1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoài thanh xuân diệu, hai gương mặt tiêu biểu của phê bình thơ kháng chiến 1945 1954

75 675 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoài Thanh Xuân Diệu, Hai Gương Mặt Tiêu Biểu Của Phê Bình Thơ Kháng Chiến 1945 1954
Tác giả Hoài Thanh, Xuân Diệu
Trường học Trường Đại Học
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 211 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với giai đoạn 1945 – thiện – mỹ 1954, tác giả chú ý đến đóng góp của nhà phê bình qua việc đánh giácác tác phẩm: “ Cùng với đông đảo văn nghệ sỹ đi theo cách mạng, nhà phê bìnhvăn họ

Trang 1

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam, thơ ca kháng chiến 1945-1954

nh một dòng suối ngọt lành, tơi mới Đó là dòng thơ chảy trên mảnh đất củacuộc kháng chiến chống Pháp vĩ đại, từ những ngòi bút nhiệt tình, giàu sáng tạovới những đề tài phong phú Và nền thơ ca ấy đã đợc ca hát bởi tấm lòng và tàinăng của những nhà phê bình nh Hoài Thanh- Xuân Diệu

1.2 Hoài Thanh trớc Cách mạng tháng Tám đã là một tên tuổi phê bìnhnổi tiếng, đợc mệnh danh là “ngời khai mạc nền phê bình văn học Việt Nam hiện

đại” (Phong Lê) [9,215] Đặc biệt là cuốn Thi nhân Việt Nam, trong đó có khảo luận Một thời đại trong thi ca, là “thiên lý luận phê bình tuyệt bút, đa nghệ thuật

viết văn nghị luận Việt Nam lên đỉnh cao nhất từ trớc tới nay” (Trần Mạnh Hảo)[16,118] Rồi Cách mạng tháng Tám thành công, kế đến là cuộc kháng chiếnchín năm chống Pháp đã mang đến cho ông một thế giới quan mới, nuôi dỡng vàphát triển tài năng ở nhà phê bình Để đáp lại tiếng gọi của Cách mạng và khángchiến, Hoài Thanh đã lấy ngòi bút và tâm huyết của mình để ca ngợi nhữngthành tựu của văn học Việt Nam kháng chiến

1.3 Khác với Hoài Thanh, Xuân Diệu đến với văn chơng trớc hết khôngphải với t cách một nhà phê bình mà là một nhà thơ Thơ ông tạo nên trong ngời

đọc ấn tợng về một Xuân Diệu với trái tim “phập phồng nóng hổi”, “đắm say sựsống, mùa xuân tuổi trẻ và tình yêu” (Nguyễn Đăng Mạnh) [27,13] Nhng XuânDiệu không chỉ làm thơ mà còn viết truyện ngắn, phê bình, tiểu luận, bút ký Cách mạng tháng Tám nh một luồng gió mát thổi vào cuộc đời, vào tâm hồn cònnặng trĩu buồn đau, giúp ông mang phong cách nồng nàn sôi nổi vốn có củamình vào những bài phê bình, tiểu luận để tạo nên hình ảnh một Xuân Diệu sánggiá ở lĩnh vực phê bình văn học

1.4 Hoài Thanh, Xuân Diệu đợc coi là hai trong số những gơng mặt tiêubiểu của phê bình thơ kháng chiến 1945-1954 Nhng việc tìm hiểu đóng góp củahai ông ở khu vực này còn quá ít Về Hoài Thanh, việc nghiên cứu hầu hết hớng

về trớc 1945, trong đó chủ yếu dành cho Thi nhân Việt Nam Về Xuân Diệu,

mối quan tâm nghiêng nhiều về ông ở t cách là một nhà thơ, chủ yếu là thơ trớc

1945, ít bài nói đến đóng góp của ông trong kháng chiến 1945-1954 trên lĩnh

Trang 2

vực phê bình Hoài Thanh ngay từ đầu đã mang nghiệp phê bình vào thân XuânDiệu là nhà thơ trớc khi là nhà phê bình Nói nh vậy cũng là muốn nói trên địahạt phê bình, Hoài Thanh, Xuân Diệu mỗi ngời một vẻ Tuy vậy, hai ngời vẫn cónhững điểm gặp gỡ.

Những điều trên giải thích vì sao chúng tôi chọn Hoài Thanh - Xuân Diệu ở

t cách nhà phê bình thơ ca kháng chiến 1945-1954 làm đối tợng tìm hiểu Vàcũng là lý do cắt nghĩa tại sao chúng tôi đặt Hoài Thanh bên cạnh Xuân Diệu vàXuân Diệu bên cạnh Hoài Thanh trong sự liên hệ gắn nối với nhau

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Công việc phê bình văn học là công việc đòi hỏi ở ngời cầm bút rất nhiều tốchất Đó không chỉ là năng lực cảm thụ, phân tích, bình giá mà còn là kiến thứctổng hợp, là vốn sống và vốn hiểu biết văn học Vì thế, số ngời viết phê bìnhthành công ở nớc ta không phải là nhiều, có thể kể tên nh: Hoài Thanh, XuânDiệu, Vũ Ngọc Phan, Đặng Thai Mai, Chế Lan Viên

Hoài Thanh và Xuân Diệu là hai tên tuổi phê bình văn học xuất hiện từ giai

đoạn trớc 1945 Một ngời thì chuyên sâu vào công việc lấy sáng tác của các tácgiả khác làm đối tợng nghiên cú của mình, còn một ngời vừa sáng tác vừa viếtphê bình Mỗi ngời dĩ nhiên có một phong cách viết, một phong cách làm việcriêng, nhng sự nghiệp của họ đều có chung một mốc son đánh dấu cho một bớcngoặt mới, đó là Cách mạng tháng Tám Cuộc Cách mạng này đã mở ra cho cácvăn nghệ sỹ một con đờng mới, con đờng đi về phía nhân dân Bớc trên con đ-ờng ấy, hai nhà phê bình đã tạo ra trong sự nghiệp của mình những giá trị mới,

đóng góp vào nền phê bình văn học cách mạng những tác phẩm ý nghĩa

2.1.Với Hoài Thanh, công việc viết phê bình là công việc quen thuộc và có

lẽ đã trở thành niềm vui và lẽ sống Tên tuổi của Hoài Thanh gắn chặt vào nềnphê bình văn học Việt Nam, bởi khi nói về nền phê bình văn học Việt Namkhông thể không nhắc đến ông Qua những tác phẩm của Hoài Thanh, chúng ta

đợc biết đến những quan niệm văn chơng một thời, hay đợc sống trong những

“thời đại” văn học chói lọi Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Hoài Thanhcũng nh các văn nghệ sỹ khác hăng hái viết để phục vụ cách mạng và nền vănnghệ mới Tác phẩm của ông đã có những tác động nhất định đối với đơng thời

và cả về sau

Trang 3

Cả một đời Hoài Thanh dành để viết về ngời khác, nhng chính sự nghiệpcủa ông cũng là đối tợng của những nhà nghiên cứu Đã có rất nhiều bài viết,nhiều công trình nghiên cứu về Hoài Thanh Có những bài phân tích quan điểmcầm bút, quan điểm nghệ thuật của Hoài Thanh, có những bài đánh giá các tácphẩm của Hoài Thanh, và cũng có những công trình nghiên cứu tổng hợp cả sựnghiệp của ông Theo thống kê (cha đầy đủ) của Nguyễn Thiện và Từ Sơn, tính

đến năm 1999, nghĩa là năm Hoài Thanh- Toàn tập đợc công bố, đã có 51 bài

viết, công trình nghiên cứu về Hoài Thanh Đấy là cha kể tới các luận án nghiêncứu về Hoài Thanh để bảo vệ học vị thạc sỹ, phó tiến sỹ, tiến sỹ khoa học ngữvăn ở các trờng đại học và các viện nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn

Năm 2000, Nhà xuất bản Hội nhà văn Hà Nội tập hợp và in tiếp cuốn Hoài Thanh với khát vọng chân – thiện – mỹ thiện – thiện – mỹ mỹ, trong đó có các bài của :

- Thành Duy: Hoài Thanh với cuốn Văn chơng và hành động.

- Nguyễn Văn Hạnh: Thi nhân Việt Nam và phơng pháp tiếp cận văn

ch-ơng.

- Hoàng Ngọc Hiến: Phê bình văn học của Hoài Thanh và phê bình văn học hiện nay.

- Trờng Lu: Hoài Thanh – thiện – mỹ một tâm hồn thơ nhân bản.

- Vũ Quần Phơng: Con ngời vị nhân sinh trong Hoài Thanh.“ ”

- Nguyễn Thị Thanh Xuân: Nhìn lại quan điểm nghệ thuật của Hoài Thanh giai đoạn 1932 – thiện – mỹ 1945.

Những bài viết trên chủ yếu đề cập tới Hoài Thanh giai đoạn trớc 1945 Cóthể thấy sự nghiệp của Hoài Thanh ở giai đoạn này đã trở thành mối quan tâmcủa đa số các bài viết về ông Về giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám, nhất làtrong kháng chiến chống thực dân Pháp, số bài nghiên cứu về Hoài Thanh có íthơn

- Phong Lê: Hoài Thanh – thiện – mỹ sự nghiệp phê bình ( Văn học Việt Nam hiện

đại – thiện – mỹ những chân dung tiêu biểu, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội , 2001).

- Trần Hạnh Mai: Hoài Thanh và những thành tựu đầu tiên của thơ ca cách mạng (Năm mơi năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám, NXB

Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996)

Trang 4

- Trần Đình Sử: Một vài suy nghĩ về phê bình văn học của Hoài Thanh (Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995).

Một số công trình nghiên cứu công phu, in thành sách, trong đó quan tâm

đến cả hai giai đoạn trong sự nghiệp của Hoài Thanh:

- Thiếu Mai: Hoài Thanh – thiện – mỹ Tác giả lý luận phê bình nghiên cứu văn học Việt Nam 1945 – thiện – mỹ 1975, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1986

- Trần Hạnh Mai: Sự nghiệp phê bình văn học của Hoài Thanh, NXB Giáo

dục, 2003

Bên cạnh những công trình nghiên cứu, những chuyên khảo, ngời đọc cóthể tìm thấy những ý kiến đánh giá về phê bình của Hoài Thanh trong các giáotrình lý luận văn học, lịch sử văn học Việt Nam, trực tiếp là văn học Việt Namthời kỳ 1945 – thiện – mỹ 1954.Trong các cuộc hội thảo kỷ niệm ngày sinh, ngày mất củanhà văn Hoài Thanh, cũng có nhiều bài tham luận về ông

Nhìn chung, trên cơ sở các bài viết, các bài tham luận, các công trìnhnghiên cứu về Hoài Thanh, chúng ta có thể hình dung ra sự nghiệp phê bình của

ông, cũng nh những đóng góp to lớn của ông đối với nền phê bình văn học ViệtNam Đặc biệt, với giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp, Hoài Thanh đã

để lại ấn tợng mạnh mẽ đối với các nhà nghiên cứu và những ngời yêu mến ông

Giáo s Phong Lê trong bài Hoài Thanh – thiện – mỹ sự nghiệp phê bình đã gọi HoàiThanh là “ ngời khai mạc nền phê bình văn học Việt Nam hiện đại” [16,82] vànhận thấy : “ cả trớc và sau 1945, Hoài Thanh vẫn cứ là Hoài Thanh, ngời viếttheo một quan niệm riêng và cái tạng riêng của mình Quan niệm thay đổi, đối t-ợng quan tâm cũng thay đổi Trớc năm 1945, trong chật hẹp của văn học côngkhai, ông chỉ viết về Thơ mới; sau 1945, do sự phát triển rộng rãi, nhiều mặt củaphong trào thơ, nhịp theo sự phát triển của cách mạng, ông dành tập trung sựquan tâm vào một vài khu vực mà ông cho là quan trọng” [16,109]

Tiến sỹ Trần Hạnh Mai trong công trình nghiên cứu của mình cũng có cáinhìn tổng quát về sự nghiệp phê bình văn học của Hoài Thanh Đối với giai đoạn

1945 – thiện – mỹ 1954, tác giả chú ý đến đóng góp của nhà phê bình qua việc đánh giácác tác phẩm: “ Cùng với đông đảo văn nghệ sỹ đi theo cách mạng, nhà phê bìnhvăn học Hoài Thanh đã tích cực ủng hộ nền văn học mới bằng việc khẳng định

“Có một nền văn hoá Việt Nam” (1946), đã bày tỏ một điểm nhìn cách mạng với

Trang 5

Quyền sống của con ng

ời trong Truyện Kiều của Nguyễn Du ” (1949) Nhng

phải đến Nói chuyện thơ kháng chiến“ ”, một chặng đờng mới trong sự nghiệpphê bình văn học của Hoài Thanh mới thực sự bắt đầu" [12,121-122] TrầnHạnh Mai còn chú ý đến tác động của những tác phẩm mà Hoài Thanh viết ra:

“Cũng nh nhiều sáng tác thơ kháng chiến đã đến với độc giả bằng con đờngtruyền khẩu, tác phẩm phê bình của Hoài Thanh có ảnh hởng rộng rãi cũng bằngcách “phê bình miệng” này không chỉ ảnh hởng đến việc định hớng và đánh giáthơ kháng chiến, nó còn tác động đến việc đánh giá Thơ mới trong một thời giankhá dài” [12,128]

Giáo s Tiến sỹ Trần Đình Sử khẳng định mối quan hệ tích cực giữa tácphẩm của Hoài Thanh với nhiệm vụ chung của văn nghệ cách mạng: “Có thể nóivới tài bình thơ tinh tế, phân tích thuyết phục, Hoài Thanh là nhà phê bình thế hệ

đầu tiên góp phần đắc lực đa thơ vào quỹ đạo chính trị” [20,91]

Không chỉ quan tâm đến nội dung, t tởng những tác phẩm của Hoài Thanh,các bài viết còn chú ý đến phong cách phê bình của ông Tiến sĩ Trần Hạnh Mainhận xét: “Quan sát các công trình phê bình văn học của Hoài Thanh, có thểnhận diện “cái tạng Hoài Thanh” với những đặc điểm chính là t chất nghệ sỹ,thiên về tình cảm, yêu vẻ đẹp tinh tế, dịu dàng” [12,168] Cũng có những cảmnhận tơng tự, Trần Mạnh Hảo viết: “ Những trang phê bình rất hấp dẫn của HoàiThanh bao giờ cũng là sự kết hợp hài hoà của chân xác khoa học với cảm hứngnồng say nghệ sỹ Ông mợt mà, duyên dáng, bay lợn ngay cả trong những điều t-

ởng khô khan, cứng nhắc, ù lì nhất” (Từ Hoài Thanh đến Hoài Thanh)

[16,115-116]

Nh vậy, qua hệ thống một số những bài viết tiêu biểu về Hoài Thanh có thểthấy, ông là một nhà phê bình có vị trí và phong cách riêng trong nền phê bìnhvăn học Việt Nam nói chung và là một gơng mặt tiêu biểu của phê bình thơkháng chiến 1945 – thiện – mỹ 1954

2.2 Khác với Hoài Thanh, Xuân Diệu đợc nhắc đến nhiều nhất không phảivới t cách nhà phê bình văn học Xuân Diệu đến với văn chơng trên nhiều t cách:nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình tiểu luận Nhng bạn đọc vẫn biết đến nhiều nhất

và nhớ nhất Xuân Diệu ở t cách nhà thơ, ngời đợc mệnh danh là “chàng hoàng tửcủa thi ca hiện đại” Cùng thế hệ với Huy Cận, Chế Lan Viên, Tế Hanh, LuTrọng L , Xuân Diệu là một trong những tên tuổi sừng sững nh cây đại thụ(1)

Trang 6

của phong trào Thơ mới 1932 – thiện – mỹ 1945 Bởi vậy đã có rất nhiều ngời là nhànghiên cứu chuyên nghiệp hay ngời đọc thơ bình thờng tìm đến thơ ông để cảmnhận cái hay, cái đẹp của một hồn thơ độc đáo Có thể kể một số bài viết nh:

- Hà Minh Đức: Anh đã sống hết mình cho cuộc sống và cho thơ (Tạp chí

Văn học, số 1, 1986)

- Lê Quang Hng: Cái tôi độc đáo “ ” – thiện – mỹ tích cực của Xuân Diệu trong phong trào Thơ mới (Tạp chí Văn học, số 5, 1950).

- Hoài Thanh: Xuân Diệu (Sách Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, 1996).

- Đỗ Lai Thuý: Xuân Diệu nỗi ám ảnh thời gian( sách Con mắt thơ, NXB

Lao động, 1992)

Bên cạnh việc nghiên cứu thơ Xuân Diệu, ngời ta còn quan tâm đến bộ phậnvăn xuôi vì Xuân Diệu cũng là ngời sáng tác khá nhiều tác phẩm văn xuôi Đó lànhững bài viết nh:

- Nguyễn Đăng Mạnh: Vài cảm nghĩ về văn xuôi Xuân Diệu (sách Xuân Diệu về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, 2001).

Xuân Diệu là một ngời ham viết và khoẻ viết Không chỉ làm thơ, viếtchuyện, ông còn viết phê bình Tác phẩm phê bình của ông cũng có khối lợng đồ

sộ nh các sáng tác thơ và cũng để lại một dấu ấn riêng Vì thế cũng có một số bàiviết về Xuân Diệu ở t cách nhà phê bình văn học, trong đó có đề cập đến giai

Tr-ờng đánh giá: “Một cây lớn đổ xuống làm cho cả một khoảng trời trống vắng” Nguyễn Bùi Vợi coi sự ra đi của Xuân Diệu và Chế Lan Viên sau đó trong hình ảnh: “Thiếu hai

đại thụ, rừng thơ trống vắng”.

- Trần Đình Sử: Xuân Diệu – thiện – mỹ Một hồn thơ còn vọng mãi ( Sách Văn học

và thời gian, NXB Văn học, 2001).

Nhìn chung, các bài viết về Xuân Diệu đều công nhận đóng góp nổi bật của

ông trên lĩnh vực thơ ca, đồng thời cho thấy tài năng đa dạng của Xuân Diệu

Ông viết phê bình cũng rất hấp dẫn, cuốn hút nh làm thơ vậy

Trang 7

Đối với giai đoạn 1945 – thiện – mỹ 1954, Xuân Diệu tuy là một tác giả quen thuộcnhng vẫn là một cây viết phê bình trẻ Ông viết không nhiều nhng đã tạo đợc ấntợng với ngời đọc và ngời nghiên cứu, đồng thời có ảnh hởng không nhỏ đối vớivăn học kháng chiến giai đoạn này Mã Giang Lân nhận thấy Xuân Diệu đãmang hình ảnh ngời thơ của mình sang lĩnh vực phê bình nh thế nào: “ Từ nhữngkinh nghiệm sáng tác và năng lực cảm thụ thơ, Xuân Diệu có u thế và có đónggóp trong những hoạt động phê bình, giới thiệu thơ, dịch thơ” ( ) Đến lĩnh vựcnày, ngời đọc vẫn nhận ra một Xuân Diệu nh đã gặp trong thơ ở cách nói bộctrực, say sa, muốn nói cho đủ, cho hết” [6,548].

Giáo s Tiến sỹ Trần Đình Sử khẳng định: “Đóng góp to lớn hơn của XuânDiệu thuộc lĩnh vực nghiên cứu phê bình thơ Các nhà thơ Việt Nam hiện đại đều

có viết phê bình thơ, nhng chỉ có Xuân Diệu để lại một di sản đồ sộ hơn cả” vàcho rằng “ nghệ thuật và phơng pháp phê bình, giới thiệu thơ của Xuân Diệu

đang là một lĩnh vực hấp dẫn chờ đợi khám phá” [29,333]

Các nhà nghiên cứu hầu hết đều nhận thấy, trong khi phê bình văn họcXuân Diệu đã cảm thụ và bộc lộ cảm xúc cũng nồng nhiệt, mê say nh khi ôngviết những vần thơ cháy bỏng, nồng nàn Điều đó có nghĩa là sáng tác hay phêbình, ở lĩnh vực nào Xuân Diệu cũng nhiệt tình, hồ hởi, đắm say

2.3.Có một điều không phải là mới mẻ nhng còn ít đợc đề cập, đó là sợi dâyliên hệ giữa phê bình văn học của Hoài Thanh và Xuân Diệu Đây đó trong một

số bài nghiên cứu, ngời ta có nói đến Ví dụ khi viết về Hoài Thanh trong bài

Một vài đặc điểm phong cách phê bình văn học của Hoài Thanh, Tiến sỹ Trần

Hạnh Mai đã liên hệ : “ không phải là ngời sáng tác, ông vẫn trở thành ngờidẫn đầu một khuynh hớng phê bình nghệ sỹ với những tên tuổi nh Nguyễn Tuân,Xuân Diệu, Chế Lan Viên” [16,168] Mã Giang Lân cũng nhận thấy trong tiếntrình phát triển của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX có “một khuynh hớng phêbình văn học nổi lên đáng chú ý: mang đậm dấu ấn chủ quan, tìm cái đẹp và biểudơng cái đẹp của tác phẩm ( ) Tiêu biểu là Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Đinh GiaTrinh, Xuân Diệu, Thạch Lam ” [6,65]

Nói tóm lại, có rất nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về HoàiThanh và Xuân Diệu, trong đó có đề cập đến hai ông với t cách là hai gơng mặttiêu biểu của phê bình thơ kháng chiến 1945 – thiện – mỹ 1954 Luận văn của chúng tôi đã

đợc thừa hởng những ý kiến của ngời đi trớc, giúp cho việc đánh giá có định

Trang 8

h-ớng chính xác hơn, từ đó mong muốn góp một cái nhìn kỹ lỡng hơn, sâu hơn vềhai nhà phê bình này trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đặc biệt ở lĩnh vựcphê bình thơ.

3 Mục đích, đối tợng, tài liệu nghiên cứu.

3.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu những đóng góp của Hoài Thanh và Xuân Diệu đối với phê bìnhthơ kháng chiến từ 1945 đến 1954

3.2 Đối tợng nghiên cứu

Các quan điểm, các nội dung và hình thức phê bình thơ kháng chiến 1945– thiện – mỹ 1954 của Hoài Thanh và Xuân Diệu ( trong sự so sánh đối chiếu với giai đoạntrớc 1945)

3.3 Tài liệu nghiên cứu

3.3.1 Về Hoài Thanh

- Tập Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, 1996.

- Các tác phẩm giai đoạn 1945 – thiện – mỹ 1954, đặc biệt là cuốn Nói chuyện thơ kháng chiến, NXB Văn nghệ Hà Nội, 1955, sau đợc tập hợp và in trong Hoài Thanh- Toàn tập, Tập 2, NXB Văn học, 1999.

3.3.2 Về Xuân Diệu

- Những bài phê bình của Xuân Diệu giai đoạn trớc 1945, đợc tập hợp trong

cuốn Tuyển tập phê bình văn học Việt Nam, Tập 4, NXB Văn học, 1997.

- Tập Tiếng thơ, NXB Văn nghệ, 1951, sau đợc in lại trong Xuân Toàn tập,Tập 3, NXB Văn học Hà Nội, 2001.

Diệu-3.3.3 Tài liệu chung

- Tạp chí Tiên phong (Su tập trọn bộ gồm 24 số, từ 10/11 năm 1945 đến

1/12 năm 1946 của Hội Văn hoá Cứu quốc Việt Nam), NXB Hội Nhà văn, HàNội, 1996

Trang 9

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn của chúng tôi gồm có ba chơng:

Chơng 1 Hoài Thanh với hành trình đi tìm vẻ đẹp của thơ ca kháng chiến

kháng chiến 1945 – 1954 1954

1 Phê bình thơ của Hoài Thanh trớc Cách mạng tháng Tám

1.1.Thời điểm trớc Thi nhân Việt Nam

Hoài Thanh bớc chân vào lĩnh vực phê bình văn học khi tuổi đời còn trẻ

Đầu những năm ba mơi của thế kỷ XX, ông đã có những bài tiểu luận và phê

bình văn chơng đăng rải rác trên các báo: Thơ mới (Tiểu thuyết thứ bảy, số 31, ra ngày 29/12/1934); Tìm cái đẹp trong tự nhiên là nghệ thuật, tìm cái đẹp trong nghệ thuật là phê bình ( Tiểu thuyết thứ bảy, số 35 ra ngày 26/1/1935); hai bài

Trang 10

cùng tiêu đề Văn chơng là văn chơng ( một đăng trên Tràng An, số 48, ra ngày 13/8/1935, một đăng trên Tràng An, số 62, ra ngày 1/10/1935).

Vậy là ngay từ những ngày đầu chạm ngõ với làng văn, Hoài Thanh đãchọn cho mình công việc phê bình văn chơng, mặc dù rất ngại nói đến hai chữ

“phê bình” “Phải nói là, ở Hoài Thanh, ngời không muốn ai gọi là nhà phê bìnhlại làm chính cái việc không thể gọi là gì khác ngoài phê bình”(Phong Lê)[9,216] Và thế là mối duyên Hoài Thanh và phê bình văn học gắn kết từ đó.Nói đến sự nghiệp Hoài Thanh trớc năm 1945, không thể không nhắc tớicuộc tranh luận nghệ thuật 1935 – thiện – mỹ 1939 Đầu tháng 8 năm 1935, Hải Triều viết

một bài trên Tiểu thuyết thứ bảy (số 62) có nhan đề: Kép T Bền – thiện – mỹ một tác phẩm thuộc về cái triều lu Nghệ thuật vị dân sinh ở n“ ” ớc ta Bài viết nhằm khen ngợi tập truyện ngắn Kép T Bền của nhà văn Nguyễn Công Hoan là cuốn truyện vị nhân sinh Ngay sau đó, ngày 13/8/1935, trên báo Tràng An (số 48) xuất hiện bài viết của Hoài Thanh: Văn chơng là văn chơng bẻ lại quan điểm của Hải Triều Tiếp đó, Hải Triều lên tiếng trên tờ Tin văn, rồi Hoài Thanh đáp lại một bài nữa trên Tràng An (số 62), mở đầu cho đợt hai cuộc tranh luận: “ Nghệ thuật vị nghệ

thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh”

Quan điểm của Hoài Thanh trong cuộc tranh luận này nằm ở luận điểm

“văn chơng là văn chơng”: “ Ngời ta cũng có thể đứng về phơng diện xã hội đểphê bình một văn phẩm, cũng nh ngời ta có thể phê bình về phơng diện triết lý,tôn giáo, đạo đức,v v Nhng có một điều không nên quên là bao nhiêu phơngdiện ấy đều là phơng diện phụ Văn chơng muốn gì thì gì, trớc hết phải là vănchơng đã” [12,28] Chính bởi luận điểm này, Hoài Thanh đã đợc (hay bị) coi làchủ soái của phái nghệ thuật vị nghệ thuật

Nhng trong khi ngời ta đặt ông vào vị trí ấy thì Hoài Thanh lại phủ nhận

Trong bài viết Chung quanh cuộc biện luận về nghệ thuật: Một lời vu cáo đê hèn (Tràng An, số 80, ra ngày 3/12/1935), ông viết: “Tôi chỉ tóm tắt một câu: tôi

không chủ trơng thuyết “ nghệ thuật vị nghệ thuật” [16,89]

Vậy tại sao Hoài Thanh lại phủ nhận? Điều này chứng tỏ trong quan niệmcủa Hoài Thanh, luận điểm “ văn chơng là văn chơng” mà ông đa ra khác vớithuyết nghệ thuật vị nghệ thuật Ông viết : “Một cái đầu đề của tôi: văn chơng làvăn chơng với mấy chữ: nghệ thuật vị nghệ thuật đã khác xa rồi mà họ khôngthấy” [16,192]

Trang 11

Theo Hoài Thanh, văn chơng trớc hết phải là một phạm trù mỹ học Ôngcho rằng chất văn chơng chính là yếu tố đầu tiên, quan trọng bậc nhất để phânbiệt nó với những hình thức nghệ thuật khác Theo ông, ngời ta tiếp xúc với tácphẩm văn học trớc tiên vì nó có tính nghệ thuật: “Ta nên nhớ rằng cầm bút chaphải là viết văn Văn chơng là vật quý có đâu đợc nhiều thế” [9,223].

Vậy quan điểm này của Hoài Thanh đúng sai nh thế nào? Trớc hết, xét từnguồn gốc xuất phát quan điểm, Hoài Thanh cha bao giờ nhận mình thuộc trờngphái nghệ thuật vị nghệ thuật Điều đó chứng tỏ ông ý thức khá rõ ràng nhữnghạn chế của trờng phái này Luận điểm “văn chơng là văn chơng” thể hiện quan

điểm của riêng ông Ông viết : “Có điều chắc chắc là trong khi thởng thức mộttác phẩm của nghệ thuật, lẽ cố nhiên phải để nghệ thuật lên trên hết, lẽ cố nhiênphải chú ý đến cái đẹp trớc khi chú ý đến những tính cách phụ, những hình thứctạm thời của nó” [16,86] Hạn chế trong quan điểm của Hoài Thanh là tách biệt,thậm chí đối lập văn chơng với chính trị, đạo đức, tôn giáo Ông quá đề cao yếu

tố “văn” của tác phẩm nghệ thuật, cho rằng văn chơng là văn chơng thì cũng đã

có ích cho đời Và hạn chế ấy khiến ngời ta gọi ông là ngời của phái nghệ thuật

vị nghệ thuật

Nhng căn cứ vào những bài viết khác, đặc biệt là cuốn Văn chơng và hành

động, cũng nh lời phủ nhận “tôi không chủ trơng thuyết nghệ thuật vị nghệ

thuật” của Hoài Thanh, chúng ta có thể đi tìm và lý giải những vấn đề tích cựctrong luận điểm văn chơng của ông Với luận điểm đó, Hoài Thanh thực ra đã

đặt một yêu cầu cao đối với nghệ thuật Muốn phục vụ cho đời sống thì nghệthuật trớc hết phải chăm lo cho nghệ thuật, tức là phải hay, phải đẹp đã Ngời

đọc đến với văn chơng trớc hết vì nó hay, nó đẹp

Vậy sự khác nhau mấu chốt giữa quan điểm “ văn chơng là văn chơng” củaHoài Thanh và thuyết nghệ thuật vị nghệ thuật là : Trong khi thuyết nghệ thuật vịnghệ thuật loại bỏ yêu cầu phục vụ đời sống thì Hoài Thanh không hề chủ trơng

nh vậy Ông vẫn ý thức rõ rằng: “Nói cho cùng nghệ thuật nào mà chẳng vị nhânsinh, không vì cái sinh hoạt vật chất thì cũng vì sinh hoạt tinh thần của ngời ta”[16,185]

Nh vậy, mặc dầu trong một thời gian khá dài chịu tiếng là ngời của pháinghệ thuật vị nghệ thuật, nhng ngày nay Hoài Thanh đã đợc chứng minh là “conngời vị nhân sinh” (Vũ Quần Phơng) [16,184] Quan điểm “ văn chơng là văn

Trang 12

chơng” mặc dù còn phiến diện và cực đoan, song nó đã đóng góp vào kho tàng lýluận những vấn đề sâu sắc.

Qua cuộc tranh luận nghệ thuật 1935 – thiện – mỹ 1939, chúng ta phần nào hiểu rõcon ngời và quan điểm học thuật của Hoài Thanh Đặc biệt, chúng ta hiểu ông rõ

hơn qua cuốn Văn chơng và hành động.

Cuốn Văn chơng và hành động do Hoài Thanh và những ngời cùng quan

điểm với ông (Lu Trọng L và Lê Tràng Kiều) biên soạn Tuy nhiên, cuốn sáchkhông thể đến tay bạn đọc vì chính quyền thực dân Pháp đã thu hồi ngay khi nóvừa đợc in xong Nó chỉ mới đợc trở lại với bạn đọc sau hơn 60 năm nhờ công su

tầm của Nguyễn Ngọc Thiện trong cuốn Hoài Thanh – thiện – mỹ Bình luận văn ch ơng

(NXB Giáo dục – thiện – mỹ 1998) ở quyển sách này, chúng ta sẽ đợc thấy những t tởngtiến bộ về văn chơng của Hoài Thanh, làm căn cứ cho kết luận ông không phải làngời theo phái nghệ thuật vị nghệ thuật

Ngay tên cuốn sách đã gây dị ứng với chính quyền thực dân Bản thân nó

đ-ợc viết bởi một ngời từng “ đội nón lá, đi chân đất Hai lần bị bắt và bị trục xuất

ra khỏi Bắc kì vì tham gia Tân Việt và viết báo tiến bộ” [9,222] Trớc khi viết

Văn chơng và hành động, Hoài Thanh đã từng nhận thức về ngời văn sỹ theo ông

là: “phải từng sống cuộc đời bình dân, phải từng biết những ngày nắng nh thiêu

nh đốt, còng lng cấy mạ dới ruộng bùn, những đêm lạnh nằm run trong góc chợ,

những khi không cơm ăn, không áo mặc, khi trốn nợ, khi ngồi tù ” (Văn bình dân) [16,121] Quan niệm này cũng giống nh yêu cầu mà Nam Cao đặt ra đối

với nhà văn sau này: “ Cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những

vang động của đời” Giờ đây, trong Văn chơng và hành động, Hoài Thanh còn

nhận thức một cách sâu sắc và thấm thía: “ Là một ngời Việt Nam ở thời bây giờtrên vai ta mang nặng những trách nhiệm không thể từ chối đợc ( ) Trớc tìnhhình nh vậy, vòng tay đứng nhìn là tội ác Nhất là với những ngời có học, nghĩa

là những ngời đã chịu cái ơn nuôi dạy của xã hội” [16,195] Từ đó ông kêu gọi: “Chúng tôi nhận rằng trớc tình thế ngày nay cần phải hành động Chúng tôi nhậnrằng nhà văn cũng phải hành động nh mọi ngời: hành động bằng việc làm vàhành động bằng ngòi bút” Tất cả đó là hạt nhân của một quan điểm tiến bộ,biện chứng Quan điểm nói trên thể hiện rõ Hoài Thanh “tuy cha phải nhà văncách mạng hoạt động trớc Cách mạng tháng Tám 1945, nhng ông đã có nhữngquan điểm văn học cách mạng, thể hiện rõ tinh thần yêu nớc và chủ nghĩa dântộc chân chính” nh nhận xét của Giáo s Thành Duy [16,197]

Trang 13

Nh vậy, thời điểm trớc Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã có nhiều bài

viết thể hiện quan điểm về nghệ thuật, về văn chơng khá sâu sắc Mặc dù vẫncòn nhiều điểm gây bàn cãi, tranh luận, nhng nhìn nhận khách quan và toàn diện

sẽ thấy quan điểm của ông có nhiều tiến bộ, bộc lộ tâm huyết của một ngời cầmbút tuy tuổi đời còn trẻ nhng đầy nhiệt tình và trăn trở với văn chơng

Tiếc thay, việc tìm ra cuốn Văn chơng và hành động cũng nh việc nhìn

nhận quan điểm tiến bộ của Hoài Thanh thể hiện trong cuốn sách này đợc tiếnhành quá muộn vì điều kiện khách quan của lịch sử Do đó, trong một thời giankhá dài, ngời ta vẫn mặc nhiên kết luận Hoài Thanh là ngời chủ trơng nghệ thuật

vị nghệ thuật Và kết luận ấy đã tạo trong lòng ông mối mặc cảm sâu sắc và daidẳng, chi phối nhiều đến những bài viết sau này của ông

1.2 Thi nhân Việt Nam – thiện – mỹ Một kiệt tác phê bình thơ

Đối với cuộc đời của một ngời cầm bút, hạnh phúc lớn nhất là đứa con tinhthần của mình đợc ngời đọc đón nhận và trân trọng Hoài Thanh là một số ít ngời

cầm bút có đợc hạnh phúc ấy, với đứa con tinh thần là Thi nhân Việt Nam.

Những năm ba mơi của thế kỷ trớc, một phong trào thơ ca bừng nở trên đấtnớc Việt Nam Phong trào ấy khác, khác hẳn những lối thơ trớc nó cả về nộidung và hình thức biểu đạt Ngời ta đặt tên cho phong trào ấy là Thơ mới

Ngay thời điểm ngời ta còn bỡ ngỡ trớc sự mạnh mẽ nh gió cuốn và rực rỡ

nh một vờn hoa của Thơ mới thì Hoài Thanh và Hoài Chân đã kịp nhận ra giá trịcủa phong trào Sự kết hợp tài năng, tâm huyết đến độ nhuần nhuyễn của hai anh

em họ đã cho ra đời cuốn Thi nhân Việt Nam, đợc đánh giá là kiệt tác phê bình

văn học

Thi nhân Việt Nam là tuyển tập Thơ mới đầu tiên có ý nghĩa tổng kết sâu

sắc phong trào này Nghiên cứu phong trào Thơ mới không thể không tham khảo

Thi nhân Việt Nam vì nó có giá trị giới thiệu, đánh giá, cổ vũ và đấu tranh cho sự

phát triển của Thơ mới Điều đáng khâm phục ở Hoài Thanh là với những đánhgiá, nhận định phê bình của mình, ông đã tạo ra một “con đờng” Hầu hết cácnhà phê bình văn học sau này và cả chúng ta đều bớc trên con đờng ấy để đến

với phong trào Thơ mới Nói một cách khác, nhiều đánh giá, nhận định trong Thi nhân Việt Nam đợc xem là kim chỉ nam về nội dung và mẫu mực về hình thức

nghệ thuật của văn phê bình

Ngời ta nói Hoài Thanh gặp phong trào Thơ mới nh gặp một mối tình quảkhông sai, vì sự gặp gỡ ấy đã làm dấy lên một tình yêu say đắm, một sự thấu

Trang 14

hiểu sâu sắc đến mức đồng điệu ở cuốn Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã thể

hiện tình yêu nồng nhiệt ấy trong sự thăng hoa của cảm xúc, đồng thời là kết quảcủa một tinh thần làm việc hết mình Hoài Thanh giống nh một ngời đãi cát tìmvàng, đã sàng lọc trong cả vạn bài thơ để giới thiệu với bạn đọc chỉ hơn một trămnăm mơi bài thơ hay

Một trong những giá trị to lớn của Thi nhân Việt Nam nằm ở khảo luận Một thời đại trong thi ca Tiến sỹ Trần Hạnh Mai đánh giá đây là bản “ tổng kết

phong trào Thơ mới một cách đầy đủ, chính xác và ngắn gọn” [12,114] Trớchết, Hoài Thanh nhìn nhận rõ nhu cầu đổi mới thơ ca trong lúc bấy giờ là đúng

đắn và cần thiết: “ Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy.Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kínnhiệm – thiện – mỹ u uất, cái khát vọng đợc thành thực” [22,17]

Bài khảo luận là bản tổng kết đầy đủ khi tác giả có một cái nhìn khá toàndiện về sự phát triển của phong trào Thơ mới Hoài Thanh đã chăm chú dõi theotừng bớc đi từ lúc còn chập chững đến khi trởng thành, từ ngày ra đời đến khiphát triển rực rỡ của phong trào này Còn sự chính xác của bài khảo luận đợc thểhiện đến cả chi tiết thời gian: “Nhng một ngày kia cuộc cách mệnh về thi ca đãnhóm dậy, ngày ấy là ngày 10-3-1932”[22,19] Từ đây, tác giả cuốn sách táihiện một cách rõ ràng và sinh động cuộc đấu tranh giữa thơ cũ và Thơ mới, cuốicùng đi tới kết luận về sự thắng thế của phong trào Thơ mới Hoài Thanh chỉ ra

sự khác biệt giữa thơ cũ và Thơ mới, và đó cũng là nguyên nhân dẫn đến sự toànthắng của Thơ mới - đó chính là nội dung cái tôi cá nhân: “Cứ đại thể thì tất cảtinh thần thời xa – thiện – mỹ hay thơ cũ – thiện – mỹ và thời nay – thiện – mỹ hay thơ mới – thiện – mỹ có thể gồm lạitrong hai chữ tôi và ta Ngày trớc là thời chữ ta bây giờ là thời chữ tôi” [22,45].Chính cái tôi cá nhân của những nhà thi sỹ ấy làm nên một thời đại trong thơ ca,một thời đại mà Hoài Thanh phải kêu lên: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi caViệt Nam cha bao giờ có một thời đại phong phú nh thời đại này” [22,9]

Hoài Thanh gọi cái công việc tuyển chọn và phê bình của mình là việc làmtheo ý thích cá nhân: “ Âu là tôi chỉ chiều tôi vậy” [22,372] Nhng thực sự đó làmột ý thích có tính “chuẩn mực” Những đánh giá, nhận định của Hoài Thanh vềphong trào Thơ mới nói chung cũng nh các tác giả nói riêng đều chính xác cho

đến ngày nay Cái tài của Hoài Thanh là nhận diện ra phong cách của từng ng ời:

“Một hồn thơ rộng mở nh Thế Lữ, mơ màng nh Lu Trọng L, hùng tráng nh HuyThông, trong sáng nh Nguyễn Nhợc Pháp, ảo não nh Huy Cận, quê mùa nh

Trang 15

Nguyễn Bính, kỳ dị nh Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn nh XuânDiệu”[22,29] Bên cạnh bàn về thơ, Hoài Thanh còn gửi gắm vào đó tâm trạngtrớc thời cuộc, vừa âu lo vừa hy vọng mà từ đó chúng ta thấy toát lên một tinhthần yêu nớc sâu kín nhng nồng nàn: “Phơng Tây đã trao trả hồn ta lại cho ta.Nhng ta bàng hoàng vì nhìn vào đó ta thấy thiếu một điều, một điều cần hơntrăm nghìn điều khác: một lòng tin đầy đủ ( )Nhng do đó, trong thất vọng sẽnẩy mầm hy vọng” [22,47].

Tóm lại, khảo luận Một thời đại trong thi ca là một bản tổng kết vừa mới

mẻ, vừa súc tích về một phong trào thơ rực rỡ những năm ba mơi của thế kỷ XX

Thi nhân Việt Nam có một vai trò quan trọng trong sự nghiệp phê bình của Hoài Thanh Trong Lời kết thúc cuộc hội thảo Hoài Thanh – thiện – mỹ cuộc đời và sự nghiệp nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh nhà văn Hoài Thanh (1909 – thiện – mỹ 1999), nhà nghiên cứu Từ Sơn viết: “ Năm 1992, nhân kỷ niệm 50 năm Thi nhân Việt Nam

ra đời và 10 năm ngày mất của Hoài Thanh, một cuộc hội thảo khoa học về Hoài

Thanh và Thi nhân Việt Nam do Hội Nhà văn và Viện Văn học tổ chức đã giúp chúng ta nhìn nhận và khẳng định những giá trị đích thực của Thi nhân Việt Nam – thiện – mỹ một tác phẩm đợc công chúng và thời gian xếp vào hàng tác phẩm xuất

sắc của văn học hiện đại Việt Nam thế kỷ XX và tác giả của nó đợc công nhận

là một nhà phê bình văn học tài hoa xuất chúng” [16,260]

Qua Thi nhân Việt Nam, chúng ta đã nhận diện đợc sở trờng cũng nh phong

cách phê bình văn học của Hoài Thanh Quan tâm chung đến văn chơng, nhng sởtrờng của ông là phê bình thơ Khả năng rung động và thẩm thấu trớc thơ ca củaHoài Thanh giống nh một khả năng trời phú Đồng thời ông tạo cho mình mộtlối phê bình riêng, lối phê bình trực cảm, theo cách gọi của nhiều ngời trong giớihiện nay

ở Việt Nam, phê bình văn học trực cảm đã có nguồn gốc từ lâu, trong phêbình văn học truyền thống phơng Đông Đến giai đoạn 1930 – thiện – mỹ 1945, nó đợc kếthừa và sau đó phát triển thêm bằng phơng pháp phê bình văn học trực cảm ph-

ơng Tây Khởi điểm chung của những nhà phê bình văn học trực cảm là đến vớivăn chơng nh một sự chia sẻ mang tính đồng điệu Đặc điểm nổi bật ở những tácphẩm tiêu biểu của phơng pháp phê bình văn học này là tính mơ hồ (vì khôngmấy khi chứng minh) nhng rất có sức thuyết phục Tính thuyết phục đợc tạo nênbởi một văn phong đẹp, mợt mà, giàu cảm xúc, dễ dàng tác động đến tình cảm,

cảm nhận của ngời đọc Điều này ta dễ dàng bắt gặp trong Thi nhân Việt Nam.

Trang 16

Đối với các nhà phê bình trực cảm, trực giác là một khả năng hết sức quan

trọng Đỗ Lai Thuý nhận xét: “ở Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã hiển lộ một trực giác nghệ thuật tuyệt vời” [28,19] Trong mục Nhỏ to Hoài Thanh viết:

“Dầu vui, dầu buồn, tôi muốn sống cái đời bây giờ đã Có những bài thơ tôi say

mê mà ngời sau sẽ thấy không có gì Thì mặc họ chứ Nói gì ngời sau Chính tôingày mai đây biết có còn rung động vì tất cả những bài thơ hôm nay tôi trích?”[22,373] Để chiều cái sở thích của riêng mình, Hoài Thanh đi tìm những bài thơhay theo nhận thức, quan niệm của ông Và dờng nh trong quá trình ấy, ông luôn

ý thức bình chứ không phải phê: “Bình thì cũng còn đợc Nhng phê? Sao lạiphê?” [22,377] Cho nên đọc văn phê bình của ông mà thấy cả ý, tình, hình vànhạc " Hoài Thanh làm phê bình mà cứ nh làm thơ, đúng hơn, phát biểu những

ấn tợng thơ” (Đỗ Lai Thuý ) [28,19]

Ví dụ một đoạn viết về Huy Cận: “Huy Cận đi lợm lặt những chút buồn rơirác để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não Ngời đời sẽ ngạc nhiên vì khôngngờ với một ít cát bụi tầm thờng thi nhân lại có thể đúc thành bao nhiêu châungọc Ai có ngờ những bớc chân đã tan trên đờng kia còn ghi lại trong văn thơnhững dấu tích hẳn không bao giờ tan đợc?

Thôi đã tan rồi vạn gót hơng Của ngời đẹp tới tự trăm phơng Tan rồi những bớc không hò hẹn

Đã bớc trùng nhau một ngả đờng”[22,126].

Đoạn văn đã dẫn dắt ngời đọc bằng một thứ “ngôn ngữ tinh tế, giàu cảmxúc, hình ảnh, nhịp điệu – thiện – mỹ thứ ngôn ngữ mà các nhà dân tộc chí th ờng dùng đểnắm bắt cái tâm hồn bàng bạc của thổ dân mỗi khi ngôn ngữ khoa học bất lực”(Đỗ Lai Thuý) [28,19]

Mặc dù trực giác đóng vai trò chính nhng không vì thế mà phê bình của

Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam lại mang tính cảm tính Nó vẫn bảo đảm

tính lý luận và có ít nhiều đóng góp mà lý luận phê bình Mácxít ngày nay có thể

kế thừa Ví dụ nh việc tuyển chọn thơ Hoài Thanh chỉ chọn những bài mìnhthích, nhng đó là một cái thích có cơ sở, trở thành nhãn quan cho ngời đọc LạiNguyên Ân nhận xét: “Hầu nh chúng ta chỉ đọc đợc Thơ mới (1932 – thiện – mỹ 1945)

trong những nguồn mà Hoài Thanh (ở Thi nhân Việt Nam) đã đọc”[12,120] Quả

là Hoài Thanh đã có con mắt “tinh đời”, thẩm thấu tác phẩm sâu sắc và có nhữngphát hiện mới mẻ , chính xác

Trang 17

Nói tóm lại, Thi nhân Việt Nam là một cuốn phê bình thơ có giá trị Cuốn

sách thể hiện năng lực mẫn tuệ của Hoài Thanh trong việc khám phá, phát hiệntầm vóc Thơ mới, nhận chân giá trị Thơ mới và đóng góp của phong trào nàytrong tiến trình thơ ca của dân tộc Ông đã theo dõi quá trình phát triển, tiên

đoán tiền đồ, bế tắc và chỉ ra lối thoát cho nó, đồng thời thẩm định, đánh giá chấtlợng các sáng tác của phong trào.Với cuốn sách này, Hoài Thanh đã có công tônvinh phong trào Thơ mới, xây đắp cho phong trào này một tợng đài sừng sữngvới thời gian, nh đánh giá của Giáo s Nguyễn Văn Hạnh: ”Sau Hoài Thanh cho

đến nay ở ta cũng cha có nhà nghiên cứu phê bình nào hoàn thành đợc một côngtrình nghiên cứu có phạm vi bao quát rộng lớn và có chiều sâu nh ông đã làm.Ngời ta gọi đó là một công trình thế kỷ cũng có cái lẽ của nó”[16,221-222].Cuốn sách cũng bộc lộ khả năng nhận diện phong cách các nhà thơ, cho ngời

đọc một cái nhìn đa diện về thi nhân Việt Nam giai đoạn này Cuốn sách là kếttinh tài hoa tâm huyết của tác giả, đóng góp đáng kể về một lối phê bình

Suốt chặng đờng từ khi cầm bút đến trớc Cách mạng tháng Tám, HoàiThanh đã cống hiến cho nền phê bình văn học Việt Nam những giá trị đáng quý.Tên tuổi Hoài Thanh ngay trong thời kỳ này đã gây một ấn tợng mạnh mẽ qua

cuộc tranh luận nghệ thuật 1935 – thiện – mỹ 1939, và nhất là tác phẩm Thi nhân Việt Nam Chặng đờng cầm bút này của Hoài Thanh có nhiều liên quan đến những

giai đoạn sau, xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủquan Lịch sử lý luận phê bình một thời gian dài gọi ông là chủ soái của pháinghệ thuật vị nghệ thuật, và bản thân ông tuy không công nhận nhng vẫn mangmặc cảm ấy Vì vậy nghiên cứu về Hoài Thanh sau 1945 không thể không tìmhiểu về ông trớc Cách mạng Tuy nhiên chúng ta và những thế hệ sau sẽ khôngbao giờ phủ nhận những đóng góp của Hoài Thanh giai đoạn trớc 1945, đặc biệt

là cuốn Thi nhân Việt Nam

Cũng với cuốn sách này, Hoài Thanh đã góp phần làm đa dạng diện mạophê bình văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến trớc 1945 Bên cạnh nhữngkhuynh hớng phê bình nh phê bình khảo cứu khoa học, phê bình Mácxít, phêbình xã hội học dung tục, phê bình quảng cáo có khuynh hớng phê bình trựccảm, nghệ sỹ mà Hoài Thanh là tên tuổi tiêu biểu Ưu điểm của khuynh hớngnày là một lối viết giàu cảm xúc, hình ảnh, xuất phát từ tình cảm yêu văn chơngrất chân thành Tuy nhiên đó cũng là một lối viết theo sở thích cá nhân, tuỳ hứngphóng bút một cách tự do chủ nghĩa, nặng về hình thức ở Hoài Thanh giai đoạn

Trang 18

trớc 1945, nhất là trong Thi nhân Việt Nam bộc lộ đầy đủ cả những u điểm và

nhợc điểm đó Những nhợc điểm của phê bình Hoài Thanh cũng là những tồn tại

điển hình của phê bình văn học trớc Cách mạng tháng Tám, cần có sự định hớng

để phát triển Nhng nhìn chung, Hoài Thanh là đại diện xuất sắc và tiêu biểu củaphê bình văn học giai đoạn này Chúng ta phải cảm ơn vì những đóng góp to lớncủa ông

2 Hoài Thanh với công việc phê bình thơ kháng chiến 1945 – thiện – mỹ1954.

2.1 Hoài Thanh với sự chuyển mình của dân tộc.

Một trong những sự kiện lịch sử vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam là Cáchmạng tháng Tám 1945 Có thể nói cha bao giờ trớc đó trong lịch sử Việt Nam cómột sự kiện làm thay đổi xã hội nhiều đến thế, ở tầm vóc lớn lao nh thế Hìnhthái ý thức xã hội, cuộc sống, con ngời trớc và sau sự kiện ấy hoàn toàn khác,khác hẳn, đặc biệt là vấn đề t tởng Nguyễn Huy Tởng gọi đó là “một cuộc hồisinh vĩ đại” [1,926]

Trong cuộc hồi sinh ấy, văn học nói chung và phê bình văn học nói riêngcũng chuyển mình thay đổi Nếu trớc Cách mạng tháng Tám tình hình phê bìnhvăn học còn phát triển tự phát và lộn xộn, với nhiều khuynh hớng khác nhau, thìgiờ đây, “đứng giữa hiện thực lớn của đời sống nhân dân, đi giữa dòng thác lớncủa phong trào cách mạng” ( Nguyễn Đăng Mạnh) [13,11] và đợc sự định hớngcủa Đảng, những ngời làm công tác phê bình đã dần ý thức đợc vai trò và nhiệm

vụ của mình

Những năm đầu sau Cách mạng là những năm văn học chuyển mình Cácvăn nghệ sỹ từng sáng tác trớc Cách mạng nhng không phải thuộc dòng văn họcCách mạng đã có sự chuyển đổi về t tởng “quay về một hớng đi theo cách mạng”(Mã Giang Lân) [7,14] Câu thơ của Tế Hanh nói rõ tình hình ấy:

Sang bờ t tởng ta lìa ta Một tiếng gà lên tiễn nguyệt tà.

Trớc những đổi thay lớn lao của xã hội, các văn nghệ sỹ tự nhận thấy mìnhphải đóng góp một phần nhỏ bé nào đó Nam Cao tự đặt cho mình trách nhiệm

“sống đã rồi hãy viết” vì “cả dân tộc đã dồn cả vào một con đờng: ấy là con đờng

ra mặt trận, con đờng cứu nớc” ( Đờng vô Nam) [ 1,425] Nguyễn Tuân cũng hăng hái trên những nẻo đờng kháng chiến (Tình chiến dịch) Huy Cận, Xuân

Trang 19

Diệu, Chế Lan Viên đều có những đổi thay quan trọng từ con ngời năm xasang con ngời hôm nay.

Trên lĩnh vực phê bình văn học, Hoài Thanh là gơng mặt tiêu biểu cho sựchuyển mình của phê bình văn học trớc Cách mạng, và đó là một sự thay đổi

mau lẹ Ngay trong năm 1945, Hoài Thanh đã có bài bút ký Dân khí miền Trung,

trong đó viết: “ Thực đẹp đẽ vô cùng cái quang cảnh cả một dân tộc vơn mình

đến ánh sáng ( ) tôi cảm thấy khắp nơi ở chung quanh tôi và trong lòng tôi mộtcuộc tái sinh mầu nhiệm Đoàn thể đã tái tạo chúng tôi và trong bầu không khímới của giang sơn, chúng tôi, những nạn nhân của thời đại chữ “tôi” hay muốngọi là tội nhân cũng đợc – thiện – mỹ chúng tôi thấy rằng đời sống riêng của cá nhân

không có nghĩa gì trong đời sống bao la của đoàn thể”(Tạp chí Tiên phong, số

03, ra ngày 16/12/1945) [1,107] Rõ ràng Hoài Thanh đã ý thức đợc vị trí của cá

nhân ngời cầm bút trong biển lớn của đời sống dân tộc, đời sống cách mạng.Phải nói đây là một sự thay đổi mau chóng và tích cực mà không phải ngời cầmbút nào cũng có ngay đợc sau một biến đổi lớn lao của đất nớc Nhng đây khôngchỉ là nhận thức thuộc về cá nhân Hoài Thanh, mà với t cách một nhà phê bình, ýthức này rõ ràng có tác động tốt đến những ngời sáng tác trong bối cảnh cònnhận đờng để đi

Cùng với ý thức ấy, trong giai đoạn 1945 – thiện – mỹ 1954, Hoài Thanh đã có nhữngbài viết quan trọng Ông đã nhiệt tình cổ vũ nền văn nghệ mới bằng việc khẳng

định kịp thời: Có một nền văn hoá Việt Nam ( 1946) Trong bài viết này ông đi

tìm và khẳng định những nét đặc sắc của văn hoá Việt Nam nh nặng về tình,không thiên về lợng và nhìn văn hoá Việt Nam trong tơng lai với niềm tin sánglạng Hoài Thanh còn bày tỏ sự thay đổi quan điểm phê bình văn học theo định

hớng mới một cách kín đáo bằng công trình nghiên cứu về Truyện Kiều: Quyền sống của con ngời trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (1949) Mặc dù đề tài phê

bình thuộc về chuyện xa nhng những gì Hoài Thanh trăn trở thì lại nóng hổi tínhthời sự: “ở một nơi nào đó trong tâm trí chúng ta ít nhiều Nguyễn Du vẫn cònsống Phê bình Nguyễn Du tức là chúng ta gián tiếp phê bình chúng ta vậy”[24,42] Quán triệt tinh thần ấy nên song song với việc phân tích vấn đề quyềnsống con ngời trong tác phẩm Truyện Kiều, Hoài Thanh luôn đặt ra những vấn

đề của cuộc sống hiện tại: “Làm thế nào để thực hiện lòng khao khát đợc sốngNguyễn Du đã gửi vào trong hai nhân vật Thuý Kiều và Từ Hải? Đồng thời làmthế nào để tránh cái luẩn quẩn, cái không dứt khoát của Nguyễn Du để có thể

Trang 20

mình hoàn toàn thành thực với mình? Vấn đề đối với thế hệ chúng ta là thế Vấn

đề ấy, thực ra chúng ta, những ngời Việt Nam kháng chiến, chúng ta vẫn đơnggiải quyết trong sự cố gắng hàng ngày của chúng ta” [24,73]

Nh vậy, trở lại nghiên cứu Truyện Kiều khi đã đi với Cách mạng, Hoài

Thanh thực ra muốn kiểm điểm lại quan điểm nghệ thuật cũ của mình, và muốnkhẳng định sự u việt của chế độ mới có thể đem lại quyền sống thật sự cho conngời Chính vì thế bài viết đã tạo cho mọi ngời một niềm tin vào hiện tại và tơnglai Những bài viết kiểu nh thế này đợc Giáo trình Đại học s phạm xem là mộtkiểu phê bình văn học: “ Viết về văn học quá khứ theo quan điểm đọc sách chongời hôm nay, phát hiện trong tác phẩm quá khứ những khía cạnh mới mẻ cótính thời sự đối với đời sống hiện đại, giúp bồi dỡng và kích thích sáng tác vàphê bình văn học hiện đại” [13,172]

Cũng năm 1949, Hoài Thanh còn có một số bài viết nữa nh Nhân văn Việt Nam, Xây dựng văn hoá nhân dân Những bài viết này đều thể hiện mối quan

tâm của ông đối với nền văn hoá dân tộc trong bối cảnh lịch sử mới

Nói tóm lại, điểm chung mà những bài viết trong giai đoạn 1945 – thiện – mỹ 1949của Hoài Thanh toát lên là sự thay đổi về t tởng của ngời cầm bút phù hợp với sựchuyển mình của dân tộc Sự thay đổi này chi phối đến nội dung t tởng tác phẩm,

đến những vấn đề mà tác giả đề cập Nếu trớc đây Hoài Thanh chủ yếu quan tâm

đến văn chơng, thậm chí biệt lập nó thì nay ông đã gắn văn chơng với sự nghiệpcách mạng của dân tộc, sự nghiệp kháng chiến của toàn dân Ông không quênquá khứ: “Nhiệm vụ chúng ta là phải biết khai thác nguồn xa để lấy sức đi tới”

(Nhân văn Việt Nam) [24,151] Ông cũng ý thức rõ vai trò của văn nghệ sỹ: “Rũ

cho sạch đợc những lối nhìn, lối nghĩ, lối cảm trong bao nhiêu năm đã in nếp vào

tâm trí, để thay đổi hẳn con ngời đi” (Xây dựng văn hoá nhân dân) [24,197].

Một điều đáng ghi nhận trong những bài viết này là Hoài Thanh luôn trànngập một niềm tin Có lẽ nhờ cuộc Cách mạng tháng Tám, nhờ không khí Cáchmạng, kháng chiến và xây dựng của nhân dân, một luồng gió t tởng tiến bộ và tơimới đã làm mát những trang viết của Hoài Thanh Ta bắt gặp trong đó niềm vui

có cơ sở vững chắc – thiện – mỹ một niềm vui không thấy trong những tác phẩm của ôngtrớc Cách mạng Ông đã tin tởng: “Một ngày mai xán lạn đơng chờ đợi chúng

ta”(Có một nền văn hoá Việt nam) [24,38].

Trang 21

Chính vì niềm tin vào thời đại mới, xã hội mới và con ngời mới ấy, HoàiThanh đã có những bài viết mới cả về nội dung và hình thức Nhà phê bình đãthực sự chuyển mình cùng với sự chuyển mình của dân tộc Đó là một sự thay

đổi tích cực, nhanh chóng, xuất phát từ một tấm lòng thành thực cả trên t cáchmột công dân và t cách một nhà văn Vì thế, Hoài Thanh đã góp phần mình vàoviệc thực hiện nhiệm vụ của lý luận phê bình đặt ra trong giai đoạn nhận đờnglần thứ nhất này

2.2 Nói chuyện thơ kháng chiến – thiện – mỹ thành tựu đầu mùa của phê bình thơ Cách mạng

Dù trong cuộc đời cầm bút của mình, Hoài Thanh không từng làm thơ nhng

ông có duyên với thơ ca, bởi điểm mạnh của Hoài Thanh là phê bình thơ Giáo s

Nguyễn Văn Hạnh trong bài Thi nhân Việt Nam và phơng pháp tiếp cận văn

ch-ơng đã kết luận: “Sở trờng của ông là phê bình thơ chứ không phải phê bình văn”

[16,222] Trớc Cách mạng tháng Tám, Hoài Thanh cũng viết nhiều nhng cuốn

phê bình đáng giá nhất là Thi nhân Việt Nam Đó là một cuốn phê bình thơ Đến

giai đoạn kháng chiến 1945 – thiện – mỹ 1954, đóng góp tiêu biểu cho phê bình văn học

của Hoài Thanh là Nói chuyện thơ kháng chiến và đó cũng là một cuốn phê bình

nh tâm huyết của Hoài Thanh đối với nền thơ kháng chiến của dân tộc

Nhắc đến văn học giai đoạn 1945 – thiện – mỹ 1954, nhất là khi nói đến nền lý luận

phê bình, các nhà nghiên cứu không bao giờ bỏ quên Nói chuyện thơ kháng chiến của Hoài Thanh Trong cuốn Năm mơi năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám, Tiến sỹ Trần Hạnh Mai nhận xét: “ Có thể nói, phải đến Nói chuyện thơ kháng chiến (1951), một chặng đờng mới trong sự nghiệp phê bình

văn học của Hoài Thanh mới thực sự bắt đầu, gắn liền với việc khẳng định nhữngthành tựu đầu tiên của thơ ca cách mạng” [15,107] Trong cuộc hội thảo khoahọc về sự nghiệp văn học của Hoài Thanh tại Viện Văn học ngày 13/8/1999,

Trang 22

Giáo s Tiến sỹ Trần Đình Sử đánh giá: “ Với Nói chuyện thơ kháng chiến Hoài

Thanh đã gọi Thơ mới là “ thơ cũ” và khẳng định, cổ vũ một nền Thơ mới cách

mạng” [16,275] Trong bài Hoài Thanh – thiện – mỹ th ởng thức phê bình thơ, Lê Đình Kỵ khẳng định: “ Nói chuyện thơ kháng chiến là bản tổng kết sớm nhất về thơ ca

những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp” [20,79]

Nhìn chung, các ý kiến về Nói chuyện thơ kháng chiến đều thống nhất

đánh giá cuốn phê bình thơ này là một bản tổng kết có giá trị về thơ ca khángchiến 1945 – thiện – mỹ 1954 và đều khẳng định công lao của Hoài Thanh trong việc cổ

vũ, phát triển văn học giai đoạn này Có thể nói cuốn phê bình thơ này là kết quảcủa vụ mùa t duy đầu tiên mà Hoài Thanh gặt hái đợc trong cuộc chuyển mìnhcùng dân tộc

Trớc Cách mạng tháng Tám, Việt Nam đã từng có “ một thời đại trong thica” (Hoài Thanh), đã có những tên tuổi thi nhân sừng sững nh Xuân Diệu, HuyCận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Thế Lữ, cùng với những tác phẩm đợc xếpvào hàng xuất sắc của nền thơ Việt Nhng thời đại thi ca ấy nẩy sinh trong mộtbối cảnh lịch sử nô lệ đau thơng, nên tiếng thơ cất lên ẩn chứa nhiều buồn tủi:

Sầu thu lên vút, song song Với cây hiu quạnh, với lòng quạnh hiu.

Non xanh ngây cả buồn chiều Nhân gian e cũng tiêu điều dới kia.

(Thơ rừng – thiện – mỹ Huy Cận ) [22,137]

Cách mạng tháng Tám thành công đem lại cho nền thơ ca một nguồn mớidồi dào và sôi nổi Thâm Tâm – thiện – mỹ nhà thơ của phong trào Thơ mới, nay có nhữngvẫn thơ yêu đời tơi sáng trớc cuộc sống mới nh sau:

Trái hồng trĩu xuống cây rơm Sáng nay mùa cốm dậy thơm đầy làng Lúa vơn thân hút ánh vàng

Nguồn tơi vồng nở thu sang mát lành

Sống và chứng kiến không khí phấn khởi, lôi cuốn của Cách mạng và thơ

ca, Hoài Thanh muốn góp phần biểu dơng nền văn hoá, văn học mới ấy bằng

cuốn Nói chuyện thơ kháng chiến Bằng cuốn sách này, Hoài Thanh đã “tổng

kết có hệ thống về tình hình thơ ca những năm đầu của cuộc kháng chiến chống

Trang 23

Pháp” [13,180] Tác giả Nói chuyện thơ kháng chiến đã có một cái nhìn khái

quát, có sự dẫn dắt và trình bày vấn đề một cách khá cặn kẽ

Hoài Thanh trong quá trình cầm bút của mình luôn bộc lộ là một ngờiquan tâm thực sự đến thơ ca, bởi vì : “ Từ bao giờ đến bây giờ, từ Homère đếnKinh Thi, đến ca dao Việt Nam , thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt vàquảng đại Nó đã ra đời giữa những vui buồn của loài ngời và nó sẽ kết bạn với

loài ngời cho đến ngày tận thế” [22,38] Nói chuyện thơ kháng chiến cũng là kết

quả của mối quan tâm ấy

Ngay trong phần Đặt vấn đề, Hoài Thanh đã nêu câu hỏi: “ Thế nào là thơhay?” Đây không phải là một câu hỏi mới đối với ông, vì chặng đờng trớc ông

đã phát biểu dới hình thức này hay hình thức khác những ý kiến về thơ hay

Trong mục“ Nhỏ to ” của cuốn Thi nhân Việt Nam ông cho rằng: “ Mỗi bài thơ

hay là một cánh cửa mở cho tôi đi vào một tâm hồn Những tâm hồn không lốivào, những tâm hồn bng bít, thì tôi còn biết gì mà nói ” [22,373] Điều này cónghĩa thơ hay phải là thơ tạo ra mối giao cảm hoà điệu giữa ngời sáng tác và ng-

ời tiếp nhận Nhng bây giờ thơ hay với Hoài Thanh là : “ Trong hoàn cảnh của tabây giờ, nói đợc cảm xúc của ngời dân kháng chiến là hay, và cảm xúc ấy cànggắn liền với quyền lợi thiết thực của nhân dân, càng thúc đẩy đợc hành động

đánh giặc dựng nớc của nhân dân lại càng hay” [24,416]

Nh vậy, quan niệm về thơ của Hoài Thanh đã thay đổi Ngày trớc ông chorằng “văn chơng là văn chơng” Văn chơng vẫn phục vụ cuộc sống nhng trớc hếtvăn chơng phải là văn chơng đã Chính quan niệm đó chi phối đến các bài viếtcủa ông, tạo nên ở ông một phong cách phê bình nặng về hình thức (tuy HoàiThanh không phải là “ hình thức chủ nghĩa” ) Còn ngày nay, văn chơng nóichung và thơ ca nói riêng phải là vũ khí chiến đấu và xây dựng, là sản phẩm songhành và soi chiếu cuộc cách mạng và kháng chiến của dân tộc Và thơ hay phải

là thơ nói đợc cảm xúc thời đại ấy, phải là thơ mà cảm xúc cá nhân gắn liền, hoàquyện với cảm xúc nhân dân ở vào thời điểm lịch sử bấy giờ, đây là một quanniệm thơ tích cực và tiến bộ Chính việc xác định t tởng quán triệt nh vậy đã chiphối đến việc nhìn nhận lại thơ ca trớc Cách mạng và quan điểm phê bình thơkháng chiến của Hoài Thanh

Trớc hết, nhìn nhận lại phong trào thơ ca 1932 – thiện – mỹ 1945 từng đợc gọi làphong trào Thơ mới, nay Hoài Thanh gọi đó là nền “ thơ cũ”, là “loại thơ cũ t sản

Trang 24

và tiểu t sản” [24,207] Nh vậy, ngay từ đầu cuốn phê bình đã bộc lộ sự chuyển

đổi trong cái nhìn của Hoài Thanh Để khẳng định đó là loại thơ t sản và tiểu tsản, ông đi vào phân tích cái buồn của loại thơ này: “ Con ngời trong thơ cũ làcon ngời yếu đuối” và giải thích: “ Yếu đuối là vì nó đã tách cái tôi riêng của nó,hay đúng hơn, cái tôi riêng của giai cấp nó ra ngoài cái ta chung của dân tộc, củanhân loại” [24,209] Chính vì yếu đuối, vì buồn, vì cô đơn, con ngời “thơ cũ” đãtìm đờng đi trốn Từ đỉnh cao, Thơ mới ngày càng rơi vào thoái trào vì nhữngkhuynh hớng thoát ly truỵ lạc Hoài Thanh kết luận: “ Những vần thơ buồn tủi bơvơ ấy là những vần thơ có tội; nó xui ngời ta buông tay cúi đầu, do đó làm yếusức ta, và làm lợi cho giặc” [24,211] Rõ ràng ở đây đã có sự thay đổi gần nhhoàn toàn trong cách nhìn phong trào Thơ mới 1932 – thiện – mỹ 1945 của Hoài Thanh.Trớc Cách mạng ông nhiệt tình ca ngợi, yêu mến nồng nàn bao nhiêu thì bây giờ

ông phủ nhận bấy nhiêu

Cùng với việc xem xét những cái lầm trong “thơ cũ” 1932 – thiện – mỹ 1945, nhàphê bình còn chỉ ra âm mu của quân thù trong vùng giặc chiếm là khuyến khíchnhững khuynh hớng sai lầm đó vào thơ ca: “ Nói chung, thơ xuất bản công khaitrong vùng giặc chiếm đều thế cả Nó cùng một mối lầm với thơ hồi trớc Duy cómột điều, cái lầm bây giờ đây là cái lầm một hai ngời mà ngày trớc là cái lầmcủa cả một lớp ngời” [24,216]

Nh vậy, khi nhìn nhận lại nền thơ ca 1932 – thiện – mỹ 1945, Hoài Thanh lúc này

đứng trên quan điểm lập trờng cách mạng đã gọi đó là “thơ cũ”và đánh giá đó làmột nền thơ làm con ngời yếu đuối, không có lợi cho cách mạng

Tiếp theo, Hoài Thanh phê bình những tồn tại của thơ kháng chiến mà ônggọi là “ những cái rớt trong thơ kháng chiến”: “ Chế độ nô lệ chúng ta có thể đậptan trong năm năm, mời năm, còn những nọc độc nô lệ đã thấm vào đến xơngmáu chúng ta thì có khi đến mấy mơi năm chúng ta mới gột hết Điều ấy có thểthấy rất rõ trong thơ” [24,219] Những cái rớt trong thơ kháng chiến đợc HoàiThanh tổng kết và phân thành: Đạo rớt, mộng rớt, ngắm rớt và nhắm rớt, buồnrớt Đạo rớt theo Hoài Thanh là trong sáng tác thơ kháng chiến còn rớt lạikhuynh hớng trốn về Đạo, về vô cùng, con ngời thích ung dung, thích thảnh thơicủa thơ trớc Cách mạng Mộng rớt, theo ông, là nhà thơ dù đi theo kháng chiếnnhng vẫn cha hoà mình, cha biết gắn bó thơ ca với thực tiễn kháng chiến, cònmơ màng, lãng mạn nh thửa xa Cái mộng rớt ấy không chỉ ở nội dung mà còn ởcách dùng chữ, tức hình thức nghệ thuật

Trang 25

Còn khi phê bình cái buồn rớt, Hoài Thanh viết: “ Cách mạng và khángchiến nh một cơn gió mạnh thổi bạt những mây mù trong bầu trời tinh thần cũ.Nhng cái phần u ám sót lại cũng nhiều Đây đó vẫn có những chút buồn rơi rác”[24,239].Vậy là cái buồn rớt cá nhân lãng mạn, nó làm yếu lòng ngời, kéo ngời

ta xuống trong một nỗi niềm bi luỵ Dĩ nhiên nỗi buồn đó không hề tốt chút nàotrong thời điểm này, hay ít nhất là thời điểm này

Sau khi phân tích những cái cũ còn sót lại trong thơ kháng chiến, HoàiThanh kết luận: “ Nhng nói chung thì đều là buồn cả và bấy nhiêu thứ rớt đềubắt nguồn trong một mối chung tức là trong chủ nghĩa cá nhân, trong cái tôi lẻloi, nhỏ bé của con ngời t sản, tiểu t sản cũ” [24,244] Ông xác định những cáirớt đó không chỉ là bệnh của thơ mà còn là bệnh của ngời, cần phải chữa

Nh vậy, khi làm công việc chỉ ra những cái sót lại của thơ kháng chiến,Hoài Thanh cũng đồng thời đặt ra yêu cầu đối với thơ kháng chiến là phải gạnlọc, thanh toán hết những căn bệnh cũ nhằm phục vụ cách mạng tốt hơn Khi chỉ

ra những cái rơi rớt này của thơ ca kháng chiến, Hoài Thanh đã đứng trên lập tr ờng t tởng cách mạng, đặt mục tiêu phục vụ cách mạng của thơ ca lên trên hết.Tuy nhiên, trong quá trình chỉ ra những bệnh đó, Hoài Thanh cũng không quákhắt khe Ông vẫn lấy mình, vốn là ngời của chế độ cũ ra để hiểu nguyên nhâncủa các bệnh ấy: “ Chúng ta đừng có khe khắt, những gì lỗi thời đó vẫn còn nhannhản trong con ngời của tất cả chúng ta” [24,218] Bởi vì “ ngày xa lánh hiện tạichúng ta trốn vào dĩ vãng, nhng vì trốn quá lâu nên giờ đây tuy đã trở về hiện tại,chúng ta vẫn còn mang theo rất nhiều dĩ vãng” [24,234] Rõ ràng cái nhìn củanhà phê bình là tràn đầy sự thấu hiểu và thông cảm Ông không bênh vực nhngcũng không chê bai một chiều Ông đã viết với cảm xúc thành thực của một ngời

-đã sống và viết trong thời cũ ấy

Hoài Thanh tiến hành xem xét những thành tựu đầu tiên của thơ ca khángchiến sau khi chỉ ra những hạn chế, non yếu của nền thơ này Trớc hết, ông xác

định nền văn nghệ kháng chiến là văn nghệ của nhân dân và văn nghệ phát triểntheo hớng đại chúng: “ Nói một cách đơn giản và tổng quát thì đó là h ớng đi cólợi cho sự nghiệp đánh giặc dựng nớc là sự nghiệp hiện giờ của đại chúng”[24,248-249] Khi xác định vấn đề này, rõ ràng Hoài Thanh đã thấm nhuần mộttrong ba nguyên tắc lớn xây dựng nền văn nghệ mới của Đảng Trong bài viết

Tính chất và nhiệm vụ văn hoá dân chủ mới Việt Nam ( 1949) đồng chí Trờng

Chinh đã viết : “ Văn hoá dân chủ mới Việt Nam, theo chúng tôi phải gồm đủ ba

Trang 26

tính chất: dân tộc, khoa học và đại chúng” [11,12] Chính vì nắm vững nguyêntắc đại chúng hoá của văn nghệ, nên trong quá trình tuyển chọn và phê bình thơkháng chiến 1945 – thiện – mỹ 1954, Hoài Thanh luôn chú ý đến tính đại chúng, thể hiệntrên các mặt: lực lợng sáng tác, nội dung sáng tác và hình thức sáng tác.

Lực lợng sáng tác thơ ca kháng chiến giai đoạn này là một tập thể quầnchúng đông đảo, bao gồm nhiều tầng lớp nhân dân, làm việc ở nhiều ngànhnghề, công tác ở nhiều lĩnh vực khác nhau Đúng nh Hoài Thanh nói: “Trong nớcViệt Nam kháng chiến chỗ nào cũng có thơ” [24,260] Thơ kháng chiến có sựgóp mặt của những nhà thơ từng có tên tuổi trớc Cách mạng nh Phan Khôi, HuyCận, Xuân Diệu hay các nhà thơ trẻ trởng thành sau Cách mạng nh Hoàng TrungThông, Vĩnh Mai

Lực lợng sáng tác đông đảo nhng nhiều nhất trong Nói chuyện thơ kháng chiến là quần chúng Đại diện của đủ mọi tầng lớp nhân dân làm thơ đều đợc

Hoài Thanh trân trọng đa vào Có thơ của anh công an, thơ của anh quân giới,thơ của các em thiếu nhi, thơ của các chị phụ nữ Tất cả đều mộc mạc giản dị

nh lời ăn tiếng nói trong đời sống, nhng rất chân thành vì xuất phát từ tình cảmvới cách mạng và kháng chiến, nh những vần thơ hồn nhiên sau đây:

Hôm nay xuân là xuân

Là tin tởng vô ngần Tôi ngồi ôm cây súng Nhìn đất nớc đang xuân [24,276].

Với công lao đọc và tuyển chọn của Hoài Thanh, nhiều tầng lớp nhân dân

đã góp tiếng thơ của mình trong Nói chuyện thơ kháng chiến Có ngời có tên

(nh anh Bình, anh Kha, chị Cẩm Lai, em Dậu) nhng cũng có những ngời không

đợc nhắc tên Nhng các anh chị, các em làm thơ có lẽ không phải để đợc nhắctên Những bài thơ của họ đã chứng minh một điều: Nền thơ ca kháng chiến

1945 – thiện – mỹ 1954 phát triển dồi dào và sinh động, có sự hởng ứng nhiệt tình từ quầnchúng nhân dân Đây chính là một điểm khác biệt của thơ ca kháng chiến với thơ

ca trớc Cách mạng

Nói về thơ kháng chiến, Hoài Thanh còn quan tâm đến một mảng nữa là

ca dao kháng chiến, cổ động và thơ tuyên truyền Ông tỏ ra là một ngời đi nhiều,lắng nghe nhiều, chịu khó góp nhặt và sàng lọc Những bài ca dao trở thành khẩu

Trang 27

hiệu cũng đợc ông đa vào Nói chuyện thơ kháng chiến Rồi Hoài Thanh cũng

không bỏ quên bộ phận thơ thiểu số, thơ đợc làm từ những ngời dân tộc anh em

Điều này chứng tỏ ông rất quan tâm và trân trọng khả năng văn học của đồngbào dân tộc

Nh vậy, qua Nói chuyện thơ kháng chiến, ngời đọc đã thấy hiện lên cả một

lực lợng sáng tác hùng hậu, đông đảo Giờ đây công việc làm thơ không phải củariêng ngời nghệ sỹ, mà bất cứ ai, hễ có tình cảm cách mạng, tình cảm dân tộc vàmột chút năng khiếu là có thể viết nên thơ cho mình Lực lợng sáng tác ấy chính

là sản phẩm của luồng t tởng mới mà Cách mạng tháng Tám và đời sống khángchiến đa lại Hoài Thanh có thể nói là ngời có công đầu trong việc su tầm, tuyểnchọn và giới thiệu thơ ca quần chúng trong kháng chiến chống Pháp Và cũngqua đây, ngời đọc có thể hình dung diện mạo của một nền thơ ca đại chúng

Hoài Thanh cũng chú ý phê bình cả nội dung và hình thức thơ ca khángchiến Về nội dung của thơ ca kháng chiến, những vấn đề mà Hoài Thanh quantâm cũng rất phong phú đa dạng Thơ ca kháng chiến tất nhiên phản ánh cuộckháng chiến chống Pháp đang hồi gay go quyết liệt, nhng đồng thời từ đó toátlên rất nhiều màu sắc nội dung: Có thơ nói về lòng căm thù giặc; có thơ ca ngợitình đồng bào, đồng chí, tình quân dân và tình quốc tế; có thơ biểu hiện lòngmong mỏi hoà bình, độc lập, no ấm; có thơ thể hiện quyết tâm chiến đấu và cảthơ bày tỏ sự hăng say sản xuất tăng gia Những vần thơ nh thế này thật chanchứa tình:

Đây một mùa xuân tới tới gần

Đây mùa bất diệt của muôn xuân.

Hơng tình nhân loại bay man mác Gió bốn phơng truyền vang ý Dân.

(Tố Hữu) [24,304].

Nh vậy, thơ ca kháng chiến đầy ắp chữ tình, những chữ tình đợc dệt lênbởi những tâm hồn chất phác và thành thực Nhng điều quan trọng là Hoài Thanhchỉ ra đợc tất cả những thứ tình ấy chung quy lại đều xuất phát từ tình yêu nớc

Nh vậy, tình cảm bao trùm của thơ ca kháng chiến theo Hoài Thanh là tình cảmyêu nớc Nhận xét này quả không sai Thơ là tiếng lòng của ngời làm thơ Ngờilàm thơ lúc này đều hớng về Cách mạng, về kháng chiến, đều đặt mình trong vậnmệnh dân tộc, vì thế thơ họ viết ra đều dạt dào cảm xúc yêu nớc

Trang 28

Trong quá trình tuyển chọn và phê bình thơ ca kháng chiến, Hoài Thanhcũng luôn có ý thức quan tâm đến hình thức thơ Ông nhận thấy thơ ca khángchiến có đủ các thể, vì trong hàng ngũ kháng chiến có đủ mọi tầng lớp, nhng chủyếu là các thể thơ đại chúng Đó là những thể thơ dân tộc quen thuộc hay nhữngthể thơ có vần vè dễ thuộc với số đông Với mục tiêu đại chúng hoá, lối dùngchữ, đặt câu rắc rối, bí hiểm, khó hiểu cũng dần biến mất Đặc biệt có sự cải biếnthể thơ, gạt hết vần điệu hoặc không quan tâm lắm đến hình thức vần vè, miễn làdiễn đạt đợc ý mình muốn nói

Mặt khác, trong quá trình bình thơ, Hoài Thanh không chỉ chú ý bình về nộidung bài thơ mà còn chú ý cả đến hình thức của nó Hoài Thanh luôn quan tâm

đến hiệu quả mà hình thức thơ có thể đạt đợc trong việc biểu đạt nội dung Đặcbiệt, với những bài có hình thức đại chúng đợc nhà phê bình u tiên trích dẫnnhiều hơn cả, trong đó nhiều nhất là thể lục bát:

Hôm qua sinh nhật cụ Hồ,

Bộ đội thắng trận ăn to hai đồn

Chúng em sung sớng mừng rơn Theo anh Vệ quốc lên đồn khiêng bom. [24,285]

Nói tóm lại, sau khi nhìn lại thơ cũ 1932 – thiện – mỹ 1945, Hoài Thanh phê bìnhnhững tồn tại của thơ kháng chiến, xem xét những thành tựu đầu tiên của thơ ca

kháng chiến theo hớng đại chúng hoá Đây chính là nội dung nổi bật của Nói chuyên thơ kháng chiến Qua tác phẩm này, chúng ta có thể hình dung đợc một

cách khá đầy đủ và rõ nét tình hình thơ ca những năm đầu kháng chiến chống

Pháp Đánh giá về tác phẩm phê bình văn học này, Giáo trình Văn học Việt Nam

1945 – thiện – mỹ 1975 viết: “Nhìn chung Nói chuyện thơ kháng chiến là một bản tổng kết văn học có giá trị” [13,181] Điều này chứng tỏ vị trí của Nói chuyện thơ kháng chiến trong nền lý luận phê bình văn học 1945 – thiện – mỹ 1954 cũng nh trong nền văn

học Việt Nam hiện đại là rất lớn

Đóng góp đầu tiên của Nói chuyện thơ kháng chiến là đã khái quát cho

chúng ta bức tranh về tình hình thơ ca những năm đầu kháng chiến chống Pháp

Đó là tình hình phát triển sôi động, phong phú với sự tham gia sáng tác của đông

đảo tầng lớp nhân dân Nhng đó không phải là một sự phát triển lộn xộn, không

có định hớng mà phát triển dới sự lãnh đạo của Đảng, thấm nhuần tính chất đại

chúng của nền văn hoá dân chủ mới Việt Nam mà Đề cơng văn hoá Việt Nam (1943) định hớng và Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam (1948) đã triển khai.

Trang 29

Đóng góp thứ hai của Nói chuyện thơ kháng chiến là đã có giá trị phát hiện

đối với những thành tựu bớc đầu của thơ ca kháng chiến theo hớng đại chúnghoá nh thơ của Tố Hữu, Thôi Hữu, Vĩnh Mai, Trần Mai Ninh, Hồng Nguyên, LuTrọng L, Hoàng Trung Thông, Hoàng Lộc, Trần Hữu Thung.v.v và những yếu

tố chân chất, khoẻ khoắn của thơ ca quần chúng, đặc biệt là thơ binh nhì Nhàphê bình tỏ ra là ngời có vốn hiểu biết sâu rộng, có cái nhìn khái quát về nền thơ

ca kháng chiến Không chỉ tái tạo không khí của phong trào sáng tác thơ ca quầnchúng mà nhà phê bình còn dựng lên chân dung ngời dân kháng chiến trong thơ

Đó là những ngời dân yêu nớc hồn nhiên và rất lạc quan

Nhng Nói chuyện thơ kháng chiến cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định.

Trớc hết, đó là cái nhìn nghiêm khắc đến khắt khe khi đánh giá lại nền thơ 1932– thiện – mỹ 1945 Hoài Thanh đã rất cực đoan và quá đà khi buộc tội Thơ mới là “nhữngvần thơ có tội” [24,211] Những nỗi buồn, sự cô đơn, lãng mạn của các thi sỹ

từng đợc ông chia sẻ trong Thi nhân Việt Nam giờ đây lại bị chính ông gọi là

một thứ bệnh nguy hại cho thơ ca kháng chiến Những đánh giá nh vậy không hềthoả đáng với một phong trào thơ nh phong trào Thơ mới

Thứ nữa, trong quá trình tuyển chọn và phê bình thơ kháng chiến HoàiThanh cũng bộc lộ nhợc điểm Do quá đề cao nguyên tắc phục vụ Cách mạng,phục vụ kháng chiến của thơ ca, nhà phê bình dờng nh hơi dễ dãi trong việc chọn

và giới thiệu tác phẩm Việc su tầm, bình giảng, không ngại biểu dơng những từthông tục, những câu bình dân, khen ngợi những hình thức diễn đạt giản đơn đếnthô sơ của thơ ca kháng chiến bên cạnh u điểm thì lại cho thấy thơ ca khángchiến ít có chiều sâu, và Hoài Thanh cha có sự quan tâm kỹ hơn đến những tìmtòi, trăn trở của một số cây bút về hình thức và phong cách nghệ thuật Với mộtngời từng rất coi trọng hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn chơng nh HoàiThanh, rõ ràng đã có sự thay đổi quan điểm

Về phơng pháp phê bình, nói chung khi xem xét thơ ca kháng chiến, Hoài

Thanh tuân thủ những thao tác khoa học nh thời viết Thi nhân Việt Nam Ông

vẫn xuất phát từ cơ sở xã hội, đội ngũ sáng tác, nội dung, hình thức cộng với sựchịu khó sàng lọc tuyển chọn, đãi cát tìm vàng (nh đã có phân tích ở trên) Nhng

có một điểm khác, hay nói đúng hơn, là có một sự thay đổi, đó là điểm nhìn vàcách nhìn của Hoài Thanh khi nghiên cứu phong trào thơ kháng chiến Khi viết

Nói chuyện thơ kháng chiến, Hoài Thanh đã “ đứng trên lập trờng văn nghệ nhân

dân, muốn từ phơng hớng chính trị của “đoàn thể” đi tìm “ phơng hớng tình

Trang 30

cảm” mới cho thơ ca” [13,180] Chính lập trờng này đã quy định sự tuyển chọn

và phê bình thơ của Hoài Thanh cũng nh quan điểm, t tởng cầm bút của ông giai

đoạn này

Nói chuyện thơ kháng chiến đã có một ảnh hởng to lớn trong tiến trình phát

triển của nền văn học Cách mạng và ảnh hởng đối với công tác phê bình và giảngdạy văn học Nhng vì bên cạnh những đóng góp giá trị, nó vẫn còn tồn tại nhữnghạn chế nên ảnh hởng của nó thể hiện trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực

Về mặt tích cực, nhờ “tính thời sự nóng hổi, tính kịp thời, tính chiến đấu

cao” ( Trần Hạnh Mai) [12,122] của Nói chuyện thơ kháng chiến mà thơ ca nói

riêng cũng nh nền văn nghệ kháng chiến chống Pháp nói chung đợc cổ vũ, khích

lệ, biểu dơng kịp thời, đúng lúc, thúc đẩy sự phát triển Đồng thời, quan điểmmới về thơ ca của Hoài Thanh là sự thay đổi nhanh chóng và phù hợp với yêucầu thời đại Mặt khác, uy tín của Hoài Thanh trớc Cách mạng đã tạo niềm tin,tạo cơ sở cho những ngòi bút khác còn đang băn khoăn tìm đờng giờ có thêm

một điểm tựa để đi Đó là những ảnh hởng tích cực với đơng thời Nói chuyện thơ kháng chiến còn giúp cho công tác phê bình và giảng dạy văn học sau này

một cái nhìn bao quát về một giai đoạn thơ ca cũng nh một căn cứ trong lý luậnphê bình

Nhng bên cạnh những ảnh hởng tích cực còn có nhiều hạn chế ở Nói chuyện thơ kháng chiến Việc đánh giá Thơ mới nặng nề của Hoài Thanh trong

một thời gian dài đã trở thành tiêu chí cho phê bình và giảng dạy văn học Ng ời

ta đã căn cứ vào kiểm điểm nghiêm khắc của Hoài Thanh khi “ nhìn lại thơ cũ

1932 – thiện – mỹ 1945” để đánh giá phong trào này Điều đó khiến cho phong trào Thơmới suốt một thời gian dài bị phê phán, bị quay lng không thừa nhận, bị đánh giámột cách cực đoan

Nói tóm lại, với Nói chuyện thơ kháng chiến, Hoài Thanh đã nhiệt tình

khẳng định sứ mệnh quan trọng của văn học trong sự nghiệp cách mạng chungcủa toàn dân tộc Đó là bớc chuyển mình thay đổi lớn lao trong cuộc đời nghệ sỹcủa ông trên con đờng đi theo Đảng

Bất kỳ một tác phẩm nào dù ít dù nhiều đều in dấu ấn cá nhân của ngờisáng tác Đối với những nghệ sỹ lớn, dấu ấn đó trở thành phong cách Nếu nh

qua Thi nhân Việt Nam chúng ta nhận diện đợc phong cách phê bình văn học

của Hoài Thanh trớc Cách mạng là phê bình trực cảm, ấn tợng, nghệ sỹ thì qua

Nói chuyện thơ kháng chiến, chúng ta có thể khái quát đợc phong cách phê bình

Trang 31

văn học của ông giai đoạn 1945 – thiện – mỹ 1954 ( và về sau) là phê bình xã hội học (hayphê bình văn học theo quan điểm Mácxít).

Phê bình văn học Mácxít quan niệm rằng văn học là một hình thái ý thức xãhội, phản ánh xã hội và đời sống Họ chủ trơng phải căn cứ vào những vấn đề xãhội và những nhiệm vụ đặt ra trớc xã hội trong một thời kỳ nhất định để soi rọi

và định giá tác phẩm văn chơng Phê bình văn học của họ chủ yếu vận dụng quan

điểm xã hội học Từ trớc Cách mạng tháng Tám, khuynh hớng phê bình này đãphát triển với các tên tuổi nh Hải Triều, Đặng Thai Mai

Từ khi bớc chân theo Đảng, theo Cách mạng, thấm nhuần chủ nghĩa Mác– thiện – mỹ Lênin, ngòi bút Hoài Thanh đã có sự chuyển đổi trong phơng pháp phê bình

Nói chuyện thơ kháng chiến đã bộc lộ sự chuyển đổi đó Giờ đây, không phải là

quan niệm “ văn chơng là văn chơng” nữa, Hoài Thanh đã có ý thức cân bằng haiyêu cầu hình thức và nội dung khi thẩm định một tác phẩm văn chơng Đặc biệt,

ông nhấn mạnh sự chi phối của điều kiện xã hội, điều kiện kinh tế, chính trị, nhucầu đấu tranh và giải phóng giai cấp đối với sự ra đời của tác phẩm Trong tácphẩm, nhà phê bình đã đứng trên lập trờng giai cấp vô sản, lập trờng quần chúngcách mạng, nên đã gọi Thơ mới 1932 – thiện – mỹ 1945 là “ loại thơ cũ t sản và tiểu tsản”[24,207] Cũng trên lập trờng đó, Hoài Thanh đã nhìn thẳng vào nhiệm vụcứu nớc để lý giải nhiệm vụ của thơ ca: “ Thơ thế nào là hay, câu hỏi ấy đồngnghĩa với câu: hớng đi thế nào là đúng chủ trơng của Đoàn thể, chính sách củaChính phủ đã vạch hớng cho ta” [24,205] Lập trờng ấy cũng giúp ông phát hiện

và biểu dơng những sản phẩm thơ mộc mạc, dân giã của quần chúng

Qua phân tích và định giá cuốn phê bình Nói chuyện thơ kháng chiến,

chúng ta có thể hình dung diện mạo thơ kháng chiến chống Pháp, đồng thời hiểuthêm về phong cách phê bình Hoài Thanh và những đóng góp của ông cho nền lý

luận phê bình văn học cách mạng Có thể lấy ý kiến sau để kết luận về Nói chuyện thơ kháng chiến: “Sau Cách mạng tháng Tám, Hoài Thanh nhanh chóng hoà nhập vào dòng chảy chung Nói chuyện thơ kháng chiến là bản tổng kết sớm

nhất về thơ ca những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, tuy cha đầy đủ

và đôi khi còn rơi vào đơn giản, nhng cũng chứng tỏ thái độ dứt khoát rũ bỏ cái

cũ, thiết tha đón nhận và đấu tranh cho cái mới” (Hoài Thanh – thiện – mỹ th ởng thức phê bình thơ - Lê Đình Kỵ) [20,79].

Cũng nh nhiều cây bút khác, Cách mạng tháng Tám đã trở thành mốc lịch

sử dân tộc đánh dấu một bớc ngoặt trong sự nghiệp của Hoài Thanh Trớc và sau

Trang 32

mốc son ấy, phê bình văn học của Hoài Thanh có nhiều thay đổi Tuy vậy, chabao giờ nhà phê bình ấy phủ định mình để biến đổi hoàn toàn Trong bản chất,nếu không phải là ý thức thì trớc và sau Cách mạng, phê bình văn học của HoàiThanh vẫn là một khối thống nhất xét về một mặt nào đó Nói cách khác, giai

đoạn sau vẫn có kế thừa và đồng thời phát huy giai đoạn trớc

Mặt thống nhất đầu tiên thể hiện ở mối quan tâm đến văn chơng Trớc Cáchmạng hay trong kháng chiến 1945 – thiện – mỹ 1954, Hoài Thanh vẫn luôn trăn trở vớinhững câu hỏi về văn chơng và ý thức tìm tòi, phát hiện và giới thiệu với côngchúng những tác phẩm hay, những gơng mặt tiêu biểu Dù mỗi thời, quan niệmcủa ông mỗi khác, nhng đọc các tác phẩm phê bình của Hoài Thanh đều thấyhiện lên hình ảnh một con ngời chịu khó và tận tuỵ với công việc Ông đi nhiều,

đọc nhiều, sàng lọc cẩn thận nh một ngời tìm quặng trong đất

Với Thi nhân Việt Nam và Nói chuyện thơ kháng chiến, Hoài Thanh đã

làm công việc tìm kiếm, đọc và sàng lọc thơ với tất cả niềm say mê Ngày tr ớc,

ông cặm cụi đọc một vạn bài thơ để lọc “ non một vạn bài dở” [22,373] làm nên

kiệt tác Thi nhân Việt Nam Giờ đây, trong kháng chiến, ông cũng chịu khó lắng

nghe, góp nhặt và chọn lọc những vần thơ, những bài thơ hay từ đủ các tầng lớpnhân dân các vùng miền, từ đủ mọi hình thức sinh hoạt thơ nh báo tờng, cổ động,tuyên truyền Nh vậy, sự thống nhất thể hiện rõ rệt ở mối quan tâm đặc biệtHoài Thanh dành cho thơ ca Nền thơ ca Việt Nam hiện đại rất tự hào vì trongnhững giai đoạn phát triển quan trọng của nó có một nhà phê bình đã giành hếttâm huyết và tài năng để biểu dơng và cổ vũ

Nhng mặt thống nhất nổi bật nhất trong phê bình văn học của Hoài Thanhtrớc Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến 1945 – thiện – mỹ 1954, ấy chính làphong cách phê bình của ông: “Tôi cứ viết theo cái tạng của ngòi bút tôi”[12,168] Nhiều ngời cho lối phê bình của Hoài Thanh là lối phê bình nặng vềtình cảm, thiếu tính lý luận Điều đó không hẳn đúng nhng rõ ràng với thơ ca,Hoài Thanh đã chọn một lối tiếp cận riêng, nhẹ nhàng, tình cảm Đó là một lốiphê bình nh trò chuyện, nh thủ thỉ, tâm tình Lối phê bình ấy quy định một vănphong đặc trng cho văn phê bình Hoài Thanh – thiện – mỹ một loại văn đầy ắp chất thơ.Những câu văn tựa nh những mạch nớc ngầm ngọt mát chảy sâu vào tâm hồn ng-

ời đọc Ta hãy lắng nghe cách nhà văn bày tỏ cảm nhận của mình trớc một đoạnthơ:

những câu khuyên giúp đỡ đồng bào tản c:

Trang 33

Sẵn sàng gánh nặng ghé vai,

Đò quen gọi giúp, đờng đôi chỉ giùm Miếng trầu, bát nớc, lời thăm Tuy rằng của ít tình thâm lại nhiều

Lời thơ hiền hoà, nhẹ nhàng mà thấm thía quá Đọc lên cứ nh muốn quyện

lấyngời ta Tuy giọng thơ buồn buồn, cái buồn có lẽ từ những lời Gia huấn ca

Nguyễn Trãi rơi lại, nhng nó vẫn nói đợc cái tình gắn bó của ngời dân khángchiến” [24,326]

Đó là lối phê bình giàu cảm xúc, mợt mà, thoáng gọn, nhà phê bình khônglấn át, không suy diễn cũng không phát biểu lộ liễu những gì ngời sáng tác gửigắm Ông chỉ muốn làm một ngời đệm đàn để những bài hát ngân xa

Tuy nhiên, bên cạnh mặt thống nhất còn có sự chuyển biến, mà sự chuyểnbiến nổi bật nhất là chuyển biến về t tởng Chính sự chuyển biến này quy định

những thay đổi khác từ Thi nhân Việt Nam đến Nói chuyện thơ kháng chiến Từ

chỗ một nhà phê bình tài tử, viết theo sở thích cá nhân, tuỳ hứng phòng bút mộtcách “ tự do chủ nghĩa” [13,174], Hoài Thanh trở thành nhà phê bình của vănhọc mới, đặt tiêu chí lợi ích của nhân dân, của cách mạng lên trên hết Cái Tôinhà văn đã thực sự hoà chung với cái Ta đoàn thể Vì vậy, trong giai đoạn sau

Cách mạng, nhất là với Nói chuyện thơ kháng chiến, Hoài Thanh đã nhấn mạnh

tiêu chí văn học phục vụ chính trị Ông không coi giá trị nghệ thuật là tiêu chuẩnhàng đầu nh trớc mà đặt việc phát triển nội dung là mục tiêu quan trọng với điềukiện nội dung đó phải phù hợp tiêu chí trên

Sự chuyển biến t tởng chính trị và văn nghệ của Hoài Thanh cũng chi phối

đến việc nhìn nhận đánh giá lại Thi nhân Việt Nam và phong trào Thơ mới 1932 – thiện – mỹ 1945 Trong Nói chuyện thơ kháng chiến, Hoài Thanh đã phê phán mạnh mẽ

phong trào thơ mà ông từng một thời ca ngợi, đồng nghĩa với việc phủ nhận tác

phẩm Thi nhân Việt Nam ông đã dành hết tâm huyết để viết ra Vậy tại sao lại

có sự thay đổi này? Trở lại với quãng đời cầm bút trớc Cách mạng của HoàiThanh chúng ta sẽ hiểu vì sao

Nh đã trình bày trong phần Phê bình thơ của Hoài Thanh trớc Cách mạng tháng Tám, nhất là qua cuộc tranh luận nghệ thuật 1935 – thiện – mỹ 1939, ta phần nào đã

thấy có một mặc cảm trong lòng Hoài Thanh, một ngời cha bao giờ công nhậnmình thuộc phái nghệ thuật vị nghệ thuật, và bản thân những quan điểm ông đa

ra đã chứng minh điều đó, nhng ít nhất cho đến thời điểm ông viết Nói chuyện

Trang 34

thơ kháng chiến, ngời ta vẫn cha hiểu hết ông Hoài Thanh đã mang mặc cảm của cả một thế hệ “lỗi lầm” với Cách mạng, và giờ đây muốn qua Nói chuyện thơ kháng chiến để kiểm điểm nghiêm khắc quan điểm của mình Mặt khác,

trong không khí hăm hở, nhiệt tình của Cách mạng, của đoàn thể, nhà phê bình

đã nhận ra tác dụng đích thực của văn chơng là phải gắn liền với vấn đề t tởng,vấn đề công tác, vấn đề cách mạng

Tuy nhiên, sự tích cực thay đổi của Hoài Thanh lại làm nảy sinh một khuyết

điểm Ông đã cực đoan và quá đà khi buộc tội Thơ mới, đã phủ định và phê phánmột cách khá nghiêm khắc phong trào này Những thay đổi khá mau lẹ về quan

điểm mỹ học và lập trờng t tởng ấy có nhợc điểm là còn hẹp hòi, tả khuynh khi

đánh giá di sản của Thơ mới cũng nh thơ kháng chiến

Nhng nhợc điểm của Hoài Thanh xét đến cùng là nhợc điểm chung của ýthức văn học 1945 – thiện – mỹ 1954 Có thế lấy ý kiến của Giáo s Phong Lê để nói về vấn

đề này: “ Có thể nói mà không phân vân: ông chân thành và trung thực đến cùngtrong yêu mê và say Thơ mới ; và ông cũng đã chân thành và trung thực đến

cùng trong phủ nhận Thơ mới và Thi nhân Việt Nam khi đã nhận ra một chân lý

nào đó Có điều chân lý ông tìm ra có khớp đợc với chân lý khách quan của cuộcsống hay không lại là chuyện khác Ông đã bị thời đại quy định nghiệt ngã cũng

nh tất cả chúng ta, cũng nh rộng ra khỏi chúng ta” [9,241-242]

Hoạt động phê bình văn học của Hoài Thanh nằm trọn trong hai giai đoạnquan trọng của lịch sử văn học Việt Nam: 1930 – thiện – mỹ 1945 và 1945 – thiện – mỹ 1975 Cả haigiai đoạn ấy Hoài Thanh đều cống hiến hết mình nh con tằm nhả tơ

Kháng chiến chống thực dân Pháp từ sau ngày đất nớc giành đợc độc lập đã

đa các văn nghệ sỹ ra chiến trờng, vào công trờng, đến nông trờng, đi cùng nhândân và cách mạng Rồi quần chúng đợc xoá mù chữ, nâng cao tri thức, đã trởthành nguồn bổ sung dồi dào vào lực lợng sáng tác Từ đó phong trào sáng tácvăn học phục vụ chính trị, phục vụ công cuộc kháng chiến phát triển mạnh mẽ.Thơ ca kháng chiến nở rộ tng bừng Hoài Thanh trong không khí đó cũng muốngóp một phần nhỏ để biểu dơng và cổ vũ.Trong giai đoạn này, Hoài Thanh có

nhiều bài viết khá quan trọng nh: “Có một nền văn hoá Việt Nam (1946); Quyền sống của con ngời trong Truyện Kiều của Nguyễn Du ( 1949); Xây dựng văn hoá nhân dân (1949) Đặc biệt là cuốn Nói chuyện thơ kháng chiến ( 1951).

Trần Đình Sử đánh giá cuốn phê bình thơ này là: “Có ý nghĩa định hớng cho cảsáng tác thơ ca và phê bình văn học một thời” [20,82]

Trang 35

Nhìn chung, qua hoạt động phê bình thơ kháng chiến 1945 – thiện – mỹ 1954 củaHoài Thanh có thể nhận thấy mấy điểm nh sau:

Thứ nhất, Hoài Thanh tiếp tục bộc lộ sở trờng của mình là phê bình thơ

Đây có thể nói là lĩnh vực để ông phóng bút dễ dàng nhất

Thứ hai, từ những luận điểm mà nhà phê bình trình bày trong tác phẩm củamình, chúng ta có thể nhận thấy: bên cạnh việc giữ lại lối viết, phong cách viếtthì Hoài Thanh đã thay đổi hoàn toàn về lập trờng t tởng khi cầm bút Nói nhNguyễn Ngọc Thiện thì là: “Giờ đây ông đã thấy nếu sự thành thực ấy chỉ riêng

là yêu cầu với bản thân nghệ sỹ thôi, thì sẽ là không đủ, anh ta còn cần cả sựthành thật, say mê với sự nghiệp chung, với con ngời và cuộc đời xung quanhanh” [20,158-159}

Thứ ba, qua hoạt động phê bình thơ kháng chiến 1945-1954 của HoàiThanh, có thể thấy những đóng góp quan trọng của ông đối với văn học giai

đoạn đó cũng nh với công tác văn học sau này, đặc biệt là “góp phần đắc lực đathơ vào quỹ đạo chính trị” (Trần Đình Sử) [20,91] Bên cạnh những đóng góp ấy,Hoài Thanh không phải không bộc lộ những hạn chế trong t tởng và nhợc điểmtrong cách phê bình Đó là sự vận dụng quan điểm giai cấp và chính trị một cáchkhắt khe, cứng nhắc, là lối bình chuyên chú vào câu hay từ đắt cộng với cách vậndụng đơn giản nguyên tắc xã hội học Đến 1953, khi có điều kiện nhìn lại, Hoài

Thanh đã làm một cuộc phê bình cuốn Nói chuyện thơ kháng chiến Không phải

ông “tiền hậu bất nhất” mà vì ông luôn lấy yêu cầu cách mạng để đánh giá mộthiện tợng văn học Vì những lẽ trên, nói đến phê bình thơ kháng chiến 1945 – thiện – mỹ

1954 không thể không nhắc đến Hoài Thanh

Trang 36

Chơng 2 Xuân Diệu- ngời hái thơ trên cánh đồng thơ

kháng chiến 1945 – 1954 1954

1 Xuân Diệu với phê bình thơ trớc 1945

1.1 Xuân Diệu – thiện – mỹ mùa xuân kỳ diệu của văn học lãng mạn 1930 – thiện – mỹ

1945

Văn hoá Việt Nam là một nền văn hoá nghiêng nhiều về tình cảm, tâm linh.Phải chăng vì lẽ đó, Việt Nam có nhiều ngời làm thơ, và từ đó sản sinh ra nhiềuthi nhân kiệt xuất? Nhìn vào quá khứ, chúng ta sẽ phải nghiêng mình trớc nhữngtên tuổi nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, CaoBá Quát, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xơng, Nhng ngẫmnghĩ kỹ hơn sẽ thấy mỗi thời đại đó chỉ có một vài tài năng đỉnh cao Suốt mờimấy thế kỷ văn học, chỉ đến giai đoạn 1930 – thiện – mỹ 1945 mới thực sự có sự bùng nổ

về thơ ca cả trên quy mô số lợng và chất lợng Đó chính là giai đoạn của phongtrào Thơ mới – thiện – mỹ một đỉnh cao của nền thơ Việt Nam

Có lẽ không thể làm một phép so sánh với các bậc tiền bối, nhng những thinhân tiêu biểu của phong trào Thơ mới cũng chính là những đại diện xuất sắccủa nền thơ ca hiện đại Việt Nam Và tên tuổi họ sẽ mãi còn đợc nhắc đến: ThếLữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính Trong số

họ, Xuân Diệu đợc nhắc tới với t cách là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơmới” (Hoài Thanh ) [22,109]

Từ 1925, Xuân Diệu đã có thơ đăng báo và nổi tiếng rất nhanh Sau phútngỡ ngàng vì sự mới mẻ của thơ Xuân Diệu (vì ngời ta cho rằng thơ ông "Tây"quá) thì ngời ta nhận thấy phải đến khi Xuân Diệu xuất hiện, Thơ mới mới pháttriển rực rỡ nhất, hoàn thiện nhất và trọn vẹn nhất Từ đây, có thể thấy XuânDiệu trong phong trào Thơ mới có một vị trí quan trọng, vị trí tiêu biểu, đại diện

Có đợc vị trí ấy là bởi thơ Xuân Diệu có sức hấp dẫn riêng Đọc Vội vàng, Thơ duyên, Đây mùa thu tới, Nguyệt cầm, Lời kỹ nữ, Giục giã ngời ta có thể cảm

nhận đợc sức hấp dẫn của thơ Xuân Diệu nằm ở một cái tôi cá nhân khao khát

Trang 37

đợc giao cảm hết mình, gắn bó hết mình với cuộc đời trần thế Đều là những nhàthơ lãng mạn nhng không nh hầu hết các nhà Thơ mới đều có khuynh hớng thoát

ly thực tại do không tìm đợc ý nghĩa sống, ý nghĩa tồn tại, Xuân Diệu về cơ bản

và của ánh sáng” (Thế Lữ) [27,41] hẳn vì lẽ đó

Mau với chứ, vội vàng lên với chứ

Em, em ơi, tình non đã già rồi.

Con chim hồng, trái tim nhỏ của tôi, Mau với chứ! Thời gian không đứng đợi.

(Giục giã)

Trong thơ Xuân Diệu luôn có một “nỗi ám ảnh thời gian” ( Đỗ Lai Thuý)[27,269] Đối với ông, nhịp điệu thời gian là cái gì đó khó cỡng lại đợc, là quyluật một đi không trở lại, nhng ông luôn nỗ lực tìm mọi cách để chống lại quyluật đó bằng niềm ham sống, ham viết của mình

ấn tợng mà Xuân Diệu để lại trong lòng ngời đọc thơ ông còn là một thếgiới nghệ thuật thơ độc đáo và mới mẻ Xuân Diệu chịu ảnh hởng sâu sắc thơlãng mạn phơng Tây, đã tiếp thu một cách thông minh và sáng tạo để làm mớithơ mình, đem vào đó những nội dung và hình thức phong phú, mới lạ, hiện đại,tạo hiệu quả thẩm mỹ cao Ta có thể nhận thấy cách diễn đạt “rất Tây” trong

những câu thơ nh “Hơn một loài hoa đã rụng cành” ( Đây mùa thu tới) hay

“Lòng anh thôi đã cới lòng em” ( Thơ duyên ).Vì những lẽ đó, có thể khẳng định

về Xuân Diệu nh lời Vũ Ngọc Phan: “Xuân Diệu là ngời đã đem đến cho thi caViệt Nam nhiều cái mới nhất” [27,160]

Nét tài hoa nghệ sỹ, vẻ mới lạ của Xuân Diệu không chỉ bộc lộ trên nhữngvần thơ mà còn qua những trang văn xuôi chứa đầy chất thơ, đầy tính trữ tình.Hẳn phải rất nhiều ngời rung động trớc những áng văn xuôi rất đẹp nh thế này:

Ngày đăng: 18/12/2013, 21:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[6] Mã Giang Lân (2000), Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam , NXB Giáo dôc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: NXB Giáodôc
Năm: 2000
[7] Mã Giang Lân (2003), Văn học Việt Nam 1945 – 1954 , NXB Giáo dục [8] Phong Lê (2001), Một số gơng mặt văn chơng học thuật Việt Nam hiệnđại, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1945 – 1954" , NXB Giáo dục [8] Phong Lê (2001), "Một số gơng mặt văn chơng học thuật Việt Nam hiện"đại
Tác giả: Mã Giang Lân (2003), Văn học Việt Nam 1945 – 1954 , NXB Giáo dục [8] Phong Lê
Nhà XB: NXB Giáo dục [8] Phong Lê (2001)
Năm: 2001
[9] Phong Lê (2001), Văn học Việt Nam hiện đại - những chân dung tiêu biểu, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại - những chân dung tiêubiểu
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
[10] Phong Lê - Vũ Văn Sỹ – Bích Thu – Lu Khánh Thơ (2002), Thơ Việt Nam hiện đại , NXB Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ViệtNam hiện đại
Tác giả: Phong Lê - Vũ Văn Sỹ – Bích Thu – Lu Khánh Thơ
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 2002
[11] Nguyễn Văn Long – Trần Hữu Tá (1981), T liệu tham khảo văn học Việt Nam 1945 – 1954 , NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: T liệu tham khảo văn họcViệt Nam 1945 – 1954
Tác giả: Nguyễn Văn Long – Trần Hữu Tá
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1981
[12] Trần Hạnh Mai (2003) , Sự nghiệp phê bình văn học của Hoài Thanh, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự nghiệp phê bình văn học của Hoài Thanh
Nhà XB: NXB Giáo dục
[13] Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên ) (1988 ), Văn học Việt Nam 1945 – 1975, Tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1945 –1975
Nhà XB: NXB Giáo dục
[14] Lữ Huy Nguyên (Biên soạn ) (1996 ), Xuân Diệu thơ và đời, NXB Văn học , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Diệu thơ và đời
Nhà XB: NXB Vănhọc
[15] Nhiều tác giả (1996), Năm mơi năm văn học Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám , NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm mơi năm văn học Việt Nam sau Cách mạngTháng Tám
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
[16] Nhiều tác giả (2000 ), Hoài Thanh với khát vọng chân- thiện- mỹ, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoài Thanh với khát vọng chân- thiện- mỹ
Nhà XB: NXBHội Nhà văn
[17] Hữu Nhuận, Su tập Văn nghệ (1948-1954), Tập 1, NXB Hội Nhà văn, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Su tập Văn nghệ (1948-1954
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
[18] Hữu Nhuận, Su tập Văn nghệ (1948-1954), Tập 2, NXB Hội Nhà văn, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Su tập Văn nghệ (1948-1954)
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
[19] Hữu Nhuận, Su tập Văn nghệ (1948-1954), Tập 3, NXB Hội Nhà văn, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Su tập Văn nghệ (1948-1954)
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
[20] Nguyễn Phúc (Chủ biên) (1995), Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam, NXB Hội Nhà văn , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Phúc (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 1995
[21] Hoài Thanh (1955), Nói chuyện thơ kháng chiến , NXB Văn nghệ,Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói chuyện thơ kháng chiến
Tác giả: Hoài Thanh
Nhà XB: NXB Văn nghệ
Năm: 1955
[22] Hoài Thanh- Hoài Chân (1996 ), Thi nhân Việt Nam , NXB Văn học, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn học
[23] Hoài Thanh (1999 ), Toàn tập, Tập 1, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: NXB Văn học
[24] Hoài Thanh (1999 ), Toàn tập, Tập 2, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: NXB Văn học
[25] Hoài Thanh (1999 ), Toàn tập, Tập 3, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: NXB Văn học
[26] Nguyễn Ngọc Thiện (Chủ biên ) (1997 ), Tuyển tập phê bình văn học Việt Nam , Tập 4, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập phê bình văn học ViệtNam
Nhà XB: NXB Văn học

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w