BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH THÁI BÁ THANH HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN NGHỆ AN – 2012 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG Đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
THÁI BÁ THANH
HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2THÁI BÁ THANH
HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN HOA BẰNG
NGHỆ AN - 2012
LỜI CẢM ƠN
Trang 3Sau một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu, với sự giúp đỡ của Thầy Cô,người thân và bạn bè, đồng nghiệp, luận văn của chúng tôi đã hoàn thành.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn HoaBằng, người Thầy cũ khi tôi là Sinh viên Đại học Cần Thơ những năm 1989 –
1993, nay lại trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo Khoa Ngữ văn Trường Đại học Vinh đã giảng dạy, nâng cao kiến thức để chúng tôi có thểhoàn thành luận văn theo yêu cầu của một công trình khoa học
-Xin cảm ơn Trường Đại học Đồng Tháp đã tạo điều kiện thuận lợi chotôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã động viêngiúp đỡ để tôi nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn đúng thời hạn
Nghệ An, tháng 10 năm 2012
Tác giả
Thái Bá Thanh
Trang 42.1
2.2
3.
4.
5.
6.
Lịch sử vấn đề ………
Những công trình nghiên cứu về Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa ………
Những công trình liên quan gần với đề tài Hình tượng tác giả trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh ………
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……….
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ………
Phương pháp nghiên cứu ………
Đóng góp và cấu trúc của luận văn ………
3 3 9 11 11 11 12 Chương 1 : HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ VÀ TÁC GIẢ NGUYỄN XUÂN KHÁNH ………… 13
1.1 1.1.1 1.1.2 1.1.3 1.2. 1.2.1 1.2.2 Hình tượng tác giả ………
Tác giả văn học ………
Hình tượng tác giả ………
Các phương diện nghiên cứu hình tượng tác giả ………
Tác giả Nguyễn Xuân Khánh ………
Vài nét về cuộc đời ………
Hành trình sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh ………
13 13 15 19 25 25 27 Chương 2 : HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ THỂ HIỆN QUA CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT ……… 46
2.1. 2.1.1 2.1.2 2.1.3 2.2. 2.2.1 2.2.2 2.2.3 Cái nhìn lịch sử như một dòng chảy liên tục của văn hóa
Lịch sử dân tộc là lịch sử của một nền văn hóa có bản sắc riêng ………
Đặt trọng tâm cái nhìn vào các sự kiện bộc lộ bản sắc văn hóa
Lấy tiêu chí văn hóa để đánh giá các sự kiện lịch sử …………
Cái nhìn dân chủ, khách quan về con người và lịch sử ……
Lịch sử thuộc về quần chúng nhân dân ………
Cái nhìn khách quan về con người ………
Cái nhìn khách quan về một số giai đoạn lịch sử ………
46
47 55 69
73 73 75 79
Chương 3 : HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ
Trang 5THỂ HIỆN QUA GIỌNG ĐIỆU VÀ CHÂN DUNG … 84
3.1. 3.1.1 3.1.2 3.1.3 3.1.4 3.2. 3.2.1 3.2.2 3.2.3 Hình tượng tác giả thể hiện qua giọng điệu ……….
Giọng điệu trần thuật khách quan và sự thấu hiểu, cảm thông … Giọng điệu triết lí, suy tư ………
Giọng điệu trữ tình, cảm thương ………
Giọng điệu dí dỏm, hài hước ………
Chân dung hình tượng tác giả ………
Nhà văn “độc phá vạn quyển thư” ………
Nhà văn đề cao tính nữ và đời sống phồn thực ………
Nhà văn luôn trăn trở với những vấn đề văn hóa đất nước ……
KẾT LUẬN ……….
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….
84 84 88 91 93 95 95 99 108 115 119
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong thập niên đầu tiên của thế kỉ XXI, văn xuôi Việt Nam nói chung và thể loại tiểu thuyết nói riêng đã có những dấu hiệu chuyển động của một nền văn học mở Đời sống văn học cũng có năm “phẳng lặng” [69] hoặc chỉ mới dừng lại ở mức “chữ nghĩa lướt qua cơn suy thoái” [66] nhưng nhìn chung văn học ta đang thay đổi, đang chuyển động, đang thể nghiệm những
Trang 6hướng đi mới để tìm cách vượt ra khỏi sự trì trệ, nhàm chán, ngõ hầu đáp ứngnhu cầu thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao và ngày càng mới lạ của bạnđọc Trên con đường tìm tòi, đổi mới đầy vất vả, nhọc nhằn ấy, một số nhà văn
đã có những thành công nhất định, được đông đảo bạn đọc trân trọng đón nhận
và đề cao Về văn xuôi, chúng ta có thể kể đến Nguyễn Bình Phương, Hồ AnhThái, Nguyễn Ngọc Tư, Xuân Đức, Nguyễn Quang Hà, Trần Văn Tuấn, DươngHướng, Đỗ Kim Cuông, Từ Nguyên Tĩnh, Bùi Bình Thi, Tô Đức Chiêu, KhuấtQuang Thụy, Hoàng Đình Quang, Trầm Hương, Nguyễn Hoàng Thu, TrungTrung Đỉnh, Nguyễn Đình Tú, Bích Ngân, Cao Duy Sơn, Sương NguyệtMinh Quan tâm tới sự phát triển của mảng văn xuôi, nhất là thể loại tiểuthuyết – cỗ máy cái của một nền văn học – là đề tài đang còn nhiều điều đểkhai phá
1.2 Trong dòng chảy bộn bề của văn xuôi những năm đầu thế kỉ, cómột xu hướng khai thác đề tài lịch sử và văn hóa phong tục của đất nước Họtạo thành một đội ngũ khá hùng hậu với những đại diện tiêu biểu như : HoàngQuốc Hải, Nguyễn Mộng Giác, Lê Đình Danh, Võ Thị Hảo, Nguyễn QuangThân, Hoàng Công Khanh, Sương Nguyệt Minh, Ngô Văn Phú, Nam Dao, Trần
Vũ và hiển nhiên có một “cội mai già vẫn rừng rực nở hoa” : Nguyễn Xuân Khánh Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh là một hiện tượng văn học “lạ” trong
bối cảnh văn học đương đại Ông là nhà văn chỉ nổi tiếng khi đã bước vào tuổi
“xưa nay hiếm” Là cây bút hàng đầu của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nhưng
Nguyễn Xuân Khánh lại chưa hề có một mục từ nào được nhắc đến trong Từ điển văn học, mặc dù, giải thưởng của các Hội Nhà văn thường niên đều vinh
danh ông Và trong khi nhiều nhà văn đang cố gắng làm mới tác phẩm củamình với nhiều thủ thuật khác nhau, kể cả việc vận dụng các lí thuyết hiện đạicủa thế giới thì Nguyễn Xuân Khánh lại trung thành với lối viết “đặc sệt cổđiển” bằng một bút lực dồi dào và vốn văn hóa uyên bác khiến bạn đọc phảingạc nhiên, thán phục Văn xuôi Việt Nam đương đại nếu thiếu Nguyễn XuânKhánh sẽ “bớt đi bao nhiêu cái sang trọng của văn hóa Việt thấm đẫm trong
Trang 7văn học Việt” [11] Vì thế, tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh luôn khơi gợihứng thú tìm tòi của công chúng tiếp nhận.
1.3 Qua bộ ba tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa, Nguyễn Xuân Khánh luôn luôn trăn trở về những vấn đề lịch sử, văn hóa
của đất nước Đổi mới về tư tưởng quan trọng hơn đổi mới về bút pháp là mụcđích chính yếu và đóng góp chính yếu của tiểu thuyết gia Nguyễn Xuân Khánh.Nhưng lối viết tưởng như xưa cũ của ông vẫn có sức hấp dẫn lớn lao Bạn đọcbắt gặp trong tiểu thuyết của ông không phải những nhân vật, sự kiện, bứctranh lịch sử đã hóa thạch mà là những chỉnh thể nghệ thuật sống động, luônđối thoại với bạn đọc và mời gọi bạn đọc tham gia đối thoại Tái hiện lịch sử,văn hóa, phong tục là phông nền để nhà văn đánh giá, đề xuất, kiến giải về quákhứ và gợi mở những vấn đề ngay trong cuộc sống hôm nay Tư tưởng trong bacuốn tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, dĩ nhiên là khác nhau nhưng xuyênsuốt nó là tinh thần văn hóa Việt Nhà văn đã phát hiện ra nguồn năng lực nộisinh của văn hóa dân tộc, để từ đó, con người Việt Nam có thể trường tồn trướcsóng gió ba đào của lịch sử Ở góc độ này, Nguyễn Xuân Khánh đã có nhữngtrang viết mê đắm và tài hoa Vì thế, đọc hàng ngàn trang tiểu thuyết của ông,người đọc vẫn cảm thấy thích thú và hấp dẫn
1.4 Hình tượng tác giả luôn tồn tại trong mọi tác phẩm và rộng hơn làtrong toàn bộ sáng tác của một nhà văn Nhưng tùy vào thể loại và cá tính sángtạo mà hình tượng ấy có sự xuất hiện đậm nhạt khác nhau Trong sáng tác củaNguyễn Xuân Khánh, hình tượng tác giả hiện lên như một nét đặc sắc riêngtrong thế giới nghệ thuật của ông Việc nghiên cứu hình tượng tác giả trong tiểuthuyết của Nguyễn Xuân Khánh là hướng tiếp cận văn học từ phương diện thipháp Cách tiếp cận này giúp chúng ta có thêm một góc nhìn mới để phát hiện
và khám phá chiều sâu tác phẩm, đồng thời góp phần định hình phong cáchNguyễn Xuân Khánh cũng như những đóng góp của ông cho văn học nước nhà
Là một hiện tượng văn học, Nguyễn Xuân Khánh dành được nhiều sựquan tâm tìm hiểu, nghiên cứu của công chúng tiếp nhận nhưng có thể khẳng
Trang 8định, chưa có một công trình hoàn chỉnh nào nghiên cứu về hình tượng tác giả
trong tiểu thuyết của ông Vì thế, trong lúc này, việc nghiên cứu Hình tượng tác giả trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, một nhà văn viết rất hay về lịch
sử, văn hóa, phong tục cũng là việc làm hợp thời, tùy duyên.
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Những công trình nghiên cứu về Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa
2.1.1 Năm 2000, khi tác phẩm Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh
xuất hiện và đạt giải thưởng của Hội Nhà văn, Nhà xuất bản Phụ nữ đã tổ chức
hội thảo về tiểu thuyết Hồ Quý Ly, sau đó, nội dung hội thảo được đăng tải trên báo Văn nghệ (số 41, ngày 7/10/2000) Qua hội thảo này và qua các bài viết
trên các báo và tạp chí, tác phẩm đã được nhìn nhận, đánh giá từ nhiều phương
diện Nhà văn Hoàng Quốc Hải (Những điều khả ái về tiểu thuyết Hồ Quý Ly)
nhận xét : “Đây là cuốn tiểu thuyết lịch sử viết rất nghiêm túc, bám sát chính
sử Văn chương mượt mà, có sức cuốn hút, đọc hết 800 trang vẫn muốn đọc
lại” Theo ông : “tư tưởng chủ đề của tiểu thuyết Hồ Quý Ly xoay quanh ba chữ
“thời thiên tuý” mà tác giả đã khéo léo đề cập ” Châu Diên (Tiểu thuyết Hồ Quý Ly và tố chất nhà văn trong Nguyễn Xuân Khánh) nêu ra ba ưu điểm của cuốn tiểu thuyết : không né tránh vấn đề gay cấn ; xử lí vấn đề tài tình ; sự ảo tưởng tích cực của tác giả thể hiện trong tác phẩm Nhà văn Hồ Anh Thái cho rằng, cuốn sách là sự kết hợp thành công hai yếu tố của thể loại là tiểu thuyết
và lịch sử Trịnh Đình Khôi nhấn mạnh những ưu điểm nổi bật : “Cuốn sách rất
có văn Lâu nay ta chú ý truyện nhiều hơn văn Vấn đề đặt ra có ý nghĩa hiệnđại : các mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân, giữa giới cầm quyền và tríthức, giữa chính trị và văn học” Tiến sĩ Đinh Công Vỹ với tiêu đề giản dị :
Tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh đã đánh giá những ưu điểm chính của tác phẩm : khắc phục được tính chất đơn điệu, phiến diện khi viết về lịch sử và nhân vật lịch sử ; tri thức uyên bác ; có những trang văn đẹp về tình yêu và người phụ nữ Bên cạnh những ưu điểm ấy, tiểu thuyết này vẫn còn
Trang 9những hạn chế : Ngôn ngữ đối thoại (như giữa Hồ Nguyên Trừng và Hồ Quý Ly) mới mẻ quá ; những bài thơ, bài hát quốc ngữ trong đó nghe như của thời hiện đại ; chưa đánh giá triệt để những mặt yếu của Hồ Quý Ly Hoàng Cát (Tiểu thuyết Hồ Quý Ly, thưởng thức và cảm nhận – vietnamnet.vn) đánh giá
đây là một tiểu thuyết bề thế, sâu sắc, hấp dẫn về một giai đoạn phức tạp củadân tộc Xác định tư tưởng chủ yếu của tác phẩm để minh định về thể loại,
Nguyễn Văn Dân (Mấy xu hướng chủ yếu trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại – báo Văn nghệ số 11, ra ngày 12 – 3 – 2011) đã xếp Hồ Quý Ly của
Nguyễn Xuân Khánh vào xu hướng tiểu thuyết luận giải
Về phương diện xây dựng nhân vật, tại Hội thảo, nhà văn Trần Thị
Trường đọc tham luận Những nhân vật nữ trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly ; nhà văn Hoàng Tiến đề cập đến Thân phận kẻ sĩ trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly.
Nhưng nhiều ý kiến phát biểu của Nguyên Ngọc, Nguyễn Trọng Tân, LạiNguyên Ân, Phạm Xuân Nguyên lại chủ yếu đề cập đến nhân vật chính HồQuý Ly Các nhà nghiên cứu đều thống nhất đánh giá đây là nhân vật được xâydựng thành công và đó là điều quyết định sự thành công của cuốn tiểu thuyết.Sau Hội thảo, giới nghiên cứu tiếp tục dành sự quan tâm cho tác phẩm Đỗ
Ngọc Yên (Tạp chí Non nước số 140, tháng 10 – 2010) với bài viết Hồ Quý Ly – cách tân hay bạo chúa nghiêng về hướng đề cao chủ trương cải cách táo bạo của Hồ Quý Ly Cũng trên Tạp chí Non nước (số 155 – 2010), Nguyễn Thị Thu Hương nghiên cứu Vấn đề xây dựng nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết Hồ Quý
Ly của Nguyễn Xuân Khánh Nhà nghiên cứu kết luận : khi xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đồng quan điểm với bậc thầy của tiểu thuyết lịch sử mà ông đã từng ngưỡng mộ đó là Alexandre Dumas Ông xem “lịch sử chỉ là cái đinh treo”, để chú ý khai thác nhân vật lịch sử từ góc nhìn nội tâm thông qua sức mạnh của cảm xúc, tưởng tượng, còn những nhân vật làm bằng hư cấu thì ông lại tìm cách gắn nó vào “cái đinh treo” bằng sức hút của từ trường lịch sử Trong luận văn thạc sĩ [136], Phạm
Trang 10Thị Bích Thủy khai thác hình tượng nhân vật trong một số tiểu thuyết lịch sử,
trong đó có Hồ Quý Ly.
Về những đóng góp của tiểu thuyết Hồ Quý Ly cho thể loại tiểu thuyết lịch sử và cho văn học nước nhà nói chung, Lại Nguyên Ân trong bài Hồ Quý
Ly (Tạp chí Nhà văn số 6 năm 2000) đã sớm phát hiện thấy những nét mới của
tác phẩm này : “Tác giả Nguyễn Xuân Khánh vừa khai thác tối đa các nguồn sửliệu, văn liệu hiện còn, vừa phóng khoáng trong những hư cấu tạo ra một thựctại tiểu thuyết vừa tương đồng với những thông tin còn lại về một thời đại đãlùi xa vừa in dấu cách hình dung và trình bày riêng của tác giả” Nhà văn Trung
Trung Đỉnh trong bài viết : Hồ Quý Ly và những giải pháp mới cho tiểu thuyết lịch sử nước nhà (Tạp chí Văn nghệ quân đội tháng 10 – 2011) cho rằng sức
hấp dẫn của tác phẩm “không chỉ ở văn mạch mà cái chính là tác giả đã lựachọn được cho mình một thế đứng vững chắc và một thế đứng với tư thế củamột nhà tiểu thuyết trước vấn đề hôm qua và hôm nay” Một số luận văn thạc sĩ
đi vào khai thác những cách tân, thành tựu của tiểu thuyết lịch sử cũng đã lấy
tiểu thuyết Hồ Quý Ly làm đối tượng khảo sát như : Tiểu thuyết Hồ Quý Ly trong sự vận động của tiểu thuyết lịch sử nửa sau thế kỉ XX của Đỗ Hải Ninh, Thành tựu của tiểu thuyết lịch sử qua Vạn Xuân và Hồ Quý Ly của Trần Thị Quỳnh Hoa, Những cách tân đáng chú ý của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời đổi mới của Nguyễn Thị Phương Thanh Đặc biệt, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp bộ : Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới đến nay do PGS.TS Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm đề tài đã đánh giá cao những đóng góp của Nguyễn Xuân Khánh trên nhiều phương diện, đã có công
mở ra hướng đi mới cho tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử sau 1975
2.1.2 Tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn đạt giải thưởng của Hội Nhà văn
năm 2006 cũng nhận được sự hưởng ứng không kém nồng nhiệt của dư luận.Nhà xuất bản Phụ nữ lại tiếp tục được vinh dự là nơi xuất bản và tổ chức tọađàm về tác phẩm này Về phương diện nội dung, Thạc sĩ Đoàn Ánh Dương
(vannghequandoionline 22 – 3 – 2012) cho rằng, vấn đề chủ yếu của Mẫu
Trang 11Thượng Ngàn là muốn đi sâu vào cội nguồn của văn hóa Việt và đó là căn
nguyên sức sống của dân tộc Nguyên Ngọc đề cao tác phẩm bằng bài viết :
Mẫu Thượng Ngàn : Một cuốn tiểu thuyết thật hay về văn hoá Việt Tác giả cho
rằng : “Nếu đi tìm một nhân vật chính cho cuốn tiểu thuyết này, thì hẳn có thểnói nhân vật chính đó là nền văn hoá Việt” Phạm Hồ Thu ca ngợi tác phẩm
Mẫu Thượng Ngàn - bài ca về vẻ đẹp Việt Châu Diên [16] khẳng định, Mẫu Thượng Ngàn chính là cuộc dành lại bản sắc văn hóa Việt trong cuộc giao lưu
tiếp biến với văn hóa ngoại lai Trả lời phỏng vấn của báo chí, chính nhà vănNguyễn Xuân Khánh đã tiết lộ cho người đọc ý tưởng, sự hình thành tiểu
thuyết Mẫu Thượng Ngàn cũng như những trang viết về người phụ nữ và vấn
đề nhục cảm trong tác phẩm của ông Nguyễn Quang Huy [40] có những kiếngiải thú vị về nguyên lí mẫu và nữ tính đã chi phối tư tưởng tác phẩm, hình
tượng, các môtip nghệ thuật của Mẫu Thượng Ngàn.
Về phương diện nghệ thuật và những yếu tố làm nên thành công của tácphẩm, Phạm Xuân Nguyên (qua trao đổi với phóng viên VTC News) nhìn thấy
ở Mẫu Thượng Ngàn : Nội lực văn chương của Nguyễn Xuân Khánh Nhà
nghiên cứu Châu Diên chỉ rõ, cái tài của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh là ở chỗanh dùng gần như toàn bộ những “nhân vật” anh từng về quê ăn giỗ mỗi tuầnmột bận, để rồi sắp xếp họ lại trong một không gian là một cái làng vẫn như thế
mà lại khác hẳn, trong một thời gian là cuộc khủng hoảng giành lại một bản sắcdân tộc Văn Chinh khen ngợi bút lực, sự trẻ trung, tươi mát trong những trang
văn Nguyễn Xuân Khánh : có thể ví ông như gốc mai già, mấy mươi năm chìm khuất đâu đó chợt bật lên rừng rực nở hoa hắt lên văn đàn ánh trắng tinh khiết
và ngan ngát hương thơm để diện mạo hốt nhiên thay đổi [12] Ngô Lê Khánh Huyền (sankhauvietnam.com.vn) cũng đồng quan điểm : văn chương Nguyễn Xuân Khánh chững chạc, đúng mực, thấm đẫm tình cảm và luôn kèm theo bề sâu văn hóa dày đặc.
Ngoài ra, các công trình nghiên cứu như : Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết lịch sử sau 1975 của Nguyễn Thị Kim Tiến
Trang 12(tonvinhvanhoadoc.vn) ; Kiểu truyện về thánh mẫu và truyền thống trọng mẫu trong văn học Việt Nam của Tiến sĩ Nguyễn Thị Nguyệt [62] đều coi Mẫu Thượng Ngàn như một cứ liệu quan trọng để nghiên cứu Một số công trình nghiên cứu về Mẫu Thượng Ngàn do có liên quan gần gũi với đề tài nên chúng
tôi sẽ trình bày ở mục 2.2
2.1.3 Cứ tưởng bao nhiêu vốn liếng về lịch sử - văn hóa dân tộc đã
được Nguyễn Xuân Khánh “trút” hết vào Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn thì bất ngờ ở tuổi gần 80, Nguyễn Xuân Khánh lại “tình tang” Đội gạo lên chùa.
Cuốn tiểu thuyết nhanh chóng gây tiếng vang trong dư luận và được bạn đọc
tán thưởng Tại buổi tọa đàm Nguyễn Xuân Khánh đội gạo lên chùa do Nhà
xuất bản Phụ nữ và Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức ngày 20 – 6 – 2011 đã chothấy sức gây chú ý của nhà văn cao niên này với tác phẩm mang chủ đề vănhóa – lịch sử thứ ba của ông Hầu như các bài viết và ý kiến thảo luận chủ yếu
tại diễn đàn đều tập trung vào việc tiểu thuyết Đội gạo lên chùa nêu lên và xử lí
vấn đề Phật giáo đóng góp như thế nào vào bản sắc và lịch sử tinh thần dân tộc
Tiêu biểu là các tham luận của Văn Chinh đề cập đến một Tinh thần dân chủ Phật giáo ; Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Thái nhận xét nét đặc sắc tư tưởng Tùy duyên mà tiểu thuyết này ứng dụng, gợi vấn đề đạo Phật Việt Nam đặc thù ;
Tiến sĩ Nguyễn Văn Tùng từ góc nhìn truyền thống của tiểu thuyết Việt Nam
hiện đại nói đến cảm hứng Phật giáo đối với đề tài lịch sử cách mạng ; v.v.
Dường như, dễ có một sự nhất trí về sự kiện đạo Phật đã trở thành một yếu tốcăn bản của tâm hồn dân Việt xưa nay, hơn là đạt được một đồng thuận về cácvấn đề tầm vóc tinh thần của Phật giáo trong những tiến trình lịch sử - văn hóahiện đại của dân tộc, là điều mà cuốn tiểu thuyết này xem xét Đồng quan điểm
với cách tiếp cận trên, Mai Anh Tuấn (Tạp chí Nhà văn tháng 8 – 2011) cũng hiểu tác phẩm này “như một tham khảo Phật giáo” : “Đội gạo lên chùa của
Nguyễn Xuân Khánh là cuốn tiểu thuyết, ngay từ tiêu đề, đã tiết lộ một dấu chỉPhật giáo và bởi thế, liền sau đó, vẫy gọi những cảm xúc cũng như tri thức tiếp
Trang 13nhận thuộc chốn cửa thiền, một không gian văn hóa riêng biệt, đòi hỏi thái độtìm biết vừa trang nghiêm, vừa có phần e dè”.
Một trong những bài viết quan trọng mà báo Văn nghệ đăng tải (số 27, ngày 2 – 7 – 2011) như một cái nhìn gợi ý và tham chiếu cho thảo luận về Đội gạo lên chùa là của nhà nghiên cứu trẻ Đoàn Ánh Dương có tên : Kiến giải về dân tộc trong Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh So sánh với hai tiểu thuyết trước đó của Nguyễn Xuân Khánh, tác giả viết : “Đội gạo lên chùa không kiến giải về dân tộc qua người đại diện chính đáng của nó như Hồ Quý
Ly, cũng không kiến giải về dân tộc qua thời đoạn thử lửa khốc liệt của nó (ý nói Mẫu Thượng Ngàn – tôi thêm), ở đấy (tức Đội gạo lên chùa – tôi thêm),
kiến giải về dân tộc xuất phát từ chính lịch sử của sự xây dựng dân tộc ấy, mộtdân tộc theo quan niệm hiện đại, trải dài suốt thời hiện đại”
Nhiều tờ báo ở ta, kể cả những tờ không chuyên về văn học cũng rất
quan tâm đến Đội gạo lên chùa Trên báo Hà Nội mới (28 – 6 – 2011), Châu
Diên ghi nhận sự đổi mới thi pháp của tác giả, Hoàng Quốc Hải xác định tưtưởng tác phẩm là sự bày tỏ lối sống Phật giáo, người Việt “tùy duyên” mà tiếpnhận đạo Phật như thế nào Giáo sư Phong Lê khen “vốn sống cũng như trithức dày dặn lắm, mà những gì thành ra con chữ đều đã được trải nghiệm cả,cho nên nó tự nhiên, an nhiên, không bị nống lên Viết thế này khó lắm” Nhàvăn Nguyễn Khắc Phê (phunuonline.com.vn, 18 – 6 – 2011) đưa ra một so sánh
: Rất khó để so sánh Đội gạo lên chùa với hai tiểu thuyết Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn đã được khẳng định giá trị của Nguyễn Xuân Khánh Có điều dễ thấy là Đội gạo lên chùa, do đề tài và hiện thực miêu tả gần gũi hơn với bạn đọc hôm nay, nên nhà văn khó đưa trí tưởng tượng bay bổng như hai tác phẩm trước, nhưng mặt khác, Đội gạo lên chùa lại gợi nhiều vấn đề để suy ngẫm hơn
và có nhiều trang độc giả sẽ muốn mở ra đọc lại Phạm Xuân Nguyên (Báo Phụ nữ TP.HCM số Tết Nhâm Thìn 2012) tìm thấy trong văn Nguyễn Xuân
Khánh “một thứ hương mê hoặc người đọc là trộn lẫn mùi hương đàn bà và
Trang 14mùi hương Phật”, từ đó ông trân trọng gọi Nguyễn Xuân Khánh là “Ông Phậtvăn”.
2.2 Những công trình liên quan gần với đề tài Hình tượng tác giả trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh
Vận dụng lý thuyết hậu thực dân và lý thuyết tự sự học, nhằm tìm hiểubiểu hiện của tự sự hậu thực dân, nhà nghiên cứu Đoàn Ánh Dương nhìn thấy
ở Mẫu Thượng Ngàn có sự pha trộn giữa lịch sử và huyền thoại Sau khi trình bày các khái niệm, tác giả xác định nội dung của bài viết : Tuy vậy, tiếp cận Mẫu Thượng Ngàn như một diễn giải lịch sử mang tính hậu thuộc được hậu thuẫn không chỉ bởi các vấn đề trên mà còn từ phía kỹ thuật tự sự của tác giả như là cách thức cân bằng giữa tính mạch lạc và tính hư cấu trong việc nhìn nhận về thời đã qua Bài viết sẽ tập trung đề cập tới hệ thống các nhân vật/ các tiếng nói, hệ thống các biểu tượng và cách thức tổ chức ngôi kể (gồm cả hàm ý chủ thể được/ được chọn lên tiếng) như là các kỹ thuật tự sự phục vụ mục đích diễn giải này [20].
Cũng bàn về phương diện trần thuật, Khánh Phương nói đến sự hấp dẫntrong những trang văn kể chuyện của Nguyễn Xuân Khánh Theo đó : “NguyễnXuân Khánh chỉ say sưa, đắm đuối miêu tả, phán đoán, kiếm tìm, những điều
mà ông cho là tâm thức, cảm thức, giá trị văn hóa sâu xa của dân tộc” và “Toàn
bộ tác phẩm tràn ngập bầu không khí ngọt ngào quyến rũ của thế giới trực giác.Ngoại trừ những phân đoạn đi sâu miêu tả tâm lý cộng đồng, phong tục, nhưmột tư liệu phục vụ khảo cứu tâm lý, tất thảy là thế giới mê đắm của trực giác,linh cảm, ham muốn, ẩn ức, bị quyến rũ” [68]
Về quan niệm lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh, Đỗ Hải Ninh viết : “Lịch sửtrong sáng tạo nghệ thuật của nhà văn đã vượt thoát khỏi kinh nghiệm quen thuộc củacộng đồng Nhà văn không lệ thuộc vào những sự thật được kinh nghiệm tập thể chấpnhận, những hình tượng đã xác lập bằng thái độ sùng kính hay phủ nhận mà sáng tạo
lịch sử của riêng mình” và “Nguyễn Xuân Khánh chỉ mượn nó làm phương tiện để
Trang 15chuyển tải kinh nghiệm, suy ngẫm và triết lý của mình” Lịch sử “không phải là quá khứ bất biến”, lịch sử “ở trong con người” [67].
Tiếp cận lịch sử từ góc nhìn văn hóa là một trong những đóng góp của Nguyễn
Xuân Khánh cho tiểu thuyết đương đại Ngô Thị Quỳnh Nga có bài viết “Điểm nhìn văn hóa trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh” [57] Trên cơ sở khảo sát Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn, tác giả cho thấy, sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh được
bao bọc trong bầu khí quyển văn hóa đậm đà Nhà văn phục dựng không khí cổ xưa,nhiều khi đắm màu huyền thoại qua các sinh hoạt thôn dã, các lễ hội dân gian Các nhânvật cũng được đặt trong bối cảnh văn hóa để xem xét họ đã có những đóng góp gì cho sự
phát triển của đất nước Trong Mẫu Thượng Ngàn, các tôn giáo trải qua nhiều thăng
trầm, nhưng trong niềm tin của Nguyễn Xuân Khánh thì “Đạo nào cũng thế cả thôi
Tất cả đều là khuyến thiện” Cũng ở góc độ văn hóa, Tiến sĩ Trần Thị An nhận thấy Sức
ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn [1] Vấn đề này được tác giả triển khai trên ba phương diện : Tín ngưỡng dân gian với tư cách là một năng lực cố kết cộng đồng ; Tín ngưỡng dân gian với tư cách là phản lực tự vệ của một dân tộc ; Tín ngưỡng dân gian với tư cách là vô thức cộng đồng cần được khai phá.
Trịnh Thị Lan đề cập đến Ngôn ngữ thân thể trong Mẫu Thượng Ngàn và cho
đó là một trong những phương diện làm nên sự hấp dẫn của văn chương Nguyễn Xuân
Khánh Tác giả bài viết kết luận : Ngôn ngữ thân thể trong Mẫu Thượng Ngàn mang tính chất lưỡng tính, vừa là thân thể, vừa là tâm hồn, “là sự thể nghiệm tâm hồn thân thể hóa” Nó đã giúp nhà văn nhìn ra vẻ đẹp trần gian nơi con người Và đặc biệt, trong nó còn ẩn chìm cái bề sâu của nền văn hóa Việt tràn đầy sức sống [50].
Qua phần trình bày về lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, cóthể thấy rằng, vấn đề hình tượng tác giả trong tiểu thuyết của nhà văn mặc dù đã được đềcập đến ở một số phương diện nhưng vẫn chưa có một công trình nghiên cứu đầy đủ, có
hệ thống Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của những người đi trước là những gợi ý rấtquan trọng để chúng tôi hoàn thành luận văn này
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu
Trang 163.1 Đối tượng nghiên cứu
Hình tượng tác giả trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh
3.2 Phạm vi tư liệu
Khảo sát qua các tác phẩm Hồ Quý Ly (Nxb Phụ nữ, in lần thứ 9, năm 2010), Mẫu Thượng Ngàn (Nxb Phụ nữ, in lần thứ 5, năm 2009) , Đội gạo lên chùa (Nxb Phụ nữ, in lần thứ 2, năm 2011) của Nguyễn Xuân Khánh Ngoài ra,
luận văn cũng tham khảo một số tác phẩm có liên quan đến đề tài để làm cơ sở
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh
- Tìm hiểu hình tượng tác giả thể hiện qua cái nhìn nghệ thuật, giọngđiệu và các yếu tố tự thể hiện thành chân dung của hình tượng tác giả
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích – tổng hợp : Đi sâu phân tích, xem xét từngphương diện của đề tài thể hiện qua ba tác phẩm, từ đó rút ra những đánh giá vànhận định khái quát
- Phương pháp so sánh – đối chiếu : So sánh, đối chiếu giữa các tácphẩm của Nguyễn Xuân Khánh để khái quát thành các luận điểm và so sánhNguyễn Xuân Khánh với một số nhà văn khác để thấy được nét chung và riêng
- Phương pháp cấu trúc – hệ thống : Thiết lập và sắp xếp các vấn đề mộtcách logic, khoa học ; xem xét, đánh giá trong cấu trúc tổng thể của chúng
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành : Tìm hiểu về lịch sử, văn hóa cácgiai đoạn mà tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh phản ánh ; nghiên cứu các tài
Trang 17liệu về văn hóa Việt Nam làm cơ sở tìm hiểu tư tưởng Nguyễn Xuân Khánh và
lí giải về những thành công của nhà văn
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1 Đóng góp của luận văn
- Nghiên cứu hình tượng tác giả trong sáng tác của Nguyễn XuânKhánh một cách toàn diện và hệ thống
- Góp phần gợi mở một vài luận điểm khi nghiên cứu về các phươngdiện khác trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh
- Là tài liệu tham khảo khi nghiên cứu về Nguyễn Xuân Khánh và vănxuôi những năm đầu thế kỉ XXI
6.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn được triển khai qua ba chương:
Chương 1: Hình tượng tác giả và tác giả Nguyễn Xuân Khánh
Chương 2: Hình tượng tác giả thể hiện qua cái nhìn nghệ thuật
Chương 3: Hình tượng tác giả thể hiện qua giọng điệu và chân dung
Chương 1HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ
VÀ TÁC GIẢ NGUYỄN XUÂN KHÁNH1.1 Hình tượng tác giả
1.1.1 Tác giả văn học
Trang 18Theo ý nghĩa chung, tác giả là người làm ra một sản phẩm sáng tạo về
các lĩnh vực khoa học – kĩ thuật, văn hóa – nghệ thuật và được chấp nhận vềquyền lợi tinh thần hoặc vật chất, trở thành chủ thể của sáng tạo đó và có quyền
sở hữu về sản phẩm do mình sáng tạo ra
Tác giả văn học là người sáng tạo ra các giá trị văn học Đó là điềukhông cần phải bàn cãi Nhưng phạm trù tác giả có hiện diện trong thế giớinghệ thuật của tác phẩm và có hiện lên trong sự tiếp nhận của người đọc haykhông lại là vấn đề khá phức tạp Có khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò củatác giả mà phủ định tất cả các yếu tố khác, tiêu biểu như Froi-đơ coi tác phẩm
“chỉ là sự thông báo của cái tôi” Trong khi đó, Hai-đơ-gơ lại phủ định vai tròcủa tác giả, chỉ thấy tác phẩm mà không cần biết tác giả là ai, bởi tác giả sẽ
“biến mất”, hay “tự hủy hoại mình trong sáng tác” [chuyển dẫn từ 27,81]
Trong tiểu luận Tác giả là gì? Misen Phu-cô cũng cho rằng: “Song song với sự
biến hoá không ngừng của xã hội, chức năng tác giả được ngoại hiện vào một
khoảnh khắc của quá trình ấy sẽ biến mất” [chuyển dẫn từ 71,115-116] Theo
ông, tác giả chẳng qua là “một biện pháp dùng để ngăn trở sự tự do hư cấu, tự
do chi phối và cấu tạo lại tác phẩm mà thôi” [chuyển dẫn từ 71,106] Một khicác quy ước ấy thay đổi thì tác giả cũng như một người đọc Thực ra, trong đờisống văn học, phạm trù tác giả vẫn hiển nhiên tồn tại và là yếu tố không thểthay thế trên tiến trình văn học M Bakhtin cho rằng “kẻ biết, hiểu, nhìn thấytrước hết chỉ là một mình tác giả” [chuyển dẫn từ 27,81], vì thế, phạm trù tácgiả vẫn là phạm trù hạt nhân đóng vai trò trung tâm tổ chức và thống nhất cácmối quan hệ văn học
Mọi hoạt động của văn học, từ hoạt động tiếp nhận, thưởng thức đếnnghiên cứu, phê bình chỉ thực sự bắt đầu khi tác phẩm của nhà văn ra đời.Cho nên nhà văn là người khởi đầu của nhiều hoạt động văn chương, giữ vaitrò đặc biệt quan trọng trong đời sống văn học Ta gọi tác phẩm văn học là mộtcông trình sáng tạo nghệ thuật bởi lao động của người nghệ sĩ đúng là lao độngsáng tạo Tác phẩm văn học không thể sản xuất đồng loạt theo những khuôn
Trang 19mẫu có sẵn như sản xuất công nghiệp Nghệ thuật luôn đòi hỏi nhà văn phảisáng tạo ra những tác phẩm mới mẻ cả về nội dung lẫn hình thức Bakhtin cũngnói nghệ sĩ chỉ là nghệ sĩ khi anh ta đối diện với chất liệu, khi sáng tạo ra hìnhthức mới của cái nhìn nghệ thuật tương ứng với một nội dung mới về cuộc sống[72,126] Vì vậy, tác giả văn học phải là người tài năng, có văn hoá, có quanđiểm nghệ thuật riêng Tác giả văn học thực sự cũng phải là người có nhâncách, có bản lĩnh vững vàng và có ý thức sâu sắc về nghề nghiệp Nhà nghiên
cứu Đông Hoài trong cuốn Nhận thức và thẩm định (Nxb Văn học, Hà Nội
1983) đã viết: “Tác giả văn học phải có một kỹ năng miêu tả điêu luyện, một
bút pháp độc đáo lành nghề trong đó năng khiếu bẩm sinh là có thật, cần đượckịp thời phát hiện và không ngừng vun bồi bảo vệ” [tr.8] Sáng tạo nghệ thuậtđòi hỏi nhà văn phải có năng khiếu, có tài tư duy bằng hình tượng, có khả năngsuy ngẫm về các vấn đề của hiện thực thông qua một thế giới hình tượng gồmnhững cảnh vật và những nhân vật cụ thể, sống động, tồn tại trong những mốiquan hệ xã hội phong phú và đa dạng
Đó là cơ sở để các tác giả Từ điển thuật ngữ văn học đề xuất một quan
niệm : “Về thực chất, tác giả văn học là người làm ra cái mới, người sáng tạo racác giá trị văn học mới Sự bắt chước, mô phỏng, theo đuôi thời thượng hoặcsáng tác không có bản sắc, không làm nên tác giả văn học đích thực” [33,289].Theo đó, tác giả văn học phải là người có ý kiến riêng về đời sống và thời cuộc,người phát biểu một tư tưởng mới, quan niệm mới, một cách hiểu mới về cáchiện tượng đời sống, bày tỏ một lập trường xã hội và công dân nhất định Tất cảđiều đó được thể hiện qua các hình tượng nghệ thuật độc đáo, sống động, gâynên khoái cảm nghệ thuật ở người đọc Phẩm chất nghề nghiệp của tác giả vănhọc được kết tinh thành phong cách riêng, giọng điệu riêng Vì thế, khái niệmtác giả văn học nhiều khi đồng nghĩa với “cá tính sáng tạo”, với “phong cách”,
có tính biểu trưng cho một giai đoạn, một trào lưu văn học hoặc một sự kiện, vìvậy tên tác giả được ghi vào từ điển cùng với tác phẩm, hoặc được lấy làm căn
cứ để nghiên cứu phê bình
Trang 20Nhà thi pháp học Trần Đình Sử cho rằng : “Tác giả là trung tâm tổchức nội dung và hình thức cái nhìn nghệ thuật trong tác phẩm, là người mangcảm quan thế giới đặc thù và là trung tâm tổ chức lại ngôn từ theo nguyên tắcnghệ thuật” [71,106] Vì thế, việc tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến thờiđại sống, quá trình sáng tác của nhà văn là một việc làm cần thiết Hoàn cảnhxuất thân, quê quán, thời gian sống và hành trạng góp phần làm rõ các khíacạnh tư tưởng, tâm lý trong tác phẩm Tìm hiểu tác giả trong nghiên cứu vănhọc như là một khái niệm của thi pháp học là nghiên cứu “người xây dựngđược ngôn ngữ nghệ thuật mới, có phong cách, có giọng điệu riêng, có bộ mặtriêng trong thể loại, có hệ thống hình ảnh biểu tượng, đặc trưng riêng”[33,242].
Tác giả văn học cũng được gọi bằng nhiều tên khác nhau Người xưa
gọi chung những người viết văn là tác gia, gọi những người sành văn là văn chương gia, gọi những người có văn chương giúp đời là đại gia Sau này,
những tác giả văn học mà sáng tác mở ra một thời đại văn học, có tác dụng làm
khuôn thước, có ảnh hưởng lớn đối với nhân loại thì gọi là văn hào, thi hào, nhà văn vĩ đại Những tác giả văn học có ảnh hưởng lớn trong văn học dân tộc, hoặc từng giai đoạn của văn học dân tộc là nhà văn lớn Xét theo thể loại sáng tác, tác giả văn học lại được gọi là nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch
1.1.2 Hình tượng tác giả
Ở bất kỳ thể loại nào, tự sự, trữ tình hay kịch, chủ thể sáng tạo bao giờcũng xuất hiện, dù có thể là đậm nhạt khác nhau Với trí tưởng tượng phongphú, khả năng lựa chọn đề tài, chủ đề, sự vận dụng khéo léo các thủ pháp nghệthuật và ngôn từ, người nghệ sĩ đã sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật để thể hiệnnhững tư tưởng tình cảm của mình Tác phẩm là sự kết tinh quá trình tư duynghệ thuật của tác giả, biến những biểu tượng, ý nghĩ, cảm xúc bên trong củanhà văn thành một sự thực văn hoá, xã hội khách quan cho mọi người soingắm, suy nghĩ Dấu ấn của chủ thể sáng tạo để lại trong tác phẩm văn học thểhiện rất rõ nét trong hình tượng tác giả
Trang 21Hình tượng tác giả hiện hình trong tác phẩm là phạm trù của thi pháphọc Nghiên cứu hình tượng tác giả xuất hiện trong tác phẩm văn học với tưcách là một phạm trù của thi pháp học là việc làm cần thiết đối với nghiên cứuvăn học Bởi vì, thông qua tác phẩm văn chương, người nghệ sĩ thể hiện sựnhìn nhận, đánh giá, bày tỏ lập trường, thái độ của mình đối với cuộc sống và
con người Cơ sở tâm lý của hình tượng tác giả là hình tượng cái “tôi” trong
nhân cách mỗi người thể hiện trong giao tiếp Cơ sở nghệ thuật của hình tượngtác giả trong văn học là tính chất gián tiếp của văn bản nghệ thuật : văn bản củatác phẩm bao giờ cũng là lời của người trần thuật, người kể chuyện hoặc nhânvật trữ tình Nhà văn xây dựng một văn bản đồng thời với việc xây dựng ra
hình tượng người phát ngôn văn bản ấy với một giọng điệu nhất định Theo Từ
điển thuật ngữ văn học thì hình tượng tác giả là : “Phạm trù thể hiện cách tự ý
thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò văn học của mình trong tác phẩm,một vai trò được người đọc chờ đợi ( ) Hình tượng tác giả trong tác phẩm vănhọc gắn với ý thức của tác giả về vai trò xã hội, tư thế văn học rất đa dạng củamình” [33,149] Như vậy, phạm trù tác giả là một trong những yếu tố quyếtđịnh phong cách cá nhân nhà văn và phong cách tác phẩm nghệ thuật
Hình tượng tác giả cũng là một hình tượng được sáng tạo ra trong tácphẩm như hình tượng nhân vật nhưng theo một nguyên tắc khác : “Nếu hìnhtượng nhân vật xây dựng theo nguyên tắc hư cấu, được miêu tả theo một quanniệm nghệ thuật về con người và theo tính cách nhân vật, thì hình tượng tác giảđược thể hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện sự cảm nhận và thái độ thẩm mĩ đối
với thế giới nhân vật” [71,107].
Nếu như trong giao tiếp, người ta có nhu cầu muốn biểu hiện cái “tôi”
của mình với người đối thoại như là người uyên bác, trí tuệ, giàu lòng vị tha theo yêu cầu của xã hội, thì trong văn học cũng vậy, các nhà văn bao giờ cũngmuốn biểu hiện mình như người khám phá cái mới, người có nhãn quan cấp
tiến, có cá tính nghệ sĩ L.Tônxtôi đã từng nói, đại ý : Nếu trước mắt ta là một tác giả mới, thì câu hỏi tự nhiên đặt ra là liệu anh ta có thể nói điều gì mới đối
Trang 22với bạn đọc? Nhà văn Nga khẳng định rằng, khi đọc tác phẩm văn học, hứng
thú chủ yếu chính là tính cách của tác giả thể hiện trong đó Một nhà văn không
có gì mới, không có sự sáng tạo nghệ thuật, không có nét riêng, cái mới thì tácphẩm không gây được sự chú ý của người đọc
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng hình tượng tác giả là yếu tố quyết địnhnên phong cách nhà văn Chúng ta biết rằng, hình tượng tác giả trong văn học
là cái được biểu hiện trong tác phẩm một cách đặc biệt, không giống với nhân
vật Vì vậy, nhà thơ Đức I.W.Goethe đã nhận xét : Mỗi nhà văn bất kể muốn hay không, đều miêu tả chính mình trong tác phẩm của mình một cách đặc biệt.
Có nghĩa là trong tác phẩm văn học, cái tôi nghệ sĩ của nhà văn biểu hiện cảmnhận của mình về thế giới, cách suy nghĩ, cách diễn đạt của mình Cảm nhận đóquyết định cách thức tổ chức tác phẩm, tạo thành sự thống nhất nội tại của tácphẩm, và đó cũng là sự thống nhất của tác phẩm về mặt phong cách học
M.Bakhtin hiểu vấn đề hình tượng tác giả có hơi khác hơn Ông khôngtán thành gọi sự biểu hiện tác giả là hình tượng tác giả vì sợ lẫn lộn Nhân vậtthuộc một không - thời gian khác, còn tác giả thuộc một không gian thời giankhác, bao quát và cảm thụ không - thời gian nhân vật Tác giả nhập vào rồithoát ra khỏi không - thời gian nhân vật Ông cho rằng tác giả nằm ngoài thếgiới nhân vật, tiếp giáp với mặt ngoài của biểu hiện nhân vật : “Tác giả nên ởtrên đường ranh giới của thế giới do anh ta sáng tạo ( ) lập trường của tác giả
có thể xác định qua cách mà anh ta miêu tả bề ngoài thế giới đó” [chuyển dẫn
từ 71,108] Như vậy, tác giả hiện diện tại hình thức tác phẩm như là một
nguyên tắc thẩm mĩ tạo hình cho thế giới nghệ thuật Ông còn khẳng định : Tác giả hiện diện như một điểm nhìn, cái nhìn L.Ghindơbua khi nghiên cứu tác giả
trong thơ trữ tình đã nhìn thấy nhà thơ thường xuyên hình dung về mình, tựgiới thiệu về mình Nhà lý luận văn học Mỹ W.Booth thì gọi là “tác giả hàm
ẩn”, xem đó là cái “tôi” thứ hai của tác giả hiện diện trong tác phẩm Nhiều
nhà lý luận hiện đại hiểu đó là tác giả được suy ra, là sản phẩm do người đọcphát hiện
Trang 23Như vậy, vấn đề hình tượng tác giả đã được tiếp cận ở nhiều góc độtrong lý luận văn học Tuy có những diễn đạt khác nhau nhưng có thể hiểu đóchính là sự biểu hiện của một cái “tôi” thứ hai của tác giả trong tác phẩm Ta cóthể hình dung ra con người tác giả tồn tại trong tác phẩm với con mắt để nhìn,cái giọng để nói và các yếu tố thuộc về tâm hồn, tình cảm, tư tưởng, sở thích,vốn sống, hiện lên như là chân dung của một con người.
Chúng ta đã nói tới tác giả và hình tượng tác giả văn học Cũng cần phảiphân biệt hai khái niệm này Tác giả với tư cách là phạm trù xã hội học – pháp
lý còn được gọi là tác giả tiểu sử Đây là con người tác giả tồn tại ở ngoài đời,nằm ở bên ngoài tác phẩm, tồn tại bằng da bằng thịt mà bằng mắt thường có thểnhìn thấy được, có thể xác định rõ ràng, chính xác như : năm sinh, con người,hoàn cảnh, sự nghiệp, quê quán … Đây là những yếu tố quan trọng để giúp soisáng tác phẩm, tìm hiểu về sự nghiệp và phong cách nhà văn nhưng tất cảphương diện trên chỉ là yếu tố tham khảo Điều cốt yếu để đánh giá tư tưởngnghệ thuật nhà văn bao giờ cũng phải xuất phát từ tác phẩm của họ Trongnghiên cứu văn học và nghiên cứu tác giả văn học, ta thấy còn có một conngười của nhà văn hiện diện trong tác phẩm Đây là phương diện cơ bản trongnghiên cứu tác giả Ở phương diện này, tác giả hiện hữu trong tác phẩm vănhọc Nhiệm vụ nghiên cứu tác giả lúc này là nghiên cứu tác giả với tư cách làchủ thể kiến thiết, sáng tạo nên tác phẩm
Đó chính là hình tượng tác giả
1.1.3 Các phương diện nghiên cứu hình tượng tác giả
Cho đến nay, sự biểu hiện của hình tượng tác giả trong sáng tác văn học
là một vấn đề đã và đang được nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau : “Cóngười xem hình tượng tác giả biểu hiện ở phương diện ngôn ngữ, có người xemhình tượng tác giả biểu hiện trên tất cả các yếu tố và cấp độ tác phẩm : từ cáchquan sát, cách suy nghĩ, thích cái gì, ghét cái gì trong lập trường đời sống, đếngiọng điệu lời văn Trong giọng điệu thì không chỉ giọng điệu người trần thuật
mà cả trong giọng điệu nhân vật” [71,109] Có người cho rằng hình tượng tác
Trang 24giả biểu hiện ở : cái nhìn nghệ thuật của tác giả, sức bao quát không gian thờigian, cấu trúc, cốt truyện, nhân vật và giọng điệu Ở đây, chúng tôi tìm hiểu
hình tượng tác giả biểu hiện chủ yếu ở một số phương diện như : Cái nhìn riêng, độc đáo, nhất quán có ý nghĩa tư tưởng, đạo đức thẩm mĩ ; giọng điệu
của tác giả thâm nhập vào cả giọng điệu nhân vật ; sự tự thể hiện của tác giả
thành hình tượng mà chúng tôi gọi là chân dung hình tượng tác giả.
1.1.3.1 Cái nhìn nghệ thuật
Cái nhìn nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng của sự biểuhiện hình tượng tác giả trong văn học “Cái nhìn là một năng lực tinh thần đặcbiệt của con người, nó có thể thâm nhập vào sự vật, phát hiện đặc điểm của nó
mà vẫn ở ngoài sự vật, bảo lưu sự toàn vẹn thẩm mĩ của sự vật, do đó cái nhìnđược vận dụng muôn vẻ trong nghệ thuật Nghệ thuật không thể thiếu cái nhìn”[71,109]
Nói về cái nhìn nghệ thuật, M.B Khrapchencô nhận xét : “Chân lý cuộcsống trong sáng tác nghệ thuật không tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật cótính cá nhân đối với thế giới, vốn có ở từng nghệ sĩ thực thụ” Nhà văn PhápM.Proust cũng nói : “Đối với nhà văn cũng như đối với nhà hoạ sĩ, phong cách
không phải là vấn đề kỹ thuật mà là vấn đề cái nhìn” [chuyển dẫn từ 71,109 ].
Do vậy, cái nhìn là một biểu hiện của tác giả Cái nhìn thể hiện trong tri giác,cảm giác, quan sát, do đó nó có thể phát hiện cái xấu, cái đẹp, cái hài, cái bi.Cái nhìn có khi lại xuất phát từ một cá thể, mang thị hiếu và tình cảm yêu, ghét
Có khi cái nhìn gắn với liên tưởng, tưởng tượng, cảm giác nội tâm, biểu hiệntrong ví von, ẩn dụ, đối sánh Cái nhìn có thể đem các thuộc tính xa nhau đặtcạnh nhau, hoặc đem tách rời khỏi sự vật một cách trừu tượng “Cái nhìn thểhiện trong chi tiết nghệ thuật, bởi chi tiết là điểm rơi của cái nhìn” [71,110].Chi tiết nghệ thuật có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thể hiện cái nhìncủa nhà văn Trần Đăng Khoa cho rằng chi tiết nhỏ cũng có thể làm nên một
nhà văn lớn là vì vậy (Chân dung và đối thoại) Nghiên cứu các chi tiết nghệ
thuật, ta có thể khám phá được cái nhìn nghệ thuật của nhà văn Khi nhà văn
Trang 25trình bày cái họ nhìn thấy cho ta cùng nhìn thấy thì ta đã tiếp thu cái nhìn của
họ, tức là đã bước vào phạm vi ý thức của họ, chú ý cái mà họ chú ý Khi tanhận thấy nhà văn này chú ý cái này, nhà văn kia chú ý cái kia, tức là ta đãnhận ra con người nghệ sĩ của tác giả Chẳng hạn, cùng viết về miếng ăn nhưngcái nhìn của Nam Cao khác với cái nhìn của Nguyên Hồng, cái nhìn củaNguyễn Tuân và cái nhìn của Thạch Lam Nguyên Hồng cũng là một cây bútviết rất hay về miếng ăn, ông tiếp cận miếng ăn từ khẩu vị của những ngườinghèo khổ Miếng ăn trong văn Thạch Lam, Vũ Bằng thì lại được tiếp cận từkhẩu vị của lớp thị dân Hà Nội Còn Nguyễn Tuân lại có một cách tiếp cậnriêng không giống ai Ấy là vì Nguyễn Tuân không nhấm nháp miếng ăn bằng
vị giác, nghĩa là tiếp cận nó chỉ như một của ngon Ông thưởng thức chén tràbuổi sớm, hạt cốm mùa thu, bát phở mùa đông, miếng giò ngày Tết ở bìnhdiện văn hoá – thẩm mĩ, và thưởng thức những món vị ấy một cách đầy tự hàonhư những công trình nghệ thuật tuyệt vời mà ông gọi là “đỉnh cao của một
dạng văn hoá dân tộc” Nam Cao trong một loạt truyện : Một bữa no, Trẻ con không được ăn thịt chó, Quên điều độ, Sống mòn viết về miếng ăn với tất cả
tâm huyết của mình Nhưng ông không bàn luận về miếng ăn như là một thứ
thực phẩm Ông đau đớn đề cập đến cái phương diện : miếng ăn là miếng nhục.
Nhân vật của Nam Cao thường bị cái đói, cái nghèo đẩy tới chỗ phải vứt bỏnhân cách, phải chịu bị lăng nhục vì miếng ăn
Việc sử dụng từ ngữ trong Truyện Kiều của đại thi hào dân tộc Nguyễn
Du cũng thể hiện cái nhìn nghệ thuật của nhà văn Chúng ta thấy cái cách mà
Nguyễn Du để cho các nhân vật tự xưng với nhau : Trách lòng hờ hững với lòng , Lấy lòng gọi chút sang đây gọi lòng Đó là cách xưng hô kiểu nhân vật
của Nguyễn Du Ông cũng nhìn thấy qua chữ “ai” những con người cá thể bình
thường đầy nhân tính : Đêm xuân ai dễ cầm lòng cho đang, Tấm lòng ân ái ai
ai cũng lòng Ông nhìn con người như những giá trị mong manh dễ hư nát qua
từ “chút” : Thưa rằng chút phận ngây thơ, Được rày nhờ chút thơm rơi, Rằng tôi bèo bọt chút thân Có thể nói Nguyễn Du hiện diện qua những từ ngữ độc
Trang 26đáo chỉ riêng ông sử dụng một cách có hệ thống Như vậy, thông qua cái nhìnnghệ thuật, người đọc sẽ nhận ra con người nghệ sĩ của tác giả Đi tìm hiểu cáinhìn nghệ thuật của nhà văn biểu hiện trong thế giới nghệ thuật cũng tức lànhận ra con người nghệ sĩ của tác giả ấy.
1.1.3.2 Giọng điệu trần thuật
Giọng điệu là một trong những yếu tố đặc trưng của hình tượng tác giảtrong tác phẩm Nếu như trong đời sống có khi ta chỉ nghe giọng nói mà nhận
ra con người, thì trong văn học cũng vậy, giọng điệu giúp ta nhận ra tác giả.Giọng điệu trong văn học là một hiện tượng “siêu ngôn ngữ” được thể hiện quađiểm nhìn, ngôn ngữ của tác giả đối với hiện thực, đối tượng được đề cập đến
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì giọng điệu là “Thái độ, tình cảm,
lập trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thểhiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm,cách cảm thụ xa, gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm( ) Giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm
mĩ của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tácdụng truyền cảm cho người đọc Thiếu một giọng điệu nhất định, nhà văn chưathể viết ra được tác phẩm, mặc dù đã có đủ tài liệu và sắp xếp xong hệ thống
nhân vật” [33,134 - 135].
Giọng điệu không đơn giản là một tín hiệu âm thanh có âm sắc đặc thù
để nhận ra người nói, mà là một giọng điệu mang nội dung tình cảm, thái độ,ứng xử trước các hiện tượng đời sống “Hệ số tình cảm của lời văn được biểuhiện trước hết ở trong giọng điệu cơ bản” [71,111] Giọng điệu trong văn họckhông chỉ biểu hiện bằng cách xưng hô, trường từ vựng, mà còn bằng nhiềuyếu tố khác trong tác phẩm
Khrapchencô khẳng định : “Giọng điệu không phải là sự trang sức,không phải là yếu tố thứ yếu mà là đặc tính hữu cơ của cấu tạo tác phẩm, của
những khái quát hình tượng trong tác phẩm” (Những vấn đề lí luận và phương pháp luận nghiên cứu khoa học) Giọng điệu có cấu trúc của nó Xét lời văn
Trang 27trong quan hệ với các chủ đề thì ta có giọng điệu cơ bản Xét lời văn trong quan
hệ với người đọc ngoài văn bản thì ta có ngữ điệu Sự thống nhất của hai yếu tốnày tạo ra giọng điệu Nền tảng của giọng điệu trần thuật là cảm hứng chủ đạocủa nhà văn V.Biêlinxki đã từng nói : “ cảm hứng là một sức mạnh hùnghậu Trong cảm hứng nhà thơ là người yêu say tư tưởng, như yêu cái đẹp, yêumột sinh thể, đắm đuối vào trong đó và anh ta ngắm nó không phải bằng lý trí,
lý tính, không phải bằng tình cảm hay một năng lực nào đó của tâm hồn, mà làbằng tất cả sự tràn đầy và toàn vẹn của tồn tại tinh thần của mình, và do đóxuất hiện trong tác phẩm không phải là những suy nghĩ trừu tượng, không phải
như : anh hùng, bi kịch, cảm thương, lãng mạn Chẳng hạn, trong Vang bóng
một thời, nhà văn Nguyễn Tuân đã tạo được giọng điệu riêng đầy hấp dẫn.
Giọng điệu chủ đạo là giọng điệu trang trọng, cổ kính, thiêng liêng Giọng điệu
ấy được bắt nguồn từ chính con người cũng như cái nhìn của nhà văn đối vớicuộc đời cho nên lắng sâu Ẩn sâu bên trong là một tình cảm nồng ấm, là hoàiniệm, tiếc nhớ về một thời xa xưa nay chỉ còn vang bóng Chính nhờ giọng
điệu này mà Vang bóng một thời có một sức sống vĩnh viễn với thời gian.
Trong Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học,
M.B.Khrapchencô khẳng định : “Những đặc tính cơ bản của lĩnh vực giọngđiệu trong những tác phẩm nghệ thuật của nhà văn, sự ưu tiên của phong cáchcũng có liên quan mật thiết với cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của nhà văn”[tr.172]
Trang 28Như vậy, giọng điệu là một phương diện rất quan trọng của tác phẩmnghệ thuật Cùng với những yếu tố nghệ thuật khác, giọng điệu là chìa khoá để
mở cánh cửa văn học đích thực Nhiều nhà văn thường xây dựng cho mình một
hệ thống giọng điệu độc đáo, phù hợp với cách cảm, cách nghĩ của mình Các
nhà nghiên cứu đã nói đến giọng điệu của Tônxtôi trong Chiến tranh và hoà
bình : “một giọng điệu mềm mại, tỉnh táo, đôn hậu của một người vững tin vào
đạo đức và chân lý” Giọng điệu của L.Tônxtôi vang lên khắp nơi trong tác
phẩm của ông từ Thời thơ ấu, Thời niên thiếu, đến Phục sinh và các tác phẩm
sau đó Người ta nhận ra giọng của ông trong cậu Nicôlenca, trong Anđrây,
trong Lêvin, trong Nêkhliuđôp “Ngôn ngữ giản dị, mặn mà, dễ thương của đại
uý Tusin, giọng điệu vui vẻ, âm vang của Natasa đều thể hiện những tình cảmtrong sáng, chân thành, là những tình cảm mà tác giả yêu mến, bảo vệ” [chuyểndẫn từ 71, 112]
Có thể nói, tạo ra giọng điệu riêng là một trong những thước đo tài năngnghệ thuật, bản sắc riêng của nhà văn Nếu chưa tạo được cho mình một giọngđiệu riêng thì nhà văn chưa được coi là một nghệ sĩ chân chính, có tài năngđích thực Tạo ra trong tác phẩm của mình một hệ thống giọng điệu vừa độcđáo vừa phong phú, chính là cách nhà văn khẳng định vị trí của mình trên vănđàn
1.1.3.3 Chân dung hình tượng tác giả
Bên cạnh các yếu tố như cái nhìn nghệ thuật, giọng điệu trần thuật thì
sự tự thể hiện của tác giả thành hình tượng đã gợi lên chân dung hình tượng tácgiả Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử gọi đó là “Sự tự thể hiện của tác giả thànhhình tượng” Chúng tôi dùng khái niệm “Chân dung hình tượng tác giả” cũngtheo nghĩa như vậy Trong tác phẩm, có nhiều trường hợp tác giả tự hình dunghình tượng của mình Các tác giả tuỳ bút, bút ký, ký sự hoặc tiểu thuyết cũngkhông ít trường hợp miêu tả mình trong tác phẩm Chẳng hạn, M.Gorki trong
bộ ba tự thuật : Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi ;
Trang 29Nguyên Hồng trong Những ngày thơ ấu ; Nam Cao trong Đời thừa, Sống mòn, Đôi mắt ; … Khi Nguyễn Tuân viết : “Tôi muốn mỗi ngày cho tôi cái say của rượu tối tân hôn”, “Rồi tôi vẫn vênh váo đi giữa cuộc đời như một viễn khách không có quê hương nhất định”, khi Thế Lữ viết :
Tôi là kẻ bộ hành phiêu lãng Đường trần gian xuôi ngược để vui chơi
hoặc khi Xuân Diệu viết :
Tôi là con chim đến từ núi lạ Ngứa cổ hót chơi
thì người đọc nhận ra hình tượng tác giả hiện ra trong tác phẩm
Hình tượng tác giả là phạm trù thể hiện cách tự ý thức, tự thể hiện củanhà văn thông qua các phương tiện nghệ thuật trong tác phẩm Chẳng hạn, tác
giả bài cáo, bài chiếu, tự thể hiện mình như một bậc đế vương, nhưng tác giả bài biếu, bài tấu phải thể hiện mình như một thần dân, tác giả thiên sử kí phải là một “sử công” đầy trách nhiệm khác với tác giả thiên “du kí” Hình tượng tác
giả trong tác phẩm gắn với ý thức của tác giả về vai trò xã hội, tư thế văn họcrất đa dạng của mình Chẳng hạn, hình tượng người tu dưỡng và suy ngẫm đạođức trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm Thơ Hồ Xuân Hươnglàm hiện lên một kiểu tác giả trữ tình khiêu khích, cợt nhả, lật tẩy, còn các khúcngâm thể hiện một kiểu tác giả giãi bày oán thán trước cuộc đời Hình tượngtác giả trong thơ ca cách mạng cận hiện đại của Phan Bội Châu, Tố Hữu là mộtngười cổ vũ và “dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa” Nhìn một cách bao quát, cóthể hình dung ra một con người khát khao giao cảm với đời trong thơ XuânDiệu ; một người thích chơi ngông trong thơ Tản Đà ; một nhà thông thái, giàutình nhân ái trong thơ Hồ Chí Minh ; một người ưa suy tư, băn khoăn, day dứttrong truyện ngắn Nam Cao ; một “cái tôi” tài hoa uyên bác pha chút khinh bạctrong văn Nguyễn Tuân …
Khi nghiên cứu hình tượng tác giả trong tác phẩm, cần chú ý không nênđồng nhất hình tượng tác giả với cuộc đời và cá tính của nhà văn Nhiều khi
Trang 30cuộc đời và cá tính bên ngoài như thế này nhưng người trần thuật trong tácphẩm lại thế kia Vũ Trọng Phụng trong cuộc đời thực là một con người bình
dị, con người của khuôn phép, nền nếp nhưng đọc tác phẩm của nhà văn ta thấyngười trần thuật ở đây là con người nhiều khi nổi loạn và phẫn uất
1.2 Tác giả Nguyễn Xuân Khánh
1.2.1 Vài nét về cuộc đời
Nguyễn Xuân Khánh (bút danh Đào Nguyễn) sinh năm 1932 tại quêngoại – phố Huế (Hà Nội), nhưng quê nội nhà văn là ở làng Cổ Nhuế, huyện
Từ Liêm, nơi có nghề may (hàng chợ) nổi tiếng thuộc ngoại ô thành phố Ôngtừng là sinh viên Đại học Y Hà Nội (1951 – 1952) Ngày còn trẻ, Nguyễn XuânKhánh mê âm nhạc, là cây văn nghệ đàn hát tưng bừng của sinh viên Đại học Ykhoa Năm 1953, ông gia nhập quân đội Sau thời gian quân ngũ, từ năm 1959,
nhà văn về làm việc tại tạp chí Văn nghệ quân đội, sau chuyển về làm phóng viên báo Thiếu niên Tiền phong
Vào thời kì cả đất nước còn rất khó khăn, Nguyễn Xuân Khánh lại bịmột tai nạn nghề nghiệp khiến ông phải nghỉ hưu sớm Trong thời gian đó, nhờmột người em thúc bá dạy nghề may, ông đã cùng vợ con lập xưởng may áobông chần (bằng vi-ni-lông màu đen, bên trong là chăn dạ cũ) bán ở “chợ giời”.Ông làm thợ may khoảng 7 năm Dân chợ giời gọi ông là “con phe” Áo blu-dông của vợ chồng “con phe” thường bán được giá, đủ tiền trả nợ và sắm Tết.Nhưng những dịp may như thế không nhiều “Cơm áo không đùa với kháchthơ” nên Nguyễn Xuân Khánh xoay sang nuôi lợn như phần lớn cán bộ, viênchức thời đó đều làm Cái giống ủn ỉn này sau đó đã đi vào bản thảo tiểu thuyết
Trư cuồng của ông Trong nhiều năm, Nguyễn Xuân Khánh đã viết văn dưới
một chái nhà dựng tạm sát bờ hồ Bè, ở xóm đê Thanh Nhàn, là mảnh đất củangười mẹ già tần tảo để dành cho con Cùng sẻ chia nỗi long đong còn có vợông và bốn đứa con nhỏ Thời đó, những người nằm ngoài biên chế nhà nước là
vô cùng vất vả Cả gia đình cuốc đất, trồng rau nuôi lợn Rồi cuộc sống đưa đẩyông trở thành dân bán máu chuyên nghiệp trong khoảng ba, bốn năm “Khánh
Trang 31toét” như bạn bè thân thương vẫn gọi, lại xoay xở, đi coi gạo thuê ở kho gạovườn hoa Paster, làm thợ khóa, lăn lộn khắp Bạch Mai, Saint Paul, Việt Đức,rồi lang bạt Phủ Lí, Nam Định, Vinh Đỉnh cao của sự cùng cực là ông bị bắt
đi cải tạo cùng với lưu manh, đĩ điếm trong vòng một năm do bị kỉ luật vì xuất
bản tập truyện ngắn đầu tay Rừng sâu “phản ánh hiện thực xã hội chủ nghĩa” (Nguyễn Xuân Khánh trả lời phỏng vấn báo Lao động) Hết thời gian cải tạo,
nhờ bạn bè “bảo lãnh” ông nhận được dịch tài liệu tiếng Anh – Pháp, hệ tưtưởng và các học thuyết phân tâm được ông dịch trong thời kì này
Nguyễn Xuân Khánh đã lăn lộn với đủ nghề để sống mà nghề nào cũngđẩy ông phải chạm đến tận cùng của cơ cực Có điều là những tố chất của một
“cội mai già” sau này đã giúp ông đứng vững khi đó, trên cả phương diện cuộcsống cũng như thanh danh cá nhân Những năm tháng cùng khổ ấy, dĩ nhiên làkhông ai muốn nhưng cũng thật có ích đối với vốn sống và tư tưởng của mộtnhà văn Phải vật vã để kiếm sống nhưng Nguyễn Xuân Khánh chưa bao giờ từ
bỏ giấc mộng viết văn Ông tạm ẩn mình một thời gian dài để rồi xuất hiện trởlại trên văn đàn với bao ánh hào quang rực rỡ Cuộc đời ông có thể coi là mộttấm gương sáng về niềm tin và nghị lực
Nguyễn Xuân Khánh trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam khi
đã 70 tuổi Bây giờ, lão nhà văn đang sống cùng gia đình tại ngõ Trần KhátChân, vùng đất mơ nổi tiếng xưa kia của ngoại ô Hà Nội mà chúng ta sẽ gặp lại
trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly của ông.
1.2.2 Hành trình sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh
1.2.2.1 Từ những sáng tác đầu tay đến Đội gạo lên chùa
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh bắt đầu viết văn từ những năm cuối thập
kỉ 50 của thế kỉ trước Sáng tác đầu tay của ông là truyện ngắn Một đêm “tự
dưng lại được giải nhì (không có giải nhất) trong cuộc thi truyện ngắn đầu tiên
của tạp chí Văn nghệ quân đội” [5] Từ bấy đến nay, ông có các tác phẩm chính: Rừng sâu (tập truyện ngắn, 1963), Miền hoang tưởng (tiểu thuyết, 1990), Hồ Quý Ly (tiểu thuyết, 2000), Hai đứa trẻ và con chó Mèo xóm núi
Trang 32(truyện vừa thiếu nhi, 2002), Mưa quê (tập truyện ngắn thiếu nhi, 2003), Mẫu Thượng Ngàn (tiểu thuyết, 2006), Đội gạo lên chùa (tiểu thuyết, 2011).
Những tác phẩm dịch gồm: Những quả vàng của Nathalie Saraute, Lời nguyền cho kẻ vắng mặt của Tahr Ben Jelloun, Người đàn bà ở đảo Saint Dominique của Bana Dominique
Nhìn một cách khái quát, có thể chia quá trình sáng tác của NguyễnXuân Khánh thành ba giai đoạn Các truyện ngắn viết từ 1958 đến 1962 tập
hợp trong cuốn Rừng sâu nằm trọn trong cái văn mạch đã lộ diện từ Một đêm.
Trong tương quan với đời sống thực tế đương thời, đây là mạch văn khẳngđịnh, ngợi ca cuộc sống đã trở thành âm hưởng chủ đạo của văn học thời đó
Đúng một tháng sau khi Rừng sâu in xong thì trên tuần báo Văn nghệ số 1 (ra ngày 3/5/1963, số đầu tiên hợp nhất tuần báo Văn học với Tạp chí Văn nghệ) đã
có bài điểm sách của Hoàng Trung Thông khẳng định giá trị của tập truyện
ngắn này Tạp chí Văn học của Viện văn học tất nhiên không bỏ sót Rừng sâu nhưng phải đến năm sau, Nhị Ca mới bàn đến Phương hướng và chất lượng sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh trong tập “Rừng sâu” (Tạp chí Văn học số
2, tháng 2/1964) Rừng sâu ra mắt cùng năm với các tập truyện ngắn Đất nước (Mai Ngữ), Đồng tháng Năm (Nguyễn Kiên), Gánh vác (Vũ Thị Thường), Xóm mới (Hồ Phương), Ngày xuân (Vũ Tú Nam), Tầm sáng (Huy Phương), Lúc
này, Nguyễn Xuân Khánh đang đứng trong dàn đồng ca cùng với các nhà văn
ấy Tất nhiên, cũng trong năm đó còn xuất hiện những cuốn sách được xem là
ít nhiều lạc giọng, không thuần nhất về tư tưởng, có một số vấn đề đáng phê
phán ở các mức độ khác nhau, như các tập truyện ngắn Chị cả Phây (Ngô Ngọc Bội), Sương tan (Hoàng Tiến), các tiểu thuyết Phá vây (Phù thăng), Đống rác
cũ (Nguyễn Công Hoan), và nhất là cuốn từng bị coi là phản động : tiểu thuyết Vào đời (Hà Minh Tuân) Sơ lược như thế để thấy được tâm thế sáng tạo của
nhà văn trong bối cảnh văn học một thời, mặt khác cho thấy sự chuyến biến về
tư tưởng của Nguyễn Xuân Khánh sau này Trong số sáu truyện ngắn làm thành
tập Rừng sâu, có lẽ chỉ có truyện Tuổi già lưu tâm đến cảnh ngộ của con người
Trang 33(bà cụ già bị con hắt hủi, vẫn hi vọng ở tình cảm của đứa cháu) Còn lại, cáctruyện khác đều xoay quanh đề tài về phẩm chất “con người mới” rất phổ biến
của văn học ta lúc đó Hai truyện Rừng sâu và Anh Bống nêu cao đức hy sinh của người chiến sĩ trong kháng chiến và trong hòa bình, Ngày mưa và Một đêm nói về những “đấu tranh tư tưởng” trong cuộc sống thường ngày của người
lính nơi nông trường để giữ gìn phẩm chất chiến sĩ Cuộc chiến đấu thầm lặngtruy tìm cái “chủ nghĩa cá nhân” ở chính người thầy thuốc mà bề ngoài thì vẫnngày ngày tận tụy chữa trị cho các bệnh nhân ở nơi hẻo lánh nhưng bề trong lại
âm thầm tìm cách móc nối để thăng tiến chức quyền và tìm đường trở về thànhphố …
Tác giả Nguyễn Xuân Khánh của Rừng sâu được dư luận văn nghệ
đương thời biểu dương, tất nhiên không phải chỉ vì có đề cập đến các chủ đềđang là thời thượng kể trên, mà là vì ngòi bút viết văn của ông đã thuyết phụcđược cả công chúng lẫn bạn văn khi ấy vốn đang cùng hít thở chung một không
khí tinh thần, tư tưởng, thẩm mĩ Nguyễn Xuân Khánh của Rừng sâu chưa đạt
đến tầm cỡ của các cây bút hàng đầu về truyện ngắn đương thời, nhưng cũng đã
có một tay nghề khá chắc chắn Ông không nổi trội bởi câu văn hay giọng điệuthật đặc sắc đến mức không thể trộn lẫn, song nếu quan sát thật chăm chúngười ta sẽ thấy tác giả này chú ý đến tình tiết, chi tiết nhiều hơn hẳn việc chú ýđến câu văn, giọng văn Và chính sự quan tâm “tư duy bằng chi tiết” đã đem lại
thành công cho Nguyễn Xuân Khánh Ngay từ Một đêm, người ta đã bị thuyết
phục không phải trước hết bởi lời văn, giọng văn mà bởi chính câu chuyện, bởitừng chi tiết, tình tiết của nó Tác giả cũng tỏ ra rất chú ý đến cách tả và kể,ngay những năm ấy đã thường xuyên sử dụng biện pháp đổi vai kể chuyện (mà
sau này sẽ dùng thường xuyên trong Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa) Cũng có trường hợp ông phó mặc cho “ngôi thứ ba” vô hình vốn gần như trùng khít với lời tác giả (Tuổi già, Ngày mưa) Còn lại, ông thường luân
phiên lời kể từ “ngôi thứ ba” hoặc “nhân vật kể chuyện” sang một trong số các
Trang 34nhân vật trong truyện Một đêm, Rừng sâu hay Anh Bống đều là lời kể của nhân
vật vừa tham dự vừa chứng kiến câu chuyện
Thế rồi Nguyễn Xuân Khánh đang ở “trung tâm” của văn học chính
thống bỗng trở thành “ngoại biên” theo cách nói của Lại Nguyên Ân (Mấy nhận xét về đường văn Nguyễn Xuân Khánh - từ trung tâm ra ngoại biên, từ ngoại biên vào trung tâm, Tia sáng online 30/8/2012, một vài chỗ của chúng tôi
có sử dụng tài liệu này) xảy ra tất yếu như hệ quả của một tai nạn chính trị màhiện nay ông cũng đang muốn quên đi
Giai đoạn thứ hai là thời kì ông viết Miền hoang tưởng và Trư cuồng Khoảng những năm 1971 – 1974, ông hoàn thành tiểu thuyết Hoang tưởng trắng, năm 1990 công bố với tên gọi Miền hoang tưởng dưới bút danh Đào
Nguyễn (bút danh này là lấy tên hai họ ngoại, nội ghép lại mà thành, tuy nhiên,
nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên [61] lại cho rằng Miền hoang tưởng được
in ở Đà Nẵng năm 1985?) Cũng ở [61], Phạm Xuân Nguyên dẫn lời Châu
Diên, một người bạn thân của Nguyễn Xuân Khánh cho biết, Miền hoang tưởng “đã dựng lên được biểu tượng tương phản giữa sự ngây thơ trong trắng
của một nhân vật cơ hồ như là một nhạc sĩ chỉ biết đến nghệ thuật trước những
oái oăm éo le quay quắt của cuộc đời thực bên ngoài nghệ thuật Miền hoang tưởng đi vào vết thương văn hóa, chứ không đi vào vết thương ngoài da thịt Đối chọi nhau trong Miền hoang tưởng là sự chân thành và sự giả trá Đối chọi
nhau còn là cái Đẹp tuyệt đối và cái Xấu xí được tôn lên thành cái Đẹp tàm
tạm” Gần mười năm sau đó, Nguyễn Xuân Khánh viết xong tiểu thuyết Trư cuồng Miền hoang tưởng và Trư cuồng là hai tác phẩm chịu chung số phận
“nằm chờ” như phần lớn tác phẩm viết những năm 1958 - 1986 của Trần Dần,Hoàng Cầm, Lê Đạt, … Chỉ đến thời đầu Đổi mới, do những suy nghĩ và hành
động cấp tiến của một số cán bộ trong giới xuất bản, Miền hoang tưởng mới
được ra mắt, nhưng nó lập tức bị phê phán nặng nề, những người dám cho in đã
bị kỷ luật Cuốn tiểu thuyết vừa ra mắt đã bị hứng chịu cả một đợt tấn công trênbáo chí, trong đó có cả sự phê phán của một nhà văn nổi tiếng ở đất Quảng
Trang 35Nam Cho đến tận giờ cuốn đó vẫn bị ngại tái bản Các tác giả Mai Lĩnh, Phan
Tứ, Hoàng Hồng Hưng, phủ nhận hoàn toàn Miền hoang tưởng, nào là “cuốn
sách không chỉ bôi đen, phủ nhận thành quả của chủ nghĩa xã hội, mà còn kêugọi phản kháng chế độ”, nào là “rúng xương, vã mồ hôi lạnh” khi đọc cuốn
sách này Tuy nhiên, cuộc thảo luận tại báo Văn nghệ năm 1991 lại có những
ý kiến đánh giá cuốn sách thỏa đáng hơn, tiêu biểu là của nhà nghiên cứuNguyễn Văn Hạnh : “Trong tiểu thuyết tác giả chú ý nhiều nhất đến nhữngnhân vật nghệ sĩ, trí thức Những người như Tư, như Ngọ, như Minh, nhưHưng đều bộc lộ những phẩm chất trong công tác, cũng như trong quan hệ giađình, tình yêu, tình bạn, nhưng tất cả đều có một số phận trắc trở, cay đắng Họmuốn được làm việc, được yêu, được sáng tạo nghệ thuật một cách tự do, trungthực, hợp nguyện vọng và năng lực, nhưng hầu như chỉ toàn gặp những chuyệnkhông may, oan uổng, bị săn đuổi, bị trừng phạt Mặc dù vậy, họ vẫn thiết thavới lý tưởng, sẵn sàng chấp nhận mọi thiếu thốn, bất hạnh, miễn được sốngtheo bản tính của mình, được làm điều mình yêu thích, trung thành với sự lựachọn tự do của mình và không chịu khuất phục áp lực phũ phàng của hoàncảnh Đối với cuộc sống họ là những người không thích nghi được hoặc khôngmuốn thích nghi, do đó mà thất bại, mà trở thành chơi vơi, hoang tưởng Ngườihoang tưởng của Đào Nguyễn cũng là loại “người thừa” mà lịch sử văn học đãbiết đến Tác giả dành nhiều thiện cảm cho họ, và muốn người đọc, từ số phậnnghiệt ngã của họ, có một cái nhìn nhân đạo hơn, sâu hơn về cuộc sống, về conngười, về xã hội”
Còn Trư cuồng thì chưa từng được in trên giấy, tuy tác giả đã gửi bản
thảo đến Hội Nhà văn Việt Nam để dự Cuộc thi tiểu thuyết 2004 - 2005 Rốt
cuộc tác giả đành đồng ý để bạn bè đưa Trư cuồng lên mạng Internet Trư cuồng được viết theo lối cắt dán các truyện ngắn thành tiểu thuyết Cuốn truyện
chỉ xoay quanh cái việc nuôi lợn và giết lợn “Chỉ có vậy thôi, mà tác giả đưa ta
đi biết bao đường đất, loanh quanh tới biết bao luận điểm về sự sống ở đời,song phải nói luôn, đó là một cuộc sống bàng bạc buồn” (Phạm Toàn, thật ra,
Trang 36Châu Diên và Phạm Toàn cũng chỉ là một người – tôi thêm) Ở Trư cuồng có
thể thấy tác giả đi xa hơn được chút nữa trên hướng tìm tòi của mình Ở mộtphương diện nào đó, đây là cuốn tiểu thuyết khá độc đáo, cũng giống như cáccuốn tiểu thuyết thuộc vào loại hình văn học phản không tưởng (anti-utopia), tốgiác mô hình xã hội chuyên chế độc tài ở phương Tây Một tác phẩm giàu sángtạo, lại chứa đầy khát vọng dân chủ như vậy, thiết nghĩ, sẽ có tương lai đếnđược với độc giả, dù hiện tại còn ít người biết tới nó Và ta có thể nghĩ rằng,đến khi dư luận chính thống có thể “tiêu hóa” được tác phẩm này thì chất lượng
xã hội chúng ta hẳn đã khá hơn hiện nay rất nhiều
Xem ra, đường đời và đường văn của Nguyễn Xuân Khánh kể từ khi
ông ghé chân vào ngôi đền văn học trong Một đêm nào đó cho đến lúc ông dung dăng dung dẻ cùng ba cô yếm thắm Đội gạo lên chùa cũng lắm gian
truân
Nguyễn Xuân Khánh phải mất hàng chục năm trời để luyện bút Ôngnghỉ viết một thời gian dài rồi mới trở lại văn đàn Mãi đến những năm 2000,tên tuổi của ông mới thật sự đi vào ấn tượng của bạn đọc rộng rãi với bộ ba tiểu
thuyết trứ danh : Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa Nguyễn
Xuân Khánh đột ngột xuất hiện, khiến người ta nhìn ông như một “người lạquen biết” như thể “ông vừa bước ra từ một huyền thoại nào đó, từ một sự ẩnmình đâu đó lâu lắm, như loài trầm hương trong rừng sâu kia, một ngày nhoàilên từ lớp mùn và mục gỗ để đi về phía ánh sáng mặt trời và đem theo mùihương quý giá” [5]
Hồ Quý Ly ban đầu vốn là một vở kịch được Nguyễn Xuân Khánh biên
soạn công phu Khi chuyển thể thành tiểu thuyết, tác phẩm trở thành một hiệntượng văn học những năm đầu thế kỉ này Nhà văn lựa chọn một thời kì lịch sửđặc biệt, thời cuối Trần đầu Hồ Những ánh hào quang chỉ còn le lói của triềuđại nhà Trần không đủ sức giữ vương triều này lung lay trước những yêu cầucấp bách của công cuộc đổi mới đất nước Trọng trách đó được đặt lên vai Thái
sư Hồ Quý Ly, người có khả năng chèo lái con thuyền lịch sử vượt qua bão táp
Trang 37lúc này Với tầm nhìn xa trông rộng và một quyết tâm mạnh mẽ, Hồ Quý Ly đãtiến hành hàng loạt cải cách nhằm cứu đất nước thoát khỏi cơn bạo bệnh Việclàm của ông nhận được sự đồng thuận thì ít mà chống đối thì nhiều, mặc dù ai
ai cũng nhìn thấy đất nước cần phải lột xác Để thực hiện quyết tâm của mình,thái sư cần phải có quyền lực Vì vậy, ông đã không từ một thủ đoạn nào, kể cảnhững thủ đoạn tàn bạo nhất để làm tê liệt thành phần chống đối và thâu tómquyền bính trong tay Bằng nghệ thuật tái hiện khoáng đạt, nhân vật được soichiếu ở nhiều góc độ, Nguyễn Xuân Khánh đã lật lại một thời kì bi tráng củalịch sử, góp thêm một tiếng nói khám phá xã hội và con người Hồ Quý Ly –một nhân vật mà hơn 600 năm qua, người ta đã tốn nhiều giấy mực để bàn cãi
về ông Cuốn tiểu thuyết còn là “bức tranh đẹp về Thăng Long ngàn năm vănhiến với những địa danh cổ nổi tiếng, những cảnh sinh hoạt thôn dã, những lễhội dân gian, những phong tục tốt đẹp được lưu truyền hay đã bị mai mộttheo năm tháng” [45, tr bìa 4]
Năm 1959, khi dự trại sáng tác của Quân đội, Nguyễn Xuân Khánh viết
cuốn Làng nghèo nhưng không in được Tuy vậy, ý muốn viết một cái gì đó
thật sâu sắc về văn hóa làng Việt manh nha trong tâm thức thì nhà văn vẫn giữ
nguyên Sau khi xem lại bản thảo Làng nghèo, Nguyễn Xuân Khánh mở rộng thành cuốn tiểu thuyết mới Mẫu Thượng Ngàn và đẩy lùi lịch sử trở về thời
Pháp bắt đầu xâm chiếm đất nước ta – giai đoạn giao lưu văn hóa Đông – Tây
cưỡng chế bằng bạo lực Ông cho biết, đáng lẽ ra cuốn tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn phải viết hoàn toàn về Hà Nội và một làng phụ cận, nhưng vì phải có một
đồn điền của người Pháp bên cạnh một ngôi làng Việt để tiện cho việc diễn ra
sự giao lưu giữa hai nền văn hóa Việt – Pháp, nên nhà văn đã “dời” làng ấy
lên trung du Hơn nữa, Nguyễn Xuân Khánh còn muốn để cho cái tên Mẫu Thượng Ngàn của đạo Mẫu, rồi còn núi rừng quê hương hắt bóng vào tác phẩm Mẫu Thượng Ngàn là cuốn tiểu thuyết văn hóa – lịch sử miêu tả cuộc
sống và những người dân ở một làng quê bán sơn địa Bắc Bộ – làng Cổ Đình –vào những năm cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20 Đây là thời điểm nước Pháp nhận
Trang 38sứ mạng vinh quang đi “khai hóa văn minh” cho các dân tộc thuộc địa Sự kiệnPháp xâm lược Việt Nam tạo nên nhiều xáo trộn trong đời sống văn hóa tinhthần người Việt, các tôn giáo trải qua nhiều thăng trầm, trong đó, đạo Phật vàđạo Khổng bị xem nhẹ Đạo Thiên Chúa ban đầu bị triều đình nhà Nguyễn đàn
áp nhưng về sau lan rộng, với sự có mặt của người Pháp Trong bối cảnh đó,người làng Cổ Đình trở về với đạo Mẫu, một tôn giáo có từ ngàn đời, như mộtnăng lực cố kết cộng đồng trước sự cưỡng bức của văn hóa phương Tây Như
vậy, vấn đề cơ bản trong Mẫu Thượng Ngàn không phải là văn hóa Việt nói chung mà là văn hóa làng, đơn vị cơ bản cấu trúc nên thành tố văn hóa của một dân tộc Mẫu Thượng Ngàn còn tái hiện một thời kì lịch sử với những con
người, sự kiện có thật Nguyễn Xuân Khánh nhấn mạnh đến những sự kiện tiêubiểu như việc Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai, cuộc chiến của người Phápvới quân Cờ Đen, việc xây Nhà thờ lớn Hà Nội ngay trên mảnh đất Tháp Báo
Thiên Một trong những phương diện hấp dẫn nhất của Mẫu Thượng Ngàn
đúng theo phong cách của Nguyễn Xuân Khánh chính là “câu chuyện tình yêucủa những người đàn bà Việt trong khung cảnh một làng cổ Đó là tình yêu vừabao dung, vừa mãnh liệt của những người phụ nữ với bao nỗi đắng cay, đầychất phồn thực, bi, hài hòa quyện với mộng mơ và cao thượng” [44, tr bìa 4]
Vẫn bắt vào mạch tự sự văn hóa – lịch sử và được gợi tứ từ những câu
ca dao tình tứ, lả lơi : Ba cô đội gạo lên chùa , Nguyễn Xuân Khánh tiếp tục
ý hướng đi tìm những kiến giải về sức sống của dân tộc Việt Nam bằng tiểu
thuyết mới : Đội gạo lên chùa Tiểu thuyết được bố cục làm ba phần : I - Trôi sông viết về thời đoạn kháng chiến chống Pháp, II - Bão nổi can qua viết về thời đoạn hòa bình lập lại trên miền Bắc, và, III - Về cõi nhân gian viết về thời đoạn chống Mỹ và ngay sau khi thống nhất đất nước Đội gạo lên chùa kể lại
cuộc phiêu lưu kì lạ của hai chị em Nguyệt và An Sau một trận càn dữ dội củagiặc Pháp, cha mẹ đều bị sát hại dã man, hai chị em trốn chạy rồi trôi dạt đếnmột ngôi chùa Sư cụ Vô Úy, vị Bồ Tát trụ trì chùa Sọ đã giang tay cứu vớt haichị em An được sư cụ cho xuống tóc quy y cửa Phật, còn chị Nguyệt thì chưa,
Trang 39bởi lẽ sư cụ nhận thấy chị còn nặng nợ với đời Làng Sọ và chùa Sọ, một làngquê nhỏ bé, êm đềm dưới chân Tam Đảo vừa là nạn nhân, vừa là chứng nhânvới bao biến động lớn lao của đất nước trong nửa thế kỉ Ngôi chùa trở thànhđiểm nhìn, hệ quy chiếu để nhà văn khắc họa cuộc sống và số phận của biết baocon người Đó là cuộc sống vừa lạ lùng, bí hiểm, vừa thanh khiết, thân thuộc và
dĩ nhiên, không thể thiếu thế giới lộng lẫy của những người đàn bà Khángchiến chống Pháp, cải cách ruộng đất rồi chống Mĩ và những năm đầu hậuchiến với bao biến cố, hoàn cảnh, số phận được Nguyễn Xuân Khánh miêu tảsinh động và hấp dẫn để đi đến một sự đúc kết tư tưởng : Phật giáo Việt Nam làmột lối sống
Ở Đội gạo lên chùa, Nguyễn Xuân Khánh đã tìm được rất nhiều cách
xử lý cụ thể về cốt truyện, về nhân vật, về chi tiết, về từng góc độ thể hiện mànét chung nhất là tập trung soi rọi khía cạnh con người với niềm tin tôn giáo,người dân Việt với ngôi chùa, với đạo Phật Nhân vật người bộ đội – vốn là
nhân vật hay xuất hiện dưới tay bút Nguyễn Xuân Khánh thời viết Rừng sâu, –
đã xuất hiện trở lại trong Đội gạo lên chùa, nhưng là với dáng nét riêng biệt,
khác biệt, không trùng hợp với hình ảnh người bộ đội trong văn thơ viết theo đềtài chiến tranh cách mạng quen biết nói chung, từ viên chính ủy Vô Trần đếnanh lính vốn là chú tiểu An Là tiểu thuyết lịch sử - văn hóa đề cập đến các sựkiện ở miền Bắc Việt Nam từ đầu kháng chiến chống Pháp đến kết thúc chiến
tranh chống Mỹ, tác giả Đội gạo lên chùa rất dễ lặp lại một sơ đồ sự kiện có
sẵn Nguyễn Xuân Khánh đã tự giải thoát khỏi áp lực của sơ đồ ấy để giữ cáchnhìn riêng, trình bày hiểu biết riêng về các sự kiện lịch sử mà chính tác giả từngtrải nghiệm, trong đó có những sự kiện đến nay vẫn còn bị coi là nhạy cảm Ví
dụ cải cách ruộng đất hay hợp tác hóa nông nghiệp, sự kỳ thị đến mức đồngnhất niềm tin tôn giáo với “mê tín dị đoan”, v.v
Nhìn nhận “đứa con” của mình, Nguyễn Xuân Khánh chỉ nói rất giản dị
: Tôi Đội gạo lên chùa bằng tất cả vốn sống của cuộc đời mình, bằng tất cả sự trải nghiệm 79 năm của mình Có những chi tiết đời giúp tôi nhặt được : năm
Trang 401977 tôi bị nghi ung thư, nằm viện, có sư ông nằm cùng phòng Sư lại có chú tiểu theo chăm sóc, chú tiểu nguyên là bộ đội, đi lính về thì vào chùa Tôi rỉ rả tâm sự với sư cụ và chú tiểu, và tiểu thuyết là sự thu nhặt, gắn kết, đúc rút, tỉa gọt từ tất cả [chuyển dẫn từ 31] Sư cụ và chú tiểu đó cũng chính là những
nguyên mẫu của hai nhân vật quan trọng trong tác phẩm này
Nguyễn Xuân Khánh là một hiện tượng văn học Phạm Xuân Nguyên
[61] gọi đó là hiện tượng “năm nhất” : Nhất một, lão chàng là một trong số ít
nhà văn Việt Nam tuổi cao vẫn viết đều, viết nhiều, càng già càng dẻo tay viết
Nhất hai, cuốn nào viết ra cũng dày, in thành sách đều ngót nghét nghìn trang Nhất ba, lão chàng chỉ viết bằng tay trên giấy, nhất quyết không chơi cái anh bàn phím vi tính tinh vi Nhất bốn, sách của lão chàng chỉ thủy chung in ở một nhà xuất bản của đàn bà nước Nam Nhất năm, cuốn nào của lão ra tuy dày
nhưng luôn được tái bản, và có duyên với các giải thưởng
Đúng thế! Tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh có số lượng tái bản, nối
bản (chưa kể bị in lậu) thuộc vào loại kỉ lục Hồ Quý Ly đã tái bản lần 10 (có tài liệu nói là lần 15?) ; Mẫu Thượng Ngàn tái bản lần thứ 6 ; Đội gạo lên chùa
mới đây nhưng cũng đã “rục rịch tái bản lần 4” (Nguyễn Xuân Khánh trả lờibáo tienphongonline)
Các giải thưởng văn học lớn ở Trung ương và địa phương đều lần lượtgọi tên Nguyễn Xuân Khánh :
Hồ Quý Ly :
Giải thưởng tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam 1998 – 2000.Giải thưởng tiểu thuyết của Hội Nhà văn Hà Nội 2000 – 2001.Giải thưởng Mai vàng của báo Người lao động 2001
Giải thưởng Thăng Long của UBND Thành phố Hà Nội 2002
Mẫu Thượng Ngàn :
Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2006
Giải thưởng Văn hóa Doanh nhân 2007
Đội gạo lên chùa :