người gửi hàng có thể tăng tính mềm dẻo và phản ứng nhanh trước những thay đổi của thị trường vì người kinh doanh dịch vụ logistics đã chuẩn bị sẵn sàng đối phó với nhu cầu mang tính thời vụ, nhu cầu lớn đột biến, và như vậy giúp cho người gửi hàng đứng vững trên thương trường mà vẫn tiết kiệm chi phí

Vai trò đối với nhà vận chuyển (các hãng tàu)

Các hãng tàu không cần phải quan tâm nhiều đến từng lô hàng riêng lẻ để có thể tiết kiệm rất lớn chi phí chứng từ, thời gian và nhân lực Bên cạnh đó, các hãng tàu cũng có thể nâng cao công suất vận chuyển hàng theo phương thức FCL nhờ các công ty gom hàng đóng các lô hàng lẻ thành các lô hàng nguyên container và sử dụng cước vận chuyển theo phương thức FCL của hãng tàu

Các hãng tàu cũng có thể tiết kiệm đƣợc các chi phí cho các trang thiết bị, kho bãi và lao động trong việc theo dõi từng lô hàng LCL riêng lẻ Các hãng tàu cũng tránh được các rủi ro do không thu được tiền cước tàu theo phương thức LCL từ rất nhiều các khách hàng riêng biệt nhỏ lẻ khác nhau vì rủi ro đó giờ đây do các nhà gom hàng gánh chịu

Vai trò đối với công ty gom hàng

Các công ty gom hàng lẻ mặc dù đối diện với nhiều rủi ro, nhƣng lợi nhuận thu được rất lớn do khoảng chênh lệch của tiền cước thu được nhờ cung cấp dịch vụ xuất hàng theo phương thức LCL và tiền cước phải trả cho các hãng tàu theo phương thức FCL

Bên cạnh đó, với vai trò là một 3PL (Cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba hay logistics theo hợp đồng), các công ty gom hàng lẻ cũng là người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận như: thay mặt cho người gửi hàng thực hiện thủ tục XK, cung cấp chứng từ giao nhận-vận tải và vận chuyển nội địa hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan hàng hóa và đưa hàng đến điểm đến quy định,…bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hoá, xử lý thông tin,… có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng

Vai trò đối với xã hội Đối với toàn xã hội, phương thức vận tải LCL giúp xã hội tiết kiệm được chi phí cho việc vận tải xuất khẩu hàng hóa, từ đó giảm giá thành cho sản phẩm xuất khẩu và nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường thế giới

Tuy vậy, một nhà gom hàng cần phải đáp ứng đƣợc các yêu cầu sau đây: Thứ nhất, một nhà gom hàng cần phải có đầy đủ cơ sở vật chất chẳng hạn nhƣ kho CFS, kho riêng, các thiết bị bốc dỡ container và hàng hóa tại cả cảng xếp hàng và cảng dỡ hàng Thứ hai, nhà gom hàng cần có đối tác hoặc đại lý thật tốt tại các nơi đến để thực hiện việc chia nhỏ hàng hóa.Thứ ba, cần phải có khả năng về chuyên môn và tài chính cần thiết cũng nhƣ trách nhiệm bảo hiểm để có thể có đƣợc uy tín trong cộng đồng kinh doanh.Thứ tư, nhân viên cần có kinh nghiệm và kiến thức trong việc bao gói và lưu trữ hàng hóa trong container nhằm tối đa hóa khả năng sử dụng dung tích trong container Thứ năm, công ty gom hàng cần phải có mối quan hệ làm ăn lâu dài với các hãng tàu để đảm bảo khả năng mua dịch vụ vận tải theo phương thức FCL từ các hãng tàu một cách nhanh chóng với mức giá thống nhất để đảm bảo cho việc cung ứng dịch vụ vận tải theo phương thức FCL mang lại lợi nhuận

2.2.1.3 Quy trình vận tải hàng lẻ (LCL/LCL) đối với khách hàng công ty GNVT

 Người gom hàng nhận nhiều lô hàng của nhiều công ty GNVT khác nhau gửi cho nhiều người nhận khác nhau (người nhập khẩu hoặc đại lý của công ty GNVT) tại trạm hàng lẻ (CFS)

 Người gom hàng đóng nhiều lô hàng lẻ của nhiều công ty GNVT khác nhau vào cùng một container bằng chi phí của mình

 Người vận chuyển xếp container lên tàu

 Tại cảng đến, đại lý giao nhận nhận container đƣợc dỡ từ tàu xuống, vận chuyển container về kho CFS để rút hàng

 Các lô hàng lẻ được tách ra riêng biệt và giao cho người nhận (người nhập khẩu hoặc đại lý của công ty GNVT)

Cụ thể có các bước chi tiết như sau:

Các nghiên cứu liên quan

Nghiên cứu của Matear và cộng sự (1993):

Matear và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu tại thị trường Ailen nhằm kiểm tra xem giữa các chủ hàng và công ty giao nhận vận tại có sự khác biệt nào trong việc sử dụng các tiêu chí lựa chọn dịch vụ logistics Các chủ hàng là những công ty đó có quyền sở hữu hàng hoá, có thể mua các dịch vụ trực tiếp từ các hãng hàng không hoặc hãng tàu hoặc từ một nhà giao nhận vận tải hàng hóa Ba yếu tố đƣợc chỉ ra quan trọng nhất đối với chủ hàng là: trả lời khiếu nại của khách hàng một cách nhanh chóng, tránh tổn thất hoặc thiệt hại về hàng hóa và thời gian giao hàng đúng hạn Trong khi đó, đối với các công ty GNVT, công ty trung gian thuê lại dịch vụ của các hãng hàng không hoặc hãng tàu hoặc từ một nhà giao nhận vận tải hàng hóa thì các yếu tố đƣợc đặt lên hàng đầu là sự sẵn có về dịch vụ, sự chính xác về dịch vụ và số chuyến tàu trong tuần khi lựa chọn một dịch vụ logistics đối với hãng tàu hay một đại lí khai thác hàng lẻ

Trong một tổng hợp của 11 nghiên cứu thực nghiệm về việc lựa chọn dịch vụ vận chuyển, McGinnis (1989) cho thấy rằng độ tin cậy là biến quan trọng nhất trong quyết định lựa chọn dịch vụ vận chuyển Tiếp theo đó là sự chính xác và trả lời các khiếu nại của khách hàng nhanh chóng Một yếu tố khác mà McGinnis nhấn mạnh đó chính là thời gian vận chuyển Brooks (1990) cũng cho thấy thời gian vận chuyển là một biến lựa chọn quan trọng trong việc lựa chọn một hãng vận tải biển của các chủ hàng ở Canada

Các nghiên cứu thực nghiệm khác cũng đƣợc tiến hành bởi McGinnis và cộng sự (1995) tại Hoa Kỳ cho rằng các chiến lược cạnh tranh của công ty sẽ ảnh hưởng đến các tiêu chí lựa chọn dịch vụ cung ứng logistics Họ cũng cho rằng có 8 tiêu chí quan trọng đó là: thời gian giao hàng, khả năng đảm bảo dịch vụ, khả năng ổn định về tài chính, sự sáng tạo trong khả năng quản lý, khả năng giao hàng nhƣ đã cam kết, tính linh động của quản lý cấp cao, đáp ứng với các sự cố không lường trước được, và tác phong chuyên nghiệp trong gặp gỡ khách hàng trước khi đàm phán giá cả

Bảng 2.2: Bảng xếp hạng các tiêu chí lựa chọn dịch vụ của một công ty logistics

Tính linh hoạt và đổi mới 6 5 7

Uy tín nhà cung cấp 15 15 15

Khả năng của hệ thống 18 17 17

Các dịch vụ có sẵn 19 20 20

Giảm sai sót của nhân viên 20 23 22

Thông báo sớm sự cố phát sinh 23 22 21

Trong năm 2003, Hiệp hội Kho Vận Quốc Tế (IWLA), bao gồm hơn 550 thành viên là các công ty logistics của khu vực Bắc Mỹ, đã tiến hành một cuộc khảo sát, nghiên cứu với một số khách hàng đã và đang sử dụng dịch vụ logistics của một công ty logistics Nghiên cứu cho thấy có một sự thay đổi lớn trong bảng xếp hạng các tiêu chí lựa chọn dịch vụ của một công ty logistics:

Năm 1994 và 1999, bảng này cho thấy rằng 3 yếu tố quyết định hàng đầu trong việc lựa chọn một công ty logistics là chất lƣợng dịch vụ, độ tin cậy và hiệu suất xử lí công việc Đến năm 2003, giá cả đã trở thành tiêu chí lựa chọn quan trọng nhất Sự thay đổi này chủ yếu là do sự gia tăng về chất lƣợng và số lƣợng của các dịch vụ đƣợc cung cấp bởi các công ty logistics.Trong khi chi phí của các dịch vụ này tiếp tục giảm, giá vẫn là một phần quan trọng của cuộc đàm phán với các công ty logistics

Nghiên cứu của Bottani và Rizzi (2006):

Bottani và Rizzi cho rằng quy trình lựa chọn một nhà cung cấp dịch vụ logistics gồm có 5 bước chính:

(1)Xác định sự cần thiết phải thuê ngoài logistics

(2) Đánh giá các giải pháp thay thế khả thi bằng cách so sánh giữa việc tự doanh nghiệp thực hiện và thuê ngoài dịch vụ logistics

(3)Đánh giá các ứng cử viên và lựa chọn công ty cung cấp dịch vụ logistics

(5)Đánh giá dịch vụ sau khi sử dụng để kiểm soát việc thực hiện, để chọn một nhà cung cấp dịch vụ mới hoặc tăng cường mối quan hệ với nhà cung cấp dịch vụ sẵn có

Bước 2 đến bước 5 trong nghiên cứu này đều liên quan đến CLDV logistics.Trong trường hợp CLDV logistics được cung cấp kém, chủ hàng có thể lựa chọn tự mình thực hiện logistics hoặc liên lạc trực tiếp với hãng tàu, hãng hàng không để vận chuyển hàng hoá

Nghiên cứu của Yael Perlm an, Tzvi Raz và Livnat Moshka (2009):

Các tác giả đã xem xét các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn một công ty giao nhận vận tải quốc tế.Các mô hình khái niệm đƣợc phát triển mô tả mối quan hệ giữa các đặc tính của môi trường kinh doanh mà các khách hàng của các công ty giao nhận đang hoạt động và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn một công ty GNVT.Tác giả đã xác định 18 yếu tố trong việc lựa chọn một công ty GNVT Những yếu tố này đã đƣợc phân tích và sau đó tổ chức trong các nhóm có liên quan bao gồm: độ tin cậy, danh tiếng của công ty, quản lý thông tin, dịch vụ và giá cả

- Nhóm về độ tin cậy: bao gồm độ tin cậy về dịch vụ, độ tin cậy về thông tin và các yếu tố thời gian vận chuyển

- Nhóm về danh tiếng của công ty GNVT: bao gồm quy mô, danh tiếng, chứng nhận chất lƣợng, kinh nghiệm kinh doanh và các yếu tố về dịch vụ logistics tăng thêm

- Nhóm về quản lý thông tin: bao gồm báo giá trực tuyến, công cụ báo cáo, phân loại và lưu giữ thông tin sẵn có

- Nhóm về dịch vụ và giá cả: bao gồm sự đáp ứng linh hoạt, khả năng làm việc, đa dạng về dịch vụ và giá cả cạnh tranh

Yếu tố duy trì phân loại và thuế không đƣợc đƣa vào bốn nhóm trên mà đƣợc xem nhƣ biến phụ thuộc cá nhân

Trong bốn nhóm trên, nhóm độ tin cậy là quan trọng nhất.Trong đó, yếu tố về thời gian vận chuyển đƣợc đánh giá cao nhất, khả năng các công ty GNVT có thể đáp ứng đúng thời hạn giao hàng và cung cấp lịch trình chuẩn xác cho khách hàng Yếu tố quan trọng tiếp theo là giá cả cạnh tranh, quyết định lựa chọn một công ty GNVT về cơ bản là một quyết định kinh tế, dựa trên sự cân nhắc về chi phí bỏ ra và lợi ích thu về Bên cạnh đó, các yếu tố về chất lƣợng dịch vụ cũng đƣợc xem làm một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn dịch vụ một công ty GNVT: sự đáp ứng linh hoạt, khả năng làm việc chuyên nghiệp, sự đa dạng về dịch vụ sẵn có

Nghiên cứu của Barthel và cộng sự (2010):

Barthel và cộng sự đã dựa trên 27 nghiên cứu đƣợc công bố bằng tiếng Anh và Scandinavia (Thụy Điển, Đan Mạch và Na Uy) từ sau năm 1990 đến năm 2009 để tổng kết các yếu tố tác động đến việc lựa chọn dịch vụ vận chuyển Kết quả cho thấy: Chi phí vận chuyển, thời gian vận chuyển, độ tin cậy và chất lƣợng dịch vụ vận chuyển là các nhân tố cốt lõi tác động đến quyết định lựa chọn dịch vụ vận chuyển Yếu tố rõ ràng nhất và quan trọng nhất đƣợc đề cập trong tất cả các bài viết mà Barthel nghiên cứu là chi phí vận chuyển Chi phí đƣợc xếp hạng là các yếu tố quan trọng nhất bởi Widlert (1990), Widlert & Lindstedt (1992), Vannieuwenhuyse và cộng sự (2003), Lundberg (2006), Punakivi & Hinkka (2006), Danielis & Marcucci (2007), và nó là một trong những yếu tố hàng đầu trong hầu hết các nghiên cứu khác Chất lƣợng dịch vụ vận chuyển và các nhân tố liên quan đến chất lƣợng dịch vụ vận chuyển cũng đƣợc đỏnh giỏ cú mức độ quan trọng khụng kộm (Anderson & Browne, 1992; Bjửrklund,

2002, 2005; Punakivi & Hinkka, 2006) Ngoài ra, kết quả tổng kết còn chỉ ra rằng các yếu tố về danh tiếng công ty, quy mô công ty, mức độ hƣ hại hàng hóa, số chuyến tàu trong tuần, lịch trình vận chuyển, công nghệ thông tin,…cũng có tác động đến quyết định lựa chọn dịch vụ vận chuyển

Nghiên cứu của công ty SCM (2008):

Công ty SCM tƣ vấn chuyên về quản trị logistics và chuỗi cung ứng tại Việt Nam, bao gồm phát triển chiến lƣợc chuỗi cung ứng/logistics, ứng dụng trong thực tế, đào tạo và truyền thông đã tiến hành một cuộc khảo sát về logistics vào tháng 3 năm

2008 Bảng câu hỏi đƣợc thiết kế xoay quanh các hoạt động thuê ngoài, tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ, công nghệ phục vụ logistics Các công ty đƣợc khảo sát đã xếp hạng 11 tiêu chí: CLDV; Giá; Khả năng cải tiến liên tục; Kinh nghiệm, am hiểu và có khả năng cải tiến; Phạm vi và địa bàn hoạt động; Khả năng hỗ trợ mở rộng kinh doanh; Đội ngũ nhân sự đạt yêu cầu; Sự phù hợp về văn hoá và chiến lƣợc; Khả năng cung cấp hệ thống IT thích hợp; Loại hình doanh nghiệp; Sự đa dạng về dịch vụ Trong đó, 2 tiêu chí quan trọng nhất trong việc lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ logistics là Giá và CLDV.Bên cạnh đó Chất lƣợng dịch vụ không đúng nhƣ cam kết là một vấn đề lớn mà các công ty đang gặp phải khi làm việc với các nhà cung cấp dịch vụ logistics

Nghiên cứu của Nguyễn Thuý Nga (2014):

Nghiên cứu này thực hiện khảo sát trên 2 đối tƣợng là các công ty XNK và các công ty GNVT trong quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ vận tải container đường biển và sự khác biệt về tầm quan trọng của các yếu tố này Nghiên cứu chỉ ra rằng các biến: Cước phí vận chuyển, thời gian vận chuyển, độ tin cậy của dịch vụ, độ đáp ứng của dịch vụ, mối quan hệ với hãng tàu có tác động đến quyết định lựa chọn của các công ty XNK và GNVT Tuy nhiên trong 5 yếu tố đó thì độ tin cậy của dịch vụ, độ đáp ứng của dịch vụ, mối quan hệ với hãng tàu và chi phí vận chuyển có tác động đến quyết định lựa chọn Riêng yếu tố thời gian vận vận chuyển không thực sự là yếu tố mà khách hàng quan tâm khi quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ vận tải container đường biển

Nghiên cứu của Lê Tấn Bửu và cộng sự (2014):

Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất

2.5.1 Các giả thiết nghiên cứu

Dựa trên mô hình SERVPERF (1992), nghiên cứu của McGinnis và Cộng sự (1995); IWLA (2003); Yael Perlm An và Cộng sự (2009); Barthel và Cộng sự (2010) và nghiên cứu thực tế của SCM (2008); Nguyễn Thuý Nga (2014); Lê Tấn Bửu và Cộng sự (2014) cũng nhƣ các lý thuyết liên quan đến hoạt động khai thác hàng lẻ XK bằng container và thực trạng hoạt động khai thác hàng lẻ XK tại khu vực cảng TP HCM, tác giả đề xuất những yếu tố tác động đến việc quyết định lựa chọn dịch vụ khai thác hàng lẻ XK gồm 7 yếu tố:

Công ty có khả năng thực hiện đúng với những gì mình đã cam kết về dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu mà công ty đƣa ra Chứng từ luôn đƣợc gửi đúng hạn và chính xác, công ty có năng lực, không bao giờ xảy ra sơ sót,tạo rasự tin tưởng của khách hàng, cũng nhƣ xử lý những sự cố xảy ra trong suốt quá trình nhận hàng, đóng hàng, vận chuyển và giao hàng cho người nhận tại cảng đến sẽ góp phần ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu Từ đó tác giả đề xuất giả thiết nghiên cứu:

H1: Thành phần tin cậy có tác động dương, cùng chiều với quyết định lựa chọn dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu của các công ty GNVT

Khả năng nhân của viên công ty nắm vững quy trình, nghiệp vụ hàng lẻ xuất khẩu, đƣợc cảm nhận thông qua cách thức, thái độ phục vụ, sự chuyên nghiệp cũng nhƣ sự đảm bảo tuyệt đối không mất mát và hƣ hỏng về hàng hóa trong suốt quá trình nhận hàng, đóng hàng, vận chuyển và giao hàng cho người nhận tại đầu nước ngoài Khách hàng sẽ tiết kiệm thời gian, chi phí và những vấn đề không đáng có khi đƣợc tƣ vấn kỹ càng, đầy đủ về cách thức vận chuyển một lô hàng lẻ: quy cách đóng gói, nhập kho, thanh lí, quy chuẩn đóng hàng, nhận hàng Ngoài ra, nhân viên là người làm việc trực tiếp với khách hàng, đại diện cho bộ mặt của công ty cũng như uy tín thương hiệu của công ty trên thị trường Từ đó tác giả đề xuất giả thiết nghiên cứu:

H2: Thành phần đảm bảo có tác động dương, cùng chiều với quyết định lựa chọn dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu của các công ty GNVT

Thể hiện thông qua sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên cung cấp dịch vụ cho khách hàng Sự nhiệt tình của nhân viên cũng nhƣ sự có mặt kịp thời để xử lí các vấn đề và hỗ trợ khách hàng khi cần thiết là yếu tố quan trọng để nhận đƣợc sự tín nhiệm của khách hàng Ngoài ra, khách hàng luôn mong đợi một sự đáp ứng kịp thời, phản hồi nhanh chóng các yêu cầu nhƣ: giá cả, lịch tàu, biên bản đóng hàng, hình ảnh đóng hàng,… Không những vậy, những vấn đề phát sinh ngoài ý muốn liên quan đến hàng hóa: mất hàng, hàng bị hƣ hỏng, trễ tàu, rớt tàu,…nhân viên công ty cần phải báo lại để có đƣợc những chỉ đạo và hỗ trợ kịp thời từ phía khách hàng.Từ đó tác giả đề xuất giả thiết nghiên cứu:

H3: Thành phần đáp ứng có tác động dương, cùng chiều với quyết định lựa chọn dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu của các công ty GNVT

Yếu tố con người là yếu tố then chốt góp phần ảnh hưởng không hề nhỏ đến quyết định lựa chọn một dịch vụ bất kì, mỗi cá nhân khách hàng đƣợc quan tâm chăm sóc kĩ càng Công ty và nhân viên công ty luôn luôn chia sẻ, lắng nghe những phản hồi từ phía khách hàng với thái độ nhã nhặn Nhân viên cùng khách hàng giải quyết những vấn đề, khó khăn phát sinh trước, trong và sau khi hàng hóa đã đến tay người nhận hàng cuối cùng với tác phong chuyên nghiệp và nhanh chóng Đƣợc quan tâm đến lợi ích và nhu cầu, đƣợc bảo mật tuyệt đối về thông tin (khách hàng, nhà cung ứng, đại lí…) và duy trì mối quan hệ tốt với nhà cung cấp dịch vụ khai thác hàng lẻ là mong đợi của các công ty giao nhận vận tải và các tiêu chí này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ khai thác hàng lẻ.Từ đó tác giả đề xuất giả thiết nghiên cứu:

H4: Thành phần đồng cảm có tác động dương, cùng chiều với quyết định lựa chọn dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu của các công ty GNVT

Do tính chất của hàng lẻ là các lô hàng sẽ đƣợc đóng chung vào một container nên khách hàng chỉ nhận những phản hồi từ phía người khai thác hàng lẻ nên hình ảnh nhập kho, đóng hàng vào container và dỡ hàng ra khỏi container rất đƣợc khách hàng quan tâm Tận dụng sự phát triển của công nghệ thông tin vào việc xử lí các lô hàng cũng nhƣ vị trí tọa lạc của doanh nghiệp khai thác hàng lẻ cũng đƣợc khách hàng chú trọng Thông tin trên website, thƣ điện tử rõ ràng, đƣợc cập nhật liên tục, chứng từ cần thiết đƣợc cung cấp đầy đủ và phản hồi nhanh chóng để có những điều chỉnh kịp thời khi có sai sót Từ đó tác giả đề xuất giả thiết nghiên cứu:

H5: Thành phần hữu hình có tác động dương, cùng chiều với quyết định lựa chọn dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu của các công ty GNVT

Giá cả ngày càng có một vai trò quan trọng trong quyết định lựa chọn dịch vụ khai thác hàng lẻ của bất kì một công ty giao nhận vận tải nào Giá cả thể hiện qua sự linh hoạt mà công ty khai thác hàng lẻ áp dụng, có thật sự cạnh tranh, hợp lí so với các đối thủ khác hay không, mỗi công ty khai thác hàng lẻ có một thế mạnh nhất định ở một luồng tuyến nào đó, do vậy mỗi công ty sẽ có mỗi chính sách giá đặc biệt cho các luồng tuyến mà mình đang khai thác Trong từng thời điểm nhất định, công ty sẽ có những chương trình khuyến mãi cũng như giá ưu đãi đặc biệt đối với những khách hàng thân thiết Ngoài ra, chế độ chiết khấu phù hợp nhằm đảm bảo quyền lợi của khách hàng và công ty gom hàng lẻ một yếu tố giúp cho công ty khai thác hàng lẻ thu hút đƣợc sự chú ý của khách hàng và sử dụng dịch vụ của mình Từ đó tác giả đề xuất giả thiết nghiên cứu:

H6: Thành phần giá cả có tác động dương, cùng chiều với quyết định lựa chọn dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu của các công ty GNVT

Danh tiếng đƣợc công nhận là tài sản vô hình có giá trị cao của mỗi công ty Danh tiếng đƣợc cho là một tập hợp các thuộc tính kinh tế và phi kinh tế đƣợc tạo lập dựa trên hành động quá khứ của công ty Đối với các công ty GNVT, danh tiếng công ty là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn dịch vụ khai thác hàng lẻ của họ Yếu tố danh tiếng của công ty đƣợc thể hiện thông qua kích cỡ, các chứng nhận liên quan đến dịch vụ mà công ty đang khai thác, kinh nghiệm khai thác, cung cấp dịch vụ tạo ra sự tin tưởng, tín nhiệm của khách hàng cũng như sự đón nhận của thị trường đối với dịch vụ của công ty khai thác hàng lẻ Bên cạnh đó, một mạng lưới hệ thống các đại lí rộng khắp, đáng tin cậy nhằm đáp ứng nhu cầu giao hàng cho khách hàng cũng là yếu tố rất cần thiết.Từ đó tác giả đề xuất giả thiết nghiên cứu:

H7: Thành phần danh tiếng có tác động dương, cùng chiều với quyết định lựa chọn dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu của các công ty GNVT

Từ các giả thiết nghiên cứu ở trên, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu nhƣ sau:

Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn dịch vụ khai thác hàng lẻ XK của các công ty GNVT

(Nguồn: tác giả tổng hợp)

Chương 2, tác giả đã trình bày tóm tắt lý thuyết liên quan đến dịch vụ, CLDV, các nghiên cứu về CLDV, đặc điểm của hoạt động khai thác hàng lẻ XK bằng container, các nghiên cứu liên quan đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ logistics nói chung Từ đó, đƣa ra mô hình nghiên cứu đề xuất bao gồm 7 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cung cấp dịch vụ khai thác hàng lẻ XK của các công ty GNVT: thành phần tin cậy, thành phần đảm bảo, thành phần đáp ứng, thành phần đồng cảm, thành phần hữu hình, thành phần giá cả và danh tiếng

Chương tiếp theo sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu được thực hiện để xây dựng và đánh giá các thanh đo và kiểm định sự phù hợp của mô hình lý thuyết với dữ liệu khảo sát

Tin Cậy Đảm bảo Đáp ứng Đồng cảm Hữu hình Giá cả

Quyết định lựa chọn dịch vụ khai thác hàng lẻ xuất khẩu Danh tiếng

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 16/07/2021, 12:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w